Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

PHẠM ĐỨC một đời lận đận


Ngoài chiếc xe máy còng cọc, coi như “con trâu sắt” làm công cụ cho nhà thơ đi lại, thì nhà thơ tậu được cả một “đàn trâu đất” để thưởng ngoạn. Nói một cách hài hước, việc đầu tiên trong đời một trang nam tử như ông là tậu được hơn 200 con trâu, làm từ các chất liệu khác nhau. Có lần ông tâm sự rằng, thơ và đàn trâu đã an ủi và vỗ về tâm hồn ông trong những đêm cô đơn nhất. Ông tuổi gà (sinh năm 1945-Ất Dậu) nhưng lại có thú sưu tầm các con trâu do các nghệ nhân làm từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Nghĩa là đã 25 năm nay. Trong quãng đời lang thang cơ nhỡ, ông đều mang chúng theo và được chăm nom cẩn thận.



PHẠM ĐỨC MỘT ĐỜI LẬN ĐẬN

VƯƠNG TÂM

Nếu tính từ bài thơ in đầu tiên ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1964 đến nay, nhà thơ Phạm Đức đã trải qua hơn nửa thế kỷ với sự nghiệp văn chương. Trái tim nhân hậu của nhà thơ luôn luôn “Giật mình”, ấm áp lan tỏa làm lay động tâm hồn người đọc. Cho dù chẳng một lời than vãn, nhưng cuộc đời ông quả long đong, vất vả mọi bề..

Chuyện vợ con
Các cụ xưa đã nói: “Tậu trâu cưới vợ làm nhà/ Trong ba thứ ấy thật là khó thay”, thì cả ba thứ ấy nhà thơ đều quay cuồng lo toan mà không xong. Trước hết, nói đến chuyện lấy vợ, làm nhà của ông thật lắm nỗi truân chuyên. Đến thăm ông tại ngôi nhà xi măng cất tạm bên sông Bùi, cách Hà Nội chừng 30 cây số, tôi thấy ông còn chưa hết bàng hoàng khi kể lại chuyện cả chục lần đi mướn nhà ở thuê, từ khi về hưu đến nay.
Thực ra ông đã từng có căn hộ để ở trong thời gian còn đương chức. Đầu tiên là ở khu tập thể Bạch Mai, nơi vợ làm việc được phân đúng 9 mét vuông, khi ông chuyển ngành ra quân năm 1975. Ròng rã 14 năm chung sống với vợ con (1973-1987) đã xảy ra lắm nỗi éo le. 
Rồi chia tay. Sau đó vợ ông đi xuất khẩu lao động bên Đức. Ông ngậm ngùi tự trách mình không bảo vệ được gia đình và hạnh phúc. Từ đó một chốn đôi nơi, ông cùng cậu con trai xin ở căn nhà tập thể của Trung ương Đoàn, nơi ông làm việc tại Nhà xuất bản Thanh Niên. Khi ấy nhà thơ đã bước sang tuổi 42.
Ấy thế rồi, mấy năm sau, cuộc tình mới ập đến. Đó là một nàng thơ cùng làm việc với ông. Nàng cũng đã qua một lần đò. Họ đã thêm một lần lên xe hoa năm 1990. Cả hai cùng bươn chải buôn bán thêm ở một cửa hàng sách ở phố Trần Hưng Đạo để kiếm kế mưu sinh. Một thời kỳ đổi mới về kinh tế đã mở ra, cuộc sống gia đình ngỡ như sẽ hạnh phúc lắm sau khi cả hai đã cùng một lần đổ vỡ. Vậy mà sau 6 năm chung sống, họ lại phải chia tay. Và cũng từ đó mà ông càng gặp nhiều rắc rối về nơi ở cho riêng mình.

Chuyện nhà cửa
Nhà thơ bặm môi nhớ lại sự kiện đã xảy ra như bị ma ám với mình về ngôi nhà được cơ quan phân, ở tầng 4 khu tập thể Vĩnh Phúc, quận Ba Đình. Vào năm 2004, ông đã bán ngôi nhà này để đến ở với một bà cô già yếu neo đơn trong họ tộc, với cam kết sau này sẽ được thừa kế tài sản, nhà cửa của họ. Nhưng với điều kiện nhà thơ nộp nửa số tiền đã bán nhà ở khu tập thể (khoảng 200 triệu đồng) thích ứng với diện tích nhỏ và giá cả vào năm đó. Số tiền còn lại nhà thơ chia đều cho các con và những người thân trong gia đình họ hàng. 
Vậy mà sự đời trớ trêu, sau bốn năm, thời cuộc thay đổi, giá đất tăng vọt. Lòng người cũng đầy toan tính. Hợp đồng thỏa thuận miệng trước kia vô bằng cớ, chẳng ai biết đấy là đâu. Họ đồng ý trả lại tiền mà nhà thơ đã chuyển cho họ trước đó. Một cuộc đời lang thang cơ nhỡ bắt đầu từ đó. 
Khoản tiền dành dụm được, ông mua một dúm đất ở phố Bùi Xương Trạch (Thanh Xuân - Hà Nội) lại bị vào diện quy hoạch, bị giải tỏa. Tiền mất tật mang. Phạm Đức đi thuê nhà ở lang thang đây đó từ năm 2007. Giá cả thuê nhà tăng hàng năm. Nhà thơ phải dọn nhà liên tục. Nhà thơ như bị quay cuồng với tốc độ giá cả trong muôn mặt thị trường. 
Một lần, chủ nhà đòi tăng giá, nếu không chịu được thì phải dọn đi ngay tức khắc. Nhà thơ Phạm Đức bồn chồn như phải bỏng vậy. Biết dọn đi đâu và thuê nhà sao cho kịp ngày mai. Thời gian lại đúng vào dịp Tết năm 2013. Vậy là nhà thơ gọi điện thoại đi khắp nơi, hỏi xem ai biết chỉ giùm nơi có thể thuê để ở trong mấy ngày Tết, rồi tính sau.
Một cái Tết bơ vơ chộn rộn. Tâm hồn thi sĩ bị đầy đọa khốn đốn tận cùng… May sao, có một cuộc gọi điện trong đêm của một người bạn trẻ, nhà điêu khắc Hà Huy Hiệp, ở tận xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Nhà thơ được báo là đã có chỗ ở, không phải thuê nhà nữa… Phạm Đức bồi hồi nhớ lại rồi chỉ lên nóc nhà nói, đây là ngôi nhà nơi mà chúng ta đang ngồi, do một tay họa sĩ Hiệp làm trong ba tháng mới hoàn thành. 
Còn những ngày cuối năm đó, nhà thơ Phạm Đức đã ăn Tết nhờ tại một ngôi nhà bỏ trống của nhà văn Trịnh Văn Túc (hội viên Hội Nhà văn Hà Nội), ở bên cạnh. Lại thêm một cái Tết tha hương của nhà thơ Phạm Đức nhưng ấm áp tình người nghệ sĩ. Chính vì thế mà thơ của Phạm Đức, từ khi uống nước xóm Đồng Dâu, tắm nước sông Bùi, có phần lãng mạn và say đắm hơn thời “Đơn phương”. 
Trong bài “Ru” nhà thơ viết: “Ru người bằng cả ngân hà/ Khi buồn người ngắm sao xa một dòng/ Ru người lạch suối đầu sông/ Khi sầu người ngả vào trong trẻo nguồn!...” (tập thơ “Trái tim phản biện”). Và, con sông Bùi gắn bó với nhà thơ Phạm Đức đã bốn cái Tết trôi qua. Hình ảnh con sông đã đi vào thơ ông với những nỗi niềm thân thương: “Lại thêm một dòng sông/ Đổ vào tôi muôn nỗi/ Nỗi dịu dàng, êm ả/ Nỗi cuồn cuộn biển Đông…” (Sông Bùi 2).

Chuyện “tậu trâu”
Ngoài chiếc xe máy còng cọc, coi như “con trâu sắt” làm công cụ cho nhà thơ đi lại, thì nhà thơ tậu được cả một “đàn trâu đất” để thưởng ngoạn. Nói một cách hài hước, việc đầu tiên trong đời một trang nam tử như ông là tậu được hơn 200 con trâu, làm từ các chất liệu khác nhau. 
Có lần ông tâm sự rằng, thơ và đàn trâu đã an ủi và vỗ về tâm hồn ông trong những đêm cô đơn nhất. Ông tuổi gà (sinh năm 1945-Ất Dậu) nhưng lại có thú sưu tầm các con trâu do các nghệ nhân làm từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Nghĩa là đã 25 năm nay. Trong quãng đời lang thang cơ nhỡ, ông đều mang chúng theo và được chăm nom cẩn thận.
Mỗi con trâu là một câu chuyện và kỷ niệm đáng yêu trong cuộc đời. Ông đã mang cả đàn trâu về bày quanh ngôi nhà sông Bùi. Có lần bị mưa lũ, nước dâng lên tràn vào nhà, ông vội vã từ xa trở về lội bì bõm trong gió mưa và nước ngập đến ngang lưng để “cứu” lấy đàn trâu của mình. Đó chính là những đứa con tinh thần cuối cùng đã an ủi ông, mỗi khi cô quạnh. 
Ông rưng rưng ngắm một con trâu đất rồi đọc: “Sau những chuyến chuyển nhà gấp gáp/ Tới nơi này, sang nơi khác/ Có mấy con trâu gãy sừng/ Trong lòng tôi một nỗi đau nhọn hoắt/ Như sừng trâu/ Không ai nhìn thấy/ Vết thương rỉ máu/ Ứa như lệ già” (Sừng trâu). Một cơn sóng chợt ập đến trên sông Bùi. Nhà thơ đứng lặng nghe âm thanh vỗ ì oạp vỗ trên bãi cỏ xanh non. 

“Đèn đỏ”
Nhà thơ Phạm Đức từ lâu đã nổi tiếng với những bài thơ tình như “Đơn phương”, “Ví dầu”, “Thì anh lại sợ”… Những người yêu thơ đều nhớ đến những câu: “Gần nhau mà chẳng yêu cùng/ Đơn phương tôi cứ thủy chung một mình”. Vậy mà, trong tập thơ mới “Trái tim phản biện” (NXB Hội Nhà văn, 2016), tôi nghe như ông đã có những trăn trở bất ngờ, qua những tháng ngày lận đận. 
Nhà thơ viết: “Ngón tay đã buông/ Gót chân đã ngoắt/ Mái đầu không ngoảnh lại/ Trái tim còn cãi/ Sao lại thành lối rẽ?/ Sao lại là cắt chia?...”. Đó chính là nỗi niềm lắng sâu khi: “Nhịp trái tim phản biện/ Cay đắng và âm thầm/ Mặc bàn tay nhạt nhẽo/ Mặc bước chân ơ thờ…” (bài “Trái tim phản biện”). Có lẽ nơi ngọn nguồn cảm xúc từ con sông Bùi đã khơi thêm cho Phạm Đức một mạch thơ mới, mạnh mẽ hơn và bật lên những cung bậc ghồ ghề hơn trước, tạo nên mỹ cảm nơi góc cạnh tâm hồn.
Tôi bỗng giở tới trang 84 của tập thơ, dừng lại với bài “Đèn đỏ” và giật mình với những câu thơ: “Trên đường lòng/ Tự tôi/ Đôi khi/ Bật/ Đèn đỏ/ Để/ Thanh thản/ Dừng”. Đã có một Phạm Đức khác trong thơ. Tôi chia tay sông Bùi với hình ảnh của một ông đồ tư lự với chiếc cần câu trên con thuyền độc mộc. Nhà thơ ngâm nga rằng: “Như là tình ái/ Như là cổ xưa/ Một chiều bất chợt/ Như vừa hôm qua” (Một chiều). Đó chính là tín hiệu đèn đỏ đã bật lên để nhà thơ dừng lại chờ rẽ sang một con đường mới.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một tấm lòng văn chương đáng kính trọng


Cuối tuần, sẵn dịp cuối năm, đọc lại và nghĩ lại công trình "Thơ bạn thơ", mà càng thấy nể vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy- Lý Phương Liên! "Thơ bạn thơ" là ý tưởng của Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên, khởi động từ năm 2012, và có bốn người đánh trống ghi tên ủng hộ là Thanh Tùng, Lê Xuân Đố, Nguyễn Thái Sơn và... tôi! Ban đầu chỉ nghĩ làm một cuốn góp vui với đời, ai dè gần 5 năm qua, phu xướng Nguyễn Nguyên Bảy và phụ tùy Lý Phương Liên ra mắt liên tục 6 cuốn "Thơ bạn thơ", 2 cuốn "Văn bạn văn", 2 cuốn "Vườn thơ 5 nhà"....  5 năm qua, vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên cống hiến như một địa chỉ văn học uy tín, trong sáng và chuyên nghiệp!


MỘT TẤM LÒNG VĂN CHƯƠNG ĐÁNG KÍNH TRỌNG!

Ở nước ta, người có tiền bạc thong thả, không ít. Ở nước ta, người có tình yêu văn chương, cũng không ít. Thế nhưng, người hội đủ cả hai thứ ấy lại quá hiếm hoi. Vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy- Lý Phương Liên là trường hợp đặc biệt. Họ bỏ của, bỏ công để biên soạn những hợp tuyển văn chương cho thiên hạ, một cách tâm huyết và vô tư. Sách in xong, chỉ phát hành theo hình thức quà tặng, chứ không bán một cuốn nào!

                        


Tôi suốt bao nhiêu năm trước khi lấy vợ, trưa nào chán cơm bụi cũng có thể tuỳ hứng ghé tạt vào tổ ấm của Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên ở Sài Gòn, để... ăn ké. Thế nhưng, tôi không hề ái ngại chuyện "người nhà khen nhau", mà nói rằng: 5 năm qua, vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy - Lý Phương Liên cống hiến như một địa chỉ văn học uy tín, trong sáng và chuyên nghiệp!

                                        


 Thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy mùa xuân Đinh Dậu này, đã chạm mốc 77 tuổi, nhưng không chỉ trẻ trung về dung mạo, hai tập văn ngắn "Chém gió muôn màu" của ông rất sinh động. "Chém gió muôn màu 2" hay hơn "Chém gió muôn màu 1", vừa có sự nhạy bén của một người quan sát vừa có sự tinh tế của một người trải nghiệm!


                             LÊ THIẾU NHƠN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHUYỆN LẠ MÙA THU - truyện ngắn:

H.G

Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh mùa thu buồn?


- Cứ đi thẳng vào trong cái hẻm ấy, may còn chỗ cho thuê trọ! - Gã xe ôm nói nhõn một câu sau khi nhận tiền xe, rồi vội vàng đi ngay. Miệng nói, nhưng mắt cứ đảo liên tục, dớn dác tìm xem có khách mới tìm đi xe không? Mồ hôi dầu lấm tấm trên mặt, bụi và gió làm nhòe nét mặt, nên không biết gã bao nhiêu tuổi?
Ông Thành không lạ chỗ này. Hình như ngày xưa nó là cánh đồng rau thì phải. Con mương tưới nước cho cánh đồng Phú Diễn bây giờ thành lối thoát nước của khu dân cư mới hình thành. Nước đen như pha mực tàu, bốc lên mùi nồng nồng, chua chua, thum thủm. Nắng hạn đã lâu, vậy mà nước lai láng mặt đường, có chỗ đọng thành vũng. Khỏi phải nói, nếu trời mưa cả khu vực sẽ biến thành dòng sông là cái chắc.
Thành phố phình lên, phát triển vội vàng, tạm bợ, cảnh tượng cứ như vừa qua một trận động đất, mới tạm thu dọn qua loa.
Hai bố con vào sâu trong ngõ. Chỗ nào cũng nói: “ Hết chỗ rồi, ai bảo đến chậm?”. Rẽ sang một ngõ khác, bên cạnh một công trường xây dựng, biển đề “ Nhà máy chế biến thức ăn gia súc”. Ông Thành lẩm bẩm:” Thiếu gì chỗ mà lại dựng nhà máy thức ăn gia súc ngay nội đô như thế này?”. Gần chỗ ông ở cũng có một nhà máy y hệt thế. Rác thải của nó chất cao như quả đồi. Nước bẩn từ khu sản xuất chảy ra đen xì một quãng sông. Những nhà ở gần đó trồng rau cũng không mọc được vì nước thải ngấm vào đất. Không thể nuôi nổi con gì. Chó mèo mang về vài hôm là lăn cổ ra chết. Có chăng chỉ muỗi và con người còn sống được.
Người ở xung quanh nhà máy da cứ bợt đi như đói ăn, ẩm thấp lâu ngày, ô nhiễm nặng, ăn gì cho lại? Một chỗ ở gần nơi như thế, xem ra tìm một chỗ thuê trọ cũng không dễ. Nhà nào cũng lèn đủ số có thể cho sinh viên trọ. Các loại “thợ” từ các tỉnh về, người đi chợ, thu mua phế liệu, cả những ả cave váy cũn cỡn, mặt nhoe nhoét phấn. Một khung cảnh méo mó, xộc xệch, bệ rạc không sao nhớ nổi.
Đang đi, một ả chặn ngang đường:
- Bác đang muốn tìm nhà trọ?
- Vâng, cô biết chỗ nào làm ơn chỉ cho tôi, cảm ơn quá..
- Vậy bác đi theo cháu..
Hai bố con lưỡng lự một chút rồi đi theo. Dãy nhà trọ từ xa giống như kiểu nhà chuồng gà, từng ngăn, từng ngăn một, giống hệt nhau, cất ngay bên dòng mương. Có lẽ để đỡ nhìn thấy dòng nước hôi hám nên tất cả các phòng đều xoay lưng lại, tựa vào hàng dừa lá xanh thẫm. Dừa là giống cây ưa gần thứ nước bẩn và mặn này, lá cứ xanh thẫm lên, nom ám muội ra làm sao đâu! Đi được một quãng, vẻ nhấp nhởi từ hai cô gái lạ biến mất. Có cái gì quen quen như.. “những người cùng làng”. Giọng một cô chùng xuống:
- Trọ ở đây vô giá lắm bác ạ. Triệu rưỡi tháng, một phòng. Năm mười triệu cũng có. Sinh viên tỉnh lẻ về, bác chọn chỗ này là chính xác đấy!
Hôm qua một người quen dẫn hai bố con sang phố bên. Hỏi giá, người ta đòi tháng mười lăm triệu! Thế mà vẫn có khách thuê. Gặp thằng cháu họ, nó mừng quýnh, đưa vào phòng nó vừa thuê tháng trước. Phòng nó có điều hòa nhiệt độ, ti vi, tủ lạnh, chỗ nấu ăn, tắm nóng lạnh.. Hỏi giá bao nhiêu một tháng, nó bảo “ Hai mươi chai, có bếp ga nhưng cháu toàn ăn cơm hàng, ngại nấu nướng..”. Nó rủ thằng con ông ở chung với nó, ở một mình “chán như con gián”, ấy là nói theo cách của nó! Ông hiểu ngay ý nó muốn gì? Thằng con ông ở đây khác gì thằng đầy tớ cho nó? Quyét dọn, giặt quần áo cho nó đã đành, không đấm lưng, xoa bóp cho nó mới là lạ? Có thể thằng con ông không ngại những việc đó, nhưng ông ngại. Ông từng nghe nói về thằng này. Có lần bố nó về quê than về nó. “Sướng thế đấy nhưng học hành có ra gì đâu? Suốt ngày gái gú, bài bạc, nghe nói dính dáng cả đến ma túy nữa”. Gần mực thì đen. Nó bảo nó cho ở không, tiền trọ nó trả, ông cũng không dám nhận lời, đành nói lảng :
- Chú có chỗ rồi, sang đây thăm anh ăn ở thế nào thôi, để anh em biết chỗ của nhau, khi cần thì qua lại.
-Vâng, nếu có chỗ rồi thì thôi, cũng không sao – Miệng nó nói vậy, mắt nhìn nghiêng nghiêng ra điều hiểu trong bụng ông đang nghĩ gì, chẹp miệng, quay vào.
Con ông nói nhỏ vào tai bố, khi ra đến ngoài đường:
- Bằng thu nhập cả năm của nhà mình bố ạ!
- Chuyện, cả bố lẫn mẹ nó đều là giám đốc, cỡ quan tỉnh, nhà nó thiếu gì tiền? Nếu nó học được như mày, bố nó cho du học bên Hoa Kỳ rồi. Mang tiếng là đi học nó ít khi đến lớp. Nó thuê hẳn một thằng hàng ngày đến trường học thay nó.. Mày bì với nó thế nào được!
Ông không ngờ thằng con ông nói:
- Nó không bì được với con thì có. Sướng thế chứ sướng nữa, cũng chẳng giá trị gì. Nhìn cái mã nó là con biết học hành chẳng ra gì! Học không cầu kiến thức thì đi học để làm gì? Khổ cho bố mẹ, không có ích cho mình, không ích cho ai. Bố mẹ hết thời dựa vào đâu? Dù cho có của ăn hết đời sau, sống thế con cũng không ham!
Ông mừng nở từng khúc ruột, ra nó cũng biết nghĩ, vậy mà ông cứ lo.. Nhưng vẫn bảo:
- Anh đừng có chủ quan! – Miệng nói thế, nhưng ông thấy mắt lại cứ cay cay, cũng là con người cả! Con người ta thì chẳng thiếu thứ gì. Con mình đến chỗ ở cũng phải hà tiện, nói gì cái ăn cái mặc? “Thôi thì cố lên con nhé!” như người ta nói.. Thấy tủi thân, không biết đang giận cái gì? Bố cái thằng này ngày xưa cùng học với mình ở trường BK. Nếu không được chiếu cố diện gia đình chính sách, chắc chẳng thể nào tốt nghiệp. Cái thằng chân tay to, đầu óc đơn giản, trán ngắn, mặt vành ra hai bên như cái bánh đúc méo thế mà có số sướng, con nó bây giờ lại sướng hơn con mình..
Mới nghĩ đến đấy, đã đến nơi. Cô gái đã mở phòng, mời hai bố con vào. Cô rót cho mỗi người một cốc nước lọc, nói như phân trần:
- Bác đừng đánh giá chúng cháu nhé. Chẳng qua chúng cháu cũng cũng vì hoàn cảnh. Bác là nhà báo cháu biết không giấu bác được. Ở đời ai chẳng muốn đẹp muốn giòn? Ai muốn thế này đâu ạ?
- Sao cô biết tôi làm báo?
- Hôm vừa rồi cháu thấy bác trên ti vi nhận giải thưởng báo chí. Gặp là cháu nhận ra ngay, hóa ra bác là đồng hương, chỉ khác huyện..Chỉ xin bác đừng viết gì về chuyện gặp cháu ở đây, bác nhé!
- Chuyện ấy cô đừng lo. Báo chí nước mình chỉ nói cái hay cái đẹp. Nói điều phức tạp làm gì? Thôi bỏ qua chuyện đó, cô bảo có chỗ cho trọ, chả nhẽ chỗ này ư?
- Không sao đâu bác ạ? Chỗ này gần trường, em nó lại không có xe máy, chẳng tiện sao? Hai chị em cháu ban đêm bận “đi làm”, chỉ ở nhà ban ngày. Em nó thì ngược lại, tuy là ở chung, nhưng không cùng nhau.. Nếu bác thuê riêng một phòng hơi cao tiền.. Hay là cứ tạm như thế đã, nếu em rủ thêm được bạn tìm thuê phòng chung nhau sau cũng được..
Ông Thành biết cũng không còn cách nào khác. Đêm hôm qua hai bố con phải thuê tạm một phòng, vừa tối vừa chật mà phải trả ba trăm ngàn một ngày một đêm. Nếu thuê cả tháng tiền đâu cho xuể ? Lương của hai vợ chồng có lẽ chỉ đủ thuê phòng cho con.. Còn bao nhiêu khoản khác lấy ở đâu? Ông đành chép miệng:
- Chú có việc phải về gấp, thôi có gì hai chị giúp đỡ em, rồi chú sẽ tính sau.. Bây giờ trưa rồi, ta tìm chỗ nào ăn cái đã..
Thằng con không nói gì, nó lúng túng, mặt cứ đỏ lên như bị sơn ăn mặt. Nó biết “Khổ học” là như thế nào về sau càng tốt chứ sao? Ông nghĩ trong bụng như vậy..
**
Ông Thành, bố nó về sau bữa ăn cực kỳ tốn kém đối với nó. Hai con bé đồng hương đòi trả tiền, ông không nghe. Có bốn người, ăn uống chả có gì nhiều, hết gần nửa triệu bạc.
Nó nhớ lại hồi cuối năm, đi Tam Đảo về, bố nó kể rất hài hước; “Mùa này trên đó vắng khách lắm, hàng nào cũng có người chổng mông mài dao, vớ được “quý khách” nào chém cho bằng chết..” Ở Hà Nội nó không thấy ai mài dao, mà chặt chém cũng ghê phết, có kém gì đâu? Chả khác nào lỗ đen, bao nhiêu tinh tú nó đều nuốt chửng hết. Không biết mình sống, ăn ở thế nào đây? Con bé già tuổi hơn, người gày, tóc ngắn là đứa thạo. Nhìn vẻ ưu sầu của nó như đoán được, bảo:
- Bọn chị muốn đưa bác đến chỗ “ngon lành cành đào” đãi cho cụ một bữa, chứ ăn hàng ngày tiền đâu đến chỗ ấy? Có chỗ gần nơi bọn mình ở, ăn rất rẻ, chỉ tội không được ngon, cậu có chịu không?
Nó thành thực:
- Em ở nhà quê, ăn uống thế nào cốt xong bữa. Các chị ăn được, chắc em không dám chê..
Thế mà đến chiều, phải cố lắm nó mới khỏi buồn nôn khi và miếng đầu tiên vào miệng. Cơm sống, cơm nát lẫn lộn. Còn thịt không biết gồm những thứ thịt gì, vừa hôi vừa chua rất khó tả, cứ nhơn nhớt như vừa vớt ở dưới ao lên. ( Sau này nó mới biết đó là những thức ăn thừa ở các khách sạn, nhà hàng được thầu về đây bán cho học sinh, sinh viên, người lao động vãng lai ). Còn canh thì khỏi nói, nom cứ vàng như dưa, chắc là rau ôi, mua cả đống ngoài chợ về.
Vậy mà khách vẫn đông, không đủ chỗ ngồi. Gian hàng hơn chục mét vuông kê mấy cái bàn, mỗi cái mỗi kiểu, chỉ rộng bằng nửa cái bàn học của mẫu giáo. Ghế cũng không khuôn khổ nào, cái thấp cái cao. Chủ hàng có chân trong nhóm buôn phế liệu, nên mới có kiểu bàn ghế như vậy. Cái nào cũng cáu bẩn, nứt nẻ, ít cái còn nguyên vẹn.
Ngay cả mái lợp, vách tường cũng bao gồm đủ thứ thập cẩm. Vỏ phuy đựng nhựa đường, tôn cũ, bìa các tông.. Vá víu, xiêu vẹo rất buồn cười.
Được cái bà bán hàng sởi lởi, nói ngọt như mía. Thì bà cũng từng cảnh lấm láp, than bụi, bốc xếp, khuân vác mà nên. Bà mới vừa thoát cảnh đầu do, mặt muội ít năm lại đây nhờ thu mua sắt vụn, giờ bà vẫn chưa bỏ nghề cũ, đưa con cái từ quê lên, thuê đất, mở thêm cái hàng ăn này.
Ngoài giá rẻ hơn các chỗ khác, nếu thực khách cơ nhỡ, bà vẫn cho ăn thiếu, bán chịu cho. Bên trong cái tủ quây bằng lưới mắt cáo đựng thức ăn còn thấy quyển sổ khá dầy, dành ưu tiên cho các thực khách đó. Sinh viên nhà chưa gửi kịp tiền, người làm công chưa đến tháng lương.. có thể đến đây trông cậy vào bà.
Xong bữa nó cứ thấy bụng binh bích, tưng tức. Vội lấy mấy viên Cơloxit ra vã vào miệng. Nghĩ chắc kiểu này khó mà sống được lâu quá! Người ta cứ nói vệ sinh thực phẩm đâu đâu. Có thể những chỗ nhếch nhác như thế này không ai để mắt tới.
Nhà nó ăn uống cũng chẳng sang trọng, ngon lành gì nhưng được cái sạch sẽ. Cơm canh nóng sốt, rau của nhà trồng không có cá thịt ôi thiu như chỗ này.
Nhưng vẫn còn may. Có mấy đứa học Kinh Tài gọi điện đến bảo chỗ bọn nó không có hàng ăn. Phải đi cả chục cây số mới đến. Hỏi chúng mày làm thế nào? Bọn nó bảo : “ Cái khó ló cái khôn”. Giời ạ, “Khôn” cái con tiều. Chui vào nhà toa let nấu vụng cơm vì chỗ trọ cấm đun nấu trong nhà. Có hôm chủ trọ bắt được chửi như té nước vào mặt.. Từ bé đến giờ nó chưa thấy ai nấu nướng như thế bao giờ. Có đứa “Thông minh” hơn, giấu nồi cơm điện vào ba lô, giả vờ vào thư viện, cơm chín là lúc trả sách đứng dậy. Thảo nào có lần nó đọc ở đâu đó về sự hồi sinh của “văn hóa đọc”. Có lẽ các bác nhà văn hay tin này thì vui lắm! Nếu không các bác ấy viết để làm gì nhỉ?
Mỗi tháng mẹ nó bảo sẽ gửi cho hai triệu. Trừ tiền trọ, tiền điện, nước mỗi ngày chia ra, còn bốn mươi ngàn đồng. Quy ra đô la Mỹ như người ta tính, xấp xỉ hơn một đô! Nếu không ăn ở đây, còn chỗ nào thích hợp hơn? Còn khá hơn những đứa bố mẹ là nông dân. Bọn chúng chỉ có một đô la một ngày. Không biết bọn nó sống bằng cách nào? Chắc là phải đi làm thêm đủ loại công việc. Chỉ nghĩ đến thôi nó đã cảm thấy như bị xúc phạm. Cái tự ty, tự ái vặt của con nhà nghèo thường vùng lên, phẫn nộ không đúng chỗ như vậy.. Nhưng mà rồi cũng phải làm thôi, còn những bốn, năm năm nữa mới ra trường chứ đâu phải ngày một, ngày hai. Bố mẹ làm sao chu cấp mãi được, chưa kể ở nhà có chuyện gì? Ốm đau, tai ách chẳng hạn..
Hai con bé vẫn rì rầm cái gì đó, chưa ăn xong. Nó bảo về trước. Hai con ừ, không giữ..
Ra tới cửa có một thằng cao to lêu nghêu đâm xầm vào nó. Nó định gừ.. nghĩ mình “ma mới”, lại thôi. Thằng kia vội rú lên:
- Khánh hả?
- Ừ!
- Xuống khi nào?
- Mới!
Chuyện vài câu, thằng kia bảo:
- Tao cũng trọ gần đây, nửa ngày đi học, nửa ngày đi làm thêm, nếu mày thích hôm nào tao giới thiệu cho chỗ có việc?
Nó mừng húm, nhưng vẫn bảo:
- Ờ, để tao xem thế nào đã..
**
Căn phòng rộng hơn chục mét vuông. Kê một cái bàn nhỏ bằng nhựa, để son phấn, đồ trang điểm, mấy thứ vặt vãnh.. Kế bên chiếc giường gỗ ván tạp hình quân bài. Một tấm đệm cũ trải phía trên. Hai cô gái nhường nó nằm trên giường, nó không nghe. Dù sao nó cũng “Nam tử hán”, làm sao lại tranh chỗ của phái chân yếu, tay mềm? Cái đệm cũ trải ra phía đối diện thành chỗ nằm của nó. Độc nhất chiếc quạt để bàn không có lồng bảo hiểm, dùng chung cho cả phòng..
Hà nội sang thu rồi mà bức bối chưa dịu. Hơi nóng từ mái tôn úp xuống, hơi người bốc lên, ngột ngạt như ở trong hầm. Gần như ngày nào cũng cắt điện. Lúc đó chỉ muốn chạy ra ngoài bờ mương, nhưng mùi xú khí bay lên, thốc vào mũi không sao chịu nổi. Về đến nhà, cả ba cô gái chả cần ý tứ gì nữa, cởi hết quần áo ngoài, chỉ mặc áo con và mỗi chiếc quần đùi. Một thứ mùi gì đó hòa quyện vào gian phòng khiến nó nôn nao, khó thở. Tiếng xe cộ, tiếng máy trộn bê tông ở gần đấy vọng vào, tiếng ồn ngoài đường vọng tới.. Tất cả như hỗn hợp tiếng động của một cơn dông, làm nó xây xẩm mặt mày. Nó tự trấn an là do mình chưa quen. Đang sống ở nơi thanh bình, yên tĩnh nên chưa thích nghi với môi trường sôi động nơi đây. Nhưng đến bao giờ thì thích nghi, với nó giờ này hoàn toàn chưa biết? Ra đụng vào chạm với người khác giới, với nó chả khác đụng phải dây điện để trần, chạm phải lửa. Nó thường vờ quay mặt nhìn đi chỗ khác, không để mắt tới hai cô gái. Quả là sự bất tiện, dù cố tránh nhưng thường xuyên va chạm vào nhau. Các cô cũng chỉ hơn nó dăm ba tuổi, sự hơn kém có thể san bằng bất cứ lúc nào nếu nó có ý nghĩ u ám. Ý nghĩ này dằn vặt nó. Bứt dứt. Không yên.
Ngày hôm sau, khi nó ở trường về, nó thấy hai cô đang hí húi nấu cơm. Họ mua thanh lý được bộ bếp ga của một người trọ phòng bên vừa rời đi chỗ khác. Như vậy là từ nay trở đi, ăn uống sẽ được cải thiện. Nhìn vẻ mặt hớn hở của hai người nó đọc ra điều đó. Nhưng hạnh phúc, niềm vui ở đời thường có giá đắt đỏ. Được ăn ngon hơn, rẻ hơn theo ý mình cũng đồng nghĩa với nỗi khổ cực về nóng nực. Bình thường nhiệt độ đã ba bảy, ba tám độ. Đun nấu trong nhà nhiệt độ sẽ tăng thêm ba bốn độ nữa. Trừ người trực tiếp nấu ăn, kẻ không phận sự xin mời ra ngoài, ra bờ kênh hóng mát. Ai đã qua kênh Nhiêu Lộc chắc chắn sẽ biết sự ô nhiễm ở đó so với nơi đây chưa là cái đinh gì! Một kiểu xóm chiếu xưa, ngay giữa lòng Hà Nội.
Cũng may là hai cô gái thường ra khỏi nhà từ lúc trời xâm xẩm tối. Họ về khi nào, nó cũng không biết vì lúc đó nó đã say giấc, khi về khuya nóng bức giảm đi ít nhiều. Cửa thường nó không đóng, chỉ khép hờ vì nó ngại phải dậy khi các cô gọi cửa. Có hôm họ không về, nó đoán có đại gia nào đón họ đi pích ních đâu đó ít ngày.
Trong nhà không có đồ đạc gì đáng giá nên không lo trộm cắp, dù xung quanh việc đó thường xuyên xảy ra. Không mấy ngày không có tiếng kêu khóc, cãi vã, chửi bới vì ai đó bị trộm đồ..
Nó có duy nhất cái láp tốp cũ của bố mang theo là đáng kể. Ông Thành phải dùng chung máy tính với vợ để nó mang theo. Học công nghệ thông tin, dù nghèo đến đâu, bắt buộc phải có máy. Nếu không chả khác gì ở nhà quê đi cày không trâu, đi câu không có mồi câu vậy! Nó có ý giữ gìn lắm. Lúc nào cũng kè kè bên người, “Vật bất ly thân”. Mà trong phòng nào có tủ ỷ gì đâu mà bảo cất cơ chứ? Sự cẩn thận của nó như đã được “mặc định” rồi. Ngồi ăn, láp tốp để lên đùi, khi ngủ quàng dây đeo vào cổ, như bóng với hình. Dù rằng thực ra cái láp tốp cũ không đáng mấy tiền. Nếu bây giờ mang ra hiệu cầm đồ, quá lắm, may được hai triệu bạc. Máy tính là thứ hàng hóa mất giá nhanh chóng như xe lao dốc. Vừa mua trong hàng ra, vì cơ nhỡ, hay không thích, bán lại ít nhất mất non nửa tiền. Mười mấy triệu, có kho chỉ còn lại bốn năm, dù nhãn hiệu xịn thế nào cũng chung số phận, hơn kém nhau không đáng kể.
Nhưng đây là máy của bố. Là báu vật đối với nó. Nếu mất nó, lấy đâu ra tiền để mua cái mới? Mua máy cũ còn chưa chắc nữa là.. Nó cẩn thận là phải..
Không ai ngờ, có một ngày cái láp tốp thân thiết ấy vĩnh viễn ra đi.
Nó học được bài học gì về cuộc sống của chàng sinh viên trẻ vừa bước ra đời?
**
- Tao không hiểu người như bố mày làm sao lại hớ như thế? Không nghe có câu “ Thằng nghiện chớ nghe, ca ve chớ tin” à? Làm sao lại tìm chỗ ở chung cho mày với hai con bé đấy được?
- “Ai” cũng có người tốt người xấu. Không thể đánh giá người ta bằng công việc. Chẳng qua cũng vì hoàn cảnh đưa đẩy cả thôi. Bố tao bận về gấp, có chuyến thăm của ông “gì” to lắm, tao không biết, bố tao không thể vắng mặt. Ông phụ trách mảng “thời sự chính trị” của báo mà. Định ở tạm mấy ngày “chống móm” cái đã rồi tìm chỗ sau, ai ngờ..
Không để nó nói hết câu, thằng Ngân cao kều gạt đi:
- Còn nghĩ như thế, mày còn khổ. Nghề nghiệp nào làm lâu cũng có cái “Đạo” của nó nhập vào. Nhưng mà thôi, không bàn chuyện ấy nữa, tốt xấu mặc mẹ nó! Giờ thử xem có cách nào lấy lại cho mày cái máy tính được không? Mày đã báo công an chưa? Chẳng nghẽ chịu nó hả? Đấy mày thấy chưa, có phải tự nhiên nó sốt sắng mời rồi đưa ông già mày với mày đến chỗ nó đâu? Không có chuyện tự nhiên người đời tốt với nhau như thế, thằng ngu ạ!
- Có báo cũng chẳng ích gì.. Đây mày xem – Nó đưa cho thằng Ngân kều tờ giấy gấp làm tư, xé ra từ một quyển vở con. Trong đó viết :
“Chị lạy chú, khi chú tỉnh giấc thì chị đã đi rồi. Nếu chú còn thức chị cũng không dám nói chuyện này với chú. Xin chú đừng nói việc này với ai, nhất là đừng đi báo CA! Không những không làm gì khác được mà con chị sẽ nguy thêm. Chẳng qua bất đắc dĩ chị phải làm vậy, Con chị bị bệnh trọng, nếu không có tiền cháu sẽ chết! Chị đã hết cách rồi, không còn đường xoay sở. Tháng này ít khách quá, kinh tế khủng hoảng, ai còn đi chơi lúc này? Tiền chị kiếm chỉ đủ mồm mình ăn, không lẽ để con chết? Coi như chị mượn chú cái máy tính, cầm mua thuốc cho cháu. Kiếm được tiền, chị sẽ chuộc lại gửi trả chú, để cháu được sống. Trăm ngàn lần xin chú tha thứ cho chị. Dù xấu xa đến đâu chị cũng là con người, vẫn biết điều hay lẽ phải, không phải là súc vật, không biết gì.. Nhưng không còn cách nào khác. Chú có đánh, có giết chị cũng cam lòng và không hận chú. Chỉ xin chú rủ lòng thương, tha cho chị lần nàỳ . Kính thư!”
Đọc xong lá thư, Ngân kều bừng bừng nộ khí:
- Đúng là chó cắn áo rách. Lấy của ai không lấy, lấy của thằng trò nghèo như mày..đúng là giọng lưỡi đàn bà thối, chỉ mày mới tin. Tao thì nhổ toẹt vào những lời mẹ mìn của nó.. Nhưng thôi, cứ tạm gác đó đã. Bây giờ mày tính thế nào? Chả nhẽ mày cứ tiếp tục ở đấy với con kia?
Khánh ngẩn mặt, lúng túng. Ngân kều lưỡng lự một lúc rồi bảo:
- Thôi, ngay bây giờ chuyển sang chỗ tao. Tao với mày dùng chung máy của tao. Tao sẽ đưa mày đến chỗ tao làm. Có việc, vài tháng dành tiền mua cái khác. Chỉ tội chỗ ở hơi chật một chút, hai thằng nằm dở đầu đuôi là ổn chứ gì?
Nó không ngờ, thêm một lần, lấy sai lầm này để sửa sai lầm khác!
Quán cà phê thằng Ngân kều đưa đến là một quán đặc biệt vắng khách. Điều đó đối với chị chủ quán không thành vấn đề. Chồng chị ta đang công tác ở nước ngoài. Chị mở quán cho “vui cửa vui nhà”. Nhân viên chị tuyển chỉ là nam, không phải nữ. Đặc biệt “phải cao ráo, điển trai cho quán sáng sủa, tươi vui”. Nó may mắn hay không còn chưa rõ, nhưng đấy lại là câu chuyện khác. Chỉ biết đỡ nao núng, rắc rối trong tình cảnh này.
Đột nhiên hôm ấy Hà nội mưa rất to. Từ ngày biến đổi khí hậu, đây là trận mưa được ghi vào lịch thời tiết nước nhà. Sấm sét vang trời, một điều lạ chưa từng xảy ra vào mùa thu..

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kiến tạo gắn với "mua hóa đơn", thu hút nhân tài gắn với "lương không bằng giúp việc"

2.


Tiến sĩ về nước lương không bằng osin thì thu hút thế nào?

 Tại hội nghị thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và phát triển KHCN được tổ chức hôm qua, 28/12, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, tạo môi trường "sạch" cả về kinh tế, chính trị, pháp luật là điều kiện tiên quyết để có thể thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài về nước cống hiến.
Nước Mỹ không cần tuyên truyền, trí thức vẫn đến
TS. Tạ Bá Hưng, Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia (FIRST) cho biết, theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 400.0000 người Việt Nam có trình độ CĐ, ĐH trở lên đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là tiềm năng rất lớn về chất xám, trí tuệ và kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên, hàng năm chỉ có khoảng trên dưới 200 chuyên gia người Việt ở nước ngoài về nước giảng dạy và làm việc.
Theo ông Hưng, đối với vấn đề thu hút nhân tài, chúng ta đã có rất nhiều nghị quyết, chỉ thị rất đúng, rất tốt, rất "lung linh" nhưng trên thực tế lại không đi vào cuộc sống được.
Từ năm 2014, Việt Nam đã ban hành Nghị định 87 về thu hút cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài cũng như người nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực KHCN đến Việt Nam tham gia các hoạt động nghiên cứu phát triển KHCN. Tuy nhiên, đến nay chưa có một chuyên gia nào được mời về làm hoặc đến làm việc.
"Mặc dù từ nội dung Nghị định có thể suy ra rất nhiều cái hay, từ yêu cầu về visa, hợp đồng lao động thậm chí là bổ nhiệm vào các vị trí quản lý nhưng tại sao ngần ấy năm chưa người nào hưởng chính sách tốt đẹp của chúng ta?".
Tiến sĩ về nước lương không bằng osin thì thu hút thế nào?
TS Tạ Bá Hưng cho biết, Nghị định đã ban hành 2 năm nhưng chưa có trí thức nào được mời về. Ảnh: Lê Văn.
Phân tích nguyên nhân, ông Hưng cho rằng, chúng ta thu hút trí thức về nhưng không giao nhiệm vụ cho họ, không tạo điều kiện môi trường cho họ làm việc, "không có đất cho họ diễn" nên không giữ chân được họ.
Đồng tình với quan điểm của ông Hưng, ông Nguyễn Văn Vẻ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo, Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, làm thế nào để những chính sách đi vào cuộc sống là vấn đề khó nhất trong việc thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài hiện nay.
"Điểm mấu chốt nhất đối với trí thức chính là môi trường. Môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý. Môi trường càng sạch thì trí thức càng tìm đến. Môi trường bẩn thì trí thức sẽ xa lánh" - ông Vẻ nói. "Nước Mỹ có nhiều trí thức tìm đến là vì có môi trường tốt chứ họ không cổ vũ cũng không tuyên truyền".
Ông Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc ĐHGQHN cũng chia sẻ, theo một khảo sát mà ĐHQGHN tiến hành thì có tới 70% những người được hỏi xếp yếu tố điều kiện làm việc ở vị trí số 1 trong khi đó, tiền và lương chỉ được xếp ở vị trí số 7.
Điều này cho thấy, điều quan trọng nhất đối với các trí thức ở nước ngoài khi về Việt Nam làm việc chính là môi trường để họ có thể làm việc, cống hiến là quan trọng nhất chứ không phải mức lương.
TS. Hoàng Văn Kể, Chủ tịch hiệp hội khoa học kỹ thuật Hải Phòng thì kể rằng, bản thân ông từng biết nhiều trí thức nước ngoài về Việt Nam đầu tư cả dự án triệu đô nhưng bị "hành" nhiều quá nên không chịu được, chấp nhận phá sản rồi bỏ đi.
"Nếu sự việc đó tiếp tục tiếp diễn thì nó loang ra ghê gớm. Bởi chỉ cần 1 sự việc đố thôi là trí thức không dám về nữa" - ông Kể khẳng định.
Không nên câu nệ chuyện về hay ở
Ông Mai Trọng Nhuận cũng chia sẻ quan điểm rằng, điều quan trọng đối với thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài không phải là chuyện về hay ở. "Quan trọng nhất là sử dụng kiến thức, kỹ năng của họ chứ không nhất thiết người đó phải sống và làm việc ở Việt Nam" - ông Nhuận nêu quan điểm.
Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Phú Bình, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng, các du học sinh đi nước ngoài học xong ở lại cũng tốt, không nên câu nệ.
"Các em có thể làm việc ở đâu đó, sau này sẽ có nhiều trải nghiệm và kiến thức hơn. Vấn đề là sau này chúng ta có thể thu hút để sử dụng các em cống hiến cho đất nước được không" - ông Bình nói.
Tiến sĩ về nước lương không bằng osin thì thu hút thế nào?
TS Phạm Văn Tân, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam. Ảnh: Lê Văn.
Một đại diện đến từ Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam thì cho rằng, việc thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là vấn đề lâu dài chứ không phải nhất thời do đó không nên coi nó như một cuộc vận động.
"Các em học xong có thể ở lại làm việc 20 năm. Quan trọng là sau 20 năm đó các em sẽ về phát triển đất nước" - vị này nói. 
Một đại diện đến từ Bộ KHCN thì cho rằng, chính sách thu hút trí thức về Việt Nam sở dĩ không đi vào thực tế vì thiếu thực chất. Nếu không đi vào thực chất, việc thu hút sẽ không thể thực hiện được.
Tán đồng quan điểm chính sách thu hút nhân tài phải đi vào thực chất, ông Phạm Văn Tân, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam kể lại câu chuyện của GS Nguyễn Lân Dũng cho biết, con gái ông học tiến sĩ ở Mỹ về nhưng chỉ nhận mức lượng 3,5 triệu đồng trong khi ở Mỹ lương có thể vài ngàn đô.
"Không biết chính sách thu hút nhân tài của ta thế nào nhưng mức lương đó không bằng lương trả cho ôsin là 5 triệu đồng" - ông Tân nói.
TS Hoàng Văn Kể thì cho rằng, để thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài thì cần có sự quan tâm của những người lãnh đạo cao nhất của đất nước. "Chúng ta đang phát động sống và học tập theo gương Bác Hồ vậy chúng ta phải nghiên cứu xem vì sao trước đây lại có nhiều trí thức giỏi như vậy về nước cống hiến".
Ông Kể cũng cho rằng, bên cạnh các chuyên gia Việt Nam, Chính phủ cũng nên tìm kiếm những người Việt Nam ở nước ngoài để tham vấn ý kiến giải quyết những vấn đề bức xúc nhất của xã hội đang đặt ra chạy chức chạy quyền, cải cách hành chính sao cho minh bạch, kẹt xe ở hai thành phố lớn, biến đổi khí hậu.
1,5 triệu USD xây dựng mạng lưới chuyên gia người Việt ở nước ngoài
Tại hội nghị, TS Tạ Bá Hưng cũng cho biết, mới đây, Bộ trưởng Bộ KHCN đã Phê duyệt Đề án Xây dựng Mạng lưới chuyên gia Việt Nam trên thế giới với nguồn kinh phi triển khai trên 1,5 triệu USD.
Theo đó, khi hoàn thành, cơ sở dữ liệu chuyên gia Việt Nam trên thế giới sẽ bao gồm khoảng 25-50 chuyên gia cố vấn cao cấp, 3.000 chuyên gia chuyên ngành (trong đó có khoảng 2.500 người Việt Nam ở nước ngoài và khoảng 500 chuyên gia giỏi nước ngoài), khoảng 100 doanh nhân xuất sắc, các CEO thành đạt và một số nghệ nhân, cá nhân có tay nghề cao, kỹ năng, bí quyết kỹ thuật quan trọng) và khoảng 500 đề xuất, dự án của các đối tác trong nước có nhu cầu thu hút và sử dụng chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia giỏi nước ngoài.
Theo kế hoạch, khoảng tháng 6/2017, mạng lưới này sẽ đi vào vận hành trên nền tảng website.
Lê Văn
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/tien-si-ve-nuoc-luong-khong-bang-osin-thi-thu-hut-the-nao-349191.html




1.

Thủ tướng: "Đừng để các nhà khoa học vất vả lo mua hóa đơn"

 Khẳng định năng lực kiến tạo quản trị của nhà nước là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ (KHCN), Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng phải đổi mới kiến tạo lại nền hành chính mới có thể phát huy vai trò của KHCN.
Thủ tướng: 'Đừng để các nhà khoa học vất vả lo mua hóa đơn'
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị tổng kết ngành KHCN sáng 4/1. Ảnh: Lê Văn.
Phát biểu tại hội nghị tổng kết ngành KHCN diễn ra sáng nay, 4/1, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, có 5 yếu tố cơ bản để tạo nên sự phát triển của KHCN, gồm: thể chế, cơ chế, môi trường; con người; nguồn lực; cơ sở hạ tầng cho KHCN và năng lực hội nhập cho đất nước.
"Tại sao có nước KHCN phát triển tốt như vậy, nhiều tập đoàn KHCN lớn như vậy, như Singapore nhưng nước ta KHCN lại phát triển chưa tốt. Đó chính là do thể chế chính sách của chúng ta" - Thủ tướng nói.
Một yếu tố nằm ngoài 5 yếu tố trên song rất quan trọng đối với sự phát triển của KHCN, theo Thủ tướng chính là năng lực kiến tạo quản trị của nhà nước.
"Làm Nhà nước, Bộ, tỉnh thậm chí là Chính phủ mà không kiến tạo được sự phát triển của KHCN thì trách nhiệm là của chúng ta" - Thủ tướng khẳng định.
Do vậy, theo Thủ tướng, cần tạo ra những thể chế thông thoáng để phát huy nhân tài, sử dụng người tài, kể cả những người chưa vào Đảng, kiều bào, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về cống hiến cho quê hướng đất nước. "Thực tế đất nước ta có nhiều cá nhân trẻ tuổi và tài năng" - Thủ tướng cho hay.
"Điều này đòi hỏi phải kiến tạo lại hành chính để phát huy vai trò của KHCN trước hết là con người, là thể chế. Tinh thần chung là phải khai phóng mọi nguồn lực sáng tạo để đưa đất nước tiến lên vững vàng".
Thủ tướng cho rằng, việc chỉ ra những những cơ chế đang kìm hãm sự phát triển của KHCN và đề xuất với TW Đảng, Bộ Chính trị và Chính phủ để cùng tháo gỡ là trách nhiệm của Bộ KHCN và những người làm KHCN nói chung.
"Các bộ, ngành, viện quản lý nhà nước phải coi việc hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý nhà nước về KHCN. Cần phải tập trung vào các nút thắt trong thể chế quản lý" - Thủ tướng chỉ đạo.
Thủ tướng cũng khẳng định, cần phải tách hoạt động khoa học ra khỏi hoạt động hành chính. Tránh tình trạng hành chính hóa nghiên cứu khoa học.
"Nếu nhà khoa học suốt ngày lo nghĩ chuyện thủ tục hành chính thì am hiểu về chuyên môn có khi rơi rụng am hiểu hành chính tăng lên. phải Làm quen tư duy quản lý KH chỉ dựa vào kết quả chứ không phải dựa vào quá trình" - Thủ tướng nói. "Đừng để nhà KH phải vất vả lo mua hóa đơn".
Từ đó, Thủ tướng khẳng định, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lắng nghe tháo gỡ nếu cơ chế, thể chế đó tạo nên sự phát triển của KHCN Việt Nam.
Nhà khoa học phải lắng nghe hơi thở cuộc sống
Nhắc lại nhiều lần yêu cầu nghiên cứu KH, các nhà KH phải gắn liền với đời sống, với thực tiễn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, đầu tư cho KHCN cần phải bám sát hơn nhu cầu thực tiễn, thiết thực hơn.
Theo Thủ tướng, thực tiễn phát triển KHCN trên thế giới cho thấy, đầu tư nghiên cứu (R) cần ít nhất 10 năm mới đem lại hiệu quả thực tiễn, tỉ lệ thành công rất thấp. Đầu tư cho phát triển (D) phải mất hàng trăm năm, tỉ lệ thất bại không nhỏ.
Trong khi đó, đầu tư nghiên cứu ứng dụng KHCN để tạo ra sản phẩm thiết thực phục vụ cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của thị trường chỉ mất 2-3 năm, chi phí thấp, tỉ lệ thành công cao, mang lại hiệu quả kinh tế ngay, từ đó có nguồn thu đầu tư ngược lại cho KHCN.
"Chúng tôi đồng ý nghiên cứu KHCN có tính mạo hiểm và phải chú ý nghiên cứu cơ bản nhưng phải làm sao sử dụng hiệu quả nguồn lực trong điều kiện đất nước còn hạn chế" - Thủ tướng chỉ rõ.
Thủ tướng cũng yêu cầu cán bộ KHCN phải biết vận dụng kiến thức KHCN vào kinh tế, đời sống. "KHCN giữa trời thì biết đời sống thực tiễn ra sao?" - Thủ tướng đặt câu hỏi. "Đề nghị các đợn vị KHCN, Bộ KHCN phải bám sát thực tiễn, bám sát doanh nghiệp, lắng nghe hơi thở cuộc sống xem cuộc sống cần gì, ta hỗ trợ được cái gì".
Thủ tướng cũng dẫn lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định, khoa học phải từ sản xuất mà ra, phải quay lại phục vụ sản xuất quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm CNXH thắng lợi. Các tổ chức KH và nhà khoa học phải lăn lộn trong thực tiễn, quan hệ chặt chẽ với các xí nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất, phải biết công nhân yêu cầu gì, làm ăn sinh sống như thế nào, họ cần chuyển giao, giúp đỡ phổ biến những tiến bộ KHCN như thế nào.
"Đó là những lời dạy của Bác Hồ và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là định hướng chung cho KHCN nước nhà" - Thủ tướng khẳng định.
Lê Văn

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-dung-de-cac-nha-khoa-hoc-vat-va-lo-mua-hoa-don-350096.html
"Phải coi đầu tư cho khoa học như đầu tư mạo hiểm"

"Phải coi đầu tư cho khoa học như đầu tư mạo hiểm"

Bộ trưởng Bộ KHCN Chu Ngọc Anh cho rằng, để giải quyết tận gốc rễ những vướng mắc trong cơ chế tài chính của hoạt động KHCN, phải coi đầu tư cho KHCN như đầu tư mạo hiểm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHÔNG NGẦN NGẠI PHÊ PHÁN MỚI MONG CÓ ĐIỀU TỐT ĐẸP


FB Luân Lê
15-1-2017
“Một con người hay chính phủ mà không bao giờ phải nhận chỉ trích hoặc bị phê phán thì chắc chắn rằng đó là một con người hay chính phủ tồi, bởi nó sẽ luôn đứng yên và giữ nguyên như thế, dù xã hội và thế giới này có biến đổi thế nào đi chăng nữa”.
Khi nói đến vấn đề này tôi xin nói ngay là vạn vật sinh ra đều không hoàn hảo và luôn tồn tại khiếm khuyết nào đó của nó. Đặc biệt là con người và những thiết chế gắn với con người, mà càng lớn thì lại càng dễ mắc vào khiếm khuyết, sai lầm.
Thế thì chúng ta có gì để phải né tránh việc một ai đó, một xã hội hay một chính quyền nào đó là thiếu sót, sai trái hoặc có hành vi lệch hướng trong việc cai trị đất nước?

Con người sinh ra sau tự nhiên, mọi phát kiến của con người cũng đều xuất phát và dựa vào tự nhiên mà ra. Thế nên nhận thức của con người không bao giờ vượt qua được tự nhiên hoặc nằm ngoài sự đánh giá của thế giới tự nhiên, mà rộng lớn hơn cả là vũ trụ. Với nhận định mang tính nguồn gốc lịch sử tự nhiên này nên chẳng có gì để có thể cho rằng con người chúng ta không phải là loài không có khuyết điểm hay không mắc sai lầm hoặc bị đánh lừa trong nhận thức của chính mình.
Vì như thế mà chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta luôn cần hoàn thiện, luôn có thể lầm lẫn ngay cả lúc mình tỉnh táo hay minh mẫn nhất, lúc cảm tưởng như sung mãn nhất cũng có thể đột quỵ. Mà vốn tư duy con người là đa dạng và phong phú vô cùng, nên tập hợp những con người lại thì càng lắm lỗ hổng và bất hợp tác về nhận thức. Vậy thì một nhà nước, một xã hội hẳn nhiên được thiết lập nên từ những con người nhỏ bé và với nhận thức hạn hẹp của mình thì chẳng có lý do gì để mà họ không sẵn sàng mắc sai lầm và chứa đầy thiếu sót cả.
Với một sự khách quan đúng đắn như thế, chúng ta chẳng có gì phải e sợ hay ngại ngần để mà nghi ngờ về một sự đánh giá hợp lý của sự vật hay hành động của người khác, và từ đó thì cũng chẳng cần lý do gì để mà phải ngần ngại việc chỉ trích, phê phán một ai đó hay một chính quyền nào đó.
Mà chỉ có tinh thần phê phán thì con người ta mới trở nên hoàn thiện trong nhận thức và tìm ra chân lý để mà hành động đúng đắn. Có nhận thức đúng thì hành động mới đúng và tránh được những sai lầm lẫn hậu quả đáng tiếc.
Vốn dĩ người dân là với tâm thế người chủ của một quốc gia, chính phủ là tổ chức được ủy nhiệm từ dân chúng, nên người dân lại càng không thể thờ ơ và e ngại chỉ trích chính cái chính phủ đó để mà họ có thể làm tốt chức trách của mình là duy trì trật tự xã hội và đảm bảo người dân được sống an toàn bằng luật pháp văn minh.
Con người không hoàn hảo, chính phủ lại càng dễ mắc sai lầm vì là số đông và có quyền lực trong tay. Mà nếu người dân lại cũng không dám bày tỏ chính kiến và quan điểm trước các hành động thái quá của chính phủ thì có phải là chính chúng ta tự tước bỏ đi vị thế làm chủ quốc gia của mình hay không. Vậy thì quốc gia này chẳng phải là thuộc về riêng chính phủ mất rồi hay sao. Thế thì chúng ta quả là những kẻ ngu ngốc vì bỗng dưng không muốn làm chủ đất nước mà lại muốn bị lệ thuộc vào ý chí của người khác. Nhìn vào nó để thấy, nếu phó mặc quốc gia cho chính phủ thì có phải là mọi sự tốt đẹp hay tồi tệ, xấu xa thì hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và hành động của chính phủ hay không. Lúc đó, chính phủ có lương tâm và đạo đức thì chúng ta còn may mắn được nhờ vả chút ít, chứ còn ngược lại, họ xấu xa thì chúng ta lãnh đủ hậu quả của nó. Chúng ta có muốn như thế hay không?
Hơn nữa, chính phủ phải dám nghe những lời chỉ trích từ dân chúng, phải biết cầu thị mà sửa sai, vì dân chúng là chủ của cái chính phủ này chứ chẳng phải đàn cừu nào ở đây cả. Thử nghĩ xem sẽ nguy hiểm thế nào khi một kẻ cứ lẳng lặng mà chẳng bao giờ nói lên một lời nào cả, dù kẻ cai trị có làm gì đi chăng nữa họ cũng không phản đối, như vậy thì tôi còn lo lắng hơn bội phần vì có thể sự âm thầm đó sẽ được bộc phát thành những hành động không kiểm soát được nếu muốn phản đối chính phủ.
Rồi lại thử đặt tình huống, chính phủ nào mà lại cứ quả quyết là mình không sai bao giờ vì trong đó tập trung những tinh hoa và trí thức có tài, thì quả là một suy nghĩ không có gì tai hại bằng. Vì một người mà không bao giờ sai tức là người đó chưa bao giờ thực sự hành động cả. Mà nếu thế thì đất nước chắc chắn sẽ mau chóng loạn lạc chứ chẳng phải chờ đợi lâu.
Nên người dân phải biết lên tiếng chỉ trích và phê phán bất kể khi nào và với bất kể điều gì mà mình thấy rằng nó cần phải được thay đổi tốt hơn lên.
Trích: MỘT NGƯỜI QUỐC DÂN


Phần nhận xét hiển thị trên trang