Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

Xây dựng con người tự chủ, để dân tộc tự chủ – Chương trình vĩ đại bị dở dang của Phan Châu Trinh




Nguyên Ngọc
Đầu thế kỷ XX, sau thất bại của các cuộc khởi nghĩa Cần vương, đã xuất hiện Phong trào Duy Tân, thoạt tiên được khởi xướng bởi một nhóm trí thức ưu tú, thường được gọi là “bộ ba Quảng Nam” gồm Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng. Phong trào nhóm lên ở Quảng Nam, nhanh chóng loan ra khắp Trung Kỳ, ảnh hưởng sâu rộng đến cả nước, đưa tới cuộc Trung Kỳ dân biến năm 1908, cuộc bạo loạn chống Pháp lớn nhất trước Cách mạng tháng Tám. Cuộc nổi dậy bị đàn áp nặng nề, Trần Quý Cáp bị chém ở Khánh Hòa, Phan Châu Trinh bị đày ra Côn Đảo, về sau thoát tù đã sang Pháp để tiếp tục hoạt động, đến năm 1925 trở về nước, và mất ngày 24/3/1926, đến nay vừa đúng 85 năm. Huỳnh Thúc Kháng cũng bị đày Côn Đảo, sau khi ra tù đã chuyển sang hoạt động hợp pháp, chủ trương báo Tiếng Dân, tờ báo đậm khuynh hướng yêu nước chống Pháp sống được lâu nhất dưới thời Pháp thuộc; và trong số ba người, ông cũng là người còn sống được lâu nhất, để trở thành Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945.
Có một điều cần chú ý: cuộc nổi dậy rung trời chuyển đất năm 1908 không hề nằm trong ý đồ hay kế hoạch của những người chủ chốt khởi xướng phong trào Duy Tân, họ không hề lãnh đạo nó, nó nằm ngoài ý định của họ, thậm chí ngược với nguyện vọng và chương trình của họ. Có lẽ đó là một điều chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu, thử giải thích đôi phần hôm nay.
Nói về người đồng chí thân thiết nhất của mình, cũng là người đứng đầu nhóm “bộ ba Quảng Nam”, Huỳnh Thúc Kháng có một đánh giá rất đáng chú ý, ông gọi Phan Châu Trinh là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Như thường thấy ở các nhà Nho uyên thâm chuyển sang Tây học và sử dụng chữ quốc ngữ, Huỳnh Thúc Kháng vốn là người rất nghiêm túc, cẩn trọng, súc tích trong từng câu chữ phát ngôn. Chắc chắn đánh giá trên đây của ông dựa trên những suy ngẫm sâu xa, những hiểu biết rất kỹ về người đồng chí tâm huyết nhất của mình, và những so sánh không hời hợt. Ông hiểu nhà cách mạng không chỉ là người mưu đồ một cuộc nổi dậy, chủ trương một cuộc khởi nghĩa, lật đổ một chính quyền... Nhà cách mạng là người muốn thay đổi một xã hội, biến đổi số phận một dân tộc, chuyển cuộc sống của đất nước và con người sang một cấp độ khác, một đường hướng và một thời đại khác. Chính vì nhận thức như vậy nên ông đã không dành danh hiệu ấy cho ai khác trong những người chiến sĩ và anh hùng cùng thời với ông, ngoài Phan Châu Trinh.
Để cố gắng tìm hiểu đánh giá thoạt nghe có thể đáng ngạc nhiên này, có lẽ cần trở lại dù chỉ rất vắn tắt hành trình tư tưởng và hoạt động của Phan Châu Trinh.
Phan Châu Trinh sinh năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, nay là huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Cha ông hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Trần Dư và Nguyễn Duy Hiệu cầm đầu. Năm 29 tuổi đỗ Phó bảng, cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Huy, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; sau đó làm thừa biện, một chức quan nhỏ ở bộ Lễ của triều đình Huế. Những ai đã đọc qua dù chỉ đôi chút về Phan Châu Trinh đều biết ông rất khinh bỉ, căm ghét, đả kích kịch liệt vua quan triều đình Huế. Vậy tại sao ông lại ra Huế và làm quan? Huế bấy giờ là kinh đô, nơi diễn ra đời sống chính trị và văn hóa quan trọng nhất, nơi hội tụ và liên lạc rộng rãi với những nhân vật ưu tú trên cả nước... Và điều còn quan trọng hơn: là đầu mối (cùng với Hội An một phần) qua đường biển tiếp nhận tài liệu đến từ Trung Hoa cũng đang sôi sục trăn trở tìm đường. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dương trongTuyển tập Phan Châu Trinh[1], ở phần Niên biểu, về những năm này chỉ ghi rất gọn mà đầy ý nghĩa: “1903: Làm quan ở Huế. Đọc sách mới. Kết giao với Phan Bội Châu... Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cũng ra Huế đọc sách mới.” Năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan. Còn Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đỗ cao song không hề chịu làm quan, nhưng cũng ra Huế, để “đọc sách mới”. Cùng có mặt ở Huế và cùng say sưa “đọc sách mới” bấy giờ còn có nhiều trí thức nổi tiếng: Phan Bội Châu, Đào Nguyên Phổ, Vũ Phương Trứ... Nhiều người khác như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hiệt Chi, Lương Văn Can... ở Bắc, Hồ Tá Bang, Trần Lê Chất, Nguyễn Trọng Lợi... ở trong Nam, tuy không về Huế nhưng đều liên lạc với trung tâm Huế, và cũng chủ yếu để “đọc sách mới”.
Sách mới” là chữ của Nguyễn Văn Dương dịch cái mà hồi ấy người ta quen gọi là “tân thư”. Hẳn rồi đến một lúc cần trở lại nghiên cứu những “tân thư”, hiện tượng “đọc tân thư” sôi nổi một thời ấy, hiểu cho rõ tác động của chúng đối với một giai đoạn có thể có tính quyết định của lịch sử cận đại nước ta. Tân thư là các sách được chuyển sang từ Trung Quốc, gồm các tác phẩm của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, và các sách của Nhật, của Pháp được dịch ra chữ Hán, trong đó các tác phẩm kinh điển của Montesquieu (mà người ta dịch là Mạnh Đức Tư Cưu) và Jean Jacques Rousseau (được dịch là Lư Thoa). Sau khi đọc tân thư, Trần Quý Cáp thổn thức: “... nửa đêm tỉnh giấc, nước mắt đầm đìa”. Tân thư đã gây chấn động dữ dội trong tất cả tầng lớp tinh hoa yêu nước đang đau đáu tìm đường trong thế cùng cực bế tắc sau thất bại Cần Vương anh hùng mà tuyệt vọng. Tìm đường, đi con đường nào đây để có thể cứu nước, đưa dân tộc thoát ra khỏi vòng nô lệ? Tân thư thổi một luồng gió mới vào những đầu óc đang cháy bỏng bấy giờ. Tác động của nó cực kỳ to lớn. Tuy nhiên, đều là những nhà ái quốc tâm huyết, mỗi người đã chịu tác động đó một cách khác nhau, đi đến những suy ngẫm và những kết luận khác nhau, theo cách nói ngày nay, những phương án chiến lược khác nhau. Chính ở đây ta nhận ra chân dung tư tưởng và văn hóa, chính trị đặc sắc, có thể nói đặc sắc đến “độc nhất”, của Phan Châu Trinh. Trong một nghiên cứu gần đây (tháng 9-2010) tác giả Lê Thị Hiền Minh ở Đại học Québec, Canada viết: “Khác với Phan Bội Châu chỉ thấy ở đấy một cuộc chiến đấu vũ trang đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam cũng giống hệt như tổ tiên ông đối với quân xâm lược Trung Hoa, Phan Châu Trinh đã nhận ngay ra một vấn đề phức tạp hơn là một cuộc ngoại xâm về mặt lãnh thổ: vấn đề trang bị cho “những người yếu hơn” các phương tiện để bước vào một cuộc tiến hóa ở cấp độ toàn cầu, đưa dân tộc Việt Nam lên con đường hiện đại hóa.”[2]. Như vậy, nếu đối với hầu hết những chí sĩ yêu nước đương thời, chấn động của Tân thư chỉ là thêm một kích thích mạnh mẽ ý chí dân tộc, tinh thần chống ngoại xâm, mà không dẫn đến một đường hướng gì mới về căn bản, do chưa có thay đổi gì về tầm nhìn; thì ở Phan Châu Trinh (và hai người đồng chí thân thiết nhất của ông trong bộ ba Quảng Nam) nó mở ra một chân trời hoàn toàn khác; như cách nói ngày nay, nó mở ra cho ông chân trời “toàn cầu hóa”. Ông là người đầu tiên nhận ra phương Tây, không chỉ là một phương Tây kỹ thuật tiên tiến như Phạm Phú Thứ, thậm chí như Nguyễn Trường Tộ đã thấy và lo lắng ..., mà là một phương Tây văn hóa, văn minh, khác hẳn và cao hơn cái thế giới hạn hẹp phương Đông ta từng biết xưa nay và vẫn loay hoay tìm đường trong đó.
Pháp (và phương Tây nói chung bấy giờ) là thế lực (puissance) hoàn toàn khác với Trung Hoa, mối uy hiếp mà Việt Nam đã thành công trong việc giữ một khoảng cách nhất định suốt gần một nghìn năm. Giữ được như vậy là vì dù tương quan lực lượng đã nhiều lần hết sức chênh lệch, nhưng hai bên đều thuộc cùng một thời đại lịch sử, một nền văn minh tương đồng. Thắng lợi của Việt Nam chống đồng hóa Trung Hoa suốt nghìn năm, như chúng ta đã nói nhiều lần, là thắng lợi văn hóa. Thắng lợi văn hóa trong khung khổ đóng kín của phương Đông, hay cũng có thể nói khung khổ thế giới Hán hóa (sinisé).
Giáp mặt với Pháp, với phương Tây, “sự thống nhất văn hóa và chính trị cho đến nay được bảo vệ bằng việc giữ gìn các giá trị Khổng giáo bị lay chuyển bởi các giá trị của thiên chúa giáo và, ít nhận ra được rõ hơn, bởi việc du nhập một hệ chữ viết dựa trên nguyên tắc Hy-La, chữ Quốc ngữ, được coi là ngôn ngữ chính thức song song với chữ Pháp từ năm 1878...[3]; “Việt Nam đi vào một biện chứng văn hóa và bản sắc quyết định; việc mất lãnh thổ lại cộng thêm mối uy hiếp mất tiếp ngay các quy chiếu tâm lý-xã hội văn hóa... David Mar đã lưu ý rằng “thế hệ các nhà nho trưởng thành vào khoảng những năm 1900 bị ám ảnh bởi hình ảnh 'mất nước', không chỉ theo nghĩa chính trị, mà còn nghiêm trọng hơn là mất 'một sự sống còn về sau với tư cách là người Việt Nam[4]. Có lẽ lâu nay, khi nói về tình thế của đất nước vào đầu thế kỷ XX chúng ta đã tập trung chú ý vào sự mất mát đau đớn lãnh thổ, mà chưa làm rõ được hết những khía cạnh sâu xa và tinh tế này của xã hội khi đối mặt với phương Tây, với cuộc “toàn cầu hóa” lần thứ nhất, có thể gọi như vậy, mà Phan Châu Trinh, với một cái nhìn sáng suốt đã là người duy nhất nhận ra một cách hết sức tỉnh táo và sáng rõ. Ông nhận ra không chỉ tai họa đau đớn mất lãnh thổ quốc gia (như trong lịch sử ta đã nhiều lần mất vào tay Trung Hoa), mà lâu dài hơn, sâu sắc hơn, căn bản hơn, khó khăn hơn, nguy hiểm mất còn hơn, ông nhận ra một cuộc khủng hoảng văn hóa nghiêm trọng, thậm chí chưa từng có; điều mà David Marr chỉ ra là ở “các quy chiếu tâm lý - xã hội văn hóa”. Về sau Hoàng Xuân Hãn nói rằng chỗ độc đáo và đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh so với tất cả những người ưu tú nhất đương thời, là ông đã đi tìm và tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc sa vào vòng nô lệ bi thảm, ở trong văn hóa, trong sự lạc hậu nguy hiểm về văn hóa của Việt Nam, lạc hậu cả một thời đại, so với thế giới văn minh rộng lớn, toàn cầu, và Việt Nam từ nay không thể sống còn ngoài cái thế giới ấy, cái toàn cầu ấy, mà các tân thư đã mở mắt cho ông nhìn thấy. Vậy nên, tôi nghĩ có thể nói mà không hề sợ quá đáng, Phan Châu Trinh là nhà văn hóa tiên phong và lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX – và có thể cả thế kỷ sau đó nữa như ta sẽ suy nghĩ thêm. Và bài học lớn nhất của Phan Châu Trinh để lại cho chúng ta là bài học về văn hóa.
Từ nhận thức cơ bản đó, ông đặt lên hàng đầu nhiệm vụ và chương trình đưa dân tộc vào “một cuộc tiến hóa ở cấp độ toàn cầu, đưa dân tộc Việt Nam lên con đường hiện đại hóa”. Và như vậy, vấn đề lãnh thổ, khôi phục lãnh thổ quốc gia, tức vấn đề độc lập, được coi như là một bộ phận cần thiết nhưng không phải là cứu cánh của chương trình dài hạn rộng lớn, cơ bản hơn nhiều, mà ông biết và chủ trương phải tiến hành từng bước.
Ta từng biết Phan Châu Trinh có chủ trương tự trị; và đi đến tự trị bằng con đường hòa bình, không bao động. Hẳn cần nói rõ, dù chỉ là phần nào, về tư tưởng này của ông, hình như lâu nay thường khá bị hiểu lầm. Trong chủ trương này có phần mà ông gọi là “Ỷ Pháp cầu tiến bộ”, học lấy ngay cái hay chắt lọc được của đối thủ để đem lại sự tiến bộ cho dân ta. Thực ra trong suốt lịch sử lâu dài bài học này vốn không lạ với người Việt. Tổ tiên ta đã học biết bao nhiêu của Trung Hoa để góp cho sự trưởng thành toàn diện và cả cho sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc. Huống nữa học lấy văn minh phương Tây mà ta biết ta đã chậm trễ mất cả một thời đại là vô cùng cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, tư tưởng về tự trị của Phan Châu Trinh không chỉ bó hẹp trong ý nghĩa đó. Trong luận văn đã nhắc đến trên đây của Lê Thị Hiền Minh, tự trị được dịch là autonomie. Và theo từ điển autonomieđược giải thích: “Quyền tự trị. Quyền tự do, độc lập về đạo đức hoặc về trí tuệ”. Đây là khía cạnh và nội dung quan trọng trong chủ trương lớn của Phan Châu Trinh. Lê Thị Hiền Minh viết: “Dự án hiện đại hóa Việt Nam của ông [Phan Châu Trinh], trong thực tế, là một dự án tự trị hóa [autonomisation] trong đó sự tự trị cá nhân và tập thể của những người Việt Nam sẽ thúc đẩy đất nước lên những đường ray của hiện đại hóa và văn minh[5]. Vậy rõ ràng ở đây có thể thay từ tự trị (thường chỉ được hiểu theo nghĩa một thiết chế chính trị) bằng từ tự chủ. Và từ đó, khẩu hiểu nổi tiếng của Phan Châu Trinh “Khai dân trí” cũng rõ ràng bộc lộ một ý nghĩa sâu xa mà có lẽ lâu nay chúng ta cũng chưa thấu hiểu hết tinh thần. Khai dân trí chính là xây dựng nên con người tự chủ, cá nhân tự chủ, để đi đến tập thể tự chủ. Lê Thị Hiền Minh phân tích: “Chính trong sự tự trị được hiểu là một sự tự tổ chức quản trị trong liên quan phụ thuộc lẫn nhau... Phan Châu Trinh tìm thấy một sức mạnh giải phóng chứ không phải một nền độc lập như Phan Bội Châu. Theo nghĩa đó, tự trị là “giá trị cho phép cùng tồn tại với những người khác mà ta không còn có thể áp đặt nền văn hóa của mình. Quyền của các thiểu số được xác định trong chính chuyển động cơ bản này” (Verbunt, 2006, tr. 144)[6]. Tác giả này còn nói rõ hơn: “Bởi mọi tập thể đều gồm những cá nhân, nên sự tự trị như một tiến trình không thể được trao cho một tập thể người mà không đi qua từng người. Tiến trình mà chúng ta gọi là “tự trị hóa” đó trước hết phải là một tiến trình riêng biệt (tức của từng cá nhân, từng cá nhân tiến đến tự chủ) trước khi đạt đến một kích thước tập thể, và việc đó, thông qua giáo dục, theo Phan Châu Trinh mà khái niệm tu thân trong tự phát triển của mỗi người không hề xa lạ... Dự án tự trị hóa của Phan Châu Trinh đồng thời là một dự án giáo dục hiện đại đưa mọi người Việt Nam qua con đường của trường học tự do ở Bắc Kỳ (tức mô hình Đông Kinh Nghĩa Thục) và một dự án xã hội - kinh tế nhằm thiết lập một hệ thống hỗ trợ tập thể cho sự phát triển của các tổ chức kinh tế...”[7].
Ở đây cần đặc biệt chú ý tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục nhấn mạnh đến việc xây dựng cá nhân tự chủ, mà ông coi là cơ sở của tự chủ tập thể, tự chủ dân tộc. Nhiều tác giả nghiên cứu các văn bản của Phan Châu Trinh, đặc biệt các thư ông viết cho Toàn quyền Beau, cho vua Hàm Nghi, cho vua Khải Định nêu bật cách xưng hô của Phan Châu Trinh được cho là hoàn toàn có ý thức: ông luôn xưng “tôi”. Chúng ta biết về mặt từ nguyên “tôi” vốn xuất phát từ quan hệ “vua-tôi”, với ý nghĩa là “tôi tớ, thần dân của vua”. Phan Châu Trinh xưng tôi với ý nghĩa khác, ý nghĩa được Alexandre de Rhodes chỉ ra khi ông coi từ này là tương đương với ego trong tiếng La-tinh. “Tôi” của Phan Châu Trinh chính là cái “le moi” phương Tây. Một cái tôi độc lập, có ý thức về nhân cách độc lập và ngang bằng của mình với người đối thoại. Phan Châu Trinh luôn xưng “tôi” trong tất cả các văn bản viết cho nhân dân, cho người cấp trên, cho các quan chức Pháp và Việt. Trong thư gửi Toàn quyền Beau năm 1907, ông mở đầu: “Tôi, Phan Châu Trinh, thự trước tác hậu bổ, tỏ bày cái tình trạng nguy cấp ở nước Việt Nam...”. Năm 1922, trong thư Thất điều gửi Khải Định, ông viết: “Tôi, Trinh, sinh găp lúc: trong thì nước nhà nghiêng ngập, ngoài thì các nước đua tranh lên đường tiến bộ...”. Lê Thị Hiền Minh nhận xét: “Là con người tư duy tự do, có thể nhìn chính lịch sử của dân tộc mình với một khoảng cách, chính là với tư cách “con người đích thực” [“personne authentique”] mà Phan Châu Trinh đã viết cho toàn quyền Beau: “Tôi, Phan Châu Trinh, quan chức cũ...”. Bản sắc cá nhân đó [ở Phan Châu Trinh] đòi hỏi một hệ đạo đức thẩm nhập suốt đời, hệ đạo đức của một công dân tự do đảm nhận các quyền và các bổn phận của mình […] Phan Châu Trinh nói với toàn quyền Beau với tư cách là viên chức nói với viên chức, nhà chuyên môn nói với nhà chuyên môn, con người nói với con người[8].
Hình như lâu nay khi nghiên cứu về hệ thống các trường Duy Tân mà “bộ ba Quảng Nam” đã lập được ở tỉnh nhà trong khoảng thời gian từ năm 1903 đến 1908, cũng như về trường Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng ta chưa chú ý tìm hiểu kỹ nội dung và tính chất rất quan trọng này trong quan điểm giáo dục ở các cơ sở nói trên. Chúng ta đã nói nhiều về tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm được kích thích, cổ vũ mạnh mẽ, tinh thần thực học ở đây, mà chưa làm rõ được triết lý về xây dựng con người hiện đại tự trị, tự chủ, con người tự do trước hết tự trong chính mình còn sâu xa hơn nhiều của các trường này.
Dò lại hành trình tư tưởng của ông, đọc lại kỹ các trước tác của ông, ta nhận ra rõ ở chính Phan Châu Trinh hình ảnh tiêu biểu của một con người như vậy. Và một con người đạt được đến tự do như vậy thì có khả năng đặt biệt là giữ được khoảng cách với mọi điều đã được coi là “chân lý”, là “lịch sử”, kể cả với lịch sử của chính dân tộc mình.
Chính với khoảng cách độc lập đặc sắc đó, đầy trách nhiệm và cực kỳ dũng cảm, Phan Châu Trinh đã ráo riết chỉ ra hai nhược điểm chí tử của dân tộc, đặc biệt trong hoàn cảnh của “toàn cầu hóa”, mà thẳng thắn một cách phi thường ông cho là tập trung rõ nhất, cực điểm nhất ở một con người đương thời lừng danh mà ông rất thân thiết, yêu mến, kính trọng và bảo vệ: Phan Bội Châu. Hai nhược điểm chí tử: một mặt chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi, sô vanh, mặt khác, nghịch lý thay, ý thức vọng ngoại mù quáng. Ông nói về Phan Bội Châu, mà cũng là nói về dân tộc mình, chẳng hề một chút khoan nhượng, nương nhẹ: “Phan Bội Châu là người chưng ra rõ nhất những tập quán dân tộc hình thành trong lịch sử của dân tộc Việt Nam suốt thiên niên kỷ qua. Nếu có ai đó không biết bản chất thật của người Việt Nam, thì hãy cứ nhìn ông ấy. Dân tộc ta có tình yêu nước hẹp hòi và ở ông ấy, tư tưởng sô vanh lên đến cực điểm. Dân tộc ta có tính vọng ngoại và ở ông ấy, sự phụ thuộc vào sức mạnh bên ngoài lên đến tối đa. Dân tộc ta thiếu tinh thần độc lập và ở ông ấy cái thiếu đó càng rõ rệt hơn cả ...”.
Phan Châu Trinh coi ý nghĩa của cuộc đời ông là nỗ lực cứu nhân dân thoát ra khỏi những điểm yếu chí tử ấy, tự xây dựng cho mình, từ từng cá nhân, đến toàn dân tộc ý thức tự chủ - mà ông gọi là tự trị. Tư tưởng đó tập trung trong khẩu hiệu nổi tiếng của ông: “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh”...
Trong một thời gian ngắn hôm nay hẳn không thể nói kỹ và sâu hết về tư tưởng của Phan Châu Trinh mà dẫu chỉ điểm qua ta đã có thể nhận ra tính hệ thống, liên hoàn chặt chẽ, sâu sắc, và tính hiện đại đáng kinh ngạc của nó. Chương trình của ông là chương trình thay đổi một dân tộc, sửa chữa và làm lại nó, tự trong chiều sâu nhất của nó, chiều văn hóa, để nó có thể tồn tại và phát triển trong một thế giới tất yếu toàn cầu hóa.
Cũng như tất cả những nhà tiên phong, những nhà khai sáng chân chính, nghĩa là những người đi trước, Phan Châu Trinh đã cô đơn trong cuộc đời của ông, và theo một ý nghĩa nào đó, cả về sau nữa. Ông không được sự đồng tình của phần lớn giới sĩ phu cùng thời, trong đó có vị sĩ phu ông kính trọng nhất: Phan Bội Châu. Quan hệ giữa Phan Châu Trinh - Phan Bội Châu là điển hình của một tình bạn kỳ lạ mà tiếc thay hình như ngày nay chúng ta không còn được thấy, đối nghịch kịch liệt về tư tưởng và quan điểm, đường lối, nhưng thân thiết và kính trọng nhau chẳng ai bằng. Khi Phan Châu Trinh mất năm 1926, Phan Bội Châu đã viết đôi câu đối thống thiết và đầy ý nghĩa:
Thương hải vi điền, tinh vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền
Biển thẳm lấp chưa bằng, tinh vệ còn đội đá
Chung Kỳ thôi đã mất, Bá Nha dứt dây đàn
Chung Kỳ Phan Châu Trinh đã mất, Bá Nha Phan Bội Châu đau đớn dứt dây đàn bởi biết còn cùng ai chia sẻ?
Phan Châu Trinh cũng cô đơn trước nhân dân đương thời của ông mà ông đã cống hiến cả cuộc đời để quyết cứu, cho một tương lai xán lạn bền vững mà ông đã sáng suốt nhận ra con đường để đi tới. Ông hiểu điều đó một cách sâu sắc. Ông nói: “Không phải tôi không biết sự ngờ vực của các quan chức người Pháp đối với tôi. Không phải tôi không biết sự căm ghét của các quan chức người Việt đối với tôi. Không phải tôi không biết mối hiềm khích của Phan Bội Châu đối với tôi. Không phải tôi không cảm thấy sự gièm pha của nhân dân Việt Nam đối với tôi. Nhưng tôi không tìm cách tránh sự ngờ vực ấy”. Ông tin sắt đá ở tư tưởng của ông, đường lối cứu dân tộc của ông. Là con người tự trị, tự chủ cao độ, là nhà tư tưởng tự do, có khả năng tạo một khoảng cách ngay với lịch sử dân tộc mình, với một hệ đạo đức ông đã tự xây dựng được cho mình, với tư cách là công dân tự do đảm nhận các quyền và các bổn phận của mình, cô đơn, ông dõng dạc tuyên bố: “Việc này, tôi, Trinh, đã nhận ra, quyết đảm nhận lấy, không nhường cho ai nữa hết!
Gần suốt một trăm năm ông cũng cô đơn với hậu thế. Chúng ta đã quá biết những người coi ông là kẻ “lạc lối trời Âu” ...
Lịch sử đã đi những con đường khác. Chúng ta đều biết song song với phong trào Duy Tân hòa bình của Phan Châu Trinh, là chủ trương “thiết huyết” của Phan Bội Châu, mà Phan Châu Trinh thẳng thắn chỉ ra rằng ông ấy đã lợi dụng sự ngu dốt của nhân dân (mà Phan Châu Trinh quyết ra công thức tỉnh) để kích động “nhằm thỏa mãn chính khuynh hướng hủy hoại của mình”. Cuộc khai dân trí của phong trào Duy Tân, hoàn toàn ngoài ý muốn và chủ trương của những người khởi xướng, chịu ảnh hưởng tự nhiên và cũng tất yếu của phái thiết huyết, sự bất bình tự nhiên và quyết liệt của nhân dân tự phát, đã dẫn đến cuộc Trung Kỳ dân biến 1908 anh hùng của nhân dân nhưng tai hại cho một con đường đi đang được sáng suốt tính toán và thực hiện. Nó đã được kẻ thù lập tức lợi dụng để tiến hành một cuộc tắm máu. Chương trình anh minh và vĩ đại của ông bị phá vỡ và dở dang.
Chúng ta đều biết trong lịch sử không có “nếu”. Nhưng suy nghiệm từ lịch sử cho hôm nay thì bao giờ cũng cần. Những gì đã diễn ra thì đã diễn ra. Song phải chăng có thể một trong những nguyên nhân của những vấn nạn mà chúng ta, xã hội chúng ta, đang gặp ngày nay và vẫn còn rất loay hoay chưa thật tìm được đường ra, chính là ở sự dở dang vừa nói trên đó. Cuộc khai hóa cơ bản, do nhà khai hóa vĩ đại Phan Châu Trinh chủ trương và tiến hành một trăm năm trước thì nay vẫn dở dang, vẫn còn nguyên đó.
Rõ ràng tư tưởng của ông, chương trình của ông, trong cốt lõi của nó, hôm nay vẫn còn nguyên tính cập nhật, thậm chí còn nóng hổi hơn, cấp bách hơn.
Tiếp tục chương trình lớn của ông là trách nhiệm lịch sử của chúng ta, mỗi chúng ta, hôm nay, và cả ngày mai.
Nguyên Ngọc, 3-2011
BT: Bài thuyết trình tại hội thảo về Phan Châu Trinh ngày 23/3 do trường Đại học Hoa Sen và Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh đồng tổ chức, trong khuôn khổ Ngày giỗ lần thứ 85 của cụ Phan.

[1] Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995.
[2] Lê Thị Hiền Minh 2010. “Phan Châu Trinh et le projet d'autonomisation à l'aube du XXe siècle, au Vietnam”. Université du Québec en Outaouais.
[3] Lê Thị Hiền Minh, tr. 3-4.
[4] Lê Thị Hiền Minh, tr. 5.
[5] Lê Thị Hiền Minh, tr. 6.
[6] Lê Thị Hiền Minh, tr. 6-7.
[7] Lê Thị Hiền Minh, tr. 10.
[8] Lê Thị Hiền Minh, tr. 28, 29.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TQ phản ứng việc Mỹ cảnh cáo chuyện Biển Đông


This aerial view of the city of Sansha on an island in the disputed Paracel chain, which China now considers part of Hainan province on July 27, 2012
Trung Quốc là một trong số các nước có tuyên bố chủ quyền đối với từng phần Biển Đông   ảnhGETTY IMAGES
Trung Quốc xác quyết 'chủ quyền không thể tranh cãi' đối với nhiều vùng ở Biển Đông sau khi chính quyền ông Trump tuyên bố sẽ chặn việc Bắc Kinh chiếm lãnh thổ trong khu vực.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói Bắc Kinh sẽ 'tiếp tục cương quyết bảo về quyền của mình trong khu vực'.
Phát ngôn viên Nhà Trắng Sean Spicer hôm thứ Hai nói rằng Hoa Kỳ sẽ 'đảm bảo rằng chúng ta sẽ bảo vệ quyền lợi của mình tại đó'.
Chính quyền của ông Barack Obama từ chối bênh các phe trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, nhưng hồi năm ngoái đã gửi máy bay ném bom B-52 và tàu khu trục hải quân tới khu vực.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ khi đó là John Kerry đã lên tiếng về điều mà ông gọi là "sự gia tăng tình trạng quân sự hóa từ dạng này sang dạng khác" trong khu vực.
Một số quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông giàu trữ lượng tài nguyên, đồng thời là nơi có tuyến giao thông đường biển quan trọng.
Tân tổng thống Hoa Kỳ đã có quan điểm cứng rắn đối với Trung Quốc, và ông Spicer nói với các phóng viên rằng "Hoa Kỳ sẽ đảm bảo rằng chúng ta bảo vệ lợi ích của mình" tại Biển Đông.
"Nếu các hòn đảo đó thật ra là vùng biển quốc tế chứ không phải là thuộc về Trung Quốc, thì chúng ta sẽ đảm bảo rằng chúng ta bảo vệ quyền lợi quốc tế, không để nước khác chiếm lấy," ông nói, nhưng không cho biết thêm chi tiết.
Truyền thông Trung Quốc nói rằng các bình luận của ông Spicer khiến Washington đang 'tuyên chiến'.
Nhưng chính phủ Trung Quốc ra phản ứng chừng mực hơn, nói rằng Hoa Kỳ "không phải là một bên trong vấn đề Biển Đông".
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Xuân Oánh nói rằng Trung Quốc "cam kết theo đuổi các đàm phán hòa bình với toàn bộ các quốc gia có liên quan" trong cuộc tranh chấp, và nói Bắc Kinh "tôn trọng các nguyên tắc tự do đi lại và bay phía trên các vùng biển quốc tế".
Tuy nhiên, bà nói: "Quan điểm của chúng tôi là rất rõ ràng. Hành động của chúng tôi là hợp pháp."
South China Sea map
Các nước trong vùng đã có tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông từ hàng thế kỷ qua, nhưng căng thẳng liên tục dâng lên trong những năm gần đây.
Các nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền từng phần hoặc toàn bộ đối với các đảo, các vùng nước ở Biển Đông.
Trung Quốc củng cố tuyên bố của mình bằng cách bồi đắp cơi nới đảo, xây dựng các công trình trên đảo, và tuần tra trên biển, trong khi chính quyền cũ của Hoa Kỳ nói họ phản đối việc hạn chế tự do đi lại và các tuyên bố chủ quyền bất hợp pháp, cho dù của bất kỳ bên nào. Tuyên bố của Mỹ được nhiều người cho là nhắm vào Trung Quốc.
Những xích mích đã làm dấy lên quan ngại rằng khu vực này đang trở thành điểm nóng gây ra những hậu quả toàn cầu.
BBC
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Liên Xô đã chết vĩnh viễn!

Nguồn: Ghia Nodia, The Soviet Union is Dead for Good,” Project Syndicate, 29/12/2016.
Biên dịch: Trịnh Ngọc Thao | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Đêm giao thừa năm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 25 ngày Liên Xô chính thức tan rã. Nhưng, thay vì ăn mừng, nhiều người Nga – và một số người ở phương Tây – lại phân vân về kết cục đó.
Tổng thống Nga Vladimir Putin dẫn đầu danh sách những người nghi ngờ. Hồi năm 2005 ông đã đưa ra lập trường về việc Liên Xô tan rã, khi gọi đó là “một thảm kịch địa chính trị lớn của thế kỷ 20.” Và một số người ở phương Tây cho rằng các nhà nước mới nổi lên từ đống đổ nát – cụ thể là Ukraine và các nước cộng hòa Baltic – sẽ là nguồn cơn chính cho thái độ oán giận và chủ nghĩa trả thù của Nga trong thế giới hậu Chiến tranh Lạnh.
Những nghi ngại này trái ngược hoàn toàn với sự đồng thuận chiếm ưu thế nhiều năm sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu các năm 1989–91. Người ta thừa nhận rộng rãi rằng sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh không chỉ đánh dấu sự giải phóng Trung và Đông Âu mà còn là chiến thắng của các tư tưởng tự do.
Nhưng sự tan rã của Liên Xô cũng có thể được xem là chiến thắng của chủ nghĩa dân tộc. Quả thật, vì lo sợ bạo lực dân tộc chủ nghĩa mà Tổng thống Mỹ khi đó là George H. W. Bush và Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã cố gắng giúp Tổng thống cuối cùng của Liên Xô, Mikhail Gorbachev, duy trì Liên Xô (dù chỉ diễn ra sau khi Liên Xô đồng ý cho các nước Baltic ly khai). Họ đã thất bại – và sau đó tuyên bố chiến thắng về sự sụp đổ hoàn toàn của đế chế Xô Viết.
Trên thực tế, các Hiệp ước Belovezha, chính thức hóa việc tan rã của Liên Xô, đã hoàn thành tiến trình tan rã vốn bắt đầu từ năm 1989. Mối bất hòa giữa các nước khối Warsaw và các nước cộng hòa Xô Viết là rất quan trọng, nhưng có một sự tương đồng cốt yếu: trong tất cả các nước này, Điện Kremlin đã áp đặt chủ nghĩa cộng sản bằng nòng súng. Liên Xô có thể sống sót chừng nào Nga còn duy trì việc kiểm soát đế chế – và nếu Gorbachev sẵn sàng sử dụng vũ lực nhằm kéo dài sự kiểm soát đó.
Nhiều chiến lược gia và học giả phương Tây đã đưa ra đánh giá của mình dựa trên một giả định sai lầm: Liên Xô cũng có thể được tự do, nếu tên gọi của nó được sửa đổi hợp lý và một bản hiến pháp đúng đắn được soạn thảo cho nó. Nhưng điều đó là vô vọng. Các dân tộc hợp thành Liên Xô có lịch sử khác nhau từ rất lâu trước khi Nga thống trị; và, dưới chính sách dân tộc của hệ thống Xô Viết, bản sắc của họ với tư cách là thành viên của các đơn vị chính trị độc lập trên thực tế đã được củng cố. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, họ nhanh chóng thể hiện các ưu tiên chính trị và xã hội rất khác nhau. Người ta không thể tưởng tượng được ngay cả một không gian chính trị tự do một phần, như Nga đã trở thành lúc đó, mà họ có thể cùng chia sẻ.
Dĩ nhiên, sau khi giành được độc lập, một số quốc gia-dân tộc mới đã vật lộn để phát triển các thể chế dân chủ và các nền kinh tế khả dĩ. Các nước khác, không ngạc nhiên, đã trở thành các nền độc tài hoàn toàn. Nhưng trước khi bắt đầu những con đường đó, hai tiếng “tự do” có thể chỉ được áp dụng một cách đầy đủ với ý nghĩa rằng họ được giải phóng khỏi sự kiểm soát của Điện Kremlin.
Việc Liên Xô giải thể đáng được ăn mừng, bởi vì nó đã tạo ra một cơ hội mới cho sự phát triển trên khắp vùng đất rộng lớn mà Liên Xô từng kiểm soát. Nó cũng nên được ăn mừng vì quá trình giải thể này đạt được theo một cách thức tương đối trật tự và hòa bình.
Chắc chắn, ở một số quốc gia, đặc biệt là đất nước tôi, Gruzia, đã có một thời kỳ nội chiến và hỗn loạn. Nhưng đó là trách nhiệm của chính chúng tôi. Vào thời kỳ hoàng kim của Liên Xô, khi những người Gruzia thuộc thế hệ của tôi mơ về sự sụp đổ cuối cùng của đế chế này (bởi vì mọi đế chế cuối cùng đều tan rã), chúng tôi đã không dám tưởng tượng rằng nó sẽ xảy ra với cách thức hòa bình và trật tự như vậy.
Thế nhưng, bất chấp sự giải thể trong hòa bình và trật tự, Liên Xô vẫn từ chối tan rã hoàn toàn. Putin đã quyết tâm biến cay đắng của việc Nga mất kiểm soát với các láng giềng kế cận thành trọng tâm trong chính sách của ông, cả trong nước và quốc tế. Các cuộc xâm lược mà ông ra lệnh – ở Gruzia năm 2008 và Ukraine năm 2014 – đã đem lại sự hài lòng tạm thời cho những người Nga bị vây hãm cần khẳng định dân tộc mình. Nhưng hành vi hung hăng của Putin cũng gây ra nỗi sợ trong các nước láng giềng, cùng với mối lo ngại và sự bối rối rộng khắp trong cộng đồng quốc tế.
Chưa rõ các dự án chính trị khác mà Putin sẽ tìm cách thực hiện để khôi phục sự vĩ đại đã mất của Nga là gì. Nhưng dù ông có làm gì đi nữa thì các Hiệp ước Belovezha đã tạo ra một thực tế khó có thể đảo ngược. Hầu hết các quốc gia thuộc Liên Xô cũ đã phí phạm nhiều cơ hội trong suốt 25 năm qua; tuy nhiên, giờ đây họ đã quen với việc làm chủ số phận của chính mình. Putin rồi sẽ nhận ra việc khôi phục Liên Xô là không thể.
Ghia Nodia là Viện trưởng Viện Caucasus vì Hòa bình, Dân chủ, và Phát triển tại Tbilisi, Gruzia.
Copyright: Project Syndicate 2016 – The Soviet Union is Dead for Good
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/01/25/lien-xo-da-chet-vinh-vien/#sthash.YByl2rHG.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trong bài phát biểu nhậm chức hôm 20/1, tân Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ “mở khóa” các bí ẩn của vũ trụ.


tài liệu mật, Donald Trump, bí ẩn vũ trụ,
Tổng thống Donald Trump đã đưa ra bình luận kỳ lạ về vấn đề ngoài không gian trong bài phát biểu nhậm chức hôm 20/1. (Ảnh: Getty)

Ngoài việc nhấn mạnh sẽ cải thiện cuộc sống cho dân Mỹ và khẳng định người dân sẽ trở lại làm những người cai quản đất nước trong bài phát biểu nhậm chức hôm 20/1, ông Trump còn đưa ra bình luận kỳ lạ về vấn đề ngoài không gian.
Nhà tỷ phú này không tuyên bố mình tin có người ngoài hành tinh và chưa bao giờ nói rằng tài liệu mật về UFO nên được công bố, nhưng sau khi trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ hôm 20/1 ông Trump đã nhắc tới việc khám phá người ngoài Trái đất.
Chúng ta đang đứng trước sự ra đời của một thiên niên kỷ mới, sẵn sàng mở khóa những bí ẩn của không gian, để giải thoát Trái đất khỏi những khổ đau của dịch bệnh, và để khai thác các nguồn năng lượng, công nghiệp và các công nghệ của ngày mai“, ông nói.
Niềm tự hào quốc gia mới sẽ khuấy động tâm hồn chúng ta, nâng cao quyết tâm của chúng tôi, và hòa giải bất đồng của chúng ta“.
Vấn đề không gian được ông Trump nêu ra đã gây chú ý trên Twitter. Một người dùng mạng viết: “Đây là một bài phát biểu điên rồ của Trump. Vũ trụ? Đó có phải là Trump sẽ trục xuất những người Mexico?“.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ tuyên bố sẽ ngăn chặn Trung Quốc chiếm Biển Đông


biển đông
Ba tàu khu trục của Mỹ: USS McCampbell, USS Lassen và USS Shoup trong một cuộc diễn tập (Ảnh: Hải quân Hoa Kỳ)
Chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump hôm 23/1 tuyên bố Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ trong vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông, theo Reuters.
“Mỹ sẽ đảm bảo rằng chúng tôi bảo vệ quyền lợi của chúng tôi ở đó”, người phát ngôn của Nhà Trắng Sean Spicer cho biết khi được hỏi liệu ông Trump có đồng ý với ý kiến của ứng viên Ngoại trưởng Rex Tillerson rằng Trung Quốc phải bị cấm tiếp cận các hòn đảo nhân tạo trên Biển Đông.
“Nếu những hòn đảo này trên thực tế nằm trong vùng biển quốc tế và không phải là một phần chính đáng của Trung Quốc, thì vâng, chúng tôi sẽ đảm bảo rằng chúng tôi bảo vệ vùng lãnh thổ quốc tế khỏi bị một quốc gia chiếm hữu”, ông Spicer khẳng định.
nhà trắng
Ông Sean Spicer, thư ký báo chí của Nhà Trắng (Ảnh: Getty)
Tuyên bố của người phát ngôn Nhà Trắng là một lời khẳng định mới nhất về lập trường của chính quyền Mỹ liên quan đến Biển Đông.
Reuters cho biết các trợ lý của ông Trump từng nói rằng ông có kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân ở Đông Á để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Trong khi đó, ứng viên Ngoại trưởng Tillerson thể hiện rõ quan điểm cứng rắn của ông đối với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Tại phiên điều trần trước Thượng viện Mỹ vào ngày 11/1,ông tuyên bố: “Chúng ta sẽ phải gửi tới Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng, thứ nhất, hoạt động xây dựng đảo phải chấm dứt, thứ hai, các ông sẽ không được phép tiếp cận các hòn đảo này.”
Trước đó chưa đầy một tháng, Tư lệnh Thái Bình Dương Harry Harris tuyên bố trong một bài phát biểu ở Sydney (Australia) rằng Mỹ sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông.

Bình luận của chuyên gia 

Theo Reuters, các chuyên gia quân sự cho biết Hải quân Mỹ có khả năng mở rộng ở Châu Á để phong tỏa hoạt động của Trung Quốc bằng các tàu biển, tàu ngầm và máy bay. Tuy nhiên, họ cho rằng bất kỳ động thái nào như vậy sẽ có nguy cơ leo thang một cách nguy hiểm.
Bà Mira Rapp-Hooper, chuyên gia về Biển Đông tại Trung tâm An ninh Tân Hoa Kỳ cho rằng lời đe dọa ngăn chặn quyền tiếp cận của Trung Quốc ở Biển Đông là điều “đáng kinh ngạc” và không có cơ sở trong luật pháp quốc tế. Bà nói thêm: “Một cuộc phong tỏa – điều cần phải có để ngăn việc tiếp cận – là một hành động chiến tranh”.
Ông Bonnie Glaser thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế cho rằng những bình luận của thư ký báo chí Spicer là “đáng lo ngại” và nhận định rằng chính quyền mới đang “gửi đinhững thông điệp khó hiểu và mâu thuẫn.”
Ông Dean Cheng, một chuyên gia về Trung Quốc tại Quỹ Di sản Heritage Foundation, cho rằng nhận xét của ông Spicer cho thấy Biển Đông là một vấn đề quan trọng đối với chính quyền Trump.
Ông nhận thấy điểm đặc biệt rằng cả ông Spicer và ông Tillerson đều không nêu cụ thể hành động triển khai tuyên bố của họ, điều đó mở ra khả năng rằng các biện pháp kinh tế có thể được sử dụng để chống lại Trung Quốc và các doanh nghiệp tham gia xây dựng đảo.
Mai Lan
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Trump chuẩn bị cuộc chiến với Trung Quốc


Phạm Đình Nhiên
Ba nước lớn có ba lãnh tụ theo dân tộc chủ nghĩa là Nga, Tàu và Mỹ.
Nga hơn 20 năm trước lẫy lừng với Liên Bang Xô Viết Mác-Lê tan rã, đánh mất danh vị cường quốc hàng đầu thế giới, đang nuối tiếc và hoài vọng, muốn lập lại địa vị cũ dưới sự lãnh đạo của Putin, một cựu trung tá mật vụ KGB, nhiều thông minh và cũng nhiều tham vọng, thủ đoạn, tàn ác, bằng mọi cách phải đạt cho tới mục tiêu.
Trung Quốc hàng ngàn năm trước – từ thời nhà Hán, nhà Đường – đã từng là một đế quốc lớn thời cổ, về sau suy thoái, hết bị Mông Cố chiếm ít lâu thì lại bị Mãn Châu thu tóm lập ra nhà Thanh cai trị từ 1.644 đến 1.911 (267 năm) mới thoát để lập ra Trung Hoa Dân Quốc.
Trong khi đó thì các nước châu Âu phát triển công nghệ trở nên hùng mạnh, liên kết tám nước gọi là Bát Quốc Liên Quân gồm Anh, Nga, Đức, Pháp, Bồ…tới đánh chiếm, xâu xé nước Trung Hoa: Đông Tam Tỉnh, quần đảo Đài Loan, Bành Hồ thuộc Nhật; Hồng Kông, Thượng Hải thuộc Anh; Ma Cao thuộc Bồ; Pháp, Nga đều có phần.
Cuộc chiến tương tàn Quốc – Cộng kết thúc năm 1949, Trung Quốc Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Mao (cũng như các nước Cộng sản khác) lạc hậu, suy kiệt, nghèo đói. Phải đợi đến khi Mao chết, Đặng tiểu Bình lên thay mở cửa mời gọi Tư Bản từ Âu, Mỹ, Á đem tiền bạc, kỹ thuật, máy móc vào lập cơ sở sản xuất trở nên khấm khá được khoảng hơn 10 năm thì lại bị khủng hoảng kinh tế năm 2008 bắt đầu từ Mỹ lan ra khắp thế giới làm kinh tế Trung Quốc suy trầm liên tiếp gần 10 năm nay chưa gượng dậy được. Ông Tập cận Bình lên thay Hồ cẩm Đào cuối năm 2011 phải gánh một di sản nặng nề: Chính quyền tham nhũng, cướp bóc đất đai, nhà cửa của người dân, sưu thuế nặng, xí nghiệp đóng cửa, vỡ nợ, nhân công thất nghiệp, biểu tình, bạo loạn khắp nơi, trong những năm 2010, 2011, 2012 hơn 180.000 vụ một năm. Tập một mặt mở chiến dịch chống tham nhũng, một mặt kích động chủ nghĩa dân tộc bằng “Giấc mơ Trung Quốc” ru ngủ người dân qua việc đẩy mạnh tranh chấp quần đảo Senkaku với Nhật, chiếm các bãi đá trên quần đảo Trường Sa để bồi đắp thành các căn cứ quân sự.
Nước Mỹ trở nên đại cường quốc sau thế chiến thứ hai và lãnh đạo thế giới Tự Do đối đầu với chủ nghĩa Cộng sản do Liên Xô lãnh đạo cho đến khi đế quốc Cộng sản Liên Xô tan rã.
Nhưng vì hai cuộc chiến ở Afganistan và Irak, nước Mỹ nợ nần chồng chất, ngân sách thiếu hụt và vì các nhà máy đua nhau đem sang Trung Quốc sản xuất với tiền công rẻ mạt rồi đem về nước tiêu thụ. Đang từ một nước sản xuất và xuất cảng hàng hóa biến thành một nước tiêu thụ. Thị trường rộng lớn của Mỹ giao toàn bộ cho Trung Quốc. Từ cây tăm, cái kim, sợi chỉ, quần áo cho tới máy móc (TV, Computer, phụ tùng xe hơi) tràn ngập các cửa hàng từ nhỏ tới lớn ở Mỹ: Walgreen, Radio Sack, Target, Best Buy, Walmart…
Hậu quả là thuế sản xuất, thuế xuất cảng bị mất, dân trong nước không có việc làm, nạn thất nghiệp cao, công nghệ thu hẹp chỉ đóng góp có 12% tổng lợi tức quốc gia (GDP), 70% kinh tế Mỹ dựa vào thương mại. Thâm hụt Thương Mại năm 2014 là 508 tỉ usd, năm 2015 tăng lên 540 tỉ, trong đó thâm hụt với Trung Quốc chiếm khoảng 300 tỉ (năm 2014 Mỹ bán cho Trung Quốc 134 tỉ, mua của Trung Quốc 432 tỉ) . Bán ra ít mua vào nhiều tức thu ít, chi nhiều làm cho Mỹ mắc nợ như chúa Chổm mà chủ nợ lại chính là Trung Quốc. Tình trạng này làm nội lực của nước Mỹ yếu đi và sẽ dần dần bị suy kiệt.
Trump, Putin, Tập cận Bình cả ba đều muốn làm cho Mỹ, Nga, Tàu của họ trở thành nước đứng đầu thế giới, tất nhiên phải bành trướng sức mạnh của mình để đè bẹp những nước khác. Nên Nga, Tàu thân nhau chỉ là chiến thuật chính trị; Trump, Putin ca tụng nhau cũng vậy thôi – chẳng tử tế gì, đều là mạt cưa mướp đắng cả.
Khi ra ứng cử Tổng Thống, khẩu hiệu của ông Trump là làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại (Make American Great Again) và tố cáo Trung Quốc hiếp đáp nước Mỹ, hạ giá thấp đồng Nhân dân tệ để chận hàng Mỹ bán vào Trung Quốc.
Để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông, Tổng Thống Obama đã xoay trục các lực lượng Mỹ về châu Á-Thái Bình Dương và cho tàu chiến Mỹ tuần tra thường xuyên ở Hoàng sa, Trường Sa. Trong thời gian tranh cử, ông Trump gần như không đề cập đến vấn đề quân sự mà chỉ nhấn mạnh đến cuộc chiến kinh tế: đánh thuế thật năng (45%) trên hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc và đem công việc từ Trung Quốc về cho công nhân Mỹ.
Sau khi đắc cử Tổng Thống, dù chưa tuyên thệ nhậm chức, ông Trump đã bắn phát súng lệnh đầu tiên khi dàn xếp cuộc nói chuyện với nữ Tổng Thống Thái Anh Văn của Đài Loan, vi phạm nguyên tắc cốt lõi “Một Nước Trung Quốc” mà chính quyền Trung Quốc đòi hỏi những nước muốn giao dịch với họ phải công nhân (Đài Loan đang độc lập phải là một tỉnh của Trung Quốc, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông bị Trung Quốc xâm chiếm là những tỉnh thuộc Trung Quốc và bây giờ đang là Biển Đông trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, biển Hoa Đông trong đó là quần đảo Sankaku của Nhật). Hành động thứ hai chuẩn bị cho cuộc chiến kinh tế với Trung Quốc là khi thành lập chính phủ, ông Trump đã đưa vào toà Bạch Ốc những nhân vật cốt cán cho cuộc chiến này:
– Thứ nhất: Chủ tịch Hội Đồng Thương Mại là giáo sư Peter Navarro, một người quyết liệt chống Trung Quốc, ông đã viết nhiều cuốn sách tố cáo những phương cách làm ăn, buôn bán gian dối, bất công của nước này. Cuốn “Death by China” rất nổi tiếng được dịch và phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có bản tiếng Việt.
– Thứ hai: Trưởng Đại diện Thương Mại Mỹ là luật sư Robert Lighthizer, một người thường hay chỉ trích Trung Quốc, ông từng làm Phó Đại diện Thương Mại thời Tổng Thống Reagan.
– Thứ ba: trong giới thân cận của ông Trump có những người thân Đài Loan và chống Trung Quốc: Reince Priebus, cựu chủ tịch đảng Cộng Hoà, Chánh Văn Phòng Toà Bạch Ốc và Stephan Yetes, chủ tịch đảng CH tiểu bang Idaho, họ dẫn một phái đoàn đến thăm Đài Loan một tuần lễ sau khi ông Trump đắc cử.
– Thứ tư: mặt trận chính trị và quân sự. Ông Rex Tillerson trong buổi điều trần tại Thượng Viện ngày 12-1-2017 để được chuẩn y chức ngoại trưởng cho rằng Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Biển Đông là phi pháp và “Chúng ta sẽ phải gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng trước hết phải đình chỉ việc xây dựng các đảo và thứ hai là không được phép tiếp cận những hòn đảo này”. Về quân sự, ứng viên Bộ Trưởng Quốc Phòng, Tướng Mattis trình bày trước Thượng Viện rằng Trung Quốc cũng như Nga và Nhà Nước Hồi giáo (IS) là ba thách thức mà nước Mỹ phải đối phó. Quân đội là lực lượng mà ông Trump khi tranh cử đề nghị tăng cường ngân sách thêm 100 tỷ USD/năm để tăng quân số và nhất là chiến hạm. Quân đội mạnh sẽ yểm trợ cho chính sách ngoại giao và kinh tế của ông ta, nhất là đối với Trung Quốc đang hung hăng bành trướng ở Biển Đông.
Sau phát súng lệnh ông Trump bắn ra khi nói chuyện với TT Thái Anh Văn của Đài Loan, Trung Quốc đã cho máy bay chiến lược ném bom nguyên tử H-6 hai lần bay vần vũ ở Biển Đông để thị uy và HKMH Liêu Ninh hết tập trận bắn đạn thật ở biển Bột Hải lại vòng qua quần đảo Đài Loan uy hiếp rồi tới tập trận ở Biển Đông. Ngoài ra, báo chí do chính quyền Trung Quốc điều khiển hăm doạ sẽ trả đũa Mỹ như không mua máy bay Boeing, không cho hãng xe GM bán xe sang Trung Quốc, tẩy chay hàng hoá, dịch vụ của các nhà kinh doanh Mỹ ở Trung Quốc như cà phê Starbuks (2.500 quán), nhà hàng Mac Donald (khoảng 1.500 cửa hàng) . Trên thực tế, Trung Quốc đã cảnh cáo Mỹ bằng cách phạt chi nhánh GM ở nước này ngày 24-12-2016 29 triệu USD với tội “độc quyền về giá”, còn Mac Donald ngày thứ hai, 9-01-2017 công bố bán các nhà hàng, rút vốn hơn 2 tỷ USD ra khỏi Trung Quốc.
Cuộc so găng đã bắt đầu ngay từ khi ông Trump chưa nhận chức! Chúng ta hãy chờ xem ông Trump, một người được coi là có tính bốc đồng, làm được những gì, làm được tới đâu và cuộc chiến kinh tế, quân sự giữa Mỹ – Trung Quốc thực sự xẩy ra như thế nào, gay cấn ra sao. Wait and see!
P.Đ.N.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai quan trọng hơn: thằng chủ hay thằng làm công?


Hồi nãy sau khi chạy chuyến xe ôm cuối cùng tôi đói bụng quá nên tấp vô cái quán chè vỉa hè để ăn. Quán khá đông. Vừa ăn tôi vừa để ý, quán có tầm 4-5 đứa phục vụ còn thằng chủ bụng bự thì ngồi một chỗ đếm tiền.
Khi các bạn nhìn vào cảnh này các bạn nghĩ gì? Thằng chủ bóc lột thằng nhân viên. Thằng chủ chẳng làm gì cả, nó chỉ ngồi đếm tiền còn tụi nhân viên làm chết bà ra. Quá bất công. Người giàu ngày càng giàu và người nghèo ngày càng nghèo.

Khoan đã. Để tôi giải thích vai trò của thằng chủ. Thằng chủ là:


Người bỏ tiền ra đầu tư, không có nó thì không có tiệm chè đó.
Nó là người trả tiền lương cho nhân viên.
Nó chấp nhận rủi ro để kinh doanh còn nhân viên thì không.
Nó là người chịu vai trò sáng tạo trong nền kinh tế còn tụi nhân viên thì không.

Đó. Tuy nó chỉ ngồi đếm tiền nhưng sau khi quán đóng nó phải lo đủ thứ. Nó phải lo đút lót tụi công an phường và quản lý đô thị. Nó phả trả lương, phải cân nhắc. Nó phải đi mua nguyên liệu chế biến để đảm bảo lời lỗ. Nó là bộ não của tiệm chè còn nhân viên thì đóng vai trò cố định. Thằng chủ bụng bự đáng ghét kia là người vận hành, nó tận dụng và chất xám để tạo ra giá trị và sảm phẩm. Còn nhân viên là người hỗ trợ.

Không có thẳng chủ mập đáng ghét kia thì sẽ không có tụi nhân viên, không có quán, không có việc làm. Nên lần sau các bạn hãy bớt soi mói và phân chia giai cấp đi. Đầu tư là hành động tạo ra giá trị trong nền kinh tế còn lao động thì không. Giờ bạn còn nghĩ xấu về thằng chủ không?

Hơn nữa. 90% các doanh nghiệp nhỏ sẽ phá sản và giản tán trong vòng 1 năm. Khi điều đó xảy ra thì ai chịu rủi ro và gánh nặng nhất? Đó là thằng chủ. Còn tụi nhân viên thì được trả tiền đàng hoàng đầy đủ.

Giờ tôi hỏi lại các bạn: “thằng chủ với thằng làm công, ai quan trọng hơn?”

Ku Búa @ Café Ku Búa

Phần nhận xét hiển thị trên trang