Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Trúng rồi! Sướng quá!


... Ông đang căng óc, như nín thở chờ kết quả kiểm phiếu. Một giây bây giờ bằng một giờ, sốt ruột! Thế mà thằng thư ký hình như không biết điều ấy, chạy vào nói nhỏ với ông: " Chị điện, anh lại tắt máy, buộc chị điện cho em, ông nặng lắm, bỏ dây ra là ...". Ông tức mình : " Tao biết rồi, tuyệt đối mày không nói chuyện này cho ai biết...!" Bố ông đang hấp hối, biết vậy nhưng ông tắt điện thoại để đầu óc không phân tán ,chuyện nước sôi lửa bỏng như thế này, mọi chuyện phải bỏ ra ngoài hết.

Ảnh minh họa
Ông đang ngóng mọi tiếng động phía sau phòng kiểm phiếu kia! Ông lo chứ, tiền thúc chổ này, ấn chỗ kia, đủ cả! Ân huệ mưa móc, ông hứa ,không phải chỉ bằng tiền mà cả bằng :" Chú ủng hộ anh, anh sẽ bố trí con của chú ở chức này...". " Tìm cách gạt thằng đó ra, chú sẽ được anh bố trí cho chức này...". 

Không lẽ cắt máu để làm tin, nhưng lời hứa ông, ông cố thể hiện không phải hứa cuội. Mấy thằng"đệ" trung thành đều thề, bằng mọi giá, số phiếu của ông sẽ trúng cao nhất. Nói là như thế, nhưng cũng không thể tin được, biết đâu chỉ cần ông vắng mặt một giây thôi...kết quả sẽ khác. Ông phải ở đây !!! Thằng thư ký lại chạy vào nói nhỏ : " Anh ơi! Chị điện cho em...chân ông lạnh lắm rồi...". Nghe vậy, ông trừng mắt:" Mày nói với bà ấy là tao biết...tý nữa tao sẽ về...".


Nói xong ông lại hướng mắt vào trong. Sao kiểm phiếu lâu thế nhỉ ? Ông xem đồng hồ, quái lạ, chiếc đồng của ông là loại tốt mà sao kim giây lại chạy như rùa bò thế này? Thằng thư ký chạy ra, giờ chạy vào nhìn ông, định nói gì đó nhưng thấy ông chỉ tập trung, nó ngập ngừng...nửa muốn chạy ra, nửa muốn chạy vào...

Còn ông!

Khi bảng điện tử trước phòng kiểm phiếu bật lên, tên ông trúng với số phiếu gần như cao nhất. Tim ông như bật ra khỏi lồng ngực: " Phải thế chứ!".

Khi thấy thằng thư ký chạy vào, nó chưa kịp nói gì ông đã nói với nó, trong đầu vẫn lâng lâng: " Thôi, mày đừng nói nữa, tao về ngay... sướng quá!".

Trần Kỳ Trung
(Blog Trần Kỳ Trung)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trơ tráo chưa từng có: ‘Giá điện tăng, mọi người đều được lợi’


Một ngày trước lễ kỷ niệm ngày thành lập đảng cộng sản cầm quyền 3/2/2017, một quan chức cộm cán của Việt Nam là Thứ trưởng Công Thương Đỗ Thắng Hải lại tung ra một phát ngôn chưa từng có: ‘Giá điện tăng, mọi người đều được lợi!‘, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Công Thương.
Thứ trưởng Công Thương Đỗ Thắng Hải: 'Giá điện tăng, 
mọi người đều được lợi!'. Ảnh: Báo Lao Động
Vào lần này, ông Đỗ Thắng Hải viện dẫn lý lẽ rằng việc giá điện bán lẻ tiệm cận thị trường tạo nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khiến chi phí sản xuất giảm, nhà nước không phải bù lỗ và người dân cũng được hưởng lợi!

Lý lẽ đầu tiên của ông Đỗ Thắng Hải đã phản ngược thực tế. Trong thực tế, cho tới nay EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam – một doanh nghiệp bị nhiều dư luận xem là ”cậu ấm hư hỏng” được đỡ đầu bởi cơ quan chủ quản là Bộ Công thương) – vẫn nguyên vẹn thế độc quyền và tàn hại dân sinh bằng những chiến dịch tăng giá điện để bù lỗ vào núi lỗ đến 30 ngàn tỷ đồng do EVN đã đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm… trong thời gian trước.

Từ năm 2011 và đặc biệt vào những năm 2014-2015, trước làn sóng dư luận xã hội phản đối tăng giá điện và đòi hỏi phải bỏ thế độc quyền để tạo cạnh tranh bình đẳng về sản xuất và bán điện, giới lãnh đạo Bộ Công thương (thời đó là Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng) cùng EVN bắt đầu tính đến bài “đề nghị tạo thị trường điện cạnh tranh lành mạnh”, đồng thời tung ra công luận về một “đề án” được khởi thảo để tạo ra cơ chế cạnh tranh. Tuy nhiên từ đó đến nay vẫn không hề có một tiến triển nào từ phía “đề án” này. Thay vào đó, người dân luôn “lên ruột” trước những đợt tăng giá điện đột ngột và phi mã của EVN với cái gật đầu đồng lõa của Bộ Công thương.

Thậm chí vào những ngày cận tết nguyên đán năm 2017, trong lúc tầng lớp thu nhập trung bình và người nghèo Việt còn nặng gánh lo toan về một cái tết vừa tiện tặn vừa khốn khó hơn cả những năm trước, EVN lại một lần nữa ló vòi với đề nghị của Bộ Công thương: 3 tháng điều chỉnh giá điện một lần. Nếu mức điều chỉnh dưới 5%, EVN sẽ được quyết, từ 5-10% do Bộ Công Thương quyết, từ 10% trở lên do thủ tướng quyết định.

Hoàn toàn có thể hình dung rằng nếu đề nghị trên được chuẩn thuận (mà nhiều khả năng có thể được bộ trưởng mới của Bộ Công thương là Trần Tuấn Anh và thủ tướng mới của Việt Nam là Nguyễn Xuân Phúc dễ dàng “gật”), nhóm cá mập điện lực sẽ chẳng cần đến Bộ Công Thương hay chính phủ quyết định tăng giá điện, bởi chỉ cần EVN tự quyết định tăng giá 5% mỗi lần và 4 lần trong năm, giá điện cũng sẽ phi mã đến 20% vào năm 2017.

Cần nhắc lại, trước đây, EVN từng đề nghị tăng giá điện 20%/năm và thậm chí còn được một chủ nợ cho vay là Tỏ chức Ngân hàng thế giới tại Việt Nam tán thưởng đề xuất này.

Cũng cần nhắc lại, từ hàng chục năm qua, EVN đã nhập khẩu điện từ Trung Cộng với giá gấp ba lần giá điện sản xuất trong nước, bất chấp công suất sản xuất điện trong nước bị thừa thãi.

Được “bảo kê” bởi cơ quan chủ quản là Bộ Công thương với bộ trưởng trước Trần Tuấn Anh là Vũ Huy Hoàng, hồ sơ “tội ác” của EVN đã dày quá khổ. Không chỉ bởi họ quá nhiều lần tăng giá điện vô tội vạ, vét sạch túi tiền vốn đã cạn kiệt của người dân. Hành vi cực kỳ nhẫn tâm còn diễn ra vào mùa mưa bão cuối năm 2013: tập đoàn này hoàn toàn vô trách nhiệm khi để 15 nhà máy thủy điện đồng loạt xả lũ lên đầu người dân vùng rốn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Đắc Lắc… gây ra cái chết cho hơn 50 mạng người.

Còn vụ công ty cổ phần thủy điện Hố Hô đột ngột xả lũ mà đã gây ra cái chết thảm thương của hơn hàng chục dân nghèo ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh vào cuối năm 2016, cho tới nay đã hoàn toàn bị Bộ Công Thương và chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho “chìm xuồng”.

Lê Dung


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trong lại dòng xanh


Lần đầu tiên thực sự đi chùa đi đền thì đã 33 tuổi. Nghe như thể không phải người Việt, đúng không? Xin thưa, đã rất mê múa hầu đồng từ thời bé tí. Đã nghe bà nội ao ước một ngôi chùa một mái đình như quê gốc Cao Lãnh nhưng không thể, vì gia tộc đã dời đến tận cuối sông Hậu khỉ ho cò gáy ôm mộng nối dài miệt vườn. Đã thấy đêm đêm người bà thành kính sống áo tóc tai nghiêm trang bước ra bóng tối khấn nguyện thần phật mẹ độ mẹ sanh phù hộ độ trì cho bom thôi rơi đạn thôi nổ bá tánh an lành. Nhưng bà không chờ được đến hòa bình. Bà mất thì đã có má có cô lầm rầm khấn suông mỗi khi gặp chuyện. Chiến tranh kết thúc, dân chúng thở phào, ai cũng bận rộn, đinh ninh đời sống tâm linh sẽ được phục hồi. Nhưng cán bộ bọn mình thì phải nghiêm chỉnh vô thần, đi đình đi chùa, đi cúng đi bái… đều bị xem là phản lại lý tưởng cách mạng!
Hàng ngày đi làm ở thị xã tỉnh lẻ bé nhỏ hồi ấy, mình lướt qua đến mấy loại chùa. Một ngôi chùa của người Hoa viền trụ cổng bằng những mảnh sành sứ rất công phu giống kiểu viền của lăng vua Khải Định. Một ngôi chùa Khmer với lối kiến trúc độc đáo không lẫn vào đâu được. Và có đến hai ngôi chùa Việt thi thoảng ngày rằm ít vắng hơn, lui tới toàn những người không gần đất xa trời thì cũng là thường dân phố thị, một đô thị chưa kịp văn minh đã tan hoang vì các đợt cải tạo tư thương và làn sóng vượt biên “bỏ của chạy lấy người”.
Không dám bước vào những nơi được liệt vào cụm từ “tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng nhân dân”, may sao người cô đã kịp ấn vào đầu mình những điều răn của Phật. Cán bộ của guồng máy thì phải nằm lòng “Phát huy quyền làm chủ tập thể, ba dòng thác ba ngọn cờ, nhất định tiến lên vô sản toàn thế giới”, ai lại đi thấm nhuần Mười bốn điều răn của Phật. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung, quả vậy, riêng lời răn thứ 12 ấy thôi cũng đã khuyến khích mình tựa vào đó để hành động giữa ngổn ngang không có hòa giải hòa hợp.

Năm 1985 lần đầu ra Bắc. Đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nghèo khó ngự trị và cũng giăng mắc chùa đình khắp nơi để người dân thỏa ước trở lại với xác tín của tổ tiên ông bà. Nguyễn Quang Thân viết hẳn một danh sách phải đi: chùa Trấn Quốc, đền Trấn Vũ, phủ Tây Hồ, chùa Keo, chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Mía, chùa Tây Phương… Một thời khá dễ chịu, người vãn cảnh còn biết dọn mình hành lễ, các sư trì còn nhiều ánh từ bi, nhiều tượng cổ đẹp không nói nên lời và hòm công đức rất kín đáo. Anh đèo đi lăng quăng bằng xe đạp cốt tìm ra một ngôi chùa bất kỳ khuất nẻo “để em biết cửa Phật nguyên thủy thì như thế nào”. Chùa Rừng, còn nhớ đó là chùa Rừng dù chung quanh vẫn là đồng bằng Bắc bộ ruộng mật bờ xôi đất ít người đông. Chùa được lập cho cư dân của mấy xóm, chỉ có mỗi tượng Như lai, không có vị La hán nào. Ngày rằm các bà các chị đưa oẳn đưa bánh nếp nhà làm và những nải chuối trong vườn đến cúng, khẽ khàng chuyện vãn, mời nhau miếng trầu trong khi chờ tàn nén nhang. Vậy mà nhớ mãi, ngôi chùa đơn sơ, nhỏ nhắn thanh tịnh, từ lòng người. Anh hẹn lần sau, những danh thắng mà ai là người Việt đều phải một lần hành hương để chiêm bái, gột rửa. Chúng ta gột rửa gì, rằng đã lỡ tay một thời đập phá, rằng đã bất cần thần Phật quá lâu, rằng đã làm ô trọc thế hệ con và cháu của chính mình? Có kịp không, có còn kịp không?
Yên Tử những năm đầu thập niên 90 ấy còn thâm nghiêm đúng mực. Áng phải hàng ngàn bậc đá rêu phong. Khách hành hương cần chuẩn bị tâm thế xứng đáng với nơi này. Giày bệt, xăng-đan, ba lô nhỏ, một nắm cơm và ít nhất một chai nước. Nhập vào nhóm của các cụ bà địa phương để thấy mình thật là bé nhỏ. Các cụ chỉ gậy trúc, cơm mo, khăn chéo, răng ám trầu và chao ơi, chân trần nữa hở cụ? Vâng, chân trần cho chắc chân chứ các cháu! Các cụ làm cho các chàng nàng đô hội không khỏi tự vấn. Đua với các cụ nổi không? Rừng Trúc, Đường Tùng rồi khu xá lỵ của Điếu Ngự Giác Hoàng. Dường như mấy mươi năm chiến tranh ở đây không bị bom rơi đạn nổ. Sau đó ai cũng tịnh nghèo nên di tích vẫn trong. Chùa Hoa Yên ở độ cao trên năm trăm thước, muốn lên đỉnh phù vân còn một chặng gần như vậy nữa. Người khỏe bám đá leo lên, ấn giày vào những gờ rễ cây để kéo tay người yếu. Có thế chứ, có như vậy mới biết Vua hiền đã chủ ý lấy cốt cách mà trị quốc và làm gương. Hẳn Trần Nhân Tông phải giày cỏ tự đi chứ không để ai kiệu ông lên. Sau này nhà Hậu Lê mới đặt Chùa Đồng, vì vậy, đây chỉ là nơi để phật hoàng tịnh tọa với cao xanh, với non sông gấm vóc. Râm ran nghe mấy vị khách áng là quan chức đi cầu xin hay thực địa, rằng sẽ có cáp treo cho Yên Tử để du khách dễ lên Chùa Đồng. Nguyễn Quang Thân bầm gan tím ruột, đùng đùng thề sẽ không trở lại Yên Tử nữa nếu ở đây có cáp treo.
Ngay sau đó “Mình phải đi Chùa Hương sớm kẻo họ vẽ rắn thêm chân thì mang bực về nhà!” Đã “lên đời” bằng chiếc Ba-bét-nhè ( Babetta) để đèo nhau. Đã có chèo kéo khách ở bến thuyền nhưng còn dè dặt. Thuyền nhẹ nhàng Suối Yến, lòng thênh thang niềm tri ân sâu sắc với người xưa. Níu nhau từng bậc thang lên Hương Tích và ngủ lại một đêm trong khí núi thanh tao. “Ai rau sắng không?”, đúng là hơn bắt được vàng. Cậu thanh niên chủ cái sạp mưu sinh mấy thứ nước uống nấu rau sắng với mì gói, có lẽ đó là bữa ăn hay nhất trần gian của em và anh. Lại qua đêm trong chiếc mùng trần ai chung với chủ sạp nữa, nghe tình người, hoẵng tác, nai khịt, sóc nhảy và sương rơi lộp độp. Thảo nào rau sắng ngon đến nhớ đời!
Tầm lục lạo rộng dần, Hải Phòng, Ninh Bình, Huế, Đà Lạt, Côn Đảo và cả quay lại Yên Tử khi ở đó khánh thành Thiền viện. Nhận diện một sự thật bất an, rằng rõ ràng các danh thắng ở phía Bắc đã bắt đầu không khí kinh doanh, xộc xệch và người hành hương cũng bắt đầu bon chen, xô bồ, cầu khấn thưc dụng. Không quên được một dãy hòm công đức gắn biển vàng chữ đỏ như thùng phiếu bầu trước gian tam bảo ở một ngôi chùa khả kính. Ở sân Đền Gióng là những cây quý mới trồng la liệt tên họ chức vụ các vị quan cao chức trọng (dĩ nhiên ban quản lý di tích phải chuẩn bị sẵn cây cho các vị đặt xuống). Bày vẽ đến thế là cùng! Sao không lo dựng lại người dựng lại văn hóa mà đi dựng cây khắp nơi để quay phim chụp ảnh truyên truyền? Rồi không biết từ lúc nào, Chùa Hương có cả nạn bày bán thịt thú rừng! Và phát ấn đền Trần, cướp phết, cả chém lợn cũng thành lễ hội. Cơ sự đã đến mức này rồi ư, tín ngưỡng, văn hóa và cả đạo đức nói chung đã lộn tùng phèo đến mức này ư?
Một lần đưa người bạn Việt kiều và vợ của anh ấy, một cô Mỹ chính cống đi Đền Hùng. “Đi để vợ em nó biết dân tộc mình có tới bốn ngàn năm văn hiến chứ đâu chỉ có mấy trăm năm như họ!” – lời của người bạn ấy. Nhưng Đền Hùng thế kỷ 21 đã thành nơi bóng bẩy hoành tráng, những bậc xi măng mới cứng, nhiều mái đền giả cổ và nhiều hòm công đức quá. Lại đi sang di tích Cổ Loa, chao ơi, có một người dấn ra hỏi có muốn tự tay cầm dùi đánh trống thiêng không, đánh thì đưa tiền đây đã! Tiền không là bao nhưng quá thể, không khỏi xấu hổ với cô dâu người Mỹ và chúng tôi đành ngân nga với nhau mấy câu của Tản Đà “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Ở Côn Đảo, Côn Đảo gần gũi, Côn Đảo linh thiêng. Đêm ở Hàng Dương thật kỳ lạ, có lẽ không đâu trên thế giới này nhiều oan hồn xào xạc trên cây trên đất trên cỏ như ở đó, ban đêm. Thế nhưng đêm đêm ở Hàng Dương không còn vẻ tĩnh lặng uy nghi như trước nữa, chỉ vì quá nhiều người từ Hà Nội từ Sài Gòn bay ra để khấn cầu chị Sáu cho họ tiền tài và danh vọng. Họ bay ra, bằng phương tiện liên lạc hiện đại, một đội ngũ hậu cần ngoài đảo sắp sẵn cỗ cúng, họ đứng xếp hàng nhang chạm vào lưng nhau cấp rấp khấn khứa, hóa vàng, chia lộc, ngay hôm sau bay về!
Giờ thì rất nhiều quan tướng về hưu đi xây chùa, đi mở Thiền viện và xây đền xây đài. Không vì chuyện họ làm mà dân chúng trật tự, tịnh tâm, thành kính. Mùi tiền sặc sụa ở những nơi đáng ra phải dung dị, thanh tao và cả minh bạch. Chúng ta đã đi quá xa cái gốc của ông cha. Nhưng không gì mạnh hơn văn hóa và bản sắc, rồi dân chúng sẽ tự sàng lọc, sẽ lập lại màu trong cho dòng chảy tâm linh kết nối với tiền nhân. Lại nhớ điều răn thứ 9 của Phật Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng, anh và em, tôi và chúng ta xin đừng tuyệt vọng, mỗi người một chút hãy làm cho đất nước này trong lại, thơm lại và nhờ thế, mà bền vững, âu vàng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi Việt Nam ‘ngoạn mục’ lên thứ 3 trên bản đồ… uống bia

>> Tại sao người ta thích nịnh?

>> Người nổi tiếng hơn cả Donald Trump là ai?
>> Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
>> Ba làn sóng tự sát trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc


Trần Phi Tuấn/ theo TGTT
VNN - Năm 2008, thứ hạng Việt Nam trên bản đồ tiêu thụ bia châu Á xếp thứ 8. Vậy mà, năm 2016, Việt Nam đã leo lên xếp thứ 3 rất ngoạn mục, chỉ sau Nhật Bản siêu giàu và Trung Quốc siêu dân số.

Vậy là dịp tết Đinh Dậu, hơn 90 triệu người Việt uống hơn 320 triệu lít bia. Con số này nhiều hay ít? Chỉ biết, với chừng đó bia, tết này người Việt uống nhiều hơn tết năm ngoái 9%.

Tết là dịp bia rượu được tiêu thụ nhiều nhất. Tháng giêng – tháng ăn chơi –rượu bia sẽ được tiếp tục uống, cứ để vào môi sẽ trôi vào bụng theo các lễ hội và dịp tân niên. Một nền kinh tế bia, bất chấp sự khó khăn kinh tế, từ vĩ mô đến vi mô, đang phát triển, và phát triển mạnh mẽ.

Thống kê cho thấy cả năm 2016, người Việt uống hết 3,8 tỉ lít. Tính trung bình, mỗi người Việt uống hết 42 lít bia, tăng 4 lít so với năm trước đó. Năm 2017, dự báo mức sản xuất bia trong nước gần 4 tỉ lít, cộng thêm bia nhập ngoại, người Việt sẽ uống nhiều hơn nữa.

Nền kinh tế bia đang chứng kiến cảnh các nhà máy bia tràn ngập khắp cả nước. Nhưng bia – rượu không thể tự mình phát triển mà kéo theo các nhà hàng, cùng với mồi nhậu, đủ thứ thượng vàng hạ cám. Đáng nói hơn, hệ quả của bia – rượu cũng đã kích thích các ngành khác, từ y tế đến chăm sóc sức khoẻ, và dĩ nhiên, nhiều sự bi thảm khác không muốn nhắc tới…

Ngành bia đang phát triển, và phát triển rất mạnh. Năm 2008, thứ hạng Việt Nam trên bản đồ tiêu thụ bia châu Á xếp thứ 8. Vậy mà, năm 2016, Việt Nam đã leo lên xếp thứ 3 rất ngoạn mục, chỉ sau Nhật Bản siêu giàu và Trung Quốc siêu dân số. Ở Đông Nam Á, Việt Nam đã là số một từ năm trước đó. Ở cấp độ thế giới, Việt Nam lọt vào tốp 25 quốc gia uống rượu bia giỏi nhất.

Nhắc tới bia và thứ hạng để nói tới nhiều chuyện. Đầu tiên là đo mức độ giàu nghèo. Ông Dominic Scriven, chủ tịch Dragon Capital, quỹ đầu tư thành lập từ năm 1994 tại Việt Nam, đi xuyên qua các cơn sóng kinh tế buồn vui, ví von sự phát triển của xã hội qua bốn thức uống: đầu tiên là rượu đế, tức khi dân còn nghèo, sau đó là bia khi có chút tiền đủng đỉnh, sang hơn nữa thì xài whisky – rượu tây và giới có tiền thì uống vang – dĩ nhiên là vang ngoại nhập, chứ không phải Đà Lạt.

Vậy là, sự phát triển của kinh tế đi theo chiều bia rượu như vậy. Có thể nhìn thấy gì? Ở thị trường nông thôn, năm 2015, theo các nhà nghiên cứu thị trường, dân ở khu vực này, uống khoảng 2 tỉ lít bia trong tổng số 3,5 tỉ lít. Điều đó có nghĩa là một người dân nông thôn đã uống bia xấp xỉ dân thành thị, vì xét theo cơ cấu dân số, khoảng 68% người Việt vẫn sống ở nông thôn, 32% là ở thành thị. Điều đáng nói là, trong khi thị dân như ở Sài Gòn bước ra ngõ hẻm là gặp quán nhậu, thì người nông thôn lại mua về uống. Dân quê ùn ùn mua từng thùng, và thay vì nhấm nháp ly đế, họ chuyển qua uống bia, như một cách nâng cấp đời…

Năm 2016 con số đang tăng, và năm nay cũng vậy. Vui cũng uống, buồn cũng uống, không vui không buồn cũng uống, và bằng cách ấy, ngành bia cứ phát triển. Có một thời, lãi suất ngân hàng được khuyến mãi thêm bằng bia, nghĩa là người có tiền đem tiền đến ngân hàng gửi, ngoài việc nhận lãi suất, khi đó cao, vì lạm phát cao, còn được rinh thêm mấy thùng bia về nhà uống nữa.

Cuộc cạnh tranh trong nền kinh tế bia đang chứng kiến sự lớn mạnh của Sabeco, bất chấp những lùm xùm về nhân sự hay quản trị. Kết thúc năm 2016, Sabeco có doanh thu 30.642 tỉ đồng, lãi sau thuế 4.655 tỉ, vô địch từ trước đến nay… Cổ phiếu Sabeco trong đợt lên sàn mới đây được chào bán 110.000 đồng. Các nhà đầu tư tranh mua, và rồi trên thị trường, thị giá được đẩy lên gấp đôi, hơn gấp đôi, vì tiềm năng phát triển vô cùng mạnh mẽ.

Vậy mà, trước đó hai năm, ngân hàng BIDV chào bán nửa triệu cổ phiếu hãng bia này với giá 70.000 đồng, bằng giá lên sàn đầu tiên vào năm 2008, vậy mà để mấy tháng không ai đoái hoài tới. Thế là đành ôm, và hoá ra BIDV lại vớ bẫm.

Sau mức độ giàu nghèo, nền kinh tế bia đang làm rạng danh vị thế Việt Nam trên bản đồ thế giới về mức độ tiêu thụ. Thử đặt trong kinh tế bia trong bức tranh công nghệ sẽ thấy một sự tương phản: Bia đang lao như tên bắn về phía trước, trong khi trình độ công nghệ đang bị lôi tụt lại phía sau.

Nếu nhìn cuộc cách mạng công nghiệp đang bước vào giai đoạn 4, thì nền kinh tế Việt Nam, khổ thay, lại đang ở giai đoạn 2 – vừa là bia trong nền kinh tế bia, vừa là giai đoạn điện khí hoá trong cuộc cách mạng công nghiệp. Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, chương trình Fulbright, Việt Nam cũng chỉ mới giai đoạn 2. Nhắc lại để thấy, cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên là máy hơi nước thay thế sức người, cuộc cách mạng giai đoạn hai là điện khí hoá. Giai đoạn ba, vốn xảy ra từ rất lâu, là kỹ thuật số, với sự vào cuộc của máy tính, và giai đoạn 4 đang xảy ra là trí tuệ nhân tạo, tự động hoá, kỹ thuật số… Để chứng minh, ông Tự Anh dẫn số liệu nghiên cứu của Fulbright mười năm với hãng Intel, rằng trong giá trị hàng tỉ USD xuất khẩu của hãng này, phía Việt Nam chỉ đóng góp một phần rất ít. Phần ít ỏi đó, theo ông Tự Anh, là phần mà Intel không thể nhập khẩu được như cắt tỉa hoa lá cành, túi đựng quà… “Nếu nhập khẩu được, hẳn họ cũng làm luôn”…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đặng Tiểu Bình đã góp phần tạo ra một nước Trung Hoa tham nhũng như thế nào

Bùi Xuân Bách và Nguyệt Cầm dịch

Vài lời giới thiệu về tác giả

Bào Đồng (鮑彤), sinh năm 1932, nguyên Trung ương Ủy viên khóa XIII, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban cải cách thể chế kinh tế quốc gia, nguyên Thư ký chính trị kiêm Chánh văn phòng của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương.
Bị bắt ngày 28 tháng 5-1989, ngay trước vụ đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn, mãi đến 1992 mới được đưa ra xử và bị kết án 7 năm tù giam. Ông bị biệt giam tại Tần Thành giam ngục, nhà tù duy nhất thuộc quản lý của Bộ Công an, nơi giam giữ các yếu nhân, cho đến hết thời hạn, ngày 27 tháng 5-1996. Ông đã giúp vào việc xuất bản và viết lời giới thiệu cho cuốn Tù nhân của nhà nước – Nhật ký bí mật của Thủ tướng Triệu Tử Dương (bản gốc tiếng Hán có tên là Cải cách lịch trình – 改革歷程).
Người dịch
***
clip_image002
Christina Hagerfors
Trong cả tháng qua, tôi bị cấm trả lời phỏng vấn, và do đó tôi dành bài viết này kỷ niệm hai mươi sáu năm ngày trấn áp mồng 4 tháng Sáu năm 1989, khi chính quyền đè bẹp mọi bất đồng chính kiến trong các thành phố trên cả nước.
Một tin nổi bật trong những ngày này là chiến dịch chống tham nhũng của Đảng Cộng sản. Trong ba năm kể từ Đại hội Đảng XVIII, cái Đại hội đã dựng nên thế hệ lãnh đạo Trung Quốc hiện nay, Chính phủ đã kêu gọi các quan chức “đả hổ, diệt ruồi” – một ẩn dụ nhắm tới mọi loại tham nhũng, lớn và nhỏ.
Trong khi Chính phủ, từng thời kỳ, cũng có trấn áp việc ăn hối lộ, đút lót, nhưng chưa từng có chiến dịch chống tham nhũng nào lên tới mức độ này. Song điều đó không có nghĩa là không có tham nhũng.
Thực ra, trong suốt hai thập niên từ sau cuộc Tuần du Hoa Nam [“Nam tuần giảng thoại” – “南巡讲话”] năm 1992 nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình – khi đã bán chính thức về hưu, ông ta đi xuống Quảng Đông để đẩy mạnh việc giải phóng kinh tế một cách quyết liệt – các quan chức của Đảng Cộng sản ở mọi tầng bậc đều lặng lẽ làm giàu. Khoan dung với tham nhũng, quả thật, là một phần của những gì Đặng đã phóng tay.
Đặng, lãnh tụ tối cao từ 1978 cho đến khi chết năm 1997, ngày nay được tôn sùng như một anh hùng. Và, cũng giống như Mao Trạch Đông trước ông ta và Tập Cận Bình sau ông ta, Đặng đang được Đảng trưng ra như một nhà lý‎ luận chính trị. Tuy nhiên, chẳng hề có cái gì là Lý luận Đặng Tiểu Bình, cũng như không hề có cái Lý luận Tần Thủy Hoàng.
Giống như Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên đã xây dựng chế độ trung ương tập quyền của Trung Quốc, Đặng sử dụng vũ lực, chứ không phải lý luận. Ông ta sử dụng quyền lực mà Mao đã giành được cho Đảng Cộng sản, làm đòn bẩy đưa Trung Quốc đi theo con đường mới của ông ta “con đường Đặng Tiểu Bình” – tới vực thẳm tham nhũng.
Song có một điểm khác biệt. Chỉ còn có ít người ngày hôm nay ca tụng việc Tần Thủy Hoàng “phần thư khanh nho” [焚書坑儒 – đốt sách, chôn nhà nho], nhưng khói từ những nén nhang được đốt lên để ngợi ca “con đường Đặng Tiểu Bình”, tiếp tục bay tới tận thiên đình.
Tập trung chú ý vào việc tham nhũng tràn lan ở Trung Quốc ngày hôm nay mà quên đi vai trò của Đặng, thì cũng chả khác gì chuyện đổ tội cho “Bè lũ bốn tên” về việc phá hoại ầm ĩ thời Cách mạng Văn hóa (1966-1976) mà tảng lờ vai trò của Mao.
Hãy để một số người làm giàu trước đã
Câu nói nổi tiếng của Đặng là, để khai phóng kinh tế, Đảng cần phải “để cho một số người làm giàu trước”. Đó là một trong những chính sách sáng tạo nhất mà một lãnh tụ Đảng Cộng sản đã chủ trương, trong khi nó mâu thuẫn trực tiếp với mục đích thành lập Đảng.
Thời Đặng đi tuần du phương Nam đó, tôi còn trong tù, sau khi bị thanh trừng năm 1989 cùng với sếp của mình, nguyên Thủ tướng và Tổng Bí thư Đảng Triệu Tử Dương.
Thoạt tiên, khi tôi đọc những văn bản được công bố, tôi quả thật không hiểu, ông ta nhắm tới mục tiêu gì. Cái điều gây ấn tượng sâu sắc chính là giọng điệu cứng rắn của ông ta, được minh họa bằng ba dòng, và được trích dẫn khắp mọi nơi: “Nếu không thay đổi, chúng ta sẽ đi vào ngõ cụt! Ai không tán thành cải cách, hãy từ chức đi! Một số người sẽ làm giàu trước!”.
Mặc dù giọng điệu của Đặng cứng rắn, nhưng những nét đại cương và cả thực chất chính sách của ông ta thì lại không rõ ràng. Ai sẽ là những người đó, những người làm giàu trước?
Đặng có thể ám chỉ những người mà lẽ ra Đảng Cộng sản phải đại diện: “liên minh Công Nông”. Hoặc, có lẽ, những giai cấp mà chỉ gần đây mới được Đảng phục hồi: “địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, phần tử hữu khuynh”. Ông ta có thể, thậm chí, nói tới tầng lớp trí thức, với hiểu biết và những kỹ năng công nghệ của họ. Song câu trả lời đúng không nằm trong những câu trên. Những người làm giàu trước hóa ra là các đảng viên và gia đình, cùng các cộng sự gần gũi của họ.
Câu hỏi “ai sẽ phải làm giàu trước” chẳng phải là trừu tượng. Đặng chắc chắn hiểu rất rõ – như ngạn ngữ nói – rằng tòa nhà sát mép nước sẽ nhận được ánh trăng đầu tiên. Nói cách khác, có những nhóm người nhất định sẽ ở vào vị trí tốt nhất để tận dụng những cơ hội mới.
Trong cái xã hội hậu 1989, quyền lực của Đảng đã chặn đứng mọi bất đồng xã hội, cải cách chính trị bị bóp nghẹt và các tổ chức có thể có ảnh hưởng mạnh đều bị cấm đoán gây rối ren, viễn cảnh cho một người dân thường lao vào biển cả kinh doanh là không sáng sủa. Chưa nói tới chuyện giàu có, họ đã may mắn nếu không bị chết đuối. Thử nghĩ tới tầng lớp nông dân rộng lớn, những người bị pháp luật cấm di chuyển vào thành phố (do những yêu cầu về hộ khẩu, chúng giới hạn các gia đình chuyển địa điểm sinh sống từ tỉnh của họ, nếu không được phép), hoặc đội quân công nhân bị các doanh nghiệp nhà nước giãn thợ. Đó chính là kết quả cuộc cải cách kinh tế của Đặng.
Thành quả cuối cùng trong cuộc cách mạng của Đặng là ai có quyền lực lớn sẽ giàu to, ai có quyền lực nhỏ sẽ giàu ít, và những người không có quyền lực sẽ vẫn sống trong nghèo đói.
Kinh doanh ở Trung Quốc như thế nào
Trong cuộc tuần du phương Nam, Đặng đã đặt ra câu khẩu hiệu nổi tiếng nhất của ông ta: “Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột, đó là con mèo tốt”. Việc Đặng ủng hộ nền kinh tế thị trường đã dấy lên một làn sóng các hoạt động kinh doanh quét qua khắp nước Trung Hoa và xa cả ra ngoài biên giới của nó. Cái biển kinh doanh này của Trung Quốc là khác biệt bởi vì Đảng kiểm soát tất cả mọi chuyện. Để có hiệu lực, nó điều hành một số lớn những bãi cạn, mà những người đang bơi trên biển phải đi qua. Dưới bề mặt là những con sóng nguy hiểm.
clip_image004
Một poster tuyên truyền của Đảng Cộng sản ở Thâm Quyến với hình ảnh Đặng Tiểu Bình, tỉnh Quảng Đông, vẫn còn thu hút khách du lịch. CreditTyrone Siu/Reuters
Trong những biển dữ đó, nếu anh không trả giá cho quyền được kinh doanh, anh có thể sẽ phải đối mặt với sự can thiệp của các quan chức Đảng. Các doanh nghiệp nhà nước cũng gây khó khăn cho việc kinh doanh của anh. Các quan chức Trung Quốc quả là có tài năng thực sự trong việc gây khó dễ cho quần chúng.
Trong câu chuyện về sự lớn mạnh của Trung Quốc, những anh hùng không được ngợi ca chính là những “con mèo tốt” của Đặng.
Họ phải trả cho ai? Nói trừu tượng thì là cơ quan Đảng, và cụ thể là các quan chức Đảng – từ nguyên Ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính trị Châu Vĩnh Khang suốt cho tới các cán bộ huyện, xã.
Những dòng chảy ngầm của nền kinh tế thị trường, vốn đã bị chôn vùi trong nhiều thập kỷ, nay nó phun trào ra từng chút, từng chút một và làm ngập những con đê xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường giờ được hợp nhất với nhà nước-đảng trị, mà trong quá trình đó nó mất đi những đặc điểm của sự chọn lựa và cạnh tranh thực sự tự do. Thay vào đó, thị trường sẽ phải tuân thủ lợi ích của những cán bộ cao cấp trong Đảng. Từ những vốn mạo hiểm [venture capital] tới chứng khoán mới lên sàn, từ ký hợp đồng tới kiểm tra chất lượng sản phẩm, đó là cách mọi việc được sắp xếp. Không có ngoại lệ.
Quan chức trong Đảng là cơ thể của Đảng. Trật tự kinh tế mới đồng nghĩa với việc phải chi trả cho các dịch vụ của cơ thể này. Các doanh nhân chung tay với quan chức để thúc đẩy Tổng sản phẩm nội địa (G.D.P.). Đây không những là một giải pháp tốt cho những người làm kinh doanh, mà còn tạo cơ hội cho giới quan chức ghi dấu ấn về thành tích công tác. Trong nghĩa rộng hơn, nó thúc đẩy sự phát triển của nhà nước-đảng trị.
Cơ chế thị trường bị bóp méo này phá hủy sinh kế, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, tàn phá môi trường và đe dọa sẽ gây ra nhiều tai ương cho các thế hệ tương lai. Nhưng các ưu tiên chính trị buộc người ta phải quên đi những thiệt hại thứ phát đó.
Những ưu tiên này được thể hiện qua các khẩu hiệu như “phải nhìn tổng thể”, “chú ý đến toàn cục”, “tiểu đạo lý phục tùng đại đạo lý” (nghĩa là hy sinh các nguyên tắc nhỏ hơn cho các nguyên tắc lớn hơn) và “ngạnh đạo lý áp đảo nhuyễn đạo lý” (nghĩa là các ưu tiên chủ yếu sẽ áp đảo các ưu tiên thứ yếu). Thay vì thừa nhận là họ đang thực hiện điều mà các nhà kinh tế gọi là thu tô – bòn rút một phần của cải vào túi họ, thay vì làm ra của cải – các quan chức thích tưởng tượng là họ đang trung thành với đường lối của Đảng “làm những việc lớn.”
Ở Trung Quốc, nếu bạn muốn “làm những việc lớn,” bạn cần mua rất nhiều chỗ dựa. Bạn phải trả tiền cho quan chức ở chức vụ cao đến mức nào tùy thuộc vào việc bạn dự định sẽ gây dựng ảnh hưởng ở cấp làng, cấp huyện, tỉnh hay thậm chí cấp quốc gia. Các quan chức của Đảng, dù ở những cấp thấp nhất, cũng có thể quyết định cho phép ai thành công và thịnh vượng trong lãnh địa của họ.
Một khi lợi ích của họ được bảo đảm, một quan chức sẽ trở thành một cổ đông, người sẽ bật đèn xanh cho công việc của bạn. Chừng nào mà ông ta còn kiếm chác được, thì việc một dự án sẽ làm lợi hay gây hại cho công chúng chẳng nghĩa lý gì. Chủ đầu tư có thể yên tâm là quan chức đó sẽ chi phối những “năng lượng tích cực” để dẹp bỏ mọi trở ngại. Mô hình hợp tác kiểu này có thể chẳng làm gì để bảo vệ môi trường, thỏa mãn nhu cầu nội địa hay thúc đẩy tính liêm chính công, nhưng rõ ràng là nó giúp gia tăng Tổng sản phẩm nội địa (G.D.P.).
Đã hơn 65 năm kể từ khi Trung Quốc có được một nền dân chủ, bất kỳ hình thức nào. Tính chính danh của nhà nước-đảng trị ngày hôm nay phải dựa vào các con số thống kê về tăng trưởng kinh tế. Đối với các quan chức, không có bằng chứng thành tích nào rực rỡ hơn thế. Tham nhũng và phát triển nắm tay nhau cùng tiến.
Mao Trạch Đông quốc hữu hóa tài sản cá nhân. Đặng Tiểu Bình chuyển giao tài sản quốc gia, với cái giá rất hời, chủ yếu mang tính tượng trưng, vào tay giới tinh hoa của Đảng. Kết quả là hiện nay, “các thái tử” – hậu duệ của thế hệ cách mạng sáng lập Đảng, kiểm soát phần lớn của cải ở Trung Quốc.
Công chúng có nhận biết những sự việc này, nhưng phần lớn đảng viên các cấp chỉ giữ im lặng. Họ hiểu điều gì đang xảy ra, và biết rằng họ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc làm đúng theo chính sách ấy. Đây là mục đích của chuyến Tuần du Hoa Nam, để bảo đảm sự ổn định trong toàn đảng khi đường lối mới được thi hành.
Di sản của sự kiện 1989
Vào ngày mùng 4 tháng Sáu năm 1989, Đặng Tiểu Bình hạ lệnh cho Nhân dân Giải phóng quân sử dụng vũ lực đàn áp một số đông những sinh viên đấu tranh ôn hòa – tại Quảng trường Thiên An Môn và các thành phố khác trên khắp Trung Quốc – những người kêu gọi chấm dứt tham nhũng và đẩy mạnh tiến độ cải cách.
Chấn thương mùng 4 tháng Sáu là một cuộc biến động to lớn. Trong tình trạng không ai dám lên tiếng, thì tất cả mọi người đều mất quyền được nói, tất cả mọi người đều mất quyền được định hình cải cách, và tất cả mọi người đều bị xô đẩy theo dòng. Kết quả là mục đích cải cách của thập niên 1980 đã bị phá hủy đến tận gốc. Công cuộc tự do hóa kinh tế do Đảng lãnh đạo lẽ ra nhằm cởi trói cho cả giai cấp công nhân và chủ doanh nghiệp, giải phóng năng lượng cho họ, tạo điều kiện kinh doanh sinh lợi và chia sẻ lợi nhuận. Nhưng sau cuộc bể dâu 1989, lợi nhuận và tài nguyên đã được phân chia theo quyền lực.
Qua hành động của mình vào ngày mùng 4 tháng Sáu, Đặng Tiểu Bình đã vạch ra những đường ranh giới mới để định nghĩa kẻ địch. Đảng sẽ bảo vệ cho tham nhũng, và bất kỳ ai chống lại tham nhũng do Đảng đỡ đầu, sẽ trở thành kẻ tử thù của cả Đảng và quân đội.
Tiếp theo Đại hội Đảng lần thứ XVIII, phong trào “đả hổ diệt ruồi” như một chuỗi sấm sét nổ khắp Trung Quốc. Công cuộc thanh trừng tham nhũng có vẻ như là một sự kiện mở ra kỷ nguyên mới, nhưng có lẽ tác dụng to lớn nhất của nó là việc mở mắt cho người dân. Lá cờ đỏ của Trung Quốc, nhuộm đẫm máu bao liệt sĩ, đã trở thành nơi trú ẩn của kẻ ác và cách hành xử xấu xa. Hàng quân đoàn quan chức tham nhũng bị vạch mặt có thể chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, nhưng những bộc lộ này cũng đã đủ làm lu mờ tất cả các ví dụ về tham nhũng từng thấy ở Trung Quốc hay nước ngoài. Không có cách nào có thể tiếp tục che giấu sự tham nhũng toàn thể từ trên xuống dưới này, và không có cơ hội nào có thể xóa bỏ những thông tin về tham nhũng trong tâm trí người dân.
Việc Đảng chiến đấu chống tham nhũng được trình bày là để phục vụ lợi ích công chúng, nhưng nếu các công dân độc lập – thành viên của các tổ chức xã hội dân sự, cũng tham gia vào cuộc chiến ấy, thì việc đó lại trở thành phạm tội.
Cũng như thời 1989, các phong trào quần chúng chiến đấu chống tham nhũng bị đàn áp thẳng tay. Những người dân bị ngược đãi và ức hiếp ở Trung Quốc không được nhận bồi thường theo luật pháp, dù qua hệ thống tòa án hay khiếu tố với chính quyền trung ương. Quả thật, những người đã tố cáo tham nhũng thường bị đưa ra xét xử hoặc bỏ tù. Các giá trị phổ quát như minh bạch và trách nhiệm bị bôi nhọ là công cụ do những kẻ thù địch ở nước ngoài sử dụng để gây rối. Trong khi đó, quyền lực can thiệp vô hạn của đảng chỉ có tăng lên, vì nó đã chiếm dụng những khái niệm như pháp quyền, công nghệ và toàn cầu hóa.
Liệu nhà nước-đảng trị có thực tâm chống tham nhũng, thậm chí đến mức mạo hiểm cả sự tồn vong của Đảng? Như nhiều người từng nói, điều này thì chỉ có giới lãnh đạo chóp bu mới biết được.
Tôi muốn nói hai điều. Thứ nhất, chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục đi theo con đường mà Đặng Tiểu Bình đã vạch ra, nó sẽ không giải quyết triệt để được nạn tham nhũng. “Đả hổ diệt ruồi” không phải là phương thuốc cứu chữa từ gốc đến ngọn; thậm chí còn không giảm nhẹ được những triệu chứng nặng nhất. Hổ còn ngao du khắp chốn, và ruồi còn che kín mặt trời: có thể tấn công cả trăm, hoặc cả ngàn trong số chúng, nhưng điều đó sẽ không thay đổi được bản chất của con đường tham nhũng. Nhưng tôi vẫn lạc quan, vì nếu giới lãnh đạo Trung Quốc quyết tâm từ bỏ con đường Đặng Tiểu Bình, thì vẫn có hy vọng.
Thứ hai, lại đến mốc tưởng niệm sự kiện mùng 4 tháng Sáu. Nhiều người đang mong chờ các nhà lãnh đạo của đảng tự nguyện thừa nhận sự bất công và phạm pháp của việc giết chóc. Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, vì đến tận giờ, không có nhiều dấu hiệu cho thấy điều này sẽ xảy ra. Liệu một ngày nào đó điều ấy có thể xảy ra hay không trong tương lai, thì tôi chịu không nói được.
Nguồn: New York Times

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tạp chất ngay trong đầu


Có lẽ hết chịu nổi, vừa rồi đích thân Thủ tướng Chính phủ phải lên tiếng về tình trạng “rất vớ vẩn mà cũng cực kỳ nghiêm trọng”: bơm tạp chất vào tôm, chủ yếu là tôm xuất khẩu.

Cụ thể, tại hội nghị Phát triền ngành tôm Việt Nam bàn về sản xuất, chế biến tôm, do Chính phủ triệu tập ngày 6.2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất gay gắt và kiên quyết, yêu cầu các cấp bộ ngành, địa phương, cơ quan chức năng phải có biện pháp chấm dứt ngay hành vi bơm tạp chất vào con tôm. Nhiều tờ báo cũng khá phấn khích, rút tít đại loại Thủ tướng “tuyên chiến” với bơm tạp chất vào tôm…

Quá đúng, phải tuyên chiến, phải “đấu tranh này là trận cuối cùng” một mất một còn bởi hành vi đó rất đáng xấu hổ, làm nhục nền kinh tế của quốc gia, gây biết bao nhiêu tổn thất, vậy mà nó cứ kéo dài, tồn tại suốt bao lâu nay. Nó như thứ bệnh ghẻ lở hắc lào trên cơ thể, không gây chết người nhưng con người chả lúc nào được yên, luôn phải khổ sở, khó chịu vì nó. Nó tồn tại được cũng do một phần dưới góc độ nhìn nhận của số đông trong xã hội, rằng ôi dào, chuyện nhỏ, có đáng kể gì mà phải mất công.

Điều khá buồn ở chỗ, với những tình trạng dạng “vớ vẩn” như vậy rồi cuối cùng cũng phải đích thân Thủ tướng lên tiếng, chỉ đạo, yêu cầu. Cả một bộ máy quản lý nhà nước, cả một hệ thống cơ quan chức năng dày đặc từ trên xuống dưới, không biết bao năm nay làm cái gì, để rồi quả banh lại đá lên chân Thủ tướng. Cứ mọi việc, bất biết lớn nhỏ, bắt Thủ tướng phải ôm hết, bao hết, đứng ra giải quyết hết, vậy kết quả không nói ra, ai cũng hiểu. Thủ tướng không làm hết được, còn bộ máy cứ ì ra đó không chịu vận hành, nền kinh tế-xã hội làm sao đi lên.

Trở lại chuyện bơm tạp chất vào tôm. Nhiều năm trở lại đây, xuất khẩu thủy sản, trong đó có tôm, là lĩnh vực đem lại kim ngạch đáng kể cho Việt Nam. Con tôm, con cá từ Việt Nam bơi ra thị trường thế giới, tạo được sự thiện cảm nhất định về mặt hàng “made in Vietnam”. Nuôi tôm, chế biến tôm đã trở thành ngành sản xuất, chế biến quan trọng, ngày càng được đầu tư lớn và thúc đẩy phát triển. Nhiều vùng chuyên nuôi tôm như Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, một số tỉnh khu vực miền Trung… đã thay da đổi thịt, phát triển mạnh mẽ, một phần nhờ con tôm. Đưa con tôm trở thành nguồn lực thúc đẩy nền kinh tế của cả nước cũng như từng địa phương là hướng đi đúng đắn, thiết thực.

Để tạo được chỗ đứng vững chắc cho con tôm trên thị trường quốc tế, cả Chính phủ, các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp sản xuất và chế biến, người nuôi tôm phải đồng hành, nhất quán từng chủ trương, hành động. Xây được hình ảnh tốt đẹp đã khó, bảo vệ được nó về lâu về dài càng khó hơn. Cả nước chung tay tạo dựng, nhưng chỉ cần vài kẻ phá hoại là có thể phá hủy cả sự nghiệp. Người xưa nói, ngọn khói nhỏ có thể gây đám cháy, lỗ mối cỏn con có thể làm vỡ đê. Việc bơm tạp chất vào con tôm tưởng nhỏ, tưởng vặt mà lại hoàn toàn không nhỏ. Nó là thứ chất cường toan cực kỳ nguy hiểm, ăn mòn, phá nát lợi ích của cả cộng đồng. Những gian thương bơm tạp chất vào tôm để trục lợi bất chính thừa hiểu điều ấy nhưng chúng cứ làm. Đồng tiền bẩn thỉu đã làm chúng tối mắt. Tạp chất thực ra không phải chỉ ở trong con tôm mà tạp chất chứa đầy trong đầu chúng. Chính vì vậy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói rõ: Làm gì cũng phải nghĩ sâu xa, vì cái chung, không được có tư tưởng tham bát bỏ mâm. Chính phủ từ nay tuyên chiến với các hành vi bơm tạp chất vào tôm cũng như các vi phạm làm ảnh hưởng đến uy tín của tôm Việt Nam ở mọi khâu.

Muốn chấm dứt con tôm có tạp chất, điều tiên quyết là phải triệt bỏ những kẻ có tạp chất trong đầu, làm ăn gian dối, vô đạo đức. Mà không phải chỉ với trường hợp con tôm. Người ta vẫn hằng ngày bắt gặp đâu đó những kẻ, khi công khai, lúc dấm dúi, bơm nước vào heo, vào trâu bò, nhét bã đậu căng diều con gà con vịt… chỉ cốt lừa đảo, tăng trọng lượng hàng hóa, kiếm tiền bất chính. Hành vi bất lương, vô đạo ấy, cũng như cắm đinh vào đầu tôm, bơm rau câu vào tôm, phải bị cả xã hội lên án, phải được chấm dứt. Những kẻ nào cố tình vi phạm, pháp luật cần quất roi thật mạnh, xử lý nghiêm khắc, thích đáng để những kẻ khác muốn kiếm tiền kiểu ấy phải chờn.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÍ THỨC TRUNG QUỐC THẾ KỶ XX

Dưới tên gọi Mô hình Trung Quốc thành công như thế sao không ai bắt chước?! bài viết của hai tác giả Châu Hữu Quang và Mã Quốc Xuyên từ nguồn Trung Quốc vừa được trang mạng Tạp chí Văn hóa Nghệ An  dịch và đưa lại ngày 26-1- 2017
Đầu đề bài viết cho thấy nhiệt tình của tác giả hướng về sự phát triển của Trung Quốc hiện nay.
Nhưng theo tôi, cuộc phỏng vấn này đã gợi ra bức tranh toàn cảnh về trí thức Trung Quốc thế kỷ XX và cả trí thức Trung Quốc sau 1976  mà chúng ta ít biết, nên đã làm việc tóm lược cho bản thân và giới thiệu sau đây.
Tôi ghi lại đường link của bài viết để bạn nào muốn đọc trực tiếp có thể tiếp cận dễ dàng.

https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/mo-hinh-trung-quoc-thanh-cong-nhu-the-sao-khong-ai-bat-chuoc

Về phần mình khi lược trích lại bài viết, tôi tự cho phép tước bỏ các ý mà tôi cho là không quan trọng và có đảo lại trình tự một đoạn vấn đáp trong phần cuối, sau đó có thêm phần bình luận ngắn. Các tiểu đề in chữ đậm là của người tóm lược.

1/ Vai trò trí thức Trung quốc trong lịch sử. Lý do trí thức theo Mao
Hỏi: Cụ sinh năm 1906, từng trải qua Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào này có ảnh hưởng rất lớn tới giới trí thức, và đã có ảnh hưởng gì tới cụ?
Đáp: Không phải là Phong trào Ngũ Tứ ảnh hưởng tới giới trí thức mà giới trí thức đã ảnh hưởng tới Phong trào này. Giới trí thức có đóng góp lớn nhất vào Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào đó không bỗng dưng xuất hiện mà hình thành từng bước. Bắt đầu từ cuộc Chiến tranh Thuốc phiện trở đi, hết cuộc xâm lược này đến cuộc xâm lược khác nhằm vào TQ, gây ra sự phẫn nộ của nhân dân, thức tỉnh ý thức cứu nước. Về kinh tế, có phong trào Dương Vụ, gây mầm mống cho nền công nghiệp trong thời gian Thế chiến lần thứ nhất. Về chính trị, có cuộc Duy Tân 100 ngày của Khang Hữu Vi, cuộc Cách mạng Tân Hợi của Tôn Trung Sơn, lật đổ đế chế, thành lập Dân Quốc.

Hỏi: Trước và sau Phong trào Ngũ Tứ, trào lưu tư tưởng cấp tiến truyền vào TQ, nhất là những năm 30-40, nhiều nhà trí thức ngả về phía tả. Cụ cho rằng đâu là nguyên nhân của sự chuyển hướng đó, có những bài học lịch sử nào đáng đượctổng kết ?
Đáp: Mọi người đều phản đối sự chuyên chế của Quốc Dân Đảng. Đảng Cộng sản TQ thì truyên truyền đòi dân chủ. Thế là giới trí thức chuyển hướng về phía tả.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, Chu Ân Lai thường nói Đảng CS chúng tôi chủ trương dân chủ, Mao Trạch Đông nói rõ ĐCS phải đi con đường dân chủ. Hồi ấy mọi người tưởng thật.

Bình luận
Lịch sử Trung Quốc hiên nay chỉ được giảng dạy rất sơ sài ở Việt Nam. Ở các bài giảng mà một người đã học qua Đại học sư phạm văn như tôi được học,-- rồi sau này vào đời, dù có đọc thêm ít nhiều song chỉ là cái mạch ấy nối dài và coi là chính thống -- thì cái phần Trung quốc tiếp thu văn hóa phương Tây rất ít được nói tới, lịch sử Trung quốc thế kỷ XX, rút lại chỉ là lịch sử chuyển đổi từ nhà Mãn Thanh qua Dân quốc rồi đến thời Cộng hòa nhân dân, bao nhiêu biến chuyển dẫn đến ngày hôm nay đều là do công nông tạo nên. Lịch sử tư tưởng cũng vậy, sự phát triển của tư tưởng Mác Lê được coi là trung tâm lấn lướt tất cả bao trùm tất cả. Còn người trí thức bị đẩy vào bóng tối, gần như không có vai trò gì trong lịch sử.
Trong câu trả lời trên, với tư cách người trí thức có dịp sống qua các sự kiện trên, Châu Hữu Quang đã nói rõ, công cuộc hiện đại hóa ở Trung quốc có sự tham gia chủ động của các phần tử trí thức.
Lịch sử TQ thế kỷ XX vận động theo cái quy luật chung tức là các dân tộc phương Đông chuyển mình sang thế giới hiện đại, mà một trong những xu thế chủ yếu là dân chủ hóa.
Đảng của Mao sở dĩ thành công cũng là vì nắm lấy ngọn cờ dân chủ đó. Sau khi nhắc lại mấy chi tiết liên quan đến chuyện này -- nào Chu Ân Lai mở tọa đàm về dân chủ, Mao Trạch Đông nói rõ ĐCS phải đi con đường dân chủ -- tác giả chỉ có một câu bỏ nhỏ. “Hồi ấy mọi người tưởng thật”, song đủ cho thấy Đảng đã lừa dối người trí thức như thế nào. Sự lừa dối này đánh vào tâm lý khao khát dân chủ của người trí thức.

2/  Mao đã tiêu diệt trí thức
Hỏi: Sau ngày lập quốc, Mao Trạch Đông đề xuất phải cải tạo các nhà trí thức cũ ?
Đáp: Hồi ấy Mao Trạch Đông «ngả về phía» [nguyên văn Nhất biên đảo] Liên Xô, nơi giới trí thức bị phủ nhận, Trung Quốc cũng phủ nhận giới trí thức. Danh nghĩa là cải tạo, thực tế là tiêu diệt.

Hỏi:Vì sao sau năm 1949 giới trí thức gặp nhiều nỗi gian truân như vậy ? Là một nhà trí thức đi ra từ thời đại đó, cụ đánh giá ra sao về đoạn lịch sử ấy ?
Đáp: Gần đây các học giả trong ĐCSTQ nói nỗi gian truân của giới trí thức Trung Quốc là do nước Nga đưa đến. Các học giả lịch sử cho rằng Liên Xô là vùng sai lầm lịch sử của nước Nga ; “Nhất biên đảo (ngả về một bên)” là sai lầm lịch sử của TQ [ngả về Liên Xô]. Muốn tiến bộ thì trước tiên phải rút ra khỏi vùng sai lầm.

Bình luận
Trong phạm vi một bài phỏng vấn công khai, cả người phỏng vấn lẫn người được phỏng vấn đều phải dùng hình thức lấp lửng. Trong thực tế, sau khi đã lợi dụng sự ủng hộ của trí thức giành chính quyền tới khi có quốc gia trong tay, Mao có chính sách khác hẳn. Mọi đóng góp của trí thức bị lờ đi. Người trí thức nào công khai tỏ ý trung thành với Mao mới được ghi công, còn người nào giữ nguyên tư tưởng của mình đành chìm trong bóng tối. Người ta cũng không có chỗ để phát biểu chính kiến.
Người phỏng vấn chỉ dùng khái niệm cải tạo, người được phỏng vấn đẩy đi xa hơn, gọi thẳng là tiêu diệt, Đảng tiêu diệt trí thức. Nhưng cái ý này được đặt lẫn vào đoạn văn và đổ cho lý do là tại ảnh hưởng của Liên xô, rồi sau đó sẽ đặt vấn đề phải thoát khỏi ảnh hưởng đó thì mới tiến bộ được. Kín đáo nhưng ai đọc cũng hiểu.

3/ Trung Quốc đang ở giai đoạn nào của lịch sử?
Hỏi:Gần đây có sự đánh giá tương đối cao về những năm 80 thế kỷ XX, có người nói đây là «Cuộc khai sáng lần thứ hai» sau Phong trào Ngũ Tứ. Cụ đánh giá như thế nào về «Thập niên 80» ?
Đáp:Cải cách mở cửa thì tốt hơn thời đại Mao Trạch Đông. Nhưng kinh tế đã được cải cách mà chính trị thì chưa cải cách. Các học giả nước ngoài nghiên cứu vấn đề này nói : Cơ cấu xã hội TQ đã đạt được tới tình trạng thời Duy tân Minh Trị, nửa phong kiến, nửa tư bản. TQ muốn đuổi kịp Nhật còn phải đi một chặng đường rất dài nữa.

Bình luận
Đoạn này có lẽ không phải diễn giải gì thêm. Nó đã đặt sự phát triển của Trung Quốc trong tiến trình lịch sử và “gọi sự vật bằng tên của nó”. Luôn tiện tác giả cũng cũng vô hiệu hóa khái niệm “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” đang lưu hành.

4/ Hiện trạng của giới trí thức Trung Quốc
Hỏi:Giới trí thức Trung Quốc những năm gần đây có hình ảnh tổng thể không tốt đẹp. Thậm chí có người phê bình các nhà trí thức hiện nay, nhất là trí thức ở các trường đại học và cơ quan nghiên cứu, rằng họ đã bị quyền lực và lợi ích “mua chuộc rồi”. Cụ có đồng ý với nhận xét ấy không?
Đáp:Theo tôi họ chưa bị mua chuộc. Ít nhất là phần lớn họ chưa bị mua chuộc. Họ không dám nói thật lòng, không phải là họ thích nói dối, mà là họ « dám nổi giận mà không dám nói». Nếu có một ngày người nói không có tội thì họ sẽ thổ lộ những lời nói thật lòng.
Hỏi: Trong những lời phê bình, người trí thức trong các cơ quan giáo dục bị phê bình nhiều hơn cả. Theo cụ, ngành giáo dục Trung Quốc có những vấn đề tồn tại nào?
Đáp: Cải cách mở cửa đã đưa khoa học tự nhiên vào Trung Quốc nhưng chưa đưa khoa học xã hội vào, trừ kinh tế học là một ngoại lệ. Nếu mở cửa tiếp, đưa khoa học xã hội vào, kể cả giáo dục học, thì tình hình sẽ thay đổi.

Bình luận
Muốn hiểu được tình hình trí thức Trung Quốc thời nay, trước tiên phải trở lại với sự phát triển của giới này nói chung nhất là trong lịch sử hiện đại.
Do chữ Trung Quốc không thể học vẹt như chữ quốc ngữ ở ta, nên những người có trình độ đại học bao giờ cũng phải là do thực chất chứ không thể à uôm như người tốt nghiệp Đại học Việt Nam.
Trung Quốc vốn có truyền thống giao lưu tiếp xúc với nước ngoài từ lâu, việc dạy ngoại ngữ làm rất tốt từ các bậc học, khi đã được liệt vào hạng trí thức thì đồng thời, ở mức nào đó, người ta cũng đã đạt tới trình độ quốc tế.
Còn ngày nay?
Chúng tôi không đọc được tài liệu nào chi tiết về tình trạng trí thức Trung Quốc sau 1949, chỉ biết rằng bộ phận này, trong hoàn cảnh không thuận lợi, bị uốn nắn, bị cải tạo, bị mua chuộc, song do truyền thống cũ có vẻ như họ vẫn đứng vững vẫn phát triển ổn định và có tính độc lập cao .
Anh Phương Lựu (Bùi Văn Ba) là một sinh viên Việt Nam được cử đi học Trung quốc sau cuộc kháng chiến chống Pháp, có lần kể với tôi rằng ở các trường đại học Trung Quốc, việc giữ một sinh viên giỏi ở lại trường không do đảng ủy hoặc chi bộ bàn bạc quyết định mà quyền này trong tay các giáo sư. Suy ra tính chuyên môn ở Đại học được đề cao và tính chuyên môn này đã đánh bật yêu cầu về hồng thực chất là yêu cầu phục vụ chính trị trực tiếp. Chuyên môn theo đúng nghĩa của nó đảm bảo cho trí thức vẫn là chính họ .
Trên thế giới này đâu đâu người ta cũng nói tới trí thức như những người hướng dẫn nhân dân. Trí thức cổ Trung Quốc khi ra làm quan cũng tâm niệm vậy và điều đó còn đến ngày nay.
Một nhà văn đồng tời là nhà nghiên cứu nổi tiếng là Phùng Ký Tái – tác giả Gót sen ba tấc đã dịch ra tiếng Việt - có lần nói rằng trí thức có ý thức về tính cách ưu tú dạy bảo nhà cầm quyền và hướng dẫn nhân dân.
Sự kiện Thiên An Môn là do sinh viên khởi xướng mà lực lượng đàn áp “cuộc khởi nghĩa“ chính đáng này là do những người lính của Quân đoàn 27 thực hiện, quân đoàn này gồm toàn những người mù chữ.
Ở mức cao hơn, tính tự trị của các trường Đại học cũng là điều có thể khẳng định và có thể kéo dài tới ngày nay. Tự trị là giới đại học như một thực thể độc lập - một không gian chừng nào đó tách khỏi không gian xã hội - có quyền tìm tòi thể nghiệm những tư tưởng mới, những suy nghĩ mới.
Thỉnh thoảng báo chí phương Tây có rò rỉ ra một vài tin về các đại học Trung quốc. Có nhiều cuốn sách kể cả sách khoa học xã hội có tính tìm tòi thể nghiệm – mà cũng là phủ nhận tư tưởng bảo thủ chính thống – được in trong nhà trường nhưng không được phát hành ra ngoài. Có vẻ như có nhiều nhân vật trong giới trí thức bị xã hội từ chối nhưng vẫn sống được ở các cơ sở Đại học. Trước khi lưu vong, Lưu Hiểu Ba đã sống như thế. Đằng sau Lưu Hiểu Ba đã xuất đầu lộ diện, hiện ở các trung tâm lớn như Bắc Kinh Thượng Hải loạt trí thức khác chưa có dịp bộc lộ. Họ không lên tiếng cãi cọ lèm bèm. Họ chuyển nhiệt tình chuyên môn của họ vào công tác nghiên cứu. Đọc cuốn Trung quốc văn hóa sử  được coi là công trình nghiên cứu xuất sắc của giới đại học Trung quốc, tôi thấy những luận điểm mà người ta dựa vào chủ yếu là văn hóa học và xã hội học Mỹ, chứ không phải các tài liệu Mác Lê dù là trong nước hay xuất xứ từ Nga – điều này tôi đã nói tới trong một bài viết về nghiên cứu văn hóa
(http://vuongtrinhan.blogspot.com/2016/03/nghien-cuu-van-hoa-co-rong-thi-moi-co.html ).
Khoa học xã hội Trung Quốc sau 1976 đã khác đi rất xa so với chính nó trước 1976, có nhiều điểm là hoàn toàn ngược lại. Ở khía cạnh chuyên môn này, tôi hiểu tiềm năng của trí thức Trung Quốc rất lớn, nên thấy tin ở các nhận định nói trên của Châu Hữu Quang.

5/ Trí thức phục vụ xã hội thế nào? Nên hiểu sao lòng yêu nước của trí thức?
Hỏi Người trí thức nên quan tâm những vấn đề gì ? Nên có tinh thần như thế nào?
Đáp: Phải có thể suy nghĩ độc lập, phải hiểu lịch sử và sự tiến triển của toàn cầu hóa. Độc lập hành động, tự do tự tại, tự hiểu biết, tạo dựng nhân cách độc lập của mình.
Hỏi: : Người trí thức nên giữ mối quan hệ như thế nào với chính trị ?
Đáp: Trong thời đại toàn cầu hóa, chính trị học đã trở thành một khoa học, công tác chính trị đã trở thành công tác quản lý khoa học, tách khỏi tôn giáo và giáo điều.
Hỏi: : Người trí thức TQ khác người trí thức nước ngoài ở những điểm nào?
Đáp: Nếu được hưởng nền giáo dục như người trí thức các nước tiên tiến đã hưởng thì người trí thức TQ sẽ không có những khác biệt cơ bản nào với người trí thức nước ngoài. Tri thức không có biên giới, người trí thức cũng không có biên giới.

Bình luận
Do những mục đích thực dụng, nhà cầm quyền Trung quốc thích khai thác mặt mạnh của trí thức nhưng lại ngại tinh thần tự do của họ. Tinh thần độc lập của trí thức bị thù ghét. Người ta đưa ra lý thuyết “kiến thức không biên giới nhưng người trí thức nào cũng có một tổ quốc và phải phục vụ tổ quốc mình”. Từ đó dẫn tới kết luận “Yêu nước tức là yêu cái chính thể đương thời, phục vụ một cách trực tiếp chính thể đương thời.”
Phần sau trong bài trả lời của Châu Hữu Quang tập trung vào làm rõ quan niệm khoa học về trí thức có nhiều chỗ khác với quan niệm chính thống. Để biện minh cho tính độc lập và nhu cầu tự suy nghĩ của mình, tác giả nêu ra cái ý về toàn cầu hóa, là điều mà về kinh tế nhà cầm quyền Trung Quốc đã chấp nhận, và đẩy nó lên, thành trạng thái toàn cầu hóa về tất cả các mặt khác. Riêng chuyện người trí thức không bị bó buộc vào biên giới quốc gia của mình là một luận điểm có sức gợi ý. Nó yêu cầu người trí thức không tự bằng lòng với cái chuẩn tầm thường của trong nước mà tìm cách tự nâng mình lên tầm quốc tế, với niềm tin rằng phục vụ sự phát triển chuẩn mực để đưa quốc gia vào quỹ đạo quốc tế mới là yêu nước thực sự. Luận điểm này có khả năng làm lung lay lý lẽ cuối cùng của những người muốn kìm hãm không cho trí thức trở thành chính mình.
Đây là cái ý cuối cùng trong bài viết mà tôi rất tâm đắc:
Hỏi Là một người già trăm tuổi từng chứng kiến sự đổi thay của lịch sử, đề nghị cụ nói một câu với tầng lớp thanh niên TQ.
Đáp: Được thôi. «Trong thời đại toàn cầu hóa, phải từ thế giới nhìn TQ, chớ nên từ TQ nhìn thế giới.»
Thật đúng là tâm thế của người trí thức: Không đề nghị hành động mà chỉ đề nghị hướng suy nghĩ để tìm tới quan điểm, cách nhìn mới mẻ, hiện đại, có khả năng hướng dẫn hành động .

Về Châu Hữu Quang, xin xem thêm bài viết cũng trên Văn hóa Nghệ An
Một trí thức Trung Quốc có nhân cách hoàn mỹ
https://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/mot-tri-thuc-trung-quoc-co-nhan-cach-hoan-my


Phần nhận xét hiển thị trên trang