Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Đất nước đã thời đại nào được vẻ vang, ấm no, hạnh phúc và văn hóa như thời đại này ?


Cho thần thánh...


... và cho người


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THAM NHŨNG LÀ KẺ THÙ CỦA QUỐC GIA VÀ LÀ NGUỒN GỐC CỦA SỰ SUY THOÁI

FB Luân Lê

6-2-2017
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
“Tham nhũng vừa là sự phản bội vừa là hành vi bóc lột nhân dân, là tội đồ của dân tộc.”
Tôi chỉ nói ngắn gọn và theo những chuỗi logic của vấn đề này để mọi người có thể thấy nó chẳng có gì là khó hiểu cả.
Một quốc gia thì cần lập ra chính phủ để giải quyết các công việc của người dân về quản lý xã hội, bảo đảm an toàn từ tài sản đến tính mạng người dân, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ, biển và hải đảo và chủ quyền quốc gia. Mà bộ máy chính phủ đó được nuôi dưỡng bằng tiền thuế mà người dân ngày ngày làm lụng vất vả và đóng góp thông qua các loại thuế như thuế tiêu dùng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài sản, thuế thu nhập, phí cầu đường, học hành, bệnh viện,… và những số tiền đó được chính phủ giữ và quản lý bằng một ngân khố chung. Vậy thì chính phủ tồn tại được hay không hoàn toàn là nhờ chủ yếu vào tiền thuế, phí mà người dân đóng góp cho. Đó chính là tài sản công, không ai được phép sử dụng ngoại trừ mục đích để chi tiêu cho việc trả lương nhân sự chính quyền, đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển quốc gia và thực hiện phúc lợi, an sinh xã hội.
Và hơn nữa, chính phủ là một tổ chức có quyền lực, nắm giữ và quản lý ngân khố. Nên có thể thấy ngay là người dân không thể nào xà xẻo chút gì được vào số tiền nằm trong kho bạc nhà nước mà được họ quản lý nghiêm ngặt bằng nhà băng, công an và nhà tù. Thế thì có nghĩa là nếu có tham nhũng, cũng chỉ có thể là người của chính phủ mới có thể làm được việc này mà thôi.
Như vậy, hệ lụy là gì nếu chính phủ đó lại không tôn trọng luật pháp, không giữ kỷ cương phép nước, có nghĩa từ đó sẽ tạo ra cơ hội cho những kẻ tham lam thừa cơ đục khoét và tham ô tài sản công quỹ về làm của riêng và hưởng vinh hoa phú quý.
Nếu không có luật pháp nghiêm minh và trừng trị thì chính quyền chính là cái nôi tham nhũng. Mà khi đã tham nhũng thì ngân khố thâm thụt, không còn đủ tiền chi trả cho hoạt động hàng ngày, cho đầu tư công, cho an sinh xã hội. Vậy sẽ phát sinh việc đi vay nước ngoài để chi trả và bù vào số tiền bị tham ô. Vậy là chất lượng đời sống của dân không được chăm lo, những khoản đầu tư dành cho phát triển kinh tế, giao thông, giáo dục, y tế,…thì bị cắt giảm, làm suy thoái đi chất lượng sống của dân. Trong khi đó thì nợ của chính phủ đối với nước ngoài cũng sẽ do người dân đóng góp thông qua nộp thuế, phí, lệ phí cho nhà nước để mà có tiền cho chính phủ chi trả. Mà việc bỗng dưng ngân sách bị thâm thụt do tham nhũng và được bù vào bằng một khoản nợ đi vay thì nghĩa là ngân khố cần thêm gấp đôi số tiền bị thâm thụt thì mới có thể đủ trả cho các khoản chi tiêu phát sinh. Và thế thì chính phủ lại phải đánh thuế tăng lên, năng giá các mặt hàng tiêu dùng, hàng hóa và dịch vụ cao lên để có tiền đủ chi tiêu sau khi những viên chức của họ ăp cắp của công.
Như vậy, cuối cùng thì người dân một lúc gánh chịu hai hậu quả: một là chất lượng cuộc sống không được chăm lo mà lại còn bị giảm đi; hai là, phải lai lưng ra làm để chi trả các khoản tăng giá, thuế, phí do chính phủ áp dụng thêm lên sau khi người của chính quyền tham nhũng.
Đến đây tôi xin giải thích bằng một ví dụ cụ thể thế này. Đáng ra bình thường bạn có thể mua được bộ quần áo mới với giá 500 nghìn đồng, nhưng sau khi bị quan chức tham nhũng thì bạn vừa phải đổ xăng tăng thêm một lít (vì chính phủ đánh giá cao lên) để đi đến đúng cửa hàng đó mua đồ, mà lại vừa phải mua chính bộ quần áo đó với giá 1 triệu đồng.
Nhìn vào đó để thấy là tham nhũng có sức phá hoại và làm kiệt quệ kinh tế, sức người, tài sản của quốc gia ghê gớm như thế nào.
Bởi nó gây ra sự tàn phá cho quốc gia và xã hội, dân sinh kinh khủng như thế nên trong mọi thể chế chính quyền và mọi thời điểm, phải ngăn cấm và nghiêm trị mọi hành vi tham nhũng, dù là nhỏ nhất. Vì tham nhũng nhỏ mà không xử thì dẫn tới tình trạng vô chính phủ mà tạo cơ hội cho tham nhũng lớn diễn ra, hơn hết là lôi kéo người nhà, người thân vào cùng làm quan, kết bè kết phái để mà phá hoại và làm mất đi cơ hội cống hiến của những người có tài, có nhân cách khác.
Mà rồi khi đục khoét, tham nhũng hết tiền của công (tức là của dân đóng góp) sẽ dẫn đến làm liều là bọn quan tham với lòng tham vô đáy kia có thể bán cả đất nước mà trả nợ hoặc làm nô dịch cho nước khác. Tham nhũng dẫn đến nguy cơ không những vỡ nợ, hủy hoại quốc gia, mà còn làm cho hiểm họa mất nước cận kề.
Tham nhũng vừa là sự phản bội vừa là hành vi bóc lột nhân dân, là tội đồ của dân tộc.
Cho nên bất kỳ lúc nào, nhân dân và chính quyền phải coi tham nhũng là kẻ thù của quốc gia mà phải diệt trừ tận gốc để tránh hậu họa của nó.
Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài văn tả chó!


“Cái giống chó nếu tử tế thì người ta nuôi, còn không phải thế cứ cắn càn, phản chủ, rồi chỉ biết ngủ ngày, ăn tạp, đi ghẹo chó cái, ngu dốt không biết cả chỗ ỉa, chỗ đái… thì có ngày người ta cũng đập chết.”

…Biết Sếp hay làm thơ, nói thích văn : “ ….Giá như đừng dính chuyện cơm ,áo, gạo, tiền …tớ thành nhà văn rồi ấy chứ!” Sếp tâm sự với tôi như vậy.
Cô giáo cho thằng con đề văn “ Hãy tả con chó nhà em.”. Tôi làm hộ nó, rồi đọc lại, thấy hay, nhưng mình tự khen, có khi không khách quan. Tôi nhờ Sếp:

- Anh có sự tinh tế trong việc thẩm định văn học, anh xem hộ em.

Sếp cầm bài văn của tôi, hẹn ba ngày sau trả lời, thái độ vui vẻ.

… Đến ngày thứ ba, tôi hồi hộp chờ đợi, cả ngày chẳng làm được việc gì. Đến tận gần hết giờ làm việc cũng không thấy sếp đả động đến. Tôi toan hỏi, thì Sếp gọi tôi lên, Tôi mừng thầm…thế là sếp đã đọc bài văn của mình.

Cánh cửa phòng của sếp khép lại, chốt chặt. Sếp nhìn tôi , ánh mắt không hề biểu hiện sự thân thiện. Giọng của sếp gầm gừ:

- Anh đưa bài văn tả chó này cho tôi, tôi hỏi thật , có ý đồ gì?

Tôi lúng túng:

- Có ý đồ gì …đâu anh! Em chỉ muốn …

- Muốn gì…muốn “chơi “ tôi phải không? Anh tả chó mà như thế này – Sếp lấy bài văn của tôi ra đọc một đoạn – “ Con chó nhà tôi rất khôn, không những khôn mà tinh. Khôn khi nó nịnh chủ, không bao giờ làm cho chủ giận. Tinh là nó biết nhìn thái độ chủ để nịnh. Chủ giận, nó nịnh kiểu khác. Chủ vui cũng nịnh kiểu khác…”- Sếp lại nhìn tôi một cách hằn học – Còn đoạn nữa, sếp đọc tiếp: “ Chó nhà tôi cũng biết kết bè, kéo cánh. Nó cùng mấy con chó nhà bên cạnh ăn chung, ngủ chung, lấy đồ ăn cắp như thịt, chả…cũng ăn chung không tranh giành nhau, nhưng con chó khác mà đến, thì đừng hòng, chúng hợp sức cắn chết…”

Nghe Sếp đọc đến đoan đó, tôi vội thanh minh:

- Chó nhà em đúng thế mà, chúng cũng “lợi ích nhóm” lắm!

Sếp nghe vậy, quát lớn:

- Anh nói với tôi thế à! Đây đoạn này, anh định ám chỉ ai: “Cái giống chó nếu tử tế thì người ta nuôi, còn không phải thế cứ cắn càn, phản chủ, rồi chỉ biết ngủ ngày, ăn tạp, đi ghẹo chó cái, ngu dốt không biết cả chỗ ỉa, chỗ đái… thì có ngày người ta cũng đập chết.”. Anh viết thế này, đưa tôi đọc, ý là anh…

Tôi vội nói với sếp:

- Anh đừng hiểu sai ý em, em cũng chỉ tả con chó thôi!

Sếp đưa trả bài văn cho tôi, rồi chỉ ra cửa:

- Anh đi ra khỏi phòng tôi ngay.Tôi không muốn anh thanh minh, thanh nga ở đây nữa. Anh đi ra ngay.

Cầm bài văn đi ra khỏi phòng sếp, vừa đi, tôi vừa nghĩ: “ không hiểu vì sao sếp lại bực, lại suy diễn khi bài văn của mình chỉ tả con chó!”.

Trần Kỳ Trung
(Blog Trần Kỳ Trung)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con người và hành trình miên man của lòng tham


Các cộng đồng người tinh tú trên thế gian, mà ta gọi là nhà nước, Liên hiệp quốc, các tổ chức toàn cầu, nhân loại..., nếu sáng suốt thì điều thực tiễn phải làm là tìm cách kiểm soát, quản lý, điều tiết, ngăn chặn, hạn chế, lèo lái được lòng tham của con người, soạn luật chơi phù hợp với đặc tính tham của giống loài, chứ đừng kêu gọi từ bỏ, không có lòng tham, không còn lòng tham. Lòng tham, tính tham nó vẫn sừng sững mãi thôi giữa dương gian, trời đất này. Còn con người thì còn lòng tham. 

“Thương thay giống loài tinh tú ấy”
Đến cọng rau con người còn nhu cầu đến vô cùng, huống gì hình thức và tiện ích cho phương tiện đi lại, bộ vó trên người, vật dụng trên tay, căn nhà ở, gái đẹp, trai sang, hay nhu cầu tự hào, danh vọng, hơn thua.

Ăn no rồi đòi ăn ngon. Mặc ấm rồi đòi mặc đẹp. Có ít rồi cần thêm nhiều. Đã đẹp lại hay thích khoe, và càng thích đẹp hơn. Và xấu thì mặc cảm. Vì mặc cảm nên phải tìm cách bù đắp, hay làm cho hết xấu. Người không đẹp, không giàu thì phải thèm khát được đẹp, được giàu. Cấp độ tăng dần vừa theo bản năng vừa theo ý thức, cảm xúc lẫn lý trí. Chỉ có trong thế giới con người mới sinh chuyện: nghèo người ta khinh, thông minh người ta ghét, xinh đẹp người ta đố kỵ (và bị tranh giành). Cứ thế, loài người trong một vòng luẩn quẩn.

Ngay sự tiên tiến, hay hội nhập cũng hình thành trên những nhu cầu, lòng tham, ganh đua, thành đạt, phân biệt, cướp đoạt. Con người vẫn muốn có nhiều căn nhà dù trong đêm người ta chỉ ngủ trong một căn và trên một giường. Con người cứ cần nhiều kho thực phẩm tích trữ ở nhiều hình thức khác nhau trong ngày dù cơ thể hấp thụ tối đa 2.000 calo (với phụ nữ), và 2.500 calo (với đàn ông) mỗi ngày.

Các loài khác không như họ. Các loài khác không tính toán như họ. Các loài khác không có khái niệm tài sản, thừa kế, trách nhiệm, của hồi môn, hay niềm tự hào về dòng họ, đẳng cấp, giàu sang, thành tựu, thành đạt.

Nếu khái niệm “động vật bậc cao” và văn minh là độ đo to rộng của chỉ số lòng tham thì con người là động vật bậc cao và văn minh nhất. Các loài khác nghĩ đến việc ăn ở từng bữa, hay nói khác là chỉ tìm ăn khi bụng lép rỗng, đói. Các loài khác chỉ ăn thứ cây, hoặc con hợp với mình, mình cần, còn con người cây, con gì cũng ăn.

Các loài khác không thích mới và lạ. “Mới” và “lạ” sinh ra sự chinh phục, và sự chinh phục chính là chỗ thúc đẩy lòng tham. Tiên tiến là muốn vượt lên thêm, đạt được nhiều hơn. Được ngụy trang bởi ngôn từ nào thì tiên tiến cũng đi cùng khai thác, mà khai thác là đường đi của tội lỗi, chuyển hóa tích cực sang tiêu cực. Có một sự thực vui đến xót xa là mọi phát kiến quan trọng trên trần gian này suốt lịch sử đã qua đều bắt đầu từ nhu cầu phục vụ sự hủy diệt (chiến tranh, khống chế, cạnh tranh, chiếm đoạt, phụ thuộc, trên - dưới) mà ra, chứ không từ vì sự phúc lạc, thái hòa cho mặt đất.

Các loài khác chỉ ăn đủ no, còn con người lo trữ cho quanh năm, muôn năm, cả đời, và không cho riêng mình mà còn cho con, cháu, chắt. Con người cần của cải trong trời đất không chỉ cho cái bụng, mà cho cả cái đầu, ví như niềm tự hào, sự lo toan, hay cuộc hơn thua với bạn bè, xóm giềng, dòng họ, chủng nòi, quốc gia, dân tộc, châu lục này với châu lục kia, chủ nghĩa này với chủ nghĩa nọ, thời đại này với thời đại khác.

Từ nhu cầu bỏ bụng đến nhu cầu xa xỉ đều phải qua khai bóc thiên nhiên cả. Như cọng rau, con cá đến chiếc xe hơi, hay cái ti vi màn hình phẳng. Con người xây lâu đài vinh quang cho mình nên làm khổ mình và vạn vật, thiên nhiên bởi nhu cầu đó. Thượng đế biết vạn vật trong thiên nhiên hữu hạn, nhưng con người thì không thể biết điểm dừng của nhu cầu ở mình. Con người tự cho mình quyền đứng trên muôn loài. Và con người cũng tự cho mình quyền cứu vớt muôn loài, dù sự thật trần trụi là không loài nào biến mất mà không do con người (từ khi có con người).

Con người biết giống loài mình là loài tàn bạo, thâm hiểm, quái ác nhất. Nhưng con người cũng là loài duy nhất hay rao giảng về đạo lý trước vũ trụ, thiên nhiên, vạn vật. Họ muốn gia đình người khác, quốc gia khác xài ít thiên nhiên nhưng không chịu làm thế ở gia đình mình, quốc gia mình. Họ muốn các quốc gia khác không phát triển công nghiệp súng đạn, xuất khẩu vũ khí, sở hữu hạt nhân, nhưng không muốn thế ở quốc gia mình. Họ muốn phi hạt nhân hóa trên toàn cầu, nhưng không hủy kho hạt nhân ở nước mình, và luôn sáng tạo thêm những thứ vũ khí tối tân khác. Trước thiên nhiên, họ nhìn ngành công nghiệp sản xuất cưa máy ở chiều tiết kiệm nhân công xẻ gỗ, giải cứu sức lao động của con người, nhưng họ không chịu nhìn rừng trên mặt đất nhanh hết đường tồn tại hơn. Họ nghĩ con người luôn có ý thức, lương tâm và kiểm soát được hành vi con người. Thì ra họ không hiểu con người và quy luật không bến bờ của lòng tham.

* * *
Lòng tham là bạo chúa. Lòng tham không có nhu cầu tỉnh thức, hay hoàn lương. Lòng tham chấp nhận sự đào mồ tự chôn mình, hơn là trí tuệ, tiết chế, chuẩn mực, và lắng nghe, thấu hiểu. Nó nhìn tới chứ không nhìn lui, chấp nhận vực thẳm đang đợi ở đâu đó. Bởi đơn giản, nếu bảo đàm phán, đối thoại, thương thảo, thông hiểu nhau là con đường hay nhất, đúng đắn nhất, chính nghĩa và vì con người nhất, thì làm sao vẫn có chiến tranh, và hoài hoài, hàng ngày trên địa cầu này. Vì là con người, nên họ sẽ có cách để đưa ra lý do cần thiết phải chiến tranh, chứng minh tính tử tế, hay ho của hành động giết người, và không chịu trách nhiệm trước cái chết nào, dù con người nào cũng chỉ được một lần duy nhất có mặt ở trên đời.

Sẽ khó có loài nào ích kỷ hơn loài người (Homo Sapiens). Chung quy cũng tại lòng tham, và vì nó có trí tri, coi gia đình mình và sự thành tựu của bản thân quý quá, quan trọng. Nó đang xấu, đang hành ác ngay ở nhận thức tốt này của nó.

Nhu cầu của con người là sự lành mạnh? Đúng, nếu nó không làm tổn hại đến muôn loài, ảnh hưởng đến tương lai. Tiếc thay, bản chất nhu cầu luôn gia tăng, tha hóa, vô độ, và khó có thể tiết chế. Nhu cầu là lòng tham, nó làm khổ con người, đeo bám con người. Có khi đến lúc chết người ta còn phải tính, lo, chọn chỗ chết, nơi gửi tro xác, tiếng tăm để lại, di sản để lại, trách nhiệm để lại.

Từ sau thời hậu kỳ đá mới, sang thời kim khí, quyền sở hữu xuất hiện trong cộng đồng người, là thiên nhiên bắt đầu khốn đốn với con người, và con người bắt đầu gây đau khổ cho nhau. Và như thế, con người ngày càng thẳng tay, thủ đoạn với thiên nhiên - thiên nhiên trở thành vật thí thân cho người. Từ sự thành kính thiên nhiên đã chuyển thành kiểm soát và cưỡng bức thiên nhiên, và vô lễ tuyệt đối với thiên nhiên. Sự nương theo thiên nhiên, thuận hòa theo thiên nhiên không thể còn nữa. Thiên nhiên tròng trành, teo tóp, căng thẳng, thoi thóp, yếm thế. Lý trí thế chỗ hoàn toàn cảm xúc thuần hậu nơi con người. Con người luôn mưu tính trước thiên nhiên và trước đồng loại.

Con người thường sa lầy trong lòng tham, mà đặc tính này ở họ có tính di truyền cao, và trong giáo dục họ không bao giờ dạy con cháu từ bỏ nó. Họ rất có trách nhiệm với trực hệ, gia đình, nhưng với đồng loại mình thì họ bước qua, đua tranh quyết liệt, giành giật đến cùng.

Sẽ không bao giờ có chuyện dừng lại hay chừng mực với nhu cầu ở con người. Vì cái “ác” thường đi với sự “có trí”, nhất là cái trí không hướng vào sự thiện lành, và khi nó được vận động trên cơ sở đặc tính lòng tham cố hữu.
* * *

Trong bất cứ tôn giáo nào, điều giới luật đầu tiên đưa ra đều là từ bỏ lòng tham, tránh tham lam. Nhưng bao nhiêu tín đồ, con chiên của các Phật, của Chúa... trong hành trình làm người của mình hành sự và sống được như vậy đâu. Họ vẫn kẹt trong những tục lụy, nhu cầu thế tục, lòng tham đặc tính người ấy. Tôn giáo nào trên dương gian cũng chỉ cho con người cách thức để làm người tốt. Nhưng con người, với bản chất sinh học và bản chất phàm tục của nó vẫn cứ làm ngược lại.

Họ nghĩ con người luôn có ý thức, lương tâm và kiểm soát được hành vi con người. Thì ra họ không hiểu con người và quy luật không bến bờ của lòng tham.

Vì vậy, mà các tôn giáo có lý do để tồn tại, như suốt mấy ngàn năm qua, để nói những điều mơ ước của con người, xá tội cho con người, vỗ về con người, an ủi tội lỗi chúng sinh. Bởi con người ngày càng có vẻ tốt với nhau hơn là tốt thực với nhau. Con người ngày càng hại nhau, ác với nhau là chính.

Ngay cả trong việc quản trị nhau, con người cũng phải dùng phương thức gia tăng sự hung hãn. Ai nghĩ rằng một kiểu nhà nước như IS vẫn có thể xuất hiện trong thế giới mà ta gọi là hiện đại này, và nó vẫn quy tụ được người theo.

Phẩm giá nơi từng con người đã khó với từng người đó trong hành trình đi tới, huống gì phẩm giá cho quốc gia, đạo đức của quốc gia, nên mới có chuyện bao đời nay, quốc gia này đi xâm chiếm quốc gia khác. Tất cả đều đặt khái niệm “phẩm giá” cho lòng tự hào, tự tôn của cộng đồng riêng của họ chứ không phải “phẩm giá” trước Mẹ vũ trụ, thiên nhiên và cộng đồng khác. Những khế ước về đạo đức và lương tâm luôn thất bại, nó đu dây theo lòng tham con người, và tồn tại trên chót lưỡi, đầu môi, nghị sự, hội nghị thượng đỉnh, diễn đàn, xã giao.

Càng vào giai đoạn sau con người càng chồng chất tội lỗi với tạo hóa. Càng đi vào xã hội mà loài người gọi là “hiện đại” con người thực chất càng man rợ, tham ác hơn tiền nhân, nhưng vẫn dùng mỹ từ “văn minh” để nói về loài mình. Càng ngày con người càng hay dùng nhiều đến từ “nhân bản”, mà con người có còn biết không, rằng “nhân bản” tức là tính người gốc, bản chất thiện lành là phẩm chất mà lúc ban đầu, khởi đầu con người từng có đó thôi. “Nhân bản”, xa quá, nên nhớ. “Nhân bản”, không còn, nên cần, nhắc, khuyên, gọi, mong, đợi.

Ở cực nghiêm túc, thấu triệt, rằng chỉ khi chúng ta sòng phẳng trước trời đất và chỉ rõ bản chất tồi tệ của giống loài chúng ta thì khi ấy ta mới chân thành với tạo hóa, công bằng trước tạo hóa, và may ra mới thay đổi tâm thế và hành vi, dù về thực tiễn điều này sẽ rất khó.

Giống loài ở “bạc” nhất trên trái đất là giống loài tôi (Homo Sapiens).

* * *
Các cộng đồng người tinh tú trên thế gian, mà ta gọi là nhà nước, Liên hiệp quốc, các tổ chức toàn cầu, nhân loại..., nếu sáng suốt thì điều thực tiễn phải làm là tìm cách kiểm soát, quản lý, điều tiết, ngăn chặn, hạn chế, lèo lái được lòng tham của con người, soạn luật chơi phù hợp với đặc tính tham của giống loài, chứ đừng kêu gọi từ bỏ, không có lòng tham, không còn lòng tham. Lòng tham, tính tham nó vẫn sừng sững mãi thôi giữa dương gian, trời đất này. Còn con người thì còn lòng tham. Con người còn thì không bao giờ hết tranh chấp, chiến tranh, tham vọng, nhu cầu thành đạt, thành tựu, tự hào, tự ái, mặc cảm, kiêu hãnh. Con người còn thì không bao giờ thiên nhiên không đau khổ. Rằng con người cũng từng muốn (mới chỉ là muốn) chan hòa với nhau, hướng đến chủ nghĩa đại đồng, rồi dễ dàng quay lại liền chủ nghĩa dân tộc, xích động dân tộc chủ nghĩa, ở mọi quốc gia. Con người muốn hướng đến toàn cầu hóa, nhưng ngay đấy trỗi dậy với chủ nghĩa bảo hộ, dân tộc chủ nghĩa. Con người cứ luẩn quẩn, dối lừa nhau mãi, và chắc chắn sẽ mãi mãi như thế, vì đó là loài không thể từ bỏ lòng tham.

Vũ trụ, thiên nhiên, Thượng đế biết con người là đứa con hư, nhưng không thể bỏ nó, vẫn thừa nhận nó là một giống loài, vẫn thương nó. Con người biết hết bản chất mình, nhưng vẫn vận hành mình theo trục xấu đó, và không thể khác. Con người đau khổ, vì tính tham, lòng tham của mình. Để vào ngày tàn đời, ai trong họ cũng muốn được thanh thản, như nghe vang lên thanh âm từ bi hỉ xả, bác ái, giải thoát từ đôi lời kinh Phật, kinh Thánh, kinh Koran...

Nguyễn Hàng Tỉnh
(TBKTSG)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nền 'giáo dục cấp bằng' và tội ác trong xã hội


04.02.2017  ​Một nghịch lý của ngành giáo dục nước ta trong những năm qua là đào tạo ra số lượng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân, kỹ sư “đông như quân Nguyên” nhưng đồng thời lại tạo ra có thể một lượng cũng đông không kể xiết những người trẻ tuổi hư hỏng, suy đồi, vô đạo. Điều gì đã dẫn tới nghịch lý đen tối này?
Một vụ đánh nhau diễn ra ngay trước cổng trường 
THPT Bùi Thị Xuân (Thừa Thiên Huế) - Ảnh: Tuổi Trẻ
Nếu xem chỉ tiêu ghi trên lý lịch của mọi người thì phần khai “trình độ văn hoá” đã thay đổi mạnh mẽ trong hơn 10 năm qua. Chỉ riêng phần tiến sĩ, nước ta đã có hàng chục ngàn, thạc sĩ hàng trăm ngàn, còn cử nhân hay kỹ sư con số phải đến hàng triệu. Tỉ lệ phổ cập giáo dục thì gần đạt 100%, nghĩa là hầu như không có ai là người thất học.

Thực sự thì đó chỉ là sự gia tăng “trình độ học vấn” mà thôi. Bằng cấp của xã hội có tăng hay không thì có lẽ phải còn tranh cãi. Bằng chứng là mỗi năm, cứ đều đặn có hàng chục ngàn vụ phạm tội hình sự mà người phạm tội đa số là người trẻ. Đặc biệt, có năm, theo thống kê, có đến 75% người phạm tội thuộc độ tuổi thanh thiếu niên, có nghĩa là cứ bốn người phạm tội thì có ba người thuộc lứa “trẻ người non dạ”. Không đâu xa, ngay trước Tết Đinh Dậu này thôi, một vụ giết bạn học rồi bỏ vào thùng xốp của một thiếu niên ở TP.HCM gây rúng động dư luận trong cả nước.

Không thể đổ lỗi sự xuống cấp đạo đức trong xã hội hoàn toàn cho ngành giáo dục, nhưng cũng không thể không quy trách nhiệm chính cho cái ngành nhân bản này. Bởi vì Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “Thiện, ác phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên” (Nửa đêm, Nhật ký trong tù). Nguyên Phó chủ tịch nước và cũng nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thị Bình, trong tham luận gửi hội thảo khoa học kỷ niệm 70 năm ngành sư phạm Việt Nam hồi cuối năm ngoái, cũng đã phải rung thêm “một hồi chuông báo động về giáo dục nhân cách” của nền giáo dục nước ta.

Sự xuống cấp, băng hoại đạo đức trong giới trẻ hiện nay dễ làm cho người ta liên tưởng đến một sự hẫng hụt trong giáo dục nhân cách, hay nói chính xác hơn là dạy đạo làm người, trong khoảng một thế hệ. Có rất nhiều những suy nghĩ và hành động tàn bạo, vô nhân tính của “một bộ phận không nhỏ” những người trẻ tuổi hiện này mà người ta ít thấy xuất hiện ở các thế hệ trước. Ít thấy các thế hệ trước những vụ cướp của giết người, giết cả cha mẹ ông bà để có tiền ăn chơi, những vụ đánh đập, hành hạ dã man cả giữa những nữ sinh với nhau…

Giáo dục trong nhà trường thời nay có vẻ chủ yếu là dạy những kiến thức bề ngoài, không nhập tâm. Kiến thức thì được nhồi nhét thật nhiều, học trò mới có tí tuổi đầu đã học thêm học bớt, học ngày học đêm, chỉ để khi lớn lên có thể đạt được những mảnh bằng như đã kể để kiếm cơm kiếm thịt. Môn học đạo đức hay giáo dục công dân cũng được dạy nhưng chỉ để học sinh ê a học thuộc lòng lấy điểm kiểm tra nhằm đạt học lực khá giỏi chứ chẳng mấy đi vào tâm hồn, trí não.

Giáo dục thời xưa chủ yếu dạy đạo làm người, điều mà dường như thời nay cho là “lạc hậu”, “cổ lỗ”. Như mới đây, nhiều người trong ngành giáo dục đề xuất việc bỏ câu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” vẫn còn “rơi rớt” lại trong các trường học. Thế nhưng nếu con người mà không “làm người” thì làm gì, làm cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chăng? Phàm đã là một con người vô đạo, càng có tri thức, càng khôn ngoan trí lực thì càng nguy hiểm cho xã hội, điều đó thì các nhà tư tưởng như Lão Tử hay Dostoievsky đã chỉ ra rất rõ.

Thực chất, tiếng chuông rung kêu gọi đổi mới trong ngành giáo dục khá tâm huyết của cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình trong tham luận kể trên chỉ là lời kêu gọi quay về với những giá trị nhân bản phương Đông xưa cũ, đó là dạy đạo làm người. Cũng chẳng phải là điều gì ghê gớm trọng đại khi dạy những giá trị nhân bản này, bởi từ đầu thế kỷ XX trở về trước, hơn 90% dân ta đâu có được đến trường, đâu có biết đọc biết viết. Công việc dạy đạo làm người những thời kỳ ấy chủ yếu là dành cho gia đình, cho gia tộc, làng xã, với những bài học làm người, những câu ca dao tục ngữ, những nghi thức, nghi lễ giản dị, mộc mạc dễ đi sâu vào lòng người…

Còn ngày nay, chúng ta có cả một ngành giáo dục “hoành tráng” năm nào cũng “đổi mới” mà dạy không xong chữ “đạo” cho con người, khiến cho xã hội lại bất an, lo ngại, đau lòng vì thỉnh thoảng cứ xuất hiện “những kẻ giết người có gương mặt trẻ thơ”…

Đoàn Đạt

http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/suy-nghi-tu-nen-giao-duc-cap-bang-va-toi-ac-trong-xa-hoi-55589.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒNG HOANG BIỂN


SEA 11

Tôi rất thương Mẹ mỗi lần nhìn thấy khối cơ thể ấy vỡ vụn ra, nát tan từng mảnh trong ngôi miếu cũ. Mẹ nằm đó, trong cỗ quan tài bằng gương nhiễu điều phủ đỏ. Thân thể Mẹ màu xanh biển sớm, trong như màu mắt  ngư phủ ngày cá đầy khoang. Phía bên trái quan tài, xiêm y màu phỉ thúy của Mẹ ánh lên thứ dung nghi trầm kha của đại dương sâu thẳm. Dân làng Việt Hải tôn thờ Mẹ, một niềm tin khả hữu của những đứa con suốt đời dầm mình trong gió mặn và biển chát. Mỗi lần cha tôi đi biển dài ngày thường đến miếu viếng Mẹ với một mâm lễ chuối, cau trầu, rượu và những thỏi trầm. Tôi thường xách giỏ đồ cúng chạy theo cha đi lễ, tất tả và hồn nhiên như một cơn sóng con.
“Nghề đi biển là vậy, phải có người chở che sóng gió. Nếu không cũng sớm làm mồi cho cá thôi”, cha nói.
“Thế Mẹ là ai hở cha?”        
“Một nữ thần cưu mang những ngư phủ như chúng ta, những đứa con của Mẹ.”
Cha bắt đầu kể về Mẹ khi chúng tôi lạo xạo bước đi trên cát chiều khô gió. Giọng cha trầm xuống kính cẩn, một thứ giọng đầy hương muối, mùi liêu trai tôi chưa từng nghe bao giờ.
“Dân tộc ta gọi mẹ  Âu Cơ là quốc tổ mẫu, thì Mẹ Thái Dương là Mẹ nuôi của làng ta đấy.”
Mẹ là cô gái làng biển có số phận bất hạnh. Cô yêu nhầm anh trai bị thất lạc, kết làm vợ chồng, biết chuyện, người anh ân hận bỏ đi khi cô đã mang thai. Nhớ chồng, ngày ngày cô ra biển đợi chồng về, nước mắt hòa vào dòng biển mặn. Cô cứ ngồi mãi như thế cho đến khi hóa thành khối đá xanh nằm bên Bãi Lạc hoang vắng.
“Chuyện buồn cha nhỉ?”, tôi nói. Sau này tôi mới biết, ai kể về Mẹ cũng thổi vào đấy cả một bể thiêng liêng, ngập tràn lòng biết ơn vô hạn về đấng cứu rỗi đầy bao dung của biển dành cho những ngư phủ nghèo. Những đứa con tôi về sau cũng gióng tai lên nghe tôi kể về Mẹ như thế khi tôi đã xế chiều.
Cha kể tiếp, vẫn nuôi cái giọng cũ nhưng tươi sáng hơn. Một người ngư phủ lương thiện, sống côi cút một mình, không nhà không cửa, nghèo rớt mùng tơi, ngày ngày kiếm sống bằng nghề chài lưới. Ngày nọ, biển động dữ dội, trời tối đen như bưng, người ngư phủ đi ra biển, buồn quá, lại thấy khối đá nằm trên cát liền gối đầu lên mà ngủ quên. Giữa đêm, anh nằm mộng thấy người đàn bà mang thai lay đầu mình dậy bảo rằng “Ta là Thai Dương phu nhân, sao ngươi dám dựa vào ta như thế?”  Người ngư phủ hoảng sợ tỉnh giấc, vội vàng khấn vái trước phiến đá mà nói rằng: “Con quê mùa ngu dốt, xin thần xá tội. Xin giúp cho con ra biển thuận lợi, tôm cá đầy ghe.” Quả nhiên, hôm đó người ngư phủ đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Ông liền lập một miếu nhỏ lợp tranh để thờ khối đá và gọi là Thai Dương phu nhân. Sau, dân chài ở làng Việt Hải thấy làm lạ, hỏi ra mới biết sự tình bèn chung tiền của, xây dựng một cái miếu khang trang rồi rước phiến đá về phụng thờ. Từ đó, nữ thần giúp đỡ rất nhiều cho dân làng, đi biển hầu như chẳng bao giờ trở về tay không, ghe thuyền cũng không gặp nạn bão tố nữa. Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được Thai Dương phu nhân giúp đỡ như ý. Tôi bỗng thấy Mẹ rất gần, như có thể nhắm mắt lại, ước gặp Mẹ và khi mở mắt thì Mẹ hiện ra trước mặt rồi.
Cha chợt dừng lại, mặt hướng ra biển nhìn những chú chim hải âu chao nghiêng mặt nước xanh. Lão Thoại nghêu ngao đi dọc Bãi La, mồm không ngớt chửi đổng. Gặp cha tôi, ông giơ tay nói.
“Họ sẽ đến, sẽ đến đấy…”
Tôi nhấp nhỏm tránh con sóng to vỗ vào bờ cho khỏi ướt chân, tránh cả lão Thoại đang đứng ngáng đường. Cha chẳng nói gì, chỉ chìa tay ra nắm lấy tay lão. Lão Thoại nở một nụ cười rất kín, rồi đi mất. Tôi nhìn cha đứng lặng một hồi, làn da sạm đen vì nắng gió, đôi mắt vời vợi xanh.
“Sao cha không nói gì thế?”
Cha cười, rồi nắm lấy tay tôi đi về hướng Hòn Rùa.
Câu chuyện về Mẹ kết thúc khi hai cha con tôi bước qua những hòn đá đen lấp xấp sóng để vào miếu. Những hòn đá đen đều có một vết lõm như mắt. Những con mắt thuở hồng hoang biển. Những con mắt ấy chứa chan hình ảnh Mẹ.
“Mẹ mang thai nhưng chưa sinh ra con, thế nên tất cả dân làng Việt Hải đều là con của Mẹ” – cha tôi nói.
“Cha và con cũng vậy phải không cha?” - tôi ngập ngừng hỏi.
“Ừ, chúng ta là những đứa con nuôi của Mẹ Thai Dương. Mẹ sẽ che chở chúng ta thoát khỏi cơn hoạn nạn.”
Đến bây giờ, câu nói của cha ngày nao vẫn mãi là điểm tựa lớn. Tôi nghĩ đến mộ trứng ngỗng và những con tàu gớm ghiếc ngoài kia, lòng như lửa đốt. Những ý nghĩ cứ bám riết tôi, cha tôi khi bước qua những tảng đá đen để vào ngôi miếu nhỏ vững chãi giữa lưng chừng Hòn Rùa, bốn bề cây phủ xanh kín.
 “Xin Mẹ phù hộ cho chúng con giữ yên cuộc đất này, giữ yên biển và những ngày mai”.
Tôi nghe hơi thở biển hổn hển từng nhịp bước chân đi. Tiếng hải âu xao xác ngoài xa, dậy lên thứ men xanh ngày mai của những chuyến tàu kín chật ngoài khơi.
*

Muốn biết đại dương bao la thế nào chỉ có lên Hòn Rùa mới biết được. Hòn Rùa đập vào trí tưởng thơ bé của tôi là một khối núi xanh nhô ra biển, nơi có miếu Mẹ Thai Dương mà tôi rất thích đến. Khối núi xanh ấy có hình dạng như một chú rùa biển. Mai rùa là cả rừng cây dương cổ thụ nối với đất liền bằng một dải cát mỏng, đầu rùa là khu nghĩa trang, ngực rùa giữa lưng chừng là miếu Mẹ Thai Dương trấn biển và những dấu chân rùa đây đó còn lại những hòn đá đen khổng lồ dưới chân núi. Mỗi năm nhà chúng tôi chỉ lên Hòn Rùa một lần để chạp mộ tổ tiên, đó là quy lệ. Trên đỉnh Hòn Rùa là một nghĩa trang thờ cụ kị khai canh, khai khẩn cho đến những vị kiệt hiệt, có công với làng Việt Hải đều nằm trên ấy. Nằm thoải sau đầu rùa là một ngôi mộ hình trứng ngỗng khổng lồ, một nửa nổi lên mặt đất, xưa xây bằng hợp chất ô dước, vôi, mật mía, cứng như đá, rêu phủ xám xịt, to phải bằng một đống rơm lớn chướng cả lối đi. Xung quanh quả trứng ngỗng ấy là một vòng tròn đất đen, nhô lên như một thứ ranh giới ma quái. Xưa, người làng tôi sợ mộ yểm, không dám bước chân qua khỏi vòng đất đen để vào khuôn viên khu mộ đó. Nó như một trái núi nhát giữa Hòn Rùa. Các cụ xưa đã nghĩ ra cách rất hay để dẹp cái trứng ngỗng ấy đi. Mỗi khi ai có việc lên Hòn Rùa, đi qua đấy phải mang một hòn đá hay nắm đất tấp vào mộ. Lâu dần, cái trứng ngỗng bị lấp mất. Giờ thì cái mộ ấy phủ một lớp đá đen, cây cỏ mọc lên như một trái núi hoang. Có lần đi tảo mộ, tôi chạy băng qua vòng đất đen, lấy tay bới đất đá, cha thấy vậy hét lớn: “Đừng, con…!”, như thể tôi sẽ nổ tung tức khắc. Tôi hỏi cha: “Mộ của ai thế hở cha?”. Cha im lặng, về nhà mới kể cho tôi nghe. Thế là, mỗi lần lên trên ấy, tôi khệ nệ bưng một hòn đá thật to, rồi đặt lên mộ trứng ngỗng, lòng dạ hả hê lắm. Có khi tôi còn lôi đám trẻ làng hì hục mang đất đá lên để lấp cho kì hết. Những chuyện ấy giờ thành kí ức, thứ kí ức lửa hun đúc nội chất tôi, biến tôi thành một người con biển như bây giờ.
Bên trái Hòn Rùa là mộ của cụ khai canh nhà tôi, một ngôi mộ nhỏ hình chữ nhật, viền cánh sen xung quanh, vôi vữa mục nát đến không thể biết xây từ đời nảo đời nao. Mộ cụ xung quanh có la thành đắp thấp, bốn phía gắn trụ sen. Phần quynh sau mộ nhô cao, ở đó một cây bồ đề hoang mọc lên, che tán xanh phủ kín ngôi mộ. Nghe người làng nói, cụ nhà tôi rất giỏi phong thủy, cụ bảo Hòn Rùa đích thị là thế “kim quy trấn hải”, nhưng là quy bị chột một mắt. Vì là người có công với làng nên khi chết cụ xin được chôn vào con mắt sáng để giữ lấy khí thiêng. Cụ còn vẽ cả địa đồ thủy khí chỉ cho dân làng những nơi có long mạch để táng những người có công trạng vào đấy, làng sẽ hưng khởi.
Tôi luôn nuôi ý nghĩ một ngày nào đó sẽ nằm trên phiến đá phẳng như thớt dưới bóng cây bồ đề trên đỉnh Hòn Rùa, gác tay lên trán và đếm trăng sao ngoài biển rộng. Khi tròn mười hai tuổi, có lần một mình tôi chạy lên đỉnh Hòn Rùa vào một đêm trăng sáng tháng Năm. Ở trên ấy, tôi được nghe tiếng đại dương thao thiết hiền hòa giữa trăng sao giăng kín bầu trời. Trong thảm ánh trăng bạc, những đoàn người bước đi nhấp nhô ngoài khơi xa như một phép màu. Họ bước đi trên nước như ta đi trên đất, họ nhảy nhót, hát ca rồi khuất dạng sau những con sóng to tấp tập ghé bờ. Có lần tôi hỏi cha:
“Sao chỉ lên viếng mộ các cụ có một lần thôi cha?”
“Hòn Rùa bị yểm”, cha chỉ nói vậy. Nếu có hỏi thêm một câu nào nữa, cha sẽ cáu tiết lên như đụng phải vết thương sâu thẳm nào đó của cha trên ấy. “Đi mà hỏi ông mày ấy”, cha bực mình nói. Tôi mang máng điều gì đó khi nghe dân làng Lạc Dương ở kế bên bảo thỉnh thoảng lại thấy Hòn Rùa phát ra thứ ánh sáng đỏ trong đêm tối. Người làng nghe vậy càng thấy sợ.

*


Tôi ngồi bó gối trên bãi cát dài trắng xóa những hàng dương, nhìn xa xăm vô số ánh chớp xé tan trời mây xầm xập phía Đông. Mắt tôi vằn vện tia sét tức bờ duyên hải. Tôi thấy ông nội ngồi đó, dáng một lão ngư lồi lõm đê chài, da ông hăng hắc mùi biển mặn. Tôi rất thích dựa vào người ông để hít thở cho kì hết cái vị ấm nồng ấy. Điếu thuốc rê vấn víu trên tay, ông đưa lên phà làn khói mảnh dấu xóa những bóng thuyền xa xa. Một buổi chiều yên, ráng hoàng hôn nhuộm tím bao đầu sóng lơi lả vỗ lên bờ. Tôi ngồi bên ông, nhìn biển. Ông khoác tay lên vai tôi như khoác lên vai một người bạn đồng thuyền.
“Chớ thấy non cao mà sấp mặt, thấy biển rộng sông dài mà xoay lưng!”, ông nói.
Tôi gật đầu nhìn ông.
“Rồi cháu sẽ gánh vác công việc của biển cả.”
Ông rít điếu thuốc.
“Đó là sự vinh quang.”
Tôi trầm ngâm.
“Cháu đã vạm vỡ ra rồi đấy. Ngày kia cháu sẽ được cha cho ra biển.”
 “Thật không ông?”, tôi mừng quýnh.
Bầu trời trôi nhẹ trên đầu, tôi cố xua tan đi lớp lớp mây đen bằng hồi ức của những cơn gió thổi nghiêng hàng dương cuối làng.
“Cháu biết biển đang làm gì không?”, ông nhìn tôi, hỏi.
“Nó chuẩn bị đi ngủ đấy ông ạ.”, tôi nói.
Ông cười hiền từ:
“Không, biển đang hát đấy. Cháu nghe xem. Biển nói với chúng ta rằng: “Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn.”
Một tiếng bước chân lọt thọt sau lưng. Tôi quay lại, dáng lão Thoại nhem nhuốc trong khoảng tối chạng vạng. Lão buông tiếng.
 “Ông về lúc nào thế? Trên ấy có vui không?”
 Không ai trả lời. Lão ngồi đánh phịch xuống bên tôi, móc chai rượu đế ra uống suông.
 “Họ sắp đến phải không ông?”, lão hỏi ông tôi nhưng chỉ có tiếng sóng gào đáp lại.

*

Đúng như lời ông nói. Hai hôm sau, cha kêu tôi vào nhà pha ấm trà. Cha bảo sẽ cho tôi ra biển cùng cha. Tôi mừng quýnh, chợt nhớ đến ông nhưng chẳng muốn kể điều gì về ông cho cha nghe cả. Cha trầm ngâm, nhìn về Hòn Rùa, cha nói.
 “Trên đó đầy máu.”
 Tôi lập tức dập ngay cái ý nghĩ nằm trên tảng đá phẳng ngắm nhìn trăng sao.
“Rất nhiều người đã chết ở đó.”
 “Ai hở cha?”
Cha châm điếu thuốc hút. Khói thuốc phả vào tóc cha, trong thoáng chốc tôi cứ nghĩ cha bước ra từ sương khói.
Chiều hôm đó, cha nói muốn thử sức tôi. Muốn đi biển phải gánh được thuyền nan, gánh không được thì ở nhà nhé. Tôi lọ mọ đi theo cha ra Bãi Lạc. Thuyền nhà tôi nằm đấy, vạm vỡ trong nắng chiều. Cha bảo tôi kê vai một bên mạn thuyền, ở đấy đã có một kèo gỗ nhô ra để tỳ vai.
 “Con nâng lên thử nhé”, cha nói. Tôi vận hết sức mình, nâng thuyền lên như nâng một khối đá. Cũng may tôi bơi biển hằng ngày, hai ba tiếng liên tục vẫn không biết mệt là gì. Vậy mà khi nâng thuyền vai tôi đau điếng, xương như muốn nhũn ra. Cha bảo.
 “Xoạc chân ra, đứng thế tấn mới vững được.”
 Tôi làm theo, quả nhiên thấy vững hơn. Cha hô một tiếng, vai tôi nhấc thuyền lên được một khoảng.
 “Khá lắm, cha khen, xoay nhé!”
Tôi chẳng biết xoay là gì. Cha hét lên cho tôi nghe rõ.
 “Cha làm trụ, con xoay thuyền đi!”
 Tôi nhớ những động tác mỗi lần mang thuyền ra khơi của những ngư dân làng tôi. Vai tôi gồng lên, một lực đẩy như sóng vỗ lên thân tôi, hai chân xoạc tấn rồi khép lại, tôi thoăn thoắt đi xe trên cát, xoay một vòng tròn trong khi cha bình thản đứng một chỗ. Thuyền nan đặt xuống, cha cười hiền. Tôi cũng cười. Vậy là vai tôi đã đủ cứng cỏi đứng thành trụ một bên giúp cha nâng thuyền ra biển, tay tôi đủ sức cuốn lưới đầy cá. Cha bảo tôi.
 “Khuya đi biển với cha. Đi quen cha sẽ cho đi tàu xa bờ. Ngoài ấy hay lắm.”
 Rồi cha bảo tôi đem mâm lễ theo cha lên miếu Mẹ Thai Dương xin ra biển.
Ba giờ sáng hôm sau, cha đánh thức tôi dậy. Tôi vác dầm, lưới đi trong trời đêm đầy ánh sao. Cha con tôi và hai người khác trong xóm gánh thuyền nan ra biển. Trời tối đen như mực. Khi thuyền ra xa độ 10 hải lí, mẻ lưới đầu tiên kéo lên. Mẻ lưới đầu tiên đời ngư phủ của tôi. Cha nói.
 “Con thử kéo đi.”
Tôi vận hết sức mình tời lưới. Lúc ấy, những tia bình minh đầu tiên le lói mặt biển. Lưới đã sát thuyền. Một đàn nục, ớt mó, ghẹ đỏ, tôm càng chen chúc nhau nằm trong lưới. Tôi hét lên.
“Con đánh lưới được rồi!”
 Cha cười hiền hậu. Cả ngày hôm đó, thuyền chúng tôi còn cất ba mẻ nữa, đánh đến khuya thì cá đầy khoang, chúng tôi quay thuyền vào bờ. Trời vừa hửng sáng. Tôi nhìn xuống đại dương thăm thẳm một màu, mắt ngóng đoàn người kì lạ nhấp nhô trên biển thuở trước sẽ hiện lên. Cứ như thể sự tưởng tượng ấy sẽ cho tôi một kí ức nào đó về hồng hoang biển.

*
Cha hứa tháng sau sẽ cho tôi đi chuyến đánh bắt xa bờ bằng tàu công suất 650cv. Tôi mừng thầm, chợt nhớ tới chuyện Hòn Rùa và cái trứng ngỗng xấu xí kia, tôi hỏi cha. Cha bắt đầu kể về Hòn Rùa bằng một thứ giọng cương mãnh, rất đỗi tự hào. Làng Việt Hải êm đềm tận hưởng cuộc sống của một làng chài sung túc. Đầu thời Nguyễn, các đảng cướp Tàu Ô bắt đầu hoạt động mạnh dọc duyên hải nước ta. Một ngày kia, chúng đổ bộ lên làng Việt Hải cướp bóc. Quan binh ở xa, dân làng tính thế chống không lại được liền rủ nhau chạy lên Hòn Rùa trú ẩn. Chúng đuổi theo truy sát, rất nhiều người đã chết trong rừng dương cổ thụ. Toàn bộ tài sản của cả làng bị chúng cướp sạch, đốt sạch. Bọn Tàu Ô ấy máu rất lạnh, hễ ai chống cự liền bị chém chết ngay. Người làng Việt Hải không sợ sóng sợ gió nhưng lại sợ cướp. Liệt tổ của con khi ở trên đỉnh Hòn Rùa đã nói.
 “Chúng đốt nhà, ta đốt tàu.”
 Nói xong tập hợp những tráng đinh khỏe nhất, bơi lội giỏi nhất theo liệt tổ xuống bái yết Mẹ Thai Dương xin phù hộ. Đêm đó, bọn Tàu Ô ăn uống, phá phách thỏa thuê trong làng. Thừa cơ đó, những dũng sĩ Việt Hải lặn xuống biển bơi ra tàu. Chỉ trong tích tắc, mấy chiếc tàu gỗ lớn của giặc Tàu Ô bốc lửa cháy phừng phực trong đêm. Chúng tức mình kéo nhau lên Hòn Rùa định trả thù. Lũ Tàu Ô thật ngốc, chúng không đi bằng doi cát mà đi qua miếu Mẹ Thai Dương. Ngôi miếu đêm đó bỗng phát ra ánh sáng xanh huyền ảo, hào quang của ngọc thể Mẹ. Giặc tranh nhau vào cướp, tên chủ tướng lúc ấy mới ra uy bảo đem hòn đá lại. Hắn lấy rìu bổ mấy nhát vào khối đá vì nghĩ trong ấy có ngọc. Đá vừa vỡ tan từng mảnh nhỏ, hắn cũng hộc máu chết tại chỗ. Tôi mới hiểu vì sao ngọc thể Mẹ bây giờ rời rạc từng mảnh thế kia. Mẹ Thai Dương đã trừng phạt hắn, bảo vệ con dân của làng. Đám lâu la sợ quá bỏ chạy ra ngoài. Trời tối như bưng, chúng va vào nhau, ngã đập đầu vào những vết chân rùa đá đen. Liệt tổ khi ấy dùng ốc u thổi vang kiêu hùng, hô hào dân làng ném đá, phóng lao xuống. Nhiều tên gục chết tại chỗ. Bọn còn lại cuống cuồng bỏ chạy. Sáng ra, dân làng xuống miếu, một vùng biển loang đỏ. Người làng thấy tội nghiệp khiêng xác chúng lên chôn sau Hòn Rùa, máu thấm khắp núi.
Lão Thoại khi ấy đi qua con ngõ nhà tôi, miệng lẩm bẩm.
“Họ đã đến đấy, đến thật rồi!”
Ngắt quãng, lão lại than, “Khốn!”, rồi đi mất.

*

Thi thoảng Mẹ lại lên gặp tôi với đôi mắt buồn da diết. Mẹ như một dáng liễu mỏng manh, dung nghi cao quý, chầm chậm bước dọc Bãi Lạc rồi đi vào bến miếu. Ở đó có hòn đá đen tôi ngồi mòn suốt tuổi thơ, chỉ vì muốn được gặp Mẹ, Mẹ là thật, không phải là chiêm bao. Hôm đó, Mẹ mặc một chiếc áo Nhật Bình màu phỉ thúy, có thêu loan ổ, đầu đội khăn vành, lưng khoác áo choàng màu đỏ tía, đi hài thêu loan. Gió mặn tạt từng tiếng kêu gào lên dáng Mẹ. Một tỳ nữ mặc áo dài rêu, tay cầm lọng đỏ theo hầu. Xa xa, đoàn tùy tùng với cờ lọng, nghi trượng nhấp nhô trên sóng nước. Một tiếng ốc ù rền thiết bi ai, át đi cả tiếng gió gào, sóng dội.  m thanh kéo dài, đâm xuyên qua hàng dương Bãi Lạc, khảm sâu lòng người nỗi sầu lụy của đại dương xanh thẳm. Tâm trí tôi như làn khói mảnh, tản ra bốn bể mênh mông.
“Con sẽ dong buồm ra khơi chứ?”
Mẹ hỏi.
“Dạ, con…”, tôi bỗng im lặng.
“Biển là tặng vật”, Mẹ nói.
“Dạ.”
Mẹ lại hỏi, “Con muốn gì nào?”
Tôi buột miệng nói, “Con tàu sắt có quả đấm thép. Mẹ cho con được không?”
Mẹ nhìn tôi cười.
“Rồi con sẽ có được hơi thở mát trong của biển.”
Tôi nói như van xin.
“Lâu rồi con không gặp ông nội”
Mẹ cười, “Ông luôn ở bên con mà.”
Nói xong, Mẹ đi vào miếu. Màn đen nhập nhoạng xuống nhanh, kéo theo chút mơ hồ trống trải. Tôi bước nhanh về nhà, để không phải làm phiền Mẹ nữa, Mẹ Thai Dương đầy ân huệ.

*

Cha nói, “Ông là người rất vĩ đại.”
Ông có thể bơi cả ngày mà không biết mệt. Thời trai trẻ, có lần ông bơi ra tận hạm đội xa tới bốn năm hải lý chỉ để xem chúng trông hiện đại thế nào. Ông luôn ở bên tôi ngày bé. Giờ lớn rồi tôi chợt nhớ lời ông “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, nhớ cả tấm địa đồ thủy khí mà ông tìm được, duy nhất hiểu được.
Có lần, tôi hỏi ông.
“Địa đồ thủy khí là gì thế ạ?”
“Bảo vật để trấn biển?”
Tôi dạ vâng.
Năm tôi bảy tuổi, mấy tháng trời làng tôi thất bát, thuyền về không cá, người đi không về. Biển xâm thực nhiều chỗ dọc Bãi La, nhiều hộ phải chuyển nhà. Dân làng Lạc Dương bên cạnh bảo Hòn Rùa tỏa ánh đỏ, nhìn vào rất đau mắt mỗi đêm. Khi sóng còn cách nhà tôi một khoảng ngắn đủ để thấy hơi nước bay vào trong nhà, ông bái lạy tổ tiên, lấy tấm địa đồ thủy khí ra. Ông ngồi như vậy suốt một ngày trời không ăn uống. Hôm sau, ông xách một giỏ đi lễ Mẹ, vai vác thêm cuốc, xà beng đi về phía Hòn Rùa. Tôi khi ấy còn nhỏ, ông bảo ở nhà, ông về sẽ cho quà. Ngày hôm đó, tôi ngồi chơi, nghe một tiếng nổ nhỏ ở phía Hòn Rùa. Tối hôm đó, ông mình trần trùng trục về nhà, người ông toát ra mùi thơm kì lạ. Ông nói.
“Xong việc rồi. Làng yên rồi.”
Rồi ông lên giường nằm ngủ một giấc dài. Cha đi biển về chỉ còn biết quỳ lạy, khóc nức nở bên ông.
Người làng kể lại, ông lên Hòn Rùa dùng cuốc đào 4 hình nhân gỗ ở bốn góc mộ trứng ngỗng. Lại lấy xà beng cạy một thanh thép dài 4 thước sau quynh. Một tiếng nổ vang lên, nước phun lên cao mát rượi, một làn khí thơm lan tỏa quanh những hàng dương cổ thụ. Đêm đó, cả làng ngát thơm ngây ngất. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ mùi hương ấy. Sau ngày đó, sóng lùi xa nhà tôi, biển không còn xâm thực làng nữa, tôm cá về đầy thuyền, làng Việt Hải vui đời sống mới. Cả Hòn Rùa xanh màu ngọc bích, đêm đêm tỏa sáng như một ngọn hải đăng mà người làng Lạc Dương quả quyết thấy rõ ràng sau cái ngày ông tôi lên phá yểm. Hòn Rùa mãi xanh ngát một màu cổ sử. Tôi muốn gọi tên những cơn mơ đầy hà bám.

*


“Con tàu sắt có quả đấm thép.”
Tôi đừng ước mơ như thế. Gần đây biển dậy sóng. Tàu làng tôi hễ ra biển là gặp họ, đông như kiến cỏ, hung hãn và cường bạo.
“Con muốn ngồi trên con tàu sắt có quả đấm thép”, tôi nói với cha. Cha tôi gật đầu đồng ý.
“Con nhớ trở về, đừng như ông nhé!”, giọng cha chợt mặn chát.
Một bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi. Một hơi thở mạnh phả vào gáy tôi, ngập ngụa mùi sóng, gió, mùi của đau thương, mùi của chia lìa, chua xót.
“Họ sẽ đến. Nhưng họ sẽ phải cút đi. Bọn cướp nước. Tay tao chưa bao giờ chịu buông súng xuống! Tao thề đấy, khi tao còn ở đảo.”
Hơi thở ấy tản ra. Tôi quay lại, bóng lão Thoại liêu xiêu đi trên cát. Lão đang nấc lên cho nỗi cay đắng ngoài kia, nơi lão cũng từng là một chiến binh dạn dày sóng gió và đã ngậm ngùi khi họ đến. Sóng vỗ dưới chân tôi, những con sóng giấu lửa.
Một tiếng ốc u xa vắng chiêu hồn tôi trong đêm tối. Tiếng ốc u kiêu hùng đã thổi mòn những bãi cát vàng, phiêu diêu cùng những chiến thuyền giong buồm ra bể. Hồng hoang biển mở ra trước mắt một màu xanh phẳng lặng. Con tàu không còn mắc cạn trong bóng mắt những kẻ chỉ biết đợi chờ.
Ngày mai, tôi ra khơi.

 LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG


Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỌ Ở ĐÂU NHỮNG NHÀ THÁM HIỂM ?



Nhà thám hiểm thường khi đơn độc
Rất ít khi có mặt chốn đông người
Trong cuộc phiêu lưu 
kiếm tìm vô vọng
Bạn quanh năm với nắng gió mây trời
Bản hợp đồng kí với thượng đế không bao giờ thay đổi
Không thể bổ sung
hay thêm bớt điều nào
Đường sinh tử mặc định từ kiếp trước
Dẫu có luân hồi cũng chỉ vậy thôi!
Họ chẳng có gì ngoài trái tim nhạy bén
Đôi mắt nâu chan chứa nhân tình
Hành trang mang theo là những nỗi lo ám ảnh
Không phải cho mình
Mà cho mai sau
Lạ một nỗi vua chúa thường không thích
Với đám người kia
tệ hơn gái chung chồng
Vua chúa sợ những tìm tòi một buổi chiều nào đó
Làm nghiêng đi chao đảo ngai vàng
Nhà thám hiểm trở thành tội nhân gớm giếc
Dù anh ta chẳng thủ đoạn âm mưu
Không gài bom,
chẳng hề mang độc dược
Đánh cắp niềm tin hay định thoán ngôi cao..
Nỗi cô đơn của họ làm người đời e sợ
dù cũng không may
Không hạnh phúc bao giờ
Hình như bây giờ họ xa lắm..nơi nào trong vũ trụ?
Trên mặt đất này thành thử lắm hoang vu..

Phần nhận xét hiển thị trên trang