Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Vì sao chúng ta không tin nhau ?


Trong cuộc sống, con người có thể gặp rất nhiều bất ngờ. Có vui- buồn, hờn- giận… đan xen, và cũng không thiếu những điều thú vị, đôi khi phải mở tròn xoe đôi mắt để cố gắng tự mình giải thích. Nhưng câu hỏi tại sao ấy vẫn còn để ngỏ chờ chúng ta câu trả lời…

Bạn giúp người ta cắt dây, nhưng người ta lại đá ghế dưới chân của bạn
Người lương thiện giúp ai cũng không ngại, chỉ lo vô ý làm gì đó phương hại đến người khác. Họ luôn chỉ nhìn điểm tốt của người khác, nhìn nhận mọi người đều là người tốt, luôn cởi mở không đề phòng ai, thậm chí làm gì cũng nghĩ cho người khác trước. Người lương thiện làm vậy không sai, họ cũng không phải là người ngốc, mà họ hiểu rằng đối xử tốt với người khác chính là đối tốt với bản thân mình.

Nhưng xin hãy nhớ, khi bạn làm tổn thương người lương thiện, họ sẽ không chọn làm tổn thương bạn, mà họ sẽ rời xa bạn, không tiếp xúc với bạn nữa. Vì thế bất kể là trong tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xin đừng chà đạp những người lương thiện.

Sau khi nổ súng, người chiến thắng là ai?



Có câu cửa miệng rằng: “Làm hại người khác chính là hủy diệt chính mình.” Cũng có nhiều người không đồng ý với câu nói trên. Nhưng hãy nhìn kỹ bức hình trong bài bạn sẽ thấy được rõ ràng. Con người sinh ra quý nhất ở chỗ lương thiện, người chiến thắng là người có đạo đức, có đức tin, hiểu luật nhân quả. Xin hãy lương thiện với tất cả mọi người, thế giới quá rộng lớn, nhìn thấy nhau thoáng qua cũng không phải là ngẫu nhiên, có thể gặp được nhau chắc chắn là do duyên phận.

Tại sao chúng ta đối xử với nhau càng ngày càng đề phòng?

Tại sao chúng ta ngày càng thận trọng với cuộc sống?

Tại sao cứ phải sống giả dối?

Mọi thứ tốt hay xấu là do chính mình tạo nên.

Hãy rộng lượng, khoan dung, và biết nghĩ cho người khác, bạn nhất định thấy cuộc sống không giống như những gì đang thấy ngày hôm nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao đa số các trí thức và trung lưu Việt Nam không muốn ...... sụp đổ?

Vì họ không quan tâm đến chính trị? Không phải. Vì họ vô cảm? Không hề? Vì họ thiếu hiểu biết? Càng không? Đơn giản, vì đa số tri thức Việt Nam và tầng lớp trung lưu phát triển dựa trên sự tồn tại của thể chế chính trị hiện tại. Đây là một giả thuyết ban đầu khó thuyết phục nhưng càng ngày càng tìm hiểu thì càng có lý.


Dưới thể chế hiện tại, một nhà trí thức hay một doanh nhân muốn phát triển phải bắt tay với bộ mấy công quyền. Và ít nhiều, họ đã gắn liền với nó, cả 2 phát triển song song nhau. Ở nước này, ai làm ăn lớn mà không phải là người nhà của bộ máy? Ai thành công trong giới hàn lâm mà không nằm trong biên chế? Ai kinh doanh mà không nương tựa vào mối quan hệ với chính quyền?

Để một xã hội và dân tộc bứt phá thì cần tầng lớp trí thức và doanh nhân, tuy họ là thiểu số những mức độ ảnh hưởng của họ lớn hơn phần còn lại. Nhưng rất tiếc, họ không muốn vậy. Họ đã phát hiện dựa trên thể chế hiện tại thì lợi ích cũng gắn liền với sự tồn tại của nó. Chẳng ai muốn tự hủy miếng ăn của mình.

Thật buồn cho một dân tộc. À không. Thật buồn cho một nhóm người được coi là “cao cấp” nhưng tư duy thì ngược lại. Đương nhiên là luôn có những thành phần cá biệt, nhưng quá ít.

Chỉ là nhận xét cá nhân.

Ku Búa (Cafe Ku Búa)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế giới đang tiến vào kỷ nguyên siêu bất định?


Mặc dù cuốn Kỷ nguyên Bất định không chỉ nói về năm 1977, nhưng nó đã nắm bắt được xu hướng của thời kỳ bấy giờ. Nhưng nếu Galbraith đang viết một cuốn tương tự vào năm 2017, ông chắc chắn sẽ gọi thập niên 1970 là Kỷ nguyên Ổn định.

Năm 2017 sẽ đánh dấu kỉ niệm 40 năm ngày xuất bản cuốn Kỷ nguyên Bất định (The Age of Uncertainty) của Kenneth Galbraith. Bốn mươi năm là một khoảng thời gian dài, nhưng đáng để nhìn lại xem Galbraith và những độc giả của ông đã thấy bất định như thế nào.

Năm 1977, khi Galbraith đang viết cuốn sách, thế giới vẫn đang chao đảo do ảnh hưởng của cú sốc giá dầu OPEC lần thứ nhất và lo ngại liệu có một cú sốc khác hay không (và đúng là như vậy). Nước Mỹ đang phải đối mặt với tăng trưởng chậm lại kết hợp với lạm phát tăng nhanh, hay còn gọi là hiện tượng đình lạm (stagflation), một vấn đề mới đã đặt ra những câu hỏi về khả năng của các nhà hoạch định chính sách và sự thích hợp trong mô hình kinh tế của họ. Trong khi đó, những nỗ lực để tái lập hệ thống tiền tệ quốc tế Bretton Woods bị đổ vỡ, phủ bóng đen lên triển vọng thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Vì tất cả những lý do đó, thời đại hoàng kim của sự ổn định và dễ dự báo vốn kéo dài 25 năm sau Thế chiến II dường như kết thúc một cách đột ngột, và được thay bằng một thời kì của sự bất định tăng cao đáng kể.

Tóm lại, đó là những gì được nhìn nhận vào năm 1977. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của năm 2017 thì sự bất định vào năm 1977 dường như vẫn còn là điều đáng mơ ước. Vào năm 1977, không có Tổng thống Donald Trump. Jimmy Carter có thể không đi vào lịch sử như là một trong những tổng thống Mỹ tốt nhất, nhưng ông cũng không đe dọa có những hành động sẽ đặt toàn bộ hệ thống toàn cầu vào sự nguy hiểm. Ông không quay lưng lại với các cam kết quốc tế của nước Mỹ như là NATO và Tổ chức Thương mại Thế giới.

Carter cũng không gây chiến với Cục Dự trữ Liên bang (Fed) hay bổ nhiệm vào ban lãnh đạo của Fed những người có cảm tình vốn sẵn sàng hy sinh chính sách tiền tệ tốt để phục vụ cho triển vọng tái đắc cử của ông. Ngược lại, Carter chỉ định Paul Vlocker, một người chủ trương ổn định tiền tệ, làm chủ tịch của Hội đồng các Thống đốc. Và mặc dù Carter cũng không thành công trong việc cân bằng ngân sách liên bang, thì ông cũng không làm nó phình to ra.

Việc Trump áp thuế lên hàng hóa Trung Quốc, từ bỏ Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, đưa người vào Hội đồng Dự trữ Liên bang (Federal Reserve Board),[1] hay làm suy yếu sự ổn định tài chính vẫn còn chưa chắc chắn.

Những kết quả có thể xảy ra nằm trong phạm vi từ mức yên tâm một chút cho đến hoàn toàn nghiêm trọng. Ai biết được điều gì sẽ xảy ra? Nhưng theo tiêu chuẩn hiện nay, Carter là hiện thân của việc có thể dự đoán được.

Hơn nữa, vào năm 1977, viễn cảnh cho sự hội nhập châu Âu rất sáng sủa. Đan Mạch, Ireland, và đáng chú ý nhất, nước Anh cũng vừa gia nhập một Cộng đồng châu Âu (EC) đang mở rộng nhanh chóng. EC đang thu hút các thành viên, chứ không đánh mất họ. Đó là một câu lạc bộ mà các nước tìm cách tham gia một cách đúng đắn để đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.

Hơn nữa, để chống đỡ cho thị trường chung, EC đã thành lập một hệ thống tiền tệ khu vực, được đặt tên một cách gợi tưởng là “con rắn trong đường hầm.” Trong khi điều này vẫn còn xa mới là một hệ thống tiền tệ hoàn hảo, thì nó đã có một đặc điểm tích cực: các nước có thể rời khỏi hệ thống lúc khó khăn về kinh tế, và gia nhập lại nếu và khi viễn cảnh tươi sáng hơn.

Vào năm 2017 thì ngược lại, các cuộc đàm phán về Brexit sẽ tiếp tục phủ mây đen bất định lên khắp Liên minh châu Âu. Các cuộc đàm phán diễn ra như thế nào và mất bao lâu không ai biết. Hơn nữa, câu hỏi chính sau quyết định rời đi của nước Anh – rằng liệu các nước khác có theo sau và, thực sự là, liệu chính EU có tương lai hay không – vẫn còn lâu mới được trả lời.

Trong khi đó ngôi nhà tiền tệ của châu Âu mới xây được một nửa. Khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) không đủ hấp dẫn để thu hút các thành viên mới cũng như không đủ linh hoạt để cho phép các thành viên hiện tại có được một sự “nghỉ ngơi” (tức ngừng tham gia) tạm thời, giống như thời kỳ “con rắn tiền tệ.” Đồng euro có thể sẽ sống sót, nhưng chỉ là sự trì trệ. Ngoài ra, rất khó có thể nói được điều gì hơn.

Vào năm 1977, những sự bất định bắt nguồn từ những thị trường đang nổi lên không nằm trong tầm theo dõi của các nhà bình luận. Các nước đang phát triển ở Mỹ Latinh và Đông Á đang tăng trưởng, dù cho họ ngày càng phụ thuộc vào các khoản nợ nước ngoài nhỏ giọt từ các ngân hàng của các trung tâm tiền. Trung Quốc, vẫn cách biệt với thế giới, không nằm trong những thảo luận này. Và thậm chí nếu điều gì xấu đi ở Thế giới thứ Ba, thì các nước đang phát triển cũng đơn giản là quá nhỏ để có thể kéo kinh tế toàn cầu đi xuống.

Tình hình hiện nay chắc chắn là khác rất nhiều. Những gì xảy ra ở Trung Quốc, Brazil, hay Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ dừng lại ở các nước này. Ngược lại, những sự phát triển ở những nước này có những tác động lớn đến kinh tế thế giới bởi các thị trường mới nổi đã chiếm phần lớn trong tăng trưởng toàn cầu những năm gần đây. Trung Quốc có vấn đề nợ doanh nghiệp không thể quản lý và một chính phủ với những cam kết để tái cấu trúc nền kinh tế không chắc chắn. Thổ Nhĩ Kỳ có tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai khổng lồ, một vị tổng thống tính khí thất thường, và một nước láng giềng không ổn định về địa chính trị. Và nếu các vụ bê bối chính trị là hàng hóa có thể xuất khẩu, thì Brazil sẽ có một lợi thế so sánh rõ ràng.

Mặc dù cuốn Kỷ nguyên Bất định không chỉ nói về năm 1977, nhưng nó đã nắm bắt được xu hướng của thời kỳ bấy giờ. Nhưng nếu Galbraith đang viết một cuốn tương tự vào năm 2017, ông chắc chắn sẽ gọi thập niên 1970 là Kỷ nguyên Ổn định.

Barry Eichengreen là Giáo sư Kinh tế tại Đại học California, Berkeley, và là một cựu cố vấn chính sách cao cấp tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Cuốn sách mới nhất của ông là Phòng Gương: Cuộc Đại Suy thoái, Đại Suy giảm, và việc Sử dụng – và Sử dụng Sai – Lịch sử.
Copyright: Project Syndicate 2016 – The Age of Hyper-Uncertainty

————-

[1] Hội đồng Dự trữ Liên Bang (Federal Reserve Board – FRB) là tên thường gọi của Hội đồng các Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Board of Governors of the Federal Reserve System) là một hội đồng 12 thành viên, có nhiệm kì 14 năm, chịu trách nhiệm điều hành Cục Dự trữ Liên Bang (Federal Reserve System – Fed). Các thành viên của Hội đồng do Tổng thống bổ nhiệm nhưng phải được Thượng viện thông qua. Trong nhiệm kì của mình, Trump có thể có cơ hội đưa người của mình vào Hội đồng khi Chủ tịch Janet Yellen cũng như Phó Chủ tịch Stanley Fischer sẽ hết nhiệm kì vào năm 2018 (nhiệm kì 4 năm, lệch một năm so với kì bầu cử Tổng thống).
Nguồn: Barry Eichengreen, “The Age of Hyper-Uncertainty”, Project Syndicate, 14/12/2016.

Biên dịch: Nguyễn Văn Đáp | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


http://nghiencuuquocte.org/2017/01/31/the-gioi-tien-vao-ky-nguyen-sieu-bat-dinh/#sthash.Yo7az4Jx.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

03/02/1950: Bắt điệp viên tiết lộ về bom nguyên tử cho Liên Xô


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1950, Klaus Fuchs, một nhà khoa học Anh sinh ra ở Đức, người đã giúp phát triển bom nguyên tử, đã bị bắt tại Anh vì tội tiết lộ các thông tin tuyệt mật về vũ khí cho Liên Xô. Sự kiện này là khởi đầu cho hàng loạt vụ việc có liên quan đến một đường dây gián điệp, mà đỉnh điểm là vụ bắt giữ và xử tử Julius và Ethel Rosenberg.
Năm 1933, Fuchs và gia đình rời Đức để tránh sự khủng bố của Đảng Quốc xã. Họ đến Vương quốc Anh, nơi Fuchs giành được học vị Tiến sĩ Vật lý. Trong suốt Thế chiến II, chính phủ Anh đã sớm nhận ra khuynh hướng thiên tả của Fuchs và cha mình. Tuy nhiên, vì khả năng chuyên môn nên cuối cùng Fuchs vẫn được mời tham gia chương trình phát triển bom nguyên tử của Anh (Dự án “Tube Alloys.”)
Sau khi dự án bắt đầu, các đặc vụ Liên Xô đã liên lạc với Fuchs và ông bắt đầu chuyển thông tin về tiến độ của người Anh cho họ. Cuối năm 1943, Fuchs trở thành một thành viên trong nhóm các nhà khoa học Anh đến Mỹ làm việc trong Dự án Manhattan, chương trình phát triển bom nguyên tử của Mỹ. Và ông vẫn tiếp tục gặp gỡ bí mật với đặc vụ Liên Xô. Khi chiến tranh kết thúc, Fuchs trở lại Anh và tiếp tục công việc của mình trong dự án Tube Alloys.
Vụ bắt giữ Fuchs vào năm 1950 được thực hiện sau nhiều đợt kiểm tra an ninh đối với cha ông, người đã chuyển tới nước Đông Đức cộng sản vào năm 1949. Khi tiến hành khám xét người cha, chính quyền Anh đã nhận được thông tin từ Cục Điều tra Liên bang (FBI) về việc giải mã một thông điệp ám chỉ rằng Fuchs là một điệp viên Liên Xô. Ngày 03/02, cảnh sát Anh đã bắt Fuchs và buộc tội ông vi phạm Luật Bí mật Nhà nước (Official Secrets Act.) Fuchs cuối cùng cũng nhận tội và bị kết án 14 năm tù giam; tuy nhiên ông đã được giảm án và được thả vào năm 1959. Sau đó ông sống hết phần đời còn lại của mình với cha ở Đông Đức.
Vụ bắt giữ Fuchs là khởi đầu cho một loạt các vụ bắt giữ khác. Harry Gold, người mà Fuchs ám chỉ là trung gian giữa ông và các đặc vụ Liên Xô, đã bị bắt tại Mỹ. Ngay sau đó, Gold chỉ điểm David Greenglass, một trong các đồng nghiệp của Fuchs trong Dự án Manhattan. Sau khi bị bắt, Greenglass đã khai ra chị dâu và anh trai của mình, Ethel và Julius Rosenberg. Họ đã bị bắt tại New York vào tháng 07/1950, bị kết tội âm mưu làm gián điệp, và bị giam ở nhà tù Sing Sing vào tháng 06/1953.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/02/03/diep-vien-tiet-lo-ve-bom-nguyen-tu-cho-lien-xo-bi-bat/#sthash.9Pc89LCz.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA PHẦN TỬ TRÍ THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÍNH QUYỀN


Trần Văn Chánh
Trách nhiệm của người trí thức trước các hiện tình xã hội    
     Trí thức gắn liền với tri thức và học vấn dồi dào phong phú, từ đó thông đạt thế cố và hiểu được các hiện tình xã hội. Tuy nhiên, tự bản thân tri thức, học vấn cũng không có giá trị nếu việc sử dụng nó không mang lại ý nghĩa tích cực gì cho đời sống. Do vậy, người ta thường nói đến vai trò, trách nhiệm và ảnh hưởng của người trí thức trong trường hợp xã hội còn nhiều trục trặc, nhất là khi xã hội đó đang bị đặt dưới quyền thống trị của những hôn quân bạo chúa, hoặc nhân dân phải điêu đứng vì một chế độ mị dân, độc tài nào khác. 
Trong trường hợp nầy, người trí thức không còn chỉ là người có học vấn đơn thuần, mà gắn liền với sự động não, luôn luôn đặt vấn đề và phê phán, nhằm góp phần làm thay đổi theo hướng tốt hơn đối với các hiện tình xã hội. Trong lịch sử, người trí thức luôn đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như những tác động tích cực về tư tưởng nhằm chuyển hóa nhận thức của số đông thông qua những lời nói và việc làm của họ ảnh hưởng tới sự chọn lựa định hướng, quyết sách để phát triển quốc gia, dân tộc.
     Nói theo cách diễn đạt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì “trí thức là người không chỉ giỏi, chỉ chuyên sâu vào một nghề chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm chung về vận mệnh nước nhà” (dẫn theo Trần Quốc Vượng, trong bài “Dám làm, dám nói… dám nghe”, Tạp chí Tia Sáng, Xuân Nhâm Ngọ 2002).

     Có thể mượn lời sau đây của Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô Dmitri Sergeievich Likhachov (1906-1999) để làm rõ thêm đôi chút về khái niệm/ yếu tính người trí thức: “Theo kinh nghiệm đường đời của tôi, trí thức là những người tự do về thế giới quan, không bị phụ thuộc vào những sức ép về kinh tế, đảng phái, nhà nước, không chịu một bổn phận nào về tư tưởng. Nguyên tắc chính của tính trí thức là sự tự do về trí tuệ, sự tự do như một phạm trù đạo đức... Tôi muốn nói rằng một nhà bác học chưa chắc đã phải là trí thức. Họ không còn là trí thức khi quá chú mục vào chuyên môn của mình mà quên mất ai sử dụng thành quả lao động của mình và sử dụng như thế nào. Khi đó, do theo đuổi những lợi ích chuyên môn, họ đã coi nhẹ lợi ích đồng loại và những giá trị văn hóa...” (“Thư gửi Tạp chí Thế giới mới, Số 2 năm 1993”, trong http://www.soup.io/everyone?).  
     Tuy nhiên, ngặt một nỗi, vì người trí thức cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt với bản năng sinh tồn như những người bình thường khác nên họ còn phải bận lo nhiều thứ, vì thế trong họ thường có sự mâu thuẫn trì kéo giữa một đằng là lý tưởng, hoài bão tốt đẹp về xã hội, với đằng khác là nhu cầu an toàn, thụ hưởng cho bản thân, gia đình mình. So với tầng lớp thống trị ở trên thì tay họ chưa dính chàm, còn với lớp bình dân ở dưới thì con cái trong nhà họ nói chung có nhiều cơ hội được ăn học giáo dục tương đối đầy đủ, không đi móc bọc, chửi thề đánh lộn hoặc tham gia các tệ nạn xã hội như con em của không ít nhà kém học thức khác trong một xã hội rối loạn bất công. Do cần tranh thủ để đạt một số điều kiện ưu tiên cho con đường thăng tiến của bản thân và gia đình, một số trí thức lần hồi bị thui chột sĩ khí, không dám phê phán hoặc nói lên sự thật; nếu có điều chi bức xúc thì họ cũng âm thầm chịu đựng cho qua, không nhận mình hèn đớn, viện dẫn rằng thời cuộc khó khăn, hoàn cảnh không cho phép, “thức thời vụ giả vi hào kiệt” (kẻ thức thời là người hào kiệt)... Nếu họ thuộc thành phần sáng tác hoặc phát minh, viết được vài ba công trình học thuật để đời thì tâm lý lại càng dễ tự mãn hơn, vui vẻ nhận sự tôn vinh của người đời mà quên buồn với những nỗi thống khổ và trục trặc của nhân sinh trong những hiện tình xã hội cụ thể. Nếu thuộc thành phần tham gia chính trị, do tự nguyện dấn thân hoặc được chính quyền cơ cấu sẵn đưa vào các loại tổ chức/ đoàn thể, thì họ lại càng an tâm hơn vì có tâm lý “cha mẹ dân” của một người cao đạo đã trả xong việc nước nợ đời, mà ít khi có dịp tự hỏi những gì mình nói và làm thực tế đã đem lại được lợi ích gì cho đám bình dân, hay tác dụng có khi chỉ là ngược lại. Bởi vì, người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, nhận ra mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật ý kiến phản bác, trước những nỗi bất công, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng, dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay.      
     Một số trí thức trung thực có tâm huyết muốn góp phần thúc đẩy cải cách xã hội nhưng hoàn cảnh chính trị khắc nghiệt không cho phép, lâu ngày tâm chí bị cùng mằn chán nản, vì lực bất tòng tâm. Một số người khác cho rằng mình bị bịt miệng vì không có tự do ngôn luận đầy đủ, cũng ưu thời mẫn thế và bất mãn hiện trạng. Nhưng dù thuộc lý do, hoàn cảnh nào trong số các tình huống nêu trên, thân phận người trí thức cũng có những điểm bi kịch có phần đáng được chia sẻ, vì không phải hoàn toàn tại họ, nhưng nếu cứ để vậy mà kéo dài cuộc sống dở chết dở, họ sẽ mang mãi cái tâm sự như của Tô Thức (thời Tống): “Thẹn hoài cho người nước nầy, đau xót như có gai đâm trong da thịt; bình sinh đọc đến năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được”.
     Nói về vai trò, trách nhiệm của phần tử trí thức trước thời cuộc, ở Trung Quốc người ta thường nhắc tới nhân vật Lương Thấu Minh (1893-1988), một nhà nho-nhà triết học nổi tiếng, nhưng Lương không chỉ lo rị mọ sách vở và lập thuyết mà lúc nào cũng quan tâm đến những vấn đề bức xúc gắn với số phận của đất nước. Câu nói “Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã” (Có thể [dùng sức mạnh] bắt được một vị nguyên soái, chứ chí hướng của một thường dân thì không [dùng sức mạnh mà] đoạt nổi) là của ông, và ông đã vì lương tâm, trách nhiệm mà làm đúng ý thầy: Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn- Luận ngữ, thiên “Thái Bá”); đây cũng là câu nói của Khổng Tử mà nhà văn-nhà triết học Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã có lần trích dẫn trong tác phẩm Civil Disobedience(Bất tuân dân sự/ Bất tuân chính quyền) nổi tiếng của mình.   
    
     Trí thức và chính quyền: những suy nghiệm từ lịch sử
     Các chính quyền độc tài từ cổ chí kim trên thế giới nói chung đều không ưa trí thức, vì phần tử nầy thường có đủ sự hiểu biết và óc sáng suốt để nhận ra đồng thời đưa ra ý kiến phê bình chỗ sai lầm, mị dân của các nhà đương cuộc, nên mới có chuyện như Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) thời xưa “phần thư khanh nho” (đốt sách chôn học trò)… Trong các chế độ độc tài thiếu dân chủ, người trí thức chân chính do luôn đứng ở vị trí bênh vực quyền lợi người dân mà đối lập với chính quyền nên các nhà cầm quyền thường tìm mọi cách hoặc vô hiệu hóa họ hoặc dùng mồi nhử lợi danh trao cho họ nhiều thứ danh dự và chức hàm để biến họ thành hạng trí thức nô dịch phụ họa cho những đường lối chính sách sai lầm của mình.      
     Nói về mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức với giới cầm quyền, người ta thường nhắc đến câu nói rất nổi tiếng nầy của nhà chính trị sáng lập ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã phát biểu thẳng thừng trong một bài nói chuyện về đường lối văn nghệ vô sản ở Diên An năm 1942, đại khái : “Trí thức nếu không lao động thì chỉ đáng là một cục phân”. Câu nói nầy của Mao Trạch Đông gây sốc khá mạnh, có lẽ cũng từng làm tổn thương và mích lòng cho không ít người, nhất là đối với những người tự cảm thấy dường như mình đích thị là đối tượng đang bị nhà chính trị đầy quyền lực kia xem thường.      Mao dám miệt thị trí thức có lẽ vì trong thâm tâm cho rằng trí thức là kẻ trói gà không chặt, nhút nhát, và do cái gì cũng ham muốn như vừa muốn tiếng tốt trong sạch vừa muốn được cận kề quyền lực và sự giàu sang nên lập trường không vững, thường thiếu quyết đoán và không dám lăn xả hành động quyết liệt cho một mục tiêu lý tưởng nào đó; nếu anh ta bất mãn chính quyền đương đại mà có âm mưu “tạo phản” thì cũng chẳng làm nên cơm cháo gì (“tú tài tạo phản tam niên bất thành”)...
     Nhưng không phải chỉ có Mao, bậc tổ sư về chính trị của cả ông lẫn Tần Thủy Hoàng là nhà triết học-chính trị học Hàn Phi Tử  (281-233 TCN) cũng đã từng mạt sát trí thức. Cách nay trên hai ngàn năm, khi viết thiên “Ngũ đố” để kết tội năm loại mọt (ngũ đố) chuyên đục khoét và làm băng hoại xã hội, Hàn Phi đã đưa thành phần trí thức lên đầu sổ (trong nguyên văn ông dùng chữ “học giả”): “Các học giả chỉ biết nịnh hót xưng tụng đạo của tiên vương (các vua đời trước), mượn tiếng là trọng nhân nghĩa, trau chuốt dung mạo và y phục lời ăn tiếng nói để làm loạn pháp độ đương thời, làm mê hoặc lòng vua chúa…; bọn thị thần nịnh bợ, tích tụ tài sản, ăn hối lộ, mượn cái thế của nhà cầm quyền để chạy chọt xin xỏ cho những người mình đã nhận hối lộ… Năm hạng người đó là mối mọt của nước, bậc vua chúa không diệt trừ họ thì trong thiên hạ có quốc gia bị tàn phá suy vong, có triều đại bị tiêu diệt, cũng không có gì lạ!” (...Nhân chủ bất trừ thử ngũ đố chi dân, tắc hải nội tuy hữu phá vong chi quốc, tước diệt chi triều, diệc vật quái hĩ!).

     Một học giả-nhà văn-nhà cải cách kinh tế-chính trị nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống là tể tướng Vương An Thạch (1021-1086) cũng không vui gì khi nhắc tới những người trí thức cùng thời với mình, trong bức thư ông trả lời Tư Mã Quang (1019-1086) về việc họ Tư Mã ngăn cản cuộc cải cách bằng “tân pháp” của ông: “Kẻ sĩ đại phu đa số không lo gì đến quốc sự, chỉ mị dân, chiều theo thị hiếu của số đông, cho như vậy là tốt...”.
     Theo truyền thống của Trung Quốc và Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ, qua phương thức tuyển chọn nhân tài hầu như cố định bằng con đường khoa cử, giới trí thức nho sĩ với tư cách văn nhân thi sĩ kiêm quan lại xuất thân bình dân hay quý tộc luôn đứng ở trong hoặc bên cạnh nhà cầm quyền, giúp nhà cầm quyền trị dân, bù lại họ cũng được hưởng một số đặc quyền đặc lợi hoặc danh dự của triều đại mình phục vụ. Nhưng một số trong họ vẫn không thiếu những ông quan thanh liêm đầy lý tưởng chọn đứng về phía những người dân thấp cổ bé miệng, như Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên (thời Đường), Tô Thức (thời Tống), Lưu Cơ (thời Minh), Lương Khải Siêu, Hồ Thích (thời Thanh mạt)…, luôn dùng tài thơ văn của mình để phê bình gay gắt chính sự đương thời. Hoặc ít nhất, nếu không gay gắt thì cũng ôn hòa nhân ái như Phạm Trọng Yêm (989 - 1052) thời Bắc Tống, ở ngôi cao trên miếu đường luôn phải nghĩ đến dân, lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ, gọi là “tiên ưu hậu lạc” (nói trong bài “Nhạc Dương lâu ký”). Ở Việt Nam thời phong kiến, không thiếu những phần tử trí thức nhà nho trung thực như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp… Một số người thiếu bản lĩnh/ điều kiện đấu tranh chống lại nhà cầm quyền thối nát, đã từ chối không ra làm quan hoặc treo ấn từ quan khi tự cảm thấy mình trở nên vô dụng, bất lực trước thời cuộc.
     Còn trong thời cận hiện đại, theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, cả ở Trung Quốc và Việt Nam, do các điều kiện mới về lịch sử, chỉ từ đầu thế kỷ 20 mới có một bộ phận độc lập nhưng chưa thật mạnh của thành phần trí thức tách ra khỏi hệ thống cầm quyền, đó là một số nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nghị viên hội đồng các tỉnh thành, dân biểu quốc hội..., nhưng tình trạng nầy diễn ra trong giai đoạn ngắn ngủi, ở Trung Quốc chỉ đến năm 1949, còn ở Việt Nam thì có thể tính đến hai mốc lịch sử 1954 và 1975 tùy theo miền.
     Ở Nga, giới trí thức hình thành sớm hơn. Họ đã có một khoảng thời gian dài đến vài ba thế kỷ được hít thở không khí tự do và có được vai trò cùng tiếng nói ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nền văn hóa-khoa học của đất nước, nhưng sang đến thời kỳ chính quyền Xô-viết (1917) thì nền văn hóa Nga lại bắt đầu có những chuyển hướng phức tạp mà nét đặc trưng là sự thao túng của hình thái văn hóa-xã hội cực quyền cùng với bệnh giáo điều, kết quả là, theo sự ghi nhận của Từ điển bách khoa văn hóa học (Viện nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2002) thì “Trong suốt thời gian tồn tại của Liên bang Xô-viết, giới trí thức Nga luôn là đối tượng của các hình thức đàn áp liên tục thay đổi, nhưng tất cả đều nhằm một mục tiêu: hủy diệt tính độc lập tinh thần và bản chất riêng của giới trí thức Nga, biến họ thành kẻ phục vụ cho huyền thoại về hệ tư tưởng...”.
     Căn cứ trên kinh nghiệm thực tế chung của lịch sử các xã hội có hoàn cảnh tương tự, người ta thấy phần tử trí thức tùy theo trường hợp có khi đứng trong có khi đứng ngoài chính quyền, nhưng dù trong hay ngoài, nếu là người trí thức chân chính có lương tâm trong sáng thì họ vẫn luôn ráng giữ thái độ trung thực, độc lập hoặc tương đối độc lập về chính kiến đối với các nhà đương cuộc, để có thể mạnh dạn đặt vấn đề phê phán trước các hiện tình còn chưa tốt của xã hội mà họ đại biểu cho nhân dân có quyền đòi hỏi phải cải cách. Điều nầy có nghĩa họ sẽ có trách nhiệm chung về sự an nguy của dân chúng, và không vì sự thuận tiện của cuộc sống bản thân mà sẵn sàng phụ họa cho những điều sai trái đi ngược lại với quyền lợi của những người cùng khổ. Họ phải đấu tranh bằng cách nầy hay cách khác bất chấp cường quyền chống lại mọi hình thức ma mị độc tài nếu có, để bảo vệ dân chủ, duy trì các giá trị nhân văn, và trong khi làm như vậy, họ tâm niệm lợi ích của nhân dân là luật pháp tối thượng không một quyền lực hay siêu quyền lực nào có thể đứng trên được. Nếu vì lý do nào không thể thực hiện đúng hoài bão thì những người trí thức chân chính cũng không thể cam chịu ô danh trở thành đồng lõa tích cực cho những chính sách sai lầm nhờ hưởng được lợi lộc từ cơ chế hiện hành của xã hội. Do vậy, cho dù thật sự xứng đáng về tài năng học thuật, người trí thức chân chính sống trong các chế độ độc tài thối nát sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hứng thú khi được nhà cầm quyền gợi ý bảo họ viết đơn xin để nhận các loại danh hiệu, huân chương hay giải thưởng nầy khác…
     Bàn về mối quan hệ giữa trí thức với chính quyền, có quan niệm cho rằng  người trí thức phải đứng ngoài chính quyền mới giữ được thái độ độc lập. Điều nầy đúng nhưng phải còn tùy, và thường không sát với thực tế cuộc sống, như chúng ta có thể thấy qua một số dẫn chứng trên kia về các mô hình  tồn tại thông thường của phần tử trí thức trong xã hội xưa và nay với chính quyền ở các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau. Vấn đề chỉ phân biệt ở chỗ lương tâm và trách nhiệm của người trí thức chứ ít tùy thuộc vào chỗ họ có hưởng bổng lộc ít nhiều của nhà nước hay không, mặc dù chính sự tùy thuộc nầy thường phải trả giá rất đắt nếu không muốn bị rơi vào cái thế trên đe dưới búa, tiến thối lưỡng nan. Trên thực tế, chỉ một số rất ít người giữ được chỗ đứng tương đối độc lập, và trong điều kiện may mắn đặc biệt nầy họ mới có thể hưởng được cái quyền tự do nói lên một cách trung thực và thẳng thắn nguyện vọng chính đáng của đại đa số quần chúng, trong tinh thần chỉ vì quốc gia mà xây dựng chứ không một chút ý tưởng ganh ghét, đả kích hay căm thù cá nhân đối với bất kỳ người nào, cho dù đó có thể là một kẻ độc phu tham lam vô đạo.
     Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, người trí thức cũng dễ bị chán nản thất vọng trước tình trạng xã hội băng hoại thối nát khó cứu chữa mà tiếng nói phê bình của họ thường trở nên lạc lõng một cách vô vọng trong sự lơ là của các nhà chính trị cầm quyền ngoan cố. Trong trường hợp nầy, một số trí thức đành buông tay “quy ẩn” dưới hình thức im lặng, theo kiểu giữ gìn tiết tháo, ôm lấy cái tâm sự  của nhà nho xưa, “thế sự thăng trầm quân mạc vấn” (lời Cao Bá Quát: việc đời chìm nổi hỏi tới mà làm gì), hoặc “cùng tắc độc thiện kỳ thân” (lời trong Luận ngữ: lúc bế tắc thì chỉ lo trau giồi nhân cách làm trong sạch cho riêng mình). Một số khác biết rõ tình thế lực bất tòng tâm nhưng không đành im lặng trước những nỗi thống khổ, bức xúc hằng ngày trông thấy của đồng bào đồng loại, “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, nên họ vẫn tiếp tục thỉnh thoảng lên tiếng trên các phương tiện truyền thông đa dạng, nhưng không phải để can ngăn khuyên giải thuyết phục chính quyền nữa, mà chỉ để gieo mầm ý thức cho những người đồng thời, đặc biệt cho thế hệ trẻ, với hi vọng lời nói, ý kiến, tư tưởng mình gieo ra như những hạt phấn thông vàng bay đi muôn phương nhưng có thể đậu lại thành trái ngon quả đẹp hay không là “tùy lòng gió” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu trong Phấn thông vàng), trong quá trình thúc đẩy lượng biến thành chất, sẽ có lúc tích tụ thành sức mạnh, không hẳn cho ngay bây giờ mà còn cho mai sau các thế hệ con cháu.   

Cái tình cảnh lưỡng nan như vừa nêu trên của cả hai loại thái độ ứng xử, người đời thường gọi là thân phận của người trí thức, hạng “hủ nho lo việc đời”, ví như thân phận con tằm nhả tơ không dứt, trong bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn (813-858) thời Đường: “Xuân tàm đáo tử ti phương tận/ Lạp chúc thành hôi lệ thủy can” (Thác rồi tằm mới dứt tơ/ Tàn rồi ngọn nến mới khô lệ sầu).
                                                                                                                                1.2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự tích cái đuôi Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa


Sự tích cái đuôi định hướng nên được bổ sung vào kho tàng văn học dân gian để hậu thế tham khảo. Trong kho tàng văn học dân gian VN có khá nhiều câu chuyện về “Sự tích…”. Đó là sự tích của con vật này, cây cỏ nọ, di chỉ kia v.v… Vừa qua tôi nghe lóm được một sự tích thời hiện đại, xin kể ra để góp vui với đời. Vì là nghe lóm và là chuyện về sự tích nên không dám bảo đảm chính xác ‘chăm phần chăm’, chỉ khẳng định là viết lại trung thực những điều nghe được, không thêm bớt.
Image result for cái đuôi
Câu chuyện về cái đuôi “Định hướng XHCN” kèm thêm vào Nền kinh tế thị trường. Không biết những người viết sử và làm lý luận của ĐCSVN đã có ai bỏ công tìm hiểu cái đuôi ấy ở đâu ra, người nào đề xuất, hội nghị nào, văn bản nào lần đầu tiên thảo luận và quyết định. Và quan trọng hơn là nêu định nghĩa, giải thích khái niệm đó. Chỉ biết rằng cụm từ “Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” được dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng từ năm 1990. Vừa qua tôi có dịp may nghe được câu chuyện sau đây giữa 2 người, tạm gọi là Xu và Hào. (tôi có quen biết cả 2 ông, ai muốn xác minh tôi xin cung cấp thêm thông tin).

Xu – Này, bác Hào có biết cái đuôi định hướng XHCN ghép vào nền kinh tế thị trường ở đâu ra không nhỉ?

Hào – Làm sao mà mình biết được, chú có biết thử nói nghe chơi.

Xu – Em được ông Nguyễn Thế Diên kể cho nghe, khẳng định rằng nó được xuất phát lần đầu tiên tại cuộc họp chi bộ của ông ấy. Bác có biết ông Diên không nhỉ.

Hào – Trên đời này mình biết khoảng 10 ông tên Diên, trong đó có Ngụy Diên, Hoàng Tân Diên, Mai Diên, có thể có ông họ Nguyễn Thế, nhưng không biết ông Diên cậu nói là ông nào.

Xu – Ông này, trước là giáo viên cấp 3, rồi giảng viên đại học, sau chuyển sang làm ở Ban Tuyên giáo, nay đã nghỉ hưu, nghe đâu là ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Cựu giáo chức.

Hào – Thế thì mình không biết. Ông ấy nói như thế nào chú kể cho mình nghe với.

Xu – Ông Diên kể cho em nghe câu chuyện xẩy ra cách đây đã khá lâu, vào khoảng trước năm 1990. Một lần chi bộ họp, thảo luận về Đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đó là việc cần thiết, nhưng còn ngại là toàn Đảng, toàn dân đã nghe quen nền kinh tế XHCN, cho kinh tế thị trường là của tư bản, cần phải chống. Thế mà nay lại nói tới nó thì nhân dân, đảng viên thắc mắc, biết giải thích thế nào. Đã có một số ý kiến phát biểu, cuối cùng một đảng viên cho rằng chỉ cần thêm một cái đuôi “Theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là xong, là giải đáp được thắc mắc. Nhiều người dự họp khen ý kiến vừa nêu là sáng suốt.

Ông Đào Duy Tùng (1924- 1998), ủy viên Bộ chính trị, Trưởng Ban tyuên giáo trung ương, sinh hoạt cùng chi bộ với ông Diên. Ông Tùng vắng mặt trong cuộc họp vừa nói. Sau đó ông Tùng hỏi bí thư chi bộ xem trong cuộc họp có ý kiến gì đáng để ý không. Bí thư chi bộ trình bày ý kiến về cái đuôi định hướng. Ông Tùng khen hay. Và rồi từ đó không biết bằng con đường nào mà cái đuôi ấy trở thành nội dung trong các văn bản chính thức.

Hào – Thế ông Diên có nhớ tên của người đảng viên đưa ra ý kiến trên hay không?

Xu – Em có hỏi nhưng ông ấy không nhớ rõ tên của người đảng viên bình thường đó.

Bình luận: Thông thường, trong nghiên cứu khoa học, một khái niệm mới, được người nghiên cứu phát hiện bắt nguồn từ bản chất và sự tồn tại của nó, gồm có nội hàm và ngoại diên. Sau đó người ta đặt tên và đưa ra định nghĩa. Nếu chuyện kể trên là đúng thì cái tên “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” được đặt ra không theo cách vừa trình bày, vì khi đặt tên thì nó chưa tồn tại.

Ở đây tên được đặt theo ý muốn chủ quan để khắc phục một thắc mắc có thể xẩy ra. Như thế thì trong việc này có ý đồ lừa dối người nghe và tự lừa dối mình. Thế mới biết tại sao trong thời gian dài người ta lúng túng trong việc giải thích cái đuôi định hướng cho đồng bào trong nước và cố tình cắt bỏ nó, giấu biệt nó khi đi xin các nước ngoài công nhận nền kinh tế thị trường.

Xem ra sự tích cái đuôi định hướng nên được bổ sung vào kho tàng văn học dân gian để hậu thế tham khảo.

Nguyễn Đình Cống
FB Nguyễn Đình Cống


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nông thôn Việt Nam và cuộc cách mạng ruộng đất lần thứ ba


Hạnh Nguyên 26/01/2017 - Theo tôi, có hai cuộc cách mạng vô cùng hệ trọng đối với người nông dân. Cuộc cách mạng thứ nhất: người nông dân được chia ruộng sau bao nhiêu đời cày thuê cấy mướn. Cuộc cách mạng này đã thay đổi kiếp người lần thứ nhất cho những người nông dân.

Minh họa: Lê Phương.
Trước năm 1954, những người nông dân làm thuê cho các chủ đất mà chúng ta gọi là địa chủ. Sau khi miền Bắc được giải phóng mang theo cuộc cách mạng ruộng đất lớn. Đất đai không thuộc về những chủ đất trước đó nữa. Nhưng bản chất sâu xa thì người nông dân vẫn chưa thực sự trở thành người chủ sở hữu đất đai của họ. Hợp tác xã được thành lập. Trước kia, đất đai thuộc sở hữu của một cá nhân thì sau này thuộc sở hữu của một tập thể những cá nhân.

Những người nông dân vẫn chỉ là người làm công ăn điểm. Họ không được toàn quyền quyết định hình thức và nội dung sản xuất của họ. Chỉ đến khi khoán quản ra đời thì vai trò tự chủ của người nông dân đối với mảnh đất của họ mới được xác lập một phần. Nhưng việc sở hữu đất đai vẫn chưa thuộc về họ. Và rồi cuộc cách mạng thứ hai đã đến. Người nông dân được toàn quyền quyết định việc canh tác trên thửa ruộng của mình. Giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này còn gọi bằng một cái tên khác: khoán quản.

Hai cuộc cách mạng nói trên là hai cuộc cách mạng về quyền con người. Nhưng bây giờ, họ cần cuộc cách mạng thứ ba. Đó là cuộc cách mạng của tư duy và công nghệ đối với mảnh ruộng của họ. Nếu không có cuộc cách mạng này thì cuộc sống của người nông dân khó có khả năng có những thay đổi lớn lao như một bước ngoặt lịch sử. Và mãi mãi họ cũng chỉ là người “cấy cây lúa nào ăn cây lúa ấy” mà thôi.

Trước kia, cây lúa là sự sống còn của người nông dân. Bởi lúc đó, người nông dân chỉ cần một thứ duy nhất là lương thực. Ngày đó, công thức quan trọng nhất cho bất cứ gia đình nào ở nông thôn Việt Nam là: Gạo + muối + vải = ấm no. Có được công thức đó thì tất cả những người nông dân có thể yên tâm sống.

Nhưng bây giờ, xã hội đã phát triển và nhu cầu cho cuộc sống của một gia đình nông dân của thế kỷ XXI có thể nói là gấp 100 lần nhu cầu cho cuộc cống của họ cách đây nửa thế kỷ. Nhưng thực tế, mảnh ruộng và cây lúa – cây đũa thần trước kia của người nông dân đã bớt đi rất nhiều sức mạnh nếu không muốn nói nó đang trở nên bất lực.

Nếu chỉ trồng lúa với sản lượng như bây giờ thì người nông dân có chịu khó đến đâu, có mưa thuận gió hoà đến đâu, có không phải đóng bất cứ thứ thuế gì thì cũng không thể đổi đời họ được.

Theo khảo sát tạm thời của tôi hiện nay thì mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có 1, 2 sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ/một sào. Mỗi tạ thóc bây giờ có giá là 250.000 đồng. Tuy rằng trong thời gian này, giá thóc đang rất cao. Nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Đến mùa tới, đương nhiên là giá thóc sẽ cân bằng trở lại.

Như vậy, mỗi năm bằng trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập là một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô/1, 2 sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.400.000 đồng.

Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến… chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu. Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000 đồng. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 45.000 đồng cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng. Việc cấy lúa trồng ngô của người nông dân hiện nay chỉ là việc lấy công làm lãi mà thôi. Họ đã tìm nhiều cách để thay đổi “bi kịch” này. Nhưng họ đều nhận thất bại về mình.

Con số 45.000 đồng/ người/ tháng là con số làm choáng váng tất cả những người không là nông dân. Chúng ta, những người đang sống ở các đô thị, hãy lặng lẽ về nhà tính thử một ngày tổng chi phí của mỗi chúng ta sẽ bằng bao nhiêu tháng chi phí của một người nông dân.

Thậm chí, có không ít người chi phí một ngày cho riêng cá nhân họ sẽ bằng tổng chi phí từ 6 tháng đến 1 năm của một người nông dân. Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập từ canh tác trên mảnh ruộng của mình thì người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt vv…

Nhưng những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi của hầu hết các gia đình nông dân cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống của họ. Còn nghề phụ của hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang dần dần teo lại vì tính hiệu quả quá thấp.

Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi đưa ra ở trên vẫn là một con số hơi lạc quan. Thực tế có những gia đình nông dân tính đầu người không quá một nửa sào ruộng và có nơi còn ít hơn thế. Vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa và cũng không có ruộng để chia.

Vì vậy, một gia đình có 2 vợ chồng trẻ và 3 đứa con, tổng cộng là 5 người chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn càng ngày càng nhiều. Nhiều người nói ruộng canh tác của nông dân càng ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế. Nhưng vì dân số càng ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên một đầu người càng ngày càng ít.

Trong khi đó những chi phí cho sinh hoạt của người nông dân càng ngày càng nhiều. Họ phải trả tiền điện, tiền đóng góp trường học và tiền giấy bút cho con cái, tiền chất đốt, tiền chữa bệnh, tiền ma chay cưới xin, tiền sắm sửa đồ dùng, tiền sửa sang hoặc xây nhà cửa, tiền đóng góp xây dựng đường sá, cống rãnh trong làng…

Tất cả những chi phí nói trên là bắt buộc mà không một gia đình nông dân nào thoát khỏi. Họ thu nhập như thế và phải chi tiêu như thế. Bất cứ ai cũng có thể dễ dàng làm một phép tính cộng trừ đơn giản để thấy được đời sống thực sự của những người nông dân hiện nay như thế nào.

Nhưng từ đó đến nay, phương thức sản xuất nông nghiệp của những người nông dân vẫn không có gì thay đổi đáng kể. Đầu những năm 1950 của thế kỷ trước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống cơ giới và kỹ thuật nông nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp khá tốt.

Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng. Tương lai này có thể gọi là thời đại cơ giới hóa. Máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế. Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp đã coi như tan biến.

Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng “ngủ” thiếp từ lâu. Tôi mang cảm giác người nông dân bị bỏ mặc và trở nên bơ vơ trên cánh đồng đầy nắng mưa, bão gió.

Có một điều kỳ lạ là bây giờ, thi thoảng chúng ta vẫn thấy trên các phương tiện truyền thông vẫn hồ hởi đưa tin những người nông dân sáng chế ra máy gặt lúa, tuốt lúa, máy gieo hạt… như một thành tựu khoa học.

Tôi xin hỏi những nhà sáng chế nhiều bằng cấp trong các viện sáng chế của nhà nước đang ở đâu và đang làm gì mà phải để cho mấy người nông dân có khi chỉ học hết lớp ba trường làng hì hục nghiên cứu ra một số phương tiện để bớt đi những vất vả của chính họ rồi truyền hình và một số báo chí lao vào ca ngợi như một sự phát hiện ?

Một hiện thực nữa là từ năm 1954, chúng ta đã bắt đầu đào tạo những kỹ sư nông nghiệp một cách có hệ thống. Theo tôi biết, mỗi năm ít nhất có khoảng vài trăm kỹ sư nông nghiệp ra trường.

Nhưng suốt một nửa thế kỷ nay, ở rất nhiều vùng quê tôi biết thì không hề có lấy một ông (bà) kỹ sư nông nghiệp nào về sống, làm việc cùng nông dân và hướng dẫn họ. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì những người nông dân cả nước đang sống theo kiểu du canh. Nghĩa là, họ sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo bản năng và thói quen như tổ tiên họ trước kia.

Những người nông dân được hỏi đều buồn bã thừa nhận rằng không ai quan tâm đến họ. Nhiều người nông dân hài hước nói: Chúng tôi đang được quan tâm vì người ta muốn lấy ruộng để xây dự án. Họ được đền bù một số tiền mà họ chưa bao giờ có.

Nhưng những đồng tiền đền bù đó chính là những đồng tiền sẽ mua sự thất nghiệp và những thách thức khác cho chính họ mà họ không biết. Hoặc họ có biết nhưng họ làm sao cưỡng lại được. Chính sách mà họ thực sự cần là chính sách tạo công ăn việc làm cho họ và con cháu họ sau khi không còn đất để cấy trồng nữa ở những nơi mà ruộng đất ngàn đời của họ đã và đang bị chung cư hóa.

Khi được quyền sở hữu ruộng canh tác, không ít người nông dân đã bỏ lúa để trồng một thứ cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng. Nhưng họ vẫn không có được một chiến lược nông nghiệp và không có khả năng đột phá trong sản xuất. Hơn lúc nào hết, người nông dân lúc này cần có một cuộc cách mạng công nghệ để thay đổi nếp làm ăn cũ của họ và mang lại thu nhập cao hơn từ mảnh ruộng của họ.

Cuộc cách mạng này chỉ có được từ một chiến lược về nông nghiệp và nông thôn chứ bản thân người nông dân không thể làm được. Và chỉ có cuộc cách mạng lần thứ ba này mới thay đổi được một cách cơ bản đời sống của nông thôn Việt Nam và người nông dân.

http://antgct.cand.com.vn/So-tay/Nong-thon-Viet-Nam-va-cuoc-cach-mang-ruong-dat-lan-thu-ba-426087/

Phần nhận xét hiển thị trên trang