Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Quá khiếp hung thần


Đọc cái tin trên báo điện tử Một Thế Giới về vụ xe ben (xe tải tự đổ) cán chết người đang dừng khi đèn đỏ tại giao lộ, thấy rùng mình.

Kẻ vi phạm luật lệ giao thông mà bị tai nạn, chả mấy ai thương, nhưng người nghiêm túc chấp hành luật lệ giao thông, vẫn chết. Điều đó đáng lo vô cùng. Cái xấu cái ác ngang nhiên đàn áp sự tử tế, nghiêm túc, đàng hoàng.

Đi lại trên đường, tôi nhận thấy những tài xế xe ben quả không ngoa với "danh hiệu" mà người đời phong cho nó: Hung thần xe ben.

Khu vực tôi ở có nhiều dự án đang được xây dựng nên "đụng" xe ben hằng ngày. Tôi không dám nói xấu giới tài xế bởi phần đông dân lái xe là người nghiêm túc, tôn trọng luật pháp, có ý thức cộng đồng, nhưng với riêng đám tài xe ben thì tôi chả có cảm tình. Điều tôi nhận thấy phần lớn tài xế xe ben là thanh niên, thậm chí có những cậu trông rất trẻ con, ngồi trong cabin thường cởi trần, miệng phì phèo thuốc lá, cậu phụ lái còn gác cả cái chân lông lá lên hẳn phía trước, cả hai thỉnh thoảng lại nhổ toẹt nước miếng ra ngoài đường bất kể phía dưới có ai. Và ghê nhất là phóng bạt mạng, dù lên cầu, xuống dốc, lúc đường đông, nơi giao lộ, chỗ cổng chợ cổng trường. Coi trời bằng vung. Coi mạng người như cỏ rác. Đó là chưa nói "ben tặc" thường không chịu che chắn kỹ lưỡng thùng xe, đi đến đâu là rải đầy đất cát bùn dơ tới đó. Dường như giới lái xe ben cho mình cái quyền được xé quy định pháp luật, xé khế ước xã hội như vậy. Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta.

Đã quá nhiều vụ tai nạn giao thông tang thương do tài xế xe ben (và kế đến là tài xế xe container) gây ra. Đã đến lúc ngành giao thông và các cơ quan pháp luật cần để mắt đến đám anh hùng Vũ Đại này, chứ cứ để kéo dài mãi tình trạng trên, có ngày không chỉ người dân dừng chờ đèn đỏ mà cả các vị cũng bị dính với nó. Nó chẳng phân biệt quan hay dân, nó chả tha ai đâu.

(Viết mấy dòng này, tôi thành thực xin lỗi những tài xế xe ben đàng hoàng không nằm trong nhóm trên).

Nguyễn Thông

(bài tham khảo: http://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/xa-hoi-c-94/tphcm-cha-nghiem-tuc-cho-den-do-con-trai-3-tuoi-bi-xe-ben-tong-tu-vong-55967.html)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ừ đấy, bố mày thế đấy, thì sao?


Phạm Đoan Trang
clip_image001

Nhìn bức biếm họa này, chỉ thấy chạnh lòng cho họa sĩ Việt Nam
Ở Việt Nam mà vẽ một bức hệt như thế này về Nguyễn Phú Trọng với Tập Cận Bình, thì họa sĩ nhẹ nhàng nhất cũng “dính con 258”, tức là Điều 258 Bộ luật Hình sự mà câu chữ của nó đã hằn sâu vào đầu nhiều người: “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, công dân”.
Năm 2010, blogger Cô Gái Đồ Long “dính con 258” vì viết một entry tuy đúng sự thật nhưng bị coi là bôi nhọ gia đình một ông tướng công an.
Năm 2013, blogger Đinh Nhật Uy dính tiếp 258 vì lỡ “xúc phạm” hai tập đoàn kinh tế nhà nước Vietel và VNPT.
Năm 2014, blogger Ba Sàm dính tiếp 258 vì lập blog chính trị, cho dù là đúng sự thật, công bằng, đảm bảo đưa tin của cả hai lề đi chăng nữa. Nguyễn Thị Minh Thúy cũng bị bắt bỏ tù luôn vì làm trợ lý cho công ty của Ba Sàm.
Các cáo trạng của Viện Kiểm sát, phán quyết của Tòa án, về nội dung đều dựa vào kết luận điều tra của cái gọi là “cơ quan an ninh điều tra”, còn về văn phong, về cái phong cách quy chụp và mạ lị, thì bệ nguyên xi.
Hàng chục năm qua dưới thời cộng sản, biếm họa Việt Nam ngoi ngóp, khổ sở mãi không ngóc đầu lên được. Mỗi lần có một bức biếm đăng tải được lên báo, lên bìa Tuổi trẻ Cười, thì độc giả xuýt xoa xem họa sĩ như anh hùng. Mà biếm họa ở đây cũng chỉ là bóng gió thôi, hoặc cũng là chỉ trích chung chung, không cụ thể một ai. Nếu có “tấn công trực diện” thì nhất thiết chỉ được đánh quan chức cấp thấp hoặc là đánh khi hắn đã sa cơ, đã bị “trên” nhắc nhở, bị công an sờ gáy rồi.
Chẳng họa sĩ nào dám động tới các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, nhất là động tới “tứ trụ” thì xem như cả tòa báo tan nát.
Đến giờ thì hẳn là ngoài an ninh, tuyên giáo và bè lũ tay sai là các dư luận viên ra, chẳng người dân Việt Nam nào không thấy rõ sự khác biệt giữa dân chủ và độc tài thể hiện trong việc: Ở nước ngoài, người ta có thể châm biếm, chỉ trích nhà nước thoải mái, ở Việt Nam thì đi tù.
Điều kỳ lạ là bộ máy công an trị cũng biết thừa là dân đã biết điều ấy, nhưng chúng vẫn trơ mặt, hệt như thay lời muốn nói: Ừ đấy, bố mày thế đấy, thì sao? Mỹ nó thế đấy, người ta nói gì về lãnh đạo cũng được, còn ở đây, mày mà nói xấu quan chức thì bố bỏ tù mày đấy, thì sao?
Vô liêm sỉ đến thế là cùng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

9 công trình gắn liền với lịch sử gián điệp

9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep
Cầu Glienicke, Berlin, Đức: Cầu Glienicke ở vùng ngoại ô phía tây Berlin vẫn còn giữ vạch trắng ngang giữa, ranh giới giữa đông và tây Berlin thời Chiến tranh lạnh. Năm 1962, gián điệp người Nga, Rudolf Abel, và phi công lái máy bay do thám của Mỹ, Francis Gary Powers, được trao đổi ở đây. Cây cầu đã trở thành điểm trả một số gián điệp bị bắt trong thời kỳ này.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-2
Biệt thự Schöningen, Berlin, Đức: Nằm không xa cầu Glienicke, biệt thự Schöningen từng là nơi ở của một đại tướng Phổ, một giám đốc ngân hàng người Do Thái, trung tâm chăm sóc trẻ em Đông Đức. Hiện tại, nơi đây trưng bày các hiện vật về lịch sử của cây cầu, các sự kiện trong thời kỳ căng thẳng nhất của Chiến tranh lạnh.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-3
Khách sạn Athenee Palace, Bucharest, Romania: Khách sạn ở thủ đô của Romania nổi tiếng với vai trò là“hang ổ” gián điệp vào Thế chiến II và Chiến tranh lạnh. Được xây dựng vào năm 1914 và cải tạo vào năm 1937, Athenee Palace là nơi các gián điệp Anh và lực lượng Gestapo (cảnh sát ngầm của Đức Quốc xã) thường lui tới. Sau khi quốc hữu hóa vào năm 1948, chính phủ đã gài máy nghe lén vào mọi phòng, điện thoại, cho người đưa tin làm nhân viên. Năm 1994, Hilton đã mua lại Athenee Palace.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-4
Teufelsberg, Berlin, Đức: Ngọn đồi nhân tạo Teufelsberg được đắp từ gạch đá vụn của thành phố Berlin sau Thế chiến II. Nơi này có vị trí và độ cao lý tưởng để Mỹ bắt sóng radio của Nga ở Đông Đức và các vùng khác.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-5
Le Meurice, Paris, Pháp: Nhà hàng Pháp này là nơi Felix Bloch, cựu nhân viên của Bộ ngoại giao Mỹ, gặp Reino Gikman, một điệp viên KGB. Các nhân viên phản gián Pháp đã chụp ảnh Bloch tới nhà hàng với một vali đen và rời đi tay không, còn chiếc vali đã theo Gikman rời khỏi nhà hàng. Bloch khẳng định trong đó chỉ có một bộ sưu tập tem.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-6
Khách sạn The Park, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ: Istanbul được coi là “thủ đô gián điệp” của châu Âu vào Thế chiến II. The Park là địa điểm quen thuộc của các gián điệp khét tiếng như Elyeza Basna, gián điệp của Đức Quốc xã, hay điệp viên hai mang Kim Philby
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-7
Số 54 Broadway, London, Anh: MI6 (Tình báo quân đội-phòng 6) của Anh đã chuyển trụ sở về đây vào năm 1926, dưới chức danh “Công ty thiết bị chữa cháy Minimax”. Tuy nhiên, nhiều tài xế taxi London đã nhanh chóng nhận ra vai trò gián điệp của tòa nhà. Giữa những năm 1930, tình báo Đức đã cho một nhân viên giả làm người bán diêm mù đứng đối diện để giám sát hoạt động ra vào.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-8
Hộp đêm In and Out, London, Anh: Ngoài vai trò là địa điểm tuyển dụng cho MI5 và MI6, hộp đêm còn là nơi MI6 tạo dựng thành địa điểm xảy ra cái chết của một sĩ quan người Anh trong Thế chiến II. Xác của sĩ quan này được thả xuống ngoài khơi Tây Ban Nha. Điều này khiến Đức Quốc xã tin rằng cuộc đổ bộ Normandy sẽ diễn ra ở nơi khác.
9 cong trinh gan lien voi lich su gian diep-Hinh-9
Tòa nhà Leconfield, London, Anh: Đây là trụ sở của MI5 vào đầu năm 1945. Ban đầu, tòa nhà có các cửa sổ đặc biệt để đỡ súng máy, phòng trường hợp quân Đức tới được London. Bên trong, quán bar Pig and Eye từng đón tiếp nhiều gián điệp nổi tiếng như Peter Wright, tác giả cuốn Spycatcher.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thầy bói mù xem voi


Có một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng bậc nhất, không chỉ xuất hiện trong kinh sách mà còn trong kho tàng văn học dân gian nhiều nước, như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam...

Câu chuyện đến Mỹ với lối kể bằng thơ của thi sĩ - triết gia nổi tiếng John Godfrey Saxe (1816-1887), với tên gọi “The Blind Men and the Elephant” (Những anh mù và con voi), hoặc “Six Men of Indostan” (Sáu anh chàng ở xứ Indostan).

Dị bản tiếng Việt của câu chuyện trên trong kho tàng truyện dân gian là “Thầy bói mù xem voi".
Câu chuyện cho thấy trong cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn có vấn đề về nhận thức bắt nguồn từ sự cố chấp. Do vậy chúng ta dễ dàng tiếp xúc với thực tại theo kiểu những người mù sờ voi.

Khi tiếp xúc một người hay một vật, chúng ta thường bị giới hạn bởi kiến thức và kinh nghiệm của bản thân, nên những nhận định, đánh giá của chúng ta về người ấy, vật ấy cũng hết sức phiến diện.

Duy thức học gọi sự “ô nhiễm” trong nhận thức này là “đới chất cảnh” và cái chấp đó là “biến kế sở chấp”. Tất cả đều do cái tâm phân biệt của chúng ta mà ra, khiến chúng ta không tiếp xúc được với “tánh cảnh” - cái cảnh chân thật, cái “tổng thể”.

Do vậy, không nên vội vã khi nhận xét về một người, một vấn đề!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về chuyện “Cả nước say sưa – Từ trưa đến tối”!


>> Gia giáo và thân giáo
>> Chứng tích Hoàng Sa - Việt Nam
>> Cuối năm đi chợ mạng
>> Khi thở cũng phải trả giá



Bùi Hoàng Tám

























(Dân trí) - Theo thống kê của Bộ Y tế, tính đến chiều tối ngày 1/2 (mùng 5 tết Đinh Dậu), đã có gần 4.500 người vào viện (34 người tử vong) do đánh nhau, trong đó có trên 800 người đánh nhau có liên quan đến rượu bia. Cũng theo Bộ Y tế, trong 6 ngày tết đã có 1100 người ngộ độc rượu hoặc say rượu bia mức nặng.

Về mặt nhậu mà nói, có lẽ dân ta chả kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Sản lượng hàng tỉ lít bia, hàng trăm ngàn lít rượu mỗi năm đã nói lên điều đó. Nhậu mọi lúc, mọi nơi từ Móng Cái đến mũi Cà Mau với đủ mọi lý do ái, ố, hỉ, nộ. Vui uống, buồn uống, yêu uống mà ghét cũng… uống.

Các đệ tử Lưu Linh trên toàn thế giới về cơ bản là giống nhau mà người xưa đã đúc kết thành “thất ẩm tửu – 7 loại người khi uống rượu”. Đó là tiên tửu, thánh tửu, hiền tửu, phật tửu, nhân tửu, cuồng tửu, cẩu tửu.

Theo đó, “tiên tửu”, “thánh tửu”, “hiền tửu”, “phật tửu” là những người biết uống vừa phải, đến độ “biêng biêng” là dừng. Song, nếu có “quá chén” một chút thì họ hưng phấn hơn, sôi nổi hơn và các hành vi cử chỉ thường là càng đẹp hơn, nhân văn hơn và yêu thương con người hơn. Đây là giây phút họ có thể thăng hoa, nhất là với nhà thơ, nhạc sĩ hay họa sĩ… đẻ ra những ý tưởng đầy sáng tạo mà lúc bình thường, họ không có được.

“Nhân tửu” thì khi say, họ thể hiện đúng bản chất con người của họ. “Cuồng tửu” được hiểu là những người bê bết vì rượu. Họ chỉ biết “Rượu, rượu, rượu và quên quên hết – Thơ Vũ Hoàng Chương”. “Cẩu (chó) tửu” là loại người có rượu là mất tính người, hung hãn và cắn càn…

Ở Việt Nam, một nhà thơ cũng là một trong những “đệ tử ruột” của thần tửu Lưu Linh đã có một đúc kết rất chính xác: “Sài Gòn nhậu tối - Hà Nội nhậu trưa – Cả nước say sưa – Từ trưa đến tối”.

Ông nhà thơ còn cho biết, không ít người Sài Gòn không nắm được “tập tính” này của người Hà Nội và ngược lại, cũng không ít người Hà Nội không biết được thói quen này của người Sài Gòn và hậu quả là nhiều cuộc nhậu có nguy cơ… đổ vỡ.

Lý do là bởi miền Nam nắng nóng quanh năm nên nhậu vào buổi tối, khi khí trời dịu mát là thích hợp nhất. Ngược lại, miền Bắc mùa đông thường lạnh, nhất là các tháng cuối năm, cái rét cắt da cắt thịt khiến người ta không muốn bước ra khỏi nhà.

Nguyên nhân thứ hai có lẽ do người Sài Gòn làm ra làm mà nhậu ra nhậu. Cái lối nhậu “tới bến” này mà diễn ra vào buổi trưa là toi mất cả ngày và kéo đến hết đêm. Hà Nội thì khác. Dân Hà Nội phần nhiều là công chức, làm lằng nhằng mà nhậu cũng lằng nhằng nên không ít cuộc nhậu kéo dài từ trưa sang 3 – 4 giờ chiều để rồi đảo về cơ quan làm dăm ba việc, chấn chỉnh tư trang, dung mạo cắp cặp về nhà như vừa đi… cơ sở.

Nguyên nhân thứ ba có lẽ do đàn ông Hà Nội “tinh ranh” nên rất chú trọng bữa cơm gia đình buổi tối. Đi đâu thì đi, làm gì thì làm nhưng buổi tối là dứt khoát về nhà quây quần quanh mâm cơm kiểu thực hiện chính sách “hậu phương” với vợ.

Đàn ông Hà Nội nhậu đâu thì nhậu, say mấy thì say nhưng vẫn nhớ điện về cho vợ “phần cơm anh nhé” để rồi khi ngật ngưỡng bước qua khung cửa là xì xúp bát nước rau muống luộc, miệng rối rít khen nước rau vợ luộc sao… ngon thế. Có lẽ về khoản này, đàn ông Sài Gòn ít “kinh nghiệm” hơn và phụ nữ miền Nam cũng ít “sư tử Hà Đông” hơn chăng?

Một nguyên nhân nữa là người Hà Nội thường đã về nhà là không muốn đi đâu vì đường xá đông đúc, chật chội và bụi bặm. Cái ngõ nhỏ, hun hút lúc nào cũng đông người lách được cái xe ra ngoài là cả một sự kiện.

Có một đặc điểm người Hà Nội khác nữa người Sài Gòn thích mời khách đến nhậu ở nhà nhưng người Hà Nội thì ngược lại, chỉ thật thân thiết mới mời nhau đến nhà còn chủ yếu là kéo nhau ra hàng quán. Lý giải điều này có lẽ do người Hà Nội giàu thì kín đáo, không muốn phô trương, sợ người khác nhờ vả hay suy diễn mà nghèo thì muốn giấu đi bởi “xấu xa đậy điệm”. Giờ thì chả ai muốn khoe cái nghèo, cái khổ của mình còn đối với các vị có chức, có quyền thì việc đến nhà gần như là quá hiếm bởi tài sản là… bí mật.

Trở lại với chuyện “cả nước say sưa”, nhậu sẽ là văn hóa (văn hóa ẩm thực) nếu nó xảy ra trên nền tảng văn hóa và ngược lại, nó sẽ là vô văn hóa, thậm chí, sẽ thành “văn hóa cuồng”, “văn hóa cẩu” mà hậu quả là hàng trăm vụ đánh nhau chỉ trong mấy ngày tết như đã nói ở trên, phải không các bạn?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Tử Tế ( Đạo diễn Trần Văn Thủy)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Trong đống tro tàn” của Trần Văn Thủy


Tác giả: Phạm Phú Minh
.
KD: Bạn bè vừa gửi cho bài viết này, bài viết giới thiệu cuốn sách mới nhất của Đạo diễn Trần Văn Thủy. Ông là tác giả của những bộ phim nổi tiếng Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế, Mạn đàm với người Man di hiện đại…, của những cuốn sách viết không kém hấp dẫn Chuyện nghề của Thủy, Nếu đi hết biển…. Nay ông lại ra cuốn Trong đống tro tàn. Mà theo như ông từng nói, đó mới là cuốn gửi gắm nhất nỗi lòng ông, trong nghiệp cầm bút.
.
Xem kỹ bìa, cuốn sách không in trong nước, mà lại in ở nước ngoài. Vì sao nhỉ?
.
Nay xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ
.
Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes – Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.heo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.
Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu… Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.
 
Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế…
Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.
Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.
Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.
Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:
“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.
Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.
Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.
Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy – người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.
Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:
“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:
– Thầy bảo gì chúng con ạ?
Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn:
– Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ!
Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:
– Thầy bảo gì cơ ạ?
– Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!
Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: “Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ”! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.
Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.
Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.
Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.
Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:
“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim “Phản bội” nổi tiếng (1979 – 1980), đang”hăng tiết vịt”, tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 – 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: “Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội” thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những “Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy” ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn? ”
Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:
“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.”…
“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” (…) “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.
Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.
Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ…
Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:
“… on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”
“… về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.” – [Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]
Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.
Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao – xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.
Rất nhanh, thế giới đã bắt được các tín hiệu nhân bản mà Trần Văn Thủy đã gửi gắm trong phim Chuyện Tử Tế. Vào cuối những năm 80 có tới hơn 10 đài Truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền Chuyện Tử Tế, và đạo diễn Mỹ John Gianvito đã đề cử Chuyện Tử Tế là một trong mười bộ phim Tài liệu hay nhất thế giới của mọi thời đại. Những chuyện như thế chưa từng xảy ra với Điện ảnh Việt Nam.
Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.
Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm… hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.
Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…
Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:
Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!
Người tạm dừng bước chân vui! Người ơi!
Người mơ ước tới: đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.
Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Phần nhận xét hiển thị trên trang