Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Sự bảo thủ trong tư tưởng đã giết chết chúng ta


Chắc các bạn đã từng nghe câu chuyện ngụ ngôn về những ông thầy bói mù xem voi. Và hãy tưởng tượng bạn là một kẻ sáng mắt. Những ông thầy bói mù đánh nhau, bởi họ bảo thủ với cái thấy biết của mình, và không chấp nhận những ý kiến ngược chiều, không mở cánh cửa nhận thức để tiếp cận cái nhìn của người khác. Đó là lý do vì sao suốt đời họ sống trong tăm tối.

Nếu họ biết chấp nhận quan điểm của người khác, lắng nghe một luồng thông tin khác đầy thành ý, kiểm nghiệm lại cái thấy biết của mình, thế thì chỉ cần lắng nghe đủ 5 ý kiến của 5 anh chàng đó lại, ta đã có thể mường tượng sơ sơ về hình ảnh con voi. Và sáng mắt chính là như vậy.

“Nếu có sự ngu dốt nào đó được sinh ra, thì chắc chắn nó phải xuất phát từ một cái đầu của sự bảo thủ”.

Theo tôi, đây chính là một đặc tính khá nổi bật của người dân chúng ta. Vì đầu óc thủ cựu ăn sâu vào trong tư tưởng của nhiều thế hệ, nên thành ra chúng ta gần như giậm chân tại chỗ về các phát minh khoa học hay sáng kiến học thuật so với thế giới.

Chúng ta có một bất lợi lớn trong nhận thức do chuyển đổi hệ tư tưởng một cách đột ngột bằng cách thay đổi mô hình xã hội từ chế độ phong kiến qua một hình thái xã hội mà chúng ta chưa thể định hình. Điều này đã làm chúng ta khó khăn trong việc lựa chọn và vận dụng các thành quả của nhân loại về áp vào trong đất nước mình. Từ giáo dục của Tây phương, từ các quan điểm về dân quyền và nhân quyền, từ các học thuyết kinh tế kinh điển lẫn các triết lý học thuật về triết học, pháp luật lẫn chính trị, chúng ta gần như không tiếp nhận chúng để áp dụng vào trong xã hội chúng ta. Và từ một nước thuần phong kiến thuộc địa, với nền nông nghiệp lạc hậu, tư tưởng bị trói buộc bởi ý thức hệ và mang tính tôn giáo của Khổng Giáo nên thành ra đa phần người dân còn chưa thoát được tư tưởng lạc hậu của mình.

Chúng ta với tâm lý e ngại sự thay đổi, sợ đối mặt với cái mới, không muốn cải cách một khi chưa thấy hậu quả trước mắt. Vì thế mà dẫn tới chúng ta luôn muốn giữ bằng được cái cũ, cái đã thành thói quen ứng xử trong xã hội mà được định hình là chuẩn mực trong khuôn khổ của đạo đức và văn hóa chung của con người. Đây chính là tâm lý khiến cho con người chúng ta trở nên vừa bảo thủ mà lại vừa nhút nhát, khó thay đổi hoặc tiếp cận cái mới thì luôn thận trọng một cách quá mức. Và như thế thì văn minh của nhân loại ngày càng bỏ xa chúng ta trong khi chúng ta mãi còn chưa cả dung nạp hết được những thứ mà các quốc gia phát triển đã kiến tạo ra từ lâu mà là lạc hậu với họ.

Không thể để cho tư tưởng chúng ta trở nên như vậy được. Lý do là vì đâu ngoài những căn nguyên bởi yếu tố văn hóa thuộc về tâm lý con người người như vậy? Tôi cho rằng phần lớn sẵn chứa tâm lý đó có sự đóng góp của những chuyển động lịch sử bằng các chiến thắng của quân sự trong chiều dài dựng nước và giữ nước của chúng ta. Vì có lẽ, đất nước chúng ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh, bị tàn phá, đô hộ, cai trị và áp đặt bởi rất nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, và chúng ta lần nào cũng đánh thắng được các quốc gia ngoại bang tới xâm lược, và đây chính là nền tảng tạo nên nhận thức cho đa phần người dân của chúng ta là quốc gia mạnh và xuất sắc hơn các quốc gia bại trận khác.

Tuy nhiên, điều đó đã làm kìm hãm con người trong tư tưởng thỏa mãn và tự an lòng với mình khi chiến tranh qua đi. Chúng ta cho rằng hòa bình đã là một điều may mắn mà có thể bằng lòng với nền kinh tế nghèo một chút cũng không sao. Đây là một tư tưởng tàn phá và kìm hãm xã hội phát triển đi lên. Chúng ta hãy nhớ là các quốc gia khác có phát triển được kinh tế thì mới mạnh về quân sự, và từ đó mới đi xâm chiếm và đô hộ các quốc gia yếu khác nhằm thu vén lợi ích, tài nguyên về xây dựng quốc gia mình.

Và nếu nói về các cuộc chiến tranh, nhiều quốc gia khác đều có những chiến thắng lừng lẫy và vang dội, nhưng nước Pháp không vì 39 trận thắng của Napoleon mà khiến họ trở nên tài giỏi hơn các quốc gia khác cùng thời đó. Không vì các quốc gia phe phát xít sẽ trở nên ngu ngốc và kém cỏi hơn các quốc gia khác ở phía đồng minh mặc dù họ là các quốc gia bại trận. Và thử nhìn xem, nước Đức và Nhật sau khi từ bỏ chủ nghĩa phát xít họ đã trở thành những quốc gia cường thịnh và vững mạnh một cách toàn diện như thế nào.

Thế thì điều gì đã khiến các quốc gia đó trở nên phát triển và cường thịnh như vậy? Vì ngoài đặc tính thông minh vốn có của họ, họ còn biết học hỏi sự tiến bộ và các giá trị hữu ích của các quốc gia khác mang về đất nước mình để áp dụng một cách triệt để, trên ba phương diện mà như tôi đã nói ở trên.

Chúng ta bảo thủ trong tư tưởng còn thể hiện ở một điểm, đó là thường rất khó thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của chính mình. Tôi cho rằng đây chính là đặc tính khiến chúng ta cứ mãi giậm chân tại chỗ so với thế giới xung quanh. Không dám phê phán, không dám thừa nhận sai lầm, không muốn nghe ý kiến của người khác, thậm chí trù dập các quan điểm đối lập so với mình chính là yếu tố đẩy đất nước đến phần lạc hậu so với trình độ và nhận thức của thế giới, mà nếu có biết rằng đã phạm sai lầm thì lại không sửa chữa ngay, mà âm thầm và thực hiện một cách chậm rãi, khiến cho những cơ hội tốt đẹp và thuận lợi cứ ngày một trôi qua trong tầm tay.

Ngại thay đổi, khó tiếp nhận cái mới, bài xích những quan điểm đối lập và áp đặt tư tưởng của mình lên người khác, chính là các biểu hiện nổi bật của tư tưởng bảo thủ. Và nó dẫn đến sự trì trệ của con người, mà từ đó là kéo theo sự trì trệ của một quốc gia. Chúng ta phải thay đổi điều này ngay tức khắc mới mong có thể giải phóng được tư duy, khai sáng được tầm thức và từ đó mới kiến tạo mà đưa đất nước phát triển được.

Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN

FB Luân Lê

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhiều điều không biết về Vua Quang Trung


Càng biết thêm về lịch sử dân tộc, người Việt càng ý thức kẻ xâm lăng từ đâu tới, với những âm mưu quỷ quyệt của họ như thế nào. Nhớ ơn Vua Quang Trung, người Việt càng vững tin vào ý chí độc lập bất khuất của dân tộc!
Nhân Tết Đinh Dậu lại nhớ chiến thắng của Vua Quang Trung, cách đây 228 năm, vào Tết Đinh Dậu. Nhiều bản tin báo chí trong nước tường thuật lễ kỷ niệm “chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa 1789” viết rằng “…đồn trại giặc ở Khương Thượng bị phá hủy khiến tên Thái Thú Điền Châu Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử…” Gò Đống Đa nằm ở Khương Thượng, phía Tây Nam thành Thăng Long.

Trong lời tường thuật trên có chi tiết không đúng, là “Thái Thú Điền Châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử.” Nhưng không thể trách tác giả viết câu trên, vì hầu hết các sách lịch sử ở miền Nam cũng như miền Bắc, đều kể rằng Sầm Nghi Đống tự ải. Những người không theo dõi các cuộc nghiên cứu lịch sử mới đều lập lại như vậy.

Thực ra, Sầm Nghi Đống không giữ chức “thái thú” của Điền Châu, vì quan chế đời nhà Thanh không phong chức đó. Ông ta chỉ giữ chức “tri châu,” tức là đứng đầu một vùng sắc tộc thiểu số, ở Điền Châu, bên Tàu. Và ông ta đã chết trận, chứ không tự ải. Chúng ta biết được điều này, cũng như nhiều điều mới về Vua Quang Trung, nhờ các công trình nghiên cứu của học giả Nguyễn Duy Chính; năm ngoái ông mới xuất bản 4, 5 cuốn sách về lịch sử Việt Nam thời Tây Sơn. Theo Nguyễn Duy Chính, dẫn từ Cao Tông Thực Lục, một tài liệu của cung đình nhà Thanh, thì “…truy cứu những người sang đánh An Nam (sic) chết trận có thổ tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống,…” (và kể thêm tên những người khác). Tài liệu này ghi chép về thời Cao Tông, tức Vua Càn Long là người sai quân sang đánh nước ta, nằm trong bộ Thanh Thực Lục, in năm 1986 tại Bắc Kinh.

Nguyễn Duy Chính đã tìm tòi rất nhiều tài liệu để soạn các bộ sách mới về thời Tây Sơn, đặc biệt về Vua Quang Trung. Ông đã dùng các bộ sử nhà Thanh, các bản báo cáo của quan lại gửi về và những thư trả lời, những mệnh lệnh của Vua Càn Long, những văn kiện rao đổi giữa triều đình nhà Thanh và Việt Nam, để viết những cuốn Việt Thanh Chiến Dịch, Việt Thanh Nghị Hòa, Giả Vương Nhập Cận, vân vân. Giới sử học trong và ngoài nước đều công nhận đây là những công trình đóng góp lớn lao vào sử học nước ta. Tuy tốt nghiệp tiến sĩ về quản trị kinh doanh và tin học ứng dụng, và làm việc chuyên môn trong các nghề này ở California, nhưng trong vài chục năm qua Nguyễn Duy Chính đã bỏ công đi tìm tài liệu ở Bắc Kinh, Đài Bắc, Việt Nam, các thư viện ở Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Nam Hàn, vân vân, cung cấp cho độc giả người Việt những hiểu biết mới về một đoạn lịch sử oanh liệt, bi hùng, trong một thời kỳ nhiễu nhương nhất của dân tộc.

Câu chuyện Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử trên đây chỉ là một thí dụ về những điều chúng ta vẫn biết lầm về thời Vua Quang Trung. Thực ra, có hàng trăm điều quan trọng vẫn bị hiểu lầm về người anh hùng độc đáo này. Hãy nêu mấy câu hỏi làm thí dụ: Vua Quang Trung có sang Trung Quốc diện kiến vua Càn Long hay không? Vua Quang Trung có xin cưới công chúa nhà Thanh hay không? Ngài có ý đòi nhà Thanh trả lại đất Quảng Đông hay Quảng Tây cho Việt Nam hay không?

Trong cuốn Giả Vương Nhập Cận, Nguyễn Duy Chính đã chứng minh rằng Quang Trung đã đích thân sang dự lễ mừng thọ của Càn Long, mà việc này chính là một hành động ngoại giao giúp cho bang giao giữa hai nước được hòa bình sau khi Quang Trung đánh đuổi quân Thanh.

Chúng ta cũng biết thêm rằng vào năm 1792, Vua Quang Trung đã cho người đề nghị Phúc Khang An, tổng đốc Lưỡng Quảng, làm môi giới xin hỏi cưới con gái vua nước Tàu, và đòi lại bẩy châu thuộc vùng Hưng Hóa của nước ta cũ, đã bị nhà Minh chiếm từ đầu thế kỷ 15. Nhưng có lẽ Phúc Khang An không bao giờ có dịp trình các vấn đề này cho vua Càn Long, vì khi về đến Bắc Kinh ông ta được phái đi ngay sang Tây Tạng, suốt hai năm, khi ông trở về thì Quang Trung đã qua đời. Hơn nữa, Nguyễn Duy Chính đã truy cứu “sổ gia đình” của Càn Long, và thấy rằng ông này có 17 con trai và 10 con gái, nhưng cô con gái út cũng đã lấy chồng từ năm Kỷ Dậu, 1789, năm chiến thắng Đống Đa! Tuy nhiên, nhờ có chuyện cầu hôn không thành này cho nên đời sau được đọc những bức thư trao đổi giữa Phúc Khang An và Ngô Thời Nhiệm. Khi họ Phúc nêu lên một khó khăn là nhà Thanh không bao giờ gả các công chúa cho người ngoại tộc, họ Ngô đã đáp lại rằng điều luật này chỉ áp dụng đối với người Hán, còn người Mông Cổ vẫn cưới con gái hoàng tộc nhà Thanh, do đó, người Việt cũng phải được đối xử ngang hàng với Mông Cổ!

Ba câu hỏi trên đây chỉ là những thắc mắc đã gây tranh luận nhiều trong giới sử học trong hàng thế kỷ qua. Ngoài ra, còn rất nhiều chuyện người ta không thắc mắc, do đó cũng không bàn luận, nhưng biết không đích xác và sai lầm, nay được phủ chính. Chẳng hạn, sách giáo khoa môn Sử thường viết rằng sau khi nghe tin quân Thanh xâm lược Vua Quang Trung mới lên ngôi hoàng đế, mục đích lấy chính danh kháng địch. Nhưng trong Việt Thanh Chiến Dịch Nguyễn Duy Chính đã kể rằng nhà vua làm lễ lên ngôi trước khi quân Thanh sang đánh, do nhiều bằng chứng. Từ Tháng Tám năm Mậu Thân, Quang Trung đã phong cho con lên tước Vương, có nghĩa rằng nhà vua đã tự coi mình là một hoàng đế. Nhật ký của các giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo chép rằng nhà vua lên ngôi ngày 8 Tháng Mười Một năm 1788, họ còn dịch bản hịch văn của Quang Trung sang tiếng Pháp. Tôn Sĩ Nghị chỉ tiến quân vào nước ta ngày 25 Tháng Mười Một năm đó.

Nguyễn Duy Chính còn cung cấp nhiều điều chưa hề được kể trong sử sách. Ông mô tả chiến thuật dùng voi trận để áp đảo đám quân Thanh chỉ gồm lính bộ và cưỡi ngựa. Kỹ thuật công đồn của quân Tây Sơn được mô tả với nhiều chi tiết, như dùng ván gỗ có bánh xe nhồi rơm che chở binh sĩ tiến đến chân đồn địch, rồi dùng ván làm cầu vượt qua hào nước hay hào chông. Sau đó rơm lại được dùng làm vật dẫn hỏa để đốt các cơ sở, nhà cửa, kho lẫm của quân địch. Nguyễn Duy Chính còn cho biết kỹ thuật công đồn này rất thông dụng ở miền Đông Nam Á, xuất phát từ miền Nam Á. Ông cũng trả lời những thắc mắc như: Tại sao trong số các vị chỉ huy của quân Tây Sơn lại nhiều người là đô đốc, với tên gọi nhưng không nói họ là gì? Tôn Sĩ Nghị có mải mê tiệc tùng rượu thịt ăn Tết nên bị đánh bất ngờ hay không? (Không!) Tại sao Tôn Sĩ Nghị thất trận mà không bị xử tội nặng? (Vì Càn Long cũng có lỗi!)

Với các tài liệu mới, Việt Thanh Chiến Dịch còn cho biết vua quan nhà Thanh đã tính bảo trợ cho Lê Chiêu Thống về nước rồi sẽ công nhận cả nhà Tây Sơn, phân chia nước ta làm đôi như thời Trịnh Nguyễn cũ. Đó cũng là một lý do khiến quân Thanh không đuổi đánh khi quân của Ngô Văn Sở rút lui. Ngược lại, Càn Long còn ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lui quân sau khi đưa được vua Chiêu Thống về đến “Lê thành,” tức Hà Nội bây giờ. Điều này giải thích tại sao Tôn Sĩ Nghị chạy về Tàu vẫn tự biện hộ rằng mình đã làm đúng ý cấp trên, về sau vẫn được trọng dụng.

Nguyễn Duy Chính trích dẫn nhiều lời khai của các quân nhà Thanh trở về xứ sau khi được trả tù binh, theo tài liệu Quân Cơ Xứ, còn tàng trữ trong Cố Cung Bác Vật Viện ở Đài Bắc. Một tù binh được thả kể khi chạy qua sông Nhị Hà, đến cầu phao thì cầu đã bị Tôn Sĩ Nghị sai phá vì sợ quân ta truy đuổi, “Cầu đã bị đứt chìm xuống nước, lại thêm số người ngựa bị trận voi đốt cháy chết chồng lên nhau đè cây cầu xuống sâu hơn. Người chạy qua đạp chân trên xác những người nằm dưới nước, chỉ có đầu nổi lên, phải đến ba dặm mới qua tới bờ bên kia; quần áo giầy dép ướt sũng, bỏ hết cả ngựa, cả yên cương trên cầu.”

Đọc biểu chương của các quan Tàu, mới biết Tôn Sĩ Nghị khoe rằng đã quyết lên ngựa tử chiến với quân ta, nhưng bị Hứa Thế Hanh ngăn cản, lấy lý do nếu Nghị chết thì “quan hệ đến quốc thể!” Sau khi bị các tướng níu cương ngựa không cho đi mấy lần, Tôn Sĩ Nghị mới nghĩ rằng Hứa Thế Hanh nói có lý. Nghị bèn bỏ trốn, Hứa Thế Hanh ở lại, chết trận.

Mỗi năm vào dịp Tết người Việt Nam vẫn kỷ niệm chiến thắng năm Kỷ Dậu của vua Quang Trung. Nhưng phải nói rằng nếu chỉ học lịch sử ở trường trung học thì chúng ta biết rất ít về vị anh hùng kiệt xuất này. Những công trình nghiên cứu của Nguyễn Duy Chính cung cấp rất nhiều điều mới. Thí dụ, một tài liệu của Hội Truyền Giáo Bắc Hà kể rằng trong trận Ngọc Hồi, Quang Trung cưỡi voi xung trận, quân sĩ thấy chủ tướng còn trên voi thì yên tâm. Nhưng khi nhìn thấy binh sĩ không đủ hăng hái, nhà vua bèn bỏ voi mà cưỡi ngựa để xung phong cùng tướng sĩ của mình. Ông dùng hai đoản đao, chạy ngang chạy dọc, chém rơi đầu nhiều sĩ quan và binh lính bên địch. Một thí dụ khác, khi quân Thanh kéo sang nước ta, họ còn đúc một thứ tiền tệ riêng, đồng tiền mang niên hiệu Càn Long, nhưng mặt kia viết hai chữ An Nam. Quân Thanh đi tới đâu lại mua hàng hóa, thực phẩm và bắt dân Việt phải nhận đồng tiền “giải phóng” này! Ăn cướp bằng thủ thuật “đổi tiền” đã được quân xâm lược sử dụng từ hai thế kỷ trước khi được áp dụng lại ở miền Nam sau năm 1975!

Càng biết thêm về lịch sử dân tộc, người Việt càng ý thức kẻ xâm lăng từ đâu tới, với những âm mưu quỷ quyệt của họ như thế nào. Nhớ ơn Vua Quang Trung, người Việt càng vững tin vào ý chí độc lập bất khuất của dân tộc!

Ngô Nhân Dụng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ Chernobyl đến Fomosa


Le Dung
7 hrs
Từ Chernobyl đến Fomosa
1 giờ 23 phút 58 giây ngày 26 tháng 4 năm 1986, thảm họa công nghệ khủng khiếp nhất TK 20 đã xảy ra, khi một loạt các vụ nổ đã phá hủy lò phản ứng số 4 của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Thế chiến thứ 2 xóa sổ 619 ngôi làng của Belarus thì thảm họa này đã xóa sổ 485 ngôi làng và khu dân cư, 70 ngôi làng bị xóa sổ vĩnh viễn, 70% lượng phóng xạ rơi vào lãnh thổ. ¼ dân số của nước này thiệt mạng trong chiến tranh, và giờ đây 1/5 dân số, với 2,1 triệu người trong đó có 700 ngàn trẻ em, sống trong vùng đất nhiễm chất phóng xạ. Một số vùng, tỷ lệ chết cao hơn tỷ lệ sinh 20%. Số người bị ung thư, chậm phát triển trí tuệ, mắc các bệnh về thần kinh và đột biến gien tăng lên từng năm.
1. CÂU CHUYỆN SAU 10 NĂM XẢY RA THẢM HỌA
“Chu kì bán rã của Uranium 238 là 1 tỉ năm. Với Thorium, phải mất 14 tỷ năm”.
“Những con chó đói chạy quanh đây cho đến lúc chúng kiệt sức mà chết. Những con mèo đói đến nỗi chúng ăn thịt cả mèo con”. “Tôi đến nghĩa trang. Mẹ tôi nằm ở đó. Đứa con nhỏ của tôi nằm ở đó. Ngay khi chúng tôi đưa con bé đến nghĩa trang, mặt trời hiện ra từ những đám mây. Mặt trời chiếu sáng lấp lánh. Cứ như có tiếng nói cất lên. Cô nên đến và đào con bé lên. Chồng tôi cũng có mặt ở đó. Tôi ngồi đó với mọi người. Tôi thở dài. Có thể nói chuyện với người chết như người sống. Tôi có thể nghe thấy người này, người kia nói. Khi cô đơn…”
“Chim cúc cu đang hót, chim ác là kêu ríu rít, những con hoãng chạy nhảy. Ai biết chúng có sinh nở không? Một sáng tôi nhìn ra vườn nhà, thấy những con lợn lòi đang bới đất. Các bà có thể tổ chức tái định cư cho con người, nhưng với lợn lòi thì không. Nước không chịu tuân theo đường biên giới đâu, nước chảy trên bề mặt trái đất và chảy trong lòng đất”.
“Có một điều tôi không biết là, con người ta có linh hồn hay không? Linh hồn kiểu gì? Làm thế nào tất cả những linh hồn tụ về thế giới bên kia được? Ông tôi hấp hối 2 ngày rồi chết, tôi nấp sau bếp và đợi: Linh hồn sẽ bay ra khỏi cơ thể ông tôi như thế nào? Tôi đi vắt sữa bò - tôi trở về, gọi ông thấy ông nằm đó, mắt mở trừng trừng. Hồn ông đã lìa khỏi xác. Mai kia ở cõi khác, chúng tôi sẽ gặp lại nhau bằng cách nào đây?”
“Chất phóng xạ, nó trông như thế nào? Một số người nói nó không màu, không mùi, một số người khác nói chúng màu đen. Nhưng nếu nó không có màu thì nó cũng giống Chúa. Chúa ở khắp mọi nơi, nhưng đâu thể nhìn thấy Ngài. Những trái táo lủng lẳng trong vườn, lá ở trên cây, khoai tây ngoài cánh đồng.” Chất phóng xạ ở đâu?
“Chúng tôi mất hai quê hương cùng một lúc. Tajikistan và Liên bang Xô viết. Tại sao chúng tôi lại đến mảnh đất này? Bởi vì ở đây không ai dồn đuổi chúng tôi hết. Không ai đá chúng tôi ra khỏi mảnh đất này. Giờ đây mảnh đất này chẳng thuộc về ai hết. Chúa đã lấy lại nó. Người ta bỏ đi khỏi đây cả rồi”
“Chúng tôi đã từng có quê hương, nhưng bây giờ quê hương ấy không còn nữa. Tôi là ai ư? Mẹ tôi là người Ukraina, cha tôi là người Nga. Tôi sinh ra và lớn lên ở Kyrgyzstan, tôi kết hôn với một người Tatar. Vậy các con tôi thuộc dân tộc nào? Chúng là người nước nào? Chúng tôi là người Xô viết! Nhưng đất nước đó - nơi tôi sinh ra - không còn tồn tại nữa. Bây giờ chúng tôi như những con dơi. Tôi có 5 đứa con. Đứa lớn nhất học lớp 8, đứa út học mẫu giáo. Tôi đưa chúng đến đây. Tổ quốc chúng tôi không còn tồn tại nữa, nhưng chúng tôi vẫn còn đây. Chernobyl là nhà chúng tôi, là Tổ quốc của chúng tôi.”
“Tôi chạy trốn khỏi thế giới này. Tôi đã quên cuộc đời mình. Có lẽ đã mang kiếp con người thì không thể nào hạnh phúc được. Tôi sống cũng được mà chết cũng chẳng sao, điều đó không quan trọng. Đời người cũng giống như cỏ dại thôi: Xanh tươi, rồi khô héo, và trở thành mồi cho lửa. Cái Ác không có thực. Đó chỉ là tình trạng thiếu vắng cái Thiện, giống như bóng tối đơn giản là tình trạng thiếu ánh sáng mà thôi.”
“Tôi nhớ những ngôi mộ chung không được ai chăm sóc - một tấm bia đá nứt toác có tên người đàn ông: đội trưởng, thượng úy… và sau đó là những cột chữ dài như những bài thơ - tên của các binh nhì. Xung quanh đó, những cây bàng, tầm ma, cỏ chân ngỗng mọc đầy”
“Họ phẫu thuật để tạo hậu môn cho con tôi. Họ tạo âm đạo cho nó. Sau cuộc phẫu thuật gần đây nhất, đường tiết niệu của con bé hỏng hoàn toàn. Con toi còn nhỏ, chưa hiểu gì, nhưng một ngày nào đó nếu còn sống nó sẽ hỏi chúng tôi: tái sao nó không thể yêu một người đàn ông? Tại sao nó không thể có con? Tại sao điều thậm chí không xảy ra với con bướm lại xảy ra với nó? Tại sao những con chim không bị như vậy mà nó lại bị? Tôi muốn có giấy xác nhận - để nó biết - khi nó lớn lên- nó biết đó không phải lỗi của chồng tôi, không phải lỗi của tôi, tình yêu của chúng tôi không có lỗi.
Tôi nhìn người phụ nữ mang thai bằng cái nhìn kỳ cục nhất. Ngạc nhiên, Hoảng sợ, ghen tỵ và vui mừng, thậm chí cả cảm giác muốn trả thù. Một lần tôi ý thức được rằng mình nhìn con chó đang mang thai của nhà hàng xóm theo đúng cách đó - nhìn con chim trong tổ của nó cũng theo cách đó…
Con gái tôi…”
“Bà ta mang theo con nhỏ mới được 1 tháng tuổi, và họ di chuyển qua một đầm lầy trong khi khắp nơi đều có lính Đức. Đứa bé khóc. Nó có thể khiến họ bị lộ. Và người mẹ đã bóp chết đứa bé. Bà ta kể bằng giọng vô cảm như thể người làm chuyện đó không phải là bà, còn đứa trẻ không phải con bà. Tôi cứ nghĩ đội du kích vượt qua vòng vây vì đứa trẻ đó, để cứu nó. Ấy vậy mà để cứu mạng sống của những con người khỏe mạnh, họ đã bóp cổ đứa bé ấy. Vậy thì cuộc sống có ý nghĩa gì?”
2. FOMOSA
Thật sai lầm khi bạn nghĩ, gắn với biển miền Trung chỉ có người đi khơi đi lộng và buôn bán du lịch. Ở đó đất hẹp và dài, nơi hẹp nhất mặt cắt ngang chưa đến 40km. Để dễ hình dung, nếu bây giờ có thảm họa xảy ra với lúa gạo, ai là người bị ảnh hưởng? Đó là NHỮNG NGƯỜI DÙNG GẠO ĐỂ NẤU THÀNH CƠM.
Biển miền Trung cũng thế. Đó là những người sống nhờ vào biển. Giờ đây không ai chết đói như năm 45 đâu, dù nghèo đến mấy, ít ra họ cũng dự trữ được vài yến gạo cho mùa đông. Nhưng biển cho sản vật giá rẻ. Vào mùa cá, bạn có thể mua cả yến cá nục khoảng 100 đến 300 ngàn, tương đương từ 15 đến 40 gói bột canh. Một gia đình nghèo chỉ mất 10 ngàn có thể ăn ngon với cá biển trong ngày. Với số tiền đó, họ có thể mua phơi khô và dự trữ trong mùa đông và ngày giáp hạt.
Giờ đây, với số tiền đó, họ chỉ đủ mua 1kg cá nước ngọt. Họ đâu chỉ ăn trong một ngày? Một kg cá biển vào mùa cá có giá bằng một gói bột canh. Họ sẽ ăn gì với gạo đã nấu thành cơm?
Sau biển đến lũ lụt. Người nghèo không thuộc diện đền bù, không gắn với nghề biển, mới thực sự là những người lâm vào cảnh khốn cùng nhất.
Krishnamurti có nói trong Dòng sông thanh tẩy, “Dòng sông là dòng nước chảy ở giữa. Nó đi qua làng mạc phố thị và người ta ném mọi sự xuống nó. Sông bị ô nhiễm, rác rưởi và nước cống tuôn xuống mình, nhưng chỉ ít dặm sau, sông tự mình thanh tẩy. Trong dòng sông đó mọi sự sinh sống, cá lội bên dưới và con người uống nước bên trên. Dòng sông đó. Đằng sau nó là áp suất lớn lao của nước, và dòng sông đó chính là diễn tiến tự thanh tẩy.”
Sông lớn đến thế, cũng trở nên quá bé nhỏ và bị biển nuốt trôi. Vậy biển lớn đến thế, ai đã có thể nuốt trôi được nó?
Khi người dân trút sự giận dữ của mình vào một nhà máy - vật vô tri vô giác - không phải họ không hiểu đó là vật vô tri. Vật vô tri không có lỗi. Không nham hiểm. Không vô cảm. Không ác độc. Mà vì. Cũng như Chernobyl, họ không thể làm gì khác hơn với những ai đã tạo ra nó. Và không biết đến bao giờ nó mới kết thúc.
Hà Tĩnh vốn là đất danh hương. Nơi đây sản sinh ra quá nhiều dòng họ, nhiều con người tài ba lỗi lạc, có nhiều cống hiến trên nhiều lĩnh vực của con người và cuộc sống. Nhưng thật khó để nó có thể hội tụ được trong một con người có vị thế, có hiếu nghĩa vẹn toàn như anh. Anh sông đỏ.
Nếu bạn không sinh ra và lớn lên ở gần biển, không gắn với biển, tôi dám cá rằng bạn không thể phân biệt được đâu là lưng, đâu là bụng của con cá Thờn Bơn.
Nó có hai mắt mọc cùng một bên. Thông thường chúng được che phủ trong bùn. Khi cần chúng có thể đổi màu. Nhìn mũm mỉm. Trơn. Láng. Nhờn nhợt và vô cảm. Như anh.
3. CUỘC SỐNG CÓ Ý NGHĨA GÌ?
Political Affairs đã bình luận “ Có lẽ không phải cuộc cải tổ của Gorbachev. Chernobyl mới chính là nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ của Liên bang Xô viết”. Lời bình được in trên bìa 4 của “Lời nguyện cầu từ Chernobyl”.
Tôi không bao giờ muốn đến với nỗi buồn. Tôi cũng không bao giờ nghĩ rằng mình nên đọc cái buồn vào những ngày cuối năm. Sách bà tôi biết, nó luôn buồn, bà Svetlana ạ. Nhưng cái đáng sợ nhất, đó không phải là nỗi buồn được tạo dựng, mà là nỗi buồn đang tồn tại, dù bên trong nỗi buồn đã chết. Như tượng nhà mồ ở Tây Nguyên, như nghĩa trang Trường Sơn, Đường 9. Dẫu biết rằng họ đã chết, đã qua đi, đã lâu.
Nếu bạn đến vào một trưa nắng, đi theo hội đoàn, sự sống và cỏ cây sẽ làm che mờ đi. Nhưng bạn sẽ không bao giờ cầm lòng được, khi nhìn thấy hàng vạn ngôi mộ có tên và không có tên nằm san sát bên nhau trong một chiều chạng vạng.
“Vậy thì cuộc sống có ý nghĩa gì?”
*) Các trích đoạn trong " ..." được lấy từ "Lời nguyện cầu từ Chernobyl" của Svetlana Alexievich.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Năm mới & Kẻ tâm thần

Năm mới
 
1.
 
Những tín hiệu hi vọng hiện lên sắc cầu vồng lộng lẫy
Toa tàu chở khoảng đời quá vãng lướt nhanh
Với hằng hà nỗi khờ dại, cuồng điên, căm phẫn...
 
2.
 
Năm mới, sơn lại căn phòng, tô điểm, vẽ vời mọi thứ
Cảm giác hồi sinh trong từng hơi thở
Tự do trải nghiệm hương thơm của sự thay đổi / lựa chọn
 
3.
 
Nhẹ nhàng mùa màng luân chuyển / giai điệu thiêng liêng
Sớm mai mặt trời đốt nóng cơ thể, truyền năng lượng mới
Em nhận ra lời chúc phúc lành từ bầu trời xa thẳm
 
4.
 
Năm mới, cần thứ ánh sáng tinh khôi chiếu rọi
Vang lên tiếng chuông cứu rỗi từ biển, núi, đồng bằng
Và cuộc sống vẫn thao thức, chờ đợi khôn nguôi.
 
 
Kẻ tâm thần
 
Kẻ tâm thần thời đại nhiễu nhương
Lang thang phố đêm
Mê đắm ngôi sao bản mệnh đất nước
Nắng sớm chói chang
Giật mình thức giấc
Bước ra khỏi giấc mơ hoang tưởng
Bàng hoàng nhận ra
Trái tim rỉ máu
Mùa này cánh đồng khô hạn
Bìm bịp kêu khản tìm chỗ trú
Mặt gương biển biến dạng
Cá chết phơi trắng bãi
 
Đoá hoa tình yêu thuần khiết vấy bẩn
Cuộc sống run rẩy chìm vào bóng tối huyễn hoặc.
 
 
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhiều khi, mình tự xoa mình…

Nhiều khi ngồi xoa mặt mình mãi, vẫn chưa thể định hình mình là ai: là kẻ vong thân hát cuồng giữa chợ, một mình múa dao đồ tể toan làm tráng sĩ rạch bụng coi chơi, hay chỉ là gã xếp chữ huênh hoang mơ làm thì sĩ? Mặt mình hay mặt ai mà khói sương che phủ hang hốc hoang vu? Mặt ai hay mặt mình mà mỗi lần nhìn vào gương đều bắt gặp một kẻ xa lạ u hoài ngang ngạnh?
Nhiều khi ngồi xoa chân mình mãi, vẫn chưa thể định hình chân mình hay chân ai. Chân ai mà miệt mài lên xuống đi về đầu non cuối bể, chân ai mà rối ren hoa cỏ sợi ngắn sợi dài mơ ngày nằm choãi ra dưới trời xanh lồng lộng? Chân ai mà chọn đường chọn lối nơi cheo leo vực thẳm mà đi, chọn độc đạo một mình mà bước? Chân mình hay chân ai mà trước lẫn sau đều không có bàn chân nào đồng hành như nhân gian mong đợi?
Nhiều khi ngồi xoa bụng mình mãi, vẫn chưa thể định hình bụng của mình hay bụng của ai. Bụng ai mà cồn cào thương nhớ giận hờn đói no thất thường mưa mưa nắng nắng? Là tiểu nhân tầm thường hay kẻ biết phân ưu cộng lạc với thiên hạ khổ đau? Bụng ai mà nửa chiều đổ mưa bỗng thấy bâng khuâng về những quanh co gian dối, mà nửa đêm bỗng cồn cào vì một người ở xa thật là xa?
Nhiều khi nằm xoa tim mình mãi vẫn chưa định hình nổi tim mình hay tim ai. Tim ai mà đập loạn liên hồi không ngủ? Tim ai mà rạo rực theo từng nhịp thủy triều lên xuống, mà giãn nở thất thường mỗi khi đêm về thăm thẳm bóng trăng treo? Tim mình hay tim ai mà chằng chịt đỏ đen xuôi ngược hồng cầu rộn rã? Tim ai hay tim mình mà có khi đắm đuối muốn đứt hơi trong quên lãng kiếp người quá mệt mỏi hoang vu?
Nhiều khi ngồi xoa vai mình mãi vẫn chưa minh định nổi là vai của mình hay vai của ai. Vai ai mà đòn tre chín dạn gánh gồng cơm áo xiêng viêng? Vai ai mà hổn hển mồ hôi trưa hè gió quạt, mà lá cắt gai cào xé lối băng rừng tìm nẻo mưu sinh? Vai ai hay vai mình mà nhiều khi mỏi mệt, như cánh chim quạt gió cuối trời? Vai của mình sao mấy mùa sừng sững vách núi cô đơn đón đợi gió ngàn qua chưa thấy? Vai của mình hay vai của ai mà chiếc lá vừa rơi, vừa đậu xuống đã vội vã vụt bay đi không hẹn quay về?
Hình như có căn bệnh gì đó đang bò trong người mình. Nhiều lúc ngồi xoa mắt mình mãi rồi nhìn ngược nhìn xuôi, thấy đất trời điêu linh bốn cõi. Mắt mình hay mắt ai mà nhìn đâu cũng thấy mọt gặm sâu ăn thủng lỗ chỗ, dột nát tứ bề? Mắt ai hay mắt mình mà mình nhìn mình cũng không nhận ra nét thân thuộc? Mắt ai mà càng nhắm lại càng thấy rõ ràng sự rối ren của kiếp người nơi trần thế? Mắt ai mà nhìn vào cái gì thì cái đó bốc cháy ngùn ngụt như cỏ dại mùa khô?
Có những buổi trưa khó ngủ nằm xoa lưng mình mãi, xoa tới xoa lui vẫn chưa dám chắc là lưng ai hay chính lưng mình! Lưng ai mà dài lưng tốn vải thư sinh giá áo? Lưng mình sao mà như tảng đá trùi trũi bên đường cỏ mọc lau thưa? Lưng ai mà hơn bốn mươi năm gieo gặt mất mùa chiêm bao thất bát, hễ che bên này lại lạnh phía bên kia?
Người đi bỏ mặc phong sương, quay lưng phản bội con đường lêu đêu...
Có ai như mình không, cảm thấy mình xa lạ với bản thân mình đến thế, tìm hết mọi bộ phận mọi ngõ ngách phiền hà của cơ thể đều thấy xa lạ đến kinh hoàng. Ta là ta hay ta là tha nhân trong áo quần phiền hà rắc rối? Ta không phải là ta thì ý nghĩa cuộc đời nằm ở đâu? Rồi ai sẽ gánh chịu cho ta những công tội nhọc nhằn giữa thế gian ba vạn sáu ngàn ngày? Ta không nhận ra bản thân chính mình thì còn ai có thể nhận ra ta nữa?
Nhiều khi, mình tự xoa mình…



Phần nhận xét hiển thị trên trang

TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”


Tác giả: Lan Hương (Tuổi trẻ & Đời sống)

KD: Sự thức tỉnh này, lẽ ra phải có từ ngay sau khi thống nhất đất nước, không ảo tưởng vào một cơ chế tem phiếu kiểu “trại lính”. Để đến nỗi XH đói nghèo: Bắt cởi trần phải cởi trần/ Cho may ô mới được phần may ô  😀
Để nếu không có Đổi mới thức tỉnh, không biết nước Việt đi đến đâu.
Cứ ‘ăn mày quá khứ” mãi, chả khá được!
—————–
Khi tôi ngỏ ý muốn có một cuộc trò chuyện với TS Lê Kiên Thành, ông nghĩ tới và muốn nói tới nguồn tài nguyên con người Việt Nam – thứ đã từng là bảo hiểm của dân tộc trong những năm tháng gian khó, ngặt nghèo…
TS Lê Kiên Thành
TS Lê Kiên Thành
Tự hào và trăn trở
– PV: Vì sao lúc này, vào thời điểm này, điều ông muốn nói tới lại là về người Việt Nam?
Vì bạn biết không, tôi tự hào. Và tôi trăn trở.
Một lần, khi tôi sang Hàn Quốc, có một ĐBQH Hàn Quốc đã nói với tôi rằng: “Nếu nói về kinh tế, chúng mày thua chúng tao không dưới 30 năm. Nhưng nói về thống nhất đất nước, chúng tao không biết sẽ thua chúng mày đến bao giờ…”.
Người Hàn Quốc và Triều Tiên có lẽ còn mất rất lâu để chờ đến ngày thống nhất. Hoặc có thể là không bao giờ. Nhưng người Việt Nam đã làm được điều đó, trong một cuộc chiến mà chúng ta là kẻ yếu trước một đế quốc Mỹ hùng mạnh, một cuộc chiến mà kể cả khi cả thế giới đều đứng về phía ta, thì họ cũng không tin chúng ta sẽ chiến thắng.
Thế mà cũng dân tộc đã làm nên kì tích đó, ngày hôm nay lại đang đối mặt với sự xuống cấp trầm trọng về mọi thứ: là sự tham ô của những người lãnh đạo; là sự suy thoái về đạo đức của xã hội; là sự lạnh lùng, tàn nhẫn đến ghê người giữa người với người.
TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”
Niềm tin và lí tưởng đã giúp chúng ta giải phóng đất nước
– PV:  Có bao giờ ông tìm cách lý giải những kì tích mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ ấy?
Đó là vì niềm tin và lý tưởng mà chúng ta đã cùng nhau tạo ra.
Ngày bé, ba tôi (cố TBT Lê Duẩn – pv) từng chứng kiến bà nội tôi nhìn sang nhà hàng xóm và ước rằng: “Đến bao giờ nhà mình mới có một nồi khoai to như nồi khoai nhà họ để ăn?”.
Ba tôi đã khóc nhiều vô cùng. Ông đi làm cách mạng, cũng vì mơ ước rất giản dị là bà nội tôi và những người dân nghèo giống bà nội tôi không còn phải mơ ước về nồi khoai đó. Rất nhiều người Cộng sản thế hệ đó cũng giống ba tôi.
Người Cộng sản có xuất thân nghèo khó đi làm cách mạng không chỉ vì gia đình nghèo khổ, mà họ đi làm cách mạng bởi vì những gia đình khác cũng nghèo khổ như gia đình họ. 
Những người Cộng sản sinh ra trong gia đình giàu có đi làm cách mạng không vì gia đình họ, cá nhân họ, vì nếu chọn một cuộc sống hạnh phúc, hưởng thụ và vị kỉ, họ sẽ không bao giờ dấn thân vào con đường không biết sống chết đó… Họ đi, vì hiểu đây là điều đúng đắn, là điều có lợi cho dân tộc, cho đất nước, cho nhân dân. 
Ba tôi  thường kể đi kể lại câu chuyện về người bạn tù cùng buồng giam với ông trong nhà tù Côn Đảo. Trước khi chết đi, người bạn tù ấy đã đưa cho ông manh áo duy nhất của mình mà nói: “Tao muốn cống hiến một cái gì đó cho Đảng quá mà không còn cơ hội. Mày hãy mặc cái áo này của tao”.
Ba tôi không nhận chiếc áo đó, vì không đành lòng để bạn mình chết mà không có mảnh vải che thân. Nhưng câu chuyện đó khiến ông nhớ mãi một điều: Hạnh phúc nhất của người Cộng sản như ông là được cống hiến, cho Đảng. Vì có những người muốn cống hiến mà không bao giờ có cơ hội để cống hiến. 
Tôi luôn nghĩ về niềm tin vào lý tưởng của những người Cộng sản. Đó là một niềm tin không thể cắt nghĩa. Có lần đi thăm Bảo tàng, tôi đọc một bài thơ của một người chiến sĩ tình báo. 
Bài thơ đó có 1.000 câu thơ, được viết trong 1.000 ngày ông bị giặc giam giữ trong căn hầm phân hôi thối, nóng bức và ngột ngạt. Và mỗi ngày trong suốt 1.000 ngày đó, ông viết một câu thơ. 
Tại sao người Cộng sản đó có thể viết được bài thơ 1.000 câu ấy, nếu không phải vì niềm tin vô bờ bến, là lý tưởng tuyệt đối mà ông dành cho lý tưởng mình theo đuổi. Chỉ có sức mạnh đó, thì một người bình thường mới có thể tạo ra sự đối kháng mãnh liệt trong hoàn cảnh kinh khủng như thế.
Và niềm tin ấy không chỉ là đơn lẻ của một người Cộng sản. Đó là niềm tin  của nhiều người Cộng sản. Với cách sống như thế, với hành động ấy, họ đã lan toả được niềm tin.
Hồi đó Đảng CSVN chỉ có vài nghìn Đảng viên, nhưng mỗi người Cộng sản có thể lan toả được niềm tin ấy sang hàng vạn người khác, tạo thành một sức mạnh không thể bị khuất phục. Và niềm tin ấy, khi được lan toả, đã tạo nên được những điều phi thường.
– PV: Tôi đã từng gặp những bà mẹ VNAH đã mất cả 18 người con, cháu trong quá khứ. Tôi từng gặp những người chiến sĩ tình báo bị CIA cưa chân đến 6 lần vẫn không khai ra bí mật của cách mạng. Theo ông, vai trò của họ với đất nước là gì?
– Họ là  tài nguyên vô giá của đất nước, là “bảo hiểm” của dân tộc trong những lúc nguy nan và thách thức. 
Có thời điểm, người nước ngoài nhận định về xã hội ta là một xã hội “cứ ra ngõ là gặp anh hùng”. Đó là sự thật. Một nhà báo nổi tiếng nước ngoài khi nhìn thấy cô du kích áp giải phi công Mỹ đã thốt lên: “Súng thì dài hơn người , chiến công thì nhiều hơn tuổi”!
Con người Việt nam có thời điểm trong lịch sử đã từng bừng sáng đến vậy, và nhờ đó đã giúp dân tộc vượt qua được những thách thức vô cùng to lớn, những hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo. Đó là những con người rất bình thường, nhưng đã dám hi sinh vì dân tộc.
Nhưng con người Việt Nam không chỉ có những anh hùng. Con người Việt Nam ngày ấy có sự yêu thương và chia sẻ. Và tôi nghĩ, đó mới là cội nguồn của sức mạnh.
Ngày bé, tôi từng phải về nông thôn sơ tán. Những người nông dân ở nông thôn nghèo hơn gia đình chúng tôi ở thành phố. Họ sống thiếu thốn hơn chúng tôi.
TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”
Ngày xưa chúng ta chiến đấu để bảo vệ nhân dân, để giải thoát nhân dân 
Nhưng họ luôn dành cho chúng tôi chỗ ngủ tốt nhất trong nhà họ, luôn chia cho chúng tôi miếng ăn mà họ có. Vì họ nghĩ rằng, con cái họ tuy nghèo nhưng còn được gần bố mẹ nên thương vô cùng những đứa trẻ phải đi sơ tán như chúng tôi.
KHi đó còn bé, tôi chưa cảm nhận được nhiều. Nhưng càng sau này, tôi càng ngẫm nghĩ và xúc động về tình yêu thương đó.
Khi một người nghèo có thể yêu thương những người giàu hơn mình, may mắn hơn mình, thì đó thực sự là tình thương nhân văn nhất, vĩ đại nhất.
Không nghèo, không đói như ngày xưa, tại sao lại ác hơn ngày xưa?
– PV: Và người Việt Nam bây giờ, trong mắt ông, có khác gì với người Việt Nam của những năm tháng cũ?  Nguồn tài nguyên vô giá mà chúng ta từng có trong quá khứ giờ ra sao?
– Dù đau lòng, tôi không thể không thẳng thắn nói rằng, chúng ta đã mất đi rất nhiều nguồn tài nguyên ấy!
Trong những năm vừa rồi, điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên, như là điều tất yếu. Đó là buổi sáng, khi tôi đọc tin về một cậu thanh niên cứa cổ đứa bé 8 tháng tuổi; Đó là khi tôi đọc tin về những người dân cùng xông vào đánh chết một kẻ trộm chó… 
Có những người trong chúng ta hôm nay dùng cái ác và cái xấu để sinh tồn. Có những người nhìn nó thản nhiên một cách lạ kỳ.
Việc một tên cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người và trước đó đã chém 14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra thằng bé đó không hề mảy may ân hận. Bà ta chửi bới cả xã hội và nghĩ rằng tại sao phải chém tay mà không chém đầu…, thì đó là hình ảnh đáng sợ nhất: Hình ảnh một người mẹ biết quý con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì.
Tôi luôn nghĩ, có thể con người Việt Nam hôm nay dường như đang gặp phải một sai lầm nào đó trong tổ chức cuộc sống, khiến cho tình cảm, lòng thương người, sự vị tha đang bị biến dạng một cách ghê gớm. Đó là điều quá lạ lùng với xã hội này. 
Có lẽ chưa từng có một giai đoạn nào trong quá khứ mà người Việt Nam phải trải qua tình cảnh như ngày hôm nay.
Người Việt từng sống dưới ách nô lệ cả nghìn năm của các triều đại phương Bắc, từng bị đế quốc, thực dân đô hộ, chịu đựng đủ sự tàn ác, bóc lột từ ngoại bang. Nhưng chưa bao giờ, khi tìm hiểu về lịch sử, tôi nghe được về chuyện người Việt tàn ác với chính đồng  bào của mình. 
Thế nên giờ mỗi ngày mở báo ra, đọc tin về một người nào đó bị cả làng xúm lại đập chết vì ăn trộm chó; Cứ dăm bữa nửa tháng lại có vụ thảm sát nào đó ở tỉnh này đến tỉnh kia, tôi rùng mình. Chưa bao giờ người Việt Nam đối xử với nhau hằn học đến thế, man rợ đến thế.
Chúng ta không nghèo như ngày xưa, không đói như ngày xưa? Tại sao chúng ta lại ác hơn ngày xưa?
Thế mà những người có trách nhiệm chưa bao giờ nghĩ đến việc nghiên cứu, cắt nghĩa, để tìm ra được điều gì đang bị lỗi trên đất nước này, cái gì đang sai trong hệ thống này?
Những gì đang diễn ra ở đất nước ta hôm nay, có lẽ cần phải được suy nghĩ cho thật kỹ. Ví dụ, tại sao nhiều người có tiền mà vẫn tham nhũng khủng khiếp như vậy?
Có lẽ đó không phải văn hóa. Người ta hay nói “bần cùng sinh đạo tặc” – nhưng nhìn vào xã hội mình, đúng là đạo tặc có một phần từ bần cùng đi lên, nhưng một phần rất đông đạo tặc lại sinh ra bởi những người không bần cùng.
Những quan chức phạm hàng loạt tội ác mà chúng ta thấy trong những năm qua, họ đâu phải là những người bần cùng?
Hãy nhìn qua những vụ án gần đây nhất sẽ thấy rằng những người hiểu pháp luật, bảo vệ pháp luật, họ vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng và đầy tính toán để khi người ta bị bắt, người ta chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng là: chứng minh đi. Tức là người ta đã chuẩn bị cho tình huống đó. Người ta đã nhạo báng và thách thức cả xã hội. 
TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”
Đoạn kết đã tạo nên sức mạnh cho dân tộc Việt Nam
– PV: Dùng từ tàn ác, dã man để miêu tả, ông có thấy nó nặng nề và khắt khe quá?
– Thế theo chị, chúng ta có thể dùng từ gì khác? Khi mà một con người có thể cứa cổ một đứa bé 8 tháng tuổi. Khi mà một cậu thanh niên còn đang đi học có thể giết chết cả một gia đình để cướp của, hay một chàng trai trẻ mặt mũi sáng ngời có thể giết cả gia đình bạn gái để trả thù. 
Mà sự tàn ác không chỉ xuất hiện ở đó. Tôi nhìn thấy sự tàn ác cả ở những vụ án tham ô, tham nhũng, cướp đất dân nghèo của những người có quyền lực.
Tôi nhìn thấy sự tàn ác trong những vụ án oan mà những người đại diện pháp luật bằng sự lạnh lùng, vô tình, vô trách nhiệm của họ , đã vội vã đưa ra những kết luận điều tra vô lý nhất mà không cần quan tâm đến việc họ có thể đẩy một con người vô tội vào con đường chết. 
Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Chúng ta đang tụt hậu!
Phải nghiêm túc nhìn thẳng vào vấn đề trước khi quá muộn
– PV: Theo ông, điều gì đã khiến xã hội chúng ta, chỉ trong mấy chục năm, từ một thế hệ có thể cùng nhau vào sinh ra tử, một thế hệ có thể vừa đi vào chỗ chết vẫn đủ tinh thần hát vang cả dãy Trường Sơn lại có thể thay đổi đến nhường này?
– Không biết các nhà lãnh đạo đất nước có bao giờ ra đường nhìn những người nông dân đi biểu tình không. Nhưng tôi cứ nhìn những bà già trùm khăn ngồi bên vệ đường trong đoàn biểu tình, càng nhìn càng không tin nổi họ đang làm gì xấu hay đang cố giành về cho mình những thứ không phải của mình.
Nếu bản chất họ thế thì sẽ không có việc họ đi theo Đảng, theo cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến đó. Họ sẽ không hiến cả nhà cửa của mình, gia sản của mình, con cái của mình cho cách mạng.
Vậy mà chúng ta đã làm gì để khiến họ thành ra như thế? Tại sao những cái đã tạo ra sức mạnh phi thường cho chúng ta trong quá khứ thì giờ đây chúng ta lại đang phá vỡ nó? Giờ chúng ta không phải đương đầu với những khó khăn như thời chiến.
Giờ chúng ta chỉ phải đương đầu với chính những khó khăn do chúng ta tự gây ra, vậy mà cứ mỗi ngày ngồi ở đất Sài Gòn, nhìn thiên nhiêu ưu đãi thế này mà chúng ta không ngẩng đầu lên được, tôi cảm thấy xót xa vô cùng. Những người đã khuất nhìn thấy điều này sẽ càng xót xa hơn.
Khi góp ý cho Đại hội Đảng, tôi từng nói một điều rất đau khổ là bản thân chúng ta chưa tạo được một cơ chế dân chủ cho chính Đảng của mình. Và khi chưa thể làm được điều đó, ta khó lòng tạo ra sự dân chủ cho cả xã hội.
Và sự mất dân chủ này sẽ làm biến dạng ghê gớm, biến dạng sâu sắc Đảng. Sự biến dạng này nó sẽ gây ra những sự biến dạng trong các vấn đề khác: vấn đề về kinh tế, về xây dựng, về giáo dục, về con người…. Mà sự biến dạng đó sẽ vô cùng nguy hiểm! 
Việc những người Việt sẵn sàng trói và đánh đến chết một kẻ trộm chó không đúng với bản chất của dân tộc này. Việc 5 người công an cùng đánh một nghi can của vụ án đến chết cũng không đúng với những gì tôi biết về dân tộc này. 
Tôi không tin một người có thể cứa cổ đứa trẻ 8 tháng tuổi có thể chết vì dân tộc mình. Những người không biết động lòng, không biết xót xa trước sự đau khổ của người khác thì không thể nào chờ đợi tình yêu đất nước từ họ. Thế thì chúng ta phải nghiêm túc nhìn thẳng vào nó trước khi quá muộn. 
Tôi cho rằng, có lẽ chúng ta đang gặp một lỗi lầm nghiêm trọng về hệ thống. 
Có lẽ, những điều mà chúng ta đã từng vì nó mà  chiến đấu ngày xưa, thì giờ chúng ta đang phản bội nó, đi ngược lại nó, xa rời nó.
Ngày xưa chúng ta chiến đấu để bảo vệ nhân dân, để giải thoát nhân dân khỏi những bất công, bóc lột, thì bây giờ sự bất công đang quay trở lại trong sự phân chia lợi ích giữa những người có chức có quyền với những người dân thường, giữa những người giàu với những người nghèo.
Và như một cỗ xe, khi bộ phận này hỏng hóc mà chưa kịp sửa chữa, sự hỏng hóc ấy sẽ lan sang những chỗ khác và làm cỗ xe ấy xuống cấp trầm trọng.
Và có lẽ phải rất bình tĩnh, rất chân thành, rất tha thiết, rất thẳng thắn để nhìn thẳng vào vấn đề, đối mặt với nó, chúng ta mới giải quyết được những vấn đề ấy.
– PV: Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không chịu đối diện…
TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”
Niềm tin về ngày đất nước thanh bình đã gắn trong tiềm thức của người nữ chiến sĩ
– Tôi kể bạn nghe một câu chuyện do một lãnh đạo Đà Nẵng kể lại tôi nghe. Ở Đà Nẵng, có một vị cán bộ cao cấp bị điều tra tội tham ô. Một người phụ nữ đã đến gặp những lãnh đạo thành phố và nói rằng, bà tin vị cán bộ kia không thể nào phạm tội được.
Trong chiến tranh, người cán bộ đó bị giặc đuổi chạy trốn vào nhà bà. Khi địch đến, chúng giơ súng vào chồng bà, hỏi: “Mày giấu nó ở đâu?”, bà ấy im lặng không nói. Và “bùm”, chồng bà ấy bị bắn chết. Địch lại giơ súng vào con trai bà, hỏi: “Mày giấu nó ở đâu?”. Bà ấy vẫn im lặng, và chúng nó giết luôn đứa con của bà.
Bọn địch bỏ đi, vì chúng nghĩ không có người mẹ, người vợ nào dám bảo vệ một người dưng nước lã đến hi sinh cả tính mạng mình.
Chính vì thế, người phụ nữ ấy đã tin rằng, cái người cán bộ mà vì ông ta, bà ấy đã mất cả chồng, cả con sẽ phải có trách nhiệm sống xứng đáng với niềm tin ấy. Bởi ông ta đã sống bằng cái giá của hai mạng người, đã sống bằng sự hi sinh đắt đỏ và bi thương của cả gia đình bà. 
Khi nghe câu chuyện đó, tôi cứ cầu mong niềm tin của bà ấy là thật, và vị cán bộ đó tốt nhất là hãy xứng đáng với niềm tin đó. Nhưng lỡ không may nếu người cán bộ đó đã phản bội sự tin yêu đó,  thì người đàn bà đó sẽ phản ứng thế nào, sẽ có thể quay lưng và oán trách như nào? Tôi thực lòng không muốn nghĩ đến chuyện đó. 
Khi người dân yêu ta, họ sẽ yêu đến tận cùng. Nhưng để đến lúc họ quay lưng lại, thì sự quay lưng ấy cũng có thể sẽ khủng khiếp hơn cả những gì mà chúng ta có thể hình dung. Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh sớm để vẫn giữ gìn được bản chất tốt đẹp của dân tộc này!
– Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Phần nhận xét hiển thị trên trang