Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Có thể cứu vãn chủ nghĩa tư bản toàn cầu hay không?

Nguồn: Alexander Friedman, “Can global capitalism be saved?”, Project Syndicate, 11/11/2016.
Biên dịch: Lâm Minh Đạt | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Lo lắng về các vấn đề kinh tế trong tình hình chính trị hiện nay đã khiến cho các cử tri của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ rơi vào tay của những người theo chủ nghĩa dân tuý. Phải chi, như người ta vẫn thường nói, nền kinh tế có thể trở lại với một tốc độ tăng trưởng GDP và năng suất “bình thường”, cuộc sống sẽ cải thiện cho nhiều người hơn, sự chống đối chính phủ sẽ suy yếu dần, và chính trị cũng sẽ trở lại “bình thường”. Lúc đó, chủ nghĩa tư bản, toàn cầu hóa, và dân chủ có thể tiếp tục tiến về phía trước.
Nhưng những suy nghĩ như vậy được ngoại suy từ một khoảng thời gian nhìn chung khác thường trong lịch sử. Quãng thời gian đó đã qua, và các thế lực duy trì thời kỳ đó khó có thể tập hợp lại được trong tương lai gần. Sự đổi mới công nghệ và nhân khẩu học là một cơn gió ngược, không phải là cơn gió xuôi giúp  thúc đẩy tăng trưởng, và những thủ thuật tài chính vẫn không thể cứu được tình trạng này.
Giai đoạn khác thường trong lịch sử là quãng thời gian khoảng hơn trăm năm từ sau cuộc Nội chiến Mỹ, khi mà những đột phá trong năng lượng, điện khí hoá, viễn thông và giao thông vận tải về cơ bản đã tái định hình xã hội. Cuộc sống con người trở nên hiệu quả hơn, và tuổi thọ trung bình đã tăng lên đáng kể. Dân số thế giới đã tăng hơn 50% trong giai đoạn 1800 – 1900, và sau đó tăng hơn gấp đôi trong vòng 50 năm tiếp theo, cùng với các nền kinh tế phát triển nhanh hơn rất nhiều so với những thế kỷ trước.
Đến cuối những năm 1970, tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển ở phương Tây bắt đầu chậm lại, và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan đã mở ra một chu kỳ nợ làm tăng mạnh hoạt động kinh tế. Mỹ, cho tới khi đó vẫn là chủ nợ của thế giới, đã trở thành con nợ, trong khi Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác hưởng lợi từ sự gia tăng thâm hụt thương mại của nước Mĩ. Đòn bẩy tài chính đã thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu thêm gần 30 năm nữa.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 mang lại một kết thúc đột ngột đối với thời đại của những thủ thuật tài chính. Nhưng các nhà hoạch định chính sách không thích tăng trưởng chậm lại, và các ngân hàng trung ương đã trưng dụng cạn kiệt các công cụ của họ trong một nỗ lực để kích thích hoạt động kinh tế mặc dù nhu cầu không cao. Với việc lợi tức của các tài sản thu nhập cố định truyền thống ngày càng thấp, các nhà đầu tư đã đâm đầu vào các tài sản rủi ro dưới nhiều hình thức khác nhau làm đẩy giá lên; những người giàu trở nên giàu hơn và tầng lớp trung lưu đã bị bỏ lại phía sau. Sự trì trệ của tăng trưởng kinh tế đã làm bùng phát sự giận dữ và chủ nghĩa dân túy dẫn đến hậu quả là Brexit và Trump đắc cử tổng thống.
Bất chấp tất cả những gì mà các ngân hàng trung ương đã thực hiện để vực dậy tăng trưởng kinh tế, yếu tố nhân khẩu học và các cải tiến công nghệ đã chống lại chính họ. Vấn đề dân số lão hóa ở các nền kinh tế tiên tiến đang gây nên gánh nặng ngày càng lớn đối với mạng lưới an sinh xã hội. Và Trung Quốc cũng đang già đi. Sự gia tăng dân số mạnh nhất hiện nay (và trong tương lai) là ở châu Phi, nơi mà tăng dân số không thúc đẩy năng suất toàn cầu như các nơi khác.
Hơn nữa, làn sóng đổi mới công nghệ hiện nay không phải là cứu cánh cho tất cả mọi người. Ngay cả những thứ như Uber và Amazon, hay cơ bản hơn như người máy, giúp mọi thứ trở nên tiện lợi hơn nhưng chúng lại loại bỏ các công việc lao động chân tay và/hoặc làm giảm tiền lương.
Đây là điển hình của quá trình “phá hủy sáng tạo” mà Joseph Schumpeter đã mô tả như là “nàng hầu” của tăng trưởng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Làn sóng đầu tiên của sáng tạo đột phá chủ yếu mang lại lợi ích cho một số ít các doanh nhân. Rồi đến một làn sóng gây biến động việc làm, khi công nghệ được điều chỉnh để phù hợp với các ngành công nghiệp hiện hữu. Ba thập niên trước, chính Wal-Mart đã sử dụng hệ thống máy tính và dịch vụ hậu cần để càn quét các cửa hàng nhỏ; nhưng ngày hôm nay, họ đang phải gồng mình chống lại Amazon.
Làn sóng thứ ba là sự phổ biến rộng rãi của đổi mới theo những cách làm tăng năng suất nói chung và mức sống. Điều này tốn thời gian hơn nhiều. Hoặc, như Robert Solow, người đã đoạt giải Nobel kinh tế học, nhận xét vào năm 1987, “Bạn có thể nhìn thấy thời đại máy tính ở khắp mọi nơi trừ trong các thống kê về năng suất.”
Robert Gordon từ Đại học Northwestern đã lập luận rằng các tác động kinh tế lên các cải tiến công nghệ hiện nay không có tác động tốt bằng những cải tiến về ống nước hoặc điện trước đây. Có lẽ chúng ta đang ở giai đoạn đầu của chu kỳ kiểu Schumpeter về cải tiến (làm giàu cho một số ít) và hủy diệt (tạo ra sự lo lắng trong các lĩnh vực đang bị đe doạ). Rốt cuộc, năng suất trung bình và thu nhập thực tế có thể sẽ được hưởng lợi khi các đột phá về công nghệ tạo nên những dạng tăng trưởng kinh tế mới.
Vấn đề ở đây là có thể mất một thập niên hoặc lâu hơn trước khi công nghệ robot và những thứ tương tự có thể giúp tăng năng suất nói chung. Và dù Schumpeter hay Gordon đúng thì cũng không liên quan đến việc các chính trị gia phải đối mặt với sự giận dữ từ các cử tri do các tiêu chuẩn sống đã đi xuống. Hôm nay, những cử tri chán ngấy đang chống đối toàn cầu hóa; ngày mai, họ có thể trở thành những người chống đối việc tự động hoá, thay thế nhân công bằng máy móc.
Câu hỏi được đặt ra là liệu sự thay đổi trọng tâm từ chính sách tiền tệ phi chính thống sang quản lý cầu theo lí thuyết của Keynes có thể cứu được tình hình hiện nay hay không. Nhìn chung người ta nhìn nhận rằng các chính sách tiền tệ đã hết tác dụng ở Mỹ và Châu Âu, và kích thích và mở rộng tài khóa – ví dụ như thông qua cắt giảm thuế và đầu tư cơ sở hạ tầng – phải được sử dụng để thay thế. Nhưng việc này đòi hỏi các hệ thống chính trị ổn định để có thể duy trì một chiến lược tài khóa dài hạn. Những diễn biến gần đây, đặc biệt là ở châu Âu, chỉ ra rằng những chiến lược này sẽ rất khó thực hiện.
Tại Mỹ, chiến thắng của Trump, cùng với Đảng Cộng hòa chiếm đa số ghế tại lưỡng viện Quốc hội, đã mở đường cho việc cắt giảm thuế và gia tăng chi tiêu quốc phòng. Các máy bơm tiền có vẻ như đã sẵn sàng. Nhưng việc mở rộng tài khóa sẽ nhiều khả năng gặp phải kháng lực từ chính sách tiền tệ, với việc Fed sẽ “bình thường hóa” (tức tăng) lại lãi suất.
Tuy nhiên, người ta vẫn hy vọng là tăng trưởng nhanh hơn và tiền lương cao hơn tại Mỹ sẽ chế ngự sự nổi loạn của các cử tri dân túy. Trớ trêu thay, nhiệm vụ này sẽ phụ thuộc vào việc Fed có “làm điều tốt” hay không – cụ thể là có bình thường hóa lãi suất một cách hết sức thận trọng hay không, cùng lúc cho phép thu nhập lao động trong cơ cấu GDP tăng lên, cho dù điều đó có đồng nghĩa với sự tăng vọt của lạm phát.
Nói theo cách nói của Dylan Thomas, những người tin tưởng vào thị trường (tự do) không nên âm thầm bước trong đêm tối của chủ nghĩa dân túy. Chúng ta nên chiến đấu chống lại sự lụi tàn ánh sáng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu với mọi công cụ chúng ta có thể có. Tăng trưởng chậm lại và phản ứng chính trị dữ dội của ngày hôm nay không phải là “tình trạng bình thường mới”. Thay vào đó, nó gợi nhó đến “tình trạng bình thường cũ” mà chúng ta từng trải qua trong những năm 1930. Cho dù con đường đúng đắn hướng về phía trước của nền kinh tế toàn cầu là gì thì chúng ta đều biết rằng đó không thể là con đường quay trở lại chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa bảo hộ của thời kỳ đó.
Alexander Friedman Là Giám đốc Điều hành (CEO) của GAM. Ngoài ra, ông còn giữ chức vụ Giám đốc Đầu tư Toàn cầu của UBS, Giám đốc Tài chính của Quỹ Bill & Melinda Gates, và nghiên cứu viên tại Nhà Trắng dưới thời tổng thống Clinton.
Copyright: Project Syndicate 2016 – Can global capitalism be saved?
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/01/18/cuu-van-chu-nghia-tu-ban-toan-cau/#sthash.FT4fQIog.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiếp theo và hết TC "Gió bay lên trời ":


53.
Chàng Thạch Sanh lại trở về gốc đa ngày cũ
khi người ta đón công chúa đi rồi
người đã quên những hang sâu quá khứ
họ đang say với những đền đài..
Thế giới lắm trằn tinh, thú dữ..
nhiều mưu gian,chước quỷ hại người
chỉ còn những gốc đa đi vào lịch sử
liệu có ích gì chia sẻ đắng cay ?
Lịch sử của thường dân áo vải
có biến thì lo
khi hưởng chẳng chia phần!
Xương trắng bao đời chất cao như núi
hoá ra công ích mấy người?
Tôi cùng em đi ngược về quá vãng,
buồn biết bao nhiêu
lần những trang đời..
Thôi em ạ ta đừng oán trách,
chuyện ngàn năm, ngàn năm nào cũng vậy cả thôi!
Ta hãy tìm những chứng minh lịch sử
một thủa xa xưa rất đỗi huy hoàng
tổ tiên ta không tìm ra thuốc nổ
nhưng Ngũ hành, âm dương, Kinh dịch của ai?
Rồi sẽ có ngày nhân loại nhìn Bách Việt đầy kính trọng!
Khi thế giới đảo điên,
thuyết luận loạn lên rồi.
Thế giới cần có trong tay “Câu chuyện”.
Như đời cần anh minh, cây cần ánh mặt trời!
Ta hãy sống như chàng Thạch Sanh bền bỉ.
Chẳng cần ganh đua,
không thở ngắn than dài.
Đời còn mập mờ trắng đen, sáng tối,
vẫn cần đôi vai chàng
và cây búa trong tay!
54.
Ta lại chào một năm nữa nữa rồi đây!
Ai bảo xuân sang?
Mai vàng, đào đỏ?
Đỏ màu cờ,
đỏ màu nước lũ
đỏ mùa bão dông..
Những mùa xuân vui sướng đến quặn lòng.
Biết đón xuân nay thế nào em nhỉ ?
Những bạn bè xưa,
những người chung ý nghĩ,
bây giờ ai đứng trông nhau ?
Ta từng đi qua bom đạn đói nghèo.
Đi qua cả bao điều không tiện nói
Mà trăng vào thu vẫn sáng trong vời vợi
Gió lên trời
Gió vẫn hát tình yêu
Bài vĩnh hằng :
Non Nước Việt bền lâu!
Ta nghĩ ngợi để cho ta lòng tỏ,
không phải nghi ngờ hay làm rối cho nhau,
mặc ngày trôi
mong ước
cạn bên cầu !
55.
Rồi nắng sẽ lên,
ngày buồn chưa quên,
nhưng mùa lại mùa sáng trời hy vọng.
Tin ở nhân dân
đãã từng sinh ra Phù Đổng,
từng có Trần Bình Trọng,
Nguyễn Trãi mài gươm,
trên lưng ngựa làm thơ,
Hưng Đạo Vương,
Nguyễn Huệ giữ cơ đồ..
Đất nước ấy,
nhân dân ấy,
không bao giờ nghiêng ngả!
Cho dù bão táp mưa xa
bình tĩnh,
tự tin,
ta giữ nước non nhà..
Gió cứ lên trời,
xôn xao gió thổi..
Ngày bình yên trên đất quê mình
dù qua nhiều giặc dã, điêu linh..
Không hẳn đất nước “Hình tia chớp”,
ta gọi đất quê ta:
Dáng chim hoà bình
dáng Tiên Rồng
Khao khát gọi trời xanh !
DHG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời bao cấp : Hà Nội 1965

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc : Những hậu duệ Thiên An Môn trên mạng


Thắp nến tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn tại Hồng Kông
Le Courrier International tuần này trích dịch bài viết trên trang Duanchuanmei (Đoan Truyện Môi) mang tựa đề « Những hậu duệ của Thiên An Môn ». Bài báo nhận định, trong khi ông Tập Cận Bình siết chặt gọng kềm tại Trung Quốc, những hạt giống nổi loạn lại xuất hiện nhiều thêm. Đã hình thành một lực lượng chính trị mới gồm các cựu sinh viên những trường đại học tên tuổi, đại diện cho giai cấp trung lưu đấu tranh chống bất công xã hội, trong đó thế hệ Thiên An Môn đóng vai trò cố vấn.
Đây là trang mạng thông tin độc lập do một số công dân Hoa lục từng sống ở ngoại quốc lâu năm thành lập vào tháng 8/2015 tại Hồng Kông nhằm tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của Bắc Kinh. Mạng chú trọng đến các bài điều tra và tư liệu. Tác giả bài viết là Lôi Cường (Wu Qiang), tiến sĩ khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về các phong trào xã hội tại trường đại học Duisburg-Essen, Đức.
Bài báo nhận định, trong khi ông Tập Cận Bình siết chặt gọng kềm tại Trung Quốc, những hạt giống nổi loạn lại xuất hiện nhiều thêm. Sự kiện Lôi Dương (Lei Yang), một thanh niên tốt nghiệp một trường đại học lớn « tự chết » ở đồn công an, đã gây phẫn nộ trên mạng xã hội. Cũng giống như phong trào Thiên An Môn năm 1989, các sinh viên đã tổ chức phản kháng, nhưng lần này chỉ trên internet.
Từ một vụ « tự chết » trong đồn công an…
Vụ Lôi Dương có thể tóm tắt như sau : 21 giờ tối 07/05/2016, chàng thanh niên 29 tuổi ra khỏi nhà để chuẩn bị ra sân bay đón người thân. Theo chính quyền, 15 phút sau anh bị năm công an bắt giữ khi ra khỏi một cơ sở mát-xa, đưa lên xe về đồn, và lúc gần 23 giờ anh tử vong vì « lên cơn đau tim ». Đến một giờ sáng, công an gọi điện thoại báo cho gia đình. Bạn bè anh phẫn nộ đòi điều tra, vì người được cho là nhân viên mát-xa không mô tả đúng về Lôi Dương. Kết quả giám định tử thi được trao cho gia đình chứ không thông báo cho báo chí.
Đến ngày 23/12/2016, tức một hôm trước lễ Giáng sinh, tòa án quận Phong Đài (Fengtai), Bắc Kinh quyết định không khởi tố năm công an liên can đến cái chết của Lôi Dương. Thông báo này đã gây ra một trận bão phản kháng trong các cựu sinh viên trường đại học Nhân Dân Trung Quốc (còn gọi là Renda), nơi người thanh niên xấu số từng theo học. Lá thư ngỏ gởi đến cơ quan tư pháp đã thu thập được 1.600 chữ ký chỉ trong ba ngày. Trên 800 cựu sinh viên đại học Thanh Hoa (Qinghua) ở Bắc Kinh cũng ký kiến nghị, kéo theo nhiều trường đại học khác. Một phong trào phản kháng chưa từng thấy.
Những người tốt nghiệp đại học chiếm phần lớn giai cấp trung lưu mới nổi tại Trung Quốc. Trường đại học là đòn bẩy để thăng tiến trên thang bậc xã hội, và các trường đại học tên tuổi nhất thủ đô lại càng có giá, vì thường là sau khi ra trường sẽ được các cơ quan nhà nước hay các công ty lớn tiếp nhận.
Các trường Bắc Đại (Beida), Thanh Hoa hay Nhân Dân được coi là các cỗ máy tái lập mối liên hệ giữa giới tinh hoa và bộ máy chính trị. Riêng trường đại học Nhân Dân có lịch sử đặc biệt : thành lập vào thập niên 50 theo mô hình xô-viết, với đường lối giáo dục do đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Diên An thời đó quyết định, Nhân Dân được coi như một trường đảng thứ hai để đào tạo cán bộ, do chú trọng đến ý thức hệ và kinh tế kế hoạch hóa.
Ngày nay, khi cơ cấu của các phe phái chính trị truyền thống hay các nhóm lợi ích bị yếu đi do Tập Cận Bình tập trung quyền lực trong tay, các cử nhân ngoan ngoãn này bỗng tỉnh thức nhân một sự kiện đặc biệt. Họ cũng đánh thức cả cộng đồng – cựu sinh viên cùng trường đại học, thành viên cùng giai cấp xã hội, hay cùng chia sẻ một thang bậc giá trị - hình thành một lực lượng chính trị mới.
Thế hệ Thiên An Môn 1989, những người trẻ khát khao dân chủ.
Thế hệ Thiên An Môn đóng vai trò nòng cốt 
Những cựu sinh viên Nhân Dân lên tiếng phản đối đầu tiên là những người hành nghề tự do, vốn dễ bị ảnh hưởng bởi những cú sốc giữa đời thực và chính trị. Hầu hết tốt nghiệp khoa văn chương và khoa học xã hội, rất đoàn kết với nhau từ sau chủ trương mở cửa. Họ đóng vai trò đầu tàu trong việc phản kháng những bất công xã hội, đấu tranh cho các vấn đề chính trị cơ bản như nhân quyền và Nhà nước pháp quyền.
Kể từ thập niên 90, mặc cho xu hướng phi chính trị hóa sau vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989, giới trí thức đã làm khơi dậy một xã hội dân sự. Họ lập ra các tổ chức phi chính phủ, lao vào các hoạt động như vụ Tôn Chí Cương (Sun Zhigang) năm 2003 (một cử nhân ở Quảng Đông bị công an bắt vì không có giấy chứng nhận tạm trú, bị đánh đập và tử vong). Các nhà tranh đấu, trí thức, thành viên tổ chức phi chính phủ, bảo vệ nhân quyền, truyền thông độc lập thường bị chính quyền trấn áp.
Qua vụ Lôi Dương, các cựu sinh viên trường đại học Nhân Dân đã thành công trong việc liên kết với các luật sư nhân quyền còn sót lại sau đợt bắt bớ gần đây. Các mạng xã hội đã giúp kết nối nhiều khóa sinh viên trước và sau 1989, nhờ đó phong trào có được tư vấn từ thế hệ Thiên An Môn, mang tầm vóc khác hẳn với các phong trào trước đó với khả năng huy động quy mô, bền bỉ và mang đậm tính chính trị hơn.
Thư ngỏ của các sinh viên tốt nghiệp niên khóa 1988 nhấn mạnh, cái chết của Lôi Dương không phải là một tai nạn, mà là bi kịch của chế độ, « một hành động độc ác ngẫu nhiên nhắm vào một người bình thường, vào giai cấp trung lưu thành thị ». Lá thư tố cáo việc tập trung quyền lực vào công an, xóa mờ tính « nhân dân » của chính quyền. Thế nên không có gì là ngạc nhiên khi thư ngỏ được lan truyền rộng rãi trong dân chúng và ngay từ đầu, vụ Lôi Dương đã bị các cấp cao nhất coi là một vụ chính trị theo kiểu « cách mạng màu ». Sau đó, một lá thư ngỏ mới do các khóa 1977 và 1978 cùng ký tên lại phá vỡ sự im lặng, các cựu sinh viên gây ngạc nhiên vì dám ký tên thật trên mạng.
Các cựu sinh viên đòi công lý cho Lôi Dương
Cựu sinh viên : Đại diện cho giai cấp trung lưu mới tại Trung Quốc
Các khóa sinh viên thập niên 80 là lực lượng chủ lực. Họ cố gắng tìm ra sự thật và công lý, theo con đường của Nhà nước pháp quyền. Từ sáu tháng qua, phong trào ngày càng có tổ chức và lớn mạnh dần. Lời kêu gọi quyên góp được đưa ra, và ngay trong ngày đầu tiên đã nhận được 430.000 nhân dân tệ (gần 60.000 euro). Trên 1.400 cựu sinh viên đóng góp được 1,3 triệu nhân dân tệ (138.000 euro) giúp cho gia đình nạn nhân.
Qua mạng WeChat, các cựu sinh viên cũng tập hợp lại nhân dịp giỗ 49 ngày và 100 ngày của Lôi Dương. Nhiều bài viết, bài thơ, bản nhạc, lời bình được đăng lên các mạng xã hội của cựu học sinh. Họ đến dự đám giỗ theo từng khóa, chia thành những nhóm làm những công việc khác nhau.
Khi đòi hỏi công lý cho Lôi Dương, những cựu sinh viên đã thành công trong việc bày tỏ những quan ngại chung của giai cấp trung lưu. Kết quả bước đầu : Tập Cận Bình nhìn nhận cần phải đối xử đúng mức đối với lớp người thu nhập trung bình, và xem xét lại các quy định về hành vi của công an. Giai cấp trung lưu mới nổi nay đã góp mặt trên sân khấu chính trị Trung Quốc thông qua các phong trào xã hội – lần đầu tiên kể từ vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989 !
Đáng buồn là gia đinh nạn nhân sau đó từ chối kháng án, do đã nhận được số tiền bồi thường kỷ lục từ Nhà nước, tương đương 5,7 triệu euro, theo Minh Báo. Tuy phong trào bất ngờ bị chựng lại, nhưng tiến sĩ Lôi Cường cho rằng từ nay mọi thay đổi đều có thể, kể cả diện mạo chính trị Trung Quốc hiện nay.
Putin và một trật tự thế giới mới
Tuần này tổng thống Nga Vladimir Putin là nhân vật trung tâm được các tuần báo Pháp chú ý.Le Point đăng ảnh ông Putin trên trang bìa, chạy hàng tựa lớn : « Một trật tự thế giới mới », phía dưới là dòng chữ « Putin, Trump, Tập Cận Bình…và châu Âu : các quy tắc đã bị thay đổi ra sao ». Hồ sơ chính của Le Courrier International đặt câu hỏi : « Putin liệu có thực sự mạnh mẽ như thế hay không ? » Ở trang trong là bức biếm họa, vẽ tổng thống Nga đứng trước một tấm gương cong cho ra ảnh ảo. Trong gương là Putin vai u thịt bắp, nhưng đối diện là một Putin bằng xương bằng thịt, « bụng ỏng, đít vòn ».
Về tình hình nước Pháp, tuần báo L’Obs nêu ra « 25 ý tưởng để đánh thức cánh tả », từ thu nhập dành cho mọi người cho đến rút thăm chọn đại biểu thay vì bầu cử. L’Express dành chủ đề chính cho vấn đề « Các nhân viên tình báo của chúng ta đối đầu với thánh chiến ». Nhìn bao quát hơn, The Economist quan tâm đến việc « Làm cách nào sống sót trong thời đại tự động hóa ».
Về một « trật tự thế giới mới », hồ sơ của Le Point nhận định nước Nga của ông Vladimir Putin đang quay lại trường quốc tế với thế mạnh. Mỹ quốc của ông Trump thì rơi vào khoảng không bất định, Trung Quốc của Tập Cận Bình đang tăng cường quyền lực, trong lúc châu Âu chia rẽ. Từ khi bức tường Berlin sụp đổ đến nay, chưa bao giờ bản đồ địa chính trị thay đổi đến thế.
Đối với Le Courrier International, tuy được chọn là nhân vật trong năm 2016 với những thành công bên ngoài, trong năm 2017 ông Vladimir Putin lại phải đối mặt với những thử thách nặng nề từ trong nước. Nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười 1917, cần phải đưa nước Nga ra khỏi suy thoái kinh tế, tránh làm tan vỡ « thỏa thuận Putin » - thụ động chính trị để đổi lấy sự thịnh vượng. Tuy hầu như chắc chắn sẽ tái đắc cử vào năm 2018, nhưng số 20% người Nga đang đóng vai trò đầu tàu kinh tế đang chống lại Putin.
Công nhân Nga tại một giàn khoan dầu ở Xibêri.
Nga liệu có thể trở thành siêu cường ?
Trước câu hỏi, liệu Nga có phương tiện để trở thành siêu cường hay không, tờ báo nêu ra hai quan điểm trái ngược nhau. Đối với tờ Vzgliad ở Matxcơva, thì mọi chuyện đều ổn thỏa. Đối thoại giữa ông Trump và ông Putin sẽ là một sự kiện lớn trong năm, và điểm quan trọng thứ hai là tam giác Putin-Trump-Tập Cận Bình. Thứ ba, đây là năm bầu cử của ba nước lớn châu Âu Pháp, Đức, Ý. Một diện mạo mới của châu Âu mang lại hy vọng các biện pháp trừng phạt Nga sẽ được dỡ bỏ, và đến cuối năm Nga, Trung, Mỹ sẽ bắt đầu vẽ nên vóc hình một trật tự thế giới mới.
Ngược lại, theo tờ Washington Post có trụ sở ở Hoa Kỳ, thì câu trả lời là không : nền kinh tế Nga quá yếu. Từ 2013 đến nay, nước Nga đã nghèo đi rất nhiều. Theo số liệu của Moscow Times, tổng sản phẩm nội địa từ 2.200 tỉ đô la năm 2013 rơi xuống còn 1.300 tỉ đô la, thấp hơn Ý, Brazil, Canada, và tính trên đầu người xuống dưới mức 9.000 đô la.
Nước Nga vẫn lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, tỉ lệ tiền tiết kiệm của người dân từ 72% năm 2012 rớt xuống còn 27% trong năm 2016. Lần đầu tiên kể từ bảy năm qua, người Nga phải dành đến hơn phân nửa chi tiêu cho thực phẩm. Thành công vừa qua của Putin ở Syria chỉ là nhờ các nước khác không muốn can thiệp. Tờ báo nhắc lại, khi ông Trump muốn tăng cường vũ khí nguyên tử, chính Putin đã tuyên bố việc hiện đại hóa quân sự của Nga mới đây chỉ nhằm phòng vệ, chứ không phải chạy đua vũ trang « vì Nga không có đủ phương tiện ».
Đôi bạn Trump-Putin có lâu bền ?
Đối với tác giả Christian Makarian trên tuần san L’Express, thì « Trump không thể trở thành bạn của Putin », vì cả hai tổng thống Mỹ và Nga đều rất cần trưng ra một mối đe dọa nào đó từ bên ngoài, nhằm khẳng định vai trò của mình.
Bài viết mỉa mai nhắc đến « sáng tạo » chủ yếu của kỷ nguyên Trump được cho là việc xích lại gần với Nga, hay cụ thể hơn là giữa tổng thống Mỹ thứ 45 và ông Vladimir Putin. Nhưng đây là lần « reset » không biết thứ bao nhiêu : ông George W.Bush năm 2001, rồi đến Barack Obama năm 2009 đã từng chìa tay thân thiện với Putin nhưng rốt cuộc chỉ nhận được những cú đá giò lái.
Theo tác giả, một khi ông Trump đã đắc cử, thì tổng thống Nga đã đạt được mục tiêu chính là làm yếu đi phe Obama-Clinton. Chiến thắng rồi, Kremlin không việc gì phải thay đổi. Thứ nhất, Nga chỉ tìm lại được thế mạnh trên trường quốc tế khi làm lung lay vai trò đại cường hàng đầu của Mỹ, mà bằng chứng đã thấy rõ tại Syria. Thứ hai, Vladimir Putin hết sức cần đến một con ngoáo ộp thường xuyên. Để duy trì bộ máy trấn áp trong nước, để dùng sức mạnh quân sự làm quên đi yếu kém kinh tế, để biện minh cho việc xâm lăng lãnh thổ. Tóm lại, ông Trump và Putin quá giống nhau nên không thể làm bạn với nhau vì lợi ích trái ngược.
Trò chơi nguy hiểm trên Biển Đông
Hồ sơ của Le Point có nhắc đến « Trò chơi nguy hiểm trên Biển Đông » với bản đồ biểu thị các lãnh thổ theo khẳng định chủ quyền của mỗi nước, yêu sách, các khu vực dầu khí và những nơi có sự hiện diện quân sự của Mỹ.
Trên Twitter và trong chiến dịch tranh cử, Donald Trump công khai chiến lược : sẽ không dành món quà nào cho Bắc Kinh. Trung Quốc với tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, muốn bảo vệ các lợi ích thương mại và chiến lược, qua việc bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông bằng mọi cách.
Bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Ảnh Maika Elan
Một Hà Nội quyến rũ
Liên quan đến Việt Nam trên lãnh vực du lịch, tuần san Le Monde giới thiệu những nét quyến rũ của Hà Nội, thủ phủ Đông Dương thuộc Pháp ngày xưa.
Từ khách sạn Sofitel Legend Metropole do người Pháp xây dựng từ năm 1901 nay được nâng cấp sang trọng, cho đến Cộng Cà phê đầy chất « Việt Cộng », thưởng ngoạn các sản phẩm gốm, đồ gỗ, trang phục Made in Vietnam tại Module 7. Du khách có thể đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm với truyền thuyết rùa thần, may đo quần áo tại chỗ ở chợ vải, thưởng thức món vịt chiên nước mắm hay gỏi ngó sen tại Don’s ở Hồ Tây do đầu bếp người Canada Donald Berger phục vụ, vui chơi đến tận khuya ở bar Tadioto…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia Pháp : Trung Quốc rõ ràng đang quân sự hóa Biển Đông


Các máy bay chiến đấu J-15 trên hàng không mẫu hạm Liêu Ninh tham gia tập trận tại Biển Đông ngày 02/01/2017.

Theo chuyên gia Jean-Pierre Cabestan, trưởng bộ môn khoa học chính trị của trường đại học Báptít Hồng Kông, Bắc Kinh rõ ràng đang quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông. Trên thực tế đã có sự thay đổi nguyên trạng về quân sự và chiến lược tại vùng biển quan trọng này. Trung Quốc diễu võ giương oai nhằm đe dọa các nước, lấn dần từng chút một để tránh nguy cơ đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ.
Báo chí Trung Quốc hôm 13/01/2017 đã đả kích ông Rex Tillerson, ngoại trưởng do tổng thống tân cử Mỹ Donald Trump bổ nhiệm, vì ông đưa ra ý kiến nên cấm Bắc Kinh đến các đảo đang kiểm soát tại Biển Đông. Hoàn Cầu Thời Báo cho rằng ý tưởng này là « kỳ quặc », trừ phi muốn xảy ra « một cuộc chiến tranh quy mô » giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. China Daily dọa nạt « một cuộc đối đầu hủy diệt » nếu chính quyền Trump, sẽ nắm quyền từ ngày 20/1, sử dụng đến biện pháp này.


Trước đó một hôm, ông Rex Tillerson trong cuộc điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ tuyên bố : « Chúng ta phải gởi một dấu hiệu rõ ràng đến Trung Quốc, cho họ biết rằng phải ngưng việc xây dựng trên các đảo (tại Biển Đông), và họ không còn được phép đi vào những đảo này ».

Loạt đại pháo được báo chí nhà nước Trung Quốc dồn dập nã vào ý đồ phong tỏa mang tính vô tiền khoáng hậu của ông Tillerson, chứng tỏ mức độ căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ hiện nay tại Biển Đông. Nhật báo Le Monde đã phỏng vấn nhà Trung Quốc học Jean-Pierre Cabestan, trưởng bộ môn khoa học chính trị của trường đại học Báptít Hồng Kông, tác giả cuốn « Chính sách quốc tế của Trung Quốc, giữa hội nhập và ý hướng đại cường ».

Trung Quốc liên tục biểu dương sức mạnh : chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của họ hồi Noel lần đầu tiên đã đi qua eo biển Miyako ở ngoài khơi Okinawa để tiến ra Thái Bình Dương. Sau đó các máy bay ném bom nhiều lần bay lượn phía trên các eo biển trong khu vực, vòng quanh Đài Loan, dù trên không phận quốc tế. Các hành động ngày càng lặp đi lặp lại trên Biển Đông như thế nói lên điều gì ?

Các vụ xuất kích này là những hành động khoa trương, nằm trong ý đồ tạo ra một sự cân bằng lực lượng mới. Đó là một cách để trưng ra nhiều khía cạnh của sức mạnh quân sự Trung Quốc. Hàng không mẫu hạm vừa là đặc trưng vừa là biểu tượng của quyền năng. Hiện nay, Trung Quốc chỉ có mỗi một chiếc, cũng như Pháp có chiếc Charles De Gaulle : tàu sân bay có nhiều chức năng, được triển khai để mang đến một thông điệp vừa chiến lược vừa ngoại giao. Trung Quốc đã tiến được từng bước với chiếc Liêu Ninh : ban đầu họ tập dượt cách hoạt động tại Biển Hoa Đông, rồi đến Thái Bình Dương, sau đó đến địa điểm nhạy cảm là Biển Đông.

Không quân Trung Quốc cũng chứng tỏ khả năng bảo đảm được việc tiếp liệu trên không cho các phi cơ tiêm kích và oanh tạc cơ. Tuần duyên Trung Quốc nay được trang bị rất tốt. Trong quá khứ, chúng ta từng thấy dân quân biển can thiệp trong những vụ va chạm. Để xây dựng các đảo nhân tạo trên Biển Đông, Bắc Kinh đã huy động đủ loại đơn vị để nạo vét và cải tạo.

Đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của việc biểu dương lực lượng là làm gia tăng rủi ro trong thời bình cho hải quân các nước khác tại Biển Đông, làm cho họ hiểu rằng can dự vào sẽ nguy hiểm, ngay cả việc đi qua vô hại. Chính trong logic này mà Bắc Kinh hồi tháng 12/2016 đã đoạt lấy một tàu ngầm tự hành phục vụ công tác giám sát của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ.

Phía sau tất cả những điều đó, là ý định bảo vệ căn cứ tàu ngầm Tam Á (Sanya) trên đảo Hải Nam, bảo đảm cho các tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn có thể được triển khai ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà không bị phát hiện. Bị kẹt giữa những chuỗi đảo, nhất là những đảo gần nhất đang do các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, Đài Loan, Philippines kiểm soát, vấn đề địa lý là tối quan trọng cho Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, việc xích lại gần tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte là cần thiết.

Tiếp đến, tất cả những động thái trên không phải là quyết định ngẫu nhiên, mà là phản ứng trước cuộc điện đàm giữa ông Donald Trump và tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, cũng như tuyên bố của tổng thống tân cử Mỹ về chính sách « một nước Trung Hoa ».Trong những tháng tới, có lẽ Trung Quốc sẽ gây thêm áp lực quân sự lên Đài Loan.

Liệu có nguy cơ thực sự về các vụ va chạm hay xung đột ?

Có các rủi ro do tính toán sai lầm. Nhưng tôi nghĩ rằng Bắc Kinh bằng mọi giá cố tránh mọi sự cố dẫn đến xung đột vũ trang với Hoa Kỳ. Vụ cưỡng đoạt chiếc tàu ngầm tự hành là một tín hiệu cho tân chính phủ Mỹ. Cũng có các nguy cơ đối với Nhật Bản, cho dù Trung Quốc hành động một cách thận trọng, bối cảnh hiện nay có thể dẫn đến một sự cải thiện quan hệ nho nhỏ.

Hoa Kỳ và Trung Quốc cáo buộc lẫn nhau là quân sự hóa Biển Đông. Sự thể ra sao ?

Bắc Kinh hiển nhiên đang lao vào việc quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông. Họ nói rằng các thiết trí quân sự trên đó là khiêm tốn, mang tính phòng vệ - điều này thật khó tin, còn việc quân sự hóa thì không thể chối cãi. Hơn nữa, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh các phi cơ và chiến hạm Trung Quốc cấp tập qua lại Biển Đông, thông qua các eo biển Đài Loan (giữa Trung Quốc với Đài Loan) và Ba Sĩ (giữa Đài Loan với Philippines). Tại Biển Hoa Đông, Bắc Kinh đã bảo Tokyo là cần phải làm quen với việc máy bay và tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên đi qua.

Việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự gây ra nhiều hậu quả khác nhau. Tại Đài Loan, bà Thái Anh Văn đã đưa ra chương trình đóng các tàu ngầm. Nhật Bản cải thiện các thiết bị nghe lén và giám sát trên đảo Ishigaki và Yonaguni, nằm cách Đài Loan 50 hải lý. Tokyo cũng tăng ngân sách quốc phòng, nhưng việc gia tăng này có giới hạn. Ngược lại, ngân sách dành cho lực lượng tuần duyên Nhật - vốn không trực thuộc quốc phòng - được tăng lên rất nhiều, đó là một lực lượng trang bị hùng hậu và hiệu quả. Giữa Đài Bắc và Tokyo, người ta quan sát thấy các dấu hiệu của một sự hội tụ lợi ích chiến lược. Người Nhật nay đã tiến hành đối thoại an ninh công khai hơn với Đài Loan, và mới đây đã đổi tên cơ quan đại diện tại Đài Bắc.

Trước sự leo thang của Trung Quốc tại Biển Đông, các nước khác phản ứng như thế nào ?

Về mặt ngoại giao, Trung Quốc đã thành công trong việc làm cho Việt Nam, vốn rất lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc về kinh tế, phải yên lặng. Manila thì đã thành đồ chơi trong túi Bắc Kinh - ngư dân Philippines được cho phép quay lại bãi cạn Scarborough, sau phán quyết của Tòa Trọng tài La Haye, và sự hòa giải với ông Duterte. Trung Quốc xích gần lại với Malaysia, cho dù hành động này mang tính cơ hội vì một phần nhờ thủ tướng Najib Razak bị rắc rối với tư pháp Mỹ. Dù vậy họ vẫn gặp trục trặc với Singapore, vốn rất kiên quyết dựa vào nguyên tắc trọng tài. Bắc Kinh trả đũa bằng cách tịch thu các xe bọc thép của Singapore quá cảnh ở Hồng Kông.

Nhìn chung, các quốc gia ven Biển Đông vô cùng thận trọng. Họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc chấp nhận một sự hiện diện rộng khắp của Trung Quốc. Bắc Kinh tự xây lên các đảo riêng và không sáp nhập các lãnh thổ do các nước khác trấn đóng, trừ bãi cạn Scarborough năm 2012. Thế nhưng họ lại ký thỏa thuận với Philippines về quyền đánh cá. Đó là một động thái chính trị của Bắc Kinh, nhưng không đặt lại vấn đề yêu sách chủ quyền, vốn bất di bất dịch, bất chấp phán quyết trọng tài. Trung Quốc đang trong thế mạnh khi nói rằng không có việc thay đổi nguyên trạng. Sau năm 2012, thực tế không có thay đổi nguyên trạng về lãnh thổ tại Biển Đông, nhưng có sự thay đổi nguyên trạng về quân sự và chiến lược.

Còn người Mỹ thì sao ?

Họ thực sự bối rối. Trung Quốc đã tiến bước một cách hết sức cẩn trọng, chú ý không quân sự hóa trực tiếp các tranh chấp, tránh xâm phạm trực tiếp quyền của các nước láng giềng. Mỹ rất khó ngăn cản các động thái tằm ăn dâu này. Hoa Kỳ có thể tăng cường các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải, kể cả khu vực gần các đảo nhân tạo, vốn không được luật pháp quốc tế coi là đảo. Nhưng sự việc dừng lại ở đó. Bắc Kinh để yên cho các hoạt động này, và dù sao đi nữa họ không thể phiêu lưu qua việc đánh lén người Mỹ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nạn nhân của những thí nghiệm chính sách

>> Một Hà Nội vụn vỡ



Hồ Quốc Tuấn/ theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn
VNN - Nhiều năm trở lại đây, hệ thống giáo dục đại học và giảng viên đại học ở Việt Nam ngày càng bị chỉ trích nặng nề trên nhiều khía cạnh. Sinh viên ra trường không có việc làm, số bài đăng báo quốc tế của giảng viên thấp, phương pháp giảng dạy lạc hậu trong khi số tiến sĩ, thạc sĩ thì lại tăng cao là một vài trong số đó.

Sinh viên thất nghiệp: tại thầy, tại trò hay tại Nhà nước?

Không ít lần người viết thấy các thảo luận trên các phương tiện truyền thông coi việc sinh viên thất nghiệp hoặc không làm được việc ngay lập tức cho doanh nghiệp là lỗi hoàn toàn của trường đại học Việt Nam hoặc một hệ thống định hướng nghề nghiệp kém từ trung học. Có phải sự thật là như vậy không?

Thất nghiệp trong sinh viên cao là hiện tượng phổ biến hiện nay trên thế giới vì số đào tạo tăng cao trong khi công nghệ đổi mới thường xuyên khiến các công việc truyền thống cần bằng đại học như ngân hàng, kế toán, luật sư, bác sĩ... cũng đổi thay một cách nhanh chóng. Những người “đi học cho có” thì khi ra trường không thể thích ứng được với sự thay đổi.

Có những người đi học đại học kiểu “học đại”, hy vọng ra có việc làm, thì tự nhiên sẽ có những trường đại học không có chất lượng mọc lên đáp ứng yêu cầu đó. Những trường đó cũng chỉ cần một ai đó có một tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ nào đó để đứng lớp lấp đầy chỗ dạy.

Có cầu ắt có cung, nhiều người đi dạy đại học xem đó chỉ là phương tiện kiếm sống hoặc “trạm dừng chân” do biến động của thị trường lao động hoặc thị trường tài chính. Họ cố gắng tồn tại mà không cần nghiên cứu khoa học, chỉ là những cái máy dạy ở những ngôi trường đại học chất lượng kém.

Sự tồn tại của những người dạy đại học như vậy và những sinh viên như vậy bản thân nó là do “lỗi hệ thống” - cho phép mở trường đại học tràn lan và thiếu kiểm tra, giám sát và xử lý các trường kém chất lượng.

Thực tế thì việc sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều một phần không nhỏ còn do định hướng nghề nghiệp sai lầm của gia đình, khi ai cũng ép con phải có bằng đại học, học những ngành thời thượng, bỏ qua những nghề cơ bản mà xã hội luôn cần mà không cần bằng đại học như đầu bếp, sửa chữa điện, nước...

Nhưng cũng không thể hoàn toàn trách nhu cầu học đại học và sau đại học của đại bộ phận gia đình khi mà thực tế thị trường việc làm cho thấy có những việc làm không cần có trình độ đại học nhưng nhà tuyển dụng cũng đòi bằng đại học, nhất là ở những cơ quan công quyền. Cũng không dễ để dự báo ngành nào sẽ tốt trong vài năm nữa.

Thất nghiệp trong sinh viên cao dĩ nhiên có một phần do các chương trình giáo dục đại học và các giảng viên không hoàn thiện, nhưng còn nhiều yếu tố khác chi phối. Sự khác biệt giữa những hệ thống kinh tế và giáo dục thành công và hệ thống thất bại nằm ở chỗ hoặc là gắn đào tạo đại học sát với thực tiễn (chẳng hạn Đức thành công với một số ngành theo cách tiếp cận này, nhưng không phải tất cả các ngành đào tạo, và cách này cũng có mặt trái của nó về chi phí đối với trường đại học và độ linh hoạt), hoặc là tạo ra một hệ thống an sinh xã hội đủ tốt để những người chọn sai nghề có cơ hội chọn lại nghề lần thứ hai.

Ở Việt Nam, chi phí giáo dục cao và thái độ dè bỉu đối với sinh viên thất nghiệp hoặc sinh viên làm trái ngành đào tạo đang đẩy một bộ phận sinh viên thất nghiệp tạm thời thành thất nghiệp vĩnh viễn và lỗi được đổ cho các trường đại học và giảng viên đại học trong khi vai trò của chính sách chi tiêu công, an sinh xã hội, những người cấp phép thành lập trường đại học và những định kiến lạc hậu trong xã hội thì hoàn toàn được phớt lờ.

Người ta đã tìm ra được những “con cừu thế mạng” rất tốt để che giấu cái khuyết tật của hệ thống trong việc giải quyết việc làm cho sinh viên. Nói cho công bằng, sinh viên thất nghiệp là tại tất cả thầy, trò, gia đình, xã hội và chính sách nhà nước (không chỉ chính sách giáo dục mà còn chính sách kinh tế, khoa học - công nghệ và an sinh xã hội).

“Trò chơi” đếm bài đăng tạp chí ngoại

Trong vài năm gần đây, việc đi “đếm” bài nghiên cứu khoa học đăng tạp chí quốc tế của các trường đại học Việt Nam được xem như một giải pháp cải thiện việc Việt Nam tụt lại phía sau trong nghiên cứu khoa học. Ai không có thì bị cho là nhà khoa học trình độ thấp hoặc không nghiêm túc làm việc.

Một nhà khoa học có một lượng lớn bài đăng tạp chí quốc tế chất lượng cao thì rõ ràng là người làm việc chăm chỉ và tài năng. Nhưng so sánh giữa một người có một lượng lớn bài đăng tạp chí quốc tế chất lượng thấp với một người không có bài nào cả hoặc có một vài bài thôi thì rất dễ có kết luận sai lầm.

Mặt khác, một bài nghiên cứu không đăng tạp chí quốc tế nhưng có đóng góp đáng kể cho chính sách của Việt Nam sẽ bị bỏ qua. Không phải cứ bài nghiên cứu hữu ích cho một nước như Việt Nam là các tạp chí tốt nước ngoài quan tâm, như trong ngành tài chính-kế toán mà người viết nghiên cứu thì do thị trường Việt Nam nhỏ và không có nhiều đặc thù khác vài nước láng giềng, như Trung Quốc, nên số bài đăng dùng dữ liệu Việt Nam trên các tạp chí tốt không nhiều. Một chút khác biệt trong kết quả nghiên cứu có thể là rất quan trọng cho chính sách Việt Nam, nhưng không phải là một cái gì đặc biệt đối với kiến thức chung trên bình diện quốc tế trong mắt của một vài người bình duyệt khó tính. Đó là chưa nói đến một yếu tố quan trọng là người ta không tin vào chất lượng dữ liệu nghiên cứu của Việt Nam.

Những trao đổi với các đồng nghiệp tại Việt Nam cho người viết biết thêm là cách tính điểm hoặc khen thưởng một bài báo khoa học ở một số trường, thậm chí là ở cấp nhà nước, có tính cào bằng giữa những tạp chí tốt nhất và tệ nhất, miễn là chúng là “tạp chí quốc tế” và không may là cùng nằm trong một nhóm xếp hạng nào đó. Trong khi đó, nếu trò chuyện nghiêm túc với những giáo sư có 20-30 năm kinh nghiệm đến từ nhiều nền giáo dục nước ngoài, bạn sẽ thấy có một sự khác biệt lớn trong cách nhìn nhận những bảng xếp hạng tạp chí quốc tế và đa phần họ nhìn nhận rằng có rất nhiều khuyết điểm trong cách đánh giá một cách máy móc chất lượng nghiên cứu như vậy.

Những điều này sẽ dẫn đến việc tôn vinh những người biết cách chơi trò chơi “đăng bài quốc tế” kiểu mới, tương tự như việc người ta kiếm ra một cái bằng thạc sĩ, tiến sĩ nước ngoài vài năm trước để rồi bây giờ nhiều người bị vạch trần là mua bằng ở những nhà máy sản xuất bằng của nước ngoài.

Thật ra, nguyên nhân sâu xa của sự tụt hậu trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là do khiếm khuyết trong chính sách tài trợ nghiên cứu khoa học và đảm bảo người làm khoa học sống được mà không cần làm “thợ dạy”.

Chừng nào mà chuyện này chưa cải thiện, thì không thể mong giảng viên đại học của Việt Nam có thể thật sự có nhiều bài đăng tạp chí nước ngoài loại tốt và họ lại trở thành nạn nhân của những con số thống kê về tình hình nghiên cứu khoa học của đất nước.

Lời kết

Những phân tích trên đây không phải là lời biện minh cho những đồng nghiệp ở Việt Nam về những kết quả không mấy khả quan của giáo dục đại học. Nhưng tôi hy vọng nó góp một góc nhìn nhỏ mà có thể là còn nhiều thiên lệch của mình vào cuộc tranh luận về đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam. Chúng ta cần có những góc nhìn đa chiều và khách quan để đánh giá đâu là con đường đi hợp lý cho giáo dục đại học tại Việt Nam trong nguồn lực hiện có, chứ không chạy theo những chỉ tiêu hay mô hình máy móc do những người không hiểu rõ về giáo dục đại học Việt Nam và toàn cầu, nhắm mắt du nhập từ nước ngoài những công cụ “quản lý hiện đại”.

Trên hết, cần hết sức thực tế và trung thực với các mục tiêu mà đại học Việt Nam có thể làm được với nguồn lực mà ta có.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Phạm Công Danh: 'Tôi không lấy đồng nào của VNCB'


Cựu Chủ tịch VNCB cho biết đã bán hàng chục căn nhà để duy trì thanh khoản trong thời gian tiếp quản ngân hàng đang ở tình trạng thua lỗ nặng, chứ không lấy đồng nào của nhà băng.

Ngày 17/1, nói lời sau cùng tại phiên xử phúc thẩm, ông Phạm Công Danh (cựu Chủ tịch Ngân hàng Xây dựng - VNCB) cảm ơn cơ quan tố tụng đã tạo điều kiện cho ông chữa bệnh.
Ông mong HĐXX xem xét lại bối cảnh khi tiếp quản Ngân hàng Đại Tín (tiền thân của VNCB) và quan hệ với ông Trần Quý Thanh (Chủ tịch Tân Hiệp Phát) là quan hệ vay mượn. Bị cáo cho biết, bản thân tự hào vì kế thừa Tập đoàn Thiên Thanh và xây dựng công ty vững mạnh trong nhiều lĩnh vực. Với mong muốn xây dựng đất nước nên ông đã mua lại Ngân hàng Đại Tín để vực dậy ngân hàng này.
Tuy nhiên, khi tiếp quản ông mới biết ngân hàng đang thua lỗ nặng, 95% nợ xấu không có khả năng thu hồi, luôn đặt dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước.
ong-pham-cong-danh-toi-khong-lay-dong-nao-cua-vncb
Ông Danh cho rằng không tư lợi một đồng nào tiền của VNCB. Ảnh: H. D. 
"Bị cáo không lường trước được những khó khăn. Bản thân đã bán hàng chục căn nhà để duy trì thanh khoản cho ngân hàng. Bị cáo không lấy bất cứ đồng nào của VNCB", ông nghẹn giọng và mong HĐXX xem xét.
Cựu Chủ tịch VNCB cũng cảm ơn đại diện VKS đã đề nghị truy thu 100% tài sản thiệt hại để khắc phục hậu quả và hiện đã khắc phục được khoảng 72%.
Ông Danh xin lỗi thuộc cấp và gia đình của họ, những người bị liên lụy trong vụ án này. Xin tòa miễm trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt cho cấp dưới vì "họ là những người nỗ lực làm việc nhằm xây dựng ngân hàng chứ không tư lợi".
Nguyên Tổng giám đốc VNCB Phan Thành Mai - bị cáo buộc giúp sức tích cực cho ông Danh - cho biết, suốt 30 tháng kể từ ngày bị bắt luôn đau đáu với những hậu quả gây ra với gia đình, xã hội, bạn bè, đồng nghiệp.
Theo bị cáo, lý do xảy ra vụ án như ngày hôm nay là do ngân hàng trước khi ông Danh tiếp quản nợ xấu quá lớn. Quá trình chuyển giao giữa nhóm Phú Mỹ do bà Hứa Thị Phấn đại diện và nhóm Thiên Thanh không thành công. Ngân hàng không có nguồn thu nào và chi phí ông Danh bỏ ra chăm sóc khách hàng là quá lớn.
Các bị cáo khác là cựu nhân viên của VNCB cũng cho biết, bản thân không tư lợi trong vụ án, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự.
Ông Danh và đồng phạm bị cáo buộc thực hiện nhiều hành vi sai phạm trong thời gian tái cơ cấu VNCB, gây thất thoát 9.000 tỷ đồng. Hồi tháng 9, TAND TP HCM xử sơ thẩm tuyên phạt ông 30 năm tù về các tội Cố ý làm trái trong quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Ông và 26 bị cáo khác kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thu hồi các khoản tiền thất thoát để khắc phục thiệt hại. 
Tòa sẽ tuyên án vào ngày 24/1.
Hải Duyên