Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Tài sản nhà nước nếu bị mất, rơi vào túi ai?


(GDVN) - Theo PGS.TS Phạm Quý Thọ, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là cần thiết nhưng cần lường trước nguy cơ mất vốn. 
 16 doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Bộ Xây dựng sẽ cổ phần hóa thời gian tới. 
 Tài sản nhà nước thất thoát khi cổ phần hóa chính là tiền thuế của dân, nó rơi vào túi ai? Tài sản đó vào túi của rất nhiều người, những người tham gia cổ phần hóa, từ người được mua cổ phần, ngươi được chia cổ phần, rơi vào túi người có quyền lực, con cháu người có quyền thực hiện cổ phần hóa”.
Hệ lụy chậm cổ phần hóa
Gần đây, Thủ tướng liên tục có chỉ đạo sớm giải quyết dứt điểm các dự án thua lỗ, đồng thời cũng phải đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và đi kèm là yêu cầu bắt buộc lên sàn chứng khoán, nhằm minh bạch mọi hoạt động. 

Trao đổi với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xoay quanh vấn đề này, PGS.TS Phạm Quý Thọ - Chuyên gia chính sách công khẳng định, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước là chủ trương rất đúng được đưa ra từ lâu.

Cổ phần hóa thực chất là tư nhân hóa, có nghĩa biến tài sản từ của chung của nhà nước chuyển sang cho xã hội, cho tư nhân.

Mặt tích cực cổ phần hóa là xác lập cơ sở, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Tài sản phải thuộc tư hữu, công hữu không thể làm nên kinh tế thị trường. 


“Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhiệm kỳ nào cũng nói cần phải làm ngay nhưng vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn nợ từ nhiệm kỳ trước sang nhiệm kỳ sau, thậm chí có lúc thoái trào.

Trải qua thời kỳ dài cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trì trệ, bước sang nhiệm kỳ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, vấn đề cổ phần hóa đã có bước chuyển mạnh mẽ hơn. Bằng chứng cuối năm 2016 những doanh nghiệp như Sabeco, Habeco lên sàn chuẩn bị cho quá trình thoái vốn”, ông Thọ nhận định.

Theo PGS. Phạm Quý Thọ việc chậm cổ phần hóa, thoái vốn chậm đã dẫn đến thiệt hại lớn cho nhà nước, đặc biệt qua các dự án thua lỗ yếu kém của ngành công thương được phát hiện vừa qua.

Hầu hết các doanh nghiệp yếu kém có các dự án thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng của ngành công thương được chỉ ra gần đây đều nằm trong diện phải cổ phần hóa, phải thoái vốn. 



PGS.TS Phạm Quý Thọ cho rằng quá trình cổ phần hóa chậm gây thiệt hại lớn cho kinh tế đất nước - ảnh H.Lực

Nhưng việc chậm trễ trong cổ phần hóa, đổi mới phương cách quản lý dẫn đến điều hành kém hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, đưa ra dự án thiếu hiệu quả kinh tế gây thất thoát nhà nước hàng nghìn tỷ đồng.

“Nếu các doanh nghiệp được cổ phần hóa sớm hơn thì chắc chắn 12 dự án ấy sẽ có phương thức quản lý, điều hành khác, chứ không thua lỗ trầm trọng như vậy. Những dự án 'bánh vẽ' như vậy không thể tồn tại với các doanh nghiệp cổ phần hóa thực sự, tức là bán phần lớn cổ phần hoặc bán hết cho tư nhân.


"Quyết liệt xử lý những cán bộ nhà nước nhũng nhiễu doanh nghiệp"

Khi có sự tham gia của tư nhân thì những dự án thiếu tính khả thi sẽ bị loại bỏ ngay từ đầu hoặc giả sử có triển khai thì cũng sẽ sớm được dừng lại, cắt lỗ, chứ không gây thiệt hại tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng như vậy”, PGS. Thọ đánh giá.

Rõ ràng, tiền trình cổ phần hóa "ì ạch" trong thời gian dài đã gây ra những hệ lụy quá lớn với nền kinh tế. Vì vậy, Chính phủ quyết tâm đẩy mạnh cổ phần hóa và coi đó là một trong những nhiệm vụ điều hành trọng tâm của năm 2017.

“Thông điệp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất rõ ràng là 'Chính phủ không bán bia, bán sữa', điều này có nghĩa mọi lĩnh vực kinh tế ngoại trừ an ninh quốc phòng còn lại tư nhân đều được tham gia, còn quản lý nhà nước chỉ tập chung vào hoạch định chính sách”, PGS. Thọ nói.

Cần thiết nhưng không vội vàng

Theo PGS.TS Phạm Quý Thọ lúc này buộc phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đặc biệt ở các lĩnh vực nhà nước không cần nắm giữ như xây dựng, giao thông.

“Mới đây, Chính phủ yêu cầu thoái vốn 16 doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn 2016 -2020 là chủ trương rất đúng đắn. Xây dựng không phải lĩnh vực cốt yếu nhà nước phải giữ nếu thoái vốn, cổ phần hóa giúp doanh nghiệp xây dựng có điều kiện phát triển và nhà nước không phải nai lưng gánh khoản đầu tư thua lỗ nếu có”, PGS. Phạm Quý Thọ cho biết.


Thủ tướng yêu cầu xử lý trách nhiệm cá nhân khi thực hiện thoái vốn nhà nước


Định giá doanh nghiệp thiếu chính xác sẽ gây thất thoát vốn nhà nước

Dù khẳng định chủ trương thoái vốn doanh nghiệp xây dựng là cần thiết, nhưng ông Phạm Quý Thọ cho rằng cần thận trọng bởi 16 doanh nghiệp trong diện cổ phần hóa, thoái vốn của Bộ Xây dựng đang nắm giữ khối tài sản rất lớn, diện tích đất đai rộng với hàng chục vạn lao động.

Vì thế không thể vội vàng để tránh nguy cơ mất vốn nhà nước, ảnh hưởng đời sống người lao động.

Ông Phạm Quý Thọ cho rằng, nguy cơ mất vốn nhà nước có thể diễn ra trong bất cứ khâu nào của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Mất vốn nhà nước do hai yếu tố: Thứ nhất, do chính sách hiện có chưa hoàn chỉnh; Thứ hai, do thực thi không đúng.

Ông Thọ phân tích, trong hai nguyên nhân trên thì mất vốn chủ yếu xảy ra trong quá trình thực hiện. Từ lâu nay quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm do nhóm lợi ích tìm cách ngăn cản. Khi cổ phần hóa thì những lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước là người bị "thiệt" nhiều nhất.

Một nhóm lợi ích trong doanh nghiệp nhà nước trì hoãn quá trình cổ phần hóa, hoặc nếu tiến hành cổ phần hóa tìm cách kiếm lợi ở khâu định giá, bán cổ phần.

“Mất tài sản nhà nước khi cổ phần hóa thường xảy ra khi định giá, việc định giá không đúng giá trị tài sản dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước.

Có Đại biểu Quốc hội từng dẫn chứng cổ phần hóa doanh nghiệp ở địa phương do Sở Tài chính chủ trì. Doanh nghiệp được thực hiện định giá, đánh giá tài sản cũng do Sở Tài chính chỉ định, lựa chọn.

Việc định giá trước khi công bố được báo cáo Sở, giá trị còn lại ví dụ xác định là 100 tỷ đồng, Sở nói "làm gì mà cao thế, chỉ khoảng 70 tỷ đồng”, PGS. Thọ cho biết.

Cũng theo ông Phạm Quý Thọ, trong quá trình định giá bên cạnh yếu kém về chuyên môn của đơn vị định giá, cơ quan định giá thì sai lầm lớn nhất trong định giá tài sản doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa chính là bỏ quên yếu tố thị trường cung và cầu.

Đánh trúng tâm lý thị trường khi thị trường cần việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp rất dễ và ngược lại.

Vì thể để tăng tài sản thu về từ việc thoái vốn, theo PGS. Phạm Quý Thọ, cần phải lựa chọn thời điểm bán cổ phần khi thị trường có nhu cầu lớn.

Ông Thọ chốt lại: "Cần rà soát lại nguyên nhân dẫn đến mất vốn tại các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần trước đây để tìm ra nguyên nhân. Đồng thời phải lường trước khả năng mất vốn do đâu để kịp thời ngăn chặn.

Tài sản nhà nước thất thoát khi cổ phần hóa chính là tiền thuế của dân, nó rơi vào túi ai? Tài sản đó vào túi của rất nhiều người, những người tham gia cổ phần hóa, từ người được mua cổ phần, ngươi được chia cổ phần, rơi vào túi người có quyền lực, con cháu người có quyền thực hiện cổ phần hóa”.
Mai Anh
http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Tai-san-nha-nuoc-neu-bi-mat-roi-vao-tui-ai-post174291.gd

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lý Chiêu Hoàng- nữ hoàng bất hạnh

Vĩnh Liêm

Lý Chiêu Hoàng- tranh của Phan Thanh Nam
Lý Chiêu Hoàng- tranh của Phan Thanh Nam











Trong lịch sử Việt Nam có hai vị nữ vương mà tên tuổi và vị trí cuả họ hoàn toàn trái ngược nhau, đó là Trưng Nữ Vương và Lý Chiêu Hoàng. Nếu Trưng Nữ Vương (TrưngTrắc) được tôn vinh là vị nữ anh hùng mở đầu phong trào giải phóng dân tộc chống lại phong kiến phương Bắc, giành được độc lập cho nước nhà trong ba năm (40-43), tên tuổi cuả Bà đã làm rạng danh đất nước, rạng rỡ nữ lưu thì ngược lại Lý Chiêu Hoàng là một cái bóng lu mờ, ít được ai nhắc nhở, thậm chí bị quên lãng.
Có mấy ai nghĩ đến bi kịch cuộc đời cuả vị nữ hoàng bất hạnh, bị lịch sử ruồng bỏ này chăng?
***
Nhà Lý truyền đến Lý Cao Tông (1176-1210) là đời thứ bảy thì suy yếu, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Loạn Phạm Du rồi Quách Bốc xảy ra ở kinh thành, tháng 7 Kỷ Tị (1209) vua Cao Tông cùng thái tử Sảm chạy trốn. Định mệnh lịch sử đã xui khiến thái tử Sảm (16 tuổi) chạy đến thôn Lưu Gia – Hải Ấp vào ở nhà Tr𓏿n Lý, thấy con gái Trần Lý là Trần thị (Dung) xinh đẹp bèn cưới làm vợ. Vị hoàng tử non trẻ si tình  không ngờ mình đã rơi vào cái bẫy sập ngọt ngào. Nếu trong huyền sử có một Mỵ Châu vì quá yêu Trọng Thuỷ mà tiết lộ bí mật nỏ thần để An Dương vương phải mất nước thì trong lịch sử cũng có một thái tử Sảm vì quá mê đắm Trần thị mà cơ nghiệp nhà Lý đã rơi vào tay họ Trần.
Tổ tiên nhà Trần vốn người Mân, từ thế kỷ III trước công nguyên đã di cư về phương nam, ở làng Tức Mặc (sau này là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), đời đời làm nghề đánh cá. Trần Lý sinh ra  Thừa,  Tự Khánh và  thị Dung. Anh em họ Trần giàu có, giỏi võ nghệ. Trong bối cảnh xã hội loạn lạc, triều đình nhà Lý suy yếu, họ Trần có tham vọng đế vương, cũng nổi lên làm giặc. Mặc dù thị Dung đã hứa hôn với Thủ Độ (là em họ) theo luật tục họ Trần1,Trần Lý vẫn sẵn sàng gả con gái cho thái tử Sảm (có thể Thủ Độ cũng đồng loã trong âm mưu này). Trần Lý được thái tử Sảm ban tước Minh Tự, cậu cuả thị Dung là Tô Trung Từ được phong Điện tiền chỉ huy sứ. Họ chiêu tập hương binh giúp vua dẹp loạn, đưa vua về kinh, khôi phục chính thống. Họ Trần nghiễm nhiên có thế lực lớn trong triều đình.
Tháng 10 năm Canh Ngọ (1210) vua Cao Tông băng hà, hoàng thái tử Sảm lên nối ngôi tức Lý Huệ Tông trong tình hình ngày càng tồi tệ. Các thân vương trong hoàng tộc tranh giành quyền bính, bên ngoài loạn đảng thi nhau mọc lên, mạnh nhất là Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn. Trần Lý bị giặc giết, Tự Khánh là con thứ lên thay, thâu tóm quyền lực với sự giúp sức cuả Thủ Độ. Biết rõ thái độ phản trắc cuả Tự Khánh, bà thái hậu họ Đàm thường chỉ mặt Trần thị mắng là bè đảng cuả giặc và tìm mọi cách để giết chết (Trần thị đã bị giáng làm ngự nữ), tạo cớ để Tự Khánh đem quân uy hiếp vua, vua đã phải nhiều lần xa giá chạy trốn. Về sau vì  thái hậu bức bách Trần thị, Huệ Tông đành phải đưa Trần thị (lúc này được phong Thuận Trinh phu nhân) đang đêm trốn  đến chỗ Tự Khánh, chịu sự bảo bọc cuả anh em họ Trần để chống lại các bè đảng khác.  Tháng 6 Bính Tý (1216) Thuận Thiên công chuá ra đời, tháng 12 Thuận Trinh phu nhân được sách phong làm hoàng hậu. Trước tình thế đó, Đàm thái hậu đành phải dựa vào thế lực cuả Nguyễn Nộn và Hà Cao để chống lại, hai mẹ con vua Huệ Tông đã ở hai trận tuyến đối nghịch nhau. (Sau vì thế yếu Thái hậu đành phải mang các công chúa về hàng Trần Tự Khánh)2.
Loạn lạc vẫn hoành hành, dân chúng bị cướp bóc, kinh đô bị đốt phá (1220 kinh đô cũ  mới được phục hồi). Sử chép trong thời gian này “nhà  vua bị trúng phong, chữa chạy không công hiệu, từ đó sinh ra cuồng dịch; khi thì xưng là thiên tướng giáng hạ, tay cầm giáo và mộc, trên búi tóc cắm lá cờ nhỏ, đùa giỡn múa may suốt ngày; khi thì toát mồ hôi, trong người ráo khát, uống rượu say, ngủ li bì đến mãi hôm sau mới tỉnh, không làm việc được; phải giao hết chính sự cho Trần Tự Khánh. Quyền bính trong nước về tay cả họ Trần.” Có thể bệnh điên cuả nhà vua đã phát sinh từ nỗi sầu hận ẩn ức trước thời cuộc, trước sự hiếp đáp cuả họ Trần và sự bất hạnh gia đình. Trong lịch sử Việt Nam chưa có vị hoàng đế nào khốn khổ như Huệ Tông, suốt thời gian trị vì không lúc nào ở yên một chỗ, luôn phải xa giá trốn chạy hết nơi này đến nơi khác. Người vợ mà vua hết lòng yêu thương lại là người cuả kẻ thù. Chấp nhận trở thành Huệ hậu chẳng qua thị Dung muốn nhân cơ hội đem ngai vàng về cho họ Trần chứ trái tim cuả Trần thị  đã nghiêng về phiá Thủ Độ, một chàng trai tuy không biết chữ nhưng thông minh quyết đoán, tràn trề sinh lực, hơn hẳn vị vua yếu đuối, nhu nhược, bất tài và bên cạnh là một bà mẹ chồng khắt nghiệt, luôn muốn giết mình.
Tuy vua mắc bệnh nhưng đến tháng 9 năm Mậu Dần (1218) hoàng hậu sinh hạ thêm Chiêu Thánh công chuá (huý là Phật Kim),  rất được Huệ Tông yêu.
Tháng 12 năm Quý Mùi (1223) Trần Tự Khánh chết, Trần Thừa là anh (con đầu cuả Trần Lý) lên thay làm Phụ quốc thái uý, dùng Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Thủ Độ bắt đầu can dự vào triều chính nhà Lý.
Bệnh cuả vua ngày càng nặng, lại không có con trai. Tháng 10 Mậu Thân (1224) Huệ Tông xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm hoàng thái tử để truyền ngôi (Thuận Thiên đã được gả cho Trần Liễu, anh cuả Trần Cảnh). Vua xuất gia ở chùa Chân Giáo.
Chiêu Thánh lên ngôi mới 7 tuổi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng. Về vấn đề này, sử thần Ngô Sĩ Liên phê như sau:” …Nếu không may mà không có con thì chọn con cuả người tông thất nuôi làm con mình để giữ nghiệp lớn, đó cũng là một cách xử trí trong lúc biến vậy. Lý Nhân Tông đã làm như thế rồi, Huệ Tông sao không xét việc cũ mà làm theo, lại để đến sau lúc tật bệnh mới lập con gái mà truyền ngôi cho…”.
Nhận định cuả Ngô Sĩ Liên cũng có lý, Huệ Tông không phải là con trai duy nhất cuả Cao Tông và tông thất nhà Lý không phải thiếu người hiền tài. Tuy nhiên quyền bính đã vào tay anh em họ Trần. Trước đây vua nhiều lần đem quân chống lại vẫn không được, nay mắc bệnh, khi tỉnh khi mê thì làm sao sáng suốt như Lý Nhân Tông. Cơ hội ngàn vàng để họ Trần thực hiện mộng đế vương đã đến. Trong âm mưu đảo chính này, có lẽ chủ yếu là Trần Thủ Độ và hoàng hậu, Trần Thừa vốn không mưu lược thủ đoạn bằng Thủ Độ và Tự Khánh.  Cương Mục viết “…Gặp lúc ấy trong nước loạn lạc, hoàng hậu mới cùng Thủ Độ tư thông, rồi bàn mưu ở trong cung làm tờ chiếu để vua nhà Lý truyền ngôi cho nhà Trần, vì thế mà nhà Lý mất ngôi vua.” Kịch bản được họ sắp đặt như sau:
Tháng 10 năm Ất Dậu (1225) Thủ Độ cho Trần Cảnh (con thứ hai cuả Trần Thừa, cùng tuổi với Chiêu Hoàng) vào hầu Chiêu Hoàng. Trẻ con thích chơi đùa với nhau là chuyện bình thường, huống hồ vị nữ hoàng tí hon ở trong cung cấm thiếu bạn bè. Toàn Thư cho biết: “…Chiêu Hoàng thấy thế làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng trên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay  vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh..”. Trò chơi vô tư cuả trẻ con đã bị người lớn lợi dụng. Khi Cảnh về mách lại với Thủ Độ, Thủ Độ liền đem gia thuộc và họ hàng vào trong cung cấm, sai đóng cửa thành và các cửa cung, không cho các quan vào chầu rồi loan báo “Bệ hạ đã có chồng rồi”.
Thế là màn kịch thứ nhất đã diễn xong, Chiêu Hoàng trở thành vợ cuả Trần Cảnh khi  cả hai mới lên tám.
Đến màn kịch thứ hai:
Ngày mồng 1 tháng 12 năm Ất Dậu (1225) Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng. Chiếu nhường ngôi có đoạn”…Khốn nỗi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, làm sao mà giữ nổi ngôi báu nặng nề (…) Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực thế cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ (…) Sớm hôm nghĩ chín từ lâu nghiệm xem nên nhường ngôi báu, để thoả lòng trời, cho xứng lòng trẫm, mong đồng lòng hết sức, cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình…”. (Lời lẽ trong chiếu nhường ngôi chúng ta hiểu không thể từ một đứa trẻ mới lên tám).
Chiêu Hoàng bèn trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế (tức Trần Thái Tông), đổi niên hiệu là Kiến Trung.  Muà xuân Bính Tuất (1226) Thái Tông sách phong Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu, phong Trần Thủ Độ làm Thái sư. Thượng hoàng nhà Lý tức Huệ Tông bị giáng truất làm Huệ Quang đại sư, cùng mẹ là Đàm thị ra ở chùa Chân Giáo.
Một cuộc đảo chính thật êm ái, thật độc đáo! Với trí óc non nớt trẻ thơ, Chiêu Hoàng  không hiểu rằng chiếu nhường ngôi chính là bản án tử hình đối với nhà Lý, chấm dứt vai trò mờ nhạt cuả nàng trong lịch sử.
Chiêu Thánh bị đẩy vào hậu cung để rồi chứng kiến cái chết oan nghiệt cuả phụ hoàng, cái chết tập thể cuả tông thất nhà Lý. Oái oăm thay, người giết cha, giết cả dòng họ nội cuả nàng chính là Trần Thủ Độ, người cậu họ, đã lấy mẹ nàng  ngay sau khi cha nàng bị bức tử.
Sử chép:
– Huệ Tông khi ở chùa Chân Giáo thường ngồi nhổ cỏ trước cửa chùa, Thủ Độ đi qua trông thấy, nói “Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ sâu”, Huệ Tông đứng dậy phủi tay nói ”Lời ngươi nói, ta hiểu rồi”. Sau Huệ Tông ra chơi chợ cửa Đông, nhân dân tranh nhau chạy ra xem, có người động lòng thương khóc. Thủ Độ sợ lòng người tưởng nhớ đến vua cũ, sinh biến loạn, càng canh giữ nghiêm mật hơn trước. Một hôm Thủ Độ cho người đến mời, Huệ Tông giận lắm, bảo “Tatụng kinh xong sẽ tự tử”, rồi vào buồng ngủ khấn ”Thiên hạ nhà ta đã vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi thác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế”. Nói xong liền thắt cổ chết ở vườn sau chùa. Thủ Độ đưa bách quan đến tế khóc rồi hoả táng, chôn  ở tháp Bảo Quang (tháng 8 Bính Tuất – 1226). Sử thần Ngô Sĩ Liên phê: “…Đã lấy được nước cuả người ta lại còn giết vua cuả người ta thì thực bất nhân quá lắm” (Toàn Thư trang 160 bản điện tử)
–  Sau khi Huệ Tông chết, Hoàng hậu Thuận Trinh bị giáng truất làm Thiên Cực công chuá gả cho Trần thủ Độ. (Tuy nói rằng “bị giáng truất” nhưng thực tế là sự đồng thuận giữa bà và “người em họ” Trần Thủ Độ). Lời bình cuả Việt Sử Tiêu Án:”…Than ôi! gây dựng triều đình nhà Trần là triều đình dâm loạn như loài chim muông là tự việc Thủ Độ lấy Thiên Cực mở đầu ra đó…” (trang 69 bản điện tử). Cương Mục nhận định đó là “những nết xấu như chó, lợn, dạ độc như hùm beo” (trang 190 bản điện tử.)
– Để trừ hậu hoạ, mùa đông năm Nhâm Thìn (1232), nhân lúc tông thất nhà Lý làm lễ tế tiên tổ ở thôn Thái Đường xã Hoa Lâm, Thủ Độ cho người ngầm đào cái hố sâu, dựng nhà lên trên, rồi giật máy cho nhà đổ, chôn sống hết tông thất nhà Lý3.
Những biến cố kể trên hẳn là những vết hằn sâu đậm trong trái tim thơ ngây cuả Chiêu Thánh .
Trần Thủ Độ đã thực hiện xong âm mưu triệt tiêu họ Lý, bước tiếp theo là tạo dựng triều đại nhà Trần vững vàng, uy nghi: Sau khi Huệ Tông bị bức tử thì đến tháng 10 năm đó Thái Tông (theo lệnh cuả Thủ Độ) tôn cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng, mẹ là Lê thị làm Quốc Thánh hoàng thái hậu. Thực tế Trần Thừa chỉ làm vì, mọi việc trong nước đều do Thủ Độ quyết đoán và Thủ Độ đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để củng cố vương triều Trần:
Theo Toàn Thư năm Quý Tỵ (1233) Hoàng Thái tử Thịnh mất4. Hoàng Thái tử Thịnh tất nhiên là con cuả hoàng hậu, như vậy không phải Chiêu Thánh không có khả năng sinh nở (điều này về sau càng chứng minh rõ ràng). Thế nhưng do quá nôn nóng bảo vệ cơ nghiệp nhà Trần, năm 1237 Thủ Độ và Thiên Cực công chuá lấy cớ Chiêu Thánh (lúc này mới 20 tuổi) lấy Trần Cảnh đã 12 năm vẫn chưa có con  trong khi Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang 3 tháng (trước đó đã sinh Vũ Thành vương Doãn), bàn với vua nên mạo nhận để lấy làm chỗ dựa về sau. Nói rằng “bàn” nhưng thực ra ép vua  lập Thuận Thiên làm hoàng hậu, phế Chiêu Thánh làm công chúa (tháng giêng Đinh Dậu – 1237).
Thái Tông vốn hiền lành, sợ oai cuả Thủ Độ, lại không còn ai để nương tựa5 nên  không dám phản kháng dù trong lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Không đau khổ sao được khi phải phế bỏ người vợ đã chung sống với vua 12 năm trời từ thuở ấu thơ cho đến khi tuổi vẫn còn thanh xuân, có thể tình yêu cuả họ đang độ nồng nàn. Huống nữa người vợ ấy đã đem cả cơ nghiệp tổ tiên mình trao cho Thái Tông để mở ra triều đại nhà Trần, biết bao ân tình chưa đền đáp được, nay nhà vua lại làm việc trái đạo lý. Đưa Thuận Thiên lên làm hoàng hậu, có nghĩa là lấy chị cuả Chiêu Thánh và cướp vợ cuả Trần Liễu, chỉ có loài cầm thú mới làm chuyện loạn luân đồi bại ấy!
Trần Liễu tức giận, họp quân ra sông Cái làm loạn. Vua Thái Tông trong nỗi tuyệt vọng, đến đêm trốn lên núi Yên Tử, xin quốc sư Phù Vân cho nương nhờ  Phật Tổ. Thủ Độ đem quân đến đón về, bảo rằng vua ở đâu thì triều đình ở đấy. Quốc sư thấy thế van lạy, Thái Tông bất đắc dĩ phải về. Trần Liễu biết sức mình không làm gì nổi, bèn nhân lúc Thái Tông ngự thuyền đi chơi, giả làm người đánh cá xuống thuyền ngự. Hai anh em ôm nhau khóc. Thủ độ nghe tin đến đòi giết Liễu, vua lấy mình ra đỡ, can mãi mới thôi và khuyên Liễu đầu hàng. Vua lấy đất An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và An bang ban cho Liễu, phong hiệu là An Sinh vương. Còn những người theo Liễu làm loạn đều giết hết.
Phan Phù Tiên đã có lời bình như sau: “…Tam cương ngũ thường là luân lý lớn cuả loài người. Thái Tông là ông vua khai sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc để truyền lại cho đời sau, lại nghe mưu gian cuả Thủ Độ, cướp vợ cuả anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cả luân thường, mở mối dâm loạn đó ư? Liễu từ đó sinh ra hiềm khích, cả gan làm loạn, là do Thái Tông nuôi nên tội ác cho Liễu vậy. Có người bảo Thái Tông không giết anh, thế là nhân, nhưng tôi cho rằng cướp vợ cuả anh, tội ác đã rõ ràng, không giết anh là vì lẽ trời chưa mất mà thôi, sao được gọi là nhân? Xét sau này Trần Dụ Tông dâm loạn làm càn chưa hẳn không do Thái Tông đầu têu vậy”. (Toàn Thư trang 165 bản điện tử)
Cương Mục phê: “Phong hoá nhà Trần không nghiêm chỉnh, lại tệ hơn phong hoá nhà Đường ở Trung hoa. Nhưng bấy giờ Thái Tông hãy còn thơ ấu, mà Thủ Độ là người rất ngoan cố, phàm việc gì cũng do hắn chỉ sử. Thái Tông không theo cũng không được. Thế mà sử thần chỉ trích riêng Thái Tông, như thế chưa phải là lời phê công bằng…”.( trang197 bản điện tử))
Tất cả lời bàn cuả sử thần đều nhắm vào hoặc phê phán hoặc biện hộ cho Thái Tông về tội cướp vợ cuả anh, nhưng sử sách không hề có một câu nào xót xa cho số phận cuả Chiêu Thánh, thậm chí sau này còn nhìn nhận bà một cách rẻ rúng.
Về phía Thuận Thiên, có lẽ cũng bị dằn vặt nhiều, nhưng ngôi vị hoàng hậu há chẳng phải là sự bù đắp cho nỗi hận mất ngai vàng vào tay em gái khi phụ hoàng Huệ Tông vì quá yêu Chiêu Thánh mà nhường ngôi cho con gái út thay vì trưởng công chúa? Trước tư cách tầm thường cuả người chồng trăng hoa Trần Liễu6 thì vị vua trẻ tuổi kia, cho dù em rể hay em chồng, cũng khiến nàng ngưỡng mộ và bằng lòng sự sắp đặt hoán đổi cuả mẹ và cậu chăng?
Sử xưa lên án sự ác độc vô luân cuả Trần Thủ Độ, nhưng thử hỏi nếu Thiên Cực công chúa (sau này được tôn xưng Linh Từ quốc mẫu) không tiếp tay liệu âm mưu ấy có thành? Linh Từ đã đặt quyền lợi cuả  dòng họ lên trên hay vì quá mê muội người em họ xảo quyệt mà nở để Chiêu Thánh, con gái cuả bà, phải đau khổ đến tột cùng ? Bà là người đứng ra hoà giải sự xung đột giữa hai anh em Trần Liễu và Trần Cảnh, song với Chiêu Thánh  bà lạnh lùng đẩy ra khỏi hoàng cung.
Tại sao Thủ Độ và Linh Từ lại chia lìa Thái Tông với Chiêu Thánh? Một lý do dễ hiểu: nếu vẫn để Chiêu Thánh ở  cung, lỡ một mai Chiêu Thánh có con với Thái Tông – có thể là con trai – thì việc làm tội lỗi đó sẽ bị phơi trần, người đời sẽ nguyền ruả họ.
Sau những ngày sóng gió ấy, Thái Tông đành phải làm tròn bổn phận duy trì huyết thống nhà Trần với Thuận Thiên hoàng hậu trong cay đắng hỗ thẹn. Nhà vua tìm đến thiền học như một sự giải thoát cho tâm linh, không màng đến quyền thế,  việc nước đều một tay Thủ Độ sắp đặt, lấn át  vua.
Thuận Thiên ngoài Quốc Khang (con cuả Trần Liễu, sinh trong cung), cũng  đã sinh con cho Thái Tông, trong đó có Trần Hoảng (sau này trở thành vua Trần Thánh Tông ) và Trần Quang Khải. Có thể do mặc cảm tội lỗi dày vò, bà  qua đời sớm ở tuổi 33 vào tháng 6 năm Mậu Thân  (1248).
Riêng Chiêu Thánh đã phải sống một đời cô độc buồn thảm suốt 21 năm trời từ 1237 đến 1258. Chắc hẳn sử sách sẽ không đá động cho đến khi bà qua đời nếu không có một biến cố lớn làm thay đổi thân phận bà:
Tháng 12 năm Đinh Tỵ (1257) quân Nguyên do tướng Ngột Lương Hạp Thai đem quân xân lấn nước ta ở Bình Lệ Nguyên (nay là huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Yên). Vua thân hành  đốc chiến, xông pha tên đạn, ngoảnh lại chỉ thấy Lê Phụ Trần một mình một ngựa ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Có người khuyên vua dừng lại để chỉ huy chiến đấu. Phụ Trần can vua “Nay thì bệ hạ chỉ đánh một ván dốc túi thôi! Hãy tạm lánh chúng, sao lại có thể tin lời người ta thế!”. Vua nghe lời lui quân đóng ở sông Lô, Phụ Trần giữ phía sau. Quân giặc bắn loạn xạ, Phụ Trần lấy ván che cho vua khỏi trúng tên giặc…. Những hành động thiếu tự chủ cuả Thái Tông chỉ có thể giải thích rằng vua không cho việc sống chết làm trọng mà chỉ cần giải thoát được những nỗi thống khổ chồng chất tận đáy lòng.
Cảm kích ân nghĩa cuả Lê Phụ Trần đã quên mình vì vua, sau khi đánh tan giặc Nguyên (lần thứ nhất), ngày mồng 1 tháng giêng năm Mậu Ngọ (1258) Thái Tông định công phong tước, cho Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu, lại đem công chúa Chiêu Thánh gả cho. Vua nói “Trẫm không có khanh thì đâu có ngày nay. Khanh hãy cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau”.
Đây là một quyết định táo bạo, sáng suốt, vượt lên nỗi sợ hãi người chú độc đoán7, đạp đổ bức tường Nho giáo cổ hủ8, mở ra không gian thoáng đãng với tư tưởng khai phóng, vị tha, vô ngã cuả đấng quân vương đã ngộ đạo.
Quyết định cuả Thái Tông không mang ý nghiã ban ơn cuả bậc chí tôn cho bầy tôi trung thành mà là sự trân quý đối với người bạn tâm giao khi trao gửi báu vật mà nhà vua không thể gìn giữ. Đồng thời hành động này cũng xuất phát từ tấm lòng thương yêu vô hạn và  sự tạ lỗi đối với Chiêu Thánh. Nhà vua muốn có sự bù đắp xứng đáng về những khổ đau mà người vợ bất hạnh đã chịu đựng 21 năm qua. Trước mắt ông không còn ai khác hơn Lê Phụ Trần, người bạn thân có đầy đủ tư chất thông minh và đức độ9  để đem hạnh phúc đến cho Chiêu Thánh trong những năm cuối đời cuả bà.
Việc từ bỏ ngôi báu cuả Thái Tông được Ngô Thời Sĩ ví như hành động “trút giày rách” diễn ra hơn một tháng sau đó (ngày 24 tháng 2) , nhà vua nhường ngôi cho thái tử Hoảng, lui ở Bắc cung, đắm mình vào thiền học và trước tác Khoá Hư Lục, bộ sách gồm những bài thơ và bài kệ thiền rất giá trị.
Chiêu Thánh trở thành phu nhân cuả Lê Phụ Trần và đã sinh cho Phụ Trần hai người con, trai là Thượng Vị hầu Tông, gái là Ứng Thụy công chúa Khuê. Việc sinh con đã mang lại niềm hạnh phúc được làm mẹ cho Chiêu Thánh, là minh chứng hùng hồn tội ác vô luân cuả Thủ Độ và Linh Từ, nhưng liệu đã đủ xua tan những bóng mây u ám vây quanh bà chăng? Tin thượng hoàng Thái Tông băng vào tháng 4 Đinh Sửu (1277)  làm vết thương lòng cuả bà nhói đau trở lại. Một năm sau Chiêu Thánh công chúa ra đi trong lặng lẽ (tháng 3 Mậu Dần -1278), thế mà những thành kiến khắc nghiệt cuả các sử thần Nho giáo vẫn không chịu buông tha bà:
Việt Sử Tiêu Án viết như sau: “Bà Chiêu Thánh mất. Bà đã bị giáng là Công chuá, rồi gả cho Phụ Trần, khi ấy mất đã 61 tuổi. Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang có đầm Minh Châu, giữa đầm có phiến đá to, người ta truyền lại rằng: Bà Chiêu Thánh cắp hòn đá nhảy xuống đầm mà chết, trên đầm có miếu Chiêu Hoàng, đó là thổ dân nơi đó bênh vực hồi mộ cho bà Chiêu Thánh mà đặt ra thuyết ấy.
Bà Chiêu Hoàng nhất sinh là người dâm, cuồng, lấy chồng không vừa lứa đôi, đâu còn trinh tiết như lời người ta truyền lại.” 10
***
Truyền thuyết dân gian về cái chết cuả Chiêu Thánh  và việc lập miếu thờ ở đầm Minh Châu tỉnh Bắc Giang chứng tỏ dân ta rất cảm thông và thương xót vị nữ hoàng bất hạnh chịu lắm nỗi oan khiên. Chiêu Hoàng chỉ là nạn nhân bởi những mưu toan bất chính cuả Trần Thủ Độ và Linh Từ quốc mẫu (những con người rất thân yêu  gần gũi cuả bà), không đáng nhận lãnh những lời phê phán đầy ác ý như thế.
Tiếng nói cuả dân gian mới là tiếng nói cuả tình thương và công tâm, sưởi  ấm phần nào linh hồn cô quạnh cuả Lý Chiêu Hoàng.
V.L
Đà Lạt tháng Giêng Mậu Tý (2008)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bánh vẽ của tỉnh Ninh Thuận


>> Vụ tham nhũng chấn động Sài Gòn xưa của cha vợ vua Minh Mạng
>> Tính khí Trump, tính khí đô la Mỹ
>> Kiều hối giảm bất thường
>> Lấy 4,7 tỷ tiếp khách, phó tổng giám đốc Vinalines được hưởng án treo
>> Luật Báo chí 2016 chính thức có hiệu lực: 9 điểm mới cần biết


FB Bạch Hoàn
“Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ/ Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn/ Cầm lên nhấm nháp”.

Những câu thơ này trong bài thơ Bánh vẽ của Chế Lan Viên, hôm nay tôi xin phép mượn tặng cho lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận.

Khi dự cuộc họp của các chuyên gia phản biện dự án thép Cà Ná hồi cuối năm 2016, tôi thấy các chuyên gia kinh tế đề nghị Ninh Thuận chứng minh những lợi ích mà người dân Ninh Thuận được hưởng, hiệu quả kinh tế cho địa phương mà dự án mang lại. Khi ấy, lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận chưa có câu trả lời. Báo cáo tiền khả thi của chủ đầu tư thì giấu nhẹm, hoàn toàn không đề cập đến mức đóng góp của dự án vào ngân sách.

Hiệu quả trực tiếp của một dự án đầu tư được đánh giá trên hai góc độ, gồm: giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Ninh Thuận đã bày ra trước người dân, trước những ai quan tâm đến dự án này, thậm chí trước Chính phủ… những chiếc bánh rất to và hấp dẫn.

Thế nhưng, những chiếc bánh mà Ninh Thuận bày ra khi hân hoan làm bữa tiệc thép, có nhai được hay không lại là vấn đề được bàn đến ở bài viết này.

Chiếc bánh việc làm

Để thuyết phục người dân, các cơ quan truyền thông ủng hộ dự án thép Cà Ná, đồng thời thông tin đến các cơ quan ban ngành trên địa bàn nhằm tạo sự đồng thuận đối với dự án thép, tỉnh Ninh Thuận đã ban hành một báo cáo tổng hợp đầy đủ các thông tin về dự án thép Cà Ná. Trong đó, Ninh Thuận khẳng định, sẽ có 45.000 người lao động có việc làm trực tiếp ở nhà máy thép.

Tôi sẽ lấy thông tin cam kết về lao động ở Formosa Hà Tĩnh, dự án thép tương tự về quy trình, công nghệ sản xuất để so sánh và các anh chị sẽ tự có nhìn nhận của riêng mình về thông tin mà Ninh Thuận đưa ra.

Theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường của Formosa đã được phê duyệt, khi nhà máy đi vào hoạt động, với quy mô 7,5 triệu tấn thép, tổng lượng lao động của nhà là 11.000 người. Nghĩa là, khi sản xuất một triệu tấn thép sẽ tạo việc làm cho 1.460 lao động. Giả sử với quy mô 16 triệu tấn thì lượng lao động chỉ là 23.460 người.

Ngay cả căn cứ theo số liệu của chính tập đoàn Hoa Sen, mỗi tấn thép họ cần 1.880 lao động. Vậy thì đến tận năm 2031, nhà máy thép Cà Ná chỉ tạo ra việc làm được tối đa khoảng 30.200 lao động nếu hoạt động hết công suất.

Bữa tiệc thép này là của Hoa Sen và Ninh Thuận, ấy vậy mà số liệu của chính họ còn chênh lệch xa nhau. Cùng một dự án, chiếc bánh lao động mà Ninh Thuận vẽ ra cao hơn Hoa Sen tới 14.800 người.

Đóng góp vào ngân sách địa phương

Theo khẳng định của Ninh Thuận, hợp phần cảng quốc tế Cà Ná, tính đến tận năm 2031, với lượng hàng thông qua cảng khoảng 50 triệu tấn, ngân sách nhà nước sẽ thu được 3.000-5.000 tỉ đồng từ nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu như quặng, than, phôi thép… cho nhà máy phép.

Có lẽ, tỉnh Ninh Thuận chưa biết rằng, trong quy trình sản xuất ở một khu liên hợp luyện cán thép, người ta không nhập khẩu phôi thép. Do đó, tỉnh này không thể thu được một xu thuế nhập khẩu nào từ mặt hàng phôi thép. Thứ hai, các máy móc thiết bị nhập khẩu tạo tài sản cố định được miễn thuế nhập khẩu. Các nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ để sản xuất được hoàn thuế VAT.

Để có cơ sở đưa ra mức dự thu như trên, Ninh Thuận dẫn chứng, năm 2015, nguồn thu của hải quan Hà Tĩnh qua cảng Sơn Dương có đến 90% đóng góp từ dự án của Formosa, với mức nộp ngân sách khoảng 4.500 tỉ đồng, chủ yếu là thuế VAT. Lấy cơ sở này là không chính xác, bởi thực tế cơ quan thuế VAT chỉ tạm thu và sau đó đã hoàn lại cho Formosa.

Đối với dự án thép, Ninh Thuận khẳng định, nhà máy thép Cà Ná sẽ nộp ngân sách nhà nước khoảng 15.000 tỉ đồng mỗi năm, gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, phí môi trường…

Cơ sở để Ninh Thuận đưa ra các con số trên là gì?

Theo báo cáo của tỉnh Ninh Thuận, địa phương này chỉ tạm tính với quy mô 10 triệu tấn thép, mức nộp ngân sách nhà nước có thể lên đến 1 tỉ USD, thấp nhất thì cũng phải vào khoảng 500 triệu USD. Các nguồn thu đến từ thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môi trường…

Thực tế, riêng thuế thu nhập cá nhân, dự kiến Hoa Sen sẽ được miễn 50%. Thuế môi trường thực tế không nhiều bởi Ninh Thuận đề nghị cơ chế áp dụng mức thuế thấp nhất cho Hoa Sen. Tiền thuê đất đai Hoa Sen được miễn hoàn toàn.

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, Tập đoàn Hoa Sen ước tính, lợi nhuận sau thuế của họ khoảng 933 tỉ đồng/triệu tấn thép. Nếu tạm tính theo quy mô 10 triệu tấn thép mà Ninh Thuận đặt ra, thì tổng lợi nhuận sẽ là 9.333 tỉ đồng.

Tuy nhiên, trong 4 năm đầu họ được miễn thuế. Giả sử tính từ thời điểm công suất đạt mức 10 triệu tấn, thì trong 9 năm tiếp theo mức thuế là 5% nên họ chỉ nộp ngân sách 466 tỉ đồng/năm và các năm còn lại mức thuế là 10% nên tổng số thuế nộp 932 tỉ đồng/năm. Chắc chắn phải vài chục năm nữa Hoa Sen mới đóng góp được mức thuế này.

Đối với thuế VAT, Ninh Thuận ước tính VAT đầu ra sẽ khoảng 700 triệu USD khi nhà máy sản xuất 10 triệu tấn thép/năm. Sở dĩ có con số cao chót vót này là bởi Ninh Thuận ước tính doanh thu của 10 triệu tấn thép sẽ vào khoảng 7-10 tỉ USD.

Thế nhưng, thực tế, chính Tập đoàn Hoa Sen tính toán, doanh thu của 1 triệu tấn thép là 9.260 tỉ đồng, tương đương 410 triệu USD. Tôi không hiểu Ninh Thuận lấy đâu ra con số doanh thu 1 triệu tấn thép là 1 tỉ USD? Sự chênh lệch giữa con số do địa phương vẽ ra để thuyết phục người dân chấp thuận dự án, và con số trong bài toán tài chính của nhà đầu tư, có thể thấy mức thuế VAT đầu ra 700 triệu USD nói trên là một sự hoang tưởng nặng nề.

Thuế VAT thực nộp là tổng thuế VAT đầu ra trừ thuế VAT đầu vào. Đầu vào được hoàn thuế, thì thực tế phần giá trị tăng thêm của dự án thép để đóng thuế sẽ không mang lại những nguồn thu khổng lồ cho tỉnh Ninh Thuận như họ đang ngồi đếm cua trong lỗ.

Có thể nói ngắn gọn, doanh thu để tính thuế được ước tính ở mức không tưởng, hoang tưởng, thì con số thuế thu về chắc chắn chỉ là bánh vẽ.

Tôi tin rằng, đọc đến đây thì những người có trách nhiệm trong Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ nhìn nhận được những lợi ích về lao động và đóng góp vào ngân sách mà Ninh Thuận đưa ra thực chất là gì.

Nếu mai kia, chiếc bánh vẽ này vẫn được gật đầu để có bữa tiệc thép cho Hoa Sen, cho Ninh Thuận và những người có liên quan, thì tôi xin mượn tạm những câu thơ tiếp theo của Chế Lan Viên tặng cho họ.

… Chả là nếu anh từ chối 
Chúng sẽ bảo anh phá rối 
Ðêm vui 
Bảo anh không còn có khả năng nhai 
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc… 
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt? 
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn 
Như không có gì xảy ra hết 
Và những người khác thấy anh ngồi, 
Họ cũng ngồi thôi 
Nhai ngồm ngoàm…”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Hà Nội vẫn loay hoay vụ loa phường

Hà Nội sẽ dẹp bỏ loa phường vì... hết tiền nuôi ?


Không thấy ông chủ tịch ủy ban tuyên giáo, Võ Văn Thưởng, có ý kiến gì về đề nghị của ông Kỷ là không nên bỏ loa phường. Nhưng có thể vì lý do ngân sách đang thâm hụt nặng, nên Hà Nội sẽ đi đến quyết định cắt đứt phương tiện truyên truyền này.
Cả tháng nay, việc dẹp bỏ loa phường tại Hà Nội theo đề nghị của ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch ủy ban nhân dân Hà Nội, vẫn tiếp tục gây nhiều tranh cãi. Ông Chung cho rằng cái loa phường đã làm xong nhiệm vụ lịch sử tuyên truyền trong thời gian Việt Nam còn sống trong bức màn tre. Bây giờ “…Việt Nam đã vươn ra biển lớn, đã hội nhập toàn cầu…”.

Khi đã nối mạng internet, người dân bây giờ không cần nghe loa phường nữa mà chỉ cần quẹt quẹt trên điện thoại thông minh là cả thế giới có thể nằm trong tay của họ. Ông Chung đề nghị nên dẹp loa phường.

Những tờ báo lề phải ủng hộ ý kiến của Chung thì lập ngay những cuộc thăm dò ý kiến trên mạng xem có nên giữ hay không giữ loa phường. Nhưng có vẻ như phe chống đối cho tin tặc tấn công các trang mạng đang làm cuộc thăm dò.

Sáng ngày 7 tháng 02, 2017, trong buổi giao ban báo chí đầu năm giữa ban tuyên giáo trung ương và bộ Thông Tin & Truyền Thông, tổng giám đốc Đài Tiếng Nói Việt Nam- ông Nguyễn Thế Kỷ- đề nghị thẳng với chủ tịch ủy ban tuyên giáo trung ương Võ Văn Thưởng là không nên bỏ loa phường. Ông Kỷ không đưa ra thêm được lý do nào khác ngoài việc người dân vẫn cần thông tin mỗi ngày, nên phải giữ loa phường.

Không thấy ông chủ tịch ủy ban tuyên giáo, Võ Văn Thưởng có ý kiến gì về đề nghị của ông Kỷ. Nhưng có thể vì lý do ngân sách đang thâm hụt nặng, nên Hà Nội sẽ đi đến quyết định cắt đứt phương tiện truyên truyền này.

Tường Thắng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dâng sao giải hạn, ai đỡ nổi hạn mà sì sụp khấn vái?


>> Việt Nam, Trung Quốc dịu giọng trên vấn đề Biển Đông
>> VN: chính sách đất khiến dân phải sống nghèo?
>> Mỹ chơi poker nhưng Nga bắt hậu, chặt chân vua
>> Sụp đổ tài khóa quốc gia’: Thủ tướng Phúc không muốn phải ‘đổ vỏ’?
>> Năng suất, chất lượng: Muốn là được, nhưng phải tập trung


Nguyễn Quang Vinh
(Dân Việt) Không thánh thần nào giải hạn được cho kẻ quan tham, cho lũ trộm cướp, nếu được, thì chắc giờ cái ác đã nhấn chìm nhân loại.

Vào năm mới, mơ ước cho mình, gia đình mình một năm hanh thông trong công việc, an lành và phúc phận là điều ai cũng mong muốn. Từ ngàn xưa, cha ông đã biến cái mong muốn ấy thành lễ dâng sao giải hạn ở chùa chiền, đình thờ, hay chính tại bàn thờ gia tiên với ước muốn điều lành tới, an nhiên trong đời sống, lễ bạc lòng thành, dâng lễ trong thanh tịnh, trong tâm thế an nhiên hoà hợp với thời khắc chuyển dịch sang xuân, như một nét văn hoá thiên về nội tâm.

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng vào đầu năm (tốt nhất là hàng tháng) tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin thần sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình"...Để bước vào một năm mới, việc biện một lễ nhỏ, thanh bạch, một nén hương thơm, đi vào chùa, đứng trước bàn thờ gia tiên, giữa không gian đêm đầu năm tự mình cầu an lành cho mình, cho gia đình, doanh nghiệp...lời cầu đó như là lời hứa hẹn, như là một quyết tâm, như là cách thể hiện bản lĩnh, thể hiện tâm thế, thể hiện ý chí để hoàn thành những công việc của năm mới...tốt thôi, không sao hết.

Không thánh thần nào giải hạn được cho kẻ quan tham, cho lũ trộm cướp, nếu được, thì chắc giờ cái ác đã nhấn chìm nhân loại.

Không thánh thần nào có thể cứu được mạng sống của ta, nâng đỡ được sự hanh thông trong công việc, làm ăn, kinh doanh, học tập, nếu được, chắc nhân loại thành tỉ phú, thành ngôi sao điện ảnh, thành xuất chúng.

Không thánh thần nào giúp biến báo kẻ vô đạo đức, kẻ gian manh, kẻ lừa đảo để luôn che mắt thiên hạ, bá chủ thiên hạ, nếu được, chắc thiên hạ đại loạn.

Nếu giải được hạn sao xấu thì hẳn chả cần bệnh viện mỗi khi lâm bệnh; chả cần tu dưỡng nếu muốn thành tài; chả cần đổ mồ hôi sôi nước mắt nếu muốn giàu có...

Hòa thượng Thích Thiện Bảo - Phó ban hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban thông tin - truyền thông Phật giáo TP.HCM nói trên báo Tuổi Trẻ:Việc cúng sao giải hạn không phải là văn hóa Phật giáo. Đây là theo tập tục dân gian vốn có từ thời xưa, khi mà con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, bị đủ loại bệnh hoạn mà chưa tìm ra thuốc chữa, rồi cho là vì các vị thần trừng phạt nên sợ sệt mà tưởng tượng ra - từ thần Sấm, thần Sét, thần Cây Đa, Cây Đề, thần Hổ, thần Rắn, thần Núi, thần Sông...

Đạo Phật chủ trương con người là chủ nhân quyết định vận mệnh chính mình, theo đó, Đức Phật dạy: “Không ai làm cho chúng ta thanh tịnh, không ai làm cho chúng ta ô uế, chính chúng ta làm cho chúng ta thanh tịnh và cũng chính chúng ta làm cho chúng ta ô uế”. Cho nên việc cúng sao giải hạn hoàn toàn không phù hợp giáo lý truyền thống của đạo Phật.

Trong kinh Di giáo của nhà Phật, trước khi Đức Phật nhập niết bàn, Ngài cũng dạy người đệ tử Phật nên tránh không được xem tướng lành dữ, nhìn sao trên trời để suy lường vận mệnh nên hư. Những việc xem ngày giờ tốt xấu đều chẳng nên làm...Thực tế hiện giờ đang xảy ra điều gì vậy?

 dang sao giai han, ai do noi han ma si sup khan vai? hinh anh 1

Biển người ngồi sì sụp khấn vái trong ngày lễ giải hạn đầu năm ở Hà Nội

Năm nào cũng như năm nào, cứ đến ngày 8 tháng giêng ở nhiều chùa, hàng ngàn người đứng tràn từ trong sân chùa ra tới đường phố, tràn lên cả cầu vượt, dâng sao giải hạn. Nếu văn hoá đạo Phật không có việc giải hạn cúng sao thì sao nhà chùa lại duy trì và dẫn dụ người dân tới chùa, mỗi tờ đăng ký giải hạn kèm theo hàng trăm ngàn phí, để làm cái gì thế, để giải hạn cho chúng dân hay lợi dụng sự mê tín của dân chúng để tạo nguồn thu, có xứng đáng với Di giáo của nhà Phật không?

Ngành văn hoá Hà Nội, Hội Phật giáo Việt Nam không thể làm ngơ thêm nữa. Hình ảnh hàng ngàn người sì sụp khấn vái ở ngay trung tâm thủ đô trong mê muội và cuồng tín nó chỉ có thể làm xấu đi hình ảnh một Thủ đô văn hiến, một thủ đô đang phấn đấu hoà nhập thế giới văn minh.

Liệu có thánh thần nào đủ sức để cưu mang, giải hạn cho hàng ngàn con người này? Và sau đó, sau khi được giải hạn, trong số họ, chắc chắn có bọn thảo khấu, bọn quan tham, bọn côn đồ, liệu sẽ được an toàn và giấu mặt đến hết đời? Chỉ còn lại sự mụ mị tệ hại của mê tín dị đoan, của sự cuồng tín đến tệ nạn mà thôi.

Và nhiều nơi nữa đều như thế, ào ào người đi xin lộc, xin giải hạn, xin ấn cầu quan, cầu chức, cầu tiền, cầu danh lợi, nó phản ánh hình thái xã hội bế tắc, mất niềm tin, lười biếng, cậy nhờ thánh thần, mất lòng tin ngay cả bản thân mình là mất hết, không tin được vào mình thì còn tin gì trên đời này nữa, nó còn phản ánh thói a dua, làm bùng phát căn bệnh "đồng phục", ỷ lại, duy ý chí và cuồng tín.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

RA CHỢ..
Ra chợ Mơ một chiều buồn
Nắng chang chang phố
Đường tắc
Lố nhố
Ngựa và người
Người và ngựa muốn phân biệt rất khó!
Cụ Nguyễn có sống lại cũng bó tay chấm com
Chuyện nhà ai
Nhà nấy tỏ
Chưa có bao giờ người ta phớt lờ
Và quen hóng gió
Để sau đó lập tức quên
Chợ hàng Da bán nhiều hàng giả
Sao trí não nghèo nàn
Phô tô tư tưởng
Ăn cắp bản quyền
Chả cần nhìn,
Sờ.
Nghe,
cũng rõ..
Chợ hàng Bè thấp thoáng mặt mo
Những Ma phia mới nở
Chỉ thương mấy bà nội chợ
Chiều nay mua gì?
Mấy chú sinh viên thập thò kiếm việc
Liệu hy vọng gì chiều nay?
Bây giờ buôn bán gì đây?
Tình người như nhạt,
Mặn cay chút lòng..
Buôn người, bán bạn.. như không!
Chợ nào bán nắng?
Còn không..
chợ nào?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ vụn:


GIÃ BIỆT!
Thôi về
một nắng hai sương
Trắng dòng sông
trắng vấn vương,
xanh rừng
Đỏ em hây hẩy má hồng
Mưa rừng gió bể
chút lòng nhớ thương
Chợ đời bán đục,
mua trong
Nhẵn bao nhiêu mặt
chưa mong nổi mình
Thôi về
vui với nắng lành,
chợ chim,
chợ cá,
chợ tình lao xao..
Ta đi đâu? ta đợi đâu
nơi kia dành đám lao nhao tụ về!
Đừng bận rộn
đừng nhiêu khê
Lẽ ra
đã tỉnh đã về
từ lâu!
phận lươn dụng chốn ao sâu
Thân chim đừng ngại non cao lắm ghềnh
Như quên đi một cuộc tình..
Với Hồ ly
dại chút mình đa mang!
CHỢT HIỂU
Có cách gì để chim im tiếng hót?
đem nhà thơ ngâm trong rượu say mềm?
Để người thẳng ngay biết câu nịnh nọt?
để trắng hóa đen..
để ngày biến thành đêm?
Ném đá cho chim bay đi?
hay là giăng bẫy?
Dẫu có là nhà thơ, bếp vẫn cần đỏ lửa ba lần
hết gạo chạy rông..
ở đấy mà bàn thi phú!
Hay khích cho chàng điên lên mà hóa khùng!
Hôm nay đọc một tên, khiến ta chán nản
hình như ở đây có chuyện lộn sòng?
không phải góp ý, phê bình
chính là khiêu khích
Rất vô luân và rất tục tằn..
Hóa ra muốn triệt hạ một ai đó có rất nhiều cách
kể cả bỉ ổi, tầm thường..
Có thể người ấy không thèm chấp..
Nhưng mà ta thấy nhói trong lòng!
Chợt con chó nhà tru lên sủa
Ta hiểu ra
chuyện cũng thường..
Đã là chó cần chi tốt xấu?
nó chỉ cần nhớ hàng ngày ai là người cho ăn?

Phần nhận xét hiển thị trên trang