Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Tư liệu SỬ VĂN:

Sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm, cuộc thanh trừng năm 1967, và di sản của sự bất đồng chính kiến


nhanvan
Nguồn: Zachary Abuza (2001). “The Nhan Van–Giai Pham Affair, the 1967 Purge, and the Legacy of Dissent”,  in Z. Abuza, Renovating Politics in Contemporary Vietnam (London: Lynne Rienner Publisher). [1]
Biên dịch: Vương Thảo Vy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.
– Hồ Chí Minh
Nhà soạn nhạc Xô Viết phải tìm kiếm những giá trị anh hùng, vĩ đại và cao đẹp, phải chiến đấu chống lại chủ nghĩa hiện đại mang tính phá hoại lật đổ, điển hình cho thời kỳ suy tàn của nền nghệ thuật tư sản. [Âm nhạc phải] mang tính dân tộc về mặt hình thức và xã hội chủ nghĩa về mặt nội dung.
– Maxim Gorky, “Bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, 1934
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi,
Càng sống càng tồi.
Càng sống càng bé lại.
 – Phan Khôi
Từ ngày đất nước thống nhất năm 1975 đến Đại hội Đảng lần thứ Sáu vào tháng Mười Hai năm 1986 khi chương trình cải cách kinh tế được tiến hành, hầu như không tồn tại bất cứ mối bất đồng nào trên cả nước, ngoại trừ những cựu thành viên chống cộng sản của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng ngay cả mối bất đồng này cũng bị hạn chế vì sự độc đoán và những cuộc trừng trị không nương tay ngày càng mở rộng của chính phủ đối với những kẻ thù trước đây. Những người không bị “học tập cải tạo” và đưa đến “những vùng kinh tế mới” (hơn 300.000 người) sẽ bị hăm dọa buộc phải phục tùng nhà nước. Những nguyên nhân của mối bất đồng xuất hiện trong suốt thời kỳ đổi mới có nguồn gốc từ trước ngày đất nước thống nhất, và cũng cần xem xét một bối cảnh lịch sử đặc biệt liên quan đến hai sự kiện nhằm giải thích cho mối bất đồng trong thời kỳ đương đại.
Sự kiện đầu tiên liên quan đến việc đối xử đối với các trí thức gia, tác giả, nhà thơ, và văn nghệ sỹ – những người đã gia nhập hàng ngũ Việt Minh trong những năm 1940-1950 nhưng sau đó đã bị thanh trừng vì yêu cầu đòi mở rộng quyền tự do trí thức, bao gồm quyền được xuất bản các tác phẩm độc lập. Thực tế cho thấy rất nhiều trong số những nhà trí thức này vẫn là những nhân vật đi đầu trong các hoạt động chống đối trong thời điểm hiện tại trong khi những vấn đề và yêu sách tương tự tiếp tục vẫn còn dư âm.
Sự kiện thứ hai là cuộc thanh trừng nội bộ Đảng vào giữa đến cuối những năm 1960 mà trong đó những người chống lại chính sách leo thang chiến tranh chống Mỹ sẽ bị thanh trừng vì đã vi phạm những nguyên tắc của chế độ tập trung dân chủ. Những đảng viên nào đưa ra bất cứ phương án khác cho cuộc chiến ở miền Nam mà đi ngược lại với chủ trương không khoan nhượng của những nhà cầm quyền sẽ bị ngược đãi không thương xót, điều này đã vô hình chung chấm dứt những cuộc tranh luận công khai và ý nghĩa trong nội bộ đảng. Từ năm 1967 đến khi chính sách Đổi Mới được thực hiện, tất cả quá trình ra quyết định bị giữ độc quyền trong tay của những nhà lãnh đạo mà không ai dám chống đối hoặc có ý nghi ngờ, do đó đã tạo ra sự trì trệ trong chính sách nhà nước và chính sách đối ngoại. Mặc dù sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm và cuộc thanh trừng nội bộ đảng vào năm 1967 đã được phân tích một cách thấu đáo trong các tác phẩm khác, nhưng tác giả vẫn sẽ bàn luận hai sự kiện trên trong bài viết này.
Chúng chính là những sự kiện đầu tiên và mang tính cấu thành nhất đối với tình trạng bất đồng chính kiến dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản, và những vấn đề được những người chống đối đưa ra vào những năm 1950-1960 cho đến giờ vẫn không thay đổi. Di sản của những sự kiện này mang tính thu hút, và chúng đã trở thành điểm quy tụ cho những người chống đối ngày nay: sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm như là một biểu tượng của sự thất bại của đảng trong lời hứa sẽ mang lại tự do cho giới trí thức, và cuộc thanh trừng nội bộ đảng chính là dấu chấm hết cho nền dân chủ nội đảng và dập tắt tư duy trong quá trình ra quyết định. Cuối cùng là, cách thức mà chế độ đáp trả đối với những sự kiện này, ngay cả thời điểm hiện tại, cho ta thấy về tình trạng cải cách chính trị tại Việt Nam.
Sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm
Bối cảnh sự kiện
Năm 1950, vào giữa cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc và ký kết thỏa thuận viện trợ quân sự với nhà lãnh đạo cộng sản mới của Bắc Kinh. Khi viện trợ quân sự được đưa vào, thì dòng chảy ồ ạt các thể chế, cải cách và lực lượng cố vấn mang phong cách Trung Quốc cũng từ đó mà tràn vào. Một chiến dịch gấp gáp được khởi động để học tập kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc, và 200.000 bản sao của 43 cuốn sách của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã được dịch và in ra. Các thể chế kinh tế và chính trị Trung Quốc ngày càng phổ biến. Trước năm 1952, có gần 7.000 binh sĩ và cố vấn Trung Quốc hiện diện tại Bắc Bó (một chiến khu phía Bắc). Trong giai đoạn 1949-1954, Trung Quốc huấn luyện và trang bị cho gần 50.000 bộ đội Việt Nam tại các doanh trại ở Vân Nam và Quảng Tây thành lập vào mùa xuân năm 1950. Theo đề xuất của Trung Quốc, Đảng Lao Động mang tính xã hội chủ nghĩa được công khai thành lập vào tháng Hai năm 1951, sự kiện này đã chấm dứt cáo buộc cho rằng Việt Minh là một tổ chức chống thực dân có cơ sở rộng khắp mà lại không có điểm tựa về mặt tư tưởng.[2] Theo như một nhà sử học, Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, tác phẩm đặt ra cuộc cách mạng ba giai đoạn cho chiến tranh, lại “gần như ăn cắp ý tưởng của chủ nghĩa Mao.”[3] William Duiker đã ghi nhận một cách súc tích rằng đường hướng lãnh đạo của Việt Minh đơn thuần là để “vuốt ve cái tôi của những nhà lãnh đạo Trung Quốc” bởi vì sự trợ giúp của họ là hoàn toàn thiết yếu.[4]
Chiến dịch chỉnh huấn khổng lồ trong nội bộ Đảng (hay Cheng feng theo tiếng Hoa), lấy hình mẫu của chiến dịch Diên An tại Trung Quốc, đã được khởi động và hàng ngàn cán bộ bị thanh trừng; số lượng Đảng viên giảm từ 50.000 trong năm 1950 xuống còn 40.000 vào năm 1954. Chiến dịch cải cách ruộng đất hai giai đoạn bắt chước mô hình của Trung Quốc cũng được tiến hành. Giai đoạn ôn hòa từ năm 1953 đến năm 1954 nổi bật là việc giảm tô, theo sau đó là giai đoạn thay đổi rõ rệt hơn từ năm 1954 đến năm 1956 với việc tái phân phối một khối lượng lớn tài sản ở phía Bắc.[5] Đây là hồi chuông cảnh báo giới trí thức bởi vì hầu hết trong số họ đều có vài mối liên hệ đến tầng lớp có ruộng đất “phong kiến” và “phản động”.[6] Vào tháng Ba năm 1953, chính phủ quyết định và ban hành một danh sách đặt tên các giai cấp trong xã hội, trong đó chính phủ nỗ lực làm dịu đi nỗi sợ hãi bằng cách khẳng định rằng “giới trí thức không tự họ hình thành nên một tầng lớp riêng” mà địa vị của họ dựa trên “thành phần” của gia đình. Bởi vì nhiều trí thức gia được xếp vào thành phần “kẻ thù giai cấp”, nên ngược lại cũng có một thành phần mới được tạo ra, đó là “cá nhân tiên tiến”, danh hiệu này sẽ được cấp cho ai ngoài việc phục vụ cho cách mạng còn tình nguyện giao nộp toàn bộ của cải cho chính phủ.
Trong khi sự trợ giúp về mặt hậu cần từ phía Trung Quốc là cần thiết, thì một nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng đối với công cuộc đấu tranh chống thực dân của Việt Minh là thu phục được sự đồng lòng của giới trí thức. Nhiều trí thức gia cảm thấy họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải lên Việt Bắc và tham gia cách mạng; nếu không làm như vậy, họ sẽ bị đánh đồng với việc bắt tay với giặc Pháp. Một số lượng lớn các trí thức gia tham gia Việt Minh vì lòng yêu nước, chứ không phải vì chủ nghĩa cộng sản. Thực tế cho thấy vì các nhà lãnh đạo Việt Minh cố gắng che giấu đi những mối liên hệ với chủ nghĩa cộng sản của tổ chức này, bằng cách trên danh nghĩa giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương vào năm 1946, nên rất có thể nhiều nhà trí thức tin theo lời Hồ Chí Minh từng công khai cho rằng đây là một tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải cộng sản. Thật vậy, một học giả miền Nam Việt Nam có luận điểm cho rằng giới trí thức “được động viên bởi hy vọng rằng họ có thể dùng tổ chức kháng chiến này để tập hợp các phần tử dân tộc và tạo nên một lực lượng có thể điều chỉnh cán cân chống lại những người cộng sản trong số những thành viên tham gia kháng chiến.[7] Dù cho lý do có là gì đi nữa thì các nhà trí thức cũng tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân với đầy nhiệt huyết.
Ngay từ buổi ban đầu, [các nhà văn] đã dốc hết tâm huyết và sức lực cho tất cả các hoạt động mà đất nước kêu gọi sự giúp sức của họ trong thời chiến. Họ sát cánh với những người phu và nông dân để chiến đấu chống lại kẻ thù của đất nước. Họ chia sẻ với những con người này đời sống khổ cực trong rừng rậm, và cũng như thế, họ sống và làm việc trong bầu không khí ngập tràn lòng yêu nước.[8]
Nhưng ngay từ buổi ban đầu, Đảng đã kiên quyết kiểm soát giới trí thức và ngăn cản họ khỏi tình trạng quá độc lập. Dựa trên tác phẩm của Mao, Lenin, và Maxim Gorky,[9]các văn nghệ sỹ Việt Nam bị bắt buộc phải chấp nhận những nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và phải xem xét lại lập trường tư tưởng của mình. Trong một bài phát biểu năm 1948, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Trường Chinh đã yêu cầu văn học và văn hóa “phải duy trì lòng trung thành hoàn toàn với Tổ quốc và cuộc kháng chiến.”[10]
Năm 1951 chứng kiến hai ràng buộc sâu sắc hơn đối với giới trí thức: Ràng buộc đầu tiên chính là việc đưa vào “chế độ tập trung dân chủ” như là quy trình hoạt động trung tâm của Đảng. Nguyên tắc này trở thành mối liên kết giữa giới tinh hoa và quần chúng: một khi Đảng đã đưa đến một quyết định nào đó thì không có bất cứ sự chống đối nào được chấp nhận. Sau đó, trong một bức thư gửi đến giới nghệ sỹ và trí thức vào năm 1951, Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn từ mà Mao đã sử dụng trong buổi nói chuyện với giới trí thức tại Diên An, trong đó nhà lãnh đạo Trung Quốc đã làm rõ rằng “thực tế không có nghệ thuật vị nghệ thuật, không có nghệ thuật đứng trên giai cấp, không có nghệ thuật tách rời hoặc độc lập với chính trị. Văn học và nghệ thuật vô sản là một phần của toàn bộ lý tưởng đấu tranh cách mạng của giới vô sản.”[11] Ông giải thích cho giới trí thức về khái niệm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. “Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, người chiến đấu trên mặt trận văn hóa cần có một lập trường chính trị vững vàng và một hệ tư tưởng đúng đắn: Nói tóm lại, anh phải đặt lợi ích của cuộc cách mạng, của quốc gia và dân tộc lên trên tất cả.”[12] Để thực hiện được mục tiêu này, Hồ Chí Minh lập luận rằng “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”[13] Kết quả là, những hình thức thay đổi sự thật hoặc nguyên tắc từ ngữ ngữ pháp tiêu chuẩn trong các tác phẩm nghệ thuật bị hạn chế, và theo như học giả người Pháp Georges Boudarel, “những tác phẩm của họ được kỳ vọng xoay quanh những đặc tính điển hình và phục vụ kịp thời cho các đòi hỏi về mặt chính trị của phong trào. Từ phổ biến hay dùng là từ “căm thù”: căm thù đế quốc nước ngoài và phong kiến bản địa hoặc những điền chủ.”[14]
Những bó buộc đối với giới văn nghệ sỹ này, cùng với việc thi hành những khía cạnh khác của chủ nghĩa cộng sản, “đã đẩy một làn sóng trí thức gia khổng lồ tới khu vực thuộc quyền kiểm soát của Pháp.”[15] P.J.Honey khẳng định rằng “càng áp dụng nhiều nguyên lý từ những người cộng sản Trung Quốc, thì hàng ngũ những trí thức gia bị vỡ mộng ngày càng nhiều, điều này loại bỏ đi những thành phần tham gia hoạt động kháng chiến.”[16] Những người nào còn trụ lại gần như chỉ có việc sáng tác cho chiến dịch văn chương của Việt Minh và phải chịu đựng những nguyên lý khắt khe của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Trong một nỗ lực lớn hơn nhằm bắt giới tri thức phải chịu sự kiểm soát của Đàng, người ta đã gây áp lực để giới này phải gia nhập đảng. “Họ bị đe dọa rằng nếu từ chối tư cách thành viên, họ sẽ bị lên án là những kẻ phản động, cùng lúc đó, họ cũng được dụ dỗ gia nhập bởi lời hứa về những ưu đãi đặc biệt.”[17] Tuy nhiên, ngay cả những người trí thức ở lại chiến khu và gia nhập Đảng cũng phải chịu đựng chiến dịch học tập cải tạo dẫn đầu bởi “những cán bộ văn hóa cộng sản đặc biệt” – những người đã từng được “chỉ dẫn bởi ‘những người đàn anh ở phía bên kia đường biên giới’ [các cán bộ Trung Quốc] trong ‘hệ thống nghệ thuật và văn chương Trung Quốc.’”[18]
Nhìn chung, hầu hết các trí thức gia trụ lại là do những lý do xuất phát từ lòng yêu nước. Cuộc kháng chiến chống Pháp chính là một động cơ thúc đẩy thực sự. Vì muốn giành độc lập, các văn nghệ sỹ sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và mệnh lệnh của đảng buộc công việc của họ phải là một phần trong toàn bộ phong trào kháng chiến lãnh đạo bởi Đảng Lao Động. Họ chấp nhận sự kiểm soát, kiểm duyệt của Đảng và hy sinh một phần tự do cho nền độc lập dân tộc. Như một nhà chống đối hàng đầu từng viết:
Khi Hội [văn hóa cứu quốc] ở Việt Bắc thì đường lối hoạt động dường như rất đơn giản. Để phục vụ đất nước dân tộc, và trên hết là cuộc kháng chiến cấp bách, thì phải tuân theo chủ nghĩa Mác. Không thể cho rằng các văn nghệ sỹ lúc bấy giờ hoàn thành đúng và đủ hoàn toàn các nhiệm vụ được giao, nhưng có một điều chắc chắn rằng họ nỗ lực hết mình để đi theo đường lối hoạt động nói trên. Liệu họ có bao giờ cảm thấy bất mãn với cấp trên của mình? Rất hiếm hoi. Hoặc nếu có đi chăng nữa, họ cũng không để tâm lắm đến điều đó vì tâm hồn của họ đã đắm chìm trong cuộc kháng chiến gian khó mà vĩ đại. Họ không có thì giờ rỗi rãi để nghĩ đến các vấn đề khác nữa.[19]
Con người họ tràn ngập niềm tự hào và lửa nhiệt tình với mong muốn xây dựng một Việt Nam mới độc lập, và họ tin rằng chính việc phục vụ cách mạng sẽ mang lại cho họ tự do sáng tác. Họ mong muốn rằng, sau cuộc kháng chiến, họ sẽ nhận được tự do nhiều hơn cả dưới thời Pháp và sự can thiệp của đảng vào văn học nghệ thuật cũng sẽ chấm dứt.
Vào thời kỳ đầu tình hình cho thấy họ có vẻ sẽ được tự do. Đảng Lao Động gửi các cán bộ văn hóa đến Hà Nội vào tháng Chín năm 1954 để thuyết phục những người đã rời khỏi Việt Bắc thôi không chuyển vào miền Nam trong khoảng thời gian 300 ngày như hiệp định Geneva đã cho phép. Để lấy lại sự ủng hộ của giới trí thức, vào năm 1954-1955 Đảng Lao Động đã thực hiện một đường lối mang tính tự do đối với những trí thức và chuyên gia đã phục vụ cho Pháp; những người nào ở lại miền Bắc được đối xử rất tốt, thường kiếm được nhiều hơn những người cùng với Đảng Lao Động vào Hà Nội vào năm 1954.[20] Tố Hữu, một trí thức hàng đầu của đảng, đã thông báo một chính sách hòa giải vào năm 1955: “Đảng có thể cung cấp sự lãnh đạo trí thức để chống lại kẻ thù, nhưng hiện nay là giai đoạn cho công việc mang tính xây dựng. Đảng có thể sẽ không lãnh đạo nữa, mà nên nhường đường cho giới trí thức.”[21] Nhưng cùng thời điểm đó, Đảng Lao Động buộc tất cả văn nghệ sỹ phải gia nhập Hội Văn Nghệ chính thức. Cuộc trấn áp bắt đầu.
Loạt đạn mở màn
Tình trạng bất đồng bắt đầu khi Trần Dần, một tác giả quân đội đồng thời là Đảng viên, đã viết một cuốn sách phóng sự về trận chiến Điện Biên Phủ vào tháng Hai năm 1955. Sau này Bảo Ninh và Dương Thu Hương có các tác phẩm tương tự vào những năm 1990, các nhân vật trong tác phẩm của ông không phải là những hình mẫu anh hùng chủ nghĩa xã hội mà đảng đã ra lệnh phải theo. Quyển sách là bức chân dung phác họa cuộc sống khổ cực bên trong chiến hào nơi hầu như không thấy bằng chứng cho thấy sự thắng lợi của cuộc chiến hay tính đúng đắn của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên ông đã được cử đến Trung Quốc để viết kịch bản phim; ở đó ông đã trải qua một cuộc tranh cãi quyết liệt với viên chính ủy người đã được gửi đến làm việc với ông. Trần Dần trở về nước với tâm trạng thất vọng và đã tập hợp một nhóm các nhà trí thức có cùng tư tưởng trong nội bộ quân đội mà mục tiêu của họ là thuyết phục các lãnh đạo đảng trả lại cho họ sự tự do sáng tác. Họ mong muốn đòi lại sự tự do không chỉ từ các nhân viên kiểm duyệt quân đội mà còn từ các viên chính ủy của đảng. Theo như cương lĩnh được soạn thảo và đệ trình cho Ban chấp hành Trung ương vào năm 1955 của Trần Dần và gần 30 các trí thức gia khác,
Biểu hiện cao nhất về trách nhiệm của một tác giả là sự tôn trọng và trung thành của anh ta đối với sự thật… Sự thật, với phạm vi của nó, vượt qua tất cả những chỉ thị, tất cả lý thuyết…Nếu nó đi ngược lại một kế hoạch hoặc mệnh lệnh nào đó, các tác giả cần bám theo sự thật, không bóp méo nó cũng như không được ép sự thật vào khuôn khổ chính trị… Cách mạng không cần bất cứ nhà tông đồ nào để đốt hương và ca tụng các kế hoạch và cũng chẳng cần đến các vị pháp sư cúng tế khi họ vỗ chiêng và tụng kinh cầu…Ngày nay, người ta tìm thấy trong văn chương của chúng ta khá nhiều kỹ xảo (và ngay cả bộ mặt đạo đức giả).[22]
Ông lập luận rằng “một tác giả phải được cho phép sự tự do gần như hoàn toàn trong việc lựa chọn chủ đề, nhân vật, phong cách thể hiện thái độ và cảm xúc. Tất cả trở ngại và hạn chế phải bị bài trừ như những kẻ thù của chủ nghĩa hiện thực.” Trong thời gian ở Trung Quốc, Trần Dần chịu ảnh hưởng bởi một nhân vật trong nền văn chương Trung Quốc là Hồ Phong, người muốn mở rộng những biên giới có thể chấp nhận được của văn học. Khi trở về, Trần Dần đã viết, “Tại sao không có ai viết về các quan chức chính phủ chẳng hạn? Hoặc về tình yêu? Tại sao cứ phải giới hạn các nhân vật vào vai những cá nhân mang thân phận người công nhân hoặc nông dân? Chủ nghĩa hiện thực khuyến khích hàng trăm trường phái cùng phát triển mạnh.”[23] Những lời tấn công thẳng thắng như vậy vào sự kiểm soát của đảng đã khơi dậy khí phách trong lòng giới trí thức, những người đã tập hợp lại để bảo vệ cho ông. Phan Khôi, cha đẻ của nền thơ ca hiện đại Việt Nam,[24] khi đó 70 tuổi, đã viết “mỗi người trong chúng ta sở hữu nghệ thuật của chính bản thân mình và phản ánh tính cách của chúng ta trong đó. Chỉ có loại hình nghệ thuật và tính cách này mới có thể tạo ra quang cảnh trăm hoa đua nở. Trái lại, nếu các tác giả bị ép buộc phải viết theo cùng một phong cách, thì sẽ có ngày tất cả loài hoa đó sẽ trở thành hoa cúc vạn thọ hết thảy.”[25]
Một nhà trí thức khác, Lê Đạt, đã than phiền rằng hiện thực xã hội chủ nghĩa giống như:
Việc đặt các đồn cảnh sát và máy móc thiết bị vào giữa trái tim con người
Việc buộc cảm xúc phải thể hiện theo như một bộ quy tắc mà chính phủ ban hành.
Phản ứng ban đầu của đảng đối với Trần Dần và những nhà chống đối khác là đặt họ trong chế độ quản thúc tại gia và sau đó cải tạo họ.[26] Tố Hữu, nhà thơ của chính phủ, sau đó đã phát động một chiến dịch nhằm tái củng cố đời sống của giới trí thức với những nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tố Hữu yêu cầu các nhà trí thức phải tuân thủ nghiêm ngặt các tham số được quy định trong bài phát biểu của chủ tịch Mao tại Diên An: “những nhân vật mang tính tích cực,” “những anh hùng cách mạng,” và “nông dân và công nhân như lực lượng tiên phong.” Nói tóm lại, Tố Hữu kêu gọi sự tổng hợp không thỏa hiệp giữa chính trị và nghệ thuật bởi vì “nội dung quyết định hình thức.”
Trong khi nhiều nhà trí thức ý thức được tương lai không lành sẽ xảy ra và tuân theo đường lối của đảng thì những người khác lại tạm lánh mặt cho đến đầu năm 1956 khi tuyển tập mang tên Giai Phẩm Mùa Xuân được xuất bản. Tính táo bạo của tạp chí này, trong đó bao gồm một bài thơ Trần Dần viết nhằm miêu tả tình trạng tệ hại không thể chấp nhận được ở miền Bắc, đã làm chất xúc tác cho các nhà trí thức khác.[27] Khi đảng trao giải Nhất Giải thưởng Văn học vào năm 1954-1955 cho một tác phẩm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường của nhà thơ trung thành với đảng – Xuân Diệu, giới trí thức nổi dậy.[28]
Tại Hội nghị tháng Tám năm 1956 của Hội Văn nghệ, các nhà trí thức công khai đòi quyền tự do nhiều hơn, cũng giống như đồng sự của họ ở Trung Quốc và Liên Xô tại thời điểm đó. Ở Trung Quốc, Lục Định Nhất kêu gọi “phá vỡ sự trì trệ trong hoạt động của giới trí thức ở Trung Quốc” trong bài phát biểu “Trăm hoa” của ông. Cụ thể là ông đã yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép “sự tự do trong suy nghĩ độc lập về hệ tư tưởng, các hoạt động nghiên cứu khoa học và nghệ thuật; tự do ngôn luận; tự do tham gia vào các công việc sáng tạo và phê bình tác phẩm của những người khác; tự do bày tỏ ý kiến; và tự do thu lại ý kiến.” Các học giả cũng bàn luận về những thay đổi trong chính sách của Xô Viết đối với giới trí thức kể từ Đại hội lần thứ Hai mươi của Đảng Cộng Sản Liên Xô khi Khrushchev đưa ra bài phát biểu phi Stalin hóa của mình.
Trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn làn sóng chỉ trích, Hoài Thanh – một quan chức cao cấp của đảng đã xuất bản một bài viết tự phê bình trong tuần báo Văn Nghệ. Nhưng đã quá trễ, giới trí thức bắt đầu xuất bản tạp chí riêng của họ dựa trên triết lý của trí thức gia đối kháng Trung Quốc Hồ Phong, người đã cho rằng “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cần phải chuyển sang khía cạnh con người và khẳng định bản thân như một loại hình của chủ nghĩa nhân văn.” Vào ngày 15 tháng Chín năm 1956, tạp chí Nhân Văn độc lập đã được cấp phép xuất bản. Biên tập bởi Phan Khôi, Nhân Văn xuất bản năm lần từ 20 tháng Chín đến 20 tháng Mười Một năm 1956. Trong giai đoạn đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chấp nhận trong thời gian ngắn sự thẳng thừng của các tác giả và biên tập viên.
Càng nhiều thứ thay đổi…
Ngoài nhu cầu tự do sáng tác và quyền tự do thành lập các ấn phẩm độc lập mà không chịu sự kiểm soát và kiểm duyệt của đảng, những người bất đồng ý kiến còn có rất nhiều khiếu nại khác. Cũng giống như nhiều đồng nhiệp của họ vào những năm 1990, giới trí thức những năm 1950 rất cẩn trọng trong việc thách thức chủ nghĩa xã hội hoặc sự độc quyền về quyền lực của đảng. Theo Georges Boudarel, một học giả hàng đầu trong nghiên cứu phong trào này: “Nhưng họ không đồng ý việc đánh đồng chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa nhất thể (monolithism), và chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism).”[29]
Phần lớn nhu cầu của họ tập trung vào vấn đề “sự thật” và tính hợp pháp của các nguồn thông tin độc lập và thay thế. Các nhà đối kháng hiểu sự cần thiết của công tác tuyên truyền, nhưng họ cũng cảnh giác trước việc Đảng sẽ diễn dịch sai hoặc nói dối về các sự kiện nhằm thúc đẩy các mục tiêu của mình. Phùng Quán đã yêu cầu một cách rõ ràng về sự minh bạch trong một bài thơ nổi tiếng (Lời mẹ dặn – ND):
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ.[30]
Tương tự như vậy, Trần Lê Văn giải thích cho sự thiếu thốn các nguồn thông tin thay thế là do tính thiếu trách nhiệm tai hại và lạm dụng quyền lực của đảng. “Nếu như các cuộc phê bình công khai được áp dụng sớm hơn trong công chúng và báo giới, mà trong đó ai cũng có thể thẳng thắn nói ra điều họ nghĩ để các nhà lãnh đạo của chúng ta dần dần nói ra sự thật từ những dối trá trong việc thực hiện các chính sách, thì nhiều thảm họa đã có thể tránh được.”[31]
Sai lầm tối quan trọng chính là chương trình cải cách ruộng đất đặc trưng bởi “sự nổi lên của phong trào nông dân bạo lực.” Những người chống đối quan tâm đến thực tế là có ít tính hợp pháp ở khu vực nông thôn hơn là ở Hà Nội – khu vực trong tầm kiểm soát của Pháp: Bài xã luận của Nguyễn Hữu Đang trong kỳ 4 tạp chí Nhân Văn, vào ngày 5 tháng 11 năm 1956, đã nhắc lại lời tố cáo của Khrushchev về việc sử dụng bạo lực và khủng bố của Stalin và Beria, nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng “Điều này ở xã hội ta không phải ai cũng công nhận dễ dàng. Vì lòng khinh bỉ của chúng ta đối với pháp lý tư sản lớn quá đến nỗi ở một số đông người nó đã trở thành lòng khinh bỉ pháp lý nói chung… Ít luật lệ là một điều thuận tiện cho sự lạm quyền, độc đoán. [32]
Để thúc đẩy tạo dựng nên xã hội mang tính pháp trị hơn, giới trí thức đã kêu gọi chỉnh sửa Hiến pháp, yêu cầu đảng trao tự do cho quốc hội, và mong muốn một nhánh tư pháp được độc lập. Vị luật sư nổi tiếng, Nguyễn Mạnh Tường, đã vạch ra bốn cuộc cải cách pháp lý cơ bản vào tháng 10 năm 1956 cần phải được thực hiện để tránh những việc lạm dụng ngoài vòng pháp luật như đã xảy ra trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất: thiết lập thời hiệu khởi kiện; chấm dứt việc xử tội đồng lõa của gia đình và các thế hệ liên quan đến phạm nhân; thiết lập một tiêu chuẩn cao hơn cho chứng cứ; và cung cấp quyền lợi cho người bị khởi tố trong suốt thời gian điều tra. Theo ông, những trở ngại thêm vào đó là “sự khinh bỉ đối với pháp lý – thứ đứng dưới quyền lực chính trị – và sự khinh bỉ đối với các chuyên gia.”[33]
Các nhà phê bình cũng đề cập rất nhiều đến sự thiếu dân chủ, sự chiếm hữu quyền lực trong tay một số ít nhân vật, và tình trạng trì trệ của chính trị nói chung. Hai tác phẩm táo bạo nhất là của Phan Khôi và Lê Đạt, hai tác giả viết về “ông bình vôi,” ống nhổ mà người nhai trầu vẫn sử dụng, được lấp đầy bởi vôi để ngăn mùi; đến lúc vôi tích tụ, làm cho bình vôi trở nên vô dụng. Sự ám chỉ Hồ Chí Minh và những nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng trong tác phẩm này đã làm cho đảng giận dữ:
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi,
Càng sống càng tồi.
Càng sống càng bé lại.
Phan Khôi đã viết một bài khảo cứu nhỏ dựa trên bài thơ bốn câu này, đặt tên là “Ông bình vôi,” nhằm bổ sung thêm cho hình ảnh phúng dụ của Lê Đạt. Trong bài viết này, ông kể khi còn là một cậu bé 18 tuổi ông đã “hất một loạt ‘ông bình vôi’ thờ trên tường thành xuống đất. Sao lại làm như thế? Chúng tôi cứ làm như thế, không cần có lý luận.” Ông đả kích những nhà lãnh đạo đảng vô dụng và già cỗi: “Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cũ rũ trên tran hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng ‘Ông’.”[34]
Đối tượng của sự đả kích rất rõ ràng. Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo đảng hàng đầu đã trở nên quá cứng nhắc và bảo thủ, cũng giống như những bình vôi cũ, đã mất đi tính hữu dụng. Đã đến lúc cất họ vào kệ. Ở đó họ sẽ được kính trọng, nhưng họ sẽ được thay thế bởi “những bình vôi” mới và có ích hơn. Vì điều này mà Phan Khôi bị tố là kẻ phản động và người theo chủ nghĩa xét lại, một người con người già nua suy yếu không thể vượt qua được “tâm tính tư sản” của mình, nhưng bất chấp những sự tấn công này, ông tiếp tục biên tập tờ Nhân Văn và Giai Phẩm để hỗ trợ cho những tác giả và trí thức trẻ. Để đáp lại lời cáo buộc của nhiều người trong đảng rằng ông là kẻ phản cách mạng, ông đã viết một bài thơ trong tạp chí Giai Phẩm kỳ số ba (tháng mười 1956):
Hồng nào hồng chẳng có gai,
Miễn đừng là thứ hồng rài không hoa.
Là hồng thì phải có hoa,
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi?
Ta yêu hồng lắm hồng ơi!
Có gai mà cũng có mùi, hương thơm.
Tuy nhiên, Lê Đạt và Phan Khôi đứng trong hàng ngũ thiểu số khác biệt, và rất ít người sẵn sàng đối kháng công khai với hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng vẫn có một ngoại lệ, đó là Giáo sư sử học Đào Duy Anh, người đã khẳng định rằng sự tuân thủ cứng nhắc của đảng đối với ý thức hệ sẽ giới hạn lại phạm vi nghiên cứu và tri thức của đất nước và do đó làm chậm quá trình tăng trưởng và phát triển. Trong một đoạn văn sẽ làm tấm gương cho các công trình vào gần bốn thập kỷ sau đó của Phan Đình Diệu và Hà Sĩ Phu, Đào Duy Anh có viết:
Ở nước ta thì bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn, khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Mác-Ăng-ghen và Lê-nin, hoặc những ý kiến của Sta-lin hay các lãnh tụ khác, để, hoặc phát triển thêm những ý kiến ấy, hoặc g̣ò bó tài liệu, xoay sở thế nào để gán vào khuôn khổ của những công thức rút ra tự những ý kiến ấy. Xin chỉ một cái tỷ dụ gần đây. Như vấn đề phân kỳ của lịch sử Việt Nam và vấn đề hình thành dân tộc, chúng tôi nhận thấy rằng nhiều người nghiên cứu không dám có ý kiến gì mới ngoài những điều các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác hay các vị lãnh tụ đã nói về các vấn đề ấy. Hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn có thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ, như cái danh hiệu cải biến chủ nghĩa chẳng hạn, những mũ như thế rất dễ bịt mồm bịt miệng người ta…Trong thực tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy, công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang mọi người tự do đi lại, chứ không phải sợi dây căng của người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật. Phải áp dụng chính sách “bách gia tranh minh” mà Đảng Cộng sản Trung Quốc thi hành đối với công tác nghiên cứu khoa học.”[35]
Tư tưởng chính thống không chỉ dẫn đến tình trạng trì trệ về mặt tri thức và chủ nghĩa giáo điều, mà nó còn tạo ra một tầng lớp tinh hoa hoàn toàn mới, một tầng lớp “bà la môn” bao gồm các đảng viên nào bắt đầu tách mình ra khỏi quần chúng. Là cơ sở cho những tác giả những năm 1990, Hữu Loan tấn công tầng lớp mới này qua bài thơ “Cũng những thằng nịnh hót,” trong đó ông cáo buộc giai cấp thống trị mới, những người đã hành động cũng tương tự như những kẻ thống trị thời phong kiến và thực dân mà họ đã thay thế, về việc trở thành một thứ gì đó mà lẽ ra không nên tồn tại trong xã hội không giai cấp này.[36]
Phản ứng của Đảng
Các nhà lãnh đạo đảng bị chia rẽ trong việc giải quyết tờ Nhân Văn, Giai Phẩm và những tạp chí chống đối khác. Nhiều người muốn miễn tội cho giới trí thức này. Đặc biệt, quân đội khá cảm thông với nhu cầu của những nhà trí thức có lẽ bởi vì bản thân Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cảm thấy đảng can thiệp quá nhiều vào công việc riêng của mình. Nhiều người trong QĐND, cũng như các nhà trí thức, cảm thấy lo lắng về sự quỵ lụy một cách mù quáng đối với các mô hình và học thuyết Trung Quốc.[37] Thật vậy, một chính ủy tư tưởng trong QĐND, Trần Độ, sau này trở thành người bất đồng chính kiến dẫn đầu vào những năm 1990, đã cố gắng dàn xếp một thỏa hiệp với những người theo đường lối cứng rắn của đảng đứng đầu bởi Tố Hữu và trợ lý của ông là Hoài Thanh.
Những người khác hoàn toàn không tin rằng giới trí thức có thể là mối đe dọa với chế độ: những cuộc tấn công gay gắt từ trong nội bộ giới này đã chọc giận nhiều người của đảng, nhưng dân chúng không mấy ai biết đến các nhà trí thức cùng với những lời phê bình chỉ trích của họ. Bùi Tín cho rằng phong trào được dung thứ vì tính cô lập của nó. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thường dưới dạng sách và phim Trung Quốc và Xô Viết, dễ tiếp cận với người dân Việt Nam có trình độ trung bình hơn nhiều so với các tác phẩm của Lê Đạt và Phan Khôi. Như Bùi Tín ghi lại, “Những ngày đó không ai có thể sở hữu các bản Nhân Văn hoặc Giai Phẩm để có thể tự hiểu được vấn đề ồn ào lúc bấy giờ.”[38] Lời kêu gọi của những nhà bất đồng chính kiến phần nào không tới được phần lớn dân chúng bởi vì gần 90 phần trăm dân cư là nông dân mù chữ hoặc bán mù chữ.
Tuy nhiên, những người theo đường lối cứng rắn trong đảng đã giành phần thắng, vào tháng Hai năm 1956 cuộc đàn áp không nương tay bắt đầu với việc bắt giam Trần Dần và các đồng nghiệp của ông. Mặc dù đảng tiến hành hàng loạt các chiến dịch công khai bài trừ các tác phẩm của ông, nhưng để theo kịp trào lưu của thế giới cộng sản như bài phát biểu phi Stalin hóa của Khruschev và bài “Trăm hoa” của Lục Định Nhất, đảng đã cho phép Nhân Văn, Giai Phẩm và các tạp chí khác được xuất bản vào mùa hè và mùa thu năm đó (Nhân Văn được xuất bản năm lần từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 11). Học giả người Nhật Hirohide Kurihara đã lập luận rằng trong suốt giai đoạn này thật ra đảng đã thừa nhận những sai lầm trong chính sách văn chương.[39] Ví dụ, tạp chí lý thuyết của đảng, Học Tập, đã công nhận những vấn đề nêu ra trong Nhân Văn và Giai Phẩm “phần nào phản ánh được thực tế,” và một bài viết trong nhật báo của đảng, Nhân Dân, đã nói rằng chính sách “Trăm hoa” “nhìn chung là đúng.”[40]
Việc đơn thuần khơi lên những vấn đề văn chương không thể đe dọa được những người trong đảng. Điều làm cho đảng sợ là việc phong trào đang tìm cách biến mình thành một tổ chức đối lập với đảng một cách độc lập, lâu dài, trung thành và có tổ chức. Như Chu Ngọc – một biên tập viên – đã tổng kết lại trong tờ Nhân Văn kỳ ba: “Chúng tôi cố gắng đấu tranh trong tổ chức, song liên tục chúng tôi bị chế ngự, nguyện vọng của chúng tôi lên tới Trung ương Đảng đã bị thay thế bằng nguyện vọng của bè phái họ.”[41] Khi các chỉ trích trên các tạp chí mang tính chính trị nhiều hơn và định hướng văn chương ít lại thì nhiều thành viên trong đảng muốn khơi dậy một cuộc đàn áp.
Những tác nhân bên ngoài đã thay đổi tình hình trong nội bộ đảng khi chính quyền Xô Viết nghiền nát cuộc nổi dậy tại Hungari vào tháng Mười Một năm 1956, trong khi đó Trung Quốc đang ở giữa phong trào “chống cánh hữu.” Trong kỳ báo Nhân Dân ra ngày 16 tháng Chín năm 1956, Lê Duẩn cho xuất bản một bài viết có tên “Đập tan phe cánh hữu,” bài viết này là một sự mô phỏng rõ ràng lại cuộc đấu tranh được phát động tại Trung Quốc chống lại Đinh Linh và các trí thức gia đã lên tiếng chỉ trích trong suốt phong trào Trăm hoa. Trong bài báo, Lê Duẩn đã ghi “quyền [chính trị] là một loài cỏ dại độc hại và [chúng ta cần] biến nó thành phân bón để cải thiện đất trồng lúa của chúng ta.”[42] Vào tháng Mười Một, báo Nhân Dân đã đặt tên cho phong trào nổi dậy ở Hungary là cuộc phản cách mạng,[43] và một hội nghị vào tháng Mười Hai của các đảng cộng sản tại Matxcơva đã dẫn đến kết quả là các hệ tư tưởng trở nên cứng rắn hơn và việc đàn áp tất cả kẻ thù của chế độ chuyên chính vô sản được biện minh.
Các nhân tố bên trong cũng có tác dụng, cụ thể là công cuộc cấp tiến hóa của xã hội trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo giai đoạn 1954-1956. Đảng Lao Động “giải phóng sức mạnh của quần chúng để tiêu diệt tầng lớp địa chủ,” đây là một chiến dịch làm cho nhiều người căm phẫn và tổn hại rất nhiều đến khu vực nông thôn. Quá trình tập thể hóa nông nghiệp được thực hiện vào năm 1956 dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc, và các chiến thuật của Trung Quốc như tòa án nhân dân, chiến dịch chống lại địa chủ, vận động quần chúng, đặt tên giai cấp, và hành quyết hàng loạt đã được áp dụng một cách sốt sắng.[44]
Và tất nhiên tồn tại một mối quan ngại về việc thống nhất đất nước vốn đã bị chia cắt từ giữa năm 1954. Có người lo sợ rằng nếu các trí thức gia trở nên quá thẳng thắn và tập hợp được một diễn đàn công cộng thì họ sẽ sử dụng nó để xúc tiến các quan điểm của họ, và sau đó họ sẽ bị chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam sử dụng cho hoạt động tuyên truyền và làm mất uy tín chính phủ Bắc Việt Nam.[45] Theo Hiệp định Geneve ký năm 1954, các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng hai năm – đây là một quyết định mang tính thỏa hiệp, bởi vì trước đó Hà Nội đã muốn tổ chức bầu cử ngay lập tức nhằm tận dụng thế áp đảo của Việt Minh. Mặc dù các cuộc bầu cử ngày càng khó xảy ra, nhưng hy vọng vẫn chưa bị dập tắt, Đảng vẫn muốn duy trì sự ủng hộ cao độ của nhân dân – đặc biệt là ở miền Bắc – kể từ khi mạng lưới Việt Minh và cơ sở hỗ trợ nhanh chóng bị xóa sổ bởi Diệm và em trai của ông là Ngô Đình Nhu ở miền Nam.
Ảnh hưởng thực của sức ép quốc tế và nhu cầu chính trị trong nước là một phản ứng hai mũi nhọn tấn công. Đầu tiên là cuộc đàn áp đối với những người bất đồng chính kiến, bao gồm cả việc các ấn phẩm của họ bị tịch thu và những nhà lãnh đạo phong trào bị bắt và cho đi cải tạo. Hai là chiến dịch văn học mạnh mẽ dẫn đầu bởi giới trí thức trung thành với đảng và mệnh lệnh của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Chiến dịch bắt đầu khi tạp chí Nhân Văn bị đóng cửa vào tháng Mười Một năm 1956 sau một cuộc đình công có tổ chức của công nhân xưởng in, trước khi số báo thứ sáu được xuất bản. Tạp chí Giai Phẩm cũng bị đóng cửa chỉ sau khi phát hành bốn số (Tháng Ba, Tháng Tám, Tháng Mười, Tháng Mười Hai năm 1956). Các nhà xuất bản của cả hai tờ báo đều bị bắt, còn Phan Khôi qua đời tại Hà Nội vào đầu năm 1960, chỉ vài ngày trước khi ông bị triệu tập xét xử vì tội “đi chệch đường lối.” Các nhà lãnh đạo khác bị cáo buộc là đã “âm mưu kích động quần chúng thực hiện những cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lật đổ chế độ dân chủ nhân dân và sự lãnh đạo của đảng.”
Trong bài nói chuyện với giới trí thức vào tháng Bảy năm 1956, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Đảng và chính phủ cần hỗ trợ giới trí thức bằng cách giáo dục để họ có được một lập trường giai cấp vững vàng, một quan điểm đúng đắn, một suy nghĩ hợp lý và những cách cư xử mang tính dân chủ.”[46] Theo lời dẫn dắt này, vào tháng Mười Hai năm 1956, một cuộc họp của các quan chức cao cấp của đảng chịu trách nhiệm về giáo dục và nghệ thuật đã được triệu tập nhằm “thống nhất các quan điểm và suy nghĩ của đảng về chủ đề văn học nghệ thuật, để đưa ra một quyết định cho tạp chí Nhân Văn và chỉ ra những hướng phát triển cho tương lai.”[47] Buổi họp này đã đưa ra quyết định biên dịch ra tiếng Việt tất cả tài liệu tiếng Trung và tiếng Nga về việc quản lý giới trí thức.
….
Bài học kinh nghiệm
Cuộc thanh trừng 1963 – 1967
Gốc rễ của cuộc thanh trừng
Tìm hiểu lại cuộc thanh trừng
Di sản của sự bất đồng chính kiến
Download phần còn lại của văn bản tại đây: Su kien Nhan Van – Giai Pham.pdf

[1] Ghi chú của Ban Biên tập: 1. Tài liệu mang tính chất tham khảo, thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không phải quan điểm của người dịch và Ban Biên tập Nghiencuuquocte.net; 2. Do không thể tìm được tất cả các văn bản gốc để đối chiếu, một số trích dẫn được dịch từ tiếng Anh có thể không đúng như nguyên văn tiếng Việt. Một số thông tin (như về tên riêng, nhân thân, chức danh… của các nhân vật) trong bài mà tác giả đưa ra có thể không chính xác.
[2] Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1946 khi các cuộc đàm phán với Pháp về quyền tự trị đã thất bại và ông chuẩn bị cuộc chiến chống Pháp. Để làm cho các nhóm dân tộc khác, đặc biệt là Việt Nam Quốc Dân Đảng – những người kiên quyết chống cộng, gia nhập vào tổ chức chung là Việt Minh, Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông tìm cách làm giảm bớt những lo ngại cho rằng Việt Minh là một tổ chức do cộng sản lãnh đạo hoặc chi phối. Tuy nhiên, các cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã chiếm ưu thế trong những vị trí lãnh đạo của Việt Minh.
[3] Melvin Gurtov, The First Indochina War: Chinese Communist Strategy and the United States (New York: NXB ĐH Columbia, 1967), 16.
[4] William Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam (Boulder, Colo.: Westview Press, 1981), 141.
[5] Andrew Vickerman, The Fate of the Peasantry: The Premature “Transition to Socialism” in the Democratic Republic of Vietnam (New Haven, Conn.: Yale Center for International and Area Studies, Chuyên khảo số 28, 1986). Tham khảo thêm Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1993), 224.
[6] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” trong P. J. Honey, biên tập., North Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite (New York: Praeger, 1962), 77.
[7] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 73.
[8]  Đặng Thai Mai, “Văn học Việt Nam,” tạp chí Châu Âu, 187-388 (Tháng Bảy – Tháng Tám 1961), 91.
[9] Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature and Art,” Tháng Năm 1942, trong Mao Trạch Đông,  Tuyển tập, tập 3 (Peking: NXB Ngoại Ngữ Hà Nội, 1965), 69–98; Vladimir Lenin, “Party Organization and Party Literature,” 1905, trong Robert C. Tucker, biên tập và dịch, The Lenin Anthology (New York: Norton, 1975), 148–153; Maxim Gorky, “Soviet Literature,” Bài nói chuyện tại Đại hội đầu tiên các nhà văn Xô Viết của toàn liên bang 17 tháng Tám 1934, trong Maxim Gorky, On Literature: Selected Articles (Moscow: Foreign Language Publishing House, n.d.), 228–268.
[10] Trường Chinh, “Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam” (Báo cáo trong Hội nghị Văn hóa Toàn Quốc lần hai, tháng Bảy 1948) trong Trường Chinh, tuyển tập (Hà Nội: NXB Ngoại Ngữ, 1977), 286
[11] Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature and Art,” 86.
[12] Hồ Chí Minh, “Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951,” trong Hồ Chí Minh, tuyển tập (1920-1949) (Hà Nội: NXB Ngoại Ngữ, 1973), 133
[13] Cùng tác phẩm, 134
[14] Georges Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan-Van Giai Pham Affair,” Vietnam Forum 13, 155.
[15] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 74.
[16] P. J. Honey, “Introduction,” in Honey, ed., North Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite (New York: Praeger, 1962), 6.
[17] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 75.
[18] Như trên, 76.
[19] Phan Khôi, “Phê bình Lãnh đạo Văn nghệ,” Giai Phẩm Mùa Thu (Tháng Chín 1956) trong Hoàng Văn Chí, biên tập, Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam (Sài Gòn: NXB Công Dân, 1958), 75.
[20] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 80.
[21] Trích trong Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 80.
[22] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 157.
[23] Trích trong C. K. Nguyễn, “Prophets without Honour,” Far Eastern Economic Review (sau đây viết tắt là FEER), 4 Tháng Tư 1991, 31.
[24] Phan Khôi là cháu trai của huyền thoại Hoàng Diệu (người đã treo cổ tự vẫn khi người Pháp chiếm thành Hà Nội) và là cha đẻ của thơ hiện đại, một nhà cách mạng kỳ cựu, người đã trải qua chín năm bị giam cầm trong nhà tù Côn Đảo và tám năm trong những khu rừng Việt Bắc cùng với lực lượng kháng chiến. Ông qua đời trong tủi nhục, và bị gán cái mác kẻ thù của quốc gia.
[25]Giai Phẩm, Tháng Chín 1956, trích trong Jamieson, Understanding Vietnam, 258
[26] Hoàng Văn Chí khẳng định rằng Trần Dần cuối cùng cũng bị đem ra xét xử, nhưng “không có lời bào chữa nào của ông được nhắc đến,” qua đó chứng minh rằng “tất cả miệng của họ đã bị lắp đầy.” Tham khảo Hoàng Văn Chí, The New Class in North  Vietnam (Sài Gòn, NXB Công Dân, 1958), 81-83
[27] Tham khảo Nguyễn Ngọc Bích, biên tập, One Thousand Years of Vietnamese Poetry (New York: NXB ĐH Columbia, 1975), 187–189.
[28] Tác phẩm giành giải của Xuân Diệu “Ngôi sao.” Xuân Diệu trở thành trí thức gia hàng đầu của đảng, liên kết chặt chẽ với Tố Hữu – nhà thơ cách mạng và sau này trở thành ủy viên Bộ chính trị.
[29] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164.
[30] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164. Khi đảng cảnh cáo ông về những tác phẩm này, Phùng Quán đã trả lời một cách ngang ngược:
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi?
[31] Trần Lê Văn, “Fear Not that the Enemy Shall Benefit,” Nhân Văn số 2 (30 tháng Chín 1956): 164; trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s.”
[32] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 166.
[33] Như trên.
[34] Trích trong Jamieson, Understanding Vietnam, 261.
[35] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 167.
[36] Bài thơ xuất hiện trong Giai Phẩm mùa Thu phiên bản ra vào Tháng Mười năm 1956 và có thể tìm thấy trong Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam.
[37] Bùi Tín, Following Ho Chi Minh: Memoirs of a North Vietnamese Colonel (Honolulu: University of Hawaii Press, 1995), 14-16.  Tác phẩm này nhấn mạnh sự bất đồng giữa Võ Nguyên Giáp và Trường Chinh. Ông Giáp, người chiến thắng trong trận chiến Điện Biên Phủ, đã đạt được điều đó bằng cách lờ đi lời khuyên từ các cố vấn Trung Quốc của mình. Một điểm thú vị là trong hồi ký của mình về cuộc chiến, ông rất hiếm khi nhắc đến sự ủng hộ của Trung Quốc hoặc trợ giúp mà ông nhận từ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tham khảo thêm trong Cecil Currey, Victory at Any Cost (Washington, D.C.: Brassey’s, 1997), esp. 145–212.
[38] Tín, Following Ho Chi Minh, 35.
[39] Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers’ Party, 1956-1958,” in  Indochina in the 1940s and 1950s (Ithaca, N.Y.: NXB ĐH Cornell, Southeast Asia Program, 1992), 165–196.
[40] Ví dụ, tham khảo Nguyễn Chương, “Có căn cứ hay không có căn cứ,” Nhân Dân, 15 tháng Mười 1956. Và Nguyễn Chương, “Mấy điểm sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu,” Nhân Dân, 25 tháng Chín 1956.
[41] Chu Ngọc, Nhân Văn, Kỳ 3. Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164.
[42] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 171.
[43] “Phất cao ngọn cờ yêu nước và xã hội chủ nghĩa, nhân dân Hung-ga-ri đã đè bẹp bọn phản cách mạng, tay sai của đế quốc,” báo Nhân Dân, 5 tháng Mười Một 1956
[44] Chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo và gây ra cuộc nổi loạn công khai tại Nghệ An, điều này đã đe dọa đến sự sống còn của đảng – Ngay cả sự trung thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng bị nghi ngờ. Hồ Chí Minh bị buộc phải cách chức Trường Chinh (người đã trải qua việc tự phê bình trước công chúng) và nắm quyền điều hành đảng. Bản thân Hồ Chủ tịch nhận ra được sự thái quá, và đã tiến hành một cuộc vận động chỉnh đốn. Ban chấp hành Trung ương Đảng thừa nhận “đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng trong suốt cuộc cải cách ruộng đất,” và hàng nghìn tù chính trị đã được thả như một động thái thể hiện thiện chí. Nhưng những cuộc thanh trừng của đảng đã gieo rắc sự ngờ vực sâu sắc. Tại Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Lao Động đã thông báo sẽ “mở rộng dân chủ, bảo vệ tự do dân chủ và mở rộng hệ thống pháp lý dân chủ.” Lincoln Kaye, “A Bowl of Rice Divided: The Economy of North Vietnam,” trong P. J. Honey, biên tập, North Vietnam Today, 107–108. Lịch sử đầy đủ của chiến dịch cải cách ruộng đất có thể tìm đọc trong Vickerma, The Fate of the Peasantry.
[45] Ví dụ, tham khảo, Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam.
[46] Hồ Chí Minh, “A Talk with Intellectuals,” trong Hồ Chí Minh, Tuyển tập các bài báo và phát biểu, 1920–1967, Jack Woddis, biên tập (New York: International Publishers, 1969), 109.
[47] Tạp chí Văn Nghệ, 13 (Tháng Sáu 1957)
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2013/10/03/su-kien-nhan-van-giai-pham/#sthash.WQrX6JEx.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cõi phúc


Truyện ngắn của Hồng Giang
Nhiều người bảo Thắm nên về. Bỏ hắn là nàng có tội. Đời này, kiếp này nợ ấy không trả hết..
Mấy kiếp nữa có thể cũng không hết.
Nàng thấy khó quá.
Nhớ những ngày đã qua..
Những việc hắn làm, có việc còn hằn sâu vết thương lòng, chưa biết đến bao giờ mới khỏi ?
Nhưng, để hắn sống như thế kia lòng Thắm không nỡ. Áy náy, day dứt như chiếc dằm vướng trong da thịt.
Mấy hôm nay trời mưa rét. Cuối tháng giêng, đầu tháng hai rồi mà cái rét chưa dứt. Tê tái người. Lại thêm mưa phùn, gió bấc làm bạn, cái rét càng đáo để.
Nàng áo trong áo ngoài, tất chân, tất tay vẫn không chịu được.
Thế mà hắn ngoài cái áo bludon rách nhặt được, cộc đến khỉu tay, chỉ thêm mỗi mảnh áo mưa nát, thủng lỗ chỗ. Hắn nhặt đâu được đôi bata cũ không cùng cỡ, thủng thò cả ngón chân ra ngoài. Cái quần bò lươm tươm hai ống không đều nhau. Trùm lên tất cả những thứ đó là cái áo bạt kiểu sĩ quan quân đội mục hết chỉ may, gió cứ thổi mỗi mảnh hướng về một nơi, chả khác gì con bù nhìn ở cánh đồng dưa ngoại thành..
Hai tay hắn khoanh trước ngực, mặt hất về phía trước. Đấy là dấu vết của thời oanh liệt còn sót lại. Mắt hắn nhìn trống rỗng như chẳng nhìn gì cả. Như thiên hạ chẳng còn ai. Có còn ai cũng không đáng nhìn.
Kiêu ngạo một cách hư đốn và bẩn thỉu.. Đấy là lúc hắn bình thường, không nổi cơn điên..
Chiều hôm trước, khi nàng đứng ở chỗ này nàng đã thấy tất cả. Hắn là thằng điên không giống bất cứ thằng điên nào ở trên đời.
Nhiều năm không gặp, khi nghe kể, nàng không nghĩ hắn phát điên như thế. Hắn bỏ đi đâu đó, bây giờ mới về..
Hắn nhìn khắp lượt kệ hàng xếp đủ thứ linh tinh một lượt. Ấm sứt vòi, tách đứt quai, lon nhựa, hộp thiếc, phích nước hỏng, chén đĩa..Chiếc bàn là hỏng đôi dép, mấy chiếc giày cũ đủ cỡ..Toàn những thứ hắn lượm không biết từ đâu về. Được cái thứ nào cũng lau chùi sáng bóng, nom còn đẹp hơn các thứ hắn đeo trên người.
Mớ hàng hoá lộn xộn ấy hắn xếp thật khéo léo, dựa vào góc tường phía ngoài chợ Tam Dân. Khéo đến nỗi lão thợ khâu giày phía bên kia đường lúc rảnh rỗi ngó sang, phải thán phục và có ý ghen tỵ.
Xếp đẹp thế mà cả ngày chả có ma nào hỏi mua hay hỏi bán bất cứ thứ gì.. Nhìn một lúc lâu, như thể bị hoa mắt, hắn ngồi thụp xuống. Hai tay ôm lấy mặt, hắn khóc. Nức lên như cha mẹ chết, vợ bị đi tù hay là con nhảy xuống sông tự vẫn..
Rồi tự nhiên hắn vùng dậy, như chợt nhớ ra, hắn gào lên “ Tiền của tôi đâu ? Tiền của tôi đâu ?”.
Hắn cuống cuồng lục chiếc cặp da đứt quai, lấy ra tập tiền.
Cũng đủ Việt Nam đồng, Đô la Mỹ, Nhân Dân Tệ.. Chỉ có khác đấy toàn là tiền âm phủ.
Đợt lũ từ bao giở, bao giờ hàng mã không chạy kịp, bị ướt, không bán được nữa người ta bỏ đi. Hắn nhặt về, vuốt lại ngay ngắn, thành từng tệp buộc dây thun đàng hoàng.
Hắn đếm.
Tiền mệnh giá nào theo mệnh giá ấy..
Lúc sau hắn ngẩn người lẩm bẩm : “ Mẹ nó, đúng là bị rút lõi rồi..”
Rồi quát vu vơ : “Đứa nào lấy của ông muốn sống mang trả ngay”. Hắn nhìn quanh như để tìm kiếm, doạ vu vơ : “Truyền đời cho chúng bay biết, của ăn không ăn hỏng là không có bền. Ông mà vớ được thằng nào cứ liệu thần hồn..Chưa biết mặt hàng này à? Hơ.. hơ.. ơ ơ”
Đột nhiên hắn co người, nhảy phắt ra đường như đồng vừa nhập vào hắn. Hắn hú hét, đi quyền. Vài đường “hổ quyền”, “hầu quyền”, cả “thần quyền” nữa. Chân tay múa may, miệng thổi phù phù như rắn thổi lửa.
Hắn như không còn là hắn nữa. Cái thân hình bệu xệu thường ngày biến mất nhường cho một dáng hình nhanh nhẹn, ma quái.
Múa võ chán, hắn chạy quanh khu đồ hàng quái dị của mình.
Ngồi thụp xuống. Lôi mớ mảnh chai, mảnh sành ra nhai rau ráu. mắt hắn sáng lên như đang ăn món khoái khẩu, hai mép máu nhờn nhợt màu hồng ứa ra..
Thắm trông thấy mà rùng mình.
Thấy sợ.
Không biết rồi hắn còn sống thêm được bao nhiêu ngày trong tình trạng này ?
Hắn chết, các con cô sẽ mồ côi cha.
Nhưng đón hắn về cuộc sống liệu sẽ như thế nào ?
Cô đang nghĩ ngợi thì xe đổ rác tới. Từ các ngả, xe thùng nườm nượp kéo ra. Gầu vét rác tự động dồn tất cả rác rều vào khoang, nén chặt như bó giò. Mùi tanh tưởi, hôi nồng toả ra không chịu nổi.
Hắn từ bên kia đường, như tỉnh giấc mơ nhảy cào cào, chen vào giữa tiếng quát mắng của đám công nhân môi trường. Hắn chỉ nhe răng cười, lại cười rất hiền nên chẳng ai làm gì hắn.
Người ta vẫn để hắn dùng cái móc sắt kều những gì hắn thích từ trong thùng xe, trước khi người ta đưa nó lại gần chiếc xe chuyên dùng.
Thắm sợ người nào đó nhận ra mình, cô len lén đi ra lối bờ sông.
Chiều hôm ấy trở giời. Đêm có mưa. Cả đêm Thắm không sao nhắm mắt được. Không biết lúc đó, hắn, người chồng cũ của cô đứng vào chỗ nào?
Cô lặng lẽ lấy áo mưa, đạp xe ra chỗ hắn.
Bốn bề vắng lặng. Thỉnh thoảng mới có chiếc xe chạy vội vã qua đường. Mưa gió thế này chỉ có người điên mới đi ra đường.
Đúng vào hôm cắt điện, góc chợ chỗ hắn ngồi tối om.
Thắm đột nhiên phát hiện chỗ hắn ngồi có thứ ánh sáng rất lạ. Không phải ánh điện, ánh đèn..
Ánh lân tinh từ các đồ đạc ẩm mốc lâu ngày, từ áo quần hắn phát ra thứ ánh sáng mờ mờ ảo ảo, xanh lè như ánh đuốc ma.
Thắm sợ.
Cô vội quay về.
Chao ôi cũng một kiếp người !
Mới ngày nào, hắn, chàng trai kiêu hãnh. Đẹp trai. Giỏi ăn nói nhất đất này. Chân cầu thủ có hạng của đội tuyển thành phố..
Nhất là gia đình cự phú, đại gia thời bấy giờ, có tiếng là cho vay nặng lãi, dính dáng xã hội đen. Nhiều nghi án.. Nhưng rồi lưng vốn tràn, chông gai nào nhà ấy cũng vượt qua, nhà ấy chả hề hấn gì.
Về làm dâu nhà ấy ai cũng bảo nàng có phúc, lấy được chồng giàu sang, hào hoa có tiếng đất này..
**
Thắm không phải người ở đây. Gốc gác cha mẹ nàng là dân vạn chài, cứ ở đâu có sông có nước, ở đấy là quê hương.
Bến Đền Hạ này cũng có thời bố mẹ nàng tá túc.
Ngày ông bà mới lấy nhau, cứ theo con nước, chiếc thuyền nan nhỏ của hai người đi mãi. Ngày thả lưới. Tối giăng câu. Tiện đâu, mệt thì nghỉ đấy.
Một cuộc gặp gỡ tình cờ với người đồng đội của bố làm thay đổi cách sống của gia đình cô. Ông ta đang có chân trong ban lãnh đạo thị trấn Vĩnh Lộc. Ông muốn thể hiện tình đồng chí đã từng vào sống ra chết có nhau, có ý tốt giúp bạn thay đổi cuộc sống lênh đênh, nay đây mai đó..
Bố mẹ Thắm lên bờ cất nhà nhờ vào sự may mắn bất ngờ này.
Người khác có tiền chưa chắc đã có được chỗ ở tốt như nhà Thắm bây giờ.
Hồi đó sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn không như ngày nay. Nông thôn miền núi chưa là đối tượng xoá đói giảm nghèo. Ở đó quản lý xã hội, đất đai còn lỏng lẻo tuy cũng làm ăn tập thể nhưng vẫn dễ xoay trở hơn nơi tập trung dân cư đông đúc, thiếu việc làm.
Người ở thị xã, thị trấn vẫn len lỏi nhờ vả, mượn đất người vùng sâu vùng xa để tăng gia.
Bố mẹ Thắm vẫn làm nghề chài lưới vì thị trấn ở sát mép sông. Chỉ có khác trước là có thêm mảnh vườn để trồng rau nuôi gà.
Người bạn đồng ngũ của bố Thắm chính là bố hắn.
Hai người ngay từ hồi Thắm còn bé, đã từng hứa hẹn sau này làm thông gia với nhau.
Mấy năm sau ông chuyển công tác về thành phố này, lúc đó vẫn còn là thị xã nghèo.
Gọi là thị xã, nhưng vẫn nhà cửa đơn sơ, thưa thớt chẳng khác thị trấn Vĩnh Lạc của nàng bao nhiêu.
Ngay cả lúc đó nàng cũng chưa gặp hắn lần nào.
Mãi sau này, bố Thắm bị bệnh thấp khớp, hai ông bà mới bỏ nghề chài lưới, mở sạp tạp hoá trong chợ Vĩnh Lạc.
Thỉnh thoảng Thắm theo mẹ về chợ thị xã cất hàng. Có hôm nhỡ tàu, phải nghỉ lại, mẹ đưa Thắm vào nhà hắn, là chỗ quen biết, tin tưởng.
Hắn đã học lên cấp ba, còn Thắm vì gia đình khó khăn đã nghỉ học được mấy năm.
Bữa cơm, bố hắn lại nửa đùa nửa thật nhắc lại câu chuyện cũ. Mẹ Thắm chỉ cười không nói gì. Còn thắm xấu hổ đỏ bừng cả mặt, ăn vội bát cơm rồi đứng dậy không dám ngồi lâu.
Hắn thì chả nói gì, chỉ nhìn nàng với cặp mắt tò mò. Có lẽ lúc đó hắn còn tính trẻ con, lúng túng chưa biết tán tỉnh , chuyện tình cảm trai gái vẫn là cái gì đó chưa quen.
Sau này buôn bán cởi mở hơn, hết cảnh cấm chợ ngăn sông. Hàng hoá người ta mang ô tô đem đến tận nhà, những nhà bán buôn không phải cất công đi lấy hàng như trước.
Thắm cũng ít có dịp về thị xã.
Bẵng đi vài năm, hai nhà không có dịp qua lại với nhau..
**
Có một lần, sau bữa cơm tối, bố nàng bảo:
- Nhà bác Lộc (Bố của hắn) bây giờ khác lắm. Nếu bác ấy không ra mở cửa tao không dám nghĩ đấy là nhà bác ấy. Không phải như hồi bố con mình về đâu. Nhà bây giờ xây năm tầng lầu. Bác ấy không còn làm ở cơ quan nhà nước nữa, mà mua hai chiếc xe khách chạy đường dài. “Mở cửa” rồi, không biết ngày xưa các ông, các bà ấy giấu diếm cách gì mà vừa mới bung ra đã lắm tiền như vậy? Lương cán bộ thời bao cấp ba cọc ba đồng. Ở trên này về mua đất bác ấy còn phải vay mượn tứ tung..Thế mà mới có ít năm, thay đổi một trời một vực..Hay là ở dưới đấy làm ăn dễ hơn ở trên này ?
Thắm nghe. Cô không nói gì. Việc chẳng liên quan đến mình. Để ý làm gì ? Thời buổi bao nhiêu cái không thể, bỗng dưng thành có thể. Nhiều chuyện có nghe cũng không dám tin là thật. Cứ như chuyện bịa mà có thật trăm phần trăm. Tốc độ sống quá nhanh khiến nhiều khi người trong cuộc còn bối rối, chưa hiểu, nói gì người ngoài ?
Dù có thế nào, cũng là chuyện của gia đình bác ấy.
Thắm không ngờ sự thay đổi ấy, sau này lại liên quan đến mình. Mình lại là người chịu hậu quả của sự may mắn bất ngờ của gia đình hắn.
Giá như bố mẹ hắn vẫn là công chức nhà nước. Có thể hai ông bà ấy vẫn nghèo, nhưng mà yên ổn, đầm ấm.
Thắm cũng chỉ cần có thế. Không cần hơn. Không cần leo lên chót vót lên đỉnh để rồi phút chốc lăn nhào xuống vực.
Tình cảm con người là thứ phức tạp. Cái gọi là kiên định, lập trường chẳng qua là thứ nói gặp may. Khi nó chưa áp vào đổi thay dữ dội.
Đứng trên bờ chỉ thấy dòng sông mùa thu xanh ngát. Ai biết đâu người ta có thể chết chìm dưới đó một khi sơ xuất, sa đà?
Đám cưới Thắm nổi tiếng một thời. Lúc đó cô hãnh diện với bạn bè. Thấy mình thật là hạnh phúc. Một đoàn xe con thuê từ Hà Nội lên để nhà trai đi đón dâu.
Tiệc cưới suốt ba ngày, vang lừng tiếng nhạc, rực rỡ mầu hoa..Chi phí mấy chục cây vàng!
Chú dể sánh bên cô dâu như ông hoàng đi cùng bà chúa .
Ai ngước nhìn cũng phải trầm trồ, ước muốn, tủi phận mình..
Sau đêm động phòng, hắn kể cho Thắm nghe câu chuyện mà cha cô từng thắc mắc.
Nhưng khi đấy Thắm không để ý lắm. Câu chuyện vì sao mà nhà hắn tự nhiên khá lên dù sao cũng là chuyện đã qua. Chú ý quá đến chuyện tiền bạc cô sợ chàng tân lang coi thường.
Tình yêu bao giờ cũng bắt đầu bằng sự cao thượng và thăng hoa như thế..
Thắm không nghĩ câu chuyện hắn kể đêm tân hôn lại là dữ kiện của số phận cô sau này..
**
Một đêm sáng trăng suông, đã khuya, có một bóng người men theo bờ suối lên núi Đúm. Ông ta đi một mình, không đèn đuốc, nai nịt gọn gàng. Trên vai người đàn ông là chiếc xà beng ngắn, tay cầm con dao phát lối mở đường.
Người đó đi rất nhanh, tránh xa những chỗ còn sáng đèn khu ngoại vi thị xã.
Đêm hôm thế này chắc chắn ông ta không đi đào củ mài.
Chưa phải thời thừa thãi gì, nhưng bây giờ cũng không ai đói phải mò vào rừng kiếm cái ăn đêm hôm như xưa nữa.
Từ lâu rồi củ mài ở núi Đúm cũng không còn. Người ta đã gọi nó là củ “Hoài sơn”, một vị thuốc.
Ngay ban ngày cũng khó tìm chứ đừng nói gì đêm tối.
Vậy ông ta đi đâu ?..
Đường lên Đát ( tên gọi thác nước của dân địa phương) dọc theo lòng suối. Hai bên bờ những phiến đá đủ hình thù kỳ dị, nằm ngổn ngang. Có chỗ đá chặn ngang dòng nước từ trên cao đổ xuống tạo thành làn thác dội ào ào. Cảnh tượng ban ngày hẳn rất đẹp. Nhưng ban đêm mang vẻ kỳ bí, ghê rợn. Tiếng nước chảy dội vào vách núi như tiếng quỷ thần đang vần xuay cối xay lúa khổng lồ. Như tiếng một trận bão lốc đang từ phía sườn núi bên kia sắp bất ngờ đổ xuống..
Thỉnh thoảng có những phiến đá rêu phủ trơn tuột, khiến ông ta lao đao, chúi về phía trước muốn ngã.
Những năm tháng băng rừng thủa vượt Trường Sơn có lẽ giúp ông vượt qua trở ngại bày ra trước mặt.
Ông đã qua đát thứ ba, chỉ còn một thác nước nhỏ nữa là lên tới đỉnh. Chỗ này hai bên vách núi dựng đứng, rất khó đặt chân. Có một khe nhỏ như một vết nứt của vách đá phía bờ bên phải. Không biết bằng cách nào đó có cây dâu da bám vào vách đá ngay trước mặt.
Ông ngồi xuống phiến đá nhẵn gần cạnh đấy.
Có lẽ dọc đường lên tới đây ông đã thấm mệt, cần nghỉ lấy sức.
Hai ống quần Gabađin còn khá tốt, giờ đá rách bươm.
Đôi giày vải cao cổ, hàng quân nhu thủng đâu đó, nước chui vào bên trong ướt nhóp nhép.
Nhưng hình như ông không chú ý đến chuyện đó. Hẳn là trước khi lên tới đây ông đã tiên liệu trước tất cả điều này.
Ngồi không lâu, ông đứng lên đi về phía cuối khe..
Có hòn đá tự nhiên hình thù giống hệt đầu chú chó nhìn xuống lối ông vừa leo lên.
Vất vả lắm, hì hụi mãi, ông mới dùng xà beng lật được nó sang bên cạnh.
Trước mắt ông là cái hố sâu, tối đen không nhìn thấy gì.
Ông cởi áo ngoài cho đỡ vướng, cúi xuống, nghiêng mình, thò tay lấy lên một vật nhỏ chỉ bằng con mèo.
Vật đó được gói bên ngoài bằng mấy lớp vải đũi.
Thứ vải ngày nay không còn ai biết dệt nó từ sợi tơ tằm.
Ông nhấc lên thử, nặng kinh người.
Không nói không rằng, ông ôm nó vào lòng, dò tìm đường xuống.
Có nói gì thì cũng chẳng có ai nghe lúc này. Hơn nữa đây không phải việc thường..
Lúc đó trời đã gần về sáng. Nếu chậm chút nữa sẽ không kịp..
Nghe tới đây, Thắm hỏi gã:
- Đó là vật gì hở anh ?
- Em thử đoán xem nào ?
- Chắc là ai dấu của ở đó phải không ? Vàng hay bạc ?
- Thôi mệt rồi, ngủ đi, em muốn nghe mai kể tiếp. Anh buồn ngủ lắm rồi.
Nàng nằn nì, hắn vẫn không chịu nói.
Mệt thì có mệt, nhưng không phải mệt đến mức không thể kể hết câu chuyện.
Hẳn là hắn còn đắn đo không biết có nên nói hết cho nàng nghe không?
Mẹ hắn đã dặn “Tuyệt đối không được hở ra chuyện này. Có khi nguy đến tính mạng chứ không phải chuyện chơi!”.
Những ngày sau nàng gặng hỏi chuyện hôm trước hắn lại đánh trống lảng. Bảo: “Anh bịa đấy mà, chẳng có chuyện gì đâu”.
Có lẽ đêm trước vui miệng hắn lỡ kể, giờ muốn đính chính lại.
Mãi sau này, khi nàng có con với hắn rồi, khi hắn đua đòi ăn chơi, lại chính mẹ hắn nói với nàng.
Khi ấy bà với nàng là đồng minh trong cuộc giành giật hắn trở về với nếp sống gia đình. Hắn thường vắng nhà nhiều ngày. Tiền bạc trong tay hắn chỉ như lá trên ngàn..
Bà kể :
Bố hắn là người không duy tâm.
Ông cực gét những chuyện ngồi đồng, bói toán.
Chuyện tin vào giấc mơ như một điềm báo trước lại càng là chuyện vớ vẩn, không đáng bận tâm.
Vậy mà không hiểu tại sao, bỗng dưng ông dở chứng.
Ông bảo ông phải đi một chuyến xem sao. Lại chỉ đi một mình, trong đêm tối, như đã kể ở phần trên.
Mới biết những câu cửa miệng, người ta thường hay nói, có khi không phải đều là suy nghĩ thật. Người ta cứ nói. Còn vì nhiều ý nghĩa và mục đích khác.
Đừng ngạc nhiên, khi bắt gặp một vị nào đó có cương vị xì xụp khấn vái, xin ấn tín, lộc thánh nơi cửa đền cửa phủ.
Tất nhiên ngày nay “Văn hoá tâm linh” được chú trọng, việc cấm kỵ không còn như cách đây mấy chục năm khi xảy ra câu chuyện này.
Thời mà ông một thân một mình lên núi Đúm, e ngại người ta nhìn thấy.
Cũng có thể ông sợ kẻ khác biết, đòi chia mối lợi.
Việc đã qua lâu rồi, mù mù mịt mịt, bây giờ có muốn tìm lại nguyên nhân, chẳng biết đâu mà lần.
Thiết nghĩ chẳng còn đáng bận tâm.
Bố hắn kể cho vợ nghe về giấc mơ của mình. Một giấc mơ khiến một gia đình công chức nghèo khổ, lương ba cọc ba đồng, bỗng nhiên đổi đời.
Ông đang phụ trách công trình cải tạo lại mạng lưới giao thông của thị xã này, chuẩn bị mai sau cho nó nâng cấp lên thành phố.
Con đường sẽ phải nắn lại. Nó sẽ xuyên qua khoảng tường phía bắc của khu thành cổ.
Chiếc máy xúc vừa mới ngoạm vào bờ tường để lật nó xuống bỗng dưng khựng lại. Máy chết. Người lái văng xuống mặt đường, mặt mũi tái xám, thở không ra hơi. Người ta phải cấp tốc đưa anh ta đi bệnh viện.
Mọi người xúm đông xúm đỏ. Người ta ta thán bạn lãnh đạo công trường không làm lễ động thổ.. Chưa ai nghĩ đến chuyện đang huỷ hoại một di sản văn hoá, hay xúc phạm đến tâm linh..
Không nhiều ý kiến như việc tu bổ khu di tích này như vừa qua công luận phàn nàn. Người ta đổ trách nhiệm cho tỉnh, nhưng thực ra vấn đề lại tự đâu đâu rơi xuống, tỉnh như người đổ vỏ, kẻ ăn vẫn như một ẩn số.
Đêm đó ông nằm mơ thấy một vị võ quan cưỡi con ngựa hồng. Ông ta để râu rậm cuộn vào bao râu may bằng vải xanh. Vị tướng đã già, râu tóc bạc trắng.
Ông tướng chỉ mặt cán bộ công trường mà nói rằng “Như thế..” “Như thế..”
Còn dặn thêm : “Đó là lộc giời, từ thời bọn Tàu sang đây giấu của. Ta biết mà không dám đụng vào. Nay ngươi dừng công việc, ta chỉ chỗ cho. Nhưng nhớ phải đem cúng đền, phủ một nửa. Nửa còn lại đem giúp người nghèo. Nhà ngươi chỉ nên giữ một chút làm lưng vốn. Như vậy, phúc lộc mới bền..”
Đó là con ngựa bằng vàng, nặng cả tám cân kilô, mà lúc đầu người viết bài này chưa tỏ, nói: “.. nó giống và bằng cỡ con mèo.”Vua chúa còn có khi nhầm.
Nếu người viết có nhầm cũng là lẽ thường, phải không ạ ?
**
Năm nàng về làm dâu, nhà hắn đã mở tiệm vàng. Đó là tiệm vàng cổ xưa nhất của thành phố này bây giờ.
Dấu vết còn lại bây giờ chỉ còn ngôi nhà ba tầng xây theo lối cổ. Trước nhà có biển hiệu theo kiểu ngày đó, đắp phù điêu bằng xi măng. Hai chữ “Tiến Đức” vẫn còn nguyên trên tường, nhưng chủ nhà đã thay người khác.
Rất ít thấy có người nào mở tiệm vàng lại không giàu có, mỗi ngày một khá thêm lên. Những người hành nghề này, vợ chồng không mấy khi bỏ nhau. No cơm ấm áo, làm gì có chuyện tan đàn xẻ né ?
Nhưng vợ chồng nàng lại là ngoại lệ.
Nàng vun vào bao nhiêu, hắn bới bỏ bấy nhiêu.
Thôi thì thượng vàng hạ cám chả thiếu chuyện gì về hắn.
Người ta giàu lên mới khó, chứ nghèo đi mấy nỗi ?
Con ngựa cưa đến chân cuối cùng, rồi cắt ra bán cả con cũng không thể cứu vãn cái cơ đồ đang lao xuống vực.
Đền phủ chẳng được chút nào. Người nghèo cũng không một vảy.
Tất cả chạy vào ống tẩu, vào chiếu bạc, vào các cuộc gái gú trăng hoa. Đến núi cũng lở chứ con ngựa có tám cân ki lô thì nhằm nhò gì ?
Hết tiền.
Thói chơi ngông chưa hết. Cha mẹ hắn lần lượt qua đời. Cả hai chết bởi những căn bệnh ái oăm, không thuốc nào khỏi.
Nếu kể tỷ mỷ thì rất dài dòng..
Chỉ biết sau đó nàng với hắn mỗi người một đường.
Hắn theo người ta làm nghề lơ xe, rồi đến với người đàn bà khác giàu có trên mạn ngược.
Hết tiền, thói trăng hoa, chơi bời chưa hết. Không người phụ nữ nào có thể gắn bó suốt đời với hắn được nữa rồi.
Hắn lang thang nay đây mai đó, xấu hổ không dám tìm về. Rồi thân tàn ma dại, không ai còn nhận ra hắn như ngày xưa.
Bây giờ chỉ còn nàng là nhớ hắn là ai. Hắn không hẳn là thằng điên. Hắn đã từng liệt oanh một thời.
Chứng điên khùng của hắn chưa chắc đã là thật. Con người ta cùng đường còn cách nào khác, ngoài giả điên ?
Những người biết chuyện, đều khuyên nàng mở lòng đón hắn về.
Giả như hắn có điên thực rồi bệnh dần sẽ khỏi ?
Mẹ nàng đi xem, thày cũng bảo nàng với hắn nợ duyên chưa dứt. Bỏ hắn lúc này nàng sẽ mang tội kiếp sau.
Chuyện đó có hay không, đối với nàng lúc này cũng không quan trọng nữa. Chỉ thấy để hắn ngày ngày như mình trông thấy, thật không đành lòng.
Hay là mình cứ thử một lần xem sao ?
Người ta nói : “Tha là cõi phúc” Kia mà ?
Nàng bước qua lòng đường.
Góc chợ bên kia hắn vẫn đang cười nhen nhen..
Hình như với người điên, người đời nghĩ thế nào cũng không quan trọng.
Leng keng tiếng đổ xe thùng..
Hình như đã bảy giờ chiều rồi thì phải !
*****

Phần nhận xét hiển thị trên trang

200 triệu người trên thế giới sắp thất nghiệp


Số người không có việc làm trên toàn cầu được dự báo lên mức kỷ lục năm nay, còn những người đã đi làm cũng khó có khả năng tăng lương.
Nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết số người thất nghiệp trên thế giới sẽ tăng thêm 3,4 triệu người năm nay, lên kỷ lục 200 triệu. Trong năm 2008, mức tăng này là 2,7 triệu, do lực lượng lao động đang tăng nhanh hơn số việc làm tạo ra.
"Tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục gây thất vọng", ông Guy Ryder - Tổng giám đốc ILO cho biết, "Việc này đã vẽ ra bức tranh ảm đạm cho kinh tế toàn cầu, đe dọa khả năng tạo đủ việc làm, chứ chưa nói đến tạo ra việc làm có chất lượng". Trên thế giới hiện có hơn 776 triệu người có thu nhập dưới mức nghèo khổ.
Số người thất nghiệp trên thế giới đang ngày càng tăng. Ảnh: Reuters
ILO cũng mang đến tin xấu cho cả những người đã có việc làm. Trong một báo cáo khác, hãng cho biết tăng trưởng lương toàn cầu đã xuống mức thấp nhất 4 năm trong năm 2015. Tốc độ tăng lương tại một số nền kinh tế phát triển, như Pháp và Mỹ, cũng không đủ bù cho sự sụt giảm tại nhiều nước khác.
Số người đang có việc làm nhưng sống nghèo vẫn ở mức cao. Một nửa lao động tại Nam Á và gần hai phần ba nhân lực ở các nước châu Phi cận Sahara sống trong nghèo hoặc nghèo cùng cực, ILO cho biết.
Theo ILO, các nước đang phát triển, đặc biệt tại Mỹ Latin, sẽ có mức tăng cao nhất về tỷ lệ thất nghiệp năm 2017. Và dù tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm tại châu Âu, Mỹ và Canada, tốc độ cũng sẽ chậm lại và không đồng đều.
ILO cũng cảnh báo thất nghiệp trong dài hạn có thể trở thành vấn đề lớn tại châu Âu và Bắc Mỹ. Gần một nửa số người thất nghiệp tại châu Âu và một phần tư số người thất nghiệp ở Mỹ, đã tìm việc làm suốt hơn 6 tháng qua.
Hà Thu (theo CNN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang