Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

"Mỗi lít xăng sẽ gánh 8.000 đồng thuế bảo vệ môi trường"


Dân trí Đây là nội dung được Bộ Tài chính soạn thảo và lấy ý kiến để sửa đổi, bổ sung Luật thuế bảo vệ môi trường. So với khung thuế hiện hành 1.000 - 4.000 đồng, dự kiến mặt hàng xăng sẽ phải gánh từ 3.000 - 8.000 đồng thuế bảo vệ môi trường trên mỗi lít.
 >> Thứ trưởng Bộ Tài chính: “Tăng thu thuế môi trường sẽ được lòng dân hơn”
 >> Lên phương án phân chia nguồn thu thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu
 >> Thuế môi trường với xăng dầu có thể tăng lên kịch trần 4.000 đồng/lít


Mức thuế bảo vệ môi trường tối đa áp dụng với mặt hàng xăng lên tới 8.000 đồng
Bộ Tài chính vừa công bố dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế bảo vệ môi trường. Theo đó, đối tượng chịu thuế bên cạnh những sản phẩm, xăng dầu đã nêu ở luật còn bổ sung thêm xăng E5 và xăng E10.
Đáng chú ý, ngoại trừ sản phẩm dầu hỏa, khung mức thuế tính trên mỗi đơn vị xăng, dầu đã tăng đáng kể so với quy định hiện hành tại Luật thuế bảo vệ môi trường. Theo đó, khung mức thuế áp dụng cho xăng (trừ ethanol) là 3.000 - 8.000 đồng/lít so với mức 1.000 - 4.000 đồng/lít như hiện nay. Nhiên liệu bay bị áp khung mức thuế từ 3.000 - 6.000 đồng/lít so với hiện nay là 1.000 - 3.000 đồng/lít.
Dầu diezel từ mức hiện tại là 500 - 2.000 đồng/lít thì dự kiến bị đẩy lên 1.500 - 4.000 đồng/lít. Các loại dầu mazut, dầu nhờn và mỡ nhờn bị áp khung 900 - 4.000 đồng/lít,kg trong khi mức hiện nay chỉ là 300 - 2.000 đồng/lít,kg.
Các sản phẩm mới được đưa vào diện chịu thuế là xăng E5 và xăng E10 cũng bị đánh thuế bảo vệ môi trường với khung áp dụng 2.700-7.200 đồng/lít xăng E5 và 2.500 - 6.800 đồng/lít xăng E10.
Một loại sản phẩm khác là túi ni lông cũng bị đẩy mức thuế bảo vệ môi trường lên rất cao, từ 30.000 - 50.000 đồng/kg lên 40.000 đồng - 80.000 đồng/kg.
Trước đó, trong một phiên thảo luận bàn tròn về kế hoạch cải cách thuế của Việt Nam giai đoạn 2016-2020, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã khẳng định với các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), sẽ tiếp tục thúc đẩy thu thuế bảo vệ môi trường và trong năm 2017 sẽ xúc tiến để mở rộng đối tượng thu này.
Ông Tuấn phân tích: “Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu hiện ở mức 3.000 đồng/lít, nếu nâng lên hết khung hoặc vượt khung, thì giá trị thu được sẽ gấp khoảng 10-20 lần so với số trực tiếp thu từ sử dụng đất phi nông nghiệp hiện nay”.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, nhờ có điều chỉnh chính sách thu đối với một số tài nguyên khoáng sản và thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng dầu nên nhiều khoản thu nội địa đạt mức cao, góp phần tháo gỡ khó khăn cho ngân sách Nhà nước.
Bích Diệp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiếp theo "Gió bay về trời ":


48
Nguyễn Huy Thiệp đã nhầm, khi ông ta bảo :
“Văn nhân thời bây giờ là người có nhiều bạc tỷ
ngồi rung đùi, viết về những điều mới mẻ..”
trên những đền đài xưa 
đã mọc rêu !
Lại lời nhắc nhở của nhà thơ viết về ngôi đền Ăng Ko bốn mặt,
xem ra chưa hẳn đúng đâu.
Khi ông ta bảo Văn chương đời nay đổi khác,
“không cần hướng đạo,
chớ đi sâu mổ xẻ niềm đau,
văn chương đời nay viết cho người giải trí..”
Cứ làm như đời sạch bóng u sầu !
Nhiều người nữa đi tìm lý cho thơ tồn tại,
nhưng xem ra cũng chẳng dễ nào..
Anh có ngưòi bạn từ thủa vừa mới lớn,
quý nhau như thể anh quý em,
ngày áo rách hắn làm thơ rất khá
bao cô nàng từng mê đắm trong tim..
Chúng anh xa nhau hai mươi năm gặp lại.
Hắn không nhận ra anh,
anh không nhận ra mình!
Giờ thì hắn giàu sang,
khôn khéo
chẳng như anh vất vưởng bại, thành..
Hắn vẫn viết những câu thơ bóng nhoáng
trên đường thơ kẻ thẳng hai hàng.
Như người đi đường chỉ một bên mà bước,
được vinh danh
Và rất an toàn..
Chẳng bao giờ hắn nói về thời cuộc,
thời thế, nhân tình hắn viết nhẹ bông
hắn đi xe con,
được người ta đón rước,
không như anh,
nhiều lúc phải đứng đường..
Qua thời thạch nổi, mao chìm..
Văn nhân ngơ ngác,
dù giàu hay nghèo thì làm chi khác ?
Ngoài viết tụng ca
và tạp ca..
Đi xe đạp hay đi ô tô
cũng vào con đường cụt.
Lanh quanh ngày tháng rong ca.
Mài con chữ mòn đến chẳng còn ý nghĩa.
Tiếc thương ngày tháng dần qua..
Không thể trách hắn được,
cũng không thể hờn mình được,
số phận chung của tất cả thôi mà..
Sách cứ in ra để không người đọc,
thơ tặng người
người đứng dậy chẳng mang theo!
Thì cứ bàn vươn tới đỉnh cao!
ở dưới lũng,
vướng dây chằng chịt,
không hay phận nhẹ cánh bèo,
Muốn chơi sang thì đâu có được?
Bạn anh gặp vẫn phương phi béo tốt,
chỉ buồn khi hắn có ở trong đầu,
thói quen kẻ chợ,
cười nhen nhen nơi chốn ồn ào
Rượu
Bia
là những thứ đẩy lên cao
tinh thần chót vót..
Tỉnh rượu bia
Xác thân rơi cái bộp
lại tầm thường như thể lúc chưa say
Nhân cách ư?
không khác kẻ ăn mày
( Cho dù chỉ “ăn mày quá khứ” )
Quá khứ xem chừng cho đến hôm nay..
Đâu còn ?
mấy nả ?..

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỈ CÓ VIỆT NAM LÀ CÓ KHẢ NĂNG CHẶN ĐỨNG TRUNG QUỐC THÔN TÍNH ĐÔNG NAM Á by anle20


Hình ảnh: những người gốc Hoa đã hoặc đang đứng đầu các chính phủ ở Đông Nam Á.
Chỉ có Việt Nam đủ tầm nhìn và thái độ cương quyết cũng như tiền lực để dẹp "nạn kiều". Nhờ vậy, Việt Nam không chịu nhiều ảnh hưởng và thao túng từ phía Trung Quốc. Cùng với vị trí địa lý nằm ở "Yết hầu", Việt Nam đã và đang là "tấm lá chắn" cho toàn bộ khu vực ĐNA trước mưu đồ bành trướng xuống phía Nam của cường quốc đông dân nhất thế giới này. Không nhiều người để ý và biết được tầm ảnh hưởng của người Hoa đối với các nước trong khu vực. Xin giới thiệu với các bạn các thông tin về người Hoa ở ĐNA để có thể hiểu rõ hơn vai trò của Việt Nam và vì sao, các cường quốc, nhất là Hoa Kỳ tìm mọi cách để ve vãn Việt Nam trong chiến lược kiềm tỏa Trung Quốc.
Do người Hoa chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á và nắm trong tay huyết mạch kinh tế của một số nước, nên họ quả là một thế lực đáng gờm.
Người Hoa chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á và lên tới trên 24 triệu người, chiếm 80% tổng người Hoa trên toàn thế giới. Cụ thể:
- Thái Lan, khoảng 9,5 triệu;
- Malaysia, hơn 7 triệu;
- Indonesia khoảng 6 triệu;
- Singapore, gần 3 triệu;
- Philippin, hơn 1 triệu;
- Myanma, hơn 1 triệu;
- Campuchia, hơn 1 triệu;
- Lào, khoảng 200 ngàn;
- Việt Nam, khoảng 800 ngàn.
Trong số này, có tới trên 80% người Hoa đã nhập quốc tịch nước sở tại.
Tài liệu khảo cứu của Trung Quốc cho biết hồi đầu thế kỷ 12 thời Nam Tống, người Hoa bắt đầu di cư ra nước ngoài và chủ yếu xuống khu vực Đông Nam Á Đến thế kỷ 16, có khoảng hơn 100.000 người Hoa ở khu vực này. Thời “Chiến tranh nha phiến”, có tới trên 1 triệu người Hoa ở nước ngoài. Trước ngày Trung Quốc giải phóng năm 1949, có hơn 10 triệu người Hoa ở nước ngoài, chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á. Kể từ sau năm 1949 tới nay, số lượng người Hoa trên thế giới tăng vọt.
Tờ “Thời báo Trung Quốc” của Đài Loan vừa qua cho biết tính tới năm 1994, số lượng người Hoa ở hơn 160 nước và khu vực trên thế giới chừng hơn 30 triệu người. Tờ “Người hướng dẫn khoa học Cơ đốc giáo” của Mỹ cho biết tới tháng 3/1994, người Hoa trên thế giới có 30 triệu đến 40 triệu người.
Theo tạp chí “The Economist”, tiềm lực kinh tế người Hoa ở nước ngoài rất hùng hậu. Tài sản của người Hoa sống ngoài Trung Quốc đại lục (kể cả Hong Kong và Đài Loan) ước tính vào khoảng 1.500 - 2000 tỉ USD. Nếu trừ Hong Kong và Đài Loan, tài sản của người Hoa vẫn tới 920 tỉ USD. Dự trữ ngoại tệ của người Hoa ở nước ngoài năm 1992 tới trên 300 tỉ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ cùng thời điểm của Trung Quốc lục địa cộng với Đài Loan, Hong Kong, Ma Cao cũng chỉ có hơn 400 tỉ USD.
Cuốn sách nhan đề “Khảo luận kinh tế người Hoa ở nước ngoài” xuất bản năm 1983 cho biết vốn kinh doanh của người Hoa ở nước ngoài khi đó đã lên tới 95 tỉ USD tiền vốn, trong đó có 65 tỉ USD ở Đông Nam Á. Tới nay, con số này đã được nhân lên gấp bội.
Tờ “Tiếng nói Hoa Kiều” của Trung Quốc cho biết tài sản của ngân hàng và công ty tài chính của người Hoa ở Đông Nam Á lên tới trên 50 tỉ USD. Người Hoa cũng nắm huyết mạch kinh tế của nhiều nước.
- Tại Indonesia, người Hoa chiếm 2,5% trong số 200 triệu dân, nhưng lại kiểm soát tới trên 70% kinh tế nước này - trong đó kiểm soát trên 75% ngành sản xuất bánh mì, miến, kiểm soát 80% ngành may mặc, 65% ngành nhuộm và 80% ngành lâm sản. Cuối năm1993, 68% doanh nghiệp quy mô lớn của Indonesia do người Hoa kiểm soát.
- Tại Thái Lan, người Hoa chiếm 10% dân số, nhưng chiếm trên 90% vốn của các doanh nghiệp và trên 50% vốn của ngành ngân hàng. Những ngân hàng quy mô lớn của người Hoa ở Thái Lan như Ngân hàng Thái Kinh có vốn tới 6,9 tỉ USD, Ngân hàng Nông dân Thái Hoa trên 6,7 tỉ USD, Ngân hàng điện tín Châu Á khoảng 5 tỉ USD, Ngân hàng Băng Cốc 6,2 tỉ USD, Ngân hàng Hoa Thái 6,7 tỉ USD, Ngân hàng thương mại Viễn La 4,6 tỉ USD. Ngân hàng và công ty tài chính của người Hoa ở Thái Lan có tài sản tới trên 22,2 tỉ USD lớn hơn tài sản 21,8 tỉ USD của Chính phủ và Hoàng gia Thái Lan cộng lại. Chính vì vậy mà địa vị người Hoa ở Thái rất cao, nhiều người gốc Hoa từng làm thủ tướng Thái Lan như Thủ tướng bị lật đổ Thaksin. Người gốc Hoa cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ Thái Lan.
- Tại Philippin người Hoa chiếm chưa đầy 2% dân số, nhưng chiếm trên 35% kim ngạch thương mại của nước này. Thời gian qua, cũng có người gốc Hoa làm Tổng thống Philippines như bà Tổng thống Acquino và đặc biệt mới đây, Duterte tuyên bố ông ta là người gốc Hoa. Cùng với việc phản ứng gay gắt với Mỹ, Duterte đang "lái" Philippines ngả hẳn về phía Trung Quốc.
- Tại Malaysia, người Hoa là một dân tộc trung lưu được tổ chức tốt về mặt xã hội kinh tế và chiếm tỷ lệ cao không cân xứng trong tầng lớp chuyên nghiệp và được giáo dục tốt tại Malaysia, có thành tích giáo dục cao, có đại diện lớn trong lực lượng lao động cổ cồn trắng chuyên nghiệp, và là một trong số các nhóm nhân khẩu học thiểu số có thu nhập hộ gia đình cao nhất. Người Hoa chi phối trong các lĩnh vực thương nghiệp và mậu dịch, kiếm soát xấp xỉ 70% kinh tế Malaysia.
- Tại Singapore, do người Hoa chiếm tới 75% dân số, nên họ kiểm soát tất cả các mặt của đất nước từ chính quyền nhà nước tới các doanh nghiệp.
Trang Web “Hoa kiều” của Trung Quốc dẫn phát biểu của Giáo sư Lâm Kim Chi, Đại học Hạ Môn cho biết Trung Quốc đã thu hút FDI được 825 tỉ USD, vốn đăng ký nước ngoài tới 484 tỉ USD vào hơn 203.208 hạng mục công trình và xí nghiệp, riêng năm 2000 thu hút FDI được được 60 tỉ USD. Trong số này tới trên 55% của Hoa kiều, chủ yếu ở ĐNA đầu tư về nước.
Thời gian qua, Trung Quốc rất chú trọng tới chính sách và ưu đãi đối với Hoa Kiều, vì sự cống hiến và đóng góp kinh tế tài chính của họ cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Ngoài ra, Hoa Kiều ở những nước công nghiệp phát triển còn cung cấp cho Trung Quốc đại lục nhiều khoa học kỹ thuật và các công nghệ hiện đại của thế giới để Trung Quốc nhanh chóng đạt được những tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc thời gian qua.
Như vậy, rõ ràng trước 1975, việc người Hoa nắm gần trọn nền sản xuất, ngân hàng và thương mại của Sài Gòn không có gì là khó lý giải. Với việc họ nắm những khâu then chốt như vậy, vấn đề thao túng chính quyền VNCH chỉ còn là vấn đề thời gian, nhất là khi người Mỹ đã "buông" MNVN.
Sau 1975, chính quyền Việt Nam đã có chính sách rõ ràng và cương quyết về vấn đề người Hoa. Theo đó, những ai muốn làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam thì phải nhập Quốc tịch Việt Nam và được đối xử công bằng, bình đẳng với mọi công dân Việt Nam khác. Những ai không muốn gia nhập quốc tịch Việt Nam thì vận động họ hồi hương về nước hoặc di cư ra nước ngoài. Cộng đồng người Hoa tại miền Nam, chủ yếu là ở TP. HCM đã phản ứng vì trước đó họ được chính quyền VNCH nuông chiều và nắm được hầu hết nền sản xuất, tài chính và thương mại ở MNVN, nay chính quyền mới không giành cho họ đặc quyền, đặc lợi nữa cùng với công cuộc cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam làm cho người Hoa không còn khả năng thao túng được kinh tế MNVN. Trước tình hình đó, phía chính phủ Trung Quốc lấy lý do là bảo vệ Hoa Kiều đã có nhiều hành động thù địch với Việt Nam và cuối cùng là chiến tranh biên giới xảy ra. Còn ở trong nước, người Hoa lũ lượt bỏ đi, một bộ phận tình nguyện về quê hương được chính quyền Việt Nam tạo mọi điều kiện để hồi hương, nhiều người không chịu hồi hương nhưng cũng không muốn ở Việt Nam thì đã tìm đủ mọi cách di cư sang nước thứ ba. Đến nay, người Việt gốc Hoa là một dân tộc trong 54 dân tộc anh em, họ đa số là con cháu những người Hoa đã từng di cư sang Việt Nam từ lâu đời, dù nhiều người vẫn giữ phong tục, tập quán của người Hoa nhưng sống hoà đồng và tôn trọng pháp luật Việt Nam, được pháp luật bảo vệ và đối xử công bằng như mọi công dân khác. Có thể nói, cộng đồng người Hoa còn lại tại Việt Nam đã được Việt hoá, tiếp xúc, làm ăn với họ ta vẫn sẽ thấy đặc trưng của người Hoa nhưng không có nhiều khác biệt so với người Việt, càng không có sự kỳ thị, thù ghét, chia rẽ giữa người Hoa với cộng đồng cư dân bản địa. Ở Việt Nam hiện nay, ghi nhận có nhiều người Hoa thành đạt và giầu có. Tuy nhiên, người Hoa không thể thao túng kinh tế của Việt Nam nói chung hay của một địa phương nào nữa, càng không có cơ hội để thao túng nền chính trị của nước ta.
Nhờ Việt Nam luôn giữ được nền độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, đồng thời trong đối nội ta không để bất kỳ tộc người ngoại lai nào thao túng nền kinh tế, chính trị của đất nước nên Việt Nam đủ cơ sở để tự tin rằng sẽ không có bất kỳ nước nào can thiệp được vào đường lối đối nội, đối ngoại của ta. Mặt khác, đường lối đối ngoại của Việt Nam luôn "nhẹ nhàng nhưng cương quyết", "mềm dẻo nhưng kiên định", sẵn sàng làm bạn và hợp tác tích cực với mọi đối tác nhưng quyết không chịu làm tay sai, con bài của bất kỳ thế lực nào, kể cả các cường quốc hàng đầu thế giới. Điều này đã được cả thế giới công nhận và những cường quốc như Pháp, Mỹ, Trung Quốc...hiểu rất rõ điều đó. Đành rằng thái độ "cứng đầu" của Việt Nam làm cho ta chịu nhiều thiệt thòi, đó là các cuộc chiến tranh tàn khốc với Pháp, Mỹ, Trung Quốc, đó cũng là nguồn viện trợ không mấy dồi dào của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN thời chống Pháp và chống Mỹ. Sau 1975, Trung Quốc cắt viện trợ, Liên Xô thì cắt giảm và thay vào đó là cho vay và sau này ta đã phải đàm phán để trả nợ cho LB Nga. Nhưng ở khía cạnh tích cực, các cường quốc cũng đành phải chấp nhận thực tế là sẽ không thể giật dây được Việt Nam, không thể dùng vũ lực cũng như lợi ích kinh tế để khuất phục Việt Nam, chỉ có thể là hợp tác đôi bên cùng có lợi.
Trong bối cảnh hiện nay, ở khu vực Đông Nam Á, các nước lớn đều ít nhiều bị người Hoa thao túng về kinh tế, chính trị và rất ngại đối đầu với Trung Quốc dù đều biết và đều e ngại sự bành trướng của Trung Quốc đối với khu vực. Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia... đều đang rất lo ngại Trung Quốc sẽ vươn lên và thực hiện các tham vọng của họ làm đảo lộn trật tự quan hệ quốc tế vốn đã định hình và tương đối ổn định từ sau Đại chiến thế giới 2. Vì thế, một mặt Asean coi Việt Nam là "tấm lá chắn" trước mưu đồ thôn tính Đông Nam Á của Trung Quốc, mặt khác, các cường quốc đang coi Việt Nam là một trong những đối tác có thể kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Vì thế, bên cạnh việc hợp tác với Việt Nam về chính trị và quốc phòng, các nước cũng tăng cường hợp tác và hậu thuẫn cho Việt Nam phát triển kinh tế vì, nói như các cụ nhà ta, "có thực mới vực được đạo". Muốn đảm bảo Việt Nam có khả năng "đề kháng" trước âm mưu thao túng và can thiệp từ Trung Quốc thì kinh tế Việt Nam phải mạnh hơn nữa, đủ sức để vừa củng cố quốc phòng, tăng cường an ninh, thiết lập địa vị chính trị trên trường quốc tế, vừa đủ mạnh để chống chịu được trước những đòn đánh bằng kinh tế của cường quốc hàng đầu thế giới này. Chúng ta thấy rõ ràng, Việt Nam ít được nhận viện trợ cho không, thế nhưng ODA và các khoản tài trợ từ WB, IMF vẫn đang giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế phát triển bền vững trong trung và dài hạn. Bên cạnh đó, FDI chảy vào Việt Nam cũng không ngừng tăng lên, nhiều chính phủ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, điển hình là Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhưng FDI vẫn chưa phải là dấu ấn đậm nét nhất về sự hợp tác và hỗ trợ của các cường quốc với Việt Nam. Lĩnh vực nổi bật và giúp Việt Nam tạo nên động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng là thương mại quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã tham gia vào mọi sân chơi đa phương và ký được hiệp định thương mại song phương với hầu hết các đối tác thương mại hàng đầu thế giới, giúp Việt Nam đạt được tỷ trọng xuất nhập khẩu so với GDP khá cao, đứng hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, chỉ xếp sau Singapore. Đến nay, Việt Nam đã chiếm lĩnh và vượt lên trong thương mại với các nền kinh tế lớn nhất của thế giới như Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc... tại các thị trường này, Việt Nam đều đã vươn lên top 3 của khu vực Đông Nam Á, nhiều chỉ số đứng hàng đầu như Xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Thương mại 2 chiều với EU.
Như vậy, từ thực tế quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cho đến những động thái gần đây đối với Việt Nam của các cường quốc khác. Từ tiếng vọng của lịch sử cho đến những cuộc đối đầu căng thẳng gần đây khi Trung Quốc có những hành động xâm hại chủ quyền của Việt Nam. Từ việc Việt Nam không ngừng củng cố quốc phòng, an ninh và địa vị chính trị trong khu vực và trên trường quốc tế cho tới vấn đề đối nội nhằm ổn định chính trị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tất cả đều cho thấy, Việt Nam đã, đang và sẽ chống chịu được sự thao túng, thôn tính của Trung Quốc. Điều này, vừa là niềm tự hào và là lợi ích to lớn đối với dân tộc Việt Nam, vừa là lý do để các đối tác quốc tế tin tưởng, nể phục và mong muốn tăng cường hợp tác sâu rộng với Việt Nam, giúp Việt Nam phát triển bền vững và ổn định trong tương lai.
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, bộ vét
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt, kính râm và cận cảnhTrong hình ảnh có thể có: 1 ngườiTrong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnhTrong hình ảnh có thể có: 1 người

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THẦY LƯƠNG DUY TRUNG: CÁI TÊN NHƯ MỘT CUỘC ĐỜI

(NCTG) “Tôi nhìn Thầy như một “bậc quý ông”: tuy vóc dáng nhỏ nhắn nhưng bao giờ cũng xuất hiện trong sự đường hoàng, đầu cất cao, cử chỉ đĩnh đạc, quần áo chỉn chu mà không cầu kỳ; rất đúng giờ giấc; cư xử tinh tế, nhũn nhặn; sống không ganh đua tị hiềm, không phiền hà ai cả, không phô phang vật chất; ít nói về mình và hành động nhiều hơn nói; hòa đồng nhưng chỉ giao du với người mình quý, giúp kẻ khó và trọng người tài...” - PGS.TS. Phạm Thị Phương viết về người thầy, PGS., Nhà giáo Ưu tú Lương Duy Trung.

PGS. Lương Duy Trung (thứ hai từ trái sang) - Ảnh tư liệu
PGS. Lương Duy Trung (thứ hai từ trái sang) - Ảnh tư liệu
Có những người để lại dấu ấn trong ta không phải bằng gam màu chói chang mà bằng một thanh sắc dịu nhẹ, một vọng âm ngân đọng, để rồi bỗng một hôm muốn đi tìm họ, ta không thấy họ ở đâu giữa dòng đời chen chúc náo nhiệt, trong những tuyên bố và những trang hồi ký chấn động, ta cần rất khẽ khàng men theo hồi ức ẩn giấu kỹ càng trong góc sâu, mới thấy họ dần hiện ra nguyên khối. Thầy Lương Duy Trung của chúng ta là người như vậy, một con người mà chúng ta mảy may không gợn một chút hồ nghi về lòng mến yêu.

Ký ức về những bậc thầy như thế sẽ bật thức mỗi lần ta nghĩ đến một cuộc đời sáng ngời trong lặng thầm.

Đi tìm Thầy Lương Duy Trung, tôi đã gặp một cái tên như một cuộc đời.

Nếu nói cái tên có thể ứng nghiệm vào cuộc đời thì đó chính là trường hợp Thầy, ở nghĩa hàm súc nhất của “Kỉ sở lập, lập ư nhân”, “tâm” và “trung dung”. Quả thật cả đời mình, Thầy đã hành xử đúng như ý nghĩa mà cụ thân sinh Lương Duy Tâm ngụ ý khi đặt tên con (1).

Đi tìm Thầy, tôi đã thấy “lập ư nhân”

Đặt bút để viết về Thầy quả là không dễ, tôi cất bước đi tìm Thầy giữa những sự kiện quá khứ chồng xếp và không ít điều đã bị lu mờ, kết quả tôi gặp được… những người khác - những người nhờ sự góp công sức của Thầy mà thành đạt hơn trong sự nghiệp: PGS.TS Đào Ngọc Chương, TS. Hoàng Kim Oanh, TS. Đào Thị Bạch Tuyết, TS. Hà Minh Châu, Ths. Nguyễn Quỳnh Trang, Ths. Vũ Thị Xoan, Ths. Nguyễn Thị Minh Thư… Nhưng thôi, kể không xuể danh sách này. Cái chính muốn nói là cách Thầy lặng lẽ khiêm nhu đứng đằng sau những thành công của người mình giúp, chưa bao giờ cất tiếng nói gì về bản thân, chưa bao giờ đòi hỏi ở ai sự “tri ân”, “báo đáp” nào cả. Thầy là vậy…

Là người tự thân lập nghiệp, tuổi trẻ bôn ba tuổi già lặng lẽ, từng là chiến binh kháng Pháp và suốt đời “trồng người”, từng ở non cao Việt Bắc và đô thị trung tâm, từng tu nghiệp trời Đông trời Tây, từng trên bục giảng đất Bắc đất Nam, từng kinh qua nhiều chức vụ khác nhau (Trưởng khoa Ngoại ngữ , Phó Giám đốc Trung tâm Ngoại ngữ, Hội trưởng Hội Cựu chiến binh), Thầy luôn gần gũi và ân cần tìm cách giúp mọi người trong cuộc mưu sinh. Vào những năm mà cụm từ “thân nhân sĩ quan Việt Nam Cộng hòa” làm nhiều người lảng tránh, Thầy không ngần ngại giúp cô giáo Pháp ngữ (tên Trang?) - một “thành phần” như thế - có giờ dạy và công ăn việc làm ổn định.

Quá hiểu “cơm áo không đùa với… giáo văn”, Thầy thiết thực giúp cải thiện đời sống vật chất eo hẹp của anh chị em Khoa Văn (chị Phan Thị Hiên, thầy Lê Văn Chín, thầy Phan Thanh Lương, thầy Hồ Sĩ Hiệp…) bằng cách kiếm thêm công việc phụ cho họ tại Trung tâm Ngoại ngữ. Là thành viên của Hội đồng phân phối nhà cửa (khu chung cư), Thầy không bao giờ bỏ một phiên họp nào, dù bận đến đâu hay đang khi yếu mệt, bởi lẽ: “Mình phải đến để bỏ phiếu cho anh em khoa Văn chứ!”. Không chút màu mè, luôn ở bên mọi người những lúc cần thiết nhất, lặng lẽ và thiết thực, làm nhiều hơn nói - Thầy là vậy… 

Đi tìm Thầy, tôi đã gặp chữ “tâm” và “trung dung”

Bản thân “Kỉ sở lập, lập ư nhân” cũng toát lên chữ “tâm”. 

Bản thân chữ “tâm” đã khiến người ta trở nên “trung dung”.

Sinh ra trong một gia đình dòng dõi khoa bảng (2), có nền tảng Nho giáo, lớn lên theo đuổi văn chương Phương Tây, ở Thầy Lương Duy Trung toát lên một cốt cách tự tại, mực thước của một ông đồ Nho, đồng thời sự phóng khoáng, cởi mở, lịch lãm của nhà trí thức Tây học. Riêng tôi, tôi nhìn Thầy như một “bậc quý ông” (gentleman): tuy vóc dáng nhỏ nhắn nhưng bao giờ cũng xuất hiện trong sự đường hoàng, đầu cất cao, cử chỉ đĩnh đạc, quần áo chỉn chu mà không cầu kỳ; rất đúng giờ giấc; cư xử tinh tế, nhũn nhặn; sống không ganh đua tị hiềm, không phiền hà ai cả, không phô phang vật chất; ít nói về mình và hành động nhiều hơn nói; hòa đồng nhưng chỉ giao du với người mình quý, giúp kẻ khó và trọng người tài; yêu nghệ thuật và biết ngắm thưởng “nhan sắc” mà tuyệt nhiên không cợt nhả… Không ít những phẩm tính trong số này là của người có nền tảng giáo dục Nho học.
 
Cùng những người bạn - Ảnh tư liệu
Cùng những người bạn - Ảnh tư liệu

Ít thấy Thầy nổi giận, bao giờ cũng nhỏ nhẹ, thanh thoát pha đôi chút tinh nghịch, dí dủm, yêu đời, đôi lúc cả tính tự trào - điều làm Thầy xích lại gần tất thảy mọi người. Sinh viên vốn hay có màn “duyệt dung nhan” giảng viên bữa ra mắt, xì xào về con mắt độc nhãn của Thầy (trong kháng chiến chống Pháp, Thầy bị hỏng một mắt), ông cụ tinh nghịch: “Đã từ lâu tôi nhìn đời chỉ bằng một con mắt”, cả lớp cười bò, coi như xong màn làm quen. Vào bài, thầy bày “mánh”: “Gọi tên nhân vật nước ngoài khó thì cứ phiên tiếng Việt nhé, riêng Candide thì phải để nguyên chứ phiên ra thì không hay lắm!”. Cả lớp lại bò ra cười, coi như xong màn kết giao thân thiết. Nhưng bài giảng của Thầy không hề xuề xòa qua loa, mà nghiêm cẩn trong từng chi tiết. Vừa giảng vừa lắng nghe, không bao giờ áp đặt ý kiến một chiều và bao giờ cũng nhìn mọi sự trong sự quân bình, không thái quá, không cực đoan. 

Tâm sáng làm Trí con người tinh anh, biết cần làm gì và không cần thiết làm gì. Khi không thấy cần thiết hay không muốn phải giúp ai đó cho có hình thức, Thầy từ chối, kiên quyết nhưng nhẹ nhàng, không để họ mếch lòng. Một khi thấy sự giúp đỡ là cần thiết, Thầy tự khắc chìa tay ra. Và khi tâm sáng người ta không thấy cần thiết phải làm “sáng” chuyện nào đó, không “nghiêm trọng hóa” điều gì không thuộc về nguyên tắc. Chúng tôi lén gọi Thầy là “ông già Kutuzov” (chả là tướng Kutuzov cũng hỏng một mắt), vì sự tinh tường, thấu suốt mọi nhẽ, đừng tưởng “ông cụ” không nói là vì không biết. Biết mọi nghịch ngợm của lũ học trò, Thầy không trách mắng, chỉ nheo mắt mủm mỉm cười - nụ cười “biết tuốt” tinh nghịch pha chút mong muốn dự phần vào trò vui con trẻ.

Tương truyền Thầy là tác giả duy nhất của một cuốn sách lẫy lừng, cuốn khảo cứu chuyên môn có giá trị, nhưng lầm lẫn thế nào mà nhà xuất bản lại ghi thêm tên một người khác vào bên cạnh tên thầy. Thầy im lặng không nói gì cho đến giờ. Chúng tôi cũng không dám hỏi, để rồi, mọi cái đi vào huyền thoại. Thầy là vậy… 

Đối đãi với người đời bằng cái tâm, đến với văn chương chữ nghĩa Thầy cũng sống bằng tất cả cái tâm chân thật, đầy xúc cảm và lãng mạn. Sinh viên, học viên ấn tượng với lối giảng bài khúc chiết, rỉ rả, tâm huyết của thầy trong những tiết về Othello, Hamlet, King Lear, Macbeth… Và bao giờ cũng thế, ra khỏi bài giảng của Thầy, người học luôn thấy không chỉ được khai trí mà còn được khai tâm. Dạy “Eugénie Grandet” (Balzac), tới bức thư của Charles gửi Eugénie, giọng thầy trầm hẳn xuống, rung lên trong nước mắt làm cả lớp lặng người đi và cùng Thầy chìm vào cảm xúc, cảm tưởng người nhận lá thư đó là chính ông thầy đang đứng trước mặt mình chứ không phải cô gái Pháp thời nao. PGS. TS. Trần Thị Quỳnh Nga tâm sự rằng cứ mỗi lần giảng tác phẩm văn học Nga “Onegin Evgeni” (Pushkin), tới đoạn hai lá thư, chị bất giác nhớ đến người thầy dạy văn học Pháp năm xưa đã gieo vào tâm chị một nốt nhạc luyến láy về một thời con gái tóc rất xanh và hồn rất trong, đã thương đã yêu thế nào... Với “Hamlet”, đôi khi thầy cũng đắm sâu như thế trước câu “To be or not to be”, rồi giật mình, quay trở lại lớp học. Thầy là vậy…

Đi tìm Thầy, tôi chỉ biết một phần nhỏ nhoi… Phần vì tôi vô tâm, sống trong vội vàng mà ít lần lắng lại, phần vì Thầy quá lặng lẽ, khép mọi riêng tư trong căn nhà mình, cất mọi công lao vào lời không nói. Vẫn biết ngôi nhà ở khu Văn Thánh luôn mở cửa, bình trà luôn ấm nóng, bánh trái ở trên bàn, Thầy hằng đợi chúng tôi mỗi dịp ghé về: “Ăn mứt gừng này tốt cho sức khỏe lắm…”, vậy mà…

Ghi chú:

(1) GS.Lương Duy Thứ - em trai kế Thầy Lương Duy Trung, cho biết cụ thân sinh đặt tên cho các con trai theo hai nội dung chính của đạo nhân của nhà Nho: “Trung được giải thích là “Kỉ sở lập, lập ư nhân” - điều mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt. Còn Thứ là “Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân” - nghĩa là điều mình không muốn thì cũng đừng gán cho người khác. Trong chữ Hán, Thứ thuộc loại hội ý, trên chữ như dưới chữ Tâm; Cha Duy dạy con như vậy nên cả 5 người con trai đều có chữ Tâm ở dưới (Trung, Thứ, Tuệ, Tưởng, Thái)”. (Lương Duy Thứ - “Quê hương là trái bần chua ngọt”, NXB Hội Nhà văn, 2011, tr. 41- 42).

(2) Xem:
“Danh sách các quan lại, các nhà khoa bảng thời phong kiến và các nhà quản lý, tri thức tiêu biểu con em Làng Lệ Sơn”
- Quyết định của tỉnh Quảng Bình công nhận dòng Lương Duy là một dòng họ khoa bảng (Tạp chí “Văn hóa Quảng Bình” số 3 năm 2010, tr. 25).
PGS. TS. Phạm Thị Phương, từ TP. HCM

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO VÀ QUYỀN ĐƯỢC NÓI CỦA CÔNG DÂN


“Những nhà lãnh đạo của chúng ta rất sợ sự chỉ trích, thậm chí sợ người dân nói khác ý mình. (...) Tôi tự hỏi, biết đến bao giờ dân mới được quyền nói những gì mà “họ thích”?”.

Fukuzawa Yukichi (1835-1901), bậc khai quốc công thần, nhà tư tưởng vĩ đại hàng đầu của Nhật Bản, người khai sáng đất nước - Ảnh tư liệu
Fukuzawa Yukichi (1835-1901), bậc khai quốc công thần, nhà tư tưởng vĩ đại hàng đầu của Nhật Bản, người khai sáng đất nước - Ảnh tư liệu
Nếu Chính phủ đi ngược lại lợi ích của người dân, với bổn phận của mình, chúng ta sẽ đường đường chính chính kháng nghị, tranh luận với Chính phủ cho đến khi Chính phủ tỉnh ngộ, để giành lại chữ “Tự do Dân quyền”.

Đó là lời của Fukuzawa Yukichi - Nhà khai sáng nước Nhật. Và Chính phủ Minh Trị đã để ông “được nói”. Còn chúng ta hôm nay?

Văn minh nếu chỉ nhìn trên khía cạnh vật chất, giá trị kinh tế thì mới là “phần xác”; còn một phần nữa đó là hồn dân tộc, là tư duy của người dân trong hành trình đi tới thịnh vượng. Khi đề cập tới Chính phủ kiến tạo phát triển, ta thử nhìn sâu hơn về vấn đề này và hỏi rằng ta có quyền được nói? 

Chuyện người dân được nói

Tôi nhớ, Friedrich II - vị Đại đế của nước Phổ có tuyên ngôn đầy hãnh diện rằng: “Ta và thần dân của ta đã đi tới một thỏa hiệp khiến cả đôi bên đều hài lòng. Họ thích nói gì thì nói và ta thích làm gì thì làm”.

Câu nói thoạt đầu tưởng như là biểu trưng cho nền quân chủ chuyên chế mà Friedrich II sẽ thiết lập trên toàn nước Phổ, nhưng không, vị Đại đế - Chiến binh vĩ đại của Tây Âu thế kỷ 18 đã “đi tới một thỏa hiệp” với người dân của mình về việc tự do ngôn luận.

Người dân đế quốc Phổ lúc này sẽ cảm thấy hạnh phúc vì “họ thích nói gì thì nói”. Và khi người dân nói, sẽ tác động qua lại, tương hỗ với điều mà Đại đế Friedrich II “thích làm”.

Nước Phổ dưới thời Friedrich II trị vì (1740-1786) đã bước bước lên địa vị cường quốc bậc nhất của Châu Âu. Họ là tấm gương sáng cho Nhật Bản học tập - một quốc gia mà sau này được nhiều người đã gọi là “nước Phổ ở Châu Á”.

Nhưng thế chưa phải là đã hết! Nhà triết học Voltaire có nhận định về Vương quốc Phổ dưới sự cai trị của Friedrich II: “Nếu buổi sáng nước Phổ còn là xứ Sparta, thì buổi chiều Đế chế này đã là xứ Athena” - Sparta là thành trì của chuyên chế độc tài, còn Athena là biểu tượng của dân chủ, là trung tâm triết học - văn hóa của Hy Lạp cổ đại.

Được nói bắt đầu cho quá trình khai phóng tư duy. Được nói sẽ là viên gạch đầu tiên trong việc truyền bá các tư tưởng, các giá trị nhân sinh quan. Được nói cũng khiến người dân bộc phát tư duy của mình, làm chủ tư duy và từ đó bắt đầu cho tranh biện, tranh luận trước khi vươn tới tầm học thuật.

Được nói cũng bắt đầu cho tinh thần quốc dân, cho tinh thần dân chủ nơi mà người dân bàn luận, thậm chí phản biện về các chính sách của Chính phủ. Quốc gia mạnh hơn nhờ những lời chỉ trích - Như ý của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Nhưng đó là chuyện bên trời Tây, còn ở ta? Ông Hồ Chí Minh đã vắn tắt rất đơn giản, súc tích: “Dân chủ là để cho dân được mở cái miệng”. 
 
Một người tự do trong một xứ sở tự do phải được tự do ngôn luận và tư duy - Minh họa: demotivalo.net
Một người tự do trong một xứ sở tự do phải được tự do ngôn luận và tư duy - Minh họa: demotivalo.net

Sức hút từ ngọn cờ giải phóng dân tộc mà Việt Minh giương cao, sức hút từ những quyền dân chủ thiêng liêng - bất khả xâm phạm đã lôi cuốn giới văn nghệ sỹ, trí thức đi theo kháng chiến. Đây là một phần trong sức mạnh Việt Nam sau ngày tuyên bố Độc lập ngày 2-9-1945.

Những ví dụ đó phải chăng là Chính phủ kiến tạo phát triển?

Tư duy là sức mạnh dẫn dân tộc tới sự thịnh vượng

Gần đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã sử dụng lại khái niệm Chính phủ kiến tạo và phát triển, ông hối thúc các thành viên Chính phủ phải hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp. Ông thực hành việc rút bớt giấy phép con - nói như chuyên gia Nguyễn Trần Bạt là Chính phủ rút dần sự “chiếm đóng” của mình ra khỏi nền kinh tế.

Người đứng đầu Chính phủ đang hành động. Ông có mặt tại các điểm nóng, trò chuyện cùng doanh nghiệp, người công nhân và truyền tải thông điệp và tinh thần “Quốc gia khởi nghiệp”.

Thời gian không còn dài, chuyên gia từ WB (Ngân hàng Thế giới) cho rằng, Việt Nam chỉ có 10 năm cho quá trình tăng tốc kinh tế, khi không còn cơ cấu dân số vàng, nước ta sẽ khó có cơ hội để vượt qua “bẫy thu nhập trung bình thấp”.

Bằng sự kiến tạo của Chính phủ, tinh thần khởi nghiệp của người dân, nền kinh tế sẽ bước qua những nốt trầm. Chỉ có điều từ góc tư duy, sự kiến tạo phát triển của Chính phủ hầu như chưa được đề cập.

Những nhà lãnh đạo của chúng ta rất sợ sự chỉ trích, thậm chí sợ người dân nói khác ý mình. Ám ảnh lớn nhất của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng không hẳn đã là lợi ích nhóm mà là sự suy thoái về đạo đức cách mạng là sự tự diễn biến. Mới đây ông Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông có thống kê bốn đại tội trạng của báo giới.

Nặng nhất vẫn là báo chí đang tự diễn biến.

Tôi tự hỏi, biết đến bao giờ dân mới được quyền nói những gì mà “họ thích”?

Chính phủ sẵn sàng nới room cho kinh tế tư nhân phát triển, nhưng tư tưởng là mệnh đề bất khả xâm phạm. Không cần khai phóng, không cần nghĩ khác, Chính phủ chỉ đơn giản là muốn người dân tận lực làm kinh tế và… nộp thuế nhiều hơn!

Ru ngủ về mặt tư duy, về tinh thần quốc dân, quốc gia sớm muộn sẽ lâm vào bế tắc và là nguồn cơn của cho sự xuất hiện của mô thức “Nhà nước đối phó - xoay xở”. Từ đó đến Nhà nước “cai trị hủ bại” không còn bao xa (*).

Công dân không được chắp nền về tư duy thì nhà nước sẽ cạn kiệt về mặt tư tưởng. Càng cạn kiệt càng sợ hãi, càng chống chế!

Một trăm ba mươi năm trước, Yukichi Fukuzawa đã viết trong “Khuyến khích học vấn” rằng: “dân ta ai cũng chỉ muốn làm trong công sở chính quyền, rồi tìm cách leo lên hàng quan chức Chính phủ để có quyền hành và bổng lộc”. Sau khi đả phá những tư tưởng hủ bại, ông cũng cho rằng Chính phủ Minh Trị dù có “tự mãn” vì đã xây dựng được nhiều trường học, lực lượng quân đội hùng hậu thì cũng chỉ là “phần xác” của nền văn minh.

Và từ đó Yukichi Fukuzawa minh định rất rõ ràng rằng điều mà Nhật Bản thật sự cần là “Chí khí độc lập của người dân, tinh thần độc lập của nhân dân!”. Chính quyền Minh Trị đã để cho Yukichi Fukuzawa nói và thực hành việc sứ mệnh khai phóng - nước Nhật nhờ thế có thành tựu hôm nay (**). 

Ghi chú:

(*) Xem thêm bài “Việt Nam trước thách thức xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển”.

(**) Bài viết đã trích đăng trên chuyên san “Tuần Việt Nam” của mạng tin Vietnamnet. Bản trên NCTG là bản gốc đầy đủ của tác giả.
Sông Hàn, từ Hà Nội
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự kiện chưa từng có: Mời tất cả các nhà văn hải ngoại về dự "Hội nghị hòa hợp dân tộc" dịp giỗ tổ Hùng Vương




CTHNVVN Hữu Thỉnh:

“Dịp Giỗ tổ Hùng Vương 10/3/2017, Hội Nhà văn VN sẽ tổ chức cuộc gặp mặt mời tất cả các nhà văn VN đang sống ở nước ngoài về dự; Thực chất đây là một cuộc hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học, bất kể trước 1975 họ đã cầm bút phục vụ chế độ cũ ( Việt Nam Cộng hòa) như thế nào…

Năm nay chúng ta đổi mới như vậy, 40 năm kết thúc chiến tranh rồi, dòng sông Thạch Hãn còn chảy, còn rớm máu nhưng với sức mạnh đại nghĩa của dân tộc, chúng ta mời các nhà văn có lương tâm, có trách nhiệm với đất nước, yêu quê hương hày hướng về làm giàu cho đất nước Việt Nam…

Đây là một sự kiện chưa từng có, TBT có hỏi tôi rằng: Có phải đây là lần đầu tiên tổ chức hội nghị này không ? Tôi trả lời: Đây là lần đầu tiên chúng ta sẽ tổ chức vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 ( âm lịch) 2017…

Có nghĩa là chúng ta, Hội Nhà văn VN không chỉ tập hợp tinh hoa văn học trong nước mà còn tập hợp tinh hoa của người Việt ở nước ngoài…làm cho văn hóa Việt Nam tỏa sáng…

Đây cũng là chương trình hành động của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2017…”

Phạm Viết Đào

(Blog Phạm Viết Đào)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lê Minh Khuê: bà 'trùm truyện ngắn' ba lần đoạt giải Hội Nhà văn



Nhà văn Hồ Anh Thái ví đàn chị Lê Minh Khuê là bà “trùm truyện ngắn”. “Bà trùm” với tập truyện mới Làn gió chảy qua vừa nhận giải thưởng 2016 của Hội Nhà văn Việt Nam.
Lê Minh Khuê: bà 'trùm truyện ngắn' ba lần đoạt giải Hội Nhà văn
Nhà văn Lê Minh Khuê và tập truyện ngắn vừa đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam - Ảnh: Nam Trần
Đây là lần thứ ba (sau lần 1987, 2000) nữ nhà văn nhận được giải thưởng này.
Hà Nội một sáng mùa đông, mưa bụi mịt mù, trong ngôi nhà ở ngõ 68 đường Xuân Thủy, nhà văn Lê Minh Khuê ngồi bên tách trà gừng ấm áp.
Ai đến nhà và ngồi trong phòng khách này sẽ không nghĩ đây là nhà của một nhà văn nổi tiếng, người từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và cả Giải thưởng văn học quốc tế của Hàn Quốc (năm 2008).
Phòng khách không giá sách, bà nói, ngay cả bàn viết bà cũng không có. Tiện đâu viết đấy. Mà đến giờ, bà vẫn viết văn trên giấy. Viết xong, đưa cho con gái Minh Phước đánh máy lại.
Rồi có gửi bản thảo đi đâu, cũng là từ email của Phước. Mọi giao dịch qua thư điện tử cũng đều do cô con gái vừa sinh con đầu lòng đảm trách. Bà ngại máy tính, ngại xe máy, ngại nói chung các thiết bị hiện đại.
Kể từ khi Phước sinh con đầu lòng, nhà văn Lê Minh Khuê cũng được lên chức bà ngoại. Công việc của một bà “trùm truyện ngắn” bắt đầu đảo lộn.
Thời gian cho văn chương và đọc sách ít đi. Thời gian lo bỉm sữa cho cháu nhiều hơn. Nhưng bà vui. Vui vì giục mãi con gái duy nhất cũng đi lấy chồng, cũng sinh con để bà “lên chức”.
Đó dường như là niềm vui lớn nhất của bà trong những ngày tháng này. Vui hơn cả khi biết tin được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, hình như thế.
Bởi với việc tập sách Làn gió chảy qua vừa được giải thưởng thì đây là lần thứ ba Lê Minh Khuê giành được giải thưởng này. Nhưng ai đã biết Lê Minh Khuê thì cũng biết tính bà khó mà “vui quá”, hay “bất ngờ quá” được.
Nhưng bà thú nhận niềm vui nhất của bà khi biết tin mình lại được giải thưởng, là khi phát hiện “có những bạn văn vẫn chịu đọc nghiêm túc tác phẩm của mình”.
Bởi bây giờ trong giới văn chương thường ít đọc của nhau. “Vì thế, với cá nhân tôi, được bạn văn đọc cũng là một hạnh phúc” nhà văn Lê Minh Khuê khẽ cười.
Làn gió chảy qua (NXB Trẻ) là tập sách thứ ba của Lê Minh Khuê kể từ khi bà nghỉ hưu (2007) và là tập sách thứ 16 của bà, chưa kể những “tuyển tập linh tinh” như chính cách nói của bà “trùm truyện ngắn”.
Ở Làn gió chảy qua, người ta có thể nhận ra một Lê Minh Khuê khác, mềm mại hơn. Nếu ở tập sách trước, tập Nhiệt đới gió mùa, những truyện ngắn của bà nhuốm màu chết chóc, bi thảm thì Làn gió chảy qua lại nhẹ nhõm, mà nói như nhà văn Hồ Anh Thái, là những truyện ngắn “đã đến độ thản nhiên tự nhiên, hầu như không vướng bận kỹ thuật”.
Với Lê Minh Khuê, sự chuyển đổi này không xuất phát từ tâm thế “đã nghỉ hưu rồi”, mà bởi bà theo một “vệt viết khác”.
Đồng thời cũng còn bởi, “cái gì nó đến thì nó đến”, chứ không chủ ý phải dặn mình viết thế này hay thế kia. Văn chương với bà, từ lúc bắt đầu đến bây giờ, vẫn vậy. Quan niệm về nghề không có gì thay đổi: văn chương phải là văn chương.
Chỉ có cách viết thay đổi là do nhân vật đã đổi thay. Mỗi thời, những nhân vật của bà có những số phận, tính cách và ngôn ngữ khác nhau. Vậy thì, người viết như bà phải tìm một cách viết khác, cách kể khác...
3 Lê Minh Khuê không phải là người thích lộ mình, cũng không phải là người thích đám đông. Sách bà in ra nhiều, nhưng chưa một lần tự tổ chức ra mắt sách. Bà cũng hiếm khi xuất hiện, đăng đàn ở những buổi ra mắt sách của bạn văn.
Bà chỉ chắc chắn một điều, Làn gió chảy qua sau cú hích từ giải thưởng mới nhất của Hội Nhà văn Việt Nam cũng không trở nên best-seller. Bởi văn chương của Lê Minh Khuê, ai thích thì đã thích.
Bây giờ, sau những cuộc điện thoại chúc mừng, nhà văn Lê Minh Khuê lại bận bịu với niềm vui chăm cháu ngoại. Cái giá sách trên tầng 3 do con gái bà đóng cho, riêng để những “tác phẩm của mẹ”, bà nói nhiều khi cũng thấy vô vị.
Sách vở với Lê Minh Khuê ở những ngày tháng này không có quá nhiều ý nghĩa. Bởi ý nghĩa lớn nhất của một người phụ nữ, theo bà, đó là con cháu quẩn quanh. Nhưng dù thế nào, văn chương cũng đã đến và ở lại với Lê Minh Khuê, làm nên một tên tuổi được nhiều người chờ đón.
Nó không phải là “làn gió chảy qua”, mà bền bỉ và âm thầm hơn, neo bám vào những người hâm mộ văn chương bà.
Hoàng Thu Phố - TTO


Phần nhận xét hiển thị trên trang