Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

Cùng đón tết với ông Nguyễn


VTN

 Nguyễn Tuân từng viết nhiều về bản thân dưới một cái tên chung là Nguyễn. Nhân vật này trở đi trở lai  trong văn ông. Lại có cả một tác phẩm mang tên Nguyễn hẳn hoi, cuốn này viết trước 9-1945, và in sau 1945.
 Nó đã  được Xuân Diệu miêu tả là cuốn sách ở đó tác giả tự đặt mình lên bàn thờ mà khấn vái, ngụ ý là nó quá lạc lõng so với tinh thần cách mạng. 
Nhưng hơn nửa thế kỷ nay, các bài thơ hừng hực khí  thế của Xuân Diệu thì chả ai đọc nữa,  nếu nhớ tới Xuân Diệu trước tiên người ta nhớ tới Thơ thơ

Nguyễn Tuân cũng vậy, các sáng tác của ông có liên quan tới nhân vật Nguyễn cũng vậy. Để chứng minh chỉ  cần nhớ rằng ở ta có biết bao nhà văn họ Nguyễn, song trong cả câu chuyện hàng ngày lẫn trên mặt giấy, nói đến Nguyễn là người ta biết ngay đến ai rồi. Nguyễn Tuân không chỉ là những cuốn sách, Nguyễn Tuân là cả một cách sống. Và cách sống đó  bộc lộ qua những ngày tết lại hai lần độc đáo.


Đã gọi là nhà văn, xa gần ai chả viết về đời sống dân tộc, song trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, nếu cần tìm một người biết từ những mảng sống, những thực tế ai cũng sống ấy, đưa lên thành nề nếp, thành một cái gì thuần thục kỹ lưỡng, tóm lại là biết xem xét đời sống ở bình diện văn hoá, thì người ta trước hết nghĩ đến Nguyễn Tuân (1910-1987).
Cách sửa soạn cho một ấm trà ban mai hay cái nghi thức thiêng liêng mở đầu cho một ngày.
Những đắn đo bàn bạc trước khi làm mấy cái đèn trung thu.
Ý nghĩa tìm thấy ở trò chơi thả thơ đánh thơ, quan niệm về nhân cách qua một kiểu viết chữ.
Rồi đức hy sinh của một người chị cho một nguời em trai, rồi niềm tự tin hay những kiêu hãnh chính đáng của một vị quan có học...
 Bao nhiêu nếp sống hàng ngày đã được Nguyễn Tuân ghi nhận!
 Thì dĩ nhiên là những ngày Tết nguyên đán cũng đã để lại vang và bóng của nó trong tâm trí Nguyễn Tuân, dù nhiều khi chỉ là những vang bóng thoáng qua.
Lấy ví dụ như ở thiên truyện Hương cuội in trong Vang bóng một thời. Đặt bên cạnh nhữngChém treo ngành hoặc Ném bút chì có gươm khua, có máu chảy (dù là tất cả đã được làm một cách rất tài hoa), thì Hương cuội giống như một sự dềnh dàng cố ý cốt cho thấy cách đón xuân của cổ nhân cầu kỳ mà cũng thanh đạm đến như thế nào.
Này là cảnh chuẩn bị Tết ở nhà cụ Kép: trong lúc đám dâu con đàn bà ngồi lau lá dong và làm bếp, còn lũ trẻ lo đánh bóng đỉnh đồng, lư hương, thì ông cụ chỉ loanh quanh bên cái chậu hoa, và để hết tâm trí tới việc sửa soạn bữa rượu Thạch lan hương.
Quả thật, cái cảnh uống rượu nhắm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha là một nét lạ của văn hoá Tết cổ truyền mà có thể đoán là không mấy người thuộc lớp hậu sinh chúng ta được biết, và những trang văn Nguyễn Tuân thật đã có vai trò của những thước phim quay chậm để ghi lại tư liệu quý.
 Sau Vang bóng một thời xưa, đâu Nguyễn Tuân còn định viết Vang bóng một thời Tây. Cái ý định ấy, cũng như nhiều dự định hay ho khác, đã xếp xó. Nhưng đây đó, nhà văn thích phác hoạ lại nếp sống một thời và mang lại cho nó vẻ thanh lịch của một hành động văn hoá, nhà văn ấy cũng đã kịp ghi lại vài nếp sống của xã hội ta khi chuyển sang thời Âu hoá, trong đó có cảnh đón Tết ở các đô thị.
 Đọc Một người cha về ăn tết (in trong Tuỳ bút I) người ta biết rằng vào những năm ba mươi của thế kỷ này, thành phố Hà Nội vẫn chỉ là nơi làm việc của nhiều công chức, chứ không phải gia hương của họ.
Cuối tháng chạp âm lịch, hai mươi, hăm lăm gì đó - tuỳ cảnh tuỳ người - nhiều cặp vợ chồng giao nhà cho đầy tớ, rồi kéo con cái về quê ăn tết. Có thể là ở quê, họ lại sẵn sàng ngồi bên nồi bánh chưng cổ truyền suốt đêm để sống lại cái nền nếp vốn có của cha ông.
Còn ở thành thị, nơi họ làm việc, thì cái nếp sống Tây phương cũng đã len vào thành những phong tục mới, nhuần nhị và thành thục.
Trông nhà trong mấy hôm ấy, một trong những việc đám thằng nhỏ phải làm là để cái đĩa pha lê ra bàn giữa nhà cho bạn bè của chủ chúng (mà chúng thường gọi là cậu mợ) đến đặt danh thiếp.
 Tuy nhiên cái độc đáo của Tết ở văn Nguyễn Tuân chưa phải là ở những mảng sống được ông miêu tả ghi chép như vậy. Sự quyến rũ của văn ông là ở cái hình ảnh bao trùm của con người lãng tử, nên cái ấn tượng về Tết khiến người ta nhớ hơn cả cũng là cách xử sự kỳ lạ của chàng Nguyễn và những phiên bản của chàng vào những ngày mọi người khép mình chờ đợi. Mặc dù biết rõ là Tết sắp đến nhưng Nguyễn của chúng ta vẫn mải mê với việc vui chơi và sẵn sàng lang thang ở những chốn đâu đâu mà không hề đoái hoài tới việc tận hưởng mọi thú vui thông thường, kể cả việc về nhà sum họp cùng vợ con.
Trong Những đứa con hoang,(in trong tập Mùa gặt mới) người ta gặp cái cảnh Nguyễn với hai người bạn xuống xóm vào một ngày tất niên, khi các nhà cô đầu tịnh không ai đi hát, và từ các bà chủ đến các cô con gái trong nhà có nghĩ gì, thì cũng là nghĩ đến chuyện làm ăn trong năm mới.
Lại như câu chuyện Một người cha về ăn Tết. Cái việc tốt đẹp nói ở đầu đề thiên tuỳ bút, thực ra phải đâu là nằm trong dự định của Nguyễn mà chỉ là kết quả của sự tình cờ.
Đang ở nhà bạn, định sống thêm một cái Tết tha phương, chợt trông thấy mấy đôi giày trẻ con, thế là lòng nhớ nhà của Nguyễn thức dậy và chàng mới ra ga, về quê trong chuyến tàu rạng sáng ba mươi.
Tóm lại, trước sau, Nguyễn vẫn là Nguyễn, Tết chẳng qua là một dịp để con người ấy tiếp tục mài sắc cá tính của mình, càng mang tiếng chơi ngông, trêu ngươi mọi người, càng lấy làm đắc ý. Giữa cái xã hội Âu hoá nhố nhăng, để khẳng định cá tính, Nguyễn vẫn chỉ có một con đường độc đáo để đi. Con đường này đã in dấu chân của nhiều bậc lãng tử cuối mùa, mà ông Cử Hai trong Một cảnh thu muộn là ví dụ.
Cáí thần thái chính trong cuộc đời ông Cử Hai có thể tóm gọn lại bằng cái công thức “đem cái tài hoa ra để đùa với cuộc đời”.
Đi dạy học thực tế với ông là một thứ “đi ngoạn cảnh hoặc là đi dâng hương ở các đền chùa cổ tích”.
Bởi vậy mới có cảnh “gần ngày Tết nhất, người trưởng tràng lúc thu xong sổ đồng môn, chỉ khổ lên vì đi tìm thầy”.
Giữa ngày vui của mọi người, cái con người nghệ sĩ “không chịu sống cho người khác và hùa theo với người chung quanh ấy” sẵn sàng ẩn trong một mái đình vắng nào đó, để gọt cho hết một lắp thuỷ tiên. Người ta có thể không sống theo và trước tiên là không thích thú với cách sống cao ngạo trái khoáy này, song phải công nhận người giữ được cái đạo đó phải là người có cuộc sống nội tâm phong phú, nội lực vững vàng, trong khi biết tìm cho mình những thứ thức ăn tinh thần không giống một ai, họ thật đã có cuộc sống vượt lên cái phàm tục -- một điều mà kẻ sĩ thanh cao xưa nay hằng ao ước. Đơn độc ngay trên quê hương mình, trốn tránh mọi người, chỉ lấy sự lang thang chỗ này chỗ nọ làm vui, những tưởng ở Nguyễn Tuân đã chết hẳn con người bình thường.
Nhưng không, đến khi có dịp xa quê thực sự, thì Nguyễn Tuân lại có một cái Tết thật buồn, đến mức người ta phải tự hỏi không biết đâu mới là bản chất thực của cái con người phiền toái đó.
 Trong Một chuyến đi ông đã kể lại kỹ lưỡng nhiều chuyện liên quan đến cái lần nhà tài tử nghiệp dư là ông, cùng với một số bè bạn, sang Hồng Kông đóng phim Cánh đồng ma.
Cảnh ông ăn Tết ở xứ người chính là xảy ra vào đầu năm Dần đó (1938). Hiện lên trước mắt chúng ta là một bức tranh hai màu đối lập.
--Một bên là cảnh dân địa phương náo nức vui thú. Những tràng pháo dài hàng vạn quả đua nhau nổ dữ dội. Những gốc đào tươi tua tủa hoa nhạt và nụ thắm. Rồi đêm Hương Cảng đỏ rực hẳn lên với phiên chợ Tết “như cảnh bài trí trong một truyện thần tiên hoặc trong Liêu Trai...”.
-- Một bên là cái tâm trạng buồn thiu của người lữ khách cô độc, mắt mờ hồn mê, tiền không có, bạn không có, đi giữa đường vui phải giơ tay nắm chắc lấy lòng can đảm của chính mình để khỏi chán chường thêm.
 Vốn là điều làm nên sự kiêu hãnh của người lãng tử, sự khác người với Nguyễn Tuân trong những ngày Tết năm ấy chỉ còn là một cái gì nặng nề, không sao chịu nổi.
Trong lúc tỉnh táo, tác giả cảm thấy rất rõ là mình đang đánh mất mình: “Tôi chiều nay hằn học với số phận, dám cáu kỉnh với cả cuộc đời phiêu lưu mà xưa nay tôi vẫn ca ngợi. Chiều nay, tôi cũng muốn vứt đi một cái gì”.
Chưa bao giờ như trong Một chuyến đi, con người Nguyễn Tuân lại hiện ra yếu đuối đến thế, bất lực đến thế!
Song cũng là một sự thực kỳ lạ: ấy cũng là lúc Nguyễn đáng yêu hơn bao giờ hết.
 Sau cái lần vỏ ngạo ngược, ngông nghênh hoá ra chàng Nguyễn vẫn rất mềm yếu, rất tình cảm, nghĩa là rất gần với mọi người.
Có lẽ vì thế, chúng ta hiểu vì sao sau này trong tiếng súng chiến tranh khi cùng một đoàn kịch đi suốt từ Hà Nôị tới Nam Trung bộ, khi lội suối trèo đèo theo bộ đội đánh đồn, nhiều cái Tết trong văn Nguyễn Tuân lại hiện ra với những nét vui vầy đầm ấm, và những ngày hoà bình sau 1954, hầu như Tết nào ông cũng có những bài tuỳ bút vui Tết với mọi người. Vẫn với cách nói hóm hỉnh vốn có, ông bảo rằng đó là những lần mình ngả từ vườn đào nhà ra mấy cành để góp mặt với những ngày vui ở chợ hoa Hàng Lược. Một trong những bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân hồi ấy độ một cái tên khá lạ lùng Tôi bán năm cành hoa tết.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để biết:

Hoàn  Cầu Thời báo là gì? 

clip_image001




Dư luận Việt Nam gần đây chú ý tới nhiều bài báo mang  tính chất dân tộc chủ nghĩa, thậm chí hiếu chiến, trên tờ Hoàn  Cầu Thời báo của Trung Quốc.

BBCVietnamese.com cũng đã giới thiệu một số bài  tới quý vị, chủ yếu liên quan tới chính sách của các nước ở Biển  Đông. Nhiều độc giả đặt câu hỏi: vậy Hoàn Cầu Thời báo là tờ  báo như thế nào?...

Mới đây, tạp chí Foreign Policy có bài của tác  giả Christina Larson tựa đề 'Kênh Fox News của Trung Quốc' nói về  Hoàn Cầu Thời báo, ví ấn phẩm này với kênh truyền hình cũng  bị coi là bảo thủ và khá diều hâu của Hoa Kỳ.

Bài báo đã hé lộ đôi điều về tờ báo đông người đọc  vốn nhiều lần đe dọa trừng phạt các nước xung quanh.

Các biên tập viên cao cấp của Hoàn Cầu Thời báo  được nói hàng ngày tới văn phòng trong tòa nhà được canh gác chặt  chẽ ở phía Đông thủ đô Bắc Kinh để làm việc cần mẫn tới 14 tiếng  đồng hồ.

Trong thời gian bận rộn đó "họ đặt và biên tập các  bài báo cũng như xã luận về nhiều chủ đề, từ khẳng định chủ quyền  không thể tranh cãi của Trung Quốc tại Biển Đông, tới thái độ ma mãnh  của Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tới lượng bia  rượu khổng lồ mà các quan chức nhà nước tiêu thụ..." để cuối cùng  cho ra được tờ báo 16 trang.

Tổng biên tập Hoàn Cầu Thời báo là ông Hồ Tích  Tiến, người được cho là 'đưa ra các quyết định cuối cùng'.

Hoàn Cầu Thời báo có hai ấn bản tiếng Trung và  tiếng Anh, nội dung không khác nhau nhiều lắm và chủ yếu là đưa ra  những cảnh báo đại loại như các nước láng giềng nếu không thay đổi  lập trường sẽ phải 'sẵn sàng nghe tiếng đại bác'... Tất nhiên các đe  dọa kiểu này gây nhiều chú ý và Hoàn Cầu Thời báo luôn được  các hãng thông tấn và báo chí nước ngoài trích thuật.

Quan điểm của ai?

Báo Hoàn Cầu đặt tại khu nhà của Nhân dân  Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, được  thành lập từ năm 1948.

Nhân dân Nhật báo là tờ báo chính thống, nhiều  khi tẻ nhạt, chỉ được theo dõi để biết về số phận các lãnh đạo, ông  nào lên và ông nào xuống.

Hoàn Cầu có sứ mệnh khác hẳn. Ra đời năm 1993,  ban biên tậpHoàn Cầu có nhiệm vụ tiếp cận quần chúng chứ  không phải chỉ truyền đạt lại các thông điệp của Chính phủ hay Bộ  Ngoại giao.

Nhân viên tờ báo này cũng tỏ ra bình dân, không chỉ  trong cách ăn mặc mà còn cả trong không khí làm việc sôi động và lắm  lúc mất trật tự.

Tổng biên tập Hồ Tích Tiến, 51 tuổi, để tóc dài, gầy  gò và năng động. Ông học về đối ngoại quốc phòng ở Nam Kinh và có  bằng thạc sỹ văn học Nga từ đại học Bắc Kinh.

Ông Hồ nói nhanh và chọn từ ngữ sắc sảo. Ông nói với  bà Larson: "Chúng tôi gọi cái xẻng là cái xẻng. Và chúng tôi không sợ  làm phật lòng quý vị".

"Nói thật thì tôi nghĩ lập trường của Hoàn Cầu  Thời báo chỉ là làm sao để kiếm tiền. Chủ nghĩa dân tộc là con  bài chính của tờ báo".

Chuyên gia về Trung Quốc Michael Anti

Thông thường ở Trung Quốc, Tổng biên tập các báo do  Đảng Cộng sản cử, nói chung không có kinh nghiệm báo chí và cũng  chẳng mấy quan tâm tới việc làm báo.

Thế nhưng, ông Hồ Tích Tiến thì khác hoàn toàn. Có lẽ  ông chỉ giống các ông Tổng biên tập khác ở một điểm là trung thành  với Đảng.

Ông từng là phóng viên chiến trường, và ham viết xã  luận nên bài xã luận nào hầu như cũng có đóng góp của ông.

Trang cá nhân của ông Hồ trên mạng Weibo, tương tự mạng  Twitter bên phương Tây, có tới 1,4 triệu người theo dõi.

Tờ báo của ông không ngần ngại viết về các chủ đề gây  tranh cãi, từ sự kiện Thiên An Môn tới nghệ sỹ Ngải Vị Vị, dù chỉ  là để khẳng định đường lối của Đảng.

Một trong những điều Tổng biên tập Hồ khoái nhất là  đưa ra các nhận định trái chiều, nhất là khi đụng chạm đến Hoa Kỳ.  Thí dụ, trong khi các báo và các trang mạng xuýt xoa về việc Phó  Tổng thống Mỹ Joe Biden đi ăn tối tại một quán mì bình dân, hay phong  thái bình dị của tân Đại sứ Mỹ Gary Locke, Hoàn Cầu phân tích:  "Để bảo đảm an ninh cho ông Biden ở quán mì ven đường còn tốn kém gấp  nhiều lần so với ăn ở Nhà khách Chính phủ".

Mặc dù Tổng biên tập thích dùng Weibo, Hoàn Cầu  Thời báo lại không ít lần tấn công các mạng xã hội, gọi đây là  nơi 'phát tán tin đồn và đầu độc dư luận'.

Thế liệu Hoàn Cầu không đầu độc dư luận theo  cách nào đó hay sao?

Ông Michael Anti, một chuyên gia và các vấn đề Trung Quốc  và quốc tế, nhận định: "Nói thật thì tôi nghĩ lập trường của  Hoàn Cầu Thời báo chỉ là làm sao để kiếm tiền. Chủ nghĩa dân  tộc là con bài chính của tờ báo".

Theo ông Anti, điều này cũng từa tựa như kênh Fox News  của trùm truyền thông Rupert Murdoch.

Nhiều độc giả

Nếu tính về lượng độc giả thì Hoàn Cầu Thời  báo là tờ đứng thứ thứ ba Trung Quốc, với 2,4 triệu người đọc  báo in mỗi ngày. Báo điện tử có tới 10 triệu độc giả.

Giả sử các số liệu trên đã bị thổi phồng ít nhiều  thì nó vẫn cao hơn đa số tờ báo ở phương Tây. Để so sánh, báo  Washington Postmỗi ngày chỉ in có nửa triệu bản.

Thành công của Hoàn Cầu một phần nhờ vào các  thay đổi trong bối cảnh báo chí Trung Quốc hiện nay. Tờ báo tập trung  vào các vấn đề quốc tế, và tuyên truyền cho vị thế ngày càng cao  của Trung Quốc trên thế giới.

clip_image002

Hoàn Cầu Thời báo cổ súy cho tâm lý dân tộc chủ  nghĩa

Người đọc trong nước ngày càng hướng ngoại thì Hoàn  Cầu lại càng đăng nhiều bài đả kích thái độ của các nước ngoài  đối với Bắc Kinh.

Chúng ta có thể đọc qua các tựa đề: 'Tấn công Trung  Quốc thành xu hướng thời thượng ở Washington', 'Ấn Độ và Việt Nam ký  hợp đồng nhằm khiêu khích Trung Quốc'... để thấy rằng tờ báo này đang  nhằm vào tâm lý muốn khơi dậy sự tự tôn và 'phục thù' của người  dân.

Jeremy Goldkorn, chuyên gia về truyền thông Trung Quốc và  sáng lập viên của mạng Danwei.org, nói rằng Tổng biên tập Hồ đã thành  công trong việc kết nối cái gọi là 'giáo dục tinh thần yêu nước' và  vai trò kiếm tiền của tờ báo trong thời buổi chính phủ không còn bao  cấp nữa.

Thời gian gần đây, nhiều cơ quan truyền thông đã phải  thương mại hóa bằng các cách thức khác nhau. Có tờ phải quay sang tin  tức về đời tư các ngôi sao để bán báo và bán quảng cáo.

Thế nhưng, Hoàn Cầu Thời báo chọn cho mình con  đường dân tộc chủ nghĩa để tăng lượng độc giả.

Cũng bởi vậy mà tờ báo này được chú ý không phải vì  các bản tin, mà nhờ các bài xã luận đanh thép, nhiều khi hung hăng  'như tiếng đại bác'.

Một chủ đề quen thuộc và ăn khách là chỉ trích tính  giả dối và trơ tráo của phương Tây, nhất là Mỹ.

Tuy nhiên, cũng cần nói rằng một trong các chủ đề được  ưa chuộng khác là chỉ trích nạn tham nhũng ở ngay chính đất nước  Trung Quốc.

Thí dụ hồi tháng Tư, báo này đăng bài đả phá thói ăn  tiêu xa hoa của một quan chức lãnh đạo tập đoàn dầu lửa nhà nước  Sinopec.

Bài báo sắc sảo và thành công này sau được nhiều báo  nước ngoài trích lại.
Một nhóm phóng viên Hoàn Cầu Thời báo đã điều  tra việc Tổng giám đốc chi nhánh Quảng Đông của Sinopec, ông Lư Quản  Vũ, bị cáo buộc mua 480 chai rượu Mao Đài và 696 chai rượu vang tổng  trị giá 243.604 đôla Mỹ để 'dùng riêng'.
Thông qua vụ ông Lư, Hoàn Cầu Thời báo đã đánh  trúng tâm lý số đông, vừa quan tâm các sự kiện quốc tế, vừa bức xúc  về tệ nạn trong nước, và vô hình trung đã thu hút thêm độc giả cho  nền báo chí của Đảng tiên phong.

Tuy nhiên bí quyết thực của tờ báo này, theo một số  nhận định, là vì 'không có gì đáng đọc nữa cả'.

Một cựu phóng viên tờ Nhật báo Thanh niên Bắc  Kinh nói với Christina Larson: "Chẳng có nhiều lựa chọn... làm gì  có tin tức đích thực ở Trung Quốc".

Nguồn: bbc.co.uk

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tết ở xứ “Cánh đồng chó ngáp”


TP - Hằng năm đến độ Tết về, trong lòng người dân ở xứ “Cánh đồng chó ngáp” Đồng Tháp Mười luôn rộn ràng, háo hức chờ đợi đón mùa xuân vui tươi hạnh phúc. Trước tết vài ba tháng, nhà nào khá giả thì nuôi heo, còn nhà nghèo nuôi gà, vịt để dành đãi khách trong mấy ngày tết. Còn đến 29 – 30 Tết, nhà nào có điều kiện thì làm heo chia thịt, ai có tiền thì trả tiền mặt còn không thì quy đổi ra lúa đến mùa trả cũng được.

Gia đình chụp ảnh Tết ở làng hoa Sa Đéc. Ảnh: Hòa Hội
Những đứa trẻ mong mặc bộ đồ mới để khoe khắp đầu trên xóm dưới, còn người lớn có dịp đi chúc tụng nhau, gặp gỡ nâng ly rượu vui vẻ sau một năm lao động mệt nhọc. Dẫu giờ Tết không còn như xưa nhưng trong thẳm sâu vẫn chứa đựng bao kỷ niệm khó quên trong ký ức của mỗi người dân xứ này. 

Tát đìa ăn tết

Cuối năm, thời tiết se lạnh báo hiệu mùa xuân sắp đến. Ông Trần Nam Á ở ấp K10, xã Phú Hiệp (Tam Nông, Đồng Tháp) đang tất bật chăm sóc chậu hoa kiểng trước nhà để đón tết. Ông Á năm nay ngót 70 tuổi, người gầy nhom, nước da ngăm đen, tóc dần chuyển màu. Ông kể, những năm trước và sau giải phóng, ở xứ Đồng Tháp Mười, đặc biệt là vùng đất Tràm Chim nơi ông sống, hoang hóa, toàn rừng sậy, cá tôm nhiều vô số. Đến tháng chạp, sau khi thu hoạch lúa mùa là các gia đình trong xóm lại rủ nhau tát đìa.

“Thời đó, vùng này cá nhiều vô số kể, gặt lúa mùa xong là nhà nhà vần công nhau tát đìa. Dụng cụ tát bằng gàu dây. Đìa nhỏ thì một hai ngày còn đìa lớn mất cả tuần mới cạn. Mỗi lần tát, cá đồng đựng mấy khạp để dành ăn đến qua Tết chưa hết”, ông nhớ lại.

Gia đình ông Á có 5 người con, hiện tại có gia đình riêng và đi làm ăn xa. Người ở TPHCM người ở tỉnh khác, cuộc sống đủ đắp đổi qua ngày. Ở nhà chỉ còn vợ chồng ông. Ông cho biết, bây giờ cuộc sống khó khăn chứ ngày xưa nghèo nhưng đầm ấm, cả gia đình có chục công ruộng súm sít nhau vẫn sống được. Ngày tết cá ăn không hết, còn bánh mứt hay những thứ khác thì có sẵn nên không phải tốn kém nhiều.

Ông kể, mùa tát đìa cả xóm đông vui như hội từ già trẻ bé lớn đều tham gia, có khi bắt đến cả đêm mới xong. Khi đìa cạn, chủ nhà bắt trước, tiếp đến mới tới hàng xóm bắt hôi sau. Những đứa trẻ mặt mày dính đầy bùn đất, lội lún muốn ngập đầu nhưng khi bắt được con cá lóc to là mừng lắm, reo hò um sùm.

Còn ông Nguyễn Văn Chiến (Ba Chiến) cũng là dân cố cự ở vùng Đồng Tháp Mười, ở cùng xã Phú Hiệp (Tam Nông, Đồng Tháp). Ông kể, một trong những nét văn hóa đặc trưng ở vùng “khỉ ho cò gáy” này là tình làng nghĩa xóm rất cao. Không chỉ có việc làm đồng vần công mà còn giúp đỡ lẫn nhau qua việc tát đìa bắt cá hay cất nhà... Vào những ngày cận Tết cổ truyền dân tộc, nhà nào có tát đìa thì cả xóm đến cùng nhau bắt phụ. Mỗi người một việc, tự phân chia nhau, nào là người tát đìa, kẻ quăng nhánh chà ra khỏi đìa, dọn cỏ… Đến khi nước gần cạn, những con cá chài, mè vinh, lòng tong bay lên mặt nước vèo vèo thấy phát ham. Tát nước ra xong, đìa cạn cá lóc, trê, rô… chúi sâu dưới sình, lúc ngộp mới ngoi lên mặt đìa, người bắt cứ việc túm đầu cá bỏ vào giỏ... 


Ông Ba Chiến cho biết thêm, cá bắt được sau khi tát đìa, ông cũng biếu cho bà con dòng họ, anh em chòm xóm cùng ăn. Dư dả gia đình rồi phơi khô, làm mắm ăn dần trong những ngày Tết không đi đồng hay lúc thắt ngặt. Còn những con cá nhỏ như tong tong, sặc, rô thì ông đem ủ kỹ với muối hột trong lu, khạp da bò để sau vài tháng nấu lấy nước mắm. “Đây là loại nước mắm “cây nhà lá vườn” rất thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng không thua gì với nước mắm cá nổi tiếng”, ông Ba Chiến khoe.

Tết nhậu… trong mùng

Hiện nay, điện, đường, trường, trạm, phục vụ nhu cầu người dân đầy đủ từ tỉnh đến nông thôn nhưng nhớ về những ngày đón Tết thuở “cơ hàn” vẫn chứa nhiều ký ức đẹp. Ông Huỳnh Văn Tẻng ở ấp Hiệp Bình, xã Phú Hiệp kể, ngày xưa vùng này hoang vắng, đất ẩm thấp, xung quanh đồng ruộng nên muỗi dày như trấu. Ban ngày anh em đi chúc tụng nhau hết nhà này sang nhà khác nhưng do đường sá khó đi, chủ yếu là lối mòn, khi đến nhà bạn đã tối om mới gầy tiệc nhậu. “Ban đêm nhà ngoài đồng, dưới ánh đèn dầu leo lét, muỗi dày đặc bay khắp người nên phải giăng mùng nhậu. Lúc đó, mồi toàn cá đồng đem nướng chui nhậu không hết, vừa nhâm nhi vừa tâm sự đến sáng không hay”, ông Tẻng nhớ lại.


Trẻ em bắt cá ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp). Ảnh: Trọng Trung

Không những thế, ông kể thêm, trước tết vài ba tháng, nhà nào khá giả thì nuôi heo, còn nhà nghèo nuôi gà, vịt để dành đãi khách trong mấy ngày tết. Còn đến 29 – 30 Tết, nhà nào có điều kiện thì làm heo chia thịt, ai có tiền thì trả tiền mặt còn không thì quy đổi ra lúa đến mùa trả cũng được.

Chật vật đón Tết

Năm nay, do phải vật lộn với cuộc sống với nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, lũ không về… còn giới công chức thì “bù đầu” với công việc cuối năm nên không có nhiều thời gian để đón cái tết sung túc như xưa. Ông Võ Công Minh ở xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp) đang công tác ở tỉnh với chức vụ là Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đồng Tháp. Ông Minh cho biết, gần tết không chỉ “bù đầu” cho cuối năm tổng kết, hội họp… và tiếp khách nên gần như không có thời gian về quê sửa soạn nhà cửa, chuẩn bị cá mắm như trước nữa.

Ông kể, mấy năm gần đây cứ đến chiều 29 hay 30 Tết, cầm máy alô hỏi mua vài ba câu là có người chở đầy đủ hàng Tết đến nhà. Hơn nữa, còn rất ít gia đình gói bánh tét, người ta mua vài ba đòn là xong nên để có những đêm cả nhà quây quần bên nhau gói bánh tràn đầy không khí Tết đã dần mai một. Còn mấy ngày Tết, các thành viên trong gia đình đã thờ ơ đi việc sum họp, từ mâm cỗ tất niên đến mâm cỗ cúng sáng mùng Một. Nhiều người rủ nhau đi thắp nhang chiếu lệ cho phải lễ nghi vài ba nhà trong dòng họ là xong.

Vùng Đồng Tháp Mười được xem là túi nước dự trữ cho ĐBSCL vào mùa lũ. Tuy nhiên năm nay lũ về muộn và ít hơn nhiều so những năm trước. Người dân ở phía trong đê bao thì bị chuột phá hoại mùa màng dẫn đến kém năng suất nên việc đón Tết cũng chật vật hơn.

Ông Huỳnh Văn Bé ở xã Phú Hiệp nói: “Chưa năm nào chuột phá như năm nay. Từ lúc sạ đến thu hoạch ông rất vất vả để bắt chuột bằng bẫy điện, thủ công nhưng cũng chỉ hạn chế được phần nào. Hai tháng đầu hầu như đêm nào cũng phải thức trắng để diệt chuột. Nếu không, chỉ cần một đêm là không còn gì để ăn”, ông Bé nói. Ông cho biết, trừ chi phí phân thuốc, giống và thuê đất đến thu hoạch may mắn huề vốn chứ không lỗ. “Ở đây, bây giờ ngày Tết cũng như ngày thường, ba bữa Tết nấu mâm cơm cúng ông bà, sang mùng 2 là bắt đầu đi ruộng rồi chứ không như trước ăn hết mùng mới thôi”, ông Bé nói.


Ông Trần Nam Á đang chăm sóc hoa kiểng đón Tết.

Cách nhà ông Bé một đoạn vài trăm mét, ông Trương Văn Được ở xứ Đồng Tháp Mười gần 40 năm, có 5 người con, sống bằng nghề làm thuê, không ruộng đất. Ông cho biết, trước đây vùng này cá tôm nhiều nên đến mùa lũ giăng câu lưới, còn sang những tháng khô đi làm thuê dễ sống. Vài năm nay, cá ít, lũ không về, người dân làm ruộng còn “èo uột” nên gia đình ông phải đi tứ tán ra Bình Thuận, TPHCM làm thuê. Sau thời gian cả gia đình đi làm thuê tích góp ít tiền về thuê đất nuôi cá lóc giống kiếm chút đỉnh tiền sửa sang nhà cửa và tiêu xài trong mấy ngày Tết.

Anh Trần Minh Tân, Phó bí thư xã Đoàn Phú Hiệp, người vừa được Trung ương Đoàn trao tặng danh hiệu Lương Định Của vào tháng 11 vừa qua, cho biết, người dân xứ này chủ yếu sống nhờ nghề nông, trong đó trồng kiệu chiếm gần 50%. Tuy nhiên, đời sống vẫn khó khăn do biến đổi khí hậu, được mùa mất giá. Anh kể, trước đây, mỗi năm, gần tết người dân kéo nhau đi thu hoạch kiệu. Ngoài ruộng kiệu có khi lên đến cả trăm người với tiếng nói cười vui vẻ và nhộn nhịp. Người dân có công ăn việc làm nên Tết đến cũng sung túc hơn. Giờ vẫn cách canh tác đó khó thể thay đổi cuộc sống nên chật vật lo mưu sinh từng bữa. Người có ruộng đã lo, người không ruộng đi làm thuê lo bội phần... 
http://www.tienphong.vn/xa-hoi/tet-o-xu-canh-dong-cho-ngap-1111751.tpo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu dấm ớt:

Bác Chinh
Ta chỉ có thể thanh toán những điều xấu của quá khứ bằng cách thẳng thắn lôi nó ra ánh sáng của hiện tại, để cùng nhau nhận diện nó, để vĩnh viễn không cho phép nó tái diễn. Mà quá khứ cách mạng của ta thì đã tích tụ quá nặng nề những di sản xấu ấy. - Trần Đức Thảo
Tưởng Năng Tiến: Tôi vừa được đọc một bài viết thú vị (“Kiêu Ngạo Nhận Vơ”) của blogger Hà Hiển, với câu kết khá bất ngờ: Từ năm 1954 đến 1975, đúng là “ta” đã chiến thắng được “hai đế quốc to” cùng với được hơn chục nước trên thế giới đã đi theo con đường mà Lê nin đã chọn, tức theo CNCS, từ đó các Cụ nhà mềnh thấy CNCS “oách” quá, cứ đà này cả thế giới gần 200 nước sẽ theo CNCS hết sạch, dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác Lê nin sẽ đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác rồi tiến lên giải phóng cả Hoa Kỳ, Ý, Đức, Anh, Pháp …abc… thoát khỏi ách bóc lột của CNTB … hu hu…!!!

Từ những nguyên nhân trên các Cụ lớn nhà mềnh mới sinh ra thói “Kiêu ngạo cộng sản” tuy không tốt nhưng có cái để …kiêu ngạo, nhưng các cụ nối ngôi sau này chẳng có cái gì lận lưng để mà “kiêu ngạo” cả. Chỉ là ăn theo thôi! Nên đúng là… “kiêu ngạo vì những cái không phải của mình” hay còn gọi là “kiêu ngạo cộng sản!”

Sau Cụ Trường Chinh, nếu có thì chỉ là “kiêu ngạo nhận vơ!” mà thôi!”


Nhận xét thượng dẫn về “Cụ Trường Chinh” khiến tôi chợt nhớ đến công trình biên soạn rất công phu (Bên Thắng Cuộc) của nhà báo Huy Đức. Tác giả đã dành nguyên một chương (chương 10, tập I) cho ông Trường Chinh, nhân vật được coi là đã đặt nền móng cho chính sách “đổi mới” và được mô tả như một vị thánh tử vì đạo:

Trong những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Trường Chinh đều đã có mặt: có khi là để lãnh đạo Việt Minh cướp chính quyền như hồi năm 1945, có khi đứng ra chịu trách nhiệm cá nhân về sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất năm 1956, và trong thập niên 1980 là tự thức tỉnh và dẫn dắt Đảng thoát ra khỏi sự bế tắc bởi chính những đường lối của mình.

Cách nhìn của những người ngoại đạo, hay đã bỏ đạo (cộng sản) lại hoàn toàn khác:

- Nguyễn Minh Cần:

Sau khi Lê Duẩn chết, Trường Chinh lên làm TBT. Ông vốn là một “lãnh tụ” nổi tiếng “giáo điều.” Ngay cái biệt hiệu của ông cũng nói lên đầu óc sùng bái họ Mao… Cũng trên cương vị TBTĐCSVN, hồi những năm 50, Trường Chinh đã lãnh đạo cuộc cải cách ruộng đất CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức (CĐTC) Ở NÔNG THÔN MIỀN Bắc rập khuôn theo hình mẫu trung quốc đã đem lại vô vàn tai hoạ cho nhân dân. (Nguyễn Minh Cần. Đảng Cộng Sản Việt Nam. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2016).

- Vũ Thư Hiên:

Về sau này, khoảng đầu thập niên 50, tôi tình cờ vớ được cuốn Chủ Nghĩa Mác Và Công Cuộc Phục Hưng Nền Văn Hóa Pháp (*) của Roger Garaudy. Ðọc xong tôi mới ngã ngửa ra rằng ông Trường Chinh đáng kính của tôi đã làm một bản sao tuyệt vời của cuốn này trong trước tác Chủ Nghĩa Mác và Vấn Ðề Văn Hóa Việt Nam, được ca tụng như một văn kiện có tính chất cương lĩnh. Bố cục cuốn sách gần như giữ nguyên, thậm chí Trường Chinh trích dẫn đúng những đoạn mà Roger Garaudy trích dẫn Mác, Engels, và cả Jean Fréville. 

Đó cũng là sự phát hiện đáng buồn của tôi về cuốn Trường Kỳ Kháng Chiến Nhất Ðịnh Thắng Lợi. Nó quá giống cuốn Trì Cửu Chiến Luận (Bàn về đánh lâu dài) của Mao Trạch-đông, trừ đoạn mở đầu rất đẹp, là một áng văn rất hay ... (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. 2sd ed. Westminster, CA: Văn Nghệ, 1997).

Riêng trong lãnh vực thi ca thì Trường Chinh không hoàn toàn không bị tai tiếng gì ráo trọi. Ông sáng tác mình ên, không “mượn” câu chữ nào – nửa chữ cũng không – bất kể là của Tây hoặc của Tầu. Thơ của Trường Chinh, với bút hiệu Sóng Hồng, chỉ có chút khuynh hướng (và hơi hướng) Mạc Tư Khoa thôi:

Hỡi thi sĩ! Hãy vươn mình đứng dậy!
Thời rượu nồng, đệm gấm đã qua rồi.
Thôi thôi đừng khóc gió với than mây,
Hãy nhịp bước trên con đường tiến bộ.
Dùng thi khúc mà lạnh lùng soi tỏ
Những bệnh căn xã hội đã tràn đầy;
Cùng công nông vun xới cuộc tương lai
Ðã chớm nở từ Liên-xô hùng vĩ.
(Ngoại thành Hà Nội, tháng 6-1942)

Hơn 40 năm sau, sau khi kêu gọi giới thi sĩ “cùng công nông vun sới cuộc tương lai,” đến năm 1986 (vào lúc cuối đời, chả hiểu sao) bỗng Anh Cả Trường Chinh đổi ý. Ông Tổng Bí Thư đến già mới chợt tỉnh, theo như cách nói của nhà báo Tống Văn Công:

“Hoàng Ước, thư ký của Trường Chinh bảo tôi là một hôm Trường Chinh nói với mấy người giúp việc rằng ta trả cho người lao động đồng lương bóc lột. Hoàng Ước bèn nói lương chúng tôi chỉ đủ sống mười ngày.

Trường Chinh cau mày khó tin – bóc lột thì có nhưng sao lại có thể ác nghiệt hơn cả đế quốc đến thế – nhưng hôm sau ông bảo Hoàng Ước: Tôi đã hỏi nhà tôi, nhà tôi nói không có chế độ cung cấp đặc biệt thì lương ông cũng chỉ đủ cho nhà này ăn mười ngày. Sau đó Trường Chinh đến nhà máy thuốc lá Thăng Long nói: Phải cứu giai cấp công nhân!” (Trần Đĩnh. Đèn Cù II. Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Tiếc rằng ông không “tỉnh” được lâu. Chỉ hai năm sau, năm 1988, Trường Chinh đột ngột từ trần. Thôi thế cũng xong. Cuối cùng, rồi ông cũng thoát. Thoát khỏi cái XHCN do chính ông đã dụng công xây đắp nhưng giai cấp công nhân thì không. Họ kẹt: kẹt lớn, kẹt lắm, và (chắc chắn) sẽ kẹt luôn – nếu chế độ hiện hành vẫn tiếp tục tồn tại.

Báo Vietnamnet, số ra ngày 9 tháng 3 năm 2015, ái ngại cho hay: “Lương tối thiểu mới đáp ứng hơn 1/3 nhu cầu tối thiểu.” Và đó là mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, chớ giới công nhân thì còn tệ hơn thế nữa!

Thế họ sống làm sao?

Thưa họ “ăn thịt mình để sống” – như nguyên văn lời của chuyên gia (PGS-TS Lê Bạch Mai) vào ngày 28 tháng 8 năm 2015:

“Những khảo sát của viện năm đó cho thấy chất lượng bữa ăn của công nhân không khác gì hai chữ “tồi tệ” khi trong khẩu phần ăn chỉ có 12% protein (chất đạm), 16% chất béo…

“Khi năng lượng khẩu phần ăn không đủ thì (cơ thể) phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ của mình. Khi đó khối cơ của người lao động bị bào mòn, bị lấy đi hằng ngày… và họ rơi vào thực trạng ‘như ăn thịt mình …’ Họ chưa chết đói. Nhưng sẽ đói đến lúc chết”.

Bản thân ông Trường Chinh (đôi khi) cũng đói, theo như lời của trưởng nam Đặng Xuân Kỳ – nguyên Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương:

“Ông cụ tôi ra ngoài không dám ăn uống bất cứ thứ gì. Họp Bộ chính trị với Trung ương cũng uống nước của nhà mang theo và nếu không về nhà ăn trưa được thì ông cụ nhịn.” (T. Đĩnh, trang 208).

Chung cuộc, may thay, ông Trường Chinh cũng đã cứu được chính mình. Ông qua đời vì tai nạn chứ không phải vì (.........) như rất nhiều đồng chí khác.

Nghĩa tử là nghĩa tận. Tôi đang không rảnh (lắm) và cũng chả thấy có chút hứng thú gì khi phải đụng chạm gì đến một người … đã chết. Vấn đề, chả qua, vì chẳng đặng đừng – như “lời trăng trối” của triết gia (ngoại đạo) Trần Đức Thảo:


Ta chỉ có thể thanh toán những điều xấu của quá khứ bằng cách thẳng thắn lôi nó ra ánh sáng của hiện tại, để cùng nhau nhận diện nó, để vĩnh viễn không cho phép nó tái diễn. Mà quá khứ cách mạng của ta thì đã tích tụ quá nặng nề những di sản xấu ấy.

Nạn cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Chúng ta khó mà có thể tái thiết đất nước và xây dựng một tương lai ổn định nếu không nhìn cho thật rõ về quá khứ.

Tưởng Năng Tiến

(*) Vì thấy nhà văn Vũ Thư Hiên đánh dấu hỏi (?) sau chú thích về cuốn sách của Roger Garaudy nên chúng tôi tìm hiểu thêm, và được biết tên chính xác của tác phẩm là Le communisme et la renaissance de la culture français –Paris, Éditions sociales, 1945 – chứ không phải là Le Marxisme et la Renaissance de la culture Français.

Trong cuốn Những Lời Trăng Trối (trang 309) Trần Đức Thảo cho biết là ông được giao trách nhiệm “dịch ngược” tác phẩm Đề Cương Văn Hoá Văn Nghệ Cách Mạng ra Pháp ngữ, và được chính Trường Chinh mời gặp để “bắt tay” cùng với lời cảm ơn.

(Đàn Chim Việt)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƯ GỬI ÔNG TÔ LÂM, BỘ TRƯỞNG CÔNG AN


Ông Tô Lâm, Bộ trưởng Công an. Ảnh báo Lao Động.

TS. Nguyễn Mạnh Hùng - GĐ Công ty Sách Thái Hà: Nay mình nghĩ thêm 1 ý tưởng nữa là MANG SÁCH VÀO NHÀ TÙ. Tù nhân cần đọc sách. Và mình đã ký công văn và đã gửi đến Bộ trưởng Bộ Công an - Thượng tướng Tô Lâm. Mình mong các cơ quan, các báo đài, những ai có quan hệ hay quyền lực giúp mình để thông điệp này được Bộ trưởng xem xét. Mình đăng nguyên văn công văn và cả bản scan công văn nữa ạ. Xin cám ơn rất rất nhiều ạ.... 

------------

Kính gửi: Đồng chí Thượng tướng Tô Lâm
Bộ trưởng Bộ Công an

Bằng văn bản này, xin được thành tâm cám ơn đồng chí và lãnh đạo Bộ Công an vì đã luôn hết mình lãnh đạo ngành công an bảo vệ sự bình an của đất nước. An toàn, an ninh và sự bình an là vô cùng quan trọng đối với Việt Nam của chúng ta.

Là người được mệnh danh là “Tiến sỹ văn hóa đọc”, trong gần 10 năm qua tôi đã hết mình vì VĂN HÓA ĐỌC và TRI THỨC của đất nước Việt Nam ta. Tôi là tác giả của TẾT SÁCH và đã triển khai suốt 9 năm qua rất thành công. Tôi cũng đã đưa ra ý tưởng “Ngày Hội Đọc Sách” và đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch tổ chức được 4 lần trong 4 năm liên tiếp tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Tôi cũng âm thầm tham gia tích cực và làm tất cả những gì có thể để Thủ tướng ra quyết định có ngày SÁCH VIỆT NAM.

Tôi cũng đã cùng với các doanh nhân và các nhà tri thức tâm huyết, các nhà tâm lý học bàn và muốn triển khai bền vững chương trình nói chuyện và giảng bài cho các tù nhân, đặc biệt là nhóm tù nhân mới nhập trại và nhóm sắp mãn hạn tù chuẩn bị quay lại cuộc sống đời thường. Tuy nhiên việc này gặp rất nhiều khó khăn từ các quy định của ngành công an. Chúng tôi vẫn đang tìm cách và hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo Bộ Công An.

Tôi luôn tâm niệm rằng tất cả chúng ta cùng nhau nghĩ cách để giúp các tù nhân cải tạo tốt nhất, tạo cho họ động lực để họ thay đổi. Chúng ta cùng nghĩ cách để giúp họ thấy rằng ai cũng có thể phạm tội, bởi tiếng Nga có câu tục ngữ “Át chua rơmư i at xum mưi nhe xtra khui et xa” tức là “Ai cũng có thể trở thành ăn mày và có thể bị giam tù”.

Tôi nghĩ rằng, chúng ta phải làm cho các tù nhân thấy rằng trên thế giới này luôn đầy ắp những cơ hội.Chúng ta cần quan tâm đến họ, cảm thông với họ, tìm cách để động viên họ.

Trên cơ sở các suy nghĩ này tôi đề xuất để các nhà tù có thư viện sách, hoặc ít nhất là các tủ sách. Chúng ta mang những cuốn sách tốt, thiện, lành, những cuốn sách đổi đời, thay đổi tư duy, những cuốn sách đạo đức, rồi sách hướng nghiệp đến với các tù nhân. Ngân sách sẽ một phần từ Bộ Công an, phần còn lại là xã hội hóa và kêu gọi các nhà hảo tâm trên cả nước.

Tôi nghiên cứu và thấy rằng, ở Brazil, chính quyền đã có chương trình ĐỌC ĐỂ HOÀN LƯƠNG. Ở đó, cứ mỗi lần đọc xong một cuốn sách, tù nhân được xóa 4 ngày án.Các tù nhân có một tháng đọc rồi viết bài thu hoạch chứng minh rằng mình hiểu những gì viết trong sách. Bài thu hoạch phải “sử dụng cách viết dễ hiểu và không sai văn phạm”. Tù nhân có thể chọn đọc tới 12 cuốn sách một năm. Có nghĩa là, họ có thể được giảm án đến 7 tuần. Và cứ 7 năm án thì họ được xóa 1 năm. 14 năm thì được xóa 2 năm. Đây là một cái cớ thiết thực để tù nhân ham thích đọc sách có cơ hội ra tù sớm. Trong lúc đọc sách, tù nhân biết được là ngoài song sắt là cả một cuộc sống khác đang chờ đón. Những gì từ sách giúp họ hiểu cuộc sống thật sự bên ngoài.

Từ trước đến nay tôi hay tập trung vào phát triển văn hóa đọc cho giới doanh nhân, trí thức, các doanh nghiệp, các cơ quan, các trường đại học tại thành phố. Bạn Nguyễn Quang Thạch thì tập trung phát triển sách cho nông thôn... Mỗi người một sứ mệnh và một nhóm đối tượng khác nhau và tất cả vẫn là vì văn hóa đọc. Nhưng tại sao không nghĩ đến và có kế hoạch “sách hóa nhà tù”.

Tôi rất muốn mang sách và văn hóa đọc vào nhà tù, để các tù nhân có thói quen đọc sách, thu thập thêm kiến thức, thay đổi đời và hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn tù, giúp họ nhận ra sai lầm và ngoài xã hội vẫn có rất nhiều người tốt và nhiều cơ hội.

Theo nghiên cứu, ở Brazil, người điều hành dự án tặng sách cho tù nhân chính là luật sư Andre Kehdi ở São Paulo. Ông cho biết: “Bằng cách này, tù nhân ra tù được khai sáng hơn, có cái nhìn về thế giới rộng lớn hơn. Và chắc chắn khi mãn hạn tù, họ sẽ là người tốt hơn.” Nhà báo Erwin James của tờ Guardian cho rằng việc làm này rất hiệu quả. Chính ông từng bị kết án tù chung thân vì tội mưu sát ở Anh. Đọc sách giúp ông chuyển hóa thành người nhân văn hơn và ông được ân xá sau 20 năm lĩnh án chung thân.

Trên tờ Guardian, ông viết: “Những cuốn sách tôi đọc trong tù không giúp tôi giảm án, nhưng chính những cuốn sách ấy đã giúp tôi trở thành bản thân mà tôi nên trở thành ngay từ đầu.” Những cuốn sách ấn tượng với ông lúc khởi đầu, không ngạc nhiên lắm, chính là những cuốn sách viết về người tù: Prisoners of Honour, Crime and Punishment, One day in the Life of Ivan Denisovich, Borstal Boy. Đó là những cuốn sách đem lại một tia sáng mới trong tình cảnh tối tăm lúc ấy. Đó là những cuốn sách giúp ông thấu hiểu hoàn cảnh và quan trọng hơn cả, hiểu quay đầu là bờ rất quan trọng. Những cuốn sách này hướng ông vào thế giới văn chương rộng mở hơn. Erwin James giờ đây đã viết hai cuốn sách bán chạy và hoạt động trong các hội thiện nguyện, cũng như trở thành cây viết cho tờ Guardian. Tất cả là nhờ vào việc ông đã đọc sách trong tù.

“Mục đích của việc cầm tù không phải chỉ là giam giữ người ta, không hiệu quả đâu. Mục đích phải là thay đổi hành vi con người mới đúng”. - Dave Trott “Một với một là ba.” Tôi kính mong đồng chí Bộ trưởng Bộ Công An dành tâm huyết chỉ đạo dự án này, để ý tưởng của tôi được hiện thực hóa, để cả xã hội cùng chung tay góp sức để có sách trong các nhà tù, để hướng dẫn tù nhân đọc sách và làm sao để có các chương trình huấn luyện, giao lưu, chia sẻ và cảm thông với tù nhân.

Công ty CP sách Thái Hà và cá nhân tôi rất mong nhận được ý kiến chỉ đạo của Đồng chí và lãnh đạo Bộ Công an. Chúng tôi thật sự tâm huyếtvà luôn hết lòng, toàn tâm làm mọi nhiệm vụ được giao.

Mọi thông tin, xin đồng chí và lãnh đạo Công an liên lạc trực tiếp với tôi về email hungnm@thaihabooks.com và chị Phạm Thị Thủy – Phó Tổng giám đốc về
090224 2422, email thuypt@thaihabooks.com.

Xin gửi đến Đồng chí lời chào trân trọng nhất và mong rằng chúng ta sẽ có những bước đột phá vào năm 2017 này.

CHỦ TỊCH HĐQT KIÊM TỔNG GIÁM ĐỐC
TS Nguyễn Mạnh Hùng


 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÃY TỈNH THỨC, BỞI DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC LÀ TRÊN HẾT



Luân Lê

HÃY TỈNH THỨC, 
BỞI DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC LÀ TRÊN HẾT

Điều đáng buồn nhất không phải nằm ở việc quan chức không có khí chất và thiếu cả phẩm chất, mà ngay cả người dân chúng ta cũng lại thờ ơ và hèn nhát để cho những thứ không ra gì diễn ra trước mắt mình. Có chăng đến khi mất nước họ mới sáng mắt và tỉnh thức? Nhưng lúc đó có còn kịp nữa không khi đã nằm trong gọng kìm của giặc?

Chúng ta còn nhớ, vào khoảng thời gian đánh chiếm Hoàng Sa vào những ngày tháng 01.1974 thì trước đó chính Mỹ và Trung Cộng đã từng thoả thuận với nhau rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào việc Mao Trạch Đông ra lệnh đánh chiếm Hoàng Sa, khi này còn nằm trong sự quản lý và kiểm soát của Việt Nam Cộng Hoà.

Thế nên, nếu đất nước chúng ta không mạnh và không có lập trường thì sẽ trở thành con bài của những nước lớn.

Mỹ họ có quan điểm rõ ràng và đặt lợi ích của đất nước họ lên hàng đầu. Khi trước họ có thể thoả thuận ngầm để đứng ngoài cuộc chiến mà Trung Cộng đã thực hiện với quần đảo Hoàng Sa của chúng ta để đổi lại nhiều lợi ích kinh tế mà Bắc Kinh thèm khát.

Và nay, khi Trung Cộng đe doạ đến lợi ích của Mỹ thì Mỹ lại quay sang làm hoà với Nga để cô lập Trung Quốc và sẵn sàng đánh gục Bắc Kinh nhằm giữ vững cương vị làm chủ thế giới.

Tuy nhiên, người Mỹ họ hành động có toan tính và cũng ngay thẳng, hứa là làm, làm thì đến nơi đến chốn. Nó khác biệt và ngược lại với sự thâm hiểm, tàn độc và bất chấp của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của Trung Hoa cho đến nay.

Nên chỉ khi chúng ta cường mạnh thì chúng ta mới được lựa chọn trong sự tôn trọng của quốc tế và đứng vững được trước các nguy cơ từ các âm mưu của các quốc gia khác.

Chẳng lẽ chỉ vì sát cạnh, chỉ vì chung chế độ bề ngoài mà cứ cầu cạnh và còn mời mọc nó đến làm ăn trên đất nước mình trong khi các quốc gia khác đang xua đuổi và cô lập chúng?

Đài Loan, Hồng Kông, Tây Tạng, Tân Cương đều muốn thoát Trung một cách mãnh liệt và bằng mọi biện pháp vì họ vừa hiểu sâu sắc bản chất Trung Quốc, lại vừa thấm thía những giá trị văn minh của Tây phương là như thế nào - bởi họ đã được tiếp cận và thừa hưởng chúng trong nhiều thập kỷ qua. Rồi ngay cả đất nước nhỏ bé nằm sát nách Trung Quốc là Bhutan, họ cũng tuyệt giao với Trung Quốc mà không hề giao du hay dính dáng bất cứ thứ gì tới đất nước này.

Vậy tại sao chúng ta còn mời đón chúng vào đầu tư để tàn phá đất nước và tận diệt dân tộc này?

Những bài học cả ngàn năm lịch sử phải chăng vẫn chưa đủ hiển hiện và lớn lao cho chúng ta sáng mắt mà cảnh giác và gìn giữ?

Trận chiến Biên giới năm 1979, trận đánh Gạc Ma năm 1988, và nhìn vào cách mà đảng cộng sản Trung Quốc đối xử với dân chúng của mình như sự kiện nghiền nát hàng nghìn người tại Thiên An Môn năm 1989 để thấy chúng dã tâm và tàn độc như thế nào. Mọi thứ vẫn còn chưa xa hiện tại là bao nhiêu.

Dân tộc và tổ quốc mới là giá trị vĩnh viễn. Chế độ hay đảng phái chỉ là nhóm người và nhất thời. Thế nên đừng để hậu quả cho cả thế hệ sau của dân tộc phải gánh chịu trong đau đớn và tủi nhục.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sân bay Tân Sơn Nhất “vỡ trận”: Có phải là sự bất ngờ hay đất nước vô chủ?



Nguyễn Đình Ấm



Sân golf cạn đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Nguồn: internet
Tình cảnh khốn cùng hiện nay của sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) đã được cảnh báo từ 10 năm trước
Xuất phát từ sự phân bổ diện tích đất đai ở TSN quá bất hợp lý sau năm 1975: ngành Hàng không dân dụng phát triển hai con số thì nhà nước khi đó chỉ cho quản lý, sử dụng 205 ha trong khi hàng không quân sự (QS) ít hoạt động, đội máy bay ngày ít chỉ lèo tèo vài chuyến/ tuần lại có sân bay quân sự Biên Hòa cách đó chỉ hơn 30 km thì lại được giao 545ha (400ha dùng chung).
Trong một sân bay hỗn hợp, sự phân chia chỉ là tương đối bất kỳ hoạt động bay nào cũng không thể giới hạn trong phạm vi riêng mà phải đồng nhất không gian, thời gian… Thế nhưng, bên phía quân sự lại coi phần đất được giao bất hợp lý kia như sở hữu của mình, dẫn đến sử dụng không đúng mục đích, kìm hãm sự phát triển của hàng không dân dụng. Bởi vậy, từ năm 2007 TSN bắt đầu đã thiếu chỗ đỗ máy bay chở khách, hàng không TSN, các hãng HK đã phải thuê diện tích, sân đỗ nhàn rỗi bên quân sự để sử dụng.
Trước tình hình này ngành HKVN đã đề nghị và cuối năm 2007 được thủ tướng chính phủ cho phép quy hoạch sang phía QS 30 ha để làm 30 sân đỗ nhưng không được phía QS “thỏa thuận”. Từ đó TSN ngày càng thiếu sân đỗ trầm trọng không thể tính hết những chuyến bay đến TSN phải bay vòng vèo trên không chờ chỗ đỗ gây uy hiếp an toàn, tốn nhiên liệu, hao mòn thiết bị vô ích và ô nhiễm môi trường. Cũng chưa biết có bao nhiễu hãng HK nước ngoài đã rời bỏ hoặc bỏ ý định đặt điểm quá cảnh ở TSN để chọn địa điểm khác thuận tiện hơn.
Trong khi không có đất làm sân đỗ thì chúng tôi được người ở sân bay TSN thông báo người ta âm thầm hối hả thi công sân golf, nhà cửa la liệt trong sân bay rồi có tin thủ tướng chính phủ cho phép đại gia quân đội dùng 157, 6 ha đất sân bay làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, chung cư kinh doanh. Khi các thông tin này “rò rỉ” suốt từ những năm 2013, 2014 dư luận báo chí, các nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức nhất là dịp quốc hội, hội đồng nhân dân TP HCM họp nhiều đại biểu chất vấn gay gắt tại sao lại có sân golf trong sân bay, tại sao không có đất mở rộng sân bay phục vụ quốc kế, dân sinh lại có đất đất an ninh quốc phòng của nhà nước cho cá nhân sử dụng vào lợi ích riêng…thì chỉ nhận được câu trả lời của chủ đầu tư, thủ tướng chính phủ: “Khi nào nhà nước cần sử dụng đất (157, 6ha)thì chủ đầu tư trả lại mà nhà nước không phải bồi thường”, còn nguyên bộ trưởng giao thông Đinh La Thăng khi bị đại biểu quốc hội chất vấn thì: “đại biểu chất vấn nhầm rồi, sân golf là bên quân sự. . ”. Thời gian làm bộ trưởng GTVT, ông chỉ quan tâm “rùm beng” những việc như giá tô mì tôm ở sân bay, xây nhà chứa xe ở TSN “mang lại lợi ích kếch xù cho chủ đầu tư”… còn những chuyện liên quan đến an ninh, an toàn hàng không, phá hoại kinh tế trong nước như hàng xách tay lậu kìn kìn qua các cửa khẩu sân bay, đặc biệt sự quá tải sân đỗ ở TSN kìm hãm sự phát triển của ngành HKVN thì không được quan tâm đúng mức.
Như vậy là việc quá tải ở TSN đã được báo trước liên tục từ 10 năm qua chứ không phải như ông P. thủ tướng Trịnh Đình Dũng nói hôm 10/1/2017 tại hội nghị bàn về giải cứu TSN: “Có tình trạng trên là do quy hoạch cảng HK so với kinh tế còn lạc hậu, dự báo không chính xác tăng trưởng nên dẫn đến quá tải”.
Một đất nước vô chủ?
Trong hoạt đông kinh tế, khi đã có thị trường thì việc huy động vốn, tổ chức sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường kiếm lợi ích không thành vấn đề. Có thể khẳng định tất cả các sân bay trên thế giới và VN bao giờ cũng phải xây dựng hạ tầng trước để kích thích, nuôi dưỡng thị trường chịu lỗ nhiều năm. Thế nhưng ở TSN thì ngược lại, dịp tết Đinh Dậu tới đây các hãng HKVN trù liệu thị trường hành khách tăng khoảng hơn 2. 000 chuyến bay và xin nhà chức trách cấp phép bay. Đây là cơ hội “vàng” kinh doanh không chỉ các hãng HK mà cả sân bay, doanh nghiệp không lưu, nhà nước, hành khách có lợi… Thế nhưng các hãng HK chỉ được đáp ứng một nửa yêu cầu lý do duy nhất là sân bay TSN quá tải sân đỗ. Người lương thiện và có chút lòng với đất nước không thể chấp nhận sân bay TSN quá tải loại hạ tầng này. .
Với một sân bay thì suất đầu tư tốn kém nhất là đường băng, nhà ga, các trang thiết bị vận hành nhà ga, không lưu…Những công trình, trang thiết bị này cần vốn đầu tư hàng tỷ USD, vật tư chủ yếu nhập ngoại bằng đô la, Euro do phần lớn VN chưa sản xuất được. Vì vậy những hạ tầng trang, thiết bị này chiếm khoảng hơn 70-90% tài sản của sân bay (không kể đất).
Riêng các sân đỗ máy bay, đường lăn chỉ là những bãi đất được rải lớp bê tông cường độ cao, thoát nước, có các móc néo để cố định máy bay khi đỗ. Như vậy chỉ cần vài chục ha, khoản tiền tương đương vài km làm đường bộ cao tốc và đội xây dựng đường sá thi công là có thể có ngay những bãi đỗ, đường lăn máy bay. Tất nhiên phải thiết kế các sân đỗ hợp lý về khoảng cách, hài hòa với đường lăn để bảo đảm máy bay ra, vào thuận lợi, an toàn.
Thế nhưng chuyện quá tải sân đỗ-công trình rất dễ xây dựng, tốn kém không đáng kể (so với sân bay) ở sân bay lớn nhất VN xẩy ra từ năm 2007, ngành HKVN đã đề nghị với chính phủ giải quyết nhưng phía quân sự không “thỏa thuận” mà những người có trách nhiệm cứ “giương mắt ếch” (lời nhiều CBNV ngành HKVN) để tình cảnh này cứ diễn ra trong mười năm qua đến nay cản trở nghiêm trọng hoạt động của TSN.
Điều đáng nói là hoạt động máy bay quân sự ở TSN rất ít và bất hợp lý. Máy bay quân sự không có tiêu chuẩn môi trường, tiếng ồn, chất thải độc hại gấp chục lần máy bay dân dụng, sân golf mỗi năm thải vào môi trường hàng trăm tấn chất độc lại để trong thành phố đông dân cư… Người HKDD có cảm giác, việc người ta duy trì lèo tèo một số chuyến bay quân sự ở đây mà không đưa về sân bay quân sự Biên Hòa gần đó (cũng rất ít hoạt động) là một “chiến lược giữ đất” TSN mà thôi.
Đất sân bay TSN là của nhà nước, việc 10 năm qua để sân bay quá tải vì không có những bãi trống rải bê tông trong khi có đất làm sân golf, nhà hàng, khách sạn…phục vụ cá nhân phải chăng là một đất nước vô chủ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang