Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Đọc lại khi rảnh:

Bài phát biểu từ nhiệm của TT OBAMA

Tổng thống Barack Obama phát biểu chia tay Nhà Trắng tại thành phố quê nhà Chicago vào tối ngày 10/1, tức sáng ngày 11/1 giờ Hà Nội. Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông:
"Xin chào Chicago
Thật vui khi trở về nhà. Cảm ơn tất cả mọi người.
Michelle và tôi cảm thấy rất xúc động vì những lời chúc mà các bạn đã gửi tới chúng tôi trong hai tuần qua. Nhưng tối nay, đến lượt tôi nói lời cảm ơn. Dù chúng ta đã từng nhìn hòa thuận hay không hề đồng tình với nhau, những cuộc trao đổi giữa tôi với các bạn - người dân nước Mỹ, trong các phòng khách, nông trại, nhà máy, các bữa tiệc hay những tiền đồn quân sự xa xôi, đã giúp tôi trung thực, giúp tôi có nguồn cảm hứng và tiếp tục công việc. Mỗi ngày tôi đều học được từ các bạn.
Các bạn đã giúp tôi trở thành tổng thống tốt hơn, một người đàn ông tốt hơn.
Tôi lần đầu tiên đến Chicago khi mới ngoài 20 tuổi, đang cố tìm hiểu xem mình là ai, vẫn đang tìm kiếm mục đích của đời mình. Tôi bắt đầu làm việc trong một nhóm nhà thờ, gần một nhà máy thép đã đóng cửa ở gần đây. Trên những con phố đó, tôi đã chứng kiến sức mạnh của lòng tin, cùng phẩm chất thầm lặng của những người lao động khi đối mặt với khó khăn, mất mát.
Đây chính là nơi tôi học được rằng thay đổi chỉ có thể diễn ra khi những người bình thường được tham gia, cùng nhau đòi hỏi điều đó. Sau 8 năm làm tổng thống của các bạn, tôi vẫn tin tưởng vào điều đó.
Đó không chỉ là niềm tin của tôi, đó là nhịp đập của lý tưởng Mỹ chúng ta, trải nghiệm của chúng ta về chế độ tự quản.
Đó là niềm tin rằng chúng ta đều sinh ra bình đẳng, tạo hóa ban cho chúng ta quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Cần phải thừa nhận rằng những quyền đó dù là hiển nhiên nhưng không thể tự nhiên mà có. Chúng ta - người dân, thông qua công cụ của nền dân chủ, có thể tạo nên một thể thống nhất hoàn hảo hơn.
Đó là món quà lớn mà những bậc khai quốc đã trao cho chúng ta. Quyền tự do theo đuổi những giấc mơ của bản thân bằng mồ hôi, lao động và trí óc, cùng nghĩa vụ phải phấn đấu cùng nhau, nhằm đạt được những điều tốt đẹp hơn.
Trong 240 năm, lời kêu gọi của đất nước với người dân đã mang lại công việc và mục đích cho mỗi thế hệ mới. Đó là điều khiến những người yêu nước chọn nền cộng hòa chứ không phải sự chuyên chế, khiến những người tiên phong đi về phía Tây, những người nô lệ lên những đường sắt tạm bợ để đến với tự do. Đó là những điều khiến người nhập cư và tị nạn vượt đại dương và sông Rio Grande. Đó là điều thúc đẩy phụ nữ yêu cầu quyền bầu cử, thôi thúc người lao động làm việc và những người lính Mỹ sẵn sàng hiến dâng cuộc sống tại bãi biển Omaha, Iwo Jima, Iraq và Afghanistan và lý do đàn ông và phụ nữ từ Selma đến Stonewall cũng sẵn sàng làm vậy.
Vì vậy, đó là những gì chúng tôi ám chỉ khi nói rằng nước Mỹ rất đặc biệt. Không phải là đất nước này hoàn mỹ ngay từ đầu mà chúng ta đã thể hiện được năng lực thay đổi và làm cho cuộc sống tốt hơn . Đúng, sự tiến bộ của chúng ta đã không đồng đều. Công việc của nền dân chủ luôn khó khăn và gây tranh cãi, đôi khi còn đẫm máu. Cứ bước hai bước về phía trước, chúng ta lại có cảm giác có một bước lùi. Nhưng lịch sử dài của Mỹ đã được xác định bởi nỗ lực tiến về phía trước, được xác định bởi sự tiếp nối tín điều lập quốc là nước Mỹ mở rộng vòng tay với tất cả mọi người chứ không chỉ là một số.
Nếu tôi đã nói với bạn cách đây 8 năm rằng nước Mỹ sẽ đảo ngược cuộc suy thoái lớn, khởi động lại ngành công nghiệp ôtô và mở ra nhiều việc làm nhất trong lịch sử. Nếu tôi đã nói với các bạn rằng chúng ta sẽ mở ra một chương mới với người dân Cuba, chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân của Iran mà không phải nổ một phát súng nào và tiêu diệt kẻ chủ mưu vụ 11/9. Nếu tôi nói với các bạn rằng chúng ta sẽ thắng trong cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng trong kết hôn và đảm bảo quyền được chăm sóc y tế cho thêm 20 triệu đồng bào.
Nếu tôi nói với các bạn rằng, các bạn có thể nghĩ tầm nhìn của chúng ta hơi cao. Nhưng đó là những gì chúng ta đã làm, các bạn đã làm. Các bạn chính là sự thay đổi. Các bạn đáp lại niềm hy vọng của người dân, và chính nhờ các bạn cùng gần như tất cả những biện pháp đó, nước Mỹ là đã trở nên hùng mạnh hơn trước đây, khi chúng ta khởi đầu.
Trong 10 ngày nữa, thế giới sẽ chứng kiến một bước ngoặt trong nền dân chủ của chúng ta. Việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình sẽ diễn ra giữa một tổng thống dân bầu cho người kế nhiệm. Tôi cam kết với Tổng thống đắc cử Trump rằng chính quyền của tôi sẽ đảm bảo quá trình chuyển giao thuận lợi nhất có thể, giống như những gì Tổng thống Bush đã từng làm cho tôi.
Bởi vì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đảm bảo cho chính phủ có thể đối phó được với những thách thức mà chúng ta vẫn đang đối mặt. Chúng ta có những thứ cần thiết để làm như vậy. Chúng ta có mọi thứ để đáp lại những thách thức đó.
Rốt cuộc, chúng ta vẫn là quốc gia giàu có nhất, hùng mạnh nhất, được tôn trọng nhất trên thế giới. Sức trẻ, động lực, sự cởi mở và đa dạng, khả năng chấp nhận mạo hiểm và tái tạo vô tận của chúng ta đồng nghĩa với việc tương lai sẽ thuộc về chúng ta. Nhưng ý chí đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi nền dân chủ của chúng ta hoạt động, nếu nền chính trị của chúng ta phản ánh tốt hơn nguyện vọng của nhân dân.
Chỉ khi tất cả chúng ta, bất kể đảng phái hay lợi ích, cùng góp tay vào mục tiêu chung, chính là thứ mà chúng ta đang rất cần đến. Đó chính là điều mà tôi muốn tập trung đề cập tối nay. Tình trạng nền dân chủ của chúng ta.
Dân chủ không có nghĩa là tất cả đều có ý kiến như nhau. Những bậc khai quốc của chúng ta cũng đã tranh luận, cãi nhau, nhưng cuối cùng họ đã thỏa hiệp, họ kỳ vọng chúng ta cũng làm như vậy. Nhưng họ biết rằng nền dân chủ cần đến nền tảng cơ bản của sự đoàn kết, với niềm tin rằng dù có những khác biệt, tất cả chúng ta đều cùng chung một đất nước. Dù trỗi dậy hay đi xuống, chúng ta luôn đồng hành cùng nhau.
Có những thời khắc trong lịch sử, sự đoàn kết đó đã bị đe dọa. Thời kỳ đầu của thế kỷ này là một trong những thời khắc như vậy. Một thế giới suy thoái, sự bất bình đẳng gia tăng, thay đổi nhân khẩu học và sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng bố. Những thế lực đó không chỉ thử thách an ninh, thịnh vượng của chúng ta, mà còn thách thức nền dân chủ.
Cách chúng ta đối phó với những thách thức của nền dân chủ sẽ quyết định khả năng giáo dục con em, tạo ra công ăn việc làm, và bảo vệ đất nước. Nói cách khác, nó sẽ quyết định tương lai của chúng ta.
Nền dân chủ của chúng ta sẽ không hoạt động nếu không có niềm tin rằng mọi người đều có cơ hội về kinh tế. Tin tốt là kinh tế chúng ta đang tăng trưởng trở lại, lương, thu nhập, giá trị nhà đất và tiền hưu trí cũng tăng, trong khi đói nghèo đang giảm bớt.
Người giàu đang phải trả một khoản thuế công bằng. Thị trường chứng khoán đang phá vỡ các kỷ lục. Tỷ lệ thất nghiệp ở gần mức thấp nhất trong 10 năm. Tỷ lệ người không có bảo hiểm chưa bao giờ thấp hơn thế.
Chi phí y tế đang tăng với tốc độ chậm nhất trong 50 năm. Nếu ai có thể vạch ra kế hoạch tốt hơn so những cải tiến chúng tôi đã làm được với hệ thống y tế - đáp ứng được nhiều người với chi phí ít hơn - thì tôi sẽ công khai ủng hộ nó.
Bởi vì sau tất cả, đó là lý do chúng tôi phục vụ đất nước, không phải để ghi điểm hay được kể công, mà là để cho cuộc sống của người dân tốt hơn. Nhưng với tất cả các tiến bộ thực sự mà chúng tôi đã làm được, chúng tôi biết như thế là chưa đủ. Nền kinh tế không thể hiệu quả và phát triển nhanh khi sự giàu có của một vài người lại gây ảnh hưởng đến tầng lớp trung lưu và nấc thang cho những người muốn được vào tầng lớp trung lưu.
Đó là lý luận về mặt kinh tế, nhưng sự bất bình đẳng rõ rệt cũng làm xói mòn tư tưởng dân chủ. Trong khi nhóm 1% tích lũy được lượng của cải và thu nhập lớn thì rất nhiều gia đình, các khu vực nghèo khó, cộng đồng thiểu số và vùng nông thôn bị bỏ lại phía sau.
Những công nhân nhà máy, bồi bàn hay nhân viên y tế bị sa thải gặp quá nhiều khó khăn để xoay xở cuộc sống tin rằng cuộc chơi chống lại phía họ, rằng chính phủ chỉ phục vụ cho lợi ích của những người quyền lực và điều đó càng làm tăng thêm sự hoài nghi và phân cực chính trị.
Không có cách nhanh chóng để sửa chữa xu hướng đã kéo dài này. Tôi đồng ý rằng thương mại của chúng ta nên công bằng chứ không chỉ tự do. Nhưng làn sóng tiếp theo của sự phân rã kinh tế sẽ không đến từ nước ngoài, nó sẽ đến từ tốc độ tự động hóa không ngừng khiến rất nhiều công việc của tầng lớp trung lưu trở nên lỗi thời.
Vì vậy, chúng ta phải có một sự sắp xếp xã hội mới để đảm bảo tất cả trẻ em đều nhận được sự giáo dục chúng cần, để cho người lao động đấu tranh yêu cầu thu nhập cao hơn, để củng cố lưới an toàn xã hội, để phản ánh cách chúng ta sống và tiến hành nhiều cải cách thuế hơn, nhằm khiến các công ty và cá nhân hưởng lợi nhiều nhất từ ​​nền kinh tế mới này không trốn tránh được nghĩa vụ của họ với đất nước đã giúp họ làm nên thành công.
Chúng ta có thể tranh luận về cách để đạt được những mục tiêu đó tốt nhất.
Nhưng chúng ta không thể tự mãn về những mục tiêu đó, bởi nếu chúng ta không tạo cơ hội cho tất cả mọi người, sự bất mãn và chia rẽ cản trở tiến bộ sẽ chỉ càng sâu sắc hơn trong những năm tới.
Nền dân chủ của chúng ta còn phải đối mặt với mối đe dọa thứ hai, mối đe dọa có từ ngày đầu lập quốc. Sau khi tôi đắc cử, đã có nhiều tranh luận về một nước Mỹ không còn nạn phân biệt chủng tộc. Viễn cảnh đó, dù rất được kỳ vọng, đã không trở thành hiện thực.
Chủng tộc vẫn là một thế lực gây chia rẽ trong xã hội chúng ta. Tôi đã sống đủ lâu để biết rằng quan hệ giữa các sắc tộc hiện nay đã tốt hơn rất nhiều so với 10 hay 20 năm trước, dù ai nói gì đi chăng nữa.
Bạn có thể thấy điều đó qua các con số thống kê, qua thái độ của thanh niên Mỹ thuộc các trường phái chính trị. Nhưng chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu mong muốn.
Tất cả chúng ta phải nỗ lực hơn nữa. Nếu tất cả vấn đề kinh tế đều được quy về như cuộc đấu tranh giữa tầng lớp trung lưu da trắng lao động miệt mài và cộng đồng thiểu số không xứng đáng thì người lao động thuộc mọi sắc tộc sẽ phải giành nhau từng miếng ăn, trong khi giới nhà giàu rút sâu thêm vào những ốc đảo của họ.
Nếu chúng ta không muốn đầu tư vào con cái của người tị nạn chỉ vì họ không giống chúng ta, chúng ta sẽ tước bỏ sự thịnh vượng của chính con em mình, bởi những đứa trẻ da màu kia sẽ gánh vác một phần ngày càng lớn trong lực lượng nhân công của Mỹ.
Chúng ta đã cho thấy nền dân chủ của mình không phải là trò chơi “người thắng hưởng tất”. Năm ngoái, mức thu nhập tăng lên với mọi chủng tộc, mọi lứa tuổi, giới tính. Thế nên nếu chúng ta nghiêm túc về vấn đề chủng tộc, chúng ta phải củng cố những điều luật chống lại nạn phân biệt chủng tộc trong tuyển dụng lao động, trong cung cấp chỗ ở, giáo dục và trong hệ thống tư pháp.
Đó là điều Hiến pháp và những lý tưởng cao nhất của chúng ta đòi hỏi.
Nhưng chỉ luật pháp thôi là chưa đủ. Trái tim cũng phải đổi thay. Chúng không thể thay đổi chỉ trong một đêm. Thái độ xã hội thường phải mất nhiều thế hệ mới đổi khác.
Nhưng nếu nền dân chủ của chúng ta hoạt động theo đúng đường đi của nó trong một quốc gia ngày càng đa dạng, mỗi chúng ta cần phải nỗ lực lưu tâm đến lời khuyên của nhân vật Atticus Finch (trong tác phẩm "Giết con chim nhại"), người nói rằng bạn không bao giờ thực sự hiểu một người cho đến khi bạn nhìn nhận sự việc từ quan điểm của người đó, cho đến khi bạn "khoác trên mình tấm da của người đó".
Đối với người da màu và các nhóm thiểu số khác, điều đó có nghĩa là gắn kết cuộc đấu tranh cho công lý với những thách thức mà rất nhiều người dân ở nước này phải đối mặt, không chỉ là người tị nạn, di dân, người nghèo nông thôn hay người chuyển giới Mỹ mà còn cả những người nam giới da trắng trung niên. Bên ngoài họ có vẻ có lợi thế nhưng họ lại thấy thế giới của mình đảo lộn bởi sự thay đổi về kinh tế, văn hóa và công nghệ.
Đối với người Mỹ da trắng, điều đó có nghĩa là thừa nhận rằng những ảnh hưởng của chế độ nô lệ và Jim Crow (chế độ giai cấp đặt cơ sở trên màu da) không đột nhiên biến mất trong những năm 1960. Đó là nhờ các nhóm thiểu số đã cất tiếng nói bất mãn, tham gia vào việc đảo ngược nạn phân biệt chủng tộc hay thực hành chính trị đúng đắn. Khi họ tiến hành biểu tình ôn hoà, họ không đòi hỏi được đối xử đặc biệt mà họ muốn sự đối xử công bằng mà những bậc khai quốc đã hứa hẹn.
Đối với người Mỹ bản địa, điều đó có nghĩa là nhắc nhở mình rằng những thành kiến ​​giờ họ nói về người nhập cư cũng giống như những thành kiến năm xưa được quy chụp cho những người gốc Ireland, Italy hay Ba Lan - những người được cho là sẽ hủy hoại giá trị cơ bản của Mỹ. Cuối cùng thì nước Mỹ không bị suy yếu bởi sự hiện diện của những người mới đến, họ chấp nhận tín điều của dân tộc này và nó càng được củng cố.
Thế nên dù ở đâu chăng nữa, chúng ta đều phải nỗ lực hơn. Chúng ta phải khởi đầu với tiền đề rằng mỗi công dân đều yêu mến đất nước này nhiều như chúng ta, họ cũng trân trọng giá trị của lao động và gia đình như chúng ta. Con em của họ cũng tò mò, tràn đầy hy vọng và đáng được yêu thương như con em chúng ta.
Đó không phải là điều dễ dàng. Nhiều người trong chúng ta cảm thấy an toàn hơn với việc rút vào bong bóng của riêng mình, dù là ở khu phố hay trường đại học, nơi thờ tự hay trên mạng xã hội, nơi được bao quanh bởi những người có ngoại hình giống chúng ta, cùng chia sẻ quan điểm chính trị và không bao giờ chất vấn những giả thuyết của chúng ta. Sự trỗi dậy của lòng trung thành trần trụi với đảng chính trị, sự gia tăng phân tầng kinh tế và khu vực, sự phân mảnh của truyền thông để đáp ứng mọi thị hiếu – tất cả khiến thái độ phân loại này trở nên tự nhiên, thậm chí là không thể tránh khỏi.
Chúng ta ngày càng trở nên an toàn trong bong bóng của mình đến mức bắt đầu chỉ chấp nhận những thông tin phù hợp với quan điểm của mình, dù thông tin đó có đúng sự thật hay không, thay vì xây dựng quan điểm dựa trên những bằng chứng thực tế.
Xu hướng này tạo nên mối đe dọa thứ ba cho nền dân chủ. Chính trị là cuộc chiến về ý tưởng. Trong cuộc tranh luận lành mạnh, chúng ta ưu tiên những mục tiêu khác nhau, cùng những biện pháp khác nhau để đạt được các mục tiêu đó. Nhưng khi không có nền tảng cơ bản dựa trên sự thật, không có thái độ sẵn sàng tiếp nhận thông tin mới, cùng sự thừa nhận rằng đối thủ của bạn đang đưa ra quan điểm đúng, không dựa trên khoa học và lý lẽ, chúng ta sẽ liên tục cướp lời nhau, khiến quan điểm chung và sự đồng thuận trở nên vô vọng.
Đó có phải là một phần nguyên nhân khiến mọi người nản chí vào chính trị? Làm sao các quan chức được bầu lại nổi giận về thâm hụt ngân sách khi chúng tôi đề xuất chi tiền cho trẻ em học mẫu giáo, nhưng lại không nói gì khi chúng tôi cắt giảm thuế doanh nghiệp? Làm sao chúng ta có thể bỏ qua những sai sót về đạo đức trong đảng của mình, nhưng lại sửng cồ khi đảng khác làm như vậy? Đó không chỉ là không trung thực, việc tự chọn lọc thực tế này chính là hành động tự đánh bại mình. Mẹ tôi thường nói với tôi rằng, sự thật luôn có cách để bám theo bạn.
Về thách thức của vấn đề biến đổi khí hậu. Chỉ trong 8 năm qua, chúng ta đã giảm một nửa sự phụ thuộc vào dầu mỏ nước ngoài, tăng gấp đôi nguồn năng lượng tái tạo, dẫn dắt thế giới tới một thỏa thuận có thể cứu lấy hành tinh này. Nhưng nếu không có hành động quyết liệt, con em chúng ta sẽ không có thời gian để tranh luận về sự tồn tại của biến đổi khí hậu, chúng sẽ phải đối phó với hậu quả của nó: thảm họa môi trường, suy thoái kinh tế, cùng những làn sóng tị nạn khí hậu tìm nơi trú ẩn.
Chúng ta giờ đây nên tranh luận về cách tốt nhất để giải quyết vấn đề. Việc phủ nhận vấn đề một cách giản đơn không chỉ là hành động phản bội các thế hệ tương lai, nó còn đi ngược lai tinh thần đổi mới, giải quyết vấn đề một cách thực tế mà các bậc khai quốc đã đề ra.
Chính tinh thần đó đã biến chúng ta thành một cường quốc kinh tế, tinh thần đã giúp chúng ta chinh phục không gian, chữa trị các căn bệnh nan y và biến máy tính thành những thiết bị bỏ túi.
Tinh thần đó – lòng tin vào lý lẽ, vào doanh nghiệp và sự thắng thế của lẽ phải trước cường quyền, đã cho phép chúng ta chống lại sự cám dỗ của chủ nghĩa phát xít và tài phiệt trong thời kỳ Đại Suy thoái, xây dựng một trật tự hậu Thế chiến II cùng các nền dân chủ khác, một trật tự không dựa trên sức mạnh quân sự hay kéo bè kết cánh, mà dựa trên các nguyên tắc thượng tôn pháp luật, nhân quyền và các quyền tự do khác.
Trật tự đó giờ đây đang bị thử thách, đầu tiên là bởi những kẻ cuồng tín tự cho mình đại diện cho đạo Hồi, gần đây hơn là bởi những kẻ coi thị trường tự do, dân chủ cởi mở là những mối đe dọa đối với quyền lực của họ. Mối đe dọa đối với nền dân chủ của chúng ta không dừng lại ở một quả bom xe hay tên lửa. Nó thể hiện nỗi sợ phải thay đổi, nỗi sợ của những người nhìn, nói hay cầu nguyện khác nhau, sự phớt lờ quy tắc thượng tôn pháp luật vốn buộc các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm, và sự thiếu khoan dung với những tư tưởng tự do, bất đồng. Cùng với đó là niềm tin rằng súng gươm, bom đạn hay bộ máy tuyên truyền là kẻ phán xử cuối cùng cho sự thật và lẽ phải.
Nhờ lòng dũng cảm phi thường của những người lính, các sĩ quan tình báo, lực lượng thực thi pháp luật, các nhà ngoại giao, không tổ chức khủng bố nước ngoài nào có thể lên kế hoạch và thực hiện thành công một vụ tấn công trong lòng nước Mỹ suốt 8 năm qua. Dù vụ tấn công ở Boston và Orlando nhắc nhở chúng ta về mối nguy hiểm của sự cực đoan hóa, các cơ quan hành pháp Mỹ đang hoạt động hiệu quả và cảnh giác hơn bao giờ hết.
Chúng ta đã tiêu diệt hàng chục nghìn kẻ khủng bố, trong đó có Osama bin Laden. Liên minh toàn cầu chống IS mà chúng ta dẫn đầu đã lấy lại khoảng một nửa vùng kiểm soát của chúng. IS sẽ bị tiêu diệt và những kẻ đe dọa nước Mỹ sẽ không bao giờ được an toàn. Với những người lính phục vụ cho đất nước, việc tôi được làm Tổng Tư lệnh của các bạn là niềm vinh dự cả cuộc đời.
Nhưng để bảo vệ cuộc sống của chúng ta, quân đội là chưa đủ. Nền dân chủ có thể bị khuất phục khi chúng ta sợ hãi. Thế nên chúng ta, những công dân của nước Mỹ, cần phải duy trì cảnh giác với những mối đe dọa từ bên ngoài, đề phòng sự suy giảm những giá trị đã đưa chúng ta đến ngày hôm nay.
Đó là lý do trong 8 năm qua, tôi đã nỗ lực đặt cuộc chiến chống khủng bố trên nền tảng pháp lý vững chắc. Đó là lý do chúng ta chấm dứt tình trạng tra tấn tù nhân, nỗ lực đóng cửa nhà tù Gitmo, cải cách các điều luật về do thám để đảm bảo quyền tự do cá nhân và dân sự.
Đó là lý do tôi bác bỏ sự phân biệt chống lại người Mỹ theo Hồi giáo. Đó là lý do chúng ta không thể rút khỏi các cuộc chiến khắp toàn cầu – để mở rộng nền dân chủ, quyền con người, quyền phụ nữ, quyền của cộng đồng LGBT. Nếu tự do và sự tôn trọng pháp luật suy giảm trên khắp thế giới, nguy cơ nổ ra chiến tranh giữa các nước và trong lòng mỗi quốc gia sẽ tăng lên, khiến tự do của chúng ta cuối cùng sẽ bị đe dọa.
Vậy nên hãy cảnh giác, nhưng đừng sợ hãi. IS sẽ tìm cách giết hại người vô tội, nhưng chúng không thể đánh bại được nước Mỹ, trừ phi chúng ta phản bội lại chính Hiến pháp và các nguyên tắc của mình trong cuộc chiến. Các đối thủ như Nga và Trung Quốc không thể sánh được với chúng ta về tầm ảnh hưởng toàn cầu, trừ phi chúng ta từ bỏ những gì đang bảo vệ, tự biến mình thành một nước lớn khác chuyên đi bắt nạt những quốc gia láng giềng nhỏ hơn.
Tất cả chúng ta, dù thuộc đảng phái nào, cũng cần tham gia nỗ lực xây dựng lại các thể chế dân chủ của mình. Khi tỷ lệ đi bỏ phiếu xuống đến mức thấp nhất trong các nền dân chủ tiến bộ, chúng ta cần phải làm cho việc bầu cử trở nên dễ dàng hơn, chứ không phải khó khăn đi. Khi niềm tin vào thể chế xuống thấp, chúng ta cần phải giảm bớt ảnh hưởng của đồng tiền trong chính trị, bám vào các nguyên tắc minh bạch và đạo đức trong các cơ quan nhà nước. Khi quốc hội bị tê liệt, chúng ta cần khuyến khích các chính trị gia tuân theo giá trị chung chứ không phải những quan điểm cực đoan cứng rắn.
Tất cả những điều đó phụ thuộc vào sự tham gia của chúng ta, vào việc mỗi chúng ta chấp nhận trách nhiệm công dân của mình, dù cán cân quyền lực có nghiêng về bên nào đi chăng nữa.
Hiến pháp Mỹ là món quà tuyệt vời, nhưng nó cũng chỉ là một tấm giấy da dê. Nó không hề có quyền lực của riêng mình. Chúng ta, người dân Mỹ, trao quyền lực cho nó, với sự tham gia của mình, với những lựa chọn chúng ta đưa ra. Nó tùy thuộc vào việc chúng ta có đứng lên cho tự do của mình hay không, có tôn trọng và thực thi pháp luật hay không. Nước Mỹ không hề mong manh, nhưng những thành tựu của chúng ta trên hành trình tự do lâu dài vẫn chưa được đảm bảo.
Trong diễn văn từ biệt của mình, George Washington viết rằng chế độ tự quản là xương sống cho sự an toàn, thịnh vượng, tự do, nhưng "vì những lý do khác nhau, chúng ta thường phải chấp nhận đau đớn để làm suy yếu tư tưởng bác bỏ sự thật này", rằng chúng ta cần phải bác bỏ "ngay từ trong trứng nước những nỗ lực nhằm tách bất cứ bộ phận nào của đất nước ra khỏi phần còn lại hay làm suy yếu mối ràng buộc thiêng liêng" đã giúp nước Mỹ là một thể thống nhất.
Chúng ta làm suy yếu những mối ràng buộc đó khi chúng ta cho phép những cuộc tranh luận chính trị trở nên tai hại khiến người tốt phải im lặng, những lời lẽ đầy hận thù đến mức những người Mỹ mà chúng ta không có cùng ý kiến không chỉ bị lầm lạc mà còn trở nên hận thù. Chúng ta làm suy yếu những ràng buộc đó khi chúng ta tự cho rằng mình "Mỹ" hơn những người khác, khi chúng ta coi toàn bộ hệ thống là sự thối nát không thể tránh khỏi, khi chúng ta đổ lỗi cho các lãnh đạo do mình bầu ra mà không tự xem lại vai trò của mình khi bỏ phiếu cho họ.
Mỗi chúng ta phải là những người bảo vệ chặt chẽ cho nền dân chủ, chấp nhận sứ mệnh mà chúng ta được trao để không ngừng nỗ lực cải thiện quốc gia vĩ đại này. Bởi vì dù tồn tại bất cứ bất đồng nào, chúng ta đều có chung một danh hiệu đáng tự hào: Công dân Mỹ.
Trên hết, đó là những điều nền dân chủ của chúng ta yêu cầu. Chúng tôi cần các bạn, không chỉ khi có bầu cử, không chỉ khi lợi ích riêng bạn bị đe dọa mà trong suốt toàn bộ cuộc đời. Nếu bạn đã phát chán tranh cãi với người lạ trên Internet thì hãy cố gắng nói chuyện với một người trong cuộc sống thực. Nếu có gì cần sửa chữa, hãy đứng dậy và làm việc đó. Nếu các quan chức dân cử làm bạn thất vọng thì hãy tự ra ứng cử. Hãy thể hiện. Nhiệt huyết. Kiên trì.
Đôi khi bạn sẽ thành công, đôi khi lại thất bại. Tin tưởng rằng người khác sẽ đối tốt với mình có thể là rủi ro và sẽ có những lúc quá trình làm bạn thất vọng. Nhưng đối với những người đủ may mắn để tham gia đóng góp vào công việc này, nhìn nó thật cận cảnh thì hãy để tôi nói với bạn, nó sẽ tiếp thêm sinh lực và truyền cảm hứng, niềm tin của các bạn vào nước Mỹ và người Mỹ sẽ được củng cố.
Và thực sự, niềm tin của tôi đã được củng cố. Trong suốt 8 năm qua, tôi đã nhìn thấy những gương mặt đầy hy vọng của sinh viên trẻ tốt nghiệp và những người lính mới. Tôi đã chia buồn với những gia đình đau khổ tìm kiếm câu trả lời và cầu nguyện ở nhà thờ Charleston (nơi xảy ra một vụ thảm sát năm 2015). Tôi đã nhìn thấy các nhà khoa học giúp một người đàn ông bị liệt lấy lại cảm giác và khiến các thương binh bước đi trở lại. Tôi đã nhìn thấy các bác sĩ và tình nguyện viên xây dựng lại cơ sở vật chất sau những trận động đất và ngăn chặn dịch bệnh. Tôi đã nhìn thấy những đứa trẻ nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ chăm sóc cho người tị nạn, làm việc trong hòa bình và trên tất cả là quan tâm đến nhau.
Từ lâu tôi đã đặt niềm tin vào sức mạnh của những người Mỹ bình thường rằng họ có thể mang lại thay đổi và niềm tin đó đã được đáp lại bằng nhiều cách mà tôi không thể tưởng tượng. Tôi hy vọng các bạn cũng như vậy. Một số bạn ở đây tối nay hoặc đang xem truyền hình ở nhà đã đồng hành với chúng tôi trong năm 2004, năm 2008, năm 2012 và có lẽ các bạn vẫn không thể tin rằng chúng ta lại làm được những điều đó.
Em không phải là người duy nhất nghĩ vậy, Michelle. Trong 25 năm qua, em không chỉ là người vợ và mẹ của các con mà còn là người bạn thân nhất của anh. Tuy em chưa từng yêu cầu phải được đảm nhận trọng trách này, em đã thực hiện nó với sự tinh tế, táo bạo, phong cách và sự hài hước. Em khiến Nhà Trắng trở thành nơi thuộc về tất cả mọi người. Thế hệ mới có tiêu chuẩn cao hơn bởi vì họ coi em là hình mẫu. Em đã làm anh tự hào. Em đã làm cho đất nước tự hào.
Malia và Sasha, trong một hoàn cảnh sống đặc biệt nhất, hai con đã trở thành những thiếu nữ tuyệt vời, thông minh, xinh đẹp và quan trọng hơn là tốt bụng, chu đáo và đầy đam mê. Các con đã gánh vác gánh nặng trở thành tâm điểm chú ý trong nhiều năm thật dễ dàng. Trong tất cả những điều bố đã làm trong đời, điều bố tự hào nhất là làm bố của các con.
Còn Joe Biden, cậu bé hay gây gổ ở Scranton trở thành người con đáng mến của Delaware – anh là lựa chọn đầu tiên và tốt nhất tôi đã quyết định khi làm ứng viên tổng thống. Không chỉ vì anh là một phó tổng thống tuyệt vời và còn bởi vì tôi đã có thêm một người anh em. Chúng tôi yêu quý anh và Jill giống như gia đình, tình bạn của anh là một trong những niềm vui lớn nhất trong cuộc sống của chúng tôi.
Gửi đến những nhân viên tuyệt vời của tôi, trong 8 năm qua tôi đã được truyền năng lượng từ các bạn và cố gắng phản ánh lại những gì các bạn thể hiện hàng ngày: nhiệt huyết, nghị lực và lý tưởng. Tôi theo dõi các bạn trưởng thành, lập gia đình, sinh con và tự bắt đầu hành trình tuyệt vời của mình. Ngay cả vào những thời điểm khó khăn và mệt mỏi, bạn không bao giờ để Washington khiến bạn đánh mất bản thân. Điều duy nhất khiến tôi tự hào hơn tất cả những điều tốt đẹp chúng tôi đã làm là suy nghĩ về những điều tuyệt vời các bạn sẽ làm được sau này.
Và với tất cả mọi người - những nhà tổ chức đã chuyển tới sống tại một thị trấn xa lạ và những gia đình tốt bụng đã chào đón họ, những tình nguyện viên đã gõ cửa từng nhà, những thanh niên đi bỏ phiếu lần đầu tiên, những người Mỹ đã sống và cảm nhận được những nỗ lực thay đổi - các bạn là những người ủng hộ và nhà tổ chức tốt nhất bất cứ ai có thể mong muốn và tôi sẽ mãi mãi biết ơn các bạn. Bởi vì các bạn đã thay đổi thế giới.
Đó là lý do khi tôi rời khỏi sân khấu này tối nay, tôi thậm chí còn lạc quan hơn về đất nước này khi tôi mới bắt đầu lãnh đạo đất nước. Bởi vì tôi biết công việc của chúng tôi không chỉ giúp đỡ mà còn truyền cảm hứng cho rất nhiều người Mỹ, đặc biệt là những người trẻ, để tin rằng bạn có thể tạo ra sự khác biệt, để cố gắng cống hiến cho điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình.
Thế hệ sắp tới - những người không ích kỷ, vị tha, sáng tạo, yêu nước - tôi đã nhìn thấy các bạn trong mọi ngõ ngách đất nước. Các bạn tin vào sự công bằng, tin vào nước Mỹ bao dung, bạn hiểu rằng sự thay đổi liên tục đã là dấu ấn của nước Mỹ - đó không phải là điều đáng sợ hãi mà là điều phải dang tay đón nhận. Các bạn sẵn sàng thực hiện công việc khó khăn này để đưa nền dân chủ của chúng ta tiến về phía trước. Thế hệ các bạn sẽ sớm vượt qua chúng tôi và tôi tin tương lai sẽ nằm trong tay những người tài giỏi.
Những đồng bào Mỹ của tôi, niềm tự hào của đời tôi là được phục vụ các bạn. Tôi sẽ không dừng lại, tôi sẽ luôn ở bên các bạn với tư cách là một công dân trong những ngày sau này. Hiện giờ, cho dù các bạn tuổi còn trẻ hay tâm còn trẻ, tôi cũng có một đề nghị với các bạn với tư cách tổng thống.
Tôi đề nghị các bạn tin tưởng, không phải tin tưởng vào khả năng mang lại thay đổi của tôi mà là chính các bạn.
Tôi đề nghị các bạn giữ vững đức tin đã được viết thành văn bản lập quốc, những ý tưởng được thì thầm bởi những nô lệ và người theo chủ nghĩa bãi nô; những tinh thần được hô vang bởi những người nhập cư, những người sống trên đất nhà nước cấp và những người tuần hành đòi công lý; những tín điều đã được tái khẳng định bởi những người cắm cờ tại các chiến trường nước ngoài cho đến trên bề mặt mặt trăng - tín điều cốt lõi của mọi câu chuyện Mỹ còn chưa được viết.
Đúng vậy, chúng ta có thể làm được.
Đúng vậy, chúng ta có thể làm được.
Đúng vậy, chúng ta có thể làm được.

Xin cảm ơn. Chúa phù hộ các bạn và xin Chúa tiếp tục phù hộ nước Mỹ".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người ở trong mây



V T H

Anh đã đi, xa chúng ta mãi mãi. Như anh muốn, anh đã là người ở trong mây, trong vũ trụ vô chung vô thủy.
Phạm Tăng, Tranh Tết 1973, con trâu
[nguồn: sách Tưởng Niệm Như Phong sắp xuất bản; tư liệu Phạm Lê Hương]
Một hôm, nhân có chuyện làm việc với nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, tôi thấy trong phòng khách có mấy bức tranh sơn dầu. Ánh điện không đủ sáng, tôi phải lại gần mới xem được. thì thấy một bức ký tên Phạm Tăng. Tôi hỏi chị:
– Tác giả bức tranh này còn sống hay mất rồi hở chị?
– Sao anh lại hỏi thế?
– Đã quá lâu tôi không nghe ai nói tới Phạm Tăng. Ở tuổi tôi khi người nào bặt tin thì mình dễ nghĩ vậy lắm.
– Anh quen anh ấy sao?
Thụy Khuê mở to mắt nhìn tôi. Chị ngạc nhiên là phải – tôi là người đến từ miền Bắc, Phạm Tăng là một hoạ sĩ miền Nam.
– Vâng – tôi nói – Chị cũng biết Phạm Tăng?
– Chúng tôi là bạn mà. Anh Tăng còn sống, anh ạ.
– Hiện anh Tăng ở đâu?
– Ở đây, ngay Paris.
Một niềm vui vỡ òa trong tôi. Tôi nắm tay Thụy Khuê, tôi vật nài:
– Chuyện chúng mình định bàn hôm nay để lại bữa khác đi, chị Thụy Khuê nhé? Mình còn nhiều thời gian mà. Hãy dẫn tôi tới gặp anh ấy. Ngay bây giờ.
Thụy Khuê chiều tôi, chị nhanh chóng mặc đồ đưa tôi đi.
Phạm Tăng nhận ra tôi ngay, mới lạ. Con mắt và trí nhớ hình của hoạ sĩ quả có khác người.
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Anh mừng ra mặt, lại còn gọi đúng tên tôi nữa.
Tôi nhận ra anh không khó – diện mạo người đã trưởng thành ít thay đổi. Khi chúng tôi quen nhau, tôi là đứa trẻ, anh là thanh niên. Giờ đây anh thanh mảnh hơn, nói khác đi là gày hơn. Nhưng vẫn gương mặt ấy, vẫn những đường nét ấy, vầng trán nay dường như cao thêm vì không còn mái tóc xanh và dày xõa xuống mắt. Giọng nói cũng khác – cao hơn, nhẹ hơn.
Những hình ảnh một thời rất xa vụt hiện về: những con đường làng Yên Mô trù phú với tiếng bật bông vẳng ra qua những hàng rào, cầu Bút, núi Voi, núi Bảng, Quảng Công…
Đó là năm 1948. Tôi là học sinh một trường Nam Định tản cư về Ninh Bình, ngày ngày vác bàn tự tạo đến một ngôi đình thay cho phòng học. Nhà Phạm Tăng ở gần nhà tôi. Chúng tôi ít khi gặp nhau vì phần lớn thời gian anh ở Nam Định, nơi có hai tờ báo in li tô bằng tiếng Việt và tiếng Pháp là tờ Công Dân và tờ l’Étincelle. Trong công việc làm báo này anh có một người bạn gắn bó với anh suốt đời là anh Hữu Ngọc.
Khi nào Phạm Tăng về nhà là y như rằng tôi có mặt, bao giờ cũng cặp kè với Hà Chính Hành, bạn lớn ở lớp trên. Hà Chính Hành là người thuộc nhiều thơ, thuộc đến nỗi có thể đọc ngược truyện Kiều. Vào thời gian ấy chúng tôi rất yêu thơ, từ những áng văn bất hủ của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm đến Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính. Đến với Phạm Tăng, chúng tôi ngồi đực, ngắm không biết chán những bức tranh của anh treo la liệt trên tường. Phạm Tăng là hoạ sĩ đầu tiên và duy nhất mà tôi được biết. Nghe tôi nhắc đến những cái tên những bức “Người du kích”, “Mùa gặt”, “Quê hương”… , Phạm Tăng nhìn tôi chăm chú rồi lắc đầu:
– Tài thật, chịu cậu đấy, làm sao mà cậu có thể nhớ được chứ?
– Chúng là những bức tranh đầu tiên tôi thấy, tranh thật – tôi tìm câu trả lời, với một chút ngắc ngứ – Trước đó tôi chỉ biết có tranh minh hoạ trên báo.
– Mình quên hết rồi – Phạm Tăng thờ ơ nói – Chúng là tranh của một thời ấu trĩ, những bản sao thực tại, tự nhiên chủ nghĩa…
Chị Thụy Khuê ngồi, tay chống cằm, lặng nghe những mẩu chuyện không đầu không đuôi, nhảy từ đề tài này qua đề tài khác về một quá khứ xa xôi, cả về thời gian, cả về địa lý. Rồi sực nhớ thiên chức phụ nữ, chị vội vã vào bếp đun nước pha trà. Chúng tôi vừa nói chuyện vừa trân trân nhìn nhau, như không tin vào lần gặp gỡ bất ngờ. Từ trong bếp vẳng ra tiếng nước reo trong ấm.
Từ năm 1948 tới năm 1996 là gần nửa thế kỷ – một quãng dài trong đời người.
Phạm Tăng vào thành, tôi đi bộ đội. Tin anh vào thành, tôi có nghe. Đất nước chia hai, như hai thế giới. Tôi không nhớ tới anh nữa trong sự bưng bít thông tin về miền đất bên kia sông Bến Hải, trừ tin chính trị. Nhắc lại thời gian ở Yên Mô, mắt Phạm Tăng mờ đi. Tôi cũng vậy. Với tôi, nó là một đoạn đời không thể quên, khi lần đầu tiên cậu học trò mới lớn biết xúc động trước vẻ đẹp của những người con gái. Chế Lan Viên nói thật hay: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn…”
Từ đó, chúng tôi không xa nhau nữa.
Phạm Tăng thường gọi điện thoại cho tôi, nhất là khi lâu không gặp. Những cuộc gọi dài và rất dài, bất kể vào giờ nào, có khi giữa đêm khuya. Trong thành phố này tôi là người duy nhất biết anh từ những năm xa xưa, và qua anh biết bạn bè anh. Anh gọi cho tôi khi những bóng mờ trong ký ức chợt về. Nỗi nhớ quê hương không chịu ngủ yên trong anh. Kèm theo nỗi nhớ này là một sự giằng xé trong sâu thẳm tâm hồn. Anh nhớ lắm một thời trai trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Với anh, nó là thời gian tuyệt đẹp.
– Anh em mình hồi ấy sao mà trong sáng, phải không? Mình không thể nào quên một kỷ niệm với Lưu Quyên. Cậu nhớ anh ấy chứ?
– Lưu Quyên làm kinh tài.
– Còn nhớ ông Giang chủ tịch Liên khu 3 không?
– Nhớ chứ. Chúng tôi bị tù cùng nhau trong một vụ án vớ vẩn. Tôi nhìn thấy ông cầm cái bát sắt tráng men sứt sẹo có cái đuôi cá khô nhô lên trên phần cơm tù ở Hỏa Lò. Tôi ngồi bên ông lúc ông hấp hối trong gian nhà dột nát ở chùa Liên Phái vào một đêm mưa…
– Mình có nghe chuyện xảy ra với ông Giang. Một con người chân thật, mộc mạc, tốt bụng. Có quá nhiều cái mình không ngờ có thể xảy ra đã xảy ra…
Tôi nghe tiếng thở dài ở đầu dây bên kia.
– Anh kể chuyện anh Lưu Quyên đi.
– Một đêm vợ chồng Lưu Quyên bị chủ thuyền đuổi khỏi con đò dọc, khi chị ấy đột ngột trở dạ – anh kể, bồi hồi – Dân sông nước mê tín lắm, cậu thừa biết. Chị ấy chỉ được nằm lại nếu trả cho người lái đò một khoản tiền bằng giá con đò. Lưu Quyên mang theo mình cả một cặp đầy ắp tiền, nhưng lại không chịu bỏ ra. Đã tính bảo cho thuyền cập bến, đưa vợ lên bờ…
– Rồi sao?
– Mình đi cùng vợ chồng Lưu Quyên, không nhớ đi việc gì. Mình lại đang sẵn tiền – chả là ông Đặng Kim Giang vừa gửi cho một món, coi như tiền thưởng làm báo, vẽ tranh địch vận. Mình bảo: “Để tớ trả”. Lưu Quyên không chịu, nói mãi mới bằng lòng. Thế đấy, vợ sắp đẻ, cứ lấy của công ra trả cái đã, có sao đâu. Nhưng không, một đồng của công Lưu Quyên nhất định không nhả ra. Có thể gọi những con người như thế là gì? Những con người lý tưởng, chỉ có trong một thời lý tưởng.
Tôi bắt gặp ở nhiều người nỗi nhớ khôn nguôi về thời gian đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, không chỉ ở Phạm Tăng. Nhà thơ Hà Thượng Nhân, từng làm giám đốc Đài phát thanh Quốc gia của Việt Nam Cộng hoà, bị đi tù cộng sản từ năm 1975 tới năm 1983 cũng có một tâm trạng y như vậy. Anh là một người chống cộng kiên định, bè bạn gọi anh là Hà Chưởng Môn, người đứng đầu cả về thơ lẫn lập trường trong cộng đồng Việt ở San Jose. Thế mà trong tâm sự với tôi, anh vẫn bùi ngùi nhắc đến những kỷ niệm với bè bạn trong kháng chiến. Với tướng Nguyễn Sơn, anh đặc biệt kính trọng và yêu mến, ví ông như Từ Hải trong truyện Kiều.
Mới thấy chính quyền cộng sản đã phí phạm những người con ưu tú của đất nước đến thế nào.
Hoạ sĩ Phạm Tăng (giữa) và bạn. Nguồn: Facebook Canh Quan
Tôi không hỏi vì sao Phạm Tăng bỏ kháng chiến vào thành. Anh cũng tránh, không nói. Nó là nỗi đau đã thành sẹo. Dù anh vẫn nhận được tin tức trong nước, vẫn biết những chuyện không hay xảy ra với người này người kia trong số bạn bè ở lại, những kỷ niệm về một thời với anh là đẹp mãi mãi đóng cứng trong trí nhớ. Anh không chịu, không muốn nghĩ, lại càng không muốn chứng minh rằng sự bỏ đi của mình là một lựa chọn đúng.
Tôi thường đến ngồi với anh cả buổi, có khi gần hết ngày, trong căn hộ nhỏ ở Quảng trường Các Quyền Tự do (Place des Libertés) thuộc tỉnh lỵ Bonneuil-sur-Marne. Cái quảng trường nhỏ bé này luôn có hoa – hoa trong bồn cỏ, hoa trên các cột điện. Gọi là tỉnh lỵ, chứ Bonneuil-sur-Marne chỉ là một bidonvile của Paris, tỉnh ngoại ô, từ trung tâm đến đấy có thể dùng Metro và bus của thành phố.
– Ở đây mình thừa tự do – anh cười chua chát – Lại càng thương những người không có nó.
Câu chuyện nào rồi cũng dẫn tới quê hương xa xôi.
– Tại sao anh bỏ Sài Gòn để sang châu Âu? Cái gì khiến anh bỏ nó để tới nơi anh chưa từng đến, nơi anh không hề biết, ném mình vào mung lung? Con đường phiêu lãng vô định ấy rồi dẫn anh tới đâu? Nó cho anh những gì?
Nhà thơ Du Tử Lê dồn dập hỏi. Gặp Phạm Tăng là một tình cờ hi hữu, anh hỏi suốt, hết câu này đến câu khác. Mặc dầu có thời cùng sống ở Sài Gòn, Du Tử Lê chưa từng giáp mặt người mà anh gọi là “Con phượng hoàng Việt Nam trên bầu trời nghệ thuật Tây phương”. Trong chuyến đi Paris cuối năm 2015, anh nằng nặc bắt tôi phải đưa đi gặp Phạm Tăng ngay lập tức.
– Tại sao ư? Lý do thì nhiều – Phạm Tăng không trả lời thẳng vào câu hỏi – Chúng ta lớn lên với tranh Tết Đông Hồ, với Đám Cưới Chuột, với Hái Dừa, Đánh Ghen, với Cá, với Gà, với Lợn… Người Pháp đưa đến cho chúng ta kỷ hà học, sơn dầu, thuốc nước. Tôi rất muốn đến tận nơi đã sản sinh ra những bậc thầy của hội hoạ Tây phương, ngoài hội hoạ Pháp mà mình đã biết, để xem từ xa xưa những bậc thầy hội hoạ ở đấy đã đưa lên khung vải cái nhìn thấy bằng đường nét, bằng màu sắc theo những cách nào… Lại đúng vào lúc có một học bổng đại học hội hoạ do Ý cấp. Thế là đi.
– Anh từng ở trong tâm bão gây nên bởi bức vẽ không ký tên trên bìa nhật báo Tự Do số Xuân 1959 với bầy chuột đục khoét trái dưa hấu. Nó đã trở thành một scandal chính trị như một ám chỉ về nạn tham nhũng dính dáng tới gia đình cố tổng thống Ngô Đình Diệm… Sự thật là thế nào?
– Tôi đã có lần lên tiếng rồi – Phạm Tăng vắn tắt, anh không thích câu hỏi – Người khác là tác giả, không phải tôi.
Du Tử Lê có một bài viết rất dài đăng nhiều kỳ trên nhật báo Người Việt ghi lại cuộc trò chuyện rất dài và rất lan man với Phạm Tăng trong một ngày mưa. Những dòng nước theo nhau, đuổi nhau chảy trên kính cửa, một bối cảnh thích hợp cho sự gợi nhớ quá khứ.
Du Tử Lê nhích lại gần Phạm Tăng hơn nữa, chằm chằm nhìn anh, nuốt từng lời. Trong cuộc gặp gỡ không định trước, anh hối hả đưa ra cả một đống câu hỏi, không khác gì một phóng viên đang hành nghề. Đến nỗi anh không thấy nhiều lúc Phạm Tăng vờ không nghe anh hỏi gì.
Phạm Tăng rõ ràng không muốn nhắc tới quá khứ nghề nghiệp. Anh đã rũ bỏ nó như một tấm áo rách. Thôi thì mặc, những người nghiên cứu hội hoạ Việt Nam sau này muốn viết gì về Phạm Tăng thì viết – những cuộc triển lãm gây nhiều tiếng vang, những lời ca ngợi, những bằng khen được tặng. Anh không tự hào về những cái với người khác là những huân chương xếp hàng trên ngực. Anh không thích nói về những cái mà người ta gọi là thành tựu. Chọn cuộc đời ẩn sĩ, anh tránh mọi quấy rầy.
Câu chuyện với Du Tử Lê diễn ra bên dưới bức tranh khổ lớn choán cả bức tường. Đó là bức “Vũ trụ”, được UNESCO tặng huy chương vàng hội hoạ năm 1967.
Để sống, Phạm Tăng đã bán dần tất cả những gì anh vẽ, chỉ giữ lại một bức này. Anh bảo nó chứa đựng mọi suy ngẫm của anh về nhân sinh, là triết lý về cuộc đời, về cái ngã và vô ngã trong một vũ trụ vô cùng, bất tận, vô sinh, vô tử, được biểu hiện trong vô vàn tế bào nguyên sinh , những khoanh tròn đồng tâm với những màu đổi nhau, khi ẩn khi hiện, biến hoá khôn cùng trong một toàn cục bao la – một ngân hà này trùm lên một ngân hà khác, cứ thế trườn đi mãi, vượt ra ngoài khung vải.
Phạm Tăng kể:
– Mình không tiếc đã bỏ Sài Gòn để đi tới vùng đất mới. Ở Sài Gòn mình sống sung túc, có thể gọi là thừa mứa. Đến Roma mình phải ở nhờ một tu viện nghèo của một dòng tu khổ hạnh. Tiền học bổng chỉ đủ để ăn mì với cà chua hoặc pizza chay. Không, không phải mình đến với hội hoạ phương Tây để học cách vẽ của họ đâu. Mình đến để tìm hiểu cái nhìn của họ bằng con mắt hội hoạ trong chiều dài nhiều thế kỷ, tại sao họ vẽ, vẽ cái gì, vẽ thế nào? Cứ thế sống dặt dẹo mấy năm cho đến khi hiểu ra rằng con đường tìm kiếm còn dài, mình còn cần đến một thứ vô duyên là tiền. Đành phải bán vài bức tranh vẽ theo phong cách Á đông bán cho khách chuộng lạ. Những bức tranh ấy sẽ chẳng ai biết đó là của Phạm Tăng – dưới mỗi bức mình ký một cái tên, toàn là tên bịa đặt.
Người ta kể về anh:
– Số ông này sướng. Ở Sài Gòn lấy một cô con nhà giàu, ăn chơi bán giời không văn tự, bà vợ chết cũng vì tay phá gia chi tử này đấy. Sau, sang Ý, tốt nghiệp học viện mỹ thuật Roma, vớ được một tiểu thư đài các con một quý tộc kiêm điền chủ đảo Sisilia, nông dân ở đấy mỗi khi gặp cậu chủ còn phải khuỵu chân xin được hôn tay, khiếp chưa? Được mỗi cô con gái duy nhất thì hoàn toàn Ý, chẳng có tí Việt nào.
Thiên hạ thường nhìn người ở bề ngoài. Họ nói điều họ không biết, lại nghĩ rằng mình biết. Họ không biết Phạm Tăng đã từ bỏ cuộc sống sa hoa anh có, kiếm được nhiều ngàn dollars mỗi tháng, thời ấy là số tiền rất lớn.
Tôi không hỏi Phạm Tăng về những người đàn bà trong đời anh. Tự anh kể cho tôi nghe về mối tình với người vợ đầu đã mất khi anh chưa ra nước ngoài. Anh nâng niu cuốn album nhỏ xíu, xộc xệch, rách nát, trong đó có những tấm ảnh bạc màu chụp người con gái trẻ có đôi mắt ướt tình tứ. Cuốn album lưu lạc nhiều năm, được một người yêu hội hoạ tìm thấy, gửi sang cho anh. Có thể viết một truyện ngắn về cuốn album ấy, nếu nó rơi vào tay một Maupassant. . Nhìn anh lần giở những hình ảnh của một thời đã mất, tôi hiểu đó là mối tình duy nhất của anh. Với những người đàn bà khác trong đời, anh không nhắc tới. Chúng thuộc về ký ức, không phải cái để kể.
Phạm Tăng đi vào hội hoạ như đi vào một cuộc chơi. Ở Sài Gòn, cũng vào một năm rất xa, anh viết trong tạp chí Bách Khoa:
Múa bút vườn hoang, vẽ láo chơi
Xôn xao sỏi đá nói lên lời!
Đỏ xanh xáo trộn hồn cây cỏ
Nhẹ gót vào tranh, chiếc lá rơi!
Nhưng rồi anh hiểu ra: nghệ thuật không phải cái để đùa nghịch. Nó là nơi con người gửi gắm tâm hồn, bộc bạch tâm tư. Nó là cái cầu nối liền nghệ sĩ với cuộc đời, là sự giao hoà với nhân quần mà mỗi con người là một hạt cát trong sa mạc nhân loại.
Vì lẽ đó, anh quẳng lại vinh hoa đã có để đi tìm cội nguồn hội hoạ, để hiểu những suy tư của những kiếp người đã trao thân gửi phận cho nghệ thuật.
– Anh không phải Phạm Tăng, mà là bản sao của Đường Tăng. Đường Tăng lặn lội đi Tây Trúc thỉnh kinh – tôi nói đùa – Còn anh thì lang thang trời Tây tìm cái gì? Và rốt cuộc, anh đã tìm được gì?
– Vừa nhiều, vừa ít – Phạm Tăng nói, mắt xa xăm – Cậu thấy tranh tượng của David Michelangelo, Leonardo da Vinci thế nào? Tuyệt vời, phải không? Cơ thể người được thể hiện chính xác đến nỗi thoạt nhìn cứ như là ảnh chụp, rõ từng chi tiết. Nhìn kỹ đi, sẽ thấy khác – máy ảnh tốt đến mấy cũng không thể đạt tới Cái Đẹp mà những bậc thầy ấy tạo ra. Đó là sự tôn vinh Cái Đẹp của cơ thể con người. Nghĩ thêm nữa đi, rồi sẽ thấy đó còn là sự tôn vinh Thượng đế. Chỉ có Thượng đế mới tạo ra một hình hài toàn mỹ đến thế. Nghệ thuật là sự hoà trộn của tất cả những gì ta có thể nói ra, và những gì không thể nói ra, không đủ lời để nói, mà chỉ có thể cảm nhận…
Những câu chuyện của chúng tôi diễn ra dưới bức tranh “Vũ Trụ” của anh. Tôi đã ngắm nó không biết bao nhiêu lần. Tôi không hiểu những vần vụ sắc màu, những đường nét hư ảo trên đó là sự biểu hiện suy tư về vũ trụ khôn cùng, là triết lý cuộc đời anh gửi gắm vào. Nhưng tôi không nói ra rằng tôi không hiểu, tôi sợ anh buồn. Ý tưởng thể hiện triết học dưới dạng hình họa tôi chỉ biết có một: đó là biểu tượng âm dương chứa hai khối đen trắng uốn lượn giao nhau trong chuyển động không ngừng, với hai hình tròn nhỏ ngược màu nằm trong hai khối ấy biểu hiện sự bất toàn, trong dương có âm có dương, trong dương có âm.
Phạm Tăng hiểu vì sao tôi im lặng.
– Cái bi kịch trong mình là sự bất lực – một hôm, Phạm Tăng buồn rầu thổ lộ – Mình bất lực trong sự diễn tả cái mình muốn diễn tả.
– Bi kịch ấy không phải chỉ anh có – tôi an ủi – Nó hiện hữu ở bất cứ nơi nào có mưu toan đưa cái ý, cái tâm vô hình ra ngoài bằng phương tiện hữu hình.
Phạm Tăng
(1925-2017)
Nhà thơ Du Tử Lê có cảm nhận khác tôi. Anh đến gần rồi lùi xa, cầm kính lúp soi vào từng khối màu xoắn xuýt nhau, đan xen nhau, hoà trộn vào nhau, bay lượn bên nhau, rồi ngẩn người ngồi xuống một ghế xa, ngắm tiếp. Nhà thơ có thể có cảm nhận cái vô hình qua cái hữu hình khác tôi. Nó là sự đồng cảm khó giải thích giữa nhà thơ và hoạ sĩ, giữa hai miền suy tưởng. Chúng có thể có mối tương giao mà tôi không biết.
Gần Phạm Tăng nhiều, nhưng tôi không dám chắc mình đã hiểu anh. Mỗi khi nghĩ tới anh tôi lại mường tượng ra con người câm lặng đắm chìm trong những suy nghĩ không bao giờ dứt, kể cả khi anh cầm lại cây cọ để đưa chúng lên khung vải. Những lúc ấy anh sẽ quên bất cứ người đối thoại nào – anh độc thoại. Những lúc ấy nếu có đến với anh tôi cũng là người thừa.
Điều tôi biết chắc: Phạm Tăng là người đi tìm cái anh muốn hiểu. Anh khác những người tưởng mọi sự đời đều là cái đã biết, như thể họ sống lần thứ hai trên trái đất. Tôi yêu những người đi tìm.
Có vẻ như anh đã tìm thấy cho mình ý nghĩa của cả nghệ thuật, cả đời sống để thể hiện trong bức tranh mà anh giữ lại sau khi đã cho đi, đã bán đi tất cả.
Nhưng cái anh tìm thấy mới chỉ cho riêng anh thôi, chưa phải cho tôi, cho mọi người.
Giờ đây, tôi không còn cơ hội nào trò chuyện với anh nữa, để hiểu anh thêm nữa. Anh đã đi, xa chúng ta mãi mãi. Như anh muốn, anh đã là người ở trong mây, trong vũ trụ vô chung vô thủy.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi cái ác và sự vô cảm đang lồ lộ hàng ngày


Lâm Bình Duy Nhiên

Từ vài ngày nay, hình ảnh thương tâm của con hải cẩu bị một số ngư dân vùng biển Bình Thuận đánh chết đang lan truyền trên báo chí và internet. Đây là chú hải cẩu vẫn thường lên bờ biển nô đùa cùng người dân và trẻ em tại đây. Có nhận xét cho rằng có thể do hải cẩu phá lưới và ăn cá của ngư dân đặt ven bờ nên đã bị đánh chết.
Hải cẩu chến ở bờ biển Bình Thuân vì vết thương ở đầu. Nguồn: http://soha.vn/
Những ngày cuối năm 2016, có lẽ không ai trong chúng ta không khỏi xót xa, và phẫn nộ khi xem đoạn phim về con bò mẹ bị chặt gãy chân, lết đi tập tễnh trên đường phố Đà Nẵng, lẽo đẽo theo sau là bê con mới sinh được vài tuần. Cái tội của nó là đã đi rong và ăn rau trong vườn nhà người khác. Và để “trả thù”, người ta đã dùng dao chặt vào khớp chân và chặt đứt đuôi nó. Chỉ có những con người vô cảm mới tàn ác như thế!

Nguồn: Bùi Cúc
Thật đau đớn khi chứng kiến những hình ảnh phản cảm kể trên. Nhưng nếu suy nghĩ lại thì chúng ta có thể hiểu rằng mọi hành động tội ác mà con người đang đối xử với động vật là vô nghĩa so với những gì mà chính con người vẫn đang hàng ngày độc ác với nhau. Dường như xã hội ngày càng trở nên hung bạo và cái ác vẫn nhởn nhơ hoành hành hơn bao giờ hết.
Đâm chém, cướp giựt, đánh đấm, băng đảng lộng hành, gieo bao kinh hoàng cho người dân lương thiện. Khắp mọi miền đất nước, có nơi nào được gọi là bình an? Những giá trị đạo đức ngày càng bị tha hóa, băng hoại và phá hủy. Nền móng văn minh con người trong xã hội đang bị mãnh lực của đồng tiền, của sự ích kỷ, của những đặc quyền, vụ lợi, của danh vọng, của sự thành công bằng mọi giá, của sự bất công, chênh lệnh giàu nghèo trong xã hội chà đạp đang gia tăng một cách đáng sợ.
Hình ảnh những kẻ trộm chó bị dân chúng đánh đến chết khi bị bắt là lúc những tay giang hồ nào đó đã “thay trời hành đạo”; khi truy tìm ra, người bố nhẫn tâm đánh đập con mình và cho hắn ta một bài học bằng những cú đá, những cái tát hay hình ảnh những người dân vô tội (hoặc dẫu có phạm tôi đi chăng nữa) bị công an đánh đến chết là những minh chứng sống động cho thực trạng của một xã hội bệnh hoạn. Niềm tin vào cái gọi là pháp luật không hề có. Luật pháp chỉ đứng về những kẻ mạnh, những kẻ có tiền. Họ dùng những đồng tiền dơ bẩn, cướp đoạt trện xương máu của người dân để thao túng, lũng đoạn xã hội. Người dân “thấp cổ bé họng” luôn bị gạt bỏ ra ngoài rìa cuộc sống, như thể họ chỉ là những kẻ đang ăn bám, là những côn trùng, sâu bọ nhớp nhúa đáng ghét, đáng bị xóa sổ khỏi cuộc đời này!
Con người độc ác, tàn nhẫn với nhau chỉ vì miếng cơm manh áo. Họ sẵn sàng giết nhau không suy nghĩ bằng thực phẩm, thức uống hàng ngày. Bước vào chợ là sa vào một thế giới của những chất độc hóa học. An toàn thực phẩm chỉ còn là khái niệm lỗi thời. Bằng mọi giá, người ta pha trộn muôn vàn hóa chất vào thức ăn, rau cỏ, trái cây, nước uống để moi tiền, bất chấp tính mạng của khách hàng. “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” mới là tôn chỉ trong một xã hội vô cảm, nơi mà lòng tham, quyền lực và mãnh lực của đồng tiền mới chính là thước đo cho mọi giá trị đạo đức!
Cái ác đang lồ lộ xuất hiện hàng ngày trong mọi ngóc ngách của xã hội. Hệ thống pháp luật của một chế độ độc tài đã và đang góp phần tạo nên những bất mãn, những uất hận nơi người dân. Cả một hệ thống tư pháp lại bỏ mặc những quyền lợi chính đáng của đại đa số dân chúng. Chúng ta thấy rõ bản chất vô trách nhiệm của nhà cầm quyền trong thảm họa ô nhiễm môi trường do công ty Formosa gây ra dọc theo vùng biển miền Trung. Đến tận bây giờ, sau gần 9 tháng, vẫn chưa có một kết luận khoa học nào của chính phủ được cho là thỏa đáng về những hậu quả nghiêm trọng do Formosa gây ra đối với môi trường biển và cuộc sống của người dân tại đây. Các thế hệ mai sau sẽ phải sống như thế nào khi biển cả bị chất thải chứa độc tố tàn phá? Nghề đánh cá từ muôn đời gắn liền với những người dân vùng ven biển chẳng lẽ sẽ bị xóa sổ? Bao câu hỏi, bao trăn trở không chỉ của riêng vùng biển miền Trung mà còn của cả một đất nước, một dân tộc, của cả những thế hệ mai sau vẫn còn đó, trước thái độ dửng dưng của nhà cầm quyền. Như thể mạng sống của vài trăm ngàn người dân chỉ đáng với 500 triệu đô la đền bù, đi thẳng vào hầu bao của những kẻ đang lãnh đạo đất nước này!
Đó mới chính là thứ tội ác man rợ nhất mà người dân đang hàng ngày phải chứng kiến, phải đương đầu, phải hứng chịu. Thứ tội ác, thoạt đầu tinh vi, nhưng năm tháng trôi qua, đã trở nên công khai giáng xuống đầu dân cả nước. Một cách có hệ thống, nhà cầm quyền chỉ biết sử dụng quyền lực và pháp luật để làm giàu cho những kẻ lãnh đạo, để bảo vệ cho những thành phần thân chế độ. Pháp luật không còn là khái niệm của công lý. Nó cũng không còn là nơi nương tựa của người dân lương thiện. Ngược lại, dựa vào nó, nhà cầm quyền tha hồ trấn áp, bắt bớ, giam cầm, hành hung những ai dám đương đầu, dám đấu tranh cho một xã hội công bằng. Pháp luật đồng nghĩa với sự tồn tại của đảng, của chế độ, của nhà nước.
“Thượng bất chính, hạ tắc loạn” ; khi nhà cầm quyền đối xử một cách tàn ác với đồng bào thì chính người dân cũng phải nương tựa vào những thứ “luật rừng” để giải quyết mọi mâu thuẫn xung đột. Máu có đổ, mạng người có mất cũng chẳng sao, miễn là họ trút hết cơn tức giận lên đầu đối thủ. Bạo lực là thứ ngôn ngữ chung mà con người ngày nay đã thấm nhuần và cũng là thứ vũ khí duy nhất để bảo vệ cho… chính mình!
Trộm chó bị đánh đến bất tỉnh, trói vào xác chó. Nguồn ảnh: Facebook
Có người thương tiếc cho con bò bị chặt chân hay con hải cẩu bị đánh chết. Họ bảo nhau rằng giá gì chúng đừng sinh ra hay trôi dạt đến đất nước Việt Nam thì có lẽ chúng đã không có một kết cục đáng thương như thế. Chính đáng đấy, nhưng trong một xã hội mà tính ngay thẳng, sự chân chính, tính lương thiện, sự đồng cảm,… không còn là những giá trị đạo đức để duy trì sự ổn định thì thân phận của một con vật có đáng gì so với chính tính mạng của mỗi chúng ta!
Đáng thương chăng là người dân Việt Nam đã không may mắn khi phải hứng chịu sự cai trị hà khắc của một thể chế chính trị luôn lấy bạo lực làm kim chỉ nam cho sự tồn tại cũng như mọi hành động. Một chính quyền luôn gạt bỏ những quyền lợi quốc gia và một cách trực tiếp, ngăn cản tiến trình phát triển của đất nước.
Chỉ bao giờ cái ác ở thượng tầng không còn nữa, khi ấy chúng ta mới tìm lại được những giá trị nhân bản, yếu tố tiên quyết cho sự tái thiết một xã hội vị tha và lương thiện.
4/1/2017

Bài do tác giả gởi. DCVOnline minh hoạ và phụ chú



Phần nhận xét hiển thị trên trang