Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Vì sao phương Tây lại để Bắc Kinh làm mưa làm gió trên Biển Đông ?


Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc tập trận tại Biển Đông, tháng 12/2016.

Nhà nghiên cứu Ross Babbage trong một bài phân tích trên trang War On The Rocks (trang mạng chuyên phân tích vấn đề an ninh, trụ sở tại Washington) nhận định, bây giờ là thời điểm để nhanh chóng hành động một cách khôn ngoan trước những cuồng vọng của Bắc Kinh tại Biển Đông. Bài viết này là một phần trong báo cáo của tác giả cho Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Ngân sách, mang tựa đề « Đối phó với những hành động phiêu lưu của Bắc Kinh trên Biển Đông : Các chọn lựa chiến lược cho chính quyền Trump ».

Theo tác giả, chính sách của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận đã thất bại. Những tuyên bố lặp đi lặp lại về lợi ích giới hạn đi kèm với những đợt cho phi cơ và chiến hạm tuần tra không ngăn được chương trình xây lên các đảo nhân tạo của Bắc Kinh, cũng như ý đồ thống trị khu vực về mặt quân sự.

Khi tìm cách làm giảm nhẹ nguy cơ đối đầu ở từng giai đoạn, Hoa Kỳ và các đồng minh trên thực tế đã nhường lại việc kiểm soát khu vực mang tính chiến lược cao độ này cho Trung Quốc, mà tác giả coi như một tiến trình đầu hàng tiệm tiến. Tiền lệ xấu đã được đặt ra, và các thông điệp nghèo nàn đã được chuyển đến cộng đồng quốc tế. Tại một phần của Thái Bình Dương, phe đồng minh đang có nguy cơ bị mất đi vị trí lâu nay, là đối tác an ninh khả tín.

Tại sao Washington và các đồng minh chủ chốt lại vụng về như thế ? Tại sao lại mất nhiều thời gian đến thế để phát triển một chiến lược đối phó hiệu quả với việc Bắc Kinh bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa Biển Đông ?

Một phần nguyên nhân là cung cách mà Trung Quốc áp đặt chủ quyền lên 80% vùng biển chiến lược này. Biển Đông là nơi mà hơn phân nửa trọng tải hàng hóa thế giới luân chuyển qua đây, là con đường quá cảnh quan trọng cho quân đội Mỹ và nhiều nước đồng minh, thân hữu.

Hối hả bồi đắp các đảo nhân tạo.
Trong năm năm qua, Bắc Kinh đã đặt dấu chân cùng khắp Biển Đông, với việc đào đắp những đảo nhân tạo mới, xây dựng các cơ sở giám sát, phòng không, chống hạm, chống các lực lượng tấn công. Chiến dịch của Trung Quốc được tiến hành một cách khôn khéo, qua một loạt các động thái từ thấp đến cao, mỗi bước đều dưới cái ngưỡng có thể kích hoạt phản ứng đáp trả mạnh mẽ của phương Tây. Kết quả là nay Bắc Kinh đã có những thiết trí quan trọng trên 12 đảo ở Biển Đông, và có sự hiện diện quân đội, tuần duyên, dân quân biển quy mô nhất trong khu vực.
Trong số các khả năng quân sự của Trung Quốc, có việc bố trí trên các đảo nhân tạo các thiết bị giám sát, thu thập thông tin tình báo, các hỏa tiễn tầm xa diệt phi cơ và diệt hạm, cũng như vô số hệ thống phòng không. Ba trong số các đảo của Hoàng Sa nằm ở giữa Biển Đông, nay sở hữu các phi đạo dài đến trên 3.000 mét, quá tiện lợi cho các hoạt động của Boeing 747. Các nhà vòm kiên cố sắp hoàn thành trên ba đảo này, có thể chứa được 24 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ ; năng lực bảo trì, các kho chứa nhiên liệu và các thiết bị hậu cần khác được mở rộng. Các máy bay cất cánh từ đây có thể bay đến tận Biển Andaman, Bắc Úc và căn cứ Guam của Mỹ.

Các đảo mới được đào đắp cũng có thể dùng để bố trí nhiều hỏa tiễn hành trình, hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, có khả năng bắn vào các mục tiêu trên mặt đất lẫn các chiến hạm ngoài biển, đến tận Biển Sulu của Philippines, hay Singapore, Nam Malaysia.

Các hải cảng xây dựng tại các đảo này có thể tiếp nhiên liệu đầy đủ cho nhiều chiến hạm, tàu của lực lượng tuần duyên và dân quân biển. Thêm vào đó, các đảo nhân tạo cũng có thể hỗ trợ cho mạng lưới do thám tàu ngầm trên khắp Biển Đông, có nghĩa là nâng cao năng lực của Trung Quốc chống lại các tàu ngầm của phe đồng minh.

Ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang quân sự hóa các đảo chiếm đóng.
Vì ba đảo mới này không quá nhỏ, đây sẽ là nơi phân tán hầu hết tài sản của quân đội Trung Quốc trong trường hợp xung đột, bị các lực lượng đồng minh tấn công. Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) nay có kích thước như một căn cứ quân sự trên đất liền. Đá Xu Bi (Subi Reef) đã lớn hơn đến 50%, có thể so sánh với khu vực căn cứ hải quân Trân Châu Cảng. Đá Vành Khăn (Mischief Reef) cũng rộng hơn và có thể tương đương với quận Columbia. Hậu quả là Trung Quốc có vẻ đang thênh thang trên con đường biến Biển Đông thành con đường hàng hải nội bộ được vũ trang tận răng.

Hiện nay việc đi qua vô hại, đặc biệt đối với các tàu buôn, vẫn được tôn trọng. Tuy nhiên Bắc Kinh nói rõ là các điều kiện dành cho hoạt động của các tàu nước ngoài, ngay cả các quốc gia duyên hải, sẽ do Bắc Kinh quyết định. Giới chức liên quan của Trung Quốc cho biết Bắc Kinh đang cân nhắc việc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông. Các thiết trí quân sự nay gần như hoàn tất cho phép lực lượng Trung Quốc thực hiện tuyên bố trên, với việc cho máy bay chiến đấu lên ngăn chặn những phi cơ không khai báo.

Mặc dù hầu hết các nhà quan sát quốc tế tin rằng nhiều hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vi phạm nghiêm trọng luật lệ quốc tế, phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye tháng 7/2016 đã làm rõ mức độ vi phạm này. Tòa nhất trí rằng yêu sách « quyền lịch sử » mà Bắc Kinh đòi hỏi đối với Biển Đông và các đảo nhân tạo trong phạm vi« đường 9 đoạn » là vô căn cứ.

Khi đối mặt với yêu sách lãnh thổ và bành trướng quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông, các lãnh đạo đồng minh hầu như luôn đáp trả bằng cách lặp lại câu thần chú : Chúng tôi có lợi ích quan trọng trong tự do hàng hải và hàng không, chúng tôi không yêu sách lãnh thổ trong khu vực ; chúng tôi kêu gọi tất cả các bên kềm chế, giải quyết tranh chấp theo luật lệ quốc tế. Tàu bè và phi cơ của đồng minh thỉnh thoảng đi qua khu vực, hiếm khi trực tiếp thách thức yêu sách lãnh thổ của Bắc Kinh. Cách đáp trả này rõ ràng đã thất bại, không ngăn cản được sự bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc.

Tại sao phương cách của Hoa Kỳ và các đồng minh thân thiết lại dè dặt và vô hiệu quả như thế ? Theo tác giả, có nhiều nhân tố tác động đến.

Trước tiên, nhiều người ở Washington và các thủ đô phương Tây khác nhìn vấn đề Biển Đông như một vấn đề phức tạp, với những hậu quả nho nhỏ, và tốt nhất không nên để ý đến. Một số nhà hoạch định chính sách và nhà bình luận cho rằng không nên gánh lấy nguy cơ đối đầu giữa các cường quốc chỉ vì « một ít đảo đá nằm rải rác » ở một vùng đất xa xôi.

Thứ hai, tầm quan trọng của chiến lược Biển Đông tương lai đối với các nước đồng minh và nước đối tác có những khác biệt đáng kể. Quan điểm chung ở Washington là Biển Đông quan trọng, nhưng không phải sống còn ; chỉ đơn giản là một trong nhiều khu vực bất ổn mà Hoa Kỳ phải giải quyết. Tokyo, Seoul và Canberra coi trọng Biển Đông hơn, do giá trị chiến lược nội tại và tầm quan trọng của nó đối với các đối tác thân thiết, là thành viên ASEAN nằm cạnh vùng biển này. Đối với các quốc gia ven Biển Đông, sự cân bằng chiến lược và chủ quyền thực sự của khu vực hết sức quan trọng cho an ninh của họ trong tương lai, và sức khỏe của nền kinh tế. Những khác biệt về ưu tiên giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương và những nước thân hữu gây căng thẳng cho quan hệ đồng minh dài lâu.

Một hạn chế quan trọng thứ ba là từ mô hình đồng minh theo kiểu « trục bánh xe và nan hoa » tại Tây Thái Bình Dương từ thập niên 50. Các đồng minh trong khu vực không hợp tác tốt ở vòng ngoài cũng như trong việc phối hợp kế hoạch an ninh. Những năm gần đây đã có một số tiến bộ trong việc tăng cường phối trí giữa Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và vài nước đối tác khác ở Đông Nam Á, nhưng vẫn còn hạn chế và không thường xuyên. Washington hẳn là có khuyến khích hợp tác chặt chẽ hơn, nhưng con đường còn rất dài nếu muốn đạt đến sự phối hợp an ninh thường lệ như ở châu Âu. Một sự hợp tác kịp thời, hiệu quả để đáp trả các hành động của Bắc Kinh tại Biển Đông, không phải là điều đơn giản.

Thứ tư, nhiều công dân, hầu như tất cả các nhà báo và nhiều dân biểu, nghị sĩ có rất ít thông tin về các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông, trong khi Bắc Kinh mở rộng các hoạt động chiến lược trong thập niên vừa qua. Các cơ quan truyền thông lớn và hãng thông tấn phương Tây cũng chẳng cố gắng nói lên sự thật về những gì đang xảy ra, hay giải thích về tham vọng của Bắc Kinh.

Thứ năm, đáp trả một cách hiệu quả các hoạt động lấn chiếm từng chút một như tằm ăn rỗi của Trung Quốc trên Biển Đông, về bản chất là rất khó. Bắc Kinh sử dụng một chiến lược rất tinh tế, có thể hành động mà không thách thức các cam kết của Hoa Kỳ với đồng minh, hay trực tiếp đối đầu với Mỹ hoặc các lực lượng đồng minh. Hơn nữa, các lãnh đạo phương Tây có rất nhiều vấn đề chính trị và hành chính phải giải quyết, khó thể duy trì liên tục sự quan tâm đến khu vực.

Thứ sáu, nhiều doanh nhân phương Tây và chính trị gia muốn tránh né các biện pháp có thể gây trở ngại cho công việc của mình và quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Các quan ngại này có thể thấy rõ nơi các đồng minh Tây Thái Bình Dương, cũng như các công ty của Mỹ và các nước khác đã đầu tư nhiều vào việc siết chặt quan hệ với các công ty Trung Quốc. Các hãng tin Trung Quốc rất tích cực khuếch đại các quan ngại này, tuyên truyền sai lạc về tình trạng khó xử, thổi phồng hậu quả đối với các nền kinh tế khu vực trước bất kỳ hành động nào đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh.
Thành công từ các chiến dịch thông tin của Bắc Kinh tại các nước phương Tây là nhân tố thứ bảy khiến các nước này dè dặt trước các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông. Các hoạt động này được hỗ trợ bởi việc Trung Quốc mua lại các cơ quan truyền thông phương Tây, đồng thời khuyến dụ các nhân vật lãnh đạo, nhà báo, trí thức bằng việc mời sang tham quan Trung Quốc, bao trọn mọi chi phí. Bên cạnh đó còn đóng góp vào các quỹ quan trọng của các đảng chính trị, các tổ chức thân Bắc Kinh đủ loại, trong đó có các Viện Khổng tử tại các trường đại học ; thường xuyên chi tiền để kèm các phụ trang tuyên truyền trong các nhật báo phát hành tại thủ đô các nước. Đại sứ quán, lãnh sự quán và các định chế thân Bắc Kinh thường tổ chức các cuộc biểu tình « ái quốc », chương trình văn nghệ và các sự kiện khác. Hoạt động tình báo và tin tặc được sử dụng để tăng sức nặng cho các thông điệp chính thức. Bắc Kinh còn tuyển mộ điệp viên và chuyên gia vận động hành lang ; hăm dọa, cưỡng bức, ngăn trở những hành động phản kháng.

Các công cụ tuyên truyền được sử dụng rộng rãi để khẳng định cái gọi là "chủ quyền lịch sử" trên Biển Đông.
Nhân tố thứ tám là văn hóa. Cử tri phương Tây có vẻ lo sợ hơn về khả năng kích hoạt xung đột, so với người Trung Quốc. Huge White, một nhà quan sát nổi tiếng về tình hình khu vực thậm chí còn biện luận rằng Hoa Kỳ không nên đối đầu với sự bành trướng của Trung Quốc, trừ phi các nhà lãnh đạo muốn « thuyết phục đa số người Mỹ rằng nước Mỹ cần phải đối phó với một cuộc chiến tranh nguyên tử để duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á ». 

Theo tác giả Ross Babbage, các tuyên bố như thế phản ánh những đánh giá sai lầm về quyền lực của Bắc Kinh vốn chỉ tương đối, những giả định không đáng tin cậy về việc Bắc Kinh đã sẵn sàng chuẩn bị cho việc sử dụng vũ khí nguyên tử chống lại Hoa Kỳ. Đồng thời cũng không nhận định đúng mức tầm vóc của việc hình thành liên minh chiến lược, và rất nhiều khả năng ngăn chận cuồng vọng của Trung Quốc mà không cần dùng đến biện pháp quân sự. Trong phần hai « Biển Đông : Đã đến lúc phải dằn mặt Bắc Kinh », ông đưa ra những đề nghị cho chính quyền Donald Trump nhằm chặn đứng việc Bắc Kinh làm mưa làm gió trên Biển Đông.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ nghĩa Tự do đang rút lui - Kết thúc một giấc mơ!


Trần Ngọc Cư dịch

Trung Quốc và Nga lợi dụng giai đoạn phương Tây mất niềm tin hiện nay để hiện đại hoá quân đội và hành động quyết đoán nhằm chiếm đoạt các lợi ích khu vực và địa chính trị. Những cường quốc này đã xây dựng các định chế, gồm Liên minh Kinh tế Á Âu [the Eurasian Economic Union] và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải [the Shanghai Cooperation Organization] để giúp hai nước điều phối và hợp thức hóa một trật tự chính trị song hành thách đố lại các chuẩn mực phương Tây về việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ và bác bỏ bất cứ một sự can thiệp bảo vệ nhân quyền nào từ bên ngoài.

Vận động Brexit ở Anh

Trật tự quốc tế tự do [the liberal international order] luôn luôn đặt cơ sở trên khái niệm tiến bộ. Kể từ 1945 đến gần đây, các nhà làm chính sách phương Tây đã tin tưởng rằng thị trường cởi mở, thể chế dân chủ, và các quyền cá nhân của con người sẽ dần dần lan rộng trên toàn cầu. Ngày nay, những hi vọng này có vẻ ngây thơ.

Tại châu Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc đe dọa thách đố địa vị bá quyền quân sự và kinh tế của Mỹ, khi Bắc Kinh tìm cách thu hút các đồng minh của Mỹ như Philippines và Thái Lan vào quĩ đạo của mình. Tại Trung Đông, Mỹ và các đồng minh châu Âu đã không đưa được khu vực này đến một tương lai tự do hơn, hòa bình hơn sau Mùa Xuân Á Rập và tỏ ra bất lực trong việc chặn đứng cuộc chiến tại Syria. Ảnh hưởng địa chính trị của Nga đã vươn tới những điểm cao chưa từng thấy kể từ sau Chiến tranh Lạnh, trong khi nước này đang toan tính đẩy lùi những bước tiến của phe tự do trên vòng đai của nó.

Nhưng những đe dọa nghiêm trọng hơn cho trật tự tự do phát xuất từ bên trong. Hơn 50 năm qua, Liên Âu có vẻ tiêu biểu cho lực lượng tiên phong của một chủ nghĩa tân tự do [a new liberalism] trong đó các quốc gia tập hợp chủ quyền thành một mối và hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ cả. Nhưng ngày nay, trong tình thế chao đảo từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác, Liên Âu đã chấm dứt bành trướng. Sau khi Anh trưng cầu ý kiến rút khỏi khối này vào tháng Sáu vừa qua, rất có thể lần đầu tiên trong lịch sử, Liên Âu sẽ thu nhỏ lại.

Bên kia đại dương, cam kết của Mỹ đối với vai trò lãnh đạo toàn cầu, một vai trò cho đến nay đã duy trì trật tự thế giới tự do qua nhiều thăng trầm, có vẻ trở nên yếu kém hơn bất cứ thời điểm nào kể từ Thế chiến II. Tổng thống đắc cử Đảng Cộng hòa Donald Trump vận động trên một chương trình tranh cử rõ ràng “Nước Mỹ trên hết”, cam kết tái thương thuyết các hợp đồng thương mại của Mỹ, ca ngợi Tổng thống Nga Vladimir Putin, và nêu lên nghi vấn đối với các cam kết của Mỹ với NATO. Trong khi đó, chiến lược “tái quân bình lực lượng” hướng về châu Á của Tổng thống Barack Obama cứ ì ạch chưa cất cánh nổi. Bắc Kinh nhanh chóng đưa ra viễn kiến của mình về một khu vực Á-Âu có khả năng thu hút nhiều thành viên hơn nhằm loại bỏ Hoa Kỳ và trong đó Trung Quốc sẽ đóng vai trò lãnh đạo.

Nửa thế kỷ vừa qua, trong khi các hệ thống chính trị khác sụp đổ, trật tự tự do quốc tế đã vươn dậy đối đầu với các thách đố. Nhưng bao lâu các nền kinh tế của những nước thành viên lãnh đạo vẫn còn èo uột và các định chế chính trị của chúng vẫn còn chia rẽ, thì trật tự mà chúng bảo vệ không thể lấy lại đà chính trị đã một thời giúp thể chế dân chủ bành trướng khắp hoàn cầu. Thay vào đó, trật tự này sẽ diễn biến để trở thành một dự án ít tham vọng hơn: một trật tự kinh tế quốc tế tự do [a liberal international economic order] bao gồm những quốc gia có các hệ thống chính trị khác nhau. Trong ngắn hạn, sự kiện này sẽ cho phép các nước dân chủ và các nước phi tự do [illiberal counterparts] tìm ra đường lối để sống chung. Về lâu về dài, miễn là nó có khả năng thích nghi, thể chế dân chủ tự do có thế lấy lại thế ưu việt của mình.

CHỦ NGHĨA TỰ DO THỜI CAO ĐIỂM

Sau thế chiến II, các nhà làm chính sách phương Tây, nhất là tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, bắt đầu xây dựng một hệ thống toàn cầu nhằm đảm bảo họ sẽ không bao giờ lặp lại những thảm họa về hợp tác quốc tế của giai đoạn ở giữa hai cuộc đại chiến. Những kiến trúc sư của hệ thống này không những tìm cách thúc đẩy phát triển kinh tế và thoả mãn tự do cá nhân mà còn duy trì hòa bình thế giới. Họ tranh luận rằng hi vọng tốt đẹp nhất cho viễn tượng này nằm trong thị trường tự do, các quyền cá nhân, chế độ pháp trị, và các chính phủ dân cử chịu sự giám sát của tư pháp độc lập, báo chí tự do, và các tổ chức xã hội dân sự vững mạnh.

Nằm ở trung tâm của trật tự này là các định chế Bretton Woods [thỏa ước về tiền tệ và hối suất ký kết tại Bretton Woods, New Hampshire, 1944 – ND] – Quĩ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới – và Thỏa ước Chung về Thuế quan và Mậu dịch, về sau trở thành Tổ chức Thương mại Thế giới năm 1995. Nền móng củng cố tất cả những định chế này là sự tin tưởng rằng các thị trường cởi mở và minh bạch với sự can thiệp tối thiểu từ Chính phủ -- cái được gọi là đồng thuận Washington [the Washington concensus] -- sẽ đặt nền móng cho sự tăng trưởng kinh tế. Được chỉ đạo bởi những nguyên tắc này, sự hậu thuẫn của Mỹ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự và ngoại giao đã giúp Đức và các nước Tây Âu, cũng như Nhật Bản, hồi phục từ sự tàn phá của Thế chiến II.

Các nhà làm chính sách phương Tây tin tưởng rằng các chuyển đổi sang thị trường cởi mở tất yếu sẽ dẫn đến sự bành trướng của thể chế dân chủ. Có nhiều trường hợp đã chứng minh rằng họ đúng. Thể chế dân chủ tự do dần dần lan rộng khắp châu Âu, châu Á, châu Mỹ-La tinh, và châu Phi phía Nam sa mạc Sahara, nhất là kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Theo thống kê của cơ quan nghiên cứu phi lợi nhuận Freedom House, số Chính phủ dân chủ đã tăng từ 44 vào năm 1997 lên đến 86 năm 2015, gắn liền với 68 phần trăm GDP toàn cầu và 40 phần trăm dân số thế giới.

Trong quá trình bành trướng của trật tự này, một khái niệm tự do mới đã thắng thế: rằng những Chính phủ đàn áp dân chúng và tạo bất ổn cho các nước láng giềng sẽ đánh mất chủ quyền cai trị [their sovereign right to rule]. Toà Hình sự Quốc tế (ICC), một định chế có quyền xâm phạm chủ quyền của một nước khi nhân danh công lý, được thành lập năm 1998. Một năm sau đó, Thủ tướng Anh Tony Blair đưa ra học thuyết về chủ nghĩa can thiệp tự do [free interventionism] tại thành phố Chicago. Ông tuyên bố rằng trong một thế giới ngày càng tùy thuộc vào nhau, “nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ cần phải được hạn chế trong một số khía cạnh quan trọng.” Năm 2005, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc phê chuẩn “trách nhiệm bảo hộ” [the responsibility to protect, còn gọi R2P], một khái niệm cho rằng khi một Nhà nước không ngăn chặn được các hành động tàn bạo, các Chính phủ nước ngoài có thể can thiệp để chận đứng chúng. Trong một trật tự quốc tế tự do đang lên, nguyên tắc cơ bản của Hòa ước Westphalia theo đó các Chính phủ có chủ quyền nắm quyền kiểm soát công việc nội bộ của mình -- nguyên tắc làm nền tảng cho luật pháp quốc tế và LHQ – ngày càng lệ thuộc vào việc các Chính phủ tuân theo các chuẩn mực phương Tây về nhân quyền. Trật tự tự do dường như đang đặt ra các qui tắc cho toàn thể cộng đồng quốc tế.
Vận động tranh cử của Donald Trump

TRẬT TỰ TAN RÃ

Nhưng trong thập niên vừa qua, phải đương đầu với các khủng hoảng tài chính, với các cuộc nổi dậy của phong trào dân túy, và với sự tái xuất hiện các cường quốc độc tài, trật tự quốc tế tự do đã và đang vấp ngả. Theo nhà khoa học chính trị Larry Diamond, kể từ 2006, thế giới đã đi vào một “cuộc suy thoái dân chủ”: sự bành trướng của tự do cá nhân và thể chế dân chủ đã khựng lại, nếu không muốn nói đang trên đường rút lui.

Mối nguy nghiêm trọng nhất phát xuất từ bên trong. Các cường quốc lãnh đạo của hệ thống tự do đang đối diện với tình trạng bấp bênh chính trị và kinh tế kéo dài. Hơn 25 năm qua, đồng lương trung bình tại Mỹ và châu Âu dậm chân tại chỗ, đã bào mòn uy tín của các giới tinh hoa và sức thu hút của công cuộc toàn cầu hóa. Việc mở rộng các nền kinh tế hơn bao giờ hết để đón nhận thương mại, đầu tư, và dân nhập cư đã gia tăng tổng số của cải của các quốc gia, nhưng việc này không mang lại các thành quả cục bộ cho nhiều thành phần xã hội rộng lớn. Việc điều tiết tài chính lỏng lẻo diễn ra trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008 và việc đổ tiền để cứu các ngân hàng sau đó đã làm lung lay niềm tin của người dân đối với Chính phủ, và cuộc Đại Suy thoái này đã xói mòn hậu thuẫn của họ đối với các thị trường tư bản thông thoáng [open capital markets] hình như chỉ làm lợi cho một giới tinh hoa toàn cầu nhỏ bé.

Chiến thắng của Trump, quyết định rời EU của đa số cử tri Anh, và sự trỗi dậy của các đảng dân túy tại miền Bắc phồn thịnh và miền Nam nghèo khó của châu Âu là những triệu chứng rõ ràng cho một tâm lý bất mãn sâu sắc với tiến trình toàn cầu hóa. Tâm trạng này cũng được phản ánh trong sự suy sụp hậu thuẫn tại Mỹ và EU đối với việc mở rộng mậu dịch quốc tế, dù thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP). Trong một cuộc thăm dò năm 2014 của Cơ quan Nghiên cứu PEW, 87 phần trăm số người trả lời tại các nước đang phát triển đồng ý rằng mậu dịch có lợi cho kinh tế, trong khi vào khoảng một nửa số người trả lời tại Pháp, Ý, và Hoa Kỳ nói rằng họ tin rằng mậu dịch đang hủy hoại công ăn việc làm và hạ thấp đồng lương lao động.

Khắp châu Âu, sự phản kháng đối với việc đẩy mạnh hội nhập chính trị đã gia tăng. Trong 60 năm qua, sự tự nguyện của các quốc gia thành viên Liên Âu trong việc tập hợp sức mạnh chủ quyền thành một mối trong những cơ cấu pháp lý siêu dân tộc [supranational legal structures] đã cung cấp một chuẩn mực cho những nước khác đang tìm cách hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trong khu vực của mình. Như nhà khoa học chính trị Simon Serfaty đã phát biểu vào năm 2003, người châu Âu đã chuyển hóa hệ thống quản trị chính trị của họ từ quốc gia-đô thị [city-states] sang quốc gia-dân tộc [nation-states] sang quốc gia thành viên [member-states]. Hiện nay, tiến trình này đã khựng lại – và rất có thể sẽ quay ngược trở lại.

Việc Vương quốc Anh trưng cầu ý kiến để ra khỏi EU có thể là một bằng chứng cho thấy Anh có xu thế đứng ngoài: mãi đến năm 1973, tức 16 năm sau ngày EU thành lập, Vương quốc Anh mới gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu, tiền thân của EU; Vương quốc Anh có một lịch sử hoài nghi lâu đời đối với châu Âu [a long history of Euroskepticism]; Anh quyết định ra khỏi đồng tiền duy nhất cho toàn khối EU và chia tay với khu vực Schengen [gồm 26 quốc gia] có biên giới bỏ ngõ cho nhau. Các nước khác chắc sẽ không theo bước chân của Anh để rời EU. Nhưng ít có lãnh đạo châu Âu nào muốn tiếp tục hi sinh chủ quyền của đất nước mình. Nhiều quốc gia châu Âu đã bác bỏ yêu cầu của EU đòi hỏi họ phải chấp nhận một hạng ngạch người tị nạn [a quota of refugees]. Các thành viên giàu trong khu vực đồng euro đang từ chối góp các nguồn lực tài chính của họ vào một kế hoạch đóng bảo hiểm chung nhằm đảm bảo tính khả thi về lâu về dài của tiền tệ duy nhất [tức đồng euro]. Ngày nay, nhiều chính khách châu Âu đang đòi hỏi thêm quyền kiểm soát chủ quyền quốc gia trong việc áp dụng các luật hiện hành của EU và việc thiết kế các hình thức mới cho công cuộc hội nhập.

Trong bối cảnh này, niềm hi vọng rằng EU có thể cung ứng một mô hình cho việc tự do hội nhập tại các khu vực khác có vẻ ngày càng mai một. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, Thị trường chung Nam Mỹ Mercosur, Liên minh châu Phi, và Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh vẫn chỉ là những cơ chế hợp tác kinh tế và chính trị rất hạn chế giữa các Chính phủ. Trong khi đó, Trung Quốc và Nga lợi dụng giai đoạn phương Tây mất niềm tin hiện nay để hiện đại hoá quân đội và hành động quyết đoán nhằm chiếm đoạt các lợi ích khu vực và địa chính trị. Những cường quốc này đã xây dựng các định chế, gồm Liên minh Kinh tế Á Âu [the Eurasian Economic Union] và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải [the Shanghai Cooperation Organization] để giúp hai nước điều phối và hợp thức hóa một trật tự chính trị song hành thách đố lại các chuẩn mực phương Tây về việc điều hành quốc gia theo đường lối dân chủ và bác bỏ bất cứ một sự can thiệp bảo vệ nhân quyền nào từ bên ngoài.

Còn 1 kì nữa

ROBIN NIBLETT là Giám đốc của Chatham House, [Viện Nghiên cứu Hoàng gia về các Vấn đề Quốc tế / The Royal Institute of International Affairs].

Nguồn : https://www.foreignaffairs.com/articles/2016-12-12/liberalism-retreat

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hình như quả đất đứng im?


bài này viết từ tết 201`3 đọc lại thấy tình hình hôm nay vưỡn không khác mấy, đăng lại để bà con xem
SUY NGHĨ ĐẦU NĂM 2012 ĐỂ BƯỚC VÀO NĂM MỚI
Năm 2012 nhiều sóng gió đã qua,với hàng loạt các sự kiện nóng dẫy khiến những cả những người gần như vô cảm, thờ ơ với thời cuộc ,cũng thấy chao lòng, Người ta đã bắt đầu cảm nhận nỗi đau đớn, nguy hiểm của khối U nội xâm, tham nhũng.Đã chụp cắt lớp ra được một khối U to nhưng chưa thể quyết định phương pháp trị liệu, có người muốn phẫu thuật cắt bỏ, nhưng nhiều người hơn,sợ động dao kéo vào nó di căn lung tung uổng mạng, cũng có thể có người muốn bán ít đất sang Tàu chữa bằng thuốc BẮC, trên mạng thì kêu gọi theo tây chữa bằng thuốc TÂY , chưa biết cách nào tốt , vưỡn đang tự chữa bằng thuốc NAM,cây nhà lá vườn như trước nay vưỡn làm.
Thuốc NAM, hay thuốc BẮC nó na ná nhau nên chắc khó khỏi,thuốc TÂY người ta bảo độc , sốc thuốc có thể chết người.
Miềng cũng như các bạn,sống trung dung ,chẳng thù ghét ai ,trong ta chỉ có lòng yêu thương bạn bè ,ta mong cho đời ta được an bình,cầu cho người thân của ta được an lành hạnh phúc ,Tui cầu mong cho cuộc sống của tui và các bạn luôn tràn đầy vui tươi,nỗi buồn chỉ là áng mây gợn qua còn niềm vui thì luôn chan hòa như nắng .Tui mơ ước sao cho chúng ta được được sống trong một xã hội lành mạnh đầy ắp tình người.Bạn đau ốm được thầy thuốc nhiệt tâm chăm sóc,con trẻ đi học ,được thầy cô mô phạm chỉ dạy,các cụ già được cộng đồng kính trọng, yêu thương.Nỗi đau của mỗi người được cộng đồng cảm thông chia sẻ ,niềm vui của mỗi người cũng được bè bạn hưởng ứng hoan ca .Người với người sống trong minh bạch ,ai cũng có cơ hội thi triển năng lực hầu cống tiến cho xã hội để nó ngày càng theo kịp bước tiến văn minh, để cho cuộc sống mỗi chúng ta và người thân của ta mỗi ngày lại thêm phồn thịnh, hạnh phúc, vui tươi.
“Nhân chi sơ ,tính bản thiện”,con người ta sinh ra vốn là thánh thiện ,những va đập trong cuộc mưu sinh làm nảy sinh tính bon chen vị kỷ , nhưng nó cũng làm cho người ta thấy rõ mức quan trọng thiết yếu của khối cộng đồng,cái đám đông luôn dồn nén có thể làm ta thân bại danh liệt hay đưa ta lên những đỉnh cao huy hoàng, những nấc thăng trầm sẽ phân khối đó ra thành ba loại ,Đại đa số thầm lặng, thụ động chấp nhận mọi sự chuyển dịch nơi đường hướng thực tại, là thành phần chính của cộng đồng,họ an phận găm nhấm những gì mình đang có, một số ít phát triển vào con đường cực đoan, lăn xả chụp giật, thao túng quyền lực bằng mọi thủ đoạn kể cả mua bán chức tước bằng tiền, với những toan tính trục lợi hầu phát thân phì gia,thu vén của cải, quyền bính về cho đến đời con đời cháu, người ta gọi đó là bọn cơ hội. Một số ít nữa với trải nghiệm giá trị thực của cuộc sống , trở nên có tầm suy xét quảng đại, ta gọi là những người TINH HOA ,cùng gắn kết lợi ích với cộng đồng những người này luôn tìm kiếm tìm hướng đi tốt nhất cho nó phát triển, phụng sự xã hội theo khả năng của mình và làm cho nó tốt lên.
Xã hội tổ chức kiểu nào ,theo chế độ nào cũng cần có những người lãnh đạo ,đó là những người chịu trách nhiệm điều hành sự phát triển và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đám đông ,nếu quyền lãnh đạo nằm trong tay người cơ hội ,họ sẽ thao túng theo hướng kéo thuận lợi về mình ,đẩy khó khăn về phía đám đông,tạo ra từng lớp đặc quyền đặc lợi,thu vén lợi ích cho một nhóm người,chà đạp lên quyền lợi đa số .Để làm được việc này mà tránh được sự bất tín làm suy yếu ảnh hưởng nhóm, người ta hay quảng bá sai sự thật, tạo ra những khoảng tối trong điều hành công việc ,khiến nó trở nên không minh bạch, những luật lệ, chủ trương đề ra không hướng về phục vụ quảng đại công chúng mà thiên về phục vụ quyền lợi cho một nhóm người,và thường được ngụy biện dưới các nhãn mác nổi tiếng .Hậu quả của nó dẫn đến một thể chế quan lieu rời xa cộng đồng, cũng vì vậy nền pháp quy khó triển khai và chậm thực thi ,thậm chí có những phần bất khả thi, quan chức tham nhũng tràn lan,có những nơi người ta còn đặt ra những luật ngoài luật để cùng nhau tham nhũng, lòng dân ly tán ,lãnh đạo không hiệu quả,tệ nạn xa hội nổi lên như ong trộm cướp hoành hành cùng với các loại hình cầu cúng,đồng bóng,mê tín dị đoan lừa đảo tiền bạc của người dân, đó là những báo hiệu một sự suy vi .
Những tiêu cực đó tất yếu bị phản bác từ nhiều phía,với hai khuynh hướng chính, hoặc là tiếp tục đưa xã hội phát triển theo xu thế thời đại,xóa bỏ tiêu cực trì trệ ,đưa cộng đồng hòa nhập với trào lưu chung trên thế giới. Khuynh hướng còn lại mang nặng tính bảo thủ, mà đặc trưng là ý muốn kéo cộng đồng quay về lại thời kỳ chưa xẩy ra tiêu cực với quan niệm là nó “Muôn ngàn lần hơn các xã hội khác”.điều này khiến nó thiếu sức sống,ít được hưởng ứng ,nhất là giới trẻ , nó song hành trong phảng phất bóng đen thất bại.
Xã tắc muốn lành mạnh phải do những TINH HOA lãnh đạo ,muốn bảo đảm quyền lãnh đạo về tay những người TINH HOA, xã hội phải minh bạch, để có minh bạch thì quyền lực phải chịu sự kiểm soát của người dân. Pháp luật phải đề xướng ,cổ vũ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để người dân dám chỉ ra những sai phạm của nhà lãnh đạo mà không sợ bị trù dập,trả thù. Minh bạch phản ảnh đúng hiện thực , đó là tiền đề cho những đề xướng đúng đắn hầu cho xã hội phát triển đúng luật tự nhiên, khi xã hội đã phát triển đúng luật tự nhiên thì nó bền chắc ,các lực lượng chống lại nó sẽ là phi tự nhiên , sẽ tự tiêu vong ,nếu tồn tại sẽ chỉ là một thực thể rất mỏng manh yếu ớt.
Đây là cảm nghĩ của riêng mình,có thể có chỗ khác suy nghĩ của lãnh đạo hiện thời ,nhưng mình cho đó là hợp lý.
Y _ C
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự giàu có của họ không mang lại nền tảng hạnh phúc cho những người lao động chân chính..

Mặt thật tỷ phú đô la Việt

Những tỷ phú đô-la của Việt Nam hầu như đều có điểm chung là giàu lên nhờ bất động sản và tài nguyên quốc gia.
Đất đai, khoáng sản, tài nguyên quốc gia ở VN theo luật là sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý.
Giới doanh nhân làm giàu trên các tài nguyên này muốn hay không luôn phải là những người có mối quan hệ "thân hữu" với giới quyền lực. Hình thành những "nhóm lợi ích" để chia sẻ quyền lực và lợi ích dựa trên các đặc quyền sử dụng, khai thác, mua bán... đất đai và tài nguyên quốc gia.
Họ giàu lên nhanh chóng bằng những con đường rất bí ẩn, những phi vụ thiếu minh bạch mà hầu hết là bằng các thủ đoạn chiếm đoạt tài sản quốc gia, tài sản được cho là của toàn dân, trong đó không ít vụ chiếm đoạt trực tiếp từ những người dân thấp cổ bé họng, nghèo khổ, bằng sự lũng đoạn chính quyền.
Họ chẳng có bằng sáng chế, phát minh hay đóng góp gì cho sự phát triển công nghệ, các giá trị vô hình của nền kinh tế đất nước.
Họ là sản phẩm của thể chế, của chủ nghĩa tư bản thân hữu đang trong thời kỳ phát triển hoang dã. Sự giàu có của họ không mang lại nền tảng hạnh phúc cho những người lao động chân chính, sống bằng mồ hôi, trí tuệ thật sự của mình và nộp đủ mọi loại thuế cho nhà nước hàng ngày.
Họ không xứng đáng để được so sánh hay xếp ngang hàng với Bill Gates, Mark Zuckerberg, Larry Ellison hay Elon Musk...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiến sĩ tiến xiếc!

Một Tiến sĩ phát ngôn sai lệch về ngài Mục Kiền Liên

Trong chương trình Cuộc sống 24H phát trên kênh truyền hình kỹ thuật số VTC14 vào ngày 17-8-2016 có một đoạn phỏng vấn giữa phóng viên chương trình và một vị được giới thiệu là Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai đến từ Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).



Nội dung đoạn phỏng vấn xoay quanh vấn đề về ý nghĩa ngày lễ Vu lan và đi đến kết luận ngày xá tội vong nhân và lễ Vu lan có phải là một hay không. Trong lúc diễn giải về ý nghĩa ngày lễ Vu lan thì Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai có nhắc về sự tích Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ nhưng có phần khác biệt lớn đối với kinh điển Phật giáo mà chúng ta thường thấy.

vulan 2.jpg
Bà Nguyễn Ngọc Mai phát ngôn chưa chính xác về ý nghĩa Vu lan,
về ngài Mục Kiền Liên trong chương trình Cuộc sống 24h phát trên VTC14 ngày 17-8 

Cụ thể, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai phát biểu như sau: “Cái lễ Vu lan bắt nguồn từ một cái tích trong Phật giáo. Đó là có một người đi tu tên là Mục Kiền Liên, là sau khi mà tu thành chánh quả, thành vị đại Bồ-tát thì trí tuệ rất là thông tuệ. Đấy là một trong những đệ tử được ‘cưng’ nhất của Đức Phật. Khi ông ấy đạt được mức độ thông tuệ thì ông đã dùng tâm nhãn của mình để nhìn thấu xuống dưới địa ngục. Khi nhìn xuống dưới địa ngục thì thấy rằng là mẹ đẻ của mình bị đọa đầy rất là khổ sở. Thế thì Mục Kiền Liên mới tâu với Đức Phật xin được thỉnh kinh Vu lan và làm các phép thần thông để phá ngục cứu mẹ. Khi cứu mẹ như thế thì mẹ của Mục Kiền Liên được cứu ra.

Và chuyện còn kể rằng khi được cứu ra thì bà biến thành một con chó và hằng ngày quấn quýt bên ông ấy để thể hiện một sự hối lỗi của mình. Mục Kiền Liên sau đó dùng một phép thuật của mình để biến mẹ trở thành người. Và ông ấy đã dùng tâm đức của Phật giáo để mà khuyên giải mẹ và từ đấy bà mẹ đã ngộ được ra cái chân lý và hai mẹ con cùng ăn chay niệm Phật. Và sau đó đến một ngày đẹp trời thì bà ấy được trở về trời” (xem đầy đủ phần phát biểu của bà Mai ở cuối bài).

Không biết “một cái tích trong Phật giáo” mà Tiến sĩ Mai kể như trên được dẫn nguồn, lấy tư liệu từ đâu nhưng nó thật sự lạ lẫm và có phần mê tín dị đoan. Nếu căn cứ theo bản kinh Vu lan do Hòa thượng Thích Huệ Đăng chiếu dịch được sử dụng rộng rãi trong các nghi thức, khóa tụng ngày nay và cả bản kinh xưa nhất mà người viết có trong tay - được xuất bản vào Phật lịch 2509 tức là năm 1965 thì hoàn toàn không có những nội dung như lời của Tiến sĩ Mai nói.

Theo đó, như trong kinh Vu lan ghi lại thì Tôn giả Mục Kiền Liên dùng huệ nhãn để tìm kiếm mẹ mình và thấy mẹ đang bị nghiệp hành khổ sở do cái nhân xấu gây nên. Nhưng Ngài không có cách nào cứu mẹ nên mới về bạch Phật để tìm cách cứu mẹ thoát khỏi nghiệp khổ đang bủa vây. Nguyên văn đoạn kinh như sau:

Phật mới bảo rõ ràng căn tội:
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu,
Dầu ông thần lực nhiệm mầu,
Một mình không thể ai cầu đặng đâu”.

Rõ ràng Đức Phật nhấn mạnh nghiệp mà bà mẹ của Tôn giả Mục Kiên Liên đang gánh chịu là do quả phát sinh từ cái nhân xấu mà bà gây tạo từ trước. Tôn giả không thể gánh thay mẹ hoặc một mình mà cứu mẹ được.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang đồn thấu đến cửu thiên
Cùng là các bực thần kỳ
Tà, ma, ngoại đạo, bốn vì Thiên vương
Cộng ba cõi sáu phương tu tập,
Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi
Muốn cho cứu đặng mạng người,
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng
”.

Từ lúc này Đức Phật mới chỉ bày cho Tôn giả Mục Kiền Liên cùng đại chúng  pháp cứu mẹ và từ đó mới hình thành nên kinh Vu lan như chúng ta vẫn đọc ngày nay chứ không có chi tiết nào giống lời của Tiến sĩ Mai như - “Mục Kiền Liên mới tâu với Đức Phật xin được thỉnh kinh Vu lan và làm các phép thần thông để phá ngục cứu mẹ” (!?).

Nói theo cách của Tiến sĩ Mai là trái với luật nhân quả, trái với tinh thần của kinh Vu lan. Đồng thời còn cổ xúy cho lối mê tín dị đoan bằng cách thần thánh hóa Đức Phật và cả đạo Phật. Cách nói giống như trong các bộ phim, các tuồng cải lương, tuồng chèo được dựng lên dựa trên kinh Vu lan và truyền khẩu dân gian - có thêm các yếu tố thần thông, các phép biến hóa để thu hút người xem.

Một điểm nữa cho thấy lời của Tiến sĩ Mai dị biệt so với kinh Vu lan là “khi được cứu ra thì bà biến thành một con chó và hằng ngày quấn quýt bên ông ấy để thể hiện một sự hối lỗi của mình”.

Chi tiết này hoàn toàn không có trong các bản kinh Vu lan mà Phật tử đã, đang đọc trong những ngày tháng Bảy. Một chi tiết thật khó tin, mang màu sắc huyền bí và mê tín.

Trong kinh Vu lan Tôn giả Mục Kiền Liên cứu vớt được mẹ ra khỏi “ngục” bằng pháp Phật đã dạy là cúng dường chư Tăng mười phương sau mùa An cư kiết hạ thanh tịnh, nhờ công đức cúng dường, thông qua sự chú nguyện từ chư Tăng mà bà Thanh Đề thoát khỏi “tam đồ khổ” để tái sanh vào một “cảnh thanh nhàn” (được hiểu là cõi Trời, vẫn nằm trong sáu nẻo luân hồi), chứ không hề có chi tiết “biến thành một con chó” để “hằng ngày quấn quýt” bên Tôn giả Mục Kiền Liên. Phải chăng chi tiết này được lấy từ các chuyện truyền miệng trong dân gian?

Bên cạnh đó, khảo cứu Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya của tác giả Chúc Phú (đăng trên Nguyệt san Giác Ngộ) cho thấy kinh Vu lan đã có từ hàng ngàn năm trong lịch sử Phật giáo và cũng không có chi tiết nào như lời của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai nói.

Tác giả Chúc Phú còn kết luận: “Việc nhân danh cha mẹ, hoặc những người thân đã khuất, vì họ mà làm nhiều thiện sự, bao gồm cả việc cúng dường Tam bảo, là việc làm đúng pháp. Không những vậy, các nguồn tư liệu cũng ghi nhận rằng, sự phát tâm của đối tượng, được kết hợp đồng thời với năng lực chú nguyện của chư Tăng, sẽ tạo nên những năng lượng chuyển hóa tích cực. Một bản kinh khá ngắn và có mặt trong cả hai truyền thống, nhưng với Phật giáo Bắc truyền thì được biến thành một sự kiện lễ hội quần chúng, đem đến sự chuyển hóa thánh thiện trong tâm thức của nhiều người, và nhẹ nhàng lan tỏa ảnh hưởng của Phật giáo đến với số đông chưa phải là Phật tử; điều đó cho thấy tính năng động sáng tạo của các nhà hoằng pháp, kể cả vai trò hộ pháp của các vị quân vương Phật tử tại Trung Hoa trong thời kỳ đầu. Do vậy Lễ hội Vu lan theo Bắc truyền hay Lễ hội Uttara, theo Kinh tạng Nikāya, là một sáng tạo văn hóa thấm đẩm trí tuệ, cần được ghi nhận, bảo tồn và tán thán.[1] ”.

Điều này cho thấy việc dùng phép thần thông để cứu mẹ hay bà Thanh Đề bị biến thành chó sau khi được cứu ra khỏi ngục là một điều khó tin, trái với căn cứ theo kinh Vu lan. Nó “đặc sệt” màu sắc mê tín dị đoan, thần thánh hóa câu chuyện về Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ, một câu chuyện hết sức có ý nghĩa giáo dục đối với mọi người trong vấn đề báo hiếu công ơn dưỡng dục của cha mẹ và tinh thần phụng sự Phật pháp của các hàng Phật tử.
Việc một Tiến sĩ công tác, nghiên cứu về tôn giáo mà có những phát biểu chưa chuẩn xác có thể gây hiểu lầm, hiểu sai về tính chất cốt lõi của Phật giáo và tinh thần giáo dục đạo đức trong các bản kinh là điều khó chấp nhận.
Thiết nghĩ các nhà báo, các nhà biên tập, các nhà nghiên cứu nên tìm hiểu kỹ trước những phát ngôn của mình. Bởi báo chí có tính định hướng dư luận rất cao, một khi đã truyền đi một thông điệp sai thì rất khó mà khắc phục được hậu quả của nó. Trong trường hợp này, nhà đài lo lắng người khác hiểu không đúng về lễ Vu lan nhưng với nội dung đã phát lại làm cho người xem truyền hình hiểu về ý nghĩa ngày lễ Vu lan sai lệch, có suy nghĩ, cái nhìn về Phật giáo như một tôn giáo mê tín dị đoan với đầy “các phép thần thông” - trong khi bản chất Phật giáo là giáo dục đạo đức và nuôi dưỡng thân tâm đem lại đời sống an lạc cho mọi người.
Tấn Khang

[1] Trích từ bài Kinh Vu lan - Khảo về nguồn gốc Hán tạng & Nikàya, tác giả Chúc Phú

Theo báo Giác Ngộ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Nhụy khúc' - Câu chuyện buồn của những ký ức ngủ quên

 Đinh Phương viết cuốn tiểu thuyết này không phải để kể chuyện. Ẩn sâu trong những trang viết bộn bề là trăn trở của cá nhân trước sự đổi thay không ngừng của lịch sử và số phận.
Vũ và Trang là hai nhân vật chính của Nhụy khúc. Những chàng trai cô gái tuổi hai mươi, nhưng mang trong mình đầy ắp những tâm sự u uất bởi những tổn thương trong quá khứ. Họ gặp nhau tại một tiệm sách cũ, nơi Trang là nhân viên còn Vũ là khách hàng. Cả hai dần trở thành bạn. Một ngày kia, Vũ bất ngờ tự tử. Trước khi chết cậu nhờ Trang đi tìm một người đàn ông. Trang thực hiện lời hứa với người đã khuất, bắt đầu bước vào một hành trình khám phá, từ từ lật mở những trang sử tưởng như đã chìm vào dĩ vãng.
Nhụy khúc không phải là một cuốn tiểu thuyết thiên về việc kể và xây dựng cốt truyện. Câu chuyện của Vũ, hay của Trang dường như chỉ là một cái cớ để tác giả giãi bày những suy nghĩ và chiêm nghiệm của bản thân về cuộc sống, nhân sinh và sự xoay vần, biến động của thời cuộc thể hiện rõ nét bằng những câu chuyện đã trở thành một phần của lịch sử.
Khai thác mạnh kỹ thuật “dòng ý thức”, tiểu thuyết của Đinh Phương rất ít sử dụng các đoạn hội thoại, mâu thuẫn, hay diễn tả quá nhiều chuỗi hành động của nhân vật. Xuyên suốt cuốn tác phẩm là những dòng suy tưởng miên man của cái tôi cá nhân.
Nhụy khúc còn là hành trình đi tìm lại “phố Chìa” một địa danh dường như đã biến mất bởi sự hoen mờ của tháng năm lịch sử. Những gì còn sót lại khiến nhân vật Trang nửa tin, nửa ngờ, ngỡ lạc vào mê cung. Sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại cùng những suy niệm không ngừng từ nhân vật khiến không gian của cuốn tiểu thuyết hư hư, thực thực mà đậm chất thơ.
'Nhuy khuc' - Cau chuyen buon cua nhung ky uc ngu quen hinh anh 1
Tiểu thuyết Nhụy khúc.
Trở đi trở lại trong tiểu thuyết là hình ảnh của “cỏ nhụy khúc” , một thứ cỏ mọc lên từ những nấm mộ, hoang dại và tràn đây sức sống. Loài cây mà thoáng qua ta cứ ngỡ nó chỉ là thứ cỏ dại mỏng manh. Nhưng bên trong vẻ yếu ớt đó là sức sống mãnh liệt, khiến cho con người không thể xóa bỏ một cách triệt để. Đây là cách để tác giả đưa ra một ẩn dụ về lịch sử. Lịch sử đôi khi không còn tồn tại trong sử sách, nó chỉ mơ hồ trong những câu chuyện kể mà đôi lúc con người ta vô tình lãng quên, nhưng lịch sử không bao giờ bị xóa bỏ hoàn toàn, nếu nó đã từng tồn tại.
Đinh Phương đã khéo léo đưa những câu chuyện lịch sử như khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học, hay cuộc di cư diễn ra ở miền Bắc vào năm 1954 được biết đến với cái tên “Hành trình tự do” đan cài khéo léo vào trong tác phẩm của mình. Nhưng cuốn sách “lạ” ở chỗ anh không kể lại câu chuyện lịch sử như cách mà nhiều nhà văn đi trước đã làm. Tác giả đã đưa những quan điểm và góc nhìn cá nhân của một con người đang sống ở hiện tại vào sự kiện đã qua. Đó cũng là cách mang lại cho lịch sử một đời sống mới.
Nhụy khúc là sản phẩm sáng tạo đầy mới lạ của Đinh Phương. Cái mới, cái lạ và cá tính của tác giả được thể hiện từ cấu trúc tiểu thuyết, giọng điệu đến cách xây dựng nhân vật. Ta có thể gọi Nhụy khúc là một “siêu tiểu thuyết” (metafiction) bởi trong khuôn khổ hơn 200 trang nó mang tới nhiều câu chuyện và thông điệp. Chúng đan cài vào nhau tạo nên một bản giao hưởng của ngôn từ. Cuốn sách không dành cho người đọc vội, tác phẩm đòi hỏi ở người đọc sự suy ngẫm để bóc tách ý nghĩa trong từng lớp ngôn từ ấy.
Đinh Phương sinh năm 1989, tên thật là Nguyễn Trọng Hưng. Anh là một nhà văn trẻ đam mê lịch sử. Trước khi Nhụy khúc ra đời, tác giả đã sáng tác nhiều truyện ngắn lấy cảm hứng từ các sự kiện lịch sử. Anh đã đoạt giải Nhì cuộc thi Truyện ngắn báo Văn nghệ Quân đội với hai tác phẩm Chiều ký ức phủ gai vàChuyến trở về của cỏ. Hiện nay Đinh Phương đang là BTV tại báo Hạ Long (Quảng Ninh).
Thụy Oanh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có chút gì rất gợn?

Cuốn sách của năm

Không còn gì bất ngờ có thể xảy ra được nữa rồi: cuốn sách của năm 2016, xét trên mọi phương diện, nhất là cái khía cạnh nó mở ra cả một thời đại mới cho văn chương Việt Nam, là: tập truyện ngắn Đợi đến lượtcủa Đinh Phương.

Tôi đã viết về cuốn tiểu thuyết Nhụy khúc cũng của Đinh Phương (xem ở kia), lẽ ra Nhụy khúc mới là cuốn sách của năm, nhưng oái oăm thế nào, chính cuốn sách đen đủi Đợi đến lượt mới đóng vai trò ấy. Âu cũng là số trời, thêm một lần nữa.

Tôi đã sẵn sàng từ bỏ, không nhận về mình bất kỳ cái gì có thể gọi là "vinh dự" trong hoạt động xuất bản ở Việt Nam nữa. Nhưng dường như chúng cứ đuổi theo tôi :p

Khi bản thảo tập truyện ngắn của Đinh Phương xuất hiện (chỉ là một sự tình cờ), ngay lập tức tôi đã muốn tôi là người làm nó. Trong đời làm editor, có những lúc một số cảm giác nổi lên rất mạnh, như thể trực giác bị khuấy động ghê gớm. Cái đó, có lẽ chính là "flair" của editor, là những gì Perkins cảm thấy khi bắt gặp bản thảo của Thomas Wolfe, hay Gordon Lish trước Raymond Carver.

Jérôme Lindon là editor danh tiếng của nhà xuất bản Minuit. Nếu không có Lindon, một loạt nhà văn như Jean Echenoz, Patrick Deville, Jean-Philippe Toussaint (các nhà xuất bản Việt Nam thật nhầm lẫn vì đã không để ý đến Toussaint) hay Marie NDiyae hẳn đã không trở thành các nhân vật như chúng ta biết hiện nay. Lindon sẵn sàng cầm sẵn bản hợp đồng đứng đợi ở cổng trường trung học chờ lúc NDiyae tan học đề nghị được in sách.

Molloy của Samuel Beckett (xem ở kia) khi ở dạng bản thảo đã bị một số nhà xuất bản từ chối. Nó đến tay Lindon. Trong vòng nhiều năm về sau, Lindon rất thích kể câu chuyện mình ngồi trên tàu điện ngầm đọc nó, nó làm Lindon cười khủng khiếp, cười đến rung người, thiếu điều vì rung người quá mà làm cho tập bản thảo rơi tung tóe xuống, nếu thế thật thì chắc là toi, rất có thể ta đã không có một Beckett En attendant Godot nào hết. Chuyện xảy ra ở quãng bến tàu điện ngầm La Motte-Picquet-Grenelle. Về Beckett, xem thêm ở kia.

Một editor đôi khi có ý nghĩa rất lớn. Ở riêng trường hợp Jérôme Lindon, ý nghĩa ấy có thể nằm ở chỗ: ta hãy lấy ví dụ Jean Echenoz, một nhà văn Pháp không mấy xa lạ với giới rành đọc sách (tiểu thuyết) ở Việt Nam. Lindon đã hết sức ưu ái Jean Echenoz, và Echenoz đã in ở chỗ Lindon không ít tiểu thuyết, nhận về đủ loại giải thưởng, trong đó không ít danh giá. Nhưng cuốn sách để đời, cuốn sách lớn nhất mà Jean Echenoz từng viết được, rất oái oăm, lại chính là tập sách rất mỏng viết để tưởng niệm Lindon sau khi Lindon mới qua đời, và nó tên là Jérôme Lindon. Echenoz chưa bao giờ viết được một cái gì hay đến như thế.

Trong những gì Echenoz kể về Lindon, có chuyện Lindon gườm gườm nhìn Echenoz rồi bất ngờ đề nghị, Echenoz đổi tên đi, "Jean Echenoz", tên với tuổi, không thể ăn thua được. Rốt cuộc, Echenoz đã không đổi tên, nhưng có cuốn sách, quả thật cuối cùng đã được đổi nhan đề, vì lúc trước nó có từ "occupation", Lindon bảo ông ấy đã sống qua thời Đức Chiếm đóng (Occupation) nên từ này làm ông ấy rợn lắm. Một editor, dẫu cho điều này có thể gây khó chịu đến đâu, có những khi bất thần đề nghị những thay đổi rất khó hiểu. Họ có đúng hay không? Rất khó nói, nhưng dường như một bản năng, một "flair" nào đó chi phối, làm cho họ nảy ra các ý tưởng như vậy.

Trong văn chương Việt Nam, Phạm Thị Hoài là cái tên sản phẩm của Trần Dần. Trần Dần đã đúng như một editor siêu hạng, thấy ngay rằng "Phạm Thị Hoài Nam" là không thể chấp nhận được.

"Nguyễn Dương Quỳnh" cũng là một cái tên có được sau khi đã cắt bớt đi một chữ. Ngày ấy, tôi nói với tác giả Đỏ, nói mà chỉ sợ gặp một phản ứng quyết liệt - dẫu gì chuyện này cũng hết sức tế nhị - rằng cái tên bốn chữ kia không ổn đâu, tôi không hình dung được nó có thể xuất hiện với tư cách một tác giả, trên bìa những cuốn sách. Rất may mắn (cho tôi, ít nhất), đề nghị ấy đã được chấp nhận, và vậy là cho tới giờ ta vẫn có một nhà văn Nguyễn Dương Quỳnh oanh liệt. Tôi cũng rất hy vọng rồi một ngày sẽ in được một tác phẩm khác của Nguyễn Dương Quỳnh.

Bản thảo của Đinh Phương đến tay tôi dưới một nhan đề khác, không phảiĐợi đến lượt. Nó cũng không gồm 13 truyện như bây giờ, mà 14 truyện. Tôi biết ngay cái truyện đầu tiên sẽ trở thành kinh điển của lịch sử văn chương Việt Nam, nếu có tên khác.

Tôi bảo với Đinh Phương, gọi nó là "Đợi đến lượt" nhé. Đợi đến lượt, đó chính là cái nháy mắt đến Samuel Beckett và En attendant Godot; thực sự trước khi đọc, tôi cũng không thể nghĩ rồi một ngày sẽ xuất hiện một nhà văn Việt Nam có nhiều tính chất Beckett như thế. Thêm vài sửa chữa chi tiết, thế là truyện "Đợi đến lượt" được hoàn chỉnh. Tôi nói thêm, bỏ bớt một truyện đi, thế là Đinh Phương tự chọn cái truyện cần phải bỏ. Tôi lại nghĩ, cái bìa sách phải có những viên sỏi (giống "Molloy mút đá"), trông như xếp hàng, nhưng lại không phải xếp hàng. Và thế là cái bìa bây giờ có những sỏi (tuy rằng, nói cho đúng, ý tưởng là vậy, nhưng họa sĩ thực hiện thế nào, giờ trông nó giống mấy quả trứng ốp la ốp lết hơn, nhưng thôi, kệ).

Và vậy là, giờ đây ta đã có tập truyện ngắn Đợi đến lượt. Thời gian (không dài) sẽ cho thấy tầm vóc của nó. Cả ý nghĩa văn chương, lẫn một thái độ (điều này chắc chắn chưa ai nhận ra): thái độ của cái câu đại ý những người ở giữa, đi trên lằn ranh, sẽ phải hứng đạn từ cả hai bên. Đó là thái độ, đó là tư thế, đó cũng là tuyên ngôn cho một thế hệ văn chương mới.

Năm 2016 là một khởi điểm, kể từ đó sách của tác giả Việt Nam bắt đầu, lần đầu tiên trong vòng ít nhất ba mươi năm, chiếm thế thượng phong,như tôi đã nói đầu năm ngoái. Nhưng tất nhiên không phải mọi cuốn sách in trong năm 2016 đều như vậy - rất nhiều người đã lợi dụng bối cảnh này để kiếm lợi ích cho bản thân, và tình hình chung là vài cuốn sách của tác giả Việt Nam được tung hô một cách ngớ ngẩn. Nhưng đó là mặt tiêu cực bắt buộc phải có, một khi ta muốn có một sự thay đổi, một sự bắt đầu. Không có gì phải ngại, không có gì phải ngại lũ không biết đọc mà lại nói lắm. Răng chúng rồi sẽ rụng, lưỡi chúng rồi sẽ khô thôi.

Điều cuối cùng: tôi đã quyết định từ lâu, rằng tôi không bình luận văn chương hiện tại nữa, nhưng cuốn Nhụy khúc khiến tôi buộc phải viết (như trên đã nói). Tại sao lại thế? Để tôi nói: đó là vì cuốn sách ấy bị giết chết chính bởi lời tựa in trong sách.

Một lời tựa sẽ giết một cuốn sách, thậm chí một nhà văn, khi mà tác giả lời tựa ấy đọc không đúng. Một nhà phê bình đọc sai là một nhà phê bình đê tiện. Có những sự đê tiện nhìn qua không có vẻ gì là đê tiện, thậm chí còn long lanh lóng lánh, nhưng chính bởi vậy, nó lại càng đê tiện hơn. Cụ thể hơn, trong riêng trường hợp cái lời tựa viết cho cuốn tiểu thuyết Nhụy khúc: sự đê tiện này bắt nguồn từ một thứ rất đáng ngại, đó là sự hèn nhát, nhân vật viết lời tựa ấy đã quá hèn nhát, sự hèn nhát ấy hoàn toàn có thể giết chết một văn chương, nếu không chỉnh ngay lại. Chuyện tương tự từng xảy ra cách đây vài chục năm: đó là trường hợp Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huy Thiệp.

Phần nhận xét hiển thị trên trang