Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Tư liệu dấm ớt:

Bàn về hiện tượng “vô cảm”

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, một số thuật ngữ “lạ” xuất hiện trong ngôn ngữ hàng ngày tại miền Nam. Bài viết này không có tham vọng điểm hết những từ ngữ mới đó mà chỉ xin bàn về hai chữ “vô cảm”. 

Kho từ vựng tiếng Việt rất phong phú. Chỉ riêng những từ ngữ ghép với chữ “vô”, hiểu nôm na là “không”, ta có hàng loạt những từ kép hay cụm từ như: vô tâm, vô thức, vô học, vô giáo dục, vô tri vô giác, vô tiền khoáng hậu… Thế cho nên sự xuất hiện của “vô cảm” được hiểu theo ý là không có sự xúc động, không cảm giác… hay nói một cách khác, là lãnh đạm, dửng dưng, ích kỷ, bàng quan.

Những con số “biết nói” khiến người ta không khỏi bàng hoàng trước một thực tế ngày nay: Việt Nam đứng trong “top” 15 những quốc gia mà người dân có ít cảm xúc nhất. Thêm vào đó, còn được xếp hạng 123 trong số 176 nước về chỉ số người dân cảm nhận về tham nhũng.

Người “vô cảm” có trái tim lạnh giá, họ rất ít khi xúc động. Người “vô cảm” sống ích kỷ, sống vì sự an toàn của bản thân mình. Họ thờ ơ, thậm chí còn làm ngơ trước những điều xấu xa hoặc nỗi bất hạnh của những người xung quanh.

Vô cảm trước bất hạnh của một người lái xe chở bia

Hiện tượng “vô cảm” không chỉ xuất hiện ở kẻ xấu mà còn có thể có ở cả những người vẫn được coi là “người tốt”. Bởi lẽ, khi người tốt làm ngơ, im lặng trước cái xấu, để cái xấu chà đạp lên những giá trị nhân văn, thậm chí còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật,  thì đó là một hiện tượng không thể chối cãi của “vô cảm”.

Trước một tai nạn đụng xe chết người trên đường, người “vô cảm” giữ thái độ dửng dưng, không hề xúc động. Người ta nghĩ người nằm chết còng queo là người lạ mặt, không liên quan gì đến mình.

Trong một vụ cháy nhà, người “vô cảm” có thể đứng nhìn, họ giữ thái độ bàng quan mà không hề góp sức dập tắt ngọn lửa. Họ nghĩ đó không phải là việc của mình mà là nhiệm vụ của lính cứu hỏa.

Vô cảm trước bất hạnh của người khác

Ở một phạm trù rộng hơn, có liên quan đến vận mạng của đất nước, người “vô cảm” giữ một thái độ dửng dưng của người nước ngoài nhìn vào đất nước mình, không hề có phản ứng của người trong cuộc.

Cần phải nhấn mạnh, trong một xã hội như vậy, người “vô cảm” bao gồm cả những người có trọng trách điều hành đất nước lẫn người dân thường đang sống trong đất nước đó.

Đạo lý từ ngàn xưa, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, đã bị bỏ quên. Lịch sử của cả một dân tộc với hơn 4.000 năm văn hiến đã không còn hiện diện trong đầu óc của những người “vô cảm”. Họ đã và đang chối bỏ tinh thần “Sát Thát” [1] với lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc.

Sơn hà nguy biến, xin đừng “vô cảm”

Tại sao chỉ thời gian mấy chục năm gần đây mới có thuật ngữ “vô cảm”?

Nhìn lại lịch sử cận đại, bắt đầu từ năm 1945, nước Việt thoát khỏi ách đô hộ của người Pháp, người Việt lúc đó cùng chia sẻ một mục đích chung là xây dựng nước nhà. Đó là thời điểm mà người dân sát cánh bên nhau, chung sức chung lòng vì một tổ quốc Việt Nam.

Năm 1954 Hiệp định Geneva chia cắt đất nước để hình thành sự phân biệt chính kiến giữa hai miền Nam và Bắc. Đó là thời điểm hiện tượng “vô cảm” âm thầm đi vào thái độ sống của người Việt.  

Năm 1975, nước Việt một lần nữa được thống nhất nhưng điều đáng buồn là hiện tượng “vô cảm” lại chính thức trở thành phổ biến. Như đã nói ở trên, sự “vô cảm” này xuất hiện đều khắp trong xã hội, từ lãnh đạo đến người dân, từ trẻ em đến người lớn, từ phụ nữ đến nam giới, từ người giàu đến kẻ nghèo, từ người sang đến kẻ hèn…

Đâu là nguyên nhân sâu xa của hiện tượng “vô cảm”?

Nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn [2], một nhân vật nổi tiếng với tác phẩm “Quần đảo ngục tù” (The Gulag Archipelago – Ngọc Thứ Lang và Ngọc Tú dịch năm 1974, xuất bản tại Sài Gòn), đã nói về sự dối trá của Liên Xô dưới thời Stalin. Trong bài diễn văn được đọc thay vì ông vắng mặt trong buổi nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1971 có một phát biểu lịch sử:

“Một khi dối trá bị lật tẩy, bạo lực trần trụi sẽ lộ nguyên bộ mặt thô bỉ của nó, và rồi bạo lực, khi ấy đã đuối sức, sẽ sụp đổ tan tành”.

Bản tuyên ngôn “Không sống bằng dối trá” được viết ngay trước khi Solzhenitsyn bị trục xuất khỏi Liên Xô đã thể hiện những suy nghĩ của ông:

“Chúng ta đã bị phi nhân tính một cách tuyệt vọng tới mức chỉ vì một khẩu phần ăn khiêm tốn hàng ngày cũng sẵn lòng đánh đổi mọi nguyên tắc của mình, tâm hồn của mình, những nỗ lực của tiền nhân và cơ hội dành cho hậu thế - cốt sao sự tồn tại mong manh của mình không bị phá vỡ. Chúng ta chẳng còn lấy một chút vững vàng, một chút tự hào và một bầu nhiệt huyết.”

Điều mà Solzhenitsyn gọi là “phi nhân tính” phải chăng là hiện tượng “vô cảm” tại Việt Nam ngày nay. 

Aleksandr Solzhenitsyn và Quần đảo ngục tù

Trong văn học thế giới cận đại còn có một nhà văn nổi tiếng khác là George Orwell [3] với tác phẩm hư cấu, vẽ nên một bức tranh u ám của chế độ toàn trị. Orwell lấy năm 1984 làm thời điểm của “tương lai” và tác phẩm có tựa đề thật đơn giản: “Một chín tám tư” (Nineteen Eighty-Four).

“Một chín tám tư” có một câu nói giờ đã trở thành phổ biến trong tiếng Anh ngày nay: “Big Brother is watching you” (Anh Cả đang theo dõi bạn). Kể từ khi “Nineteen Eighty-Four” ra đời, thuật ngữ "Big Brother" đã bước vào từ điển như một từ đồng nghĩa với sự lạm dụng quyền lực của chính phủ, đặc biệt là đối với các quyền tự do dân sự.

Về mặt ngôn ngữ, từ cuốn tiểu thuyết này của Orwell đã sinh ra tính từ “Orwellian” nhằm chỉ sự lừa gạt công khai, theo dõi ngầm và thao túng quá khứ bởi nhà nước toàn trị.

“Big Brother” là một nhân vật hư cấu mà Orwell cho xuất hiện trong năm 1984, khi tác phẩn này được phát hành năm 1949. Đối với Orwell, 1984 là “tương lai” nhưng người đọc vào thập niên 80 lại thấy thời điểm này là… hiện tại.

“Big Brother”, gọi tắt bằng cái tên thân mật “BB”, là nhà độc tài của Châu Đại Dương(Oceania) điều hành một chế độ toàn trị nhà nước trong đó Đảng (Party) nắm quyền điều hành quốc gia "vì lợi ích riêng của mình hơn là lợi ích của người dân".

Trong xã hội mà Orwell mô tả, mọi công dân đều bị cơ quan nhà nước liên tục theo dõi thông qua màn ảnh truyền hình, liên tục được nhắc nhở “Big Brother is watching you”. Nhân vật “BB” có thể là người thật nhưng cũng có thể là sản phẩm của Đảng được “nhân cách hóa” để cai trị. Cũng có giả thiết cho rằng Orwell đã dùng hình tượng của thật Joseph Stalin để tạo ra nhân vật giả tưởng “BB”.

Trong truyện, “BB” là người sáng lập ra Đảng và trong lịch sử Đảng, ông là người lãnh đạo cuộc cách mạng khi mới 40 tuổi và chân dung của người anh hùng này xuất hiện khắp mọi nơi ở Oceania. “BB” còn được vinh danh và suy tôn như một lãnh tụ tôn giáo mặc dù Đảng vẫn coi tôn giáo là kẻ thù của cách mạng.  

Nhà nước Oceania có “Bộ Sự Thật” với ba khẩu hiệu của Đảng được kẻ rất rõ và đẹp ngay trên mặt tiền tòa nhà: (1) Chiến tranh là Hòa bình; (2) Tự do là Nô lệ; và (3) Ngu dốt là Sức mạnh.

“Bộ Sự Thật” theo dõi lĩnh vực tin tức, giải trí, giáo dục và nghệ thuật. “Bộ Hòa Bình” theo dõi lĩnh vực chiến tranh. “Bộ Tình Yêu” theo dõi lĩnh vực trật tự, luật pháp và “Bộ Ấm No”theo dõi lĩnh vực kinh tế.

Người công dân của xứ sở “thiên đường” Oceania được nhà nước chăm sóc chu đáo từ hành động đến tư tưởng và họ dần dần đánh mất những suy nghĩ riêng tư để sống như một cỗ máy. Mà máy lúc nào cũng… “vô cảm”.

Ngoài cuốn truyện giả tưởng “Một chín tám tư”, Orwell còn viết “Trại súc vật”, một truyện ngụ ngôn viết năm 1943 và xuất bản năm 1945. Đây là câu chuyện trong thế giới loài vật, nói về những con lợn đứng lên với lời hứa sẽ giải phóng muôn loài trong một trang trại ở nước Anh.

Khi trại đã về tay gia súc, bọn lợn đề ra những nguyên tắc đẹp đẽ, mọi gia súc trong trại đều phải tuân theo, với mong muốn từ nay tất cả đều được sống một cuộc sống tươi đẹp, ấm no và… “mọi con vật đều bình đẳng”.

Nhưng đó chỉ là “bánh vẽ” vì khi nắm quyền trong tay, những con lợn này biến thành một giai cấp bóc lột mới, đè đầu cưỡi cổ tất cả những sinh vật trong trại. Trại súc vật cuối cùng đã biến thành trại của những con vật “vô cảm”…
  
“Big Brother is watching you”

Phải chăng hai nhà văn phương Tây, Aleksandr Solzhenitsyn và George Orwell, đã gián tiếp cung cấp cho chúng ta những giải thích rõ ràng về hiện tượng “vô cảm” tại Việt Nam?

***
Chú thích:

[1] Trích Đại Việt sử ký toàn thư:

“Ngày 12, giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ "Sát Thát" bằng mực vào cánh tay, chúng tức lắm, giết hại rất nhiều. Rồi chúng đến Đông Bộ Đầu, dựng một lá cờ lớn. Vua muốn sai người dò xét tình hình giặc mà chưa tìm được ai.

“Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung tiến lên tâu rằng: "Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi". Vua mừng, nói rằng: "Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo xe nuôi lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!" Rồi sai đem thư xin giảng hoà.

“Ô Mã Nhi hỏi (Khắc Chung): "Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ "Sát Thát", khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm". Khắc Chung đáp: "Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó. Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có?"

“Nói rồi giơ cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: "Đại quân từ xa tới, nước ngươi sao không quay giáo đến hội kiến, lại còn chống lệnh. Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?"Khắc Chung nói: "Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thư tin trước, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi. Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người".

“Ô Mã Nhi nói: "Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc Vương ngươi nếu đến hội kiến thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may. Nếu cứ chấp nê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát".

“Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo các tướng rằng: "Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xướng là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được". Sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp”.

[2] Aleksandr I. Solzhenitsyn (1918-2008) là nhà văn, nhà viết kịch của Liên Bang Xô Viết và Liên Bang Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1970 và Giải Nobel Hòa bình năm 1971.

Năm 1937 Solzhenitsyn lý tưởng hóa cách mạng, đã từng dự định viết tiểu thuyết về Chiến tranh thế giới thứ nhất với tên “Hãy yêu cách mạng”. Năm 1941 ông tốt nghiệp Đại học Rostov, nhập ngũ và được thưởng hai huân chương với quân hàm đại úy. Thời gian này Solzhenitsyn sáng tác một số tác phẩm, trong nhận thức và tư tưởng bắt đầu có những thay đổi.

Tháng 7/1945 ông bị kết án tù 8 năm vì một bức thư viết gửi bạn bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa Stalin. Những năm tháng tù đày, đi qua nhiều nơi trên đất nước đã giúp ông sau này có được chất liệu sống thực cho những tác phẩm của mình.

Khi Stalin mất, ông được phục hồi, về sống ở Moskva đến năm 1957 rồi đi Riazan dạy học. Trong thời gian này ông bắt đầu viết tiểu thuyết “Tầng đầu địa ngục” (1955-1968) và xuất bản “Một ngày của Ivan Denisovich” (1958) cùng một số tác phẩm khác đã khiến ông rất nổi tiếng, đến mức được đề cử nhận giải thưởng Lenin.

Năm 1967, sau khi Alekxandr Solzhenisyn gửi một bức thư ngỏ đến Đại hội nhà văn Liên Xô phản đối chế độ kiểm duyệt, ông bị chính quyền và báo chí phê phán kịch liệt, bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị cấm in sách. Một số tác phẩm của ông không được in ở trong nước nhưng có người đem in ở nước ngoài mà không xin phép ông… Điều này càng khiến chính quyền Xô Viết phản ứng nhưng ông được nhiều người biết đến, nhất là những gì ông viết ra đã cho thấy ông là một nhà văn có cái nhìn sắc bén về thời đại ông đang sống.

Năm 1970, Alekxandr Solzhenisyn được tặng giải Nobel nhưng ông không đến Thụy Điển nhận lễ trao giải vì sợ sau đó không trở về nước được; hai năm sau ông mới đến nhận giải và đọc Diễn từ. Năm 1974, sau khi công bố bản tuyên ngôn “Không sống bằng dối trá” và cho in tác phẩm “Quần đảo ngục tù” ở Paris, Solzenitsyn bị bắt, bị nhà nước Liên Xô tước quyền công dân và bị trục xuất sang Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó ông định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 1991, sau thời cải tổ, chính quyền Liên Xô chính thức xóa án cho ông. Tháng 5/1994 ông trở về sống ở Nga. Năm 2006 ông được tặng giải thưởng nhà nước của Liên Bang Nga vì những đóng góp xuất sắc trong hoạt động nhân đạo. Ngày 3/8/2008, do căn bệnh đau tim, ông qua đời ở nhà riêng tại ngoại ô Moskva, hưởng thọ 89 tuổi.

Đích thân Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã gửi lời chia buồn tới gia đình Solzhenitsyn. Nhà văn này còn được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy mô tả là "một trong những lương tâm vĩ đại nhất của Nga trong thế kỷ 20". Tổng thống Pháp cũng đánh giá: "Sự đấu tranh không khoan nhượng, ý tưởng và cuộc đời dài với đầy sự kiện đã biến Solzhenitsyn thành một hình tượng trong sách vở, kế thừa Dostoyevsky".
Aleksandr I. Solzhenitsyn (1908-2008)

[3] George Orwell (1903-1950) là bút danh của Eric Arthur Blair, một tác giả và phóng viên người Anh. Được biết đến như một tiểu thuyết gia, một nhà phê bình, một nhà bình luận về văn hóa, Orwell là một trong những ngòi bút tiếng Anh được hâm mộ nhất ở thế kỷ 20. Ông nổi danh nhờ 2 cuốn tiểu thuyết phê phán chủ nghĩa toàn trị nói chung và chủ nghĩa Stalin nói riêng, được viết và xuất bản vào cuối đời: “Một chín tám tư” (Nineteen Eighty-Four) và“Trại súc vật” (Animal Farm).

“Một chín tám tư” lấy bối cảnh là miền đất Airstrip One, một tỉnh thành của “siêu nhà nước” Oceania ở một thế giới hư cấu. Trong thế giới này, chiến tranh xảy ra liên miên, chính phủ theo dõi và dò xét sát sao và việc tẩy não diễn ra công khai.

Đứng đằng sau tất cả là bộ máy nhà nước chuyên chế gọi tên là Ingsoc điều hành bởi các Đảng viên của “Inner Party” (Đảng Trong), những người bị quy chụp có chủ nghĩa cá nhân và tư duy độc lập là “Thoughtcrime” (tội nhận thức). Nhà nước này hoạt động nhân danh Big Brother, vị lãnh tụ tối cao của Ocania.

Nhân vật chính của tiểu thuyết là Winston Smith, Đảng viên “Outer Party” (Đảng Ngoài). Smith làm việc tại Ministry of Truth (Bộ Sự thật) và nhiệm vụ của ông là sửa lại các bài báo cũ để các dữ liệu lịch sử luôn phục vụ đường lối hiện tại của Đảng. Smith là một nhân viên cần cù, chăm chỉ nhưng ông thực chất căm ghét Đảng của mình và ôm mộng đảo chính chống lại Big Brother…

Năm 2005, tạp chí Time đã đưa “Một chín tám tư” vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh xuất sắc nhất từ 1923 đến 2005. Cuốn “Trại súc vật” đã in được hàng triệu bản, được dịch ra 70 thứ tiếng trên thế giới và thường xuyên được tái bản. Cuốn sách có mặt trong 100 tiểu thuyết hay nhất bằng tiếng Anh của Tạp chí Time; đồng thời đứng ở vị trí 31 trong danh sách tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20.

George Orwell (1903-1950)

***
Bình luận trên Facebook:



***********

(Trích Hồi Ức Một Đời Người)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

1.            Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2.            Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3.            Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4.            Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5.            Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6.            Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7.            Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8.            Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9.            Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương - và cũng là ca sĩ Hoài Bắc trong ban hợp ca Thăng Long - có thể được tóm gọn trong hai ca khúc để đời: “Ly rượu mừng” và “Nửa hồn thương đau”. Trong số hơn 50 bài hát ông sáng tác, chúng tôi chọn hai bài điển hình này vì nhiều lý do.

Phạm Đình Chương viết nhạc cho đời theo hai tâm trạng của mình: từ hoan lạc đến buồn tủi, hay nói rộng ra là từ lạc quan đến bi quan.  Trong suốt cuộc đời “chìm nổi” của mình, người nhạc sĩ luôn sống trong 2 thái cực và đó cũng là lý do người hát cũng như người nghe nhận ra ngay cuộc đời của ông: vui ít, buồn nhiều. Thế cho nên, “Ly rượu mừng”  và“Nửa hồn thương đau” được chọn cho hai tâm trạng đó.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (1929-1991)

Phạm Đình Chương xuất thân từ một gia đình văn nghệ nổi tiếng tại Hà Nội. Cha ông, Phạm Đình Phụng, lấy người vợ đầu và có hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Ba anh em: Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), Phạm Thị Băng Thanh (Thái Thanh) và Phạm Đình Viêm (Hoài Trung)

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Sơn Tây, trong một gia đình mang huyết thống nghệ sĩ và có cuộc đời gắn bó cùng âm nhạc. Phạm Đình Chương đã đến với âm nhạc từ những nỗ lực tự học hỏi tìm hiểu bằng chính tâm hồn nhạy cảm của mình.

Hầu như những sáng tác của ông trong giai đoạn đầu đều chất chứa những đặc tính: phiêu lãng nhưng chân thật, lãng mạn nhưng hiện thực và nhất là nét đằm thắm, trữ tình đầy tình yêu quê hương, con người và đất nước. Ông đã từng tham gia ban văn nghệ quân đội Liên Khu 4 trong những ngày đầu tiên kháng chiến chống Pháp theo tiếng gọi của non sông.

Sau một thời gian, gia đình Phạm Đình Chương quay trở về Hà Nội. Tại đây, năm 1949, gia đình họ Phạm thành lập Ban hợp ca Thăng Long với ba giọng ca chính là Hoài Bắc, Hoài Trung và Thái Thanh.

Khi di cư vào Nam, ban Thăng Long được tăng cường thêm các anh em, dâu rể một nhà và được xem là ban hợp ca nổi tiếng nhất tại Sài Gòn, gắn liền với phòng trà “Đêm Màu Hồng”, trình bày những nhạc phẩm bất hủ của các nhạc sĩ đã nổi danh từ thời tiền chiến, nổi bật là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Phạm Duy.

Ban hợp ca Thăng Long (Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Thanh, Khánh Ngọc, Thái Hằng)

Một trong những sáng tác của Phạm Đình Chương đã đi sâu vào lòng người miền Nam mỗi độ xuân về là ca khúc “Ly rượu mừng”. Tuy nhiên, kể từ 1975 bài hát này không nằm trong danh mục các nhạc phẩm cũ được trình diễn trước công chúng. Hình như, theo quan điểm chính trị của Cục Nghệ thuật Biểu diễn, lời của bản nhạc có câu “chúc người binh sĩ lên đàng” rồi lại vinh danh họ là “người vì nước quên thân mình”… được hiểu là quân nhân VNCH.

Phải chờ sau 41 năm sau bản nhạc tưởng chừng như “vô tội vạ” mới được “cởi trói”.   Báo Thanh Niên giải thích lý do: mãi đến năm 2016 “Ly rượu mừng” mới được cởi trói là vì người lính được ca tụng trong đó là “người lính chống Pháp” trong cuộc kháng chiến. Thế cho nên, đêm 31/12/2016 bài hát được chính thức xuất hiện trước công chúng trong Chương trình “Giai điệu Tự hào” trên Truyền hình Quốc gia.

Bản nhạc được sáng tác với âm điệu tươi vui như một lời chúc Tết tốt đẹp theo truyền thống dân tộc. Lời chúc đó gửi tới mọi thành phần xã hội: từ “anh nông phu”, “người công nhân”, “đôi uyên ương”, “người nghệ sĩ” cho đến các thương gia và binh sĩ. Ngay từ khi ra đời, ca khúc đã được lòng khán thính giả và là tác phẩm được nghe và hát nhiều nhất trong mỗi dịp xuân về tại Miền Nam.

Theo Wikipedia, bản cập nhật tháng 9/2016, “Ly Rượu Mừng” được Phạm Đình Chương sáng tác vào năm 1952 cùng với hai bản “Đợi chờ” và “Hò leo núi”. Cũng theo nguồn này, nhạc sĩ “dinh tê” về Hà Nội năm 1951 và thành lập ban hợp ca Thăng Long trong đó có ca sĩ Hoài Bắc. Người ta không khỏi thắc mắc tại sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương tại sao lại lấy tên Hoài Bắc trong khi vẫn ở miền Bắc?

Tại miền Nam, tờ nhạc "Ly Rượu Mừng" được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần thứ nhất năm 1956 và ghi rõ “Ấn quyền 1956 của Tinh Hoa”. Có lẽ đây là bằng chứng chính xác nhất vì nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã từ trần ngày 22/8/1991 tại California nhưng lại có nguồn ghi vào năm 1993. Quả là “Ly rượu mừng” và người nhạc sĩ sáng tác ra nó vẫn còn nhiều bí ẩn.

Bìa nhạc “Ly rượu mừng” với “Ấn quyền 1956 của Tinh Hoa” và “Ấn hành lần thứ nhất”

Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .

Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện “loạn luân” trong đại gia đình nhạc sĩ.

Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.

Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.

Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" khiến cả Sài Gòn đều biết.

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt bấy nhiêu. Suy cho cùng, các cụ ta thường nói, và nói rất đúng: “Xướng ca vô loại”!

Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ đến chuyện tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.
  
Ca sĩ Khánh Ngọc

Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.
Cho tôi về đường cũ nên thơ.
Cho tôi gặp người xưa ước mơ.
Hay chỉ là giấc mơ thôi.
Nghe tình đang chết trong tôi.
Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…”

“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?
Anh ở đâu ?
Em ở đâu ?”

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.
Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin.
Đôi khi anh muốn tin.
Ôi những người, ôi những người.
Khóc lẻ loi một mình...”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

“Nửa hồn thương đau”

***

* Xem video clip “Ly rượu mừng”:

* Nghe “Nửa hồn thương đau”:


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Miền Tây trong "cơn lốc" di dân


T.TRÌNH - T.TRANG - K.NAM - D.KHÁNH, 09.01.2017,
TTCT - Hàng vạn lao động ở vùng đất trù phú ĐBSCL lần lượt bỏ xứ đi nơi khác kiếm kế sinh cơ. Đã có những cuộc di dân diễn ra âm thầm. Đến chừng giật mình nhìn lại thì nhiều xóm làng đã xơ xác. Việc giữ chân được người dân làm việc tại chỗ có nhiều cái lợi: Trước hết là gia đình, chòm xóm đông vui. Thứ hai là các phong trào mặt trận, đoàn thể phát động đều thuận lợi do có nhiều người hưởng ứng, tham gia.

Tuyến dân cư dọc theo kênh T29 của huyện U Minh (Cà Mau) được hình thành hơn 10 năm nay. Lúc mới di dân về đây, nhiều gia đình đã mừng phát khóc khi mọi thứ cần thiết cho một cuộc sống mới dường như được chuẩn bị sẵn: con lộ nhựa dài hàng chục cây số xẻ dọc rừng tràm chạy theo tuyến dân cư, điện lưới kéo tới nhà, mỗi gia đình được cấp trên 1ha đất, nhà cửa cất sẵn, chỉ việc dọn đồ vào ở, các hộ dân còn được cho vay ưu đãi một số vốn để lận lưng. Thế rồi...

Đi vì thắt ngặt

Tâm sự với chúng tôi, ông Nguyễn Tiến Hải, chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, trầm giọng kể ông vừa trở lại tuyến kênh T29. Nhiều gia đình ở đây đã bỏ nhà, bỏ đất đi xứ khác làm ăn.

Hỏi chuyện, những người còn ở lại đã tình thiệt với lãnh đạo tỉnh: Đất đai đã bị nhiễm phèn rất nặng. Trồng lúa không được nên nhiều hộ dân đành bỏ đi.

Ông Hải đã lệnh ngay cho lãnh đạo Sở NN&PTNT gấp rút thi công các công trình tháo úng, xổ phèn, cải tạo đất đai để người dân có thể trở lại sinh sống trên chính mảnh đất của mình. Tuy nhiên, chuyện “kéo” nông dân về với đồng đất ở đây không phải là chuyện một sớm một chiều.

Chúng tôi trở lại kênh T29 khi những người dân ở đây đang trải qua những ngày “giáp hạt”. Chị Bùi Bé Tám (35 tuổi, ở ấp 11, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh) nói chuyện mùa “giáp hạt” là chuyện từ xưa rồi. Đó là khi người nông dân còn trông chờ vào vụ lúa, gói ghém tất cả những hi vọng sinh kế vào đồng lúa.

Nhưng những nông dân như gia đình chị đã phải liên tiếp trải qua những mùa vụ thật bẽ bàng. “Gia đình tôi có hơn 2 công (2.000m2 - PV) đất. Mấy năm trước còn được 3-4 giạ lúa một mùa. Nhưng có năm không có thúng lúa nào.

Bình thường đã khó, năm rồi lại thêm cơn hạn kéo dài, tới mùa nhưng đất khô không phát được. Đến khi lúa tới lứa cấy thì mưa “chụp” xuống. Lúa chết sạch!” - chị Bé Tám nói.

Quay một vòng thất bại thì mùa gió bấc về, không thể xuống mạ. Gia đình chị Bé Tám cũng như nhiều nông dân khác tại tuyến kênh T29 đành bỏ mặc đất cho... ông trời.

Thắt ngặt, anh Nguyễn Văn Lực (32 tuổi), chồng chị Bé Tám, đành đi các tỉnh miền Đông làm thuê kiếm tiền nuôi vợ con. Anh Lực có nghề hồ. Dù là người được tiếng chịu thương, chịu khó nhưng đến xứ lạ quê người không phải lúc nào cũng có việc làm.

Hôm chúng tôi ghé nhà, chị Bé Tám khoe chồng chị vừa về tới. Nhưng khi hỏi đến công việc, chị lại đượm buồn: “Đi cả tháng trời, anh trở về trong túi chỉ còn... 26.000 đồng”. Để có cái ăn trong nhà, vợ chồng chị lại phải tiền vay bạc hỏi. Và họ lại tính tiếp chuyện bỏ xứ mưu sinh.

Ông Trần Quốc Việt - trưởng Ban nhân dân ấp 11, xã Nguyễn Phích - bấm đốt ngón tay: “Cả nhà anh Danh Sơn, Phan Văn Sang, Đỗ Tấn Ninh, Nguyễn Thị Ninh... dẫn nhau đi xứ khác làm ăn. Còn những hộ đi 1-2 người thì nhiều lắm. Đi tá lả hết”.



Đất đai khô cằn nên việc canh tác ngày càng khó hơn

Đồng ruộng vắng người

Câu chuyện ở tuyến dân cư kênh T29 là bức tranh không hiếm ở tỉnh Cà Mau cũng như cả vùng ĐBSCL, nhất là ở những vùng quê nghèo. Xã Long Phú, huyện Long Phú (Sóc Trăng) được xem là nơi có di dân đông nhất trong toàn tỉnh.

Trong đợt hạn mặn năm 2016, hơn 6.000 dân đã đi nơi khác kiếm sống bằng đủ thứ nghề. Đó mới chỉ là con số mà xã thống kê được khi người dân đến xã để làm thủ tục xin việc.

Dọc hai bên đường ở xã Long Phú, nhiều nhà đóng cửa im ỉm, làng xóm vắng ngắt. Ông Sơn Sil (60 tuổi, ở ấp Tân Lập) đang hì hục cuốc đất trên miếng đất bỏ hoang lâu ngày để trồng hoa màu.

Ông nói miếng đất này của người bạn đã đi nơi khác làm ăn từ nhiều năm qua, để lại cho vợ con trông coi. Nhưng đợt hạn mặn vừa rồi, nợ nần chồng chất nên cả nhà kéo đến miền Đông làm thuê. Ngay cả bản thân ông cũng đang làm “cha mẹ già”, phải giữ ba đứa trẻ vừa cháu nội, vừa cháu ngoại để mấy người con đang đi làm thuê ở Bình Dương.

“Tụi nó đi vậy mà có cái ăn, mỗi tháng còn gửi chút tiền cho hai ông bà để trang trải. Mà tui cũng rầu, tụi nó đi làm ở công ty may nên người ta trả lương thất thường lắm, tháng này tui trông mà chưa thấy gửi tiền về” - ông Sil than.

Bà Lâm Thị Thủy (53 tuổi, ở ấp Bưng Long) và những phụ nữ đang giặm lúa thuê gần đó nói thêm giờ đi hết mấy ấp từ Nước Mặn, Kinh Ngang, Bưng Long..., xã Long Phú khó mà kiếm được thanh niên trai tráng. Toàn người già và trẻ.

Bà Thủy tập hợp những nông dân nhàn rỗi thành “đội quân làm thuê xuyên ấp”. Nay “đội quân” của bà trên dưới chục người nhưng chỉ toàn là người lớn tuổi. “Giờ vô mùa rồi không lẽ bỏ, mà cũng đâu còn thanh niên để làm. Người ta đành phải thuê người lớn tuổi như tụi tui thôi” - bà Thủy nói.

Cách đó không xa, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề (Sóc Trăng) cũng chung cảnh hiu hắt. Ông Đặng Thanh Quang, phó chủ tịch UBND huyện Trần Đề, cho biết hiện nay là vô mùa vụ mà bà con vẫn chưa về làm lúa.

“Ruộng đồng thì không thể bỏ được nên chúng tôi vận động, hỗ trợ giống tốt, chịu mặn cho bà con tiếp tục mùa vụ. Nhưng giờ lao động không có, chúng tôi phải khuyên bà con nói người thân mình trở về làm cho kịp vụ mùa” - ông Quang nói.


Có những xóm không tìm thấy trai tráng

“Về, sợ đi không nỡ...”

Tại Kiên Giang, việc thanh niên tới tuổi lao động rủ nhau rời quê đi các tỉnh miền Đông tìm việc đã trở thành phong trào tại nhiều địa phương. Nông dân Dương Văn Đạt (ngụ xã Hưng Yên, huyện An Biên) có hai người con hiện đi làm thuê ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nói thu nhập từ trồng lúa chỉ khoảng 1,2-1,8 triệu đồng/công đất, lại cần ít lao động nên trai tráng coi như thất nghiệp quanh năm.

Ông Nguyễn Văn Tâm, giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, cho rằng mấy năm gần đây quá trình sản xuất nông nghiệp phần lớn sử dụng máy móc, nên lao động nông thôn dôi ra khá nhiều. Không có việc làm tại địa phương thì chuyện nông dân rời quê đi làm xa nhà là khó tránh khỏi.

Theo tìm hiểu của TTCT, phần lớn nông dân miền Tây rời quê đi tìm việc ở những đô thị, ở miền Đông Nam bộ. Riêng đảo Phú Quốc (Kiên Giang) với tốc độ phát triển cực nóng cũng đang là thỏi nam châm thu hút làn sóng di dân từ các nơi.

Vài năm trở lại đây, do nhu cầu lao động thủ công tại các công trình xây dựng ở Phú Quốc tăng mạnh, đã có hàng chục ngàn người ra Phú Quốc với hi vọng tìm được việc làm ổn định. Nếu như trước đây, đa số công nhân tại các công trình ở Phú Quốc là người miền Bắc, miền Trung thì giờ chủ yếu là người miền Tây.

Trong số những di dân ra Phú Quốc làm việc phổ thông không chỉ có người trẻ, mà còn có cả những nông dân đang tuổi “về hưu”. Gặp chúng tôi tại Phú Quốc, ông Trần Văn Như (60 tuổi, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ) cho biết: “Ở quê giờ kiếm việc khó lắm chú ơi!

Hai vợ chồng tui chuyên gặt lúa mướn nhưng giờ người ta gặt bằng máy nên tụi tui thất nghiệp. Nghe một số người làm phụ hồ rủ nên mấy chục anh em trong xóm kéo nhau ra đây. Giờ xóm tui chỉ còn con nít chứ người già cũng ít lắm”.

Ngồi trước dãy nhà trọ ở khu phố 6, thị trấn An Thới (Phú Quốc) chờ vợ nấu cơm chiều, ông Trần Văn Út (42 tuổi, quê An Biên, Kiên Giang) cho biết hai vợ chồng ông ra Phú Quốc được 10 tháng, ông Út làm thợ xây còn vợ thì phụ hồ để dành tiền gửi về cho bà ngoại nuôi hai đứa con đi học.

“Mấy năm nay xảy ra hạn mặn nên quê tui giờ làm lúa không có lời. Mấy công ruộng bỏ hoang, cho mượn cũng không ai thèm chứ nói chi cho mướn!” - ông Út nói. Bưng mâm cơm chiều chỉ có đĩa cá biển kho mặn cùng tô canh bầu nấu tép, bà Vân, vợ ông Út, nói: “Nhà ngay trong tỉnh, chỉ cần lên tàu ngồi hơn ba tiếng là tới nhà nhưng gần một năm nay hổng dám về quê. Về sợ thấy mấy đứa nhỏ rồi không nỡ đi. Vả lại vé tàu xe đi lại cũng gần cả triệu đồng. Tiếc lắm, ráng mần tết về luôn!”.

Cải tạo đất, hỗ trợ vốn

Mỗi tỉnh hàng chục ngàn người đi

Chưa có con số thống kê đầy đủ có bao nhiêu người dân ở vùng đồng bằng được coi là trù phú nhất cả nước này phải xa xứ mưu sinh. Chỉ nhìn qua báo cáo (chưa đầy đủ) của các cơ quan quản lý lao động ở một số tỉnh vùng bán đảo Cà Mau có thể giật mình: Trong 10 tháng đầu năm 2016, tỉnh Cà Mau có 26.382 lao động rời địa phương đi tỉnh khác làm thuê (nguồn: Sở LĐ-TB&XH Cà Mau); Sở LĐ-TB&XH Sóc Trăng cho biết mỗi năm có trên 10.000 lượt người đi lao động ngoài tỉnh. Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Mai Văn Huỳnh cho biết số lao động rời tỉnh đi làm việc ở các tỉnh khác hàng năm trên 20.000 người...

Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải cho rằng việc lao động nông thôn ào ạt rời xứ đi làm thuê ngoài tỉnh còn do yếu tố “phong trào”, người trước đi được về quê rủ người sau đi theo.

Tuy nhiên, ông Hải cũng thừa nhận diễn biến khí hậu bất lợi, môi trường suy thoái, nuôi tôm, trồng lúa của nông dân Cà Mau ngày càng gặp nhiều thách thức.

Lợi nhuận trên đất ngày càng bị thu hẹp, người dân nhiều nơi gặp khó khăn đã tác động khiến nhiều người bỏ đất đi làm thuê. Hiện tỉnh Cà Mau đang tập trung thi công các công trình thủy lợi để cải tạo đồng đất, giúp người dân ở những vùng bị nhiễm phèn, mặn có thể canh tác.

Tuy nhiên, để cải tạo được một diện tích rộng đất đai bị suy thoái thì cần nguồn vốn không nhỏ. Bên cạnh đó, tỉnh Cà Mau cũng có chủ trương, tạo vốn để người dân chuyển đổi diện tích trồng lúa không hiệu quả sang trồng các loại cây khác.

Ông Lê Hoàng Điện, giám đốc Sở 
LĐ-TB&XH tỉnh Sóc Trăng, cho rằng nhu cầu việc làm, tăng thu nhập để ổn định cuộc sống của người dân là tất yếu. Bởi đa số lao động ở nông thôn đều sống bằng nghề nông, mang tính thời vụ, thời gian nhàn rỗi chiếm tỉ lệ cao (gần 79%).

Trong khi doanh nghiệp trong tỉnh quy mô nhỏ, không có nhu cầu lao động nhiều, còn nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp ngoài tỉnh lại rất lớn.

“Để tránh trường hợp lao động rời bỏ địa phương đi làm ăn xa, đồng thời để giữ gìn, ổn định trật tự xã hội trước mắt UBND tỉnh đã hỗ trợ cho các hộ bị ảnh hưởng với tổng số tiền hơn 40 tỉ đồng để bà con khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống. Về lâu dài, chúng tôi đang tích cực kêu gọi đầu tư của các doanh nghiệp lớn về Sóc Trăng nhằm giải quyết việc làm cho lao động địa phương” - ông Điện nói. ■

Tìm cách giữ chân người lao động

Theo ông Mai Văn Huỳnh - phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, với hàng chục ngàn lao động rời quê như hiện nay, rõ ràng địa phương đang có một khoảng trống khó bù đắp về nguồn nhân lực tại chỗ.

Ông khẳng định quan điểm của địa phương là cố gắng giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các lĩnh vực phi nông nghiệp. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có 2.400 lao động vào làm việc tại Khu công nghiệp Thạnh Lộc (huyện Châu Thành).

Chưa kể lao động tại các nhà máy thủy sản tập trung nhiều ở cảng cá Tắc Cậu và các nhà máy rải rác tại các huyện An Biên, An Minh, Kiên Lương...

Ông Trần Văn Liêm, chủ tịch UBND xã Giục Tượng (huyện Châu Thành, Kiên Giang), cho biết cả xã hiện có 19 nhà máy chế biến thủy sản các loại quy mô vừa và nhỏ. Các nhà máy này giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 2.000 lao động là người địa phương và các huyện lân cận như An Biên, Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp.

Việc giữ chân được người dân làm việc tại chỗ có nhiều cái lợi: Trước hết là gia đình, chòm xóm đông vui. Thứ hai là các phong trào mặt trận, đoàn thể phát động đều thuận lợi do có nhiều người hưởng ứng, tham gia.

K.Nam
http://cuoituan.tuoitre.vn/tin/van-de-su-kien/chuyen-de/20170109/mien-tay-trong-con-loc-di-dan/1247329.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÂY ĐÀO KHÓC GIỮA MÙA XUÂN - thơ Anh Xuân

Anh Xuân


CÂY ĐÀO KHÓC GIỮA MÙA XUÂN

Anh Xuân

Người đàn ông Hà Nội
Lái xe lên núi cao
Thuê vài người dân tộc
Chặt mấy cành hoa đào


Cành đào rừng về phố
Máu thắm đỏ sắc hoa
Gốc đào đau tứa nhựa
Nhớ thương cành thiết tha


Ngày nối ngày trôi mãi
Hoa tàn cành héo khô
Người đàn ông Hà Nội
Chặt đào đã mấy mùa


Núi rừng cằn đá sỏi
Suối cạn cây úa tàn
Người đàn ông Hà Nội
Nhìn gốc đào bẽ bàng


Năm nay Xuân lại đến
Cây đào đã trụi cành
Dốc sức tàn lực kiệt
Gốc đào nảy chồi xanh


Nguồn Thơ và Ảnh:  VNExpress.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khái niệm mới về chính sách đối ngoại của LB Nga

Ngày 30/11/2016, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã thông qua Khái niệm mới về Chính sách đối ngoại của LB Nga.
Tài liệu có ghi rõ LB Nga chủ trương giải quyết cuộc xung đột ở Syria, ủng hộ sự thống nhất, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước này.
Khái niệm nhắc rằng, xu hướng chính của giai đoạn phát triển thế giới hiện nay là cuộc tranh giành vai trò thống trị thế giới và gạch bỏ tính chất không thể thay thế của LHQ, một trung tâm điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế.
Đặc biệt, tài liệu lưu ý tới các mối quan hệ với NATO và Hoa Kỳ. Nga có thái độ tiêu cực với sự mở rộng của NATO, việc các cơ sở hạ tầng của liên minh tiếp cận với biên giới Nga và sự tăng cường hoạt động quân sự. Nga xem xét việc Mỹ xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu là mối đe dọa và cho phép mình có biện pháp thích hợp.
Toàn văn bản dịch của tài liệu có thể download tại ĐÂY.
Nguồn: Sputnik News và ĐSQ Nga tại Việt Nam
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2017/01/12/khai-nie%cc%a3m-moi-chinh-sach-doi-ngoai-cua-nga/#sthash.bGf53KnI.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang