Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

LÃO ĐẠI VỀ QUÊ


Truyện ngắn Hồng Giang.
Lão Đại đặt mình nằm xuống một lát là gáy pho pho. Hình như lão còn nói mê lảm nhảm gì nữa mà Lân không nghe rõ. Nỗi ám ảnh, hãnh diện về tài ăn nói của mình khiến cho “cơ quan ngôn luận” của lão làm việc cả khi đi vào cõi ngủ.
Căn phòng vôi màu vàng úa, trần cao lại hẹp. Có cảm giác như ở dưới hầm vì rất bí do không có cửa sổ.
Câu chuyện của lão Đại lúc hai người vào phòng này khiến Lân cứ có cảm giác gờn gợn. Lão bảo khi trước chỗ chợ này vốn xưa gọi là xứ Đông, toàn những mả là mả. Cỏ may hoa tim tím mọc rất nhiều, xen lẫn những cây cà gai có vuốt sắc như móng mèo.
Hồi bé lão thường hay ra đây bắt cào cào, châu chấu, chơi đá dế với đám trẻ con trong làng. Hôm nào về, hoa cỏ may cũng bám, dắt đầy vào hai bên ống quần. Sợ mẹ mắng trước khi về, lão phải lấy mảnh trai,mảnh sành nạo hết thứ cỏ tai quái nhọn một đầu bám vào vải rất chắc ấy đi. Nếu nhặt từng cái một chả biết đến bao giờ mới xong?
Vật đổi sao dời, sau ngày lão đi xa, người ta quy hoạch lại. Chợ ngày xưa họp ở xóm Đình, chỗ ấy đất hẹp, không thể để ở đó tiếp tục được nữa nên mới chuyển về đây.
Một trong số yếu tố của “kinh tế thị trường có định hướng” là phải mở mang chợ búa. Cần nơi đất rộng, tiện bề giao thông để mở, thế là người ta nghĩ ngay đến chỗ này, rồi mang nó về đây.
Bữa cơm chiều vừa rồi ông em trai lão kể, Lân mới biết như thế.
Nửa phố, nửa làng, chợ sát ven đê, các ki ốt dày đặc, người đến , người đi tấp nập. Mùi thịt nướng, cá rán từ các quán nhậu cạnh chợ bay ra thơm nức. Cả mùi cá tanh tanh, mùi thịt nồng nồng, mùi hoa quả thoảng thơm, mùi những cô nàng choai choai..Tạo thành hỗn hợp hương vị rất đặc trưng của vùng ven đô. Không ai ngờ bên dưới những đường nhựa, nền ki ốt lát gạch hoa kia lại vốn là nghĩa địa chôn người.
Cái cảm giác phân vân, sờ sợ khiến người ta nghĩ ngay đến việc liệu dưới lớp đất của nền chợ nhơm nhớp này, có còn sót bộ hài cốt vô chủ của ai đó quên chưa di rời đi nơi khác hay chưa?
Lân không có thói quen đi nghỉ sớm. Ở nhà giờ này anh đang xem ti vi, đọc sách hay viết cái gì đó. Giờ đi cùng lão, phải làm theo là lẽ dĩ nhiên. Có ngồi nói chuyện với chủ nhà cũng chả biết nói chuyện gì. Mới lần đầu gặp gỡ, câu chuyện thật khó nói. Nặn ra cho cho có chuyện anh không thích và cũng không quen. Lão kêu mệt muốn đi nằm sớm, anh cũng theo luôn, dù chưa muốn ngủ sớm hơn mọi ngày.
Ở góc phòng anh có thấy kê một tủ sách khung bằng nhôm, ghép kính bốn mặt. Nhìn rõ phía bên trong những cuốn sách dựng nghiêng, để lộ gáy ra ngoài. Ngọn đèn tiết kiệm điện không nhìn rõ chữ trên gáy sách. Nhưng qua hình thức bề ngoài Lân đoán đó là loại sách công cụ, dạy tiếng Anh, dạy nấu nướng, dạy cách làm giàu gì gì đó.. Toàn những thứ thời thượng một cách nông nổi, tràn lan, vội vã đang thịnh hành ở những phố thị vừa mới nổi. Thứ sách cho quảng đại chứ không phải nghiên cứu, chuyên sâu.
Cạnh tủ sách có giàn máy vi tính đời đã cũ. Bàm phím mốc meo, sứt cả con chuột. Một sợi dây cáp điện nhỏ bị đứt, thả lòng thòng ngay phía bên trên cái máy tính.
Có thể đây là phòng riêng học tập của cậu con trai chủ nhà. Cái thằng có cái sẹo dài ngang mặt. Có lẽ từ ngày bị tai nạn giao thông, cậu ta chả màng đến sách vở hay máy vi tính để ở kia nữa?
Lúc Lân cùng lão Đại đến buổi trưa nay, chính cậu con trai chủ nhà ra đón. Khi đi rửa chân tay sau chặng đường dài bụi bặm, lão Đại kể cho Lân nghe đôi chút về cậu ta như để cắt nghĩa vì sao có cái sẹo trên mặt:
- Năm ngoái thằng thứ hai nhà này đưa nó lên cho chạy xe. Không may xe nó bị đổ, không chết ai, nhưng nó bị tai nạn phải nghỉ về đây bán hàng cho mẹ nó. May lại lấy được cô vợ giáo viên xinh xắn giỏi giang. Vụ ấy anh đến khốn khổ với nó đấy!
Lão chỉ kể có thế, nhưng mà vụ này Lân biết.
Chuyến ấy thằng con tổng giám đốc của lão mất toi cái xe tải, loại xe “ba chân” siêu trọng. Hầu hết những chuyến hàng “chưa đúng thủ tục” đều chạy về đêm, gần sáng, tốc độ cao vào những đêm trời mưa. Đường trơn, ổ voi ổ gà ngập nước lênh lánh chả biết đâu mà tránh, bánh xe không bám đường, xe lại chở nặng, chuyện mất lái gần như không cần bàn cãi.
May mà thằng cháu gọi lão bằng bác mệnh nó lớn mới giữ được mạng. Sau chuyến đó chuyện chạy chữa, bồi thường của thằng anh đối với em có điều gì đó “chưa thông”, ông em với lão có vẻ không còn mặn mà đằm thắm với nhau như trước.
Đó là lý do lão đã gọi điện báo tin từ lúc ở nhà đi, ông em vẫn lấy lý do bận đưa người ra thành phố chữa bệnh, không có nhà đợi ông anh về.?
Đến nơi Lân thấy bà em dâu lão khang khác. Bữa cơm trưa sơ sài được bày ra để thết đãi ông anh “Đại gia” cả năm cả đời về quê chơi.
Lão nói như để chữa ngượng: “Anh không muốn vợ chồng chú ấy bày vẽ. Mình đâu có thèm thuồng gì? Lại đang lo bệnh gút với tiểu đường nên phải dặn thím ấy cấm có được làm cỗ. cứ xoàng xoàng như cơm rau, bữa bình thường.. Ăn thế nào chả xong, phải không chú?”
Lân biết lão nói vậy để chống chế, chữa ngượng vì suốt dọc đường lão luôn mồm ca ngợi anh em nhà lão nhờ phúc lớn tổ tiên, anh nào cũng vào hàng “đại gia” cả, lại lịch duyệt, hiểu biết, cư xử chả ai có thể chê trách vào đâu được”.
Mình đâu có nề hà miếng ăn? Lân nghĩ bụng. Nhưng anh cứ thấy việc này nó sao sao ấy, chả giống như lão vẫn thường mô tả trước khi về đây?
Hay là bọn “đại gia” ở đâu cũng vậy, đều keo kiệt, bủn xỉn, giả tạo giống nhau? Họ chả bao giờ thết đãi ai không vì cái gì, khi chưa chắc chắn nắm được mối lợi vật chất hay tinh thần nào?
Như người xưa nói: “Có bạc mới giầu, có cơ cầu mới có”?
Thế nhưng, có một việc làm Lân sửng sốt. Buổi chiều sau lúc nghỉ ngơi chừng một tiếng, lão sửa soạn quần áo, chải lại đầu ( mà đầu lão hói quá đỉnh,chỉ còn lơ thơ vài cái tóc ). Lão nói với Lân:
- Chú sửa soạn đi, xem máy có còn phim không? Anh với chú ra xã một tí. ( Chỗ này có lẽ lão Đại chưa biết. Công nghệ cao rồi, ai còn chụp ảnh bằng phim nhựa như xưa nữa. Là kỹ thuật số. các file nén, chứa trong thẻ. Tiện lợi hơn công nghệ cũ thời thanh niên của lão rất nhiều ).
Lân thật bất ngờ. Anh nghĩ: “Chả nhẽ người quê về làng vẫn phải ra xã trình giấy tờ sao?”. Nhưng không phải. Những quy định như thế bây giờ người ta bỏ lâu rồi. Ủy ban không có thì giờ để xem xét những việc vơ vẩn như thế. Chỉ trừ khi có ai vi phạm quả tang, hay nghi vấn điều gì đó người ta mới hỏi đến giấy tờ. Còn ai muốn đến thì đến, muốn đi thì đi. Ai công đâu mà xét hỏi kẻ qua người lại cho mất thời giờ? Còn máy ảnh, kỹ thuật số rồi, có còn chụp phim nữa đâu, lão khỏi phải lo.
Việc ra xã là một việc khác. Lão muốn thể hiện với các nhà chức sắc địa phương, nhân thể thăm một vài người bạn thủa thơ ấu còn sống được đến giờ. Dọc đường lão kể năm kia năm kìa lão về làng từng đóng góp cho quỹ khuyến học, xây nhà tình nghĩa như thế nào?
Chủ tịch, bí thư xã là chỗ quen biết. Họ niềm nở đón tiếp như gặp người nhà. Còn tặng lão cuốn sách “truyền thống và lịch sử” của làng. Thấy sự đón tiếp có vẻ ân cần thái quá, Lân nghĩ ngay đến việc thể nào các vị cũng có chiêu trò gì đây?
Quả nhiên là đúng như vậy.
Khơi mào là tay thường trực văn phòng đảng ủy, rồi đến chủ tịch bí thư. Họ có ý muốn yêu cầu cha con lão hiến tặng cho xã một công trình nho nhỏ.. Lớp mầm non của xã đã xây dựng xong, nhưng chưa có tường rào và cái cổng ra vào.
Lân cứ nghĩ chưa chắc lão đã nhận lời vì số tiền để xây dựng theo như mô tả, với anh không nhỏ. Có khi anh vất vả cả năm chưa chắc kiếm được. Không ngờ lão gật đầu cái xoẹt! Lão lấy làm hứng thú khi mấy vị chức sắc trong xã nói:
- Nếu bác giúp cho xã thì không ai bằng. Xã sẽ ghi nhớ công lao đóng góp của những người con quê hương đi xa đối với xã nhà như gia đình bác. Ngoài cổng lớp mẫu giáo mầm non này chúng em sẽ ghi rõ: “Đây là phần đóng góp của gia đình ông Trần Đại hiện đang sống ở Tuyên Hóa”. Bảng lưu niệm này sẽ được đặt làm bằng đá hoa cương”. Bác thấy thế nào?
Lão Đại thêm:
- Nhưng kiểu dáng phải có sự nhất trí chung, các anh có đồng ý tôi mới tham gia?
- Vâng tất nhiên là phải như thế rồi. Chúng em sẽ gửi bản thiết kế lên để bác duyệt.
- Dự toán hết bao nhiêu?
- Chỉ độ nửa trăm thôi ạ!
Lão Đại phẩy tay, “ Chuyện nhỏ, nhất trí như thế đi”.
Lân lại bất ngờ. Tám mươi triệu mà lão coi như không.
Lão là chuyên gia cho người khác “Đi tàu bay giấy”. Thí dụ muốn khích lệ ai đó lão sẽ nói: “ Anh A, chị B đây là người có kiến thức sâu rộng. Tài năng xuất chúng, đầu óc tổ chức và làm ăn luôn trên cả tuyệt vời”! Bất luận người ta thực có những cái hay ho đó hay không?
Người đời ai chả muốn được ngợi khen? Chính Lân cũng một đôi lần từng được lão cho lên tàu bay kiểu ấy khiến anh ngượng chín cả mặt. Không ngờ hôm nay lão lại đến lượt được lớp “hậu bối”, chức sắc của xã đưa lên ngồi vào khoang loại máy bay như thế!
Họ hẹn ngay trong tuần này, họ sẽ lên để “bàn bạc” cụ thể trên quê hương thứ hai của lão. Lân nghĩ ngay đến ông em họ nhà sát cạnh ông em lão mà Lân đang nghỉ. Bà vợ ông này đang bị ung thư giai đoạn cuối, bệnh viện trả về. Người chồng tai biến mạch máu não, cứ ngơ ngơ như người không còn trí nhớ. Hỏi câu nào cũng cũng cười cười, ngơ ngẩn gật đầu. Mấy đứa con ông ta thấy lão Đại đến mừng cuống quýt. Chỉ nhìn ánh mắt biết là chúng hy vọng ở lão nhiều lắm mà chưa dám nói ra.
Lão Đại vẫn cười nói như không. Lúc về lão rút trong ví ra, đặt vào tay người em họ tờ một trăm ngàn.
Ra khỏi ngõ Lân nói với lão:
- Theo em thì bác cho ngay ông em chục triệu để bác ấy chữa bệnh có khi lại cần hơn bác chi tiền vào việc kia. Bác cho xã, liệu tiền ấy có được đem ra làm như họ nói hay lại vào túi người khác? Xây dựng các công trình công cộng, xã nào chả có quỹ nhà nước cho?
Lão cười khợ khợ: “ Chú chỉ biết một mà chưa biết hai. Anh em trong nhà ai chả thương, nhưng đừng để họ thành thói quen ỷ lại mình. Chỉ nên cho cái cần câu hơn là cho con cá.Họ tự cứu lấy mình là chính, sao cứ mãi trông hòng anh em? Còn việc công lại khác. Một khi anh đóng góp cả dân cả xã đều biết, tiếng thơm để muôn đời. Mỗi khi về làng cũng mát mày mát mặt. Cũng như của để dành, là thứ lưu danh mãi mãi” Thì ra thế! Cái tình của đại gia thiết thực hơn nhiều, không đơn giản như Lân nghĩ. Nhưng vẫn chưa hiểu lão Đại nói cho cái “cần câu” là cần câu như thế nào?
Hai người còn đến thăm vài ba chỗ nữa. Những ông giáo đã nghỉ hưu, ngày xưa cùng học hoặc cùng dạy với lão. Phần nhiều mấy ông này quên quên nhớ nhớ, gầy guộc, ốm yếu nom thảm hại hơn lão nhiều. Chả có ai về già lại vượng tướng được như lão.
Có một ông đại tá công an đã về hưu. Con cái ông này còn có mỗi một đứa, lại không có nhà. Bà vợ bị sơ gan cổ chướng bụng phồng như người đang có mang, mặt khô như cái mo, cứ nhìn lão ưa ứa nước mắt.
Ngày xưa đã có thời lão từng là người theo đuổi bà. Dạo đó lão nghèo, chỉ là anh giáo làng kém xa ông chồng bà bây giờ, quyền cao chức trọng.
Đúng là không ai học được chữ ngờ. Cảnh nhà vị đại tá này chỉ nhìn qua là biết đang cơn túng quẫn. Thời buổi này rồi, trong nhà vẫn đang dùng cái ti vi đen trắng. Cửa rả long hết bản lề, xiêu xiêu vẹo vẹo, chẳng cần sửa. Chuyện ông con, lúc đầu đại tá còn giấu. Nói chuyện một lúc mới than thở, hở ra là anh ta đang cai nghiện ở công trường 06.
Ở chơi nhà này là lâu nhất. Tình yêu là cái gì day dứt, ám ảnh người ta lâu dài nhất trong đời. Cả khi người yêu đã đi với người khác thì kẻ thiệt tình kia vẫn dõi mắt trông theo. Duy nhất chỗ này lão Đại cho quà tới hai trăm ngàn. Ông đại tá có vẻ ngượng ngịu, sau nói mãi mới chịu cầm
Ra đến đình lão Đại mới kể hết cho Lân nghe chuyện nhân vật này. Chẳng ai ngờ người quyền cao chức trọng như vậy lại có ngày hôm nay.
Bà vợ ông đại tá hẳn khi lão Đại đã về thế nào cũng lăn phăn suy nghĩ. Bà thật chẳng ngờ anh giáo ngày xưa người mỏng như con mõ mương, chuyên mặc quần có miếng tích kê ở đầu gối, lại như ngày hôm nay.
Phải có phép thần nào mới biến một con người như thế trở thành đại gia, có ba thằng con trai làm đến giám đốc tổng công ty. Người mắc bệnh như bà tỉnh táo đến lúc chết. Bà sẽ phải mất ngủ nhiều đêm vì chuyện này.
Người ta có thể làm lại nhiều việc, nhưng không thể làm lại cuộc đời. Cuộc đời là cái gì đã qua, hẳn đã qua. Nói làm lại chỉ là cách nói hàm hồ nếu không nói chỉ là sự an ủi động viên chả có mấy giá trị!
Ngoài đình ông từ đi đâu vắng. Thành thử hai người chỉ đi lanh quanh một hồi, không vào thắp hương được như mọi lần lão về.
Không biết có phải đúng như vậy không? Nhưng sáng sớm hôm sau xảy ra một việc, mỗi khi nhớ đến cả lão và Lân đều áy náy trong lòng..
Lơ mơ lan man chuyện mới, chuyện cũ, chuyện gần, chuyện xa.. như một tấm lưới đan hỏng, khiến Lân mệt nhoài.
Lại sau một chặng đường xa chở đằng sau lão Đại nặng gần một tạ, luôn căng thẳng đầu óc dọc đường. Anh đi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Mà người ta chỉ ý thức được lúc tỉnh thức dậy, chứ có ai biết mình bắt đầu đi vào cõi ngủ khi nào đâu?
Có thể coi khi ấy như một trạng thái lâm sàng, tim vẫn đập, mũi vẫn thở nhưng không nhận thức được xung quanh, nhận thức được bản thân.
Là lúc cõi vô thức sâu thẳm hoạt động với một số người, dù có muốn cũng không thể kiểm soát được. Có thể đó là những ám ảnh từ kiếp nào đó còn để lại dấu vết hoặc những chấn động tinh thần quá sâu sắc, nặng nề.
Có khi chỉ là những hình ảnh, âm thanh, câu chuyện ngẫu nhiên không biết nguồn gốc từ đâu? Những mảng “hình tư tưởng” trôi dạt từ một thế giới lạ lẫm chưa hề quen biết.
Lân mơ thấy hàng đoàn voi chiến băng qua sông, nước sông bị voi uống gần cạn. Có chỗ trơ đến tận đáy. Rồi những đoàn người đóng khố, cởi trần, tay cầm giáo, cầm khiên miệng la hét, sùi cả bọt mép. Có mấy viên tướng lông mày dựng ngược, mặt đen chôn chảo, tướng dữ dằn, quất ngựa đuổi theo Lân. Anh càng chạy, ngựa mỗi lúc lại càng theo sát gần. Bỗng Lân vấp phải một gốc cây, khiến anh đau điếng..
Lân bàng hoàng thức giấc..Té ra anh vừa đạp phải cây cọc màn ở góc giường, chân vẫn còn buốt như đạp phải mảnh chai.
Quay sang bên cạnh, Lân không thấy lão Đại đâu?
Lão đi đâu giờ này?
Ánh sáng ngọn đèn ngủ đủ để cho Lân thấy cửa phòng đang để mở. Rõ ràng là trước khi ngủ anh đã cài cẩn thận rồi kia mà?
Có thể lão dậy vào toalet? Nhưng đèn trong ấy tắt, chắc không phải.
Lân xỏ dép đi ra cửa. Thì ra lão Đại đang mặc độc chiếc quần lót đang cặm cụi đi đi lại lại dọc theo hành lang. Nom rất vất vả bởi cái bụng ngoại cỡ chình ình của lão. Với người già cử chỉ này thật không bình thường.
Tuy quen biết lão Đại đã lâu, anh chưa thấy như vậy bao giờ. Chờ cho lão lại gần, Lân mới hỏi.
Lão bảo từ sau khi bị tai biến mạch máu não, thêm bệnh tiểu đường lão thường ít ngủ. Đêm nào lão cũng chỉ ngủ được vài tiếng. Lúc mới nằm là ngủ được ngay, nhưng giấc ngủ không sâu.
Mỗi lần như thế, lão lại phải đi bộ cho đến lúc mệt nhoài, để sau đấy ngủ thêm giấc tiếp theo. Một mình trong đêm, lão bảo cảm thấy rất buồn vì chẳng thể rủ được ai đi bộ cùng cho có bạn. Ngoài lão ra thử hỏi trên đời này có ai lại chịu khó “vận động” vào lúc đêm hôm khuya khoắt như thế ? Nhưng không tập là trằn trọc, không ngủ lại được.
Tự nhiên Lân thấy tội nghiệp lão. Vì giấc ngủ, vì lo cho sự sống, đêm nào giấc ngủ của lão phải huỳnh huỵch, thở hồng hộc, đi lại kiểu tàu quả lu “như đánh vật” một đêm mấy lần thế này, quả là quá gian nan!
Đó là sự cố gắng lặng lẽ, âm thầm để kéo dài sự sống. Lão chưa muốn ra đi khi đống của cải to lớn, lão từng khổ công gom góp cả đời, còn rất nhiều gửi lại nơi thế gian này. Khổ thế chứ khổ nữa lão cũng cam lòng!
Lão ngồi xuống giường, lấy khăn bông lau mồ hôi, lại cắm cúi đi tiếp.
Thì ra giàu có, thành “đại gia” rồi, con người ta vẫn chưa hết khổ! Lần đầu Lân hiểu được “Đại gia” cũng có nỗi thống khổ riêng của mình!
Sống đâu phải là chỉ rong chơi như người ta nói, khi tuổi trẻ không còn? Không phải vô tình mà người ta gọi cõi này là cõi ta bà, cõi trần ai!
Từ lúc thức dậy Lân không sao nhắm mắt ngủ được nữa. Trong khi đó, lão sau một hồi đi đi lại lại chừng nửa tiếng lại nằm. lại gáy pho pho.
Lân hối hận là đã vội vàng nhận lời lão đi chuyến này. Trong lúc anh còn cả đống công việc đang chờ ở nhà.
Sáng sớm, chưa đến sáu giờ lão đã gọi Lân, giục đi ngay. Lão bảo để xe ở nhà, hai anh em sẽ đi “xế hộp” cho nó an toàn. Lân nghĩ nhà lão hơn chục con xe bốn chỗ ngồi, cái nào cũng bóng loáng, bạc tỷ cả. Đi xe lúc nào với lão chả khó khăn gì. Nhà nước mà cho dùng máy bay riêng, chưa biết chừng nhà lão đã mua rồi, xe đẹp chả là cái cục gạch gì!
Nguồn lâm sản, khoáng sản của cả một tỉnh từ lâu nhà lão đã có phần.
Kẻ ghen ăn ghét ở nói: “Đại gia ở tỉnh mình, hầu hết là bọn lưu manh cấu kết với quan chức” đều là sự bịa đặt! Nói mà không biết xấu hổ, không biết nghĩ. Đúng là bọn nông cạn, chưa hết cái mùi tanh tiểu nông “sản xuất nhỏ”..
Sao chúng chả câu kết mà hưởng nguồn lợi, trở thành “đại gia” hết cả đi?
Nếu không có tài năng, liệu nguồn lợi ấy có chảy vào nhà mình không? Cũng đầy những tay cai thầu máu mặt, đầy vị có chức có quyền mà vẫn ngồi mà thèm, mà rỏ rãi nhìn đấy thôi.
May mắn chỉ là một phần. Cái chính vẫn phải “nhờ hồng phúc tổ tiên”. Bản thân phải biết tùy cơ ứng biến, khôn khéo và linh hoạt. Có lần nói về nguồn gốc đại gia của mình, lão tâm sự với Lân như thế. Lão bảo “Giàu có số”.Không thể cố mà giàu. Lân thấy cũng phải.
Lão chỉ tự hào là đã định hướng “tốt” cho các con nên mới có ngày hôm nay. Chứ không chịu nhận là khéo quan hệ, làm ăn kiểu xã hội đen. Nếu lão không nghỉ hưu sớm, chớp lấy thời cơ, đàn con lão bây giờ chắc không hơn con người khác.
Biết chúng nó học tầm thường, lão đã phải chuyển hướng, sắp xếp đường đi nước bước cho từng thằng. Bây giờ kể cả anh học giỏi, học hay, bằng cấp đầy mình cũng chả hơn gì con lão về mặt kinh tế. Có anh còn phải xin đám, vật nài mãi mới được các con lão nhận cho vào làm dưới trướng. Đâu phải chuyện đơn giản?
Nếu biết đèo nhau đi đường xa như vừa rồi, chắc Lân đã thoái thác. Chả ai dại gì chở một ông già từng bị tai biến ngồi sau xe, đi cả trăm cây số. Lỡ có bề gì thì sao?
Mãi sau anh mới biết lão chọn cách đi xe máy là có dụng ý riêng, hoàn toàn không phải vì hà tiện, hay sợ ảnh hưởng đến công việc của mấy thằng “tổng giám đốc” con lão.
Nếu chúng đưa đi, tất nhiên, tới đâu chúng cũng phải kè kè bên cạnh, như người giám hộ, ý định ghé qua “ngã ba sung sướng” làm sao thực hiện được? Khác nào có người dẫn giải, canh chừng?
Dự định là đi năm hôm mới về. Nhưng tự dưng Lân cảm thấy mất hào hứng. Một vài cái gây phản cảm khiến anh nản lòng. Không biết ở nhà có chuyện gì, trong lòng bồn chồn bứt dứt không yên. Từ buổi chiều hôm trước Lân đã nói với lão Đại là ở cơ quan có việc phải về gấp. Lão có vẻ không bằng lòng, sau rồi cũng chiều theo.
Vợ chồng ông em lão bảo cứ để sáng ra thong thả, ăn sáng xong bác hãy ngược. Chả biết nghĩ thế nào mới hơn năm giờ sáng lão đã gọi Lân dậy, bảo đi ngay cho nó mát! Gặp chỗ nào ăn sáng chỗ ấy.
Vầng, đi thì đi!
Lân dắt xe ra cửa. lão Đại vỗ vai, dặn chủ nhà gì đó anh nghe không rõ.
Đường đê đổ bê tông, vắng ngơ vắng ngác, chưa có ai qua lại giờ này. Thỉnh thoảng mới có một hai người đi chợ sớm ngược chiều. Nhưng lão Đại vẫn dặn:
- Cứ thông thả đi chú ạ. Anh em mình ra nhà nghỉ Linh Sơn chơi, mai hãy về.
Lân đang chạy xe nên không nói gì. Vả lại có nói lão cũng chẳng nghe thấy. Xe đang chạy ngon trớn. Bỗng phía trước mặt có con vật mờ mờ, đen đen đang chúi mũi chạy ngược chiều. Không phải lợn, không phải bò. Một con chó becgie gần bằng con bò con vừa được thả ra, chạy lồng lại. Lân đã có ý tránh nó, nó lại cứ nhằm thẳng phía anh. Đúng là đồ chó ngu và đểu! Chắc nó bị chủ xích phòng mất trộm cả đêm, giờ mới được thả ra, mừng cuồng lên, chạy bạt mạng đi tìm chỗ ỉa đái đây! Lân thoáng nghĩ thế, đạp phanh định dừng lại. Nhưng không kịp nữa rồi! Chiếc xe tông thẳng vào con chó, rồi vụt lên, như kiểu người ta đi mô tô bay! Lạ cái không nghe thấy chó kêu tiếng nào? Chỉ thấy lão Đại kêu “ối” một tiếng phía sau, có chuyện rồi, sau xe nhẹ bẫng đi..
Trước mắt Lâm là những cột mốc giới lề đường trắng xóa. Bên dưới kia là dốc cao. Xuống đấy là giã biệt cuộc đời! Lân cố gắng lấy lại tay lái, loạng choạng một lúc sau mới dừng xe lại được.
Anh vừa thoát hiểm nghèo trong gang tấc!
Lão Đại nằm một đống, co co hai chân, nghiêng người bên vệ cỏ. Người ở đâu đột ngột xuất hiện, nâng lão dậy. Không có vết thương ở mặt, chỉ có hai bên sườn xây xát khá nặng. Một nửa bàn chân lão đẫm máu. “Cũng còn may, xa ruột chán” Một người nào đó thốt lên. Phải khi khác, Lân đã vả cho tên đó một cái. Người ta đang đau, lại là người già..Ăn với chả nói!
Nhưng lúc này chính bản thân Lân cũng bị đau nhói chỗ cổ chân. Anh bị sai khớp mà chưa biết. Lân nhảy lò cò nhặt kính đổi mầu, điện thoại và cặp số lại cho lão. Mặt lão trắng bợt chả nói được câu nào, cứ rên rỉ lẩm nhẩm trong miệng. Cái vẻ hùng hồn, hùng biện mọi khi giờ thì biến đâu mất?
Thôi thế là đi tong cái cặp số kiểu “Đại gia” khóa bấm, đai viền mạ vàng, quai xách bằng ngà voi giả, hay bằng ngà voi thật Lân chưa kịp hỏi vì nghĩ không cần thiết phải tò mò như vậy, lão sẽ coi thường.. Cái cặp lão vừa khoe với Lân mới mua hơn ba chục triệu, gửi mua mãi tận bên Hồng Kông!
Nhưng đấy chưa phải là cái đáng tiếc và đáng lo vào lúc này. Chân cẳng lão đau thế kia, làm thế nào để đưa lão đi đến nơi, về đến chốn?
Lão nặng gần cả tạ, một mình chân cẳng thế này làm thế nào để lão ngồi lại lên xe đi tiếp được?
Đang lo. Chợt có hai tay mặc đồ thể thao, đi xe máy lại. ( Sau này Lân mới biết một trong số hai người này là có thể là chủ chó, biết chuyện chạy ra ) Một người giữ xe, một người ôm người, họ bảo Lân đi theo.. Xe chạy qua cánh đồng một đoạn, rẽ vào làng.
Trạm xá còn sớm, chưa ai làm việc. Một người bảo “cứ đưa thẳng đến nhà ông bác sĩ trạm trưởng. Nhà ông cũng có phòng khám, chả kém gì ở đây”.
Thời buổi chân ngoài dài hơn chân trong, chỗ nào chả thế? Nhưng bây giờ không phải là lúc bận tâm các loại chuyện này.
Lân đỡ lão lên cái giường một kê trong phòng khám. Bác sĩ xem, sát trùng, cắt bỏ miếng ra rách. Khâu. Băng lại. Lão Đại vẫn tỉnh bơ như không. Công nhận lão gan. Da thịt con người có phải gỗ đâu mà không đau?
- Cứ nằm một lúc cho nó ổn định đã, đừng đi ngay - Bác sĩ nói.
Lân ra cửa, tìm hai vị “hiệp sĩ” vừa rồi, chả thấy, các vị đã đi từ lúc nào? Dù sao cũng phải cảm ơn, úy lạo người ta một tí. Nhưng chỉ có mấy gốc cây, không thấy người!
Khả năng Lân đoán họ chính là chủ chó vừa rồi càng được chắc chắn khẳng định. Nhưng mà thôi, dở chuyện ra giờ có ích gì?
Lân quay vào. Lão Đại bảo anh cho lão chậu nước. Lão muốn thay bộ quần áo trên người. Cái quần lấm bê lấm bết, áo xoạc một miếng, dù có đau thế chứ đau nữa, đời nào lão chịu mặc? Lân lúng túng mất một lúc mới xong. Cứ y như cô bảo mẫu thay tã cho em bé. Một em bé quá khổ, chả lúng túng thì sao?
Rồi cũng xong. Thanh toán. Cảm ơn. Bác sĩ đỡ hộ lão lên xe.
Hai người tiếp cuộc hành trình dang dở. Ngang qua một quán phở lúc bấy giờ đã mở, lão bảo dừng lại. Phở sốt vang mà cứ đắng như cháo bột đao mốc. Chán. Không muốn ăn. Lão Đại bảo:
- Nghe cứ đau đau hai bên sườn.
Lân nói:
- Được rồi, em đã có cách!
Lại nhờ một cô gái ngang qua đường đỡ lão lên.
Có “Tầm quất da truyền” đây rồi! Biển quảng cáo sai chính tả, nhưng em tầm quất cực kỳ xinh. Lão Đại có vẻ khoái. Lân bảo “ Cứ thật nhiệt tình vào, hết bao nhiêu không thành vấn đề”. Tự nhiên lão thêm: “ Làm cho đại gia, tiền nong không cần phải lo. Làm “tốt” còn có bo, có thưởng”. Con bé thích lắm, cười rinh rích. Bấy giờ Lân mới để ý sao ở trong nhà mà em ý vẫn đeo kính? Thì ra em khiếm thị, mình vô tâm không biết.
Em hỏi: “ Chú là đại gia ở đâu á?”. Lão cười khờ khờ: “ Không những đại gia, đây còn là bố đại gia kia”. Lân định nói rõ thêm về các con lão. Lại nghĩ, nói chuyện ấy ở đây có ích gì?
Em tầm quất vừa làm vừa thủ thỉ chuyện gì đó, Lân không nghe rõ.. Đến lúc ra ngoài, nghe lão Đại nói em ấy “người đồng hương”. Nếu em ý thích lão sẵn sàng đầu tư cho một cửa hàng để hành nghề, khỏi phải thuê mướn đắt “khiếp lên ấy” ở chỗ này. Em xin số điện thoại. Chả biết mắt mũi có nhìn thấy gì không, mà tay cứ bấm nhoay nhoáy?
Lão đưa tờ năm trăm. Em tầm quất kêu trời lên rằng “Mới sáng ra đã làm ăn được gì đâu mà anh trả tiền to thế, không có tiền trả lại?”
Lão lại khờ khờ:
- Anh hay thương người, thừa một tý, “bo” luôn, có sao?
Em bảo em cám ơn.
Chỉ có Lân là hơi phân vân. Hình như mình đã nghĩ sai về lão?
Thực ra lão quảng đại, tốt tính hơn mình tưởng nhiều?
- Chú có biết vì sao hôm nay anh em mình gặp nạn không?
Lân bảo “em chịu”. Lão nghiêm giọng:
- Tại hôm qua thăm đình làng, anh không thắp nhang như mọi khi. Đình làng anh thiêng liêng lắm. Anh chưa từng làm như thế bao giờ. Chẳng qua tại ông từ đi vắng chứ có phải lỗi tại anh em mình đâu? Kỳ sau có về phải rút kinh nghiệm!
Về việc nhà đình, có thể lão nói đúng, cũng có thể không.
Còn như “một lần sau nữa” e rằng không bao giờ.
Nhớ quê, lão cứ việc đi một mình, hoặc với ai đó.. Còn anh, Lân sẽ KHÔNG!
=====

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Người Sài Gòn Chính Gốc


Tác Giả: Nhị Nguyên
Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi.
20140311-000835.jpg
Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán mà bụng vẫn trống không. Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.
Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thi thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.
Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại. Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.
Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.
Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: Xích lô!
Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: Anh chị đi đâu?
– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu?
Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho.
Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: 15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường.
Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm.
Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà!
Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.
Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy!
Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá!”
Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.
Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn.
Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đinh Dậu, mùa Xuân ‘hy vọng của đổi mới’



Quốc Phương
Hình ảnh Việt Nam 
Tết nguyên đán và đầu Xuân luôn là những dịp đặc biệt cho các lễ hội và hoạt động gắn kết cộng đồng ở Việt Nam.
'Tất cả các năm Đinh Dậu trong lịch sử Việt Nam đều báo hiệu một điều thay đổi, vì vậy cho nên chúng ta có thể hy vọng vào sự thay đổi', đó là điều mà một nhà nghiên cứu Hán Nôm, đồng thời là chủ blog 'Chú Tễu' chia sẻ trong một chương trình mạn đàm đầu Xuân với BBC Việt ngữ hôm 05/2/2017.
Tán thành với một khách mời cùng dự cuộc tọa đàm hôm Chủ Nhật, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội nói:
"Tôi hoàn toàn đồng ý với nhà văn Võ Thị Hảo khi nói rằng đất nước Việt Nam hiện nay đang rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, nhất là về kinh tế, văn hóa và xã hội.
"Điều này đòi hỏi là những nhà lãnh đạo cần phải thay đổi. Nếu không tạo ra một sự thay đổi... trên một cục diện lớn, sẽ làm cho đất nước Việt Nam ngày càng chìm đắm vào trong một sự lạc hậu, cổ hủ, nghèo nàn và bất công trong xã hội ngày càng lớn.
"Và sự thay đổi này đang đặt ra như một tối hậu thư đối với những nhà lãnh đạo và nếu như không có sự thay đổi thì đất nước Việt Nam sẽ ngày càng đi xuống, một cách như là xuống dốc không phanh," nhà nghiên cứu Hán Nôm và Ca Trù nói với BBC.

'Tín hiệu đổi mới'

Mới đây nhân đón Tết nguyên đán và trong dịp đầu Xuân Đinh Dậu, nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam ở trung ương và địa phương đã xuất hiện trên truyền thông, trong đó có nhà lãnh đạo xuống ruộng cày máy, có vị tham gia trồng cây, có vị chuẩn bị tham dự lễ phát ấn, trong lúc các vị khác tranh thủ đầu Xuân năm sớm đưa ra các chỉ thị, chỉ đạo như ở Hà Nội là yêu cầu chấm dứt nhanh không khí vui Tết, còn tại Sài Gòn là ngăn chặn bảo kê thu mua sữa ở Củ Chi v.v...
Việt Nam Nam
 
Ăn Tết xong, người dân mọi miền ở Việt Nam lại bắt tay trở lại nhịp sống thường nhật.
Bình luận về 'tín hiệu đổi mới' nhân năm mới và liên quan vài khía cạnh ở trên, nhà văn Võ Thị Hảo từ Berlin, CHLB Đức nói với BBC:
"Một tín hiệu nói rằng nếu không đổi mới sẽ chết, bây giờ nhà cầm quyền Việt Nam phải làm việc đó như thế nào?
"Họ có thực lòng hay không, hay chỉ là đổi mới râu ria, để rồi tình hình lại tệ hơn và chế độ, hệ thống tư bản thân hữu, hệ thống tư bản 'hoang dã, man rợ', hiện nay đang 'thoán đoạt' những lãnh đạo ở Việt Nam, thì nó sẽ còn tàn hại người Việt Nam đến mức nào?
"Và chữ 'chủ nghĩa tư bản thân hữu' không phải là từ của tôi nghĩ ra, đấy là từ đăng trong một Tạp chí Cộng sản năm 2015 của ông Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, họ đã nhận ra, nhưng mà từ đó, họ vẫn không làm. Vậy thay đổi bây giờ là thay đổi như thế nào?
"Tôi quan tâm đến những việc đó hơn, còn những chuyện đi cày ruộng hay là trồng cây, tất cả những trò đó đều hết sức hình thức và 'vớ vẩn'.
"Cái quan trọng nhất là hãy cứu nước Việt Nam và tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo đừng nghĩ rằng họ không phải là nạn nhân của thể chế Việt Nam hiện nay và trong khi cứu nước thì họ cũng phải tự cứu mình. Tôi nghĩ điều đó quan trọng hơn," nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo chia sẻ với BBC từ thủ đô nước Đức.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhận diện nhóm lợi ích "bán nước, hại dân”


XUÂN DƯƠNG

(GDVN) - Những kẻ đang làm cho đất nước “đội sổ”, khiến lòng dân không yên có phải là những kẻ "bán nước, hại dân"?
Khái niệm “bán nước” đề cập trong bài viết này không liên quan đến quán nước vỉa hè, đến những xe téc chở nước ngọt bán cho đồng bào vùng khô hạn Đồng bằng sông Cửu Long hay cư dân Hà Nội khi đường ống nước sinh hoạt sông Đà vỡ 18 lần.
“Bán nước” nói ở đây liên quan chủ quyền quốc gia, đến khả năng đất nước có đủ lực lượng và sức mạnh quốc phòng khi buộc phải chiến đấu chống ngoại xâm, đến một xã hội mà người dân giàu có, hạnh phúc vẫn được sống trong an bình chứ không phải nghèo mà an bình.
Từ xưa đến nay, quan niệm phổ biến cho rằng “bán nước” là hành động cấu kết, tiếp tay cho các thế lực ngoại bang nhằm mưu lợi cho bản thân, dòng tộc, phe nhóm… gây thiệt hại tới chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc, nói theo ngôn ngữ dân gian là “rước voi về giày mả tổ”.
Hiểu như thế đúng nhưng chưa đủ. 
Những hành động làm băng hoại đạo đức xã hội, biến Nhà nước thành công cụ trấn áp nhân dân, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; gây thiệt hại kinh tế… không đơn thuần chỉ là hại dân, hại nước.
Đó chính là hành động "bán nước, hại dân" bởi chúng làm suy yếu khối đoàn kết dân tộc, suy yếu lực lượng vũ trang, khiến đất nước lệ thuộc vào nước ngoài về kinh tế, quân sự, bị đồng hóa về văn hóa…

“Nhóm lợi ích” đang chuẩn bị để đối phó với quyết tâm của Tổng Bí thư?

(GDVN) - Tạo ra một tiền lệ phải chăng là cách mà các “nhóm lợi ích” đang chuẩn bị để đối phó với quyết tâm chống tham nhũng của Tổng Bí thư?
Những kẻ đang hàng ngày đem tiền thuế của dân mua đồ phế thải từ nước ngoài, biến đất nước thành bãi rác công nghiệp;
Đổ hàng nghìn tỷ tiền mồ hôi, nước mắt của dân vào các công trình để rồi bỏ hoang;… làm cho đất nước nghèo đi, khiến đứa bé vừa chào đời đã trở thành con nợ, khiến tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm tràn lan, tệ nạn xã hội hoành hành;
Khiến người dân suy giảm niềm tin vào thể chế, vào đội ngũ cán bộ, không thể gọi với cái tên nào khác ngoài cụm từ “bán nước, hại dân”. 
Theo nghĩa đó, những cá nhân ở Cục Trồng trọt - Bộ Nông Nghiệp dung túng cho 11 đơn vị cấp chứng nhận bừa bãi hàng nghìn sản phẩm phân bón vô cơ và hữu cơ trên địa bàn cả nước, gây thiệt hại không thể đo lường hết nền cho nông nghiệp và nông dân chính là hành động "bán nước, hại dân".
Theo nghĩa đó, những công bộc ở Tổng cục Thủy Sản - Bộ Nông Nghiệp, bán giấy chứng nhận cho 668 sản phẩm dùng cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản, 140 sản phẩm thức ăn thủy sản không qua kiểm định chất lượng khiến thế giới cảnh giác với sản phẩm thủy sản Việt Nam, khiến người Việt phải ăn thực phẩm độc hại chính là "bán nước, hại dân".
Không phải chỉ có thế, những kẻ tiếp tay cho người nước ngoài thuê đất thuê rừng tại các địa bàn chiến lược, tạo điều kiện cho họ đầu độc cả đất, cả biển, cả trời khiến người dân phải rời bỏ nơi sinh sống (Tienphong.vn 22/7/2016); những cá nhân đang tiếp tay cho người Trung Quốc bôi xấu lịch sử đất nước và con người Việt Nam ngay trên quê hương mình chính là "bán nước, hại dân".

Là con Rồng cháu Tiên, làm gì cũng phải thấy Tổ quốc là trên hết

Còn những ai tiếp tay cho việc phong danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ Đổi mới đối với Tổng Công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) hay danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho cựu Bí thư Thừa Thiên - Huế Hồ Xuân Mãn nên gọi họ là gì?
Đâu phải cứ cầu xin ngoại bang đem quân vào giày xéo quê hương, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” mới là kẻ bán nước?
Theo thông tin mà Tuoitre.vn cung cấp, tháng 1/2016 đã có đoànThanh tra của Tổng cục Môi trường về Formosa, Hà Tĩnh làm việc.
Ông Chu Xuân Phàm (phải) đại diện Formosa từng nổi tiếng với câu hỏi "chọn thép hay chọn tôm cá?" (Ảnh: Vietnamnet.vn).
Nếu không có sự chống lưng (hay dựa hơi) từ đâu đó thì nhân vật cỏn con như Chu Xuân Phàm có dám mạnh miệng rao giảng người Việt cần phải “chọn thép hay chọn tôm cá”?
Đoàn Thanh tra của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn không thể vào thanh tra khu công nghiệp Vũng Áng (trong đó có doanh nghiệp thép Formosa) vì đây là khu công nghiệp “có yếu tố nước ngoài” (Vietnamnet.vn 21/4/2016).
Ai và vì sao phải tạo nên một vùng đất như một vương quốc cho người nước ngoài trong lòng Hà Tĩnh đến nỗi Thanh tra cấp Bộ của Việt Nam cũng không thể vào kiểm tra?
Đất đai, tài nguyên biển ở Vũng Áng có phải thuộc chủ quyền của Việt Nam khi cơ quan chức năng Nhà nước lại không thể vào giám sát?

Không xem quảng cáo… đừng đọc báo

Phải gọi những người ban hành chính sách thu hút đầu tư kiểu Vũng Áng là gì?
Bà dân biểu Trần Thị Quốc Khánh tại diễn đàn Quốc hội đã dùng cụm từ “há miệng mắc quai” để nói về cách thức xử lý vi phạm tại một vài công trình ở Hà Nội.
Báo chí dựa vào đó đánh giá về đoàn Thanh tra của Tổng cục Môi trường như sau: 
Đoàn thanh tra như thế có còn mặt mũi nào để gặp người dân miền Trung, để tiếp xúc với các đại biểu Quốc hội miền Trung không?
Và trong những ngày qua, trước hậu quả biển chết, dân trắng tay, mất nghề, tấn hoàng du lịch biển, có ai trong số họ áy náy với cái "quái" của mình không?
Và tới lúc nào thì tên tuổi và hành vi thiếu trách nhiệm của họ mới đưa ra ánh sáng?”. [1]
Những quan Thanh tra Môi trường ấy không biết có những ai sinh ra, lớn lên ở miền Trung?
Điều chắc chắn là có những người quê cha đất tổ ở đó, khi mà có nơi “biển chết, dân trắng tay, mất nghề, tan hoang du lịch biển” thì ngậm miệng không thốt nổi một lời, họ không muốn hay không dám thăm hỏi, động viên người dân quê mình? 

Chuyện Người – chuyện Ruồi

(GDVN) - Muốn thương người thì trước hết phải thương mình. Nhân đạo với kẻ bất nhân là có tội với người lương thiện. Người xưa dạy thế!.
Chỉ khi đích thân chủ tịch Quốc hội lên tiếng thì người ta mới đưa ra đủ thứ lý lẽ biện minh cho sự “đúng quy trình” của mình? 
Tiếc rằng có một quy trình mà chẳng người nào dám viện dẫn, thậm chí còn cố tình bưng bít, đó là “Quy trình ban hành các quy trình”! 
Có ý kiến cho rằng “nhóm lợi ích tư bản thân hữu” là nhóm lợi ích nguy hiểm nhất vì nó có thể làm đất nước phát triển “chệch hướng”.
Chệch hướng hay đúng hướng sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình phát triển xã hội cần có thời gian kiểm chứng, chưa thể khẳng định từ lúc này.
Tuy nhiên có một nhóm lợi ích được hình thành từ mọi thành phần xã hội, từ những công chức bình thường đến quan chức cao cấp, từ thành viên các “nhóm lợi ích chính sách”, “nhóm lợi ích kinh tế”, “nhóm lợi ích tư bản thân hữu”… 
Họ đang từng ngày, từng giờ làm người dân mất niềm tin, làm dân tộc còi cọc về thể lực, làm văn hóa xã hội suy đồi…
Điều nguy hiểm là chúng gây tổn thất khủng khiếp về kinh tế, khiến chúng ta phải đắn đo từng đồng khi cần mua vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang. 
Một đất nước 90 triệu dân với rừng vàng, biển bạc nhưng máy bay, xe tăng, tên lửa, tàu chiến… chưa sản xuất được, đều phải mua của nước ngoài với số lượng hạn chế, vậy thì khả năng phòng thủ trước họa xâm lăng hiện hữu từ biên giới đến hải đảo sẽ tăng hay giảm?

Vì đồng tiền cho bản thân, họ đã quên đi lợi ích quốc gia, dân tộc

(GDVN) - Nếu không có sự vào cuộc của truyền thông, Hà Tĩnh có tự mình phát hiện ra những sai phạm của Formosa như ông Dương Tất Thắng khẳng định?
Thế giới ngày nay, cuộc chiến đang dần được “tự động hóa” với máy bay không người lái, tàu ngầm không người lái, với robot chiến đấu… chúng ta không thể chiến thắng ngoại xâm chỉ với tinh thần yêu nước và những vũ khí cổ điển sản xuất từ thế kỷ trước. 
Một nền quốc phòng trang bị kém liệu có đủ sức răn đe mộng bành trướng, bá quyền của những cái đầu nóng?
Làm yếu khả năng bảo vệ Tổ quốc chính là tạo điều kiện cho bọn xâm lược đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ.
Những kẻ đang làm cho đất nước “đội sổ”, khiến lòng dân không yên có phải là những kẻ "bán nước, hại dân?"
Vậy, liệu đã đủ bằng chứng để kết luận, rằng đã hình thành “nhóm lợi ích … bán nước, hại dân”?
Nếu không gọi họ là “bán nước, hại dân” thì phải gọi họ bằng tên gì?
Để bảo vệ Tổ quốc, để đoàn kết toàn dân, để xây dựng một thể chế chính trị “do dân và vì dân” cần tiêu diệt những kẻ bán nước, hại dân đó!


Tài liệu tham khảo:

[1]http://infonet.vn/shop-tin-247-nghi-ngo-ha-mieng-mac-quai-post204491.info
[2]http://congan.com.vn/vu-an/mot-can-bo-22-thang-dang-ky-14-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat-trong-noi-o-thanh-pho_22988.html
Xuân Dương





































































































































































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân tài và giá trị xã hội


Trần Sĩ Chương/Doanh Nhân Sài Gòn Cuối Tuần












VNN - “Nhân tài là nguyên khí của quốc gia”. Ai cũng hiểu như vậy. Có nhân tài thì mới có nguyên khí để phát triển đất nước. Nhưng tại sao nhiều quốc gia không thiếu nhân tài nhưng vẫn èo uột không phát triển được?

Người Ấn Độ nổi tiếng thông minh, học giỏi. Nhiều người lãnh đạo các tập đoàn lớn nhất thế giới là người Ấn. Biết bao nhiêu kinh tế gia lỗi lạc trên thế giới là người gốc Ấn. Nhưng đến nay, sau bao năm giành được độc lập từ Anh quốc, nước Ấn Độ vẫn nghèo, vẫn lạc hậu?

Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử của đất nước Việt Nam có nhiều người tài, có trình độ đẳng cấp quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn của họ như hiện nay. Trong nước, nhiều dịch vụ đào tạo chuyên môn tay nghề, khả năng quản lý… đã phát triển nhanh và đang hoạt động mạnh.

Số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng trong nước ở mức kỷ lục chưa từng có. Tuy chất lượng đào tạo chưa đồng nhất nhưng hầu như ai có ý chí thì muốn học gì cũng có thể học được. Mỗi năm, hàng ngàn du học sinh được đào tạo bài bản ở các nước có nền giáo dục tiên tiến về nước làm việc.

Lượng trí thức Việt kiều trong nhiều ngành chuyên môn kỹ thuật cũng rất lớn và không ít người đang muốn đóng góp cho sự phát triển đất nước. Nhưng tại sao năng suất trung bình của người lao động Việt Nam mới chỉ bằng 1/20 của Singapore, 1/6 của Thái Lan… và cũng chỉ xấp xỉ Lào và Campuchia?

Giải được bài toán nhân tài, cũng như bất cứ bài toán nào khác, cần phải hội tụ các điều kiện cần và đủ. Câu chuyện nhân tài chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh giá trị xã hội. Ngoài việc bản thân người tài có khả năng đóng góp được gì cụ thể cho xã hội, thì xã hội còn phải sẵn sàng tiếp nhận giá trị đóng góp cá nhân để tạo ra những giá trị cao hơn, đồng thời bản thân người đóng góp cảm thấy được đối xử công bằng và nhận được những giá trị tương xứng với đóng góp của họ.

Con người sinh ra ai cũng đã có những bản năng thiên phú cơ bản. Qua môi trường sống và theo thời gian lớn lên, tính cách con người, năng lực cá nhân (khả năng suy nghĩ phân tích phán xét) và kỹ năng chuyên môn được hình thành. Nói một cách khái quát, ai cũng có cái tài riêng và có khả năng đóng góp nhất định cho xã hội. Môi trường xã hội quyết định phần lớn giá trị của cá nhân, từ giáo dục của nhà trường lúc còn đi học, cho đến cơ chế làm việc và hòa nhập xã hội khi lớn lên đi làm.

Giá trị của một cá nhân là giá trị tổng hợp của cái đầu (năng lực), cái tay (kỹ năng làm được cái gì) và trái tim (cái tâm biết sống lương thiện, muốn cống hiến, phục vụ cho xã hội).

Cái tay được rèn luyện có thể tạo ra sản phẩm xã hội cần, cái đầu giúp cái tay biết làm khéo hơn. Cái đầu và cái tay quyết định giá trị cơ bản của cá nhân; trái tim với ý thức đặt lợi ích của xã hội lên trên lợi riêng, biết làm gì cũng phải nghĩ đến người khác, đem lại giá trị ngày càng cao hơn cho các đối tượng phục vụ, thì đó là cái tâm tạo nên cái đức mà ông bà ta thường nhắn nhủ phải đi kèm với cái tài.

Cái tài là để được cần, được quý; cái tâm là để được yêu mến, để tạo đức. Đây là những điều kiện để tạo giá trị thương hiệu cá nhân, không khác với giá trị thương hiệu của một doanh nghiệp (là tổng của các giá trị cá nhân trong doanh nghiệp), hay một thương hiệu quốc gia (là tổng của các giá trị cá nhân và tổ chức trong xã hội).

Từ cổ chí kim thời nào cũng có người tài. Người tài không bao giờ thiếu trong thời chiến cũng như thời bình để thỏa mãn nhu cầu của xã hội, nếu xã hội biết đặt vấn đề đúng với người có tài để họ có thể cung cấp những gì xã hội cần.

Người có tài cũng là một loại sản phẩm như các sản phẩm khác của xã hội mà thôi. Khi có cầu tất sẽ có cung. Cầu tăng thì cung cũng sẽ tăng theo, về cả phẩm lẫn lượng. Phẩm và lượng của cung (người có tài) chỉ còn tùy thuộc vào cái giá thích hợp để cung và cầu có thể gặp nhau ở một điểm tối ưu. Cái giá ở đây là tất cả những giá trị mà cầu (xã hội) phải thỏa mãn cho cung bao gồm cả giá trị vật chất lẫn tinh thần.

Ngay cả trong hoạt động nhà nước, người có khả năng, có tài, có tâm huyết muốn cống hiến cũng không thoát khỏi sự chi phối của luật cung cầu và giá trị thị trường của họ.

Để có được người tài và giữ được họ trong sạch, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã có chủ trương cán bộ nhà nước phải được bồi dưỡng tương xứng với khả năng và trách nhiệm của họ. Lương của Thủ tướng Singapore gấp năm lần lương của tổng thống Mỹ.

Nếu không như thế thì rõ ràng nhà nước thiếu trung thực với dân và người dân cũng không sòng phẳng với nhà nước (đòi hỏi dịch vụ tốt mà chi trả giá bèo). Từ đó sinh ra tiêu cực mà rồi chính người dân sẽ phải trả giá cho những tiêu cực đó. Với chủ trương này, Singapore đã thành công trong việc phát triển nhân tài, đưa đất nước của họ hôm nay trở thành một nước có mức độ minh bạch, ít tham nhũng và có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới.

Đất lành chim đậu. Đất có lành thì chim tự tìm đến, đem lại muôn vàn hạt giống tốt, trăm hoa đua nở. Đất lành công tâm phục vụ mọi người, để mỗi người có điều kiện tự phát triển, góp phần làm cho đất ngày càng lành hơn.

Yếu tố quyết định để một xã hội có khả năng thu hút, phát triển con người để họ có thể trở thành những “nhân tài” có giá trị xã hội là điều kiện công bằng trong xã hội nói chung hay trong một tập thể nhỏ nói riêng, để mỗi cá nhân có lòng tin là sự đóng góp của mình sẽ được ghi nhận một cách sòng phẳng và được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần. Được vậy thì tập thể mới có được sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại, và cá nhân họ sẽ “được” nhiều hơn là nếu chỉ nghĩ đến mình.

Con người ở bất cứ nơi đâu, nếu sống trong một điều kiện xã hội còn nhiều bất công thì sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng, tương kính (là điều kiện cần của đoàn kết) cũng sẽ không có.

Con người có thể học thành tài nhưng chưa hẳn đã thành nhân với bằng cấp. Trong một nghĩa hẹp, thành nhân đòi hỏi điều kiện biết sống hài hòa với những người chung quanh và có cái tâm đóng góp hữu ích cho xã hội. Ở các nước chậm tiến thì cái bệnh đòi “ăn trên ngồi trốc” là một căn bệnh trầm trọng. Ấn Độ nổi tiếng với những giai cấp (caste) xã hội phân biệt giàu nghèo, dòng tộc, tôn giáo, địa phương làm cho xứ sở này không cất cánh nổi, mặc dù người Ấn nổi tiếng là thông minh, cần cù, năng động.

Với mức độ phát triển kinh tế – xã hội còn thấp, điều kiện phát triển con người còn giới hạn, chắc chắn một thiểu số sẽ có nhiều điều kiện, cơ may thăng tiến hơn hẳn đa số còn lại kém may mắn hơn. Thiểu số này trở thành một tầng lớp có đặc quyền và từ đó họ nghĩ rằng mình xứng đáng đòi hỏi đặc lợi. Nếu như vậy, họ có thể sẽ không đóng góp được gì tích cực mà còn có khả năng trở thành một gánh nặng tiêu cực lớn cho xã hội.

Như vậy điều kiện “công bằng” có khả năng tạo nên cái “chất” quyết định được mức độ đóng góp của con người và “nhân tài” cũng từ đó mà ra. Đó là điều kiện tự nhiên được đa số chấp nhận một cách chính thống. Từ đó cái tâm muốn làm việc tốt bẩm sinh của con người sẽ được giải phóng và phát triển để cộng với cái tài của mỗi cá nhân thì xã hội vừa có được cái lượng (điều kiện cần) và cái chất (điều kiện đủ) đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của xã hội.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bắc Kinh ‘nổi đóa’ khi Mỹ tuyên bố bảo vệ đảo tranh chấp giúp Nhật


Phương Anh

























NĐT - Trung Quốc tỏ ra tức giận khi Mỹ tuyên bố sẽ bảo vệ quần đảo Senkaku/Điếu Ngư thay cho Nhật Bản.

Bắc Kinh mới đây đã lên tiếng khẳng định chủ quyền đối với quần đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông hiện do Tokyo kiểm soát, sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis hứa sẽ bảo vệ quần đảo Senkaku (cách gọi của Nhật Bản hay Điếu Ngư, theo cách gọi của Trung Quốc) thay mặt Nhật Bản.

Người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc, Lục Khảng nói: “Quần đảo Điếu Ngư là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Trung Quốc kể từ thời cổ xưa. Thứ mà Mỹ và Nhật Bản gọi là hiệp ước an ninh không nên gây hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc”.

Phía Trung Quốc cũng kêu gọi Mỹ nên "hạ giọng" nhằm tránh để tình hình khu vực thêm bất ổn.

Trước đó, phát biểu tại Tokyo trong chuyến thăm nước ngoài đầu tiên, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã cam kết bảo vệ Nhật Bản tránh khỏi những hành động đơn phương nhằm cướp quyền kiểm soát quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

“Tôi muốn nói rõ rằng, chính sách lâu dài của Mỹ với quần đảo Senkaku không hề thay đổi, điều 5 trong hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật vẫn được áp dụng”, ông Mattis nói.

Theo Reuters, điều 5 của Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật mà ông Mattis nhắc tới khẳng định rõ rằng, Mỹ đồng ý bảo vệ lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của chính phủ Nhật Bản, kể cả các khu vực đang tranh chấp với nước ngoài.

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã gia tăng căng thẳng trong những năm gần đây do tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo không người ở Senkaku/Điếu Ngư. Trung Quốc đã nhiều lần điều tàu và máy bay quân sự, đơn phương tuyên bố cái gọi là "vùng nhận diện phòng không" nhằm thách thức quyền kiểm soát quần đảo trên của Nhật Bản.

Trong khi đó, kể từ khi Tổng thống Donald Trump chính thức nhậm chức, mối quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh đã gia tăng căng thẳng do tân ông chủ Nhà Trắng nhiều lần lên tiếng chỉ trích Bắc Kinh về cả những hành động quân sự gây hấn trên Biển Đông, Hoa Đông cho tới chính sách tiền tệ gây mất cân bằng trong cạnh tranh kinh tế.


Phần nhận xét hiển thị trên trang