Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2017

Người dân cần danh sách “con ông cháu cha”


Năm 2016, báo chí dồn sự chú ý vào Bộ Công thương, khi mà vụ án Trịnh Xuân Thanh và chuyện bổ nhiệm con trai của cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng khiến dư luận xã hội phẫn nộ.
Đó là lý do trong số báo Xuân này, Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng Cuối tháng thực hiện cuộc trò chuyện với ông Lê Mạnh Hà, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và cũng là con trai của Đại tướng – nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh về đề tài “con ông cháu cha” mà chính ông cũng là người trong cuộc theo một cách nào đó. Đây là cuộc trò chuyện thẳng thắn hiếm có từ một quan chức cấp cao dành cho báo chí…
le-manh-ha
Lê Mạnh Hà- phó văn phòng chính phủ
Tôi có lúc “đơn độc” trong đấu tranh…
– Nhà báo Tô Lan Hương:Tôi đã đọc thêm về tiểu sử của anh trên Wikipedia trong lúc ngồi chờ anh đến. Wikipedia viết thế này: Đến năm 1997, khi anh 40 tuổi, anh mới chỉ là chuyên viên trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Mà năm 1997, ba anh – Chủ tịch nước Lê Đức Anh mới nghỉ hưu. Thật bất ngờ và thật thú vị…
– Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Lê Mạnh Hà: Thật ra Wikipedia có tí nhầm lẫn. Năm 1992, tôi đã là thiếu tá quân đội và ra quân, về giảng dạy ở Trường  Hàng không Việt Nam. Năm 1996, tôi sang làm chuyên viên ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Năm 2001 tôi về TP HCM làm Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ đó mới chính thức “làm quan”.
– Ba anh có bao giờ đề nghị nâng đỡ anh trong sự nghiệp, và ngược lại, anh có bao giờ mở lời nhờ ông nâng đỡ mình?– Tôi không dám tham dự vào công việc của ba mình và cũng không có thông tin chính thức nên không nhận xét về công tác cán bộ mà ông tham gia. Với cá nhân tôi, tôi tin chắc chẳng có sự nâng đỡ nào dành cho tôi từ phía ông. Như việc tôi được đi học, ví dụ như đi đào tạo tiến sỹ ở nước ngoài cũng có thể là chính sách ưu tiên cho con cán bộ lãnh đạo cao cấp. Cũng trong hoàn cảnh đó có thể người khác không được chọn, nhưng chúng tôi, những “con ông cháu cha”, thì được, đó cũng có thể tính là ưu ái.- Tôi nghe nhiều lời đồn, là lúc còn nắm quyền, và kể cả sau khi nghỉ hưu, trở thành cố vấn của Trung ương Đảng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã giúp đỡ, cất nhắc cho rất nhiều người lên những vị trí cao trong bộ máy. Nếu lời đồn đó đúng, tại sao con trai của ông đến lúc ngoài 40 tuổi, có bằng tiến sỹ viễn thông, vẫn chỉ là một chuyên viên bình thường cấp Bộ?
– Chưa từng có!
– Vì sao?
– Không cầu danh, không cầu lợi. Đó là điểm tôi cho rằng ba con tôi rất giống nhau. Quan trọng là phải làm thật tốt, làm tốt nhất trên từng vị trí công tác. Khi làm tốt sẽ được nhìn nhận, được đặt ở vị trí cao hơn một cách thuyết phục và công bằng. Đối với mọi người trong gia đình tôi, chuyện lên đến chức này, chức kia không quan trọng.
– Thực lòng là không quan trọng sao? Tôi không tin một người đàn ông mà lại không có tham vọng quyền lực.
– Cô có thích đàn ông có quyền lực không?
– Dĩ nhiên là có!
– Dĩ nhiên tôi cũng thích quyền lực. Đó là lẽ đương nhiên, đó là bản năng tự nhiên của con người. Đến một con vật cũng luôn mong muốn trở thành con đầu đàn nữa là…
– Thế thì thật mâu thuẫn khi anh không tận dụng lợi thế từ gia đình và người cha quyền lực của mình…
– Mâu thuẫn gì đâu? Tôi chỉ đơn giản là muốn thành công bằng chính năng lực của mình. Trong tự nhiên, con sư tử luôn phải giành lấy vị trí đầu đàn bằng chính sức mạnh của mình. Thêm nữa, tôi không thể dùng thủ đoạn, thứ mà người ta dùng ngày càng nhiều hơn để đạt được vị trí nào đó. Hơn nữa, tôi cũng có định nghĩa khác về quyền lực. Mình thực sự có quyền lực khi là người làm tốt nhất, người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình.
– Có nhiều người bất ngờ không khi biết anh không có nhiều quyền chức so với vị trí mà đáng lẽ anh có được khi là con trai Chủ tịch nước?
– Rất nhiều người ngạc nhiên. Cũng có rất nhiều nhà báo đã hỏi tôi như chị khi mà họ so sánh tôi với một số con cháu lãnh đạo.
– Dân gian mình có cụm từ 4C (con cháu các cụ), và càng ngày tôi càng nhận ra rằng người ta  nói về cụm từ đó với nhiều định kiến và ác cảm hơn trước. Anh có bao giờ phải chịu những ánh nhìn ác cảm đó?
– Tôi đã quen với việc đó từ bé đến giờ. Không đâu xa, mới đây tôi nghe một đồng nghiệp của chị nói: “Tại ông Hà là con của ông Lê Đức Anh nên mới dám phát ngôn như thế”.
– Và…?
– Tôi rất giận và nói: “Tôi là tôi, là Lê Mạnh Hà, tôi nói và làm với tư cách của riêng mình. Tôi không sợ không phải vì là con ông nào”.
– Một người rất rõ về anh đã nhận xét về anh như thế này: “Lê Mạnh Hà là người không bao giờ biết sợ ai”…
– Nhiều người luôn nghĩ rằng, tôi không sợ ai, vì tôi cậy mình là con ông Lê Đức Anh. Chứ nếu không có ông Lê Đức Anh ở sau lưng, họ nghĩ tôi đã không dám thế. Nhưng tôi nghĩ, mình làm sai thì mình mới phải sợ. Chứ mình đúng thì mình cứ ngẩng cao đầu thôi, sao phải sợ hãi ai? Tôi tin tự thân mình, tôi đủ bản lĩnh để không phải sợ ai.
– Đó là lý do anh nổi tiếng với những phát ngôn và hành động thẳng thắn, kiên quyết, nổi tiếng với việc chống lại một số quyết định của cấp trên?
– Ngày xưa, lúc còn là Giám đốc Sở Bưu chính – Viễn thông (sau này là  giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông) ở TP HCM, tôi là người đầu tiên lên tiếng và cũng là người phản đối quyết liệt cách thực hiện đề án tin học hóa cơ quan hành chính nhà nước (đề án112), đề án do Văn phòng Chính phủ, nơi tôi làm việc bây giờ, chủ trì triển khai. Tôi phản đối vì thấy nó sai, dựa theo khả năng phân tích, đánh giá của mình, nhưng có những người nghĩ tôi dám lên tiếng chỉ vì tôi là hậu duệ của ai đó.
Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Lê Mạnh Hà từng làm cho Bộ nhức đầu một thời gian dài. Tôi đã phát hiện và yêu cầu xử phạt đối vài Đài VTC của Bộ khi Đài này phát trên 30 kênh truyền hình không có giấy phép, cấm phát hành trên địa bàn thành phố một trò chơi trực tuyến bạo lực của một doanh nghiệp của Bộ. Chúng tôi từng xử phạt những tờ báo Trung ương vì đưa tin vi phạm luật báo chí. Sau này, quy định thay đổi, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh không còn được phạt các báo Trung ương nữa.
Nhưng tôi nghĩ thế này: Xe của Trung ương đi ở địa phương mà sai luật, công an địa phương không phạt thì ai phạt? Chúng tôi là đơn vị đầu tiên và rất kiên quyết phạt thẳng tay những trường hợp báo chí in bản đồ Việt Nam không có Trường Sa, Hoàng Sa. Lúc đó nhiều cơ quan báo chí phản đối ghê lắm và bộ cũng chưa đồng thuận cao. Nhờ mạnh tay như vậy mà giờ đây việc in bản đồ Việt Nam có Hoàng Sa, Trường Sa là việc đương nhiên, hầu như không đơn vị nào vi phạm.
Khi tôi còn là Phó chủ tịch TP HCM, vào năm 2013, tôi phát hiện ra chuyện lãnh đạo ở 4 doanh nghiệp công ích của thành phố nhận lương rất cao, có giám đốc nhận mức lương 2,6 tỷ đồng một năm – một mức lương vô cùng phi lý, báo chí gọi là vụ lương khủng. Những doanh nghiệp này còn tạo ra chênh lệch bất bình đẳng trong thu nhập của doanh nghiệp và còn ký hợp đồng lao động sai quy định. Khi tôi phát hiện ra, tôi đã đề nghị ngay lập tức xử lý sai phạm này.
Với sai phạm rõ ràng và dưới áp lực của dư luận, 8 lãnh đạo của 4 doanh nghiệp công ích này đã bị xử lý kỷ luật một cách nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, trong quá trình này đã có những cuộc họp rất căng thẳng của lãnh đạo thành phố. Tôi đã phải tự mình soạn thảo các báo cáo phục vụ cho các cuộc họp này. Lần này, tuy rằng không hẳn là đơn độc nhưng tôi ở trong hoàn cảnh rất khó khăn. Có người nói, nếu là người khác thì “xong” rồi.
Vụ việc rất lớn, được dư luận quan tâm và hoan nghênh nhưng không có ai được khen thưởng. Và một thời gian sau, vì lý do này lý do khác, những người cùng tôi trực tiếp làm vụ này đều chuyển công tác.
Còn có trường hợp, tất cả lãnh đạo ủy ban nhân dân thành phố đứng một bên, tôi đứng một bên. Đó là việc xử lý rác thải ở thành phố Hồ Chí Minh. Tôi không đồng ý đóng cửa khu xử lý rác do doanh nghiệp nhà nước đầu tư để dồn rác về cho bãi rác Đa Phước. Làm như vậy là tạo độc quyền trong xử lý rác, gây lãng phí khi đóng cửa khu xử lý rác mới đầu tư gần 1.000 tỷ đồng và phải trả tiền xử lý rác cao hơn. Giờ thì chị thấy đó, bãi rác Đa Phước đang trở thành nỗi đau đầu vô cùng lớn của thành phố.
– Thế đấy có phải lý do anh rời TP HCM ra Hà Nội nhận công tác mới ở Văn phòng Chính phủ?
– Hoàn toàn không. Tôi ra Hà Nội là do được phân công và cũng là nguyện vọng cá nhân…
– Dù có lúc không đồng thuận với những lãnh đạo cấp trên, anh có nghĩ việc mình là con trai của Đại tướng Lê Đức Anh đã giúp anh được yên vị?
– Chắc là chuyện tôi là con ai cũng là một yếu tố mà không thể không tính đến. Việc đó rất bình thường và cũng là lẽ tự nhiên. Nhưng quan trọng nhất là tôi không làm sai thì không có lý do gì để “luân chuyển”. Thực sự tôi cho rằng chưa hề có ý định nào như vậy.
– Có trình độ, có bằng cấp và một gia thế đáng nể. Hình như tính cách là lý do duy nhất khiến đường quan lộ của anh vô cùng chậm chạp?
– Tôi không cho là chậm. Nhưng nhiều người nghĩ như chị là rất chậm. Nếu có như vậy thì tính cách của tôi là một phần của lý do. Và tôi nghĩ, “con ông cháu cha” là lợi thế nhưng đôi khi chính yếu tố này cũng là cản trở với tôi. Nếu có nhóm lợi ích thì với tính cách đó, tôi sẽ là chướng ngại vật đối với họ. Mà xử lý tôi thì rất khó. Nên tốt nhất là không cất nhắc.
 Thế còn bây giờ, khi anh ra Hà Nội, gần Trung ương hơn, có nhiều việc khiến anh phải đấu tranh như thời làm Phó Chủ tịch TP HCM?
– Khi thấy đúng, tôi vẫn luôn bảo vệ quan điểm của mình và rất nhiều trường hợp được cấp trên chấp thuận.
– Nghĩa là kể cả khi gần “mặt trời” hơn, anh vẫn giữ tính cách “không sợ ai” của mình?
– Đúng, tôi vẫn thế! Thế nhưng dùng từ “không sợ ai” có tác động mạnh nhưng không chuẩn và làm người ta khó chịu.
– Vậy anh có còn rơi vào tình trạng “một mình một phe” ở Văn phòng Chính phủ giống như hồi còn làm ở TP HCM không?
– Từ trước đến nay, thông thường thì tôi có đồng minh là cấp dưới nhiều hơn là cấp trên (cười).
– Với tính cách như thế, anh có trở nên giàu có nhờ làm quan chức?
– Tôi nghĩ mình không nghèo!
– “Không nghèo” theo định nghĩa của anh là…
– Một phần là do gia đình tôi tạo lập, tích lũy, và một phần khác là từ… phong bì, phong bì một cách “chính đáng” nhé! Tôi chưa thấy ai nói về thu nhập của mình từ phong bì, thế nhưng đó là thực tế. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì ít phong bì lắm.  Nhưng ra ngoài này thì khác, tôi đi họp ở nơi này nơi kia, người ta đưa phong bì, tôi vừa buồn cười, vừa xấu hổ. Xấu hổ nhưng rất khó từ chối, vì ở Việt Nam, đó là một thứ “văn hoá”, đã là thứ không thể thiếu trong hoạt động thường ngày.
Khi bộ trưởng và bí thư là “vua” một cõi…
– Năm 2016 là một năm mà báo chí ngập tràn thông tin về câu chuyện “gia đình trị” trong hệ thống chính quyền. Từ trường hợp Vũ Quang Hải – con trai cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng được bổ nhiệm “bất thường”, đến chuyện cả nhà Bí thư Hà Giang Triệu Tài Vinh làm quan. Chưa bao giờ, cụm từ “con cháu các cụ” được dư luận nhắc đến với nhiều phẫn nộ như thế, chưa bao giờ người ta nhìn những quan chức xuất thân từ những gia đình danh giá với nhiều ác cảm như thế…
– Tôi hiểu lý do vì sao họ phẫn nộ. Và thực ra, chính bản thân tôi, dù ở vai trò là cán bộ nhà nước hay người dân, mỗi ngày khi đọc những thông tin do báo chí cung cấp về một trường hợp nào đó được cất nhắc bất thường, tôi cũng thấy băn khoăn, bức xúc. Tôi nghĩ những bức xúc, phẫn nộ đó là điều chúng ta có thể hiểu được. 
Dĩ nhiên, chẳng phải đến năm 2016, thì chuyện gia đình trị, chuyện con ông cháu cha mới trở nên nhức nhối. Khi tôi làm việc ở TP HCM, tôi cũng đã chứng kiến có trường hợp mà con của vị lãnh đạo này, vị lãnh đạo kia được bổ nhiệm rất nhanh, nếu không muốn nói là bất thường. Không chỉ ở Hà Giang, không chỉ ở TP HCM, mà ở tỉnh nào, địa phương nào cũng xảy ra chuyện đó. Và ai cũng nhìn thấy, ai cũng biết, ai cũng hiểu, chỉ không dám nói ra.
– Thật ra, chuyện một gia đình có ông, có cha, con cháu đều có quyền lực chính trị không phải chỉ là câu chuyện của riêng Việt Nam. Ở Mỹ, gia đình hai cha con nhà Bush đều làm Tổng thống. Ở  Ấn Độ có dòng họ Nerhu – Gandhi, ở Hàn Quốc có cha con Tổng thống Park Chung Hee – Park Guen Hee… Nhưng không phải ở đất nước nào trong những quốc gia đó, chuyện một người có xuất thân 4C cũng gây ra sự phẫn nộ như ở đất nước ta. Anh có hiểu tại sao?
– Khi mà hệ thống chính trị và hệ thống bầu cử của một quốc gia đảm bảo cho việc lựa chọn những vị trí quan trọng trong chính quyền được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ, đề cao năng lực và đạo đức, thì việc một người có xuất thân trong gia đình có truyền thống làm chính trị trở thành tổng thống hay thủ tướng là rất bình thường. Chuyện của họ sẽ được lịch sử ghi nhận, báo chí khai thác với góc độ truyền thống gia đình chứ không thể biến thành nỗi nghi ngờ hay cơn phẫn nộ của nhân dân.
– Vừa rồi, khi theo dõi báo chí, tôi biết, ở bên kia bán cầu, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Donald Trump đã bị cản trở trong việc bổ nhiệm con mình vào bộ máy của ông ta, vì một điều luật Liên bang được quy định rất chặt chẽ, nhằm tránh nạn “gia đình trị”. Anh có nghĩ Việt Nam mình có thể học theo cách làm đó, ra một điều luật, để ngăn cản các quan chức đương quyền bổ nhiệm người thân như tình trạng diễn ra từ Trung ương đến địa phương hiện nay?
– Thật ra chúng ta có cấm đấy nhưng chưa chi tiết, chưa cụ thể và thiếu gì cách để lách. Bí thư của một tỉnh là người cao nhất của tỉnh đó nhưng có phải là người trực tiếp bổ nhiệm con mình đâu nếu như người con đó làm lãnh đạo một sở thuộc ủy ban nhân dân tỉnh.
– Như anh, khi anh nhìn con của ông bộ trưởng này, con của ông bí thư kia, trẻ như thế, tài cán cũng chưa phải là đặc biệt, nhưng đã được cất nhắc ở vị trí này, vị trí kia. Anh cũng là con ông cháu cha, anh cũng có trình độ, có bằng cấp, nhưng 40 tuổi vẫn là chuyên viên, gần 50 tuổi mới là giám đốc sở, vậy anh có thấy bất công cho bản thân mình?
– Thực lòng, tôi không ganh tị cho bản thân mình. Vì tôi biết có nhiều người còn hơn tôi, nhưng họ vẫn chỉ là kỹ sư, là giáo viên bình thường. Thế nhưng người dân rất cần biết những cán bộ trẻ đó có thực sự xứng đáng không, có đúng là hạt giống đỏ không…
– Anh là con trai Đại tướng Lê Đức Anh, đang giữ cương vị Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Con trai nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một người là Bí thư tỉnh Kiên Giang, một người là Trưởng ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn; Ông Trần Tuấn Anh – Bộ trưởng Bộ Công thương đương nhiệm là con trai nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; ông Nguyễn Xuân Anh – Bí thư Đà Nẵng là con trai của nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn Văn Chi; con trai của cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng là Vũ Quang Hải thì đã trở thành tâm điểm của dư luận năm vừa rồi… Có rất nhiều cán bộ lãnh đạo của Việt Nam có xuất thân từ những gia đình có truyền thống chính trị mà tôi không thể kể hết ra đây. Và anh nghĩ ai trong số họ, đi lên bằng năng lực của mình, ai trong số họ, đi lên bằng con đường không chính danh, bằng sự nâng đỡ của gia đình?
– Tôi nghĩ chúng ta nên có và phải có một danh sách đầy đủ, từ trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện những cán bộ có xuất thân như thế, những cán bộ được gọi là con ông cháu cha. Và không ai khác, chính báo chí phải làm nhiệm vụ đó hiệu quả nhất. Khi có một danh sách đầy đủ, chi tiết, chúng ta mới có thể cùng nhau kiểm tra, cùng nhau công tâm đánh giá ai là người xứng đáng với vị trí họ đảm nhiệm, ai là người không.
– Nếu ngày danh sách đó được báo chí công bố, liệu anh có thể cùng tôi một lần nữa trò chuyện kỹ hơn về câu chuyện này?
– Tôi cho rằng phải có danh sách đó, không có chữ “nếu” ở đây. Tôi rất vui lòng được tiếp tục trao đổi về vấn đề ngày một cách thẳng thắn và sẽ không né tránh bất cứ  câu hỏi nào của chị!
– Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thẳng thắng này!
Theo Tô Lan Hương/An ninh thế giới cuối tháng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA PHẦN TỬ TRÍ THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÍNH QUYỀN


Trần Văn Chánh
Trách nhiệm của người trí thức trước các hiện tình xã hội    
     Trí thức gắn liền với tri thức và học vấn dồi dào phong phú, từ đó thông đạt thế cố và hiểu được các hiện tình xã hội. Tuy nhiên, tự bản thân tri thức, học vấn cũng không có giá trị nếu việc sử dụng nó không mang lại ý nghĩa tích cực gì cho đời sống. Do vậy, người ta thường nói đến vai trò, trách nhiệm và ảnh hưởng của người trí thức trong trường hợp xã hội còn nhiều trục trặc, nhất là khi xã hội đó đang bị đặt dưới quyền thống trị của những hôn quân bạo chúa, hoặc nhân dân phải điêu đứng vì một chế độ mị dân, độc tài nào khác. 
Trong trường hợp nầy, người trí thức không còn chỉ là người có học vấn đơn thuần, mà gắn liền với sự động não, luôn luôn đặt vấn đề và phê phán, nhằm góp phần làm thay đổi theo hướng tốt hơn đối với các hiện tình xã hội. Trong lịch sử, người trí thức luôn đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như những tác động tích cực về tư tưởng nhằm chuyển hóa nhận thức của số đông thông qua những lời nói và việc làm của họ ảnh hưởng tới sự chọn lựa định hướng, quyết sách để phát triển quốc gia, dân tộc.
     Nói theo cách diễn đạt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì “trí thức là người không chỉ giỏi, chỉ chuyên sâu vào một nghề chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm chung về vận mệnh nước nhà” (dẫn theo Trần Quốc Vượng, trong bài “Dám làm, dám nói… dám nghe”, Tạp chí Tia Sáng, Xuân Nhâm Ngọ 2002).

     Có thể mượn lời sau đây của Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô Dmitri Sergeievich Likhachov (1906-1999) để làm rõ thêm đôi chút về khái niệm/ yếu tính người trí thức: “Theo kinh nghiệm đường đời của tôi, trí thức là những người tự do về thế giới quan, không bị phụ thuộc vào những sức ép về kinh tế, đảng phái, nhà nước, không chịu một bổn phận nào về tư tưởng. Nguyên tắc chính của tính trí thức là sự tự do về trí tuệ, sự tự do như một phạm trù đạo đức... Tôi muốn nói rằng một nhà bác học chưa chắc đã phải là trí thức. Họ không còn là trí thức khi quá chú mục vào chuyên môn của mình mà quên mất ai sử dụng thành quả lao động của mình và sử dụng như thế nào. Khi đó, do theo đuổi những lợi ích chuyên môn, họ đã coi nhẹ lợi ích đồng loại và những giá trị văn hóa...” (“Thư gửi Tạp chí Thế giới mới, Số 2 năm 1993”, trong http://www.soup.io/everyone?).  
     Tuy nhiên, ngặt một nỗi, vì người trí thức cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt với bản năng sinh tồn như những người bình thường khác nên họ còn phải bận lo nhiều thứ, vì thế trong họ thường có sự mâu thuẫn trì kéo giữa một đằng là lý tưởng, hoài bão tốt đẹp về xã hội, với đằng khác là nhu cầu an toàn, thụ hưởng cho bản thân, gia đình mình. So với tầng lớp thống trị ở trên thì tay họ chưa dính chàm, còn với lớp bình dân ở dưới thì con cái trong nhà họ nói chung có nhiều cơ hội được ăn học giáo dục tương đối đầy đủ, không đi móc bọc, chửi thề đánh lộn hoặc tham gia các tệ nạn xã hội như con em của không ít nhà kém học thức khác trong một xã hội rối loạn bất công. Do cần tranh thủ để đạt một số điều kiện ưu tiên cho con đường thăng tiến của bản thân và gia đình, một số trí thức lần hồi bị thui chột sĩ khí, không dám phê phán hoặc nói lên sự thật; nếu có điều chi bức xúc thì họ cũng âm thầm chịu đựng cho qua, không nhận mình hèn đớn, viện dẫn rằng thời cuộc khó khăn, hoàn cảnh không cho phép, “thức thời vụ giả vi hào kiệt” (kẻ thức thời là người hào kiệt)... Nếu họ thuộc thành phần sáng tác hoặc phát minh, viết được vài ba công trình học thuật để đời thì tâm lý lại càng dễ tự mãn hơn, vui vẻ nhận sự tôn vinh của người đời mà quên buồn với những nỗi thống khổ và trục trặc của nhân sinh trong những hiện tình xã hội cụ thể. Nếu thuộc thành phần tham gia chính trị, do tự nguyện dấn thân hoặc được chính quyền cơ cấu sẵn đưa vào các loại tổ chức/ đoàn thể, thì họ lại càng an tâm hơn vì có tâm lý “cha mẹ dân” của một người cao đạo đã trả xong việc nước nợ đời, mà ít khi có dịp tự hỏi những gì mình nói và làm thực tế đã đem lại được lợi ích gì cho đám bình dân, hay tác dụng có khi chỉ là ngược lại. Bởi vì, người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, nhận ra mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật ý kiến phản bác, trước những nỗi bất công, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng, dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay.      
     Một số trí thức trung thực có tâm huyết muốn góp phần thúc đẩy cải cách xã hội nhưng hoàn cảnh chính trị khắc nghiệt không cho phép, lâu ngày tâm chí bị cùng mằn chán nản, vì lực bất tòng tâm. Một số người khác cho rằng mình bị bịt miệng vì không có tự do ngôn luận đầy đủ, cũng ưu thời mẫn thế và bất mãn hiện trạng. Nhưng dù thuộc lý do, hoàn cảnh nào trong số các tình huống nêu trên, thân phận người trí thức cũng có những điểm bi kịch có phần đáng được chia sẻ, vì không phải hoàn toàn tại họ, nhưng nếu cứ để vậy mà kéo dài cuộc sống dở chết dở, họ sẽ mang mãi cái tâm sự như của Tô Thức (thời Tống): “Thẹn hoài cho người nước nầy, đau xót như có gai đâm trong da thịt; bình sinh đọc đến năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được”.
     Nói về vai trò, trách nhiệm của phần tử trí thức trước thời cuộc, ở Trung Quốc người ta thường nhắc tới nhân vật Lương Thấu Minh (1893-1988), một nhà nho-nhà triết học nổi tiếng, nhưng Lương không chỉ lo rị mọ sách vở và lập thuyết mà lúc nào cũng quan tâm đến những vấn đề bức xúc gắn với số phận của đất nước. Câu nói “Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã” (Có thể [dùng sức mạnh] bắt được một vị nguyên soái, chứ chí hướng của một thường dân thì không [dùng sức mạnh mà] đoạt nổi) là của ông, và ông đã vì lương tâm, trách nhiệm mà làm đúng ý thầy: Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn- Luận ngữ, thiên “Thái Bá”); đây cũng là câu nói của Khổng Tử mà nhà văn-nhà triết học Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã có lần trích dẫn trong tác phẩm Civil Disobedience(Bất tuân dân sự/ Bất tuân chính quyền) nổi tiếng của mình.   
    
     Trí thức và chính quyền: những suy nghiệm từ lịch sử
     Các chính quyền độc tài từ cổ chí kim trên thế giới nói chung đều không ưa trí thức, vì phần tử nầy thường có đủ sự hiểu biết và óc sáng suốt để nhận ra đồng thời đưa ra ý kiến phê bình chỗ sai lầm, mị dân của các nhà đương cuộc, nên mới có chuyện như Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) thời xưa “phần thư khanh nho” (đốt sách chôn học trò)… Trong các chế độ độc tài thiếu dân chủ, người trí thức chân chính do luôn đứng ở vị trí bênh vực quyền lợi người dân mà đối lập với chính quyền nên các nhà cầm quyền thường tìm mọi cách hoặc vô hiệu hóa họ hoặc dùng mồi nhử lợi danh trao cho họ nhiều thứ danh dự và chức hàm để biến họ thành hạng trí thức nô dịch phụ họa cho những đường lối chính sách sai lầm của mình.      
     Nói về mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức với giới cầm quyền, người ta thường nhắc đến câu nói rất nổi tiếng nầy của nhà chính trị sáng lập ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã phát biểu thẳng thừng trong một bài nói chuyện về đường lối văn nghệ vô sản ở Diên An năm 1942, đại khái : “Trí thức nếu không lao động thì chỉ đáng là một cục phân”. Câu nói nầy của Mao Trạch Đông gây sốc khá mạnh, có lẽ cũng từng làm tổn thương và mích lòng cho không ít người, nhất là đối với những người tự cảm thấy dường như mình đích thị là đối tượng đang bị nhà chính trị đầy quyền lực kia xem thường.      Mao dám miệt thị trí thức có lẽ vì trong thâm tâm cho rằng trí thức là kẻ trói gà không chặt, nhút nhát, và do cái gì cũng ham muốn như vừa muốn tiếng tốt trong sạch vừa muốn được cận kề quyền lực và sự giàu sang nên lập trường không vững, thường thiếu quyết đoán và không dám lăn xả hành động quyết liệt cho một mục tiêu lý tưởng nào đó; nếu anh ta bất mãn chính quyền đương đại mà có âm mưu “tạo phản” thì cũng chẳng làm nên cơm cháo gì (“tú tài tạo phản tam niên bất thành”)...
     Nhưng không phải chỉ có Mao, bậc tổ sư về chính trị của cả ông lẫn Tần Thủy Hoàng là nhà triết học-chính trị học Hàn Phi Tử  (281-233 TCN) cũng đã từng mạt sát trí thức. Cách nay trên hai ngàn năm, khi viết thiên “Ngũ đố” để kết tội năm loại mọt (ngũ đố) chuyên đục khoét và làm băng hoại xã hội, Hàn Phi đã đưa thành phần trí thức lên đầu sổ (trong nguyên văn ông dùng chữ “học giả”): “Các học giả chỉ biết nịnh hót xưng tụng đạo của tiên vương (các vua đời trước), mượn tiếng là trọng nhân nghĩa, trau chuốt dung mạo và y phục lời ăn tiếng nói để làm loạn pháp độ đương thời, làm mê hoặc lòng vua chúa…; bọn thị thần nịnh bợ, tích tụ tài sản, ăn hối lộ, mượn cái thế của nhà cầm quyền để chạy chọt xin xỏ cho những người mình đã nhận hối lộ… Năm hạng người đó là mối mọt của nước, bậc vua chúa không diệt trừ họ thì trong thiên hạ có quốc gia bị tàn phá suy vong, có triều đại bị tiêu diệt, cũng không có gì lạ!” (...Nhân chủ bất trừ thử ngũ đố chi dân, tắc hải nội tuy hữu phá vong chi quốc, tước diệt chi triều, diệc vật quái hĩ!).

     Một học giả-nhà văn-nhà cải cách kinh tế-chính trị nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống là tể tướng Vương An Thạch (1021-1086) cũng không vui gì khi nhắc tới những người trí thức cùng thời với mình, trong bức thư ông trả lời Tư Mã Quang (1019-1086) về việc họ Tư Mã ngăn cản cuộc cải cách bằng “tân pháp” của ông: “Kẻ sĩ đại phu đa số không lo gì đến quốc sự, chỉ mị dân, chiều theo thị hiếu của số đông, cho như vậy là tốt...”.
     Theo truyền thống của Trung Quốc và Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ, qua phương thức tuyển chọn nhân tài hầu như cố định bằng con đường khoa cử, giới trí thức nho sĩ với tư cách văn nhân thi sĩ kiêm quan lại xuất thân bình dân hay quý tộc luôn đứng ở trong hoặc bên cạnh nhà cầm quyền, giúp nhà cầm quyền trị dân, bù lại họ cũng được hưởng một số đặc quyền đặc lợi hoặc danh dự của triều đại mình phục vụ. Nhưng một số trong họ vẫn không thiếu những ông quan thanh liêm đầy lý tưởng chọn đứng về phía những người dân thấp cổ bé miệng, như Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên (thời Đường), Tô Thức (thời Tống), Lưu Cơ (thời Minh), Lương Khải Siêu, Hồ Thích (thời Thanh mạt)…, luôn dùng tài thơ văn của mình để phê bình gay gắt chính sự đương thời. Hoặc ít nhất, nếu không gay gắt thì cũng ôn hòa nhân ái như Phạm Trọng Yêm (989 - 1052) thời Bắc Tống, ở ngôi cao trên miếu đường luôn phải nghĩ đến dân, lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ, gọi là “tiên ưu hậu lạc” (nói trong bài “Nhạc Dương lâu ký”). Ở Việt Nam thời phong kiến, không thiếu những phần tử trí thức nhà nho trung thực như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp… Một số người thiếu bản lĩnh/ điều kiện đấu tranh chống lại nhà cầm quyền thối nát, đã từ chối không ra làm quan hoặc treo ấn từ quan khi tự cảm thấy mình trở nên vô dụng, bất lực trước thời cuộc.
     Còn trong thời cận hiện đại, theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, cả ở Trung Quốc và Việt Nam, do các điều kiện mới về lịch sử, chỉ từ đầu thế kỷ 20 mới có một bộ phận độc lập nhưng chưa thật mạnh của thành phần trí thức tách ra khỏi hệ thống cầm quyền, đó là một số nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nghị viên hội đồng các tỉnh thành, dân biểu quốc hội..., nhưng tình trạng nầy diễn ra trong giai đoạn ngắn ngủi, ở Trung Quốc chỉ đến năm 1949, còn ở Việt Nam thì có thể tính đến hai mốc lịch sử 1954 và 1975 tùy theo miền.
     Ở Nga, giới trí thức hình thành sớm hơn. Họ đã có một khoảng thời gian dài đến vài ba thế kỷ được hít thở không khí tự do và có được vai trò cùng tiếng nói ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nền văn hóa-khoa học của đất nước, nhưng sang đến thời kỳ chính quyền Xô-viết (1917) thì nền văn hóa Nga lại bắt đầu có những chuyển hướng phức tạp mà nét đặc trưng là sự thao túng của hình thái văn hóa-xã hội cực quyền cùng với bệnh giáo điều, kết quả là, theo sự ghi nhận của Từ điển bách khoa văn hóa học (Viện nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2002) thì “Trong suốt thời gian tồn tại của Liên bang Xô-viết, giới trí thức Nga luôn là đối tượng của các hình thức đàn áp liên tục thay đổi, nhưng tất cả đều nhằm một mục tiêu: hủy diệt tính độc lập tinh thần và bản chất riêng của giới trí thức Nga, biến họ thành kẻ phục vụ cho huyền thoại về hệ tư tưởng...”.
     Căn cứ trên kinh nghiệm thực tế chung của lịch sử các xã hội có hoàn cảnh tương tự, người ta thấy phần tử trí thức tùy theo trường hợp có khi đứng trong có khi đứng ngoài chính quyền, nhưng dù trong hay ngoài, nếu là người trí thức chân chính có lương tâm trong sáng thì họ vẫn luôn ráng giữ thái độ trung thực, độc lập hoặc tương đối độc lập về chính kiến đối với các nhà đương cuộc, để có thể mạnh dạn đặt vấn đề phê phán trước các hiện tình còn chưa tốt của xã hội mà họ đại biểu cho nhân dân có quyền đòi hỏi phải cải cách. Điều nầy có nghĩa họ sẽ có trách nhiệm chung về sự an nguy của dân chúng, và không vì sự thuận tiện của cuộc sống bản thân mà sẵn sàng phụ họa cho những điều sai trái đi ngược lại với quyền lợi của những người cùng khổ. Họ phải đấu tranh bằng cách nầy hay cách khác bất chấp cường quyền chống lại mọi hình thức ma mị độc tài nếu có, để bảo vệ dân chủ, duy trì các giá trị nhân văn, và trong khi làm như vậy, họ tâm niệm lợi ích của nhân dân là luật pháp tối thượng không một quyền lực hay siêu quyền lực nào có thể đứng trên được. Nếu vì lý do nào không thể thực hiện đúng hoài bão thì những người trí thức chân chính cũng không thể cam chịu ô danh trở thành đồng lõa tích cực cho những chính sách sai lầm nhờ hưởng được lợi lộc từ cơ chế hiện hành của xã hội. Do vậy, cho dù thật sự xứng đáng về tài năng học thuật, người trí thức chân chính sống trong các chế độ độc tài thối nát sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hứng thú khi được nhà cầm quyền gợi ý bảo họ viết đơn xin để nhận các loại danh hiệu, huân chương hay giải thưởng nầy khác…
     Bàn về mối quan hệ giữa trí thức với chính quyền, có quan niệm cho rằng  người trí thức phải đứng ngoài chính quyền mới giữ được thái độ độc lập. Điều nầy đúng nhưng phải còn tùy, và thường không sát với thực tế cuộc sống, như chúng ta có thể thấy qua một số dẫn chứng trên kia về các mô hình  tồn tại thông thường của phần tử trí thức trong xã hội xưa và nay với chính quyền ở các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau. Vấn đề chỉ phân biệt ở chỗ lương tâm và trách nhiệm của người trí thức chứ ít tùy thuộc vào chỗ họ có hưởng bổng lộc ít nhiều của nhà nước hay không, mặc dù chính sự tùy thuộc nầy thường phải trả giá rất đắt nếu không muốn bị rơi vào cái thế trên đe dưới búa, tiến thối lưỡng nan. Trên thực tế, chỉ một số rất ít người giữ được chỗ đứng tương đối độc lập, và trong điều kiện may mắn đặc biệt nầy họ mới có thể hưởng được cái quyền tự do nói lên một cách trung thực và thẳng thắn nguyện vọng chính đáng của đại đa số quần chúng, trong tinh thần chỉ vì quốc gia mà xây dựng chứ không một chút ý tưởng ganh ghét, đả kích hay căm thù cá nhân đối với bất kỳ người nào, cho dù đó có thể là một kẻ độc phu tham lam vô đạo.
     Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, người trí thức cũng dễ bị chán nản thất vọng trước tình trạng xã hội băng hoại thối nát khó cứu chữa mà tiếng nói phê bình của họ thường trở nên lạc lõng một cách vô vọng trong sự lơ là của các nhà chính trị cầm quyền ngoan cố. Trong trường hợp nầy, một số trí thức đành buông tay “quy ẩn” dưới hình thức im lặng, theo kiểu giữ gìn tiết tháo, ôm lấy cái tâm sự  của nhà nho xưa, “thế sự thăng trầm quân mạc vấn” (lời Cao Bá Quát: việc đời chìm nổi hỏi tới mà làm gì), hoặc “cùng tắc độc thiện kỳ thân” (lời trong Luận ngữ: lúc bế tắc thì chỉ lo trau giồi nhân cách làm trong sạch cho riêng mình). Một số khác biết rõ tình thế lực bất tòng tâm nhưng không đành im lặng trước những nỗi thống khổ, bức xúc hằng ngày trông thấy của đồng bào đồng loại, “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, nên họ vẫn tiếp tục thỉnh thoảng lên tiếng trên các phương tiện truyền thông đa dạng, nhưng không phải để can ngăn khuyên giải thuyết phục chính quyền nữa, mà chỉ để gieo mầm ý thức cho những người đồng thời, đặc biệt cho thế hệ trẻ, với hi vọng lời nói, ý kiến, tư tưởng mình gieo ra như những hạt phấn thông vàng bay đi muôn phương nhưng có thể đậu lại thành trái ngon quả đẹp hay không là “tùy lòng gió” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu trong Phấn thông vàng), trong quá trình thúc đẩy lượng biến thành chất, sẽ có lúc tích tụ thành sức mạnh, không hẳn cho ngay bây giờ mà còn cho mai sau các thế hệ con cháu.   

Cái tình cảnh lưỡng nan như vừa nêu trên của cả hai loại thái độ ứng xử, người đời thường gọi là thân phận của người trí thức, hạng “hủ nho lo việc đời”, ví như thân phận con tằm nhả tơ không dứt, trong bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn (813-858) thời Đường: “Xuân tàm đáo tử ti phương tận/ Lạp chúc thành hôi lệ thủy can” (Thác rồi tằm mới dứt tơ/ Tàn rồi ngọn nến mới khô lệ sầu).
                                                                                                                                1.2017
         
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 19-1-17
http://www.viet-studies.com/kinhte/TranVanChanh_TrachNhiemTriThuc.htm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

21/01/1793: Vua Louis XVI bị xử tử



Nguồn: King Louis XVI executedHistory.com
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1793, một ngày sau khi bị buộc tội cấu kết với ngoại bang và bị tuyên án tử hình bởi Quốc Ước (National Convention), Vua Louis XVI đã bị đưa lên máy chém ở Quảng trường Cách mạng tại Paris.
Louis XVI lên ngôi năm 1774. Ngay từ đầu, ông đã không phải người thích hợp để xử lý các vấn đề tài chính nghiêm trọng thừa hưởng từ ông nội của mình, vua Louis XV. Năm 1789, trong một nỗ lực cuối cùng để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính của đất nước, Louis triệu tập Hội nghị các Đẳng cấp (States-General) gồm đại diện của Đẳng cấp thứ nhất (tăng lữ), Đẳng cấp thứ hai (quý tộc), và Đẳng cấp thứ ba (gồm đại tư sản, tư sản công thương, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân nghèo).
Hội nghị các Đẳng cấp đã không được tổ chức từ năm 1614, và Đẳng cấp thứ ba đã nhân cơ hội này để tuyên bố lập nên Quốc Hội Lập hiến (National Assembly), khởi đầu cho Cách mạng Pháp. Ngày 14/07/1789, bạo lực nổ ra khi người dân Paris chiếm ngục Bastille, nơi mà họ tin rằng đang cất giữ đạn dược.
Dù nói rằng mình chấp nhận cách mạng, Louis XVI thực ra không chịu nghe theo lời khuyên cải tổ chế độ quân chủ từ phía Quốc Hội. Ông cũng đã mở đường cho âm mưu phản động của Marie Antoinette, vị hoàng hậu không được lòng dân. Tháng 10/1789, một đám đông biểu tình tại Versailles buộc nhà vua và hoàng hậu phải chạy trốn sang Tuileries. Tháng 06/1791, làn sóng chống đối hoàng gia càng trở nên mạnh mẽ, khiến Louis và Marie phải chạy tiếp sang Áo. Tuy nhiên, trên đường đi, cả hai đã bị bắt tại Varennes, Pháp, và bị đưa trở lại Paris. Tại đây, Louis XVI đã buộc phải chấp nhận Hiến pháp 1791, văn bản tước bỏ mọi quyền lực và biến ông thành một nhân vật hữu danh vô thực.
Tháng 8/1792, vợ chồng hoàng đế đã bị người của phe cộng hòa (sans-cullottes) bắt giữ và giam cầm. Tháng 9, chế độ quân chủ đã bị Quốc Ước, những người thay thế Quốc Hội, bãi bỏ. Tháng 11, bằng chứng về âm mưu phản cách mạng của Louis XVI, rằng ông cấu kết với Áo và các nước khác, đã bị phát hiện. Vậy là nhà vua bị Quốc Ước đưa ra xét xử về tội phản quốc.
Sau đó, vào tháng 1/1793, Louis XVI bị luận tội và kết án tử hình sau một cuộc bỏ phiếu với tỷ lệ chênh lệch không lớn. Ngày 21/01, ông bị đưa lên máy chém. Chín tháng sau đó, Marie Antoinette cũng bị kết tội phản quốc, và vào ngày 16/10, bà cũng bị xử chém như chồng mình.
Xem thêm:
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/01/21/vua-louis-xvi-bi-xu-tu/#sthash.jP6klyrO.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

Nhà Trắng tuyên bố rút khỏi TPP


TUẤN SƠN















TTO - Chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức, Nhà Trắng đã phát đi một thông cáo cho biết sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Thông cáo nói lý do của việc này là để bảo vệ công ăn việc làm cho người dân Mỹ - quan điểm nhất quán với lời hứa tranh cử của ông Trump.

Thông cáo trên cho biết Mỹ sẽ có động thái cứng rắn đối với “những quốc gia vi phạm các hiệp định thương mại (với Mỹ) và theo đó gây tổn hại đến người lao động Mỹ.”

Tuy vậy, Nhà Trắng cũng cho biết Tổng thống Donald Trump sẵn sàng tái đàm phán một hiệp định thương mại khác đó là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết năm 1994 giữa Mỹ, Canada và Mexico.

Trong quá trình tranh cử, ông Trump từng gọi NAFTA là “thỏa thuận thương mại tồi tệ nhất trong lịch sử” mà Mỹ từng ký kết.

“Đã từ quá lâu, người Mỹ đã bị buộc phải chấp nhận những hiệp định thương mại đặt lợi ích của những kẻ tay trong và giới thượng lưu Washington lên trên lợi ích của nhân dân lao động trên đất nước này”, Nhà Trắng tuyên bố.

“Kết quả là, các thị trấn và thành phố lao động đã phải chứng kiến cảnh nhà máy đóng cửa và những công việc lương cao bị chuyển ra nước ngoài, trong khi người dân Mỹ đối mặt với thâm hụt thương mại ngày càng tăng và những cơ sở sản xuất bị tàn phá.”

Thông cáo cũng cho rằng những hiệp định thương mại “cứng rắn và công bằng” có thể khôi phục kinh tế Mỹ và đem hàng triệu việc làm trở lại nước này.

“Chiến thuật này bắt đầu bằng việc rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và đảm bảo rằng những hiệp định thương mại mới trong tương lai sẽ vì lợi ích của người lao động Mỹ,” Nhà Trắng cho biết.

Mỹ đã ký kết TPP nhưng hiện hiệp định thương mại gồm 12 nước thành viên trải dọc vành đai Thái Bình Dương này vẫn chưa được Quốc hội nước này phê chuẩn. TPP được xem là trụ cột kinh tế trong chính sách xoay trục sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương của cựu Tổng thống Barack Obama nhằm tạo đối trọng với Trung Quốc.

Hiệp định đã vấp phải nhiều nghi ngại bên trong nước Mỹ từ những người cho rằng hiệp định tốn kém thời gian này chỉ củng cố thêm ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc trong khu vực mà thôi.

Ông Trump cũng đã nhiều lần chỉ trích các chính sách thương mại của Trung Quốc và đe dọa sẽ áp thuế trừng phạt lên các mặt hàng xuất khẩu của nước này sang Mỹ.

Phản ứng sau lễ nhậm chức của ông Trump, chính quyền Trung Quốc cho biết sẵn sàng cùng Mỹ giải quyết các mâu thuẫn về thương mại thông qua đàm phán. Một tờ báo Trung Quốc thì cảnh cáo rằng các doanh nghiệp Mỹ sẽ là mục tiêu trả đũa của nước này nếu như ông Trump “phát động” chiến tranh kinh tế.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dân “khiếp sợ” những người nói một đằng, làm một nẻo!



Bùi Hoàng Tám




(Dân trí) - Người dân không chỉ lo ngại đối với những cán bộ “nói dóc”, “chém gió” như lời của Chủ tịch Đồng Nai, ông Đinh Quốc Thái mà còn thật sự khiếp sợ đối với những cán bộ, công chức nói một đằng, làm một nẻo, phải không các bạn?

Câu thành ngữ “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” là để chỉ một loại người đáng chê trách trong xã hội, song thời nào cũng có. Khi “ăn”, họ tham lam như “rồng cuốn”, bất chấp mọi thứ trên đời, miễn là có thể cho vào mồm được. Tức là không chỉ “ăn không từ thứ gì” như lời của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan mà còn ăn lắm, ăn nhiều, ăn vô tội vạ.

Không chỉ giỏi ăn, họ còn giỏi khua môi, múa mép, ba hoa như rồng bay, phượng múa. Thế nhưng làm thì chao ôi, không khác gì… mèo buồn nôn. Tóm lại, đó là loại người nói không đi đôi với làm, nói thì hay nhưng làm thì dở.

Song tiếc thay hiện nay, nó lại xuất hiện ở không ít cán bộ, công chức.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2017, ông Đinh Quốc Thái, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai một mặt cho rằng công tác cải cách hành chính ở Đồng Nai tuy đã có nhiều chuyển biến, chỉ số cải cách thủ tục hành chính cấp tỉnh có tăng, nhưng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp vẫn chưa đạt yêu cầu.

Đặc biệt, vị Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai yêu cầu cán bộ, công chức không được “chém gió”, nói dóc mà hãy tập trung làm việc để phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp. Bởi thực chất của công tác cải cách hành chính là đội ngũ cán bộ, công chức phải tập trung thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc, tận tâm, có trách nhiệm.

Đây là một khuyến cáo chính xác, song tiếc rằng những điều này không phải chỉ có ở Đồng Nai mà xuất hiện mọi lúc, mọi nơi trong mọi thời điểm. Đặc biệt là trong các bản báo cáo hoặc bản tự kiểm điểm cá nhân cuối năm hay cuối mỗi nhiệm kỳ.

Bằng những hình ảnh đẹp như hội họa, ngôn ngữ mượt mà thi ca, giai điệu bổng trầm như âm nhạc, những bản báo cáo, tự kiểm điểm véo von “rực rỡ chiến công” với ít ỏi những thiếu sót, khuyết điểm được “ẩn mình” sau các “mỹ từ” như “tuy nhiên” hay “mặc dù”…

Trong khi thực tế khó có thể nói khác, bộ máy hành chính của ta hiện nay vừa cồng kềnh, vừa chồng chéo và trì trệ. Không phải không có lý khi dân gian đã “phong tặng” cho công tác này danh hiệu “hành là chính”.

Nói nhiều, làm ít, nói không làm, nói hay, làm dở của không ít cán bộ công chức trong bộ máy hành chính đã và đang là lực cản của sự phát triển. Muốn đất nước đi lên, không có cách nào khác là phải gạt bỏ đi những lực cản này để xây dựng một nền hành chính hành động, nói đi đôi với làm như lời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng phát biểu trong những ngày đầu nhậm chức.

Và hơn thế, người dân không chỉ lo ngại đối với những cán bộ “nói dóc”, “chém gió” như lời của Chủ tịch Đồng Nai, ông Đinh Quốc Thái mà còn thật sự "khiếp sợ" đối với những cán bộ, công chức nói một đằng, làm một nẻo, phải không các bạn?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Toàn văn bài phát biểu của tân tổng thống Donald Trump


Ông Donald Trump chính thức trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ hôm 20/1. Ảnh: Reuters.

Thưa Chánh án Roberts, Tổng thống Carter, Tổng thống Clinton, Tổng thống Bush, Tổng thống Obama, thưa đồng bào Mỹ, và mọi người trên thế giới. Xin cảm ơn.
Chúng ta, những công dân của Mỹ, giờ đây đã tham gia vào một nỗ lực chung vĩ đại nhằm tái thiết đất nước, khôi phục những cam kết dành cho mọi người dân. Chúng ta sẽ cùng nhau quyết định số phận của nước Mỹ và thế giới trong rất nhiều năm về sau.

Chúng ta sẽ đối mặt với thách thức. Chúng ta sẽ đương đầu với khó khăn. Nhưng chúng ta sẽ vượt qua tất cả. Mỗi 4 năm, chúng ta lại tụ tập tại những bậc thềm này để tiến hành quá trình chuyển giao quyền lực hòa bình và trật tự.
Và chúng ta biết ơn Tổng thống Obama, đệ nhất phu nhân Michelle Obama vì sự trợ giúp tử tế của họ trong suốt quá trình chuyển giao. Họ là những người tuyệt vời. Xin cảm ơn!
Tuy nhiên buổi lễ hôm nay có ý nghĩa rất đặc biệt. Bởi vì hôm nay chúng ta không chỉ chuyển giao quyền lực từ chính quyền này sang chính quyền kia, từ đảng này sang đảng kia. Chúng ta chuyển giao quyền lực từ thủ đô Washington D.C. sang cho các bạn, những người dân Mỹ.
Đã từ rất lâu rồi một nhóm nhỏ ở thủ đô nước ta đã giành lấy hoa thơm trái ngọt trong khi người dân phải trả giá. Washington, D.C. hưng thịnh nhưng người dân không được hưởng lợi từ đó. Các chính trị gia thành công nhưng việc làm rời bỏ chúng ta. Và các nhà máy đóng cửa.
Giới quyền thế bảo vệ chính họ chứ không phải bảo vệ công dân của đất nước chúng ta. Thắng lợi của những người lập ra điều đó này chưa từng là thắng lợi của các bạn. Vinh quang của họ chưa từng là vinh quang của các bạn.
Trong khi họ ăn mừng ở thủ đô này thì những gia đình đang phải vật lộn kiếm sống trên khắp cả nước lại chẳng có gì để chúc tụng. Tất cả sẽ bắt đầu thay đổi ngay tại đây, ngay từ giờ phút này. Bởi vì khoảnh khắc này là của các bạn. Nó thuộc về các bạn.
Nó thuộc về những người có mặt tại đây ngày hôm nay và những người đang theo dõi buổi lễ trên toàn nước Mỹ. Đây là ngày của các bạn, là bữa tiệc của các bạn. Và đất nước này, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thuộc về các bạn.
Điều có ý nghĩa không phải là đảng phái nào lãnh đạo mà là chính phủ có được được lãnh đạo bởi nhân dân hay không. Ngày 20/1/2017 sẽ được ghi nhớ là ngày người dân Mỹ trở thành những người cai trị đất nước này.
Những người đàn ông và phụ nữ bị lãng quên sẽ không trải qua điều đó nữa.
Mọi người đều đang lắng nghe các bạn. Các bạn nằm trong số hàng chục triệu người đang cùng nhau trở thành một phần của bước đi mang tính lịch sử này, điều mà thế giới chưa từng chứng kiến.
Nằm ở trung tâm của sự thay đổi này là lòng tin chắc chắn rằng một quốc gia tồn tại để phục vụ những công dân của mình. Người Mỹ muốn trường học tuyệt vời cho trẻ em, khu dân cư an toàn cho những gia đình và công việc tốt cho mọi người.
Đây là lẽ phải và là nhu cầu chính đáng của những con người ngay thẳng và một xã hội chính trực. Nhưng đối với nhiều công dân, một thực tế khác đang tồn tại.
Những người mẹ và trẻ em mắc kẹt trong nghèo đói ở nhiều thành phố, những nhà máy cũ kỹ nằm rải rác như những nấm mồ trên khắp đất nước, hệ thống giáo dục đắt đỏ mà chẳng đem lại nhiều kiến thức cho các sinh viên trẻ trung và giàu triển vọng.
Tội phạm, những băng đảng, ma túy đã cướp đi nhiều mạng sống và tước đoạt nhiều tiềm năng chưa được khai phá của đất nước này. Thảm trạng này của nước Mỹ dừng lại tại đây, ngay lúc này.
Chúng ta là một quốc gia và nỗi đau của họ cũng là nỗi đau của chúng ta. Giấc mơ của họ là giấc mơ của chúng ta, thành công của họ cũng sẽ là của chúng ta. Chúng ta cùng chia sẻ một trái tim, một quê hương và một vận mệnh huy hoàng.
Lời tuyên thệ nhậm chức của tôi hôm nay là lời tuyên thệ về lòng trung thành đối với mọi người dân Mỹ. Nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã làm giàu cho nền công nghiệp của những quốc gia khác bằng chính nền công nghiệp Mỹ, trợ cấp cho quân đội của họ trong khi quân đội của ta trải qua sự suy yếu đáng buồn.
Chúng ta bảo vệ đường biên giới của những quốc gia khác mà từ chối bảo vệ chính mình. Và chúng ta dành hàng nghìn tỷ USD ở nước ngoài trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng ở Mỹ mục rữa và thối nát.
Chúng ta làm giàu cho những nước khác trong khi sự giàu có, sức mạnh và lòng tự tin của nước Mỹ đang tiêu tan. Lần lượt từng nhà máy đóng cửa mà chẳng đoái hoài tới hàng triệu công nhân Mỹ thất nghiệp. Sự giàu có của tầng lớp trung lưu bị tước đoạt và đem đi phân phát trên khắp thế giới.
Tuy nhiên đó là quá khứ và chúng ta chỉ nhìn về tương lai.
Chúng ta có mặt ở đây ngày hôm nay để đề ra một tôn chỉ mới sẽ  hiện diện ở mọi thành phố, mọi thủ đô trên thế giới và trong mọi không gian quyền lực. Từ hôm nay trở đi, một tầm nhìn mới sẽ chi phối đất nước chúng ta. Từ hôm nay trở đi, tầm nhìn đó sẽ chỉ duy nhất là "Người Mỹ trên hết - Người Mỹ trước hết".
Mọi quyết định về giao thương, thuế, nhập cư, chính sách đối ngoại sẽ được đưa ra dựa trên lợi ích của tầng lớp lao động và các gia đình Mỹ. Chúng ta phải bảo vệ biên giới khỏi sự cướp bóc của những nước khác giành sản xuất hàng hóa của chúng ta, lấy đi các công ty của chúng ta và phá hủy công ăn việc làm của chúng ta.
Chủ nghĩa bảo hộ sẽ đưa đến thịnh vượng và sức mạnh. Tôi sẽ chiến đấu vì các bạn với tất cả sức lực của mình. Và tôi sẽ không bao giờ khiến các bạn thất vọng.
Nước Mỹ sẽ bắt đầu giành lại vinh quang, vinh quang như chưa bao giờ vinh quang.
Chúng ta sẽ mang việc làm trở lại. Chúng ta sẽ giành lại biên giới. Chúng ta sẽ khôi phục sự giàu có và chúng ta sẽ hồi sinh những giấc mơ. Chúng ta sẽ xây dựng những con đường, những tuyến cao tốc, những cây cầu, những sân bay, những đường hầm, những đường ray mới trên khắp đất nước đẹp tươi của chúng ta.
Chúng ta sẽ giúp mọi người thoát khỏi cảnh nhận trợ cấp xã hội, giúp họ trở lại làm việc, tái xây dựng đất nước bằng chính bàn tay và sức lao động của người Mỹ. Chúng ta sẽ tuân theo những quy tắc đơn giản: mua hàng hóa Mỹ và thuê lao động Mỹ.
Chúng ta sẽ xây dựng quan hệ hữu nghị và thiện chí với các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên chúng ta làm như vậy với nhận thức rằng mọi quốc gia đều có quyền đặt lợi ích của họ lên hàng đầu. Chúng ta sẽ không áp đặt lối sống của chúng ta lên bất cứ ai mà chỉ để điều đó tỏa sáng như một tấm gương. Chúng ta sẽ soi sáng để mọi người đi theo.
Chúng ta sẽ củng cố quan hệ với các đồng minh lâu năm và xây dựng những liên minh mới. Và chúng ta sẽ liên kết thế giới văn minh chống lại chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, thứ mà chúng ta sẽ xóa bỏ hoàn toàn khỏi mặt đất.
Nền tảng cho thể chế chính trị của chúng ta sẽ là lòng trung thành tuyệt đối dành cho nước Mỹ và với lòng trung thành, chúng ta sẽ một lần nữa nhận ra tình nghĩa giữa con người với nhau. Khi bạn mở rộng trái tim yêu nước, sẽ không còn chỗ cho định kiến.
Kinh Thánh dạy chúng ta khi mọi con dân của Chúa sống hòa thuận cùng nhau thì sẽ tốt đẹp và vui vẻ dường nào. Chúng ta phải thể hiện chính kiến của mình một cách thẳng thắn, tranh luận về những bất đồng một cách chính trực nhưng đồng thời luôn theo đuổi sự đoàn kết. Khi nước Mỹ đoàn kết, chắc chắn không điều gì có thể ngăn cản nước Mỹ.
Chúng ta không được sợ hãi. Chúng ta được bảo vệ, và chúng ta sẽ luôn luôn được bảo vệ. Chúng ta sẽ được bảo vệ bởi những người đàn ông và phụ nữ vĩ đại của lực lượng quân đội và thực thi pháp luật. Và quan trọng nhất, chúng ta sẽ được Chúa bảo vệ.
Cuối cùng, chúng ta phải nghĩ lớn và ước mơ thậm chí phải lớn hơn. Ở Mỹ chúng ta hiểu rằng một đất nước chỉ sống khi vẫn còn đấu tranh. Chúng ta sẽ không tiếp tục chấp nhận những chính trị gia chỉ nói mà không làm, luôn luôn than phiền nhưng chẳng bao giờ động tay chân giải quyết vấn đề.
Thời gian cho những cuộc trò chuyện rỗng tuếch đã hết. Giờ là lúc phải hành động.
Đừng để bất cứ ai nói với bạn rằng điều này không thể thực hiện. Chẳng có thách thức nào có thể khuất phục trái tim Mỹ, tinh thần Mỹ và cuộc đấu tranh của người Mỹ. Chúng ta sẽ không thất bại. Đất nước của chúng ta sẽ phát triển và hùng mạnh trở lại.
Chúng ta đang đứng trước sự ra đời của một thiên niên kỷ mới, sẵn sàng mở ra những bí ẩn của vũ trụ, giải thoát Trái đất này khỏi đau khổ, bệnh tật, tận dụng những nguồn năng lượng, công nghiệp và công nghệ của tương lai. 
Niềm tự hào dân tộc sẽ khuấy động tất cả chúng ta, nâng cao tầm nhìn và hàn gắn những chia rẽ. Đây là lúc để ghi nhớ rằng nỗ lực của những binh sĩ sẽ không bao giờ bị lãng quên, dù chúng ta là người da màu, da nâu hay da trắng, dòng máu đỏ tươi của tình yêu nước luôn cuộn trào trong mỗi chúng ta.
Chúng ta cùng tận hưởng sự tự do đầy vinh quang và cùng cúi chào trước quốc kỳ Mỹ.
Dù một đứa trẻ được sinh ra tại vùng đô thị hiện đại ở Detroit hay vùng đồng bằng lộng gió ở Nebraska, chúng đều nhìn lên cùng một bầu trời đêm, lấp đầy trái tim mình với cùng một giấc mơ, và cùng được truyền hơi thở từ đấng tạo hóa toàn năng.
Vì vậy, gửi tới tất cả công dân Mỹ ở những thành phố gần và xa, nhỏ và lớn, từ ngọn núi này tới ngọn núi khác, từ đại dương này tới đại dương khác, hãy lắng nghe những lời này, bạn sẽ không bị chối bỏ thêm lần nữa.
Tiếng nói của bạn, hy vọng của bạn và giấc mơ của bạn sẽ định nghĩa số phận của nước Mỹ. Lòng quả cảm, sự tốt bụng và tình yêu của bạn sẽ dẫn lối chúng ta.
Cùng nhau, chúng ta sẽ khiến nước Mỹ hùng mạnh trở lại.
Chúng ta sẽ khiến nước Mỹ giàu có trở lại.
Chúng ta sẽ khiến nước Mỹ tự hào trở lại.
Chúng ta sẽ khiến nước Mỹ an toàn trở lại.
Và đúng vậy, cùng nhau, chúng ta sẽ khiến nước Mỹ vĩ đại trở lại. 
Xim cảm ơn, Chúa phù hộ các bạn, và Chúa phù hộ nước Mỹ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang