Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Thèm Người hẳn hoi?


Truyện ngắn của Hồng Giang
Hắn mới về đất này, nơi mà hắn có lúc nghĩ chẳng bao giờ sống lâu dài ở đây cả . Ba mặt núi, một mặt sông, đi cả cây số mới có một nóc nhà, đến những làng đông dân cư gần nhất cũng hàng cây số. Không có chủ ý mà cứ như người đi ở ẩn . Lúc đầu không quen, hắn buồn đến phát khóc vì xung quanh quá vắng vẻ. Nhất là những lúc chiều buông, hoàng hôn như bị ma đuổi vội vã chìm vào khe núi . Đêm đến lại càng nản, chỉ có tiếng cú rúc trên rừng, tiếng mèo động đực rên rỉ thảm thiết . Cả tháng mới có tuần trăng, nhưng trăng ở nơi thiếu hình bóng con người cũng lạnh lẽo vô duyên ..
Vì thế gặp người, hắn mừng lắm, bất luận người đó thế nào hắn cũng quý lắm..
Một gã sơn tràng cần chỗ trọ, hắn chẳng đắn đo gì mà không nhận lời, có khi còn mất công đi hàng cây số mua rượu về cùng uống cho vui. Bọn buôn lậu, hay đám cờ bạc, hay một ả gái điếm hết thời son phấn, lánh mặt lên rừng, hắn cũng chẳng nề hà, miễn là trong nhà có thêm tiếng nói, tiếng cười của con người . Như thể đấy là cách xua đuổi tâm trạng mình bị xã hội loài người bỏ rơi ở một nơi bất đắc dĩ như thế này.
Người đời thèm ăn, thèm chơi, thèm tiền và thèm mọi thứ trên đời, còn hắn, hắn thèm người lắm lắm ..
Khi đó, là lúc ở đây chưa thành thị trấn như bây giờ, người với người còn quý, còn thương nhau, không như bây giờ!
Một hôm hắn đang sửa lại bộ bàn ghế cũ thì có khách đến nhà. Hắn mừng như bắt được của, như khách là sứ giả đến báo một việc tốt lành. Con chó nằm đầu hồi nhà cũng ve vẩy đuôi, không cắn một tiếng. Hình như nó cũng biết phụ họa với chủ, chả cắn ai bao giờ, như sợ người ta mất lòng. Hay con chó cũng biết phận hắn nghèo, chả có của nả gì để mà dữ tợn, hung hãn với ai. Chỉ về đêm, có con chuột chạy qua hay con mèo lạ, nó mới sủa lên vài tiếng. Chó nhà nghèo thường vẫn lười, không hăng hái như chó của người khá giả.
Khách cười cười như thể đã từng quen nhau rồi, mà hắn chịu chẳng nhớ anh ta là ai? Đã gặp nhau ở đâu, bao giờ và ở nơi nào nhỉ?
Đời hắn lang bạt kỳ hồ, chẳng thiếu đâu, quen không biết bao nhiêu người, bao nhiêu cảnh ngộ.. Làm sao một chốc có thể nhớ ngay ra được?
Nhưng rõ ràng anh chàng đứng trước mặt hắn đây, hắn chưa gặp bao giờ. Khổ người anh ta đậm, béo tốt lại để hàng ria mép. Thêm cái mũ hàng phở màu trắng đội trên đầu, rất khó đoán thuộc hạng người nào. Kiểu người này tuy hắn trước đây quảng giao, nhưng rất ít va chạm. Nom nửa như con buôn, nửa như anh giáo làng, lại có phần giống bọn buôn bè ..
Khách đưa tay :
- Ông có còn nhớ tôi không ?
Hắn định nói mình thực sự không nhớ anh ta là ai, nhưng nghĩ lại, hắn yên lặng. Ai lại bảo như thế, vô tình quá!
Anh ta lại cười cười, nói tiếp :
- Tiến ở phòng văn hóa đây mà, hôm ông gặp tôi ở nhà ông già, quên rồi sao?
Bây giờ thì hắn nhớ ra rồi. Hắn mời anh ta vào nhà. Đúng là cách đây hai tháng hắn có gặp người này, ở nhà bố đẻ anh ta. Ông Quyết già trước làm trưởng phòng văn hóa huyện, về hưu giờ chụp ảnh, cải thiện thêm.
Ông có cái máy ảnh cũ, Jido hay bị hóc thường nhờ hắn đến sửa hộ. Vài lần anh ta về qua nhà một lúc rồi đi ngay. Có lần nói chuyện với hắn vài câu, hắn đang sửa máy nên cũng không để ý, bây giờ làm sao nhớ được?
Còn hôm nay thì vì duyên cớ gì mà anh ta tới đây? ( Mãi sau này hắn mới biết lý do của buổi gặp mặt lần đầu ấy. Có một người nhờ Tiến tiếp xúc để tìm hiểu hắn là người thế nào, vì người ấy không tiện gặp hắn, nhằm đảm bảo an ninh xã hội ). Khi hiểu ra đã là cả một quá trình dài, hai người trở thành thân mật, thật khó biểu lộ sự bất bình vì động cơ chả lấy gì làm hay ho lúc đó nữa ).
Tiến lại vác cái máy đến nhờ hắn sửa. Cái máy Ca non quá đát, đáng lẽ có thể quẳng đi rồi, nhưng ở nơi khỉ ho, cò gáy này nó vẫn còn giá trị, vẫn là chiếc cần câu cơm, hắn có muốn cũng chẳng được!
Chuyện trò thế nào lại tòi ra câu chuyện văn chương giữa hai người. Tiến khoe anh ta là tay “cầm cọ” chắc tay ở tỉnh này, vừa chuyển ở vùng cao về, tạm thời coi thư viện của huyện nhà. Nói đến sách, mắt hắn sáng lên, hai người thân nhau từ đó.
Lâu lâu Tiến mang đến cho hắn vài cuốn sách, tất nhiên đọc xong phải gửi trả, vì đó là sách của thư viện. Ở một nơi như thế này thế là quý lắm rồi, trong thâm tâm, hắn coi Tiến như người tri kỷ, như một ân nhân. Nó làm cho cuộc sống của hắn bớt ngột ngạt, tối tăm, thêm giá trị, chút ánh sáng tinh thần.
Làm sao hắn không cảm động cho được?
**
Bẵng đi mấy năm, hắn không gặp Tiến. Hắn cứ nghĩ anh ta đã thuyên chuyển công tác đến một nơi khác. Thời mà xã hội phát triển chủ yếu bằng tuyên truyền, công việc vẽ panô, áp phích của Tiến rất được coi trọng, anh ta bận cũng phải thôi.
Hắn hoàn toàn không biết chuyện lúc bấy giờ người ta đã biết thực ra hắn chẳng có “vấn đề” gì như người ta tưởng, và đã được đặt ra ngoài “vòng ngắm”. Những tình nguyện viên an ninh kiểu như Tiến không cần phải có nữa.
Sự “quan tâm” ngấm ngầm đã đến kỳ kết thúc.
Bấy giờ hắn chỉ cho là không gặp, là do Tiến bận công việc, hoặc hoàn cảnh của hai người quá khác nhau.
Tiến không đến với mình, cũng dễ hiểu, xưa nay người ta phù thịnh, làm gì có ai phù suy? Người ta tìm đến nơi khá giả để được nhờ cậy, chứ ít cũng không bị phiền hà bởi sự nhờ vả. Nghèo khó như mình ai tìm đến làm gì ? Tiến đến hay không là quyền của y, trách sao được?
Hắn thấy cũng không cần day dứt quá về chuyện này. Xét cho cùng, y cũng chỉ là người dưng, như bao người mình đã từng gặp trong đời, có kỷ niệm nào gắn bó với nhau đâu?
Mình không phải bạn học một thời, không cùng làm một cơ quan, thậm chí không ở gần nhau thời gian nào lấy một, hai ngày. Chẳng nên bận tâm quá về chuyện này, vì thực ra y không là gì đối với hắn.
Hắn còn bao việc phải lo toan trước mặt.
Bảo là hỏng hẳn thì chưa phải, nhưng đời hắn kể như mọi chuyện đã kết thúc sau cái “tai nạn” mà hắn chỉ là kẻ liên quan. Nguyên nhân sâu xa cũng bởi tính xuê xoa, dễ dãi trong nhiều mối quan hệ. Đúng như người ta nói : “Tính cách tạo nên số phận”. Cả trong tình bạn, tình yêu và sau nữa hạnh phúc gia đình.
Cái sảy nảy cái ung, ban đầu chỉ là “Tai nạn hôn nhân”, dẫn đến định kiến xã hội, rồi những mối nghi ngờ vớ vẩn. Mà ở đời không khi nào thiếu kẻ vô công rồi nghề, luôn dòm ngó, soi mói đầy ác ý. Những con kền kền không cánh, chuyên đi bằng đầu gối, luôn soi mói, tìm nỗi bất hạnh của kẻ khác, chả khác nào loài có cánh tìm xác chết!
Hắn không nợ, nhưng phải trả giá. Sự khốn nạn, éo le, phi lý của cuộc đời phải đâu chỉ mình hắn chịu?
Bao nhiêu người có đức, có tài, có tâm còn phải chịu đắng cay, oan khuất. Hắn đã là cái gì mà than thân, trách phận? Chỉ là hạt cát nơi thế gian này, là con ong, cái kiến trong cuộc sinh tồn khốc liệt mà thôi!
Thì thôi, “liệu đường ăn ở”, để làm một người thường như bao người khác, tự nuôi sống mình và tròn bổn phận không thể nào thoái thác.
Ai thông cảm đến với mình thì chơi, ai không hiểu hoặc có ý này khác, hắn bất cần .
Hắn lao vào cuộc mưu sinh để quên đi mọi chuyện.
Hắn không ngờ mình lại làm được những công việc mà trước đây tưởng chừng không thể làm.
Hắn hiểu ra khả năng tiềm ẩn ở mỗi con thật là vô cùng. Đó là lẽ hiếu sinh của tạo hóa dành cho những kẻ kém may mắn.
Quan hệ giữa hắn với Tiến mờ đi dần, như thể chưa hề có những lần gặp gỡ, trò chuyện trước đây.
Thôi thì ai lo phận ấy, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, bận tâm đến nhau làm gì cho mất công?
Đã có lúc hắn nghĩ như thế, không phải hắn là kẻ vô tình, chóng quên, mà cái chính bởi sự mặc cảm, tự ái pha chút phẫn uất trong lòng.
Nhưng chuyện đời đâu có giản đơn như người ta tưởng . Hình như luôn có sự sắp đặt vô hình, con người ta vốn có một cái “Duyên”, đã gặp nhau ở đâu, lúc nào đấy rồi, thế nào cũng còn có sự liên quan, như một “món nợ” với nhau .
***
Một buổi sáng, có người lạ ở đâu tới, lom khom chụp ảnh ở bến sông trước nhà.
Bề ngoài ông này chẳng có dáng vẻ gì của những tay thợ ảnh xưa nay hắn từng gặp, dáng điệu bệ vệ kiểu công chức của ông ta khiến hắn tò mò. Bắt gặp cái nhìn của hắn, ông này bắt tay cười nói thân thiện. Ông tự giới thiệu là người của hội văn nghệ tỉnh.
Hắn mời ông khách vào nhà uống nước.
Hắn có nghe tỉnh này cũng có một hội văn nghệ, nhưng từ lâu, hắn chẳng quan tâm.
Văn nghệ, văn nghẽo với hắn là câu chuyện buồn, hắn đã muốn quên đi cho lòng thanh thản. Hắn cứ nghĩ theo chủ quan của hắn như vậy, chỉ coi đó là một tổ chức tuyên truyền hơn là một cơ quan học thuật. Lợi lộc chẳng đáng là bao lại quá nhiều phức tạp.
Ý nghĩ sai lầm ấy khiến gã bấy lâu khi buồn vẫn viết, cốt giải tỏa tâm trạng chứ không bao giờ gửi bài đi đăng hay có ý nghĩ tham gia vào một cái hội nào đấy.
Buổi gặp mặt nghệ sĩ nhiếp ảnh có tuổi đời và tuổi nghề, tình cờ đã làm hắn thay đổi định kiến bấy lâu.
Khách quý đến nhà không có hẹn, nên hắn chẳng chuẩn bị trước, chỉ đón tiếp sơ sài. Cuộc rượu ngoài món lạc rang ra, chẳng có gì, thế mà vui. Lâu lắm rồi, hắn mới lại gặp được người để nói những câu chuyện đã lâu chỉ giữ kín trong lòng. Nhiếp ảnh gia cũng tỏ vẻ quý mến hắn.
Ông bảo người ta đang cần người như hắn, anh em mất nhiều công sức mà lâu nay chưa tìm được đối tượng để phát triển hội.
Tìm một anh kỹ sư, một bác sĩ, hay cán bộ bất cứ ngành nào cũng không khó lắm. Nhưng tìm một người viết có năng lực thật không dễ chút nào.
Ngoài những thứ người ta gọi là “trình độ” ra còn cần có chút năng khiếu, vốn sống và hiểu biết nhất định. Người như hắn sao lại bị quên lãng ở một nơi như thế này?
Hắn tin là ông nói thực, cho dù trong lời nói có phần hơi quá lên một chút, chẳng qua cũng để khích lệ hắn, hắn thầm nghĩ như vậy!
Trước lúc ra về, ông bảo hắn chép lại mấy bài thơ lúc cao hứng vừa rồi hắn đọc cho ông nghe, nói là làm kỷ niệm.
Chuyện chỉ đến thế, rồi hắn cũng lại quên đi bởi công việc thường ngày.
Cũng chẳng phải là chuyện lạ lùng gì bây giờ hắn mới gặp.
Phần nhiều những câu chuyện của văn nhân, nghệ sĩ là chuyện trời ơi, nói cho vui là chính, bận tâm mà làm gì?
Hắn không ngờ nửa tháng sau, có chiếc xe con đến đỗ ngay trước cổng nhà. Ông chủ tịch hội và mấy ông trong ban chấp hành có việc ngang qua ghé vào chơi. Họ đưa cho hắn số báo mới có đăng bài của gã. Đã lâu lắm rồi cảm giác hồi hộp ngày nào khi hắn còn cặm cụi viết lách lại trở về..
Người ta cho hắn biết: Sắp tới có cuộc thi “viết về nông nghiệp nông thôn” và mời hắn tham gia.
Hắn viết mà không ngờ lại được giải khá cao.
Hắn trở thành hội viên từ đấy, rồi hội ở cấp cao hơn ..
**
Nói, nhanh hơn làm, nhanh hơn mọi diễn biến của đời người.
Để đến ngày hôm nay, hắn mất gần mười năm trời. Nếu con sông chảy ngang qua nhà nước được giữ lại không chảy, tích cả lại, nước đã thành biển khơi. Đã bao vật đổi sao rời kể từ đận hắn đến ở gần khúc sông này..
Gã trưởng công an ngày nào cho người bí mật theo dõi gã giờ đã chỉ còn là chủ nhân của túp lều, sống vất vưởng bên con đường heo hút ít người qua lại vì đã mất tất cả. Gã lại không có khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới. Gã quá quen với việc ngày ngày cắp cặp lên chầu chực văn phòng. Cầm con dao, cái cuốc gã không quen. Chỉ biết ăn tiêu, gã đâu biết bán mua, hay làm bất cứ việc gì? Mọi việc bây giờ trông cả vào cô vợ mới lấy sau này, đã yếu lại hậu đậu không hơn gì mình, thêm bệnh thấp khớp, đang kỳ biến chứng.
Gã khổ cũng là phải thôi, dù chẳng ai làm hại gã cả.
Chính thói hách dịch, cửa quyền cộng thói trăng hoa, giả dối của gã đã thay đổi gã.
Từ một cán bộ năng nổ, gia đình khá giả, vợ con đề huề gã trở thành trắng tay, chấp nhận cuộc sống chồng vợ với một cô ả từng làm thư ký văn phòng cho gã trước đây, để rồi mất tất cả.
Tiến, cái anh chàng được tin cậy, chỗ thân tín của gã công an cũng mấy cuộc ba đào.
Y đã thôi làm ở phòng văn hóa về đuổi gà cho vợ. May mà cô vợ gia đình khá giả, lại là cô giáo nên cuộc sống không đến nỗi nào. Cô nhiều năm dạy học vùng cao, khi chuyển vùng đã quá lứa nhỡ thì. Gặp được anh “họa sĩ”
nửa mùa, thế đã là may mắn lắm rồi.
Nhiều cô trẻ đẹp hơn cô còn phải chấp nhận lấy một anh người Mông, người Dao suốt ngày lúi húi trên nương, chữ nghĩa, học hành thua kém không bằng vợ. Với lại lấy vợ cô giáo thời buổi ấy cũng là lẽ rất thường. Cuộc sống giáo viên nào có hơn gì người nông dân mưa nắng trên đồng? Còn có câu: “Đầu giáo, áo ướt”, lương ba cọc ba đồng, mỗi tháng vài chục ngàn không đủ mua gạo ăn!
Nói ra như thế để biết Tiến có vợ làm cô giáo chả có gì là ghê gớm cả. Ngay như hắn, vợ cũng là giáo viên. Hai người dạy cùng trường, hắn và Tiến thêm một cái cớ để gần gũi nhau ..
Sống lâu mới biết đêm dài.
Hiểu một con người không phải ngày một ngày hai mà hiểu. Chả cần nói, tự Tiến cũng cảm thấy ái ngại việc trước đây mình đối với hắn thế nào. Y có vẻ ngượng mỗi khi hai người gặp nhau. Cho dù hồi đó Y chủ quan cho rằng mình đang được người ta nhờ làm một việc tốt, có ý nghĩa phục vụ xã hội, chống lại các “Phần tử khả nghi” !
Vẫn là lối nói ụ ợ trong miệng, không dứt khoát. Trước đây hắn cho rằng
“ Phàm những anh làm việc bằng trí óc, nhất là việc sáng tạo, do tập trung tinh thần cao, nên nói năng thiếu lưu loát. Có thể họ vẽ giỏi, viết hay, nhưng lại nói rất dở. Có anh còn nói cà lăm, nói ngọng. Vì rằng họ không làm việc bằng mồm, được cái này phải thôi cái khác chứ, mấy ai được cả đôi đường?”
Gần gụi sau này, hắn mới hiểu, hoàn toàn không phải như vậy. Nó là kiểu mà người ta vẫn bảo là : "Ú ớ Việt gian, ngậm miêng ăn tiền", cách “giả chết bắt quạ” của bọn đá cá lăn dưa, đâm bị thóc, chọc bị gạo và nhất là hay “Ôm váy, nịnh thần” !
Nếu không vì vợ cùng dạy chung trường, có lẽ hắn đã tránh, chả bao giờ gần gụi con người này.
Hắn đã bỏ qua chuyện cũ, giúp Tiến vài việc làm ăn. Va chạm đồng tiền bát gạo, mới càng hiểu thêm tính cách con người.
Ngày bố Tiến mất, anh em trong hội tổ chức đi thăm viếng, lúc đó hắn mới ngã ngửa người ra là y đã là hội viên từ bao giở bao giờ rồi!
Hắn không ngờ y giữ kín tiếng đến thế! Dù không vẽ vời nữa, quay sang viết thì y việc gì phải dấu kín đến thế chứ? Hình như cả vùng này chả ai biết y là “nhà văn” của tỉnh, cứ y như là hoạt động bí mật!
Y giữ như thế để làm gì, viết thế nào chứ? Chả lẽ công việc sáng tạo văn chương chữ nghĩa cần phải thận trọng, bí mật đến thế sao?
Ngay đến như hắn cùng ở thị trấn này với nhau còn không hay, vậy bạn đọc xa gần có bao nhiêu người biết đến y với tư cách là người cầm bút, nói lên khát vọng của những con người đang cùng sống với y trên mảnh đất này?
Chưa nói đến cái cao xa hơn của người “Thư ký thời đại”, “ Tiếng nói lương tri”, hay“Nhạy cảm của tiến bộ xã hội”!
Hắn thật bất ngờ khi nhận ra rằng thời buổi bây giờ lại có những người cầm bút như vậy!
Cũng có thể bảo rằng đó là “Đức khiêm tốn, tự dấu mình, nuôi chí lớn, không muốn huyênh hoang, không khoác lác. Lấy hiệu quả sáng tác làm đầu chứ không cần ồn ào, khoe mẽ”!
Ôi là miệng lưỡi của người đời!
Thế mới có chuyện một ông nhà văn chả nhớ nước trong, nước ngoài nào, nói:
“ Con người ta có mấy cái lưỡi. Một cái thường xuyên ngậm trong miệng và mấy cái nữa cất kín trong tủ lạnh!”.
Nghe mà buốt hết cả chân tay!
***
Thời buổi tan vỡ lòng người, muốn tìm người kết bạn thật chẳng dễ gì.
Nhất là bạn văn chương, chữ nghĩa.
Ba bề bốn bên đang sôi sục không khí kim tiền, chuyện thế sự mỗi người một phách. Càng nói, càng không hiểu nhau.
Phần lớn theo kế sách “ngậm miệng ăn tiền”. Tìm bạn lúc này khác gì tìm nguồn nước trên sa mạc người?
Khốn nạn, trò viết lách không có bạn tâm giao chả khác nào cờ không có gió, đũa không đủ đôi? Một mình độc diễn mãi rồi tự chán!
Nhà hắn đã từng nuôi một chú gà trống chuồng, khi cả khu thị trấn gà bị dịch, gà trống chết không còn con nào, nó cũng quên luôn, thôi không gáy nữa.
Giống vật đã vậy, huống chi con người ?
Anh có tài giỏi ra mười, ở nơi không thầy, không bạn rồi anh cũng thành người vô dụng! Cũng thành kẻ ẩm ương mà thôi!
Viết là cuộc Maraton với chính mình, học hỏi không ngừng là cái không thể thiếu. Có người bạn như Tiến còn hơn chẳng có ai. Mặc dù tính cách hai bên hoàn toàn khác biệt.
Một hôm hắn đến, thấy Y đang hí húi bên bàn. Hắn nghĩ bụng có lẽ y sửa soạn đồ nghề đi vẽ ở đâu chăng?
Lâu rồi y có còn nhớ đến cây cọ đâu ? Vẽ mãi panô, áp phích không khá lên được, từ lâu y đã bỏ không cầm cọ nữa.
Không có nghề nào thờ ơ với nó, chểnh mảng với nó mà thành công quả, nếu không chí thiết một lòng, khó mà đi được tới nơi. Chưa nói thành giỏi, thành tài!
Tiếng là nhà văn của tỉnh, y cũng phải kiếm ăn, kiếm sống như bao người khác. Ngoài vợ y ra có ai nuôi y đâu? Cho dù bất đắc dĩ thì cũng vẫn phải làm. Đấy là cái lý do sau này hắn mới được biết vì sao y dấu kín nhẹm việc viết lách của mình. Không nuôi nổi bản thân và gia đình ắt là việc chẳng ra gì, cho dù sang trọng đến đâu, cũng là chuyện hão huyền, vô bổ, có lẽ y nghĩ như vậy nên chả muốn nói cùng ai!
Từ ngày thôi làm lá mai, hai người ít gặp nhau. Hắn bỏ trò mua bán này vì ác cảm với nó.
Tuy kiếm được tiền, nhưng nó cứ như trò lừa đảo, lá mặt lá trái, chẳng có gì làm chuẩn. Không thế chỉ làm mướn không công cho chủ ở mãi bên Đài Loan. Có kiếm được đồng nào cũng chỉ “béo hàng đò, no hàng nước”.
Chẳng thà làm cái khác bền bỉ, thảnh thơi hơn. Còn có thời gian đọc hay viết cái gì đó.
Suốt ngày suốt đêm chạy rong trên đường, rủ rê, gạ gẫm như phường bạc giả của cái nghề buôn lá này hắn ớn đến tận cổ rồi.
Hắn bỏ thì y cũng bỏ, vì ngoài hắn ra y còn có mối nào khác đâu? Chả có ma dại nào rủ y làm cái việc đó ngoài hắn. Tính cách chậm chạp, ụ ợ, cò kè của y không hợp với nghề này. Hắn mời y tham gia với hảo ý muốn giúp bạn. Muốn y đỡ khó lúc chưa tìm được việc thích hợp. Đỡ bị vợ con khinh rẻ vì vô công rồi nghề.
Cũng chỉ có hắn mới chịu đựng được tính nết của y. Ai đời bạn hàng với nhau, sáng đòi thêm một giá, chiều lại thêm một giá, cứ như tiền bằng lá cây. Chung quy là bởi y không hiểu, cứ nghĩ nghề lá mai này hái ra tiền như người ta đồn thổi.Tưởng đâu thứ “hàng xuất khẩu” này ăn dày, ăn đậm lắm! Làm ăn với người nước nào không nói, chứ với người Trung Hoa, “Quốc đảo” hay “Đại lục” cũng là bọn keo kiệt chả khác gì nhau. Những năm hắn sống trong Chợ Lớn, hay chạy chợ qua Bằng Tường hắn không lạ việc này.
Người Mỹ còn phải mắc nợ người Trung Quốc bởi tính hà tiện, tiết kiệm, dành dụm suốt đời của họ.
Từ “ăn chơi phóng khoáng” không có trong đầu óc người Trung Hoa. Họ bòn mót, nhặt nhiệm còn hơn cả người Việt keo kiệt nhất. Chỉ được mỗi nết là ưa sòng phẳng mà thôi !
Điều đó thì y không hiểu, không gặp nhau thì thôi, hễ gặp là nằn nì thêm một vài giá. Hắn bỏ làm lá mai cũng một phần vì những chuyện này. Nếu còn làm nữa, quan hệ giữa hai người khó lòng tồn tại. Nhiều lúc hắn thất vọng vì bạn, tính cách như thế liệu y viết lách ra sao, bởi văn là người, là cách ứng xử của người cầm bút ?
Hắn thì đã xoay ra việc khác, nhân sinh bách nghệ, đâu có thiếu gì nghề? Hắn chỉ áy náy, bỏ công việc vừa rồi không hiểu y quay sang làm gì? Chính vì thế hắn mới đến đây.
Vẻ mặt y có vẻ khó chịu, đăm chiêu hơn ngày thường . Thấy hắn vào y định cất tờ giấy khổ rộng đang trải trên bàn, nhưng không kịp. Thì ra đây là bản sơ đồ của một công trình nào đấy, hắn chưa biết nó là cái gì?
Chả lẽ y xuay ra làm thiết kế công trình xây dựng?
Y có học ngày nào ở các trường người ta dạy cho nghề ấy đâu? Mấy năm học trung cấp văn hóa, nghề y được học là hội họa cơ mà?
Nhưng cũng chẳng biết đâu được chuyện đời, thời nay thiếu gì kẻ học hành không đâu vào đâu, thâm chí bằng cấp rởm, vẫn cứ làm hết công trình này đến công trình khác cơ mà.
Công trình có hỏng, đổ gãy thì làm làm lại, tốn tiền nhà nước, đã thấy ai ngồi tù hay chết thằng tây nào đâu?
Để ý kỹ một chút, hắn thấy tấm kính tủ nhà y vỡ một miếng, đồ đạc để lộn xộn một đống nơi góc nhà.
Hình như vừa có cuộc “cách mạng”, cuộc xô xát xảy ra trong ngôi nhà này, nên nét mặt y mới đăm chiêu như thế.
Hắn chú ý đến tờ giấy khổ rộng, thì ra đấy là sơ đồ thiết kế làm vườn rau của Tiến!
Thật khổ, vườn nhà y có rộng rãi gì đâu? Chưa được nửa sào đất, làm thì cứ làm, định sẵn trong đầu, vẽ vời ra làm chi cho tốn giấy?
Tiến than thở hôm qua vợ y đoảng quá. Bản vẽ đã hoàn chỉnh rồi, cô nàng không biết lại đem ra lót, nhấc nồi cám lợn. Vì thế y đã dồn cho một trận, sáng nay y phải làm lại từ đầu. Bực ơi là bực!
Hắn xem bản vẽ y đang vẽ dở, thấy đường đi lối lại, các liếp trồng rau, chỗ xây bể nước tưới..
Chỗ nào trồng thứ gì, y ghi chú bằng các màu khác nhau. Cũngkhông có gì đặc biệt lắm. Với người khác, không cần phải tỷ mỷ đến thế, cũng có thể làm được vì nó vốn chẳng có gì phức tạp.
Tính Tiến thế, làm bất cứ việc gì y đều ghi ra giấy. Ngay viết một bài báo y cũng cẩn thận làm dàn bài, đâu vào đấy rồi mới viết.
Hai người ngồi uống trà, vẻ mặt Tiến thư thái trở lại, bớt căng thẳng hơn lúc hắn vừa đến.
Thấy Tiến đang mải lo làm vườn, hắn thôi ý định rủ y cùng làm một việc hắn vừa tìm được mối.
Có lẽ chăn nuôi, trồng trọt hợp với tạng của y hơn là làm việc khác. Mặc dù y chưa có kinh nghiệm gì, nhưng việc nhà nông học không mấy nỗi, cái chính cần phải chịu khó, kiên trì.
Hắn có nghe người ta nói một chuyện, tiện đây muốn hỏi Tiến xem hư thực thế nào? Lúc đầu Tiến còn lúng búng chưa muốn nhận ngay, sau rồi mới bảo:
- Ừ thì cũng có, vợ mình chỉ xem hộ người ta làm phúc chứ chưa lấy tiền của ai. Nhưng chuyện này ông đừng nói chuyện với ai kẻo ảnh hưởng!
Hắn thực lòng khuyên bạn :
- Mê tín dị đoan là việc không nên, tôi không coi thường tâm linh, nhưng làm việc này không hợp với vợ chồng cậu đâu. Dù sao cô ấy cũng là cô giáo, cậu không sợ nhà trường phê bình sao?
Tiến cười :
- Cái đấy cậu không cần phải lo. Các cô giáo ở trường này còn tin hơn cả bọn mình ấy chứ. Ngày rằm mồng một nào cũng bảo vợ mình ra thắp hương ở văn phòng nhà trường đấy. Có việc gì hệ trọng, cô hiệu trưởng lại nhờ vợ mình hầu đồng hỏi kỹ rồi mới làm. Cũng nhờ thế cô ấy rất nể vợ mình. Tuy chuyên môn yếu nhưng năm nào cũng được xếp loại “Giáo viên dạy giỏi”, không bị sài sẻ như các cô khác, dù trình độ các cô ấy khá hơn!
Giờ thì hắn hiểu những thắc mắc của vợ mình về những công việc ở trường. Hóa ra trường học bây giờ lại có cả thứ “văn hóa tâm linh” lạ lùng như vậy.
Vợ hắn còn bảo trường của cô được bình xét là “trường chuẩn của tỉnh”, một phần là nhờ công lao của “Bà thầy” cô giáo là vợ Tiến. Thật đáng kinh ngạc!
Đã vậy hắn còn cần khuyên can gì nữa? Hắn ngại cho bạn hàng ngày vợ cứ gọi “vong”, “quan binh đường âm” về, sau rồi họ ở lỳ không chịu đi, sẽ bất lợi, nếu thực sự có một thế giới vô hình như vợ chồng Tiến đang tin cậy. Nghe nói vậy, tiến nói việc này vợ y đã tính đến rồi, cô ấy chu đáo lắm, lễ lạt đầy đủ, tháng mấy ngày ăn chay, lại kiêng khem rất kỹ.
Nói thì nói vậy, xem ra y có vẻ không hài lòng.
Nếu sự việc chỉ có thế, giữa hai người sẽ chẳng có chuyện gì. Cho đến một lần xảy ra một vài việc hắn thấy không sao chịu nổi ..
**
Không biết Tiến có nói lại điều gì với vợ y hay không, nhưng thấy vợ y thái độ khác hẳn.
Trước thì thi thoảng thị vẫn ra nhà, trò chuyện với vợ hắn bài vở, công việc nhà trường. Cả những chuyện chả dính dáng gì đến công việc ấy.. Từ sau đận hắn góp ý với Tiến, cả vợ lẫn chồng hình như có ý xa lánh, không tới chơi nhà.
Hắn có đến vợ chồng Tiến cũng không vồn vã như xưa. Hắn không hiểu mình đã sai ở chỗ nào mà vợ chồng y lạnh nhạt ra mặt như thế? Chẳng lẽ y nghĩ mình có ác ý với việc làm gần đây của vợ y?
Hắn chỉ nói thế thôi đâu có để bụng? Đã vậy mình chỉ khi nào thật cần thiết việc gì mới đến, kẻo y lại suy bụng ta ra bụng người, cho mình soi mói để ý như y từng làm đối với mình. Mình ghét nhất thói dò la, tăm tia để hại người khác, nhưng y không hiểu thì thôi, cũng không cần bận tâm.
Quan hệ giữa hai người tưởng chừng đóng băng từ đấy.
Đột nhiên ông chủ tịch hội nảy ra sáng kiến thăm hỏi hội viên. Cùng đi với ông còn vài ba người nữa. Cơm rượu xong, ông bảo hắn cùng tới nhà Tiến chơi trước lúc đoàn về. Hắn đã định từ chối. Thứ nhất hôm đó là ngày chủ nhật, ngày mà cô giáo vợ Tiến bảo là “các quan cho làm”. Nghĩ cũng lạ nhỉ, hóa ra “các quan”cũng làm theo ngày giờ hành chính như ở cõi trần sao? Chắc cô nói vậy cho tiện mọi bề để không ảnh hưởng đến công việc nhà trường. Nên ngày chủ nhật nhà Tiến rất đông khách xa gần đến đặt lễ, cầu vong, xem chỗ ở, hay việc đang làm lành dữ ra sao? Đến vào lúc này cũng không tiện. Thứ hai trong đoàn còn có một ông nhà thơ hiện đang tại vị “phòng điều tra” công an tỉnh. Biết đâu con người đa nghi và hay để ý vặt như y sẽ cho là mình sắp đặt để chơi xỏ y? Muốn phơi bày những việc y không muốn ai để mắt tới, nhất là anh em trong hội.
Nhưng không đi cũng dở, mọi người sẽ cho hắn và y có khúc mắc với nhau. Anh em văn nghệ cả tỉnh có một dúm người, không chơi được với nhau còn nói gì nữa? Mỗi người rủ thêm vài câu, hắn tặc lưỡi lên xe.
Tới nơi, người từ đâu đến vòng trong vòng ngoài. Vợ tiến đang nhập đồng, khua chân múa tay phán lời của “vong” mới được gọi về.
Mấy anh em đứng cả ngoài sân vì trong nhà không còn chỗ ngồi. Anh chàng công an nổi hứng lôi cái máy ảnh ra chụp cây cọ bị đốt cháy đang hồi sinh ra những tàu lá quăn queo rất lạ.
Ông chủ tịch hội là người nhạy cảm, hình như ông đánh hơi thấy có điều bất tiện, nháy anh em ra về. Đến lúc đó Tiến mới biết anh em trong hội đến chơi, y chạy trong nhà ra, mọi người đã lên xe rồi.
Hôm Tiến có việc về hội, có anh thóc mách, đã hỏi soi móc thì chớ, lại có ý cười cợt vì anh ta không tin chuyện đồng cốt khi nào.
Tiến càng tức!
Từ bữa ấy Tiến giận hắn ra mặt. Vợ y còn bắn tin là hắn xấu chơi, có ý không tốt với bạn, nên mới đưa người đến không đúng lúc, chủ ý muốn phơi bày việc vợ chồng Tiến chưa muốn công khai vào lúc này. Bây giờ mới chỉ là bước dẹp đường cho ngày sau, khi cô đã nghỉ hưu. Giờ rất nên kín đáo!
Từ đó y tuyệt nhiên không đến nhà. Gặp từ xa y đã có ý lảng tránh. Dự hội nghị cùng có mặt, cũng tìm chỗ ngồi thật xa, như thể hai người chưa từng quen nhau.
Y đã không thích thì hắn cũng chẳng cần. Bạn bè cần ở nhau ở chỗ cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ nhau những khi có thể. Bạn cho có, nắm mớ, vô bổ, cốt tào lao chi khươn thì cần cái cóc gì?
Hắn nghĩ như thế mặc dầu trong lòng hắn rất buồn !
**
Nỗi buồn nào rồi cũng qua đi, sự đời nó thế, buồn lâu làm gì ?
Hắn cặm cụi viết những gì lâu nay ấp ủ trong lòng, thờ ơ với tất cả mọi sự đang diễn ra hàng ngày ở xung quanh. Hắn định thế nhưng không được..
Có một cuộc thi viết về giáo dục. Hắn biết tỏng đây là chủ ý của những người nắm trọng trách trong ngành này.
Tác phẩm hay hay không, không quan trọng bằng qua đó phát hiện ra ý tưởng khả dĩ hiến kế có thể cứu nguy nền giáo dục đang sa đà vào chỗ bế tắc. Chứ không phải tô vẽ như bấy lâu nay người ta quen làm. Cải cách mãi rồi mà không khá lên được.
Đụng đến nó là đụng đến cả mớ bùng nhùng, khen cũng dở mà chê cũng rất khó.
Không khéo đụng chạm đến người này người khác, trong lúc vợ mình còn đang theo nghề.
Người ta không nói là bắt buộc phải tham gia, nhưng không viết chắc chắn là có người sẽ không bằng lòng. Trách nhiệm của hội viên là phải tham gia đóng góp với hội, không thể thờ ơ.
Hắn chọn thể loại “Bút ký văn học” là loại dễ đề cập đến vấn đè gai góc, nhạy cảm này. Nó khác ký sự ở chỗ, ngoài sự thể hiện sự thật khách quan, người viết có thể hư cấu thêm và đưa ý tưởng của mình vào trang viết, gần với tùy bút, gợi trí tưởng tượng.
Bài của hắn được đăng trang nhất, có dư luận nó sẽ được vào giải. Hắn chỉ coi như xong phận sự của mình. Được giải hay không, không quan trọng. Gần đây có nhiều ý kiến và dư luận cho rằng các loại giải thưởng, nhiều khi không nói lên được điều gì. Không đánh giá đúng chất lượng hay giá trị đúng của tác phẩm.
Tự mình hắn chỉ coi đó là bài báo đơn thuần ghi lại những gì mắt thấy tai nghe, cảm nghĩ và những ý tưởng của hắn về sự kiện này. Đã là bút ký văn học không nhất thiết phải ghi rõ tên người, tên việc cụ thể..
Đã giữ gìn như thế mà còn xảy ra chuyện !
Hắn được điện gọi về tòa soạn để hỏi về bài báo của mình.
Tổng biên tập hỏi hắn có bịa đặt, vu không hay bài xích một người nào không? Ông kể cách đây mấy hôm có người đến hỏi mua toàn bộ số báo mới phát hành vừa rồi. Một điều xưa nay chưa từng có của tờ báo “Văn” bé nhỏ của tỉnh nhà, vốn tia ra rất hạn chế, thường chỉ “biếu” chứ bán được mấy khi?
Hôm qua ban tuyên giáo vừa gọi ông đến và thông báo là có đơn kiện về bài báo của hắn: “Đã phản ánh sai sự thật, có ý xúc phạm đến tập thể giáo viên nhà trường, mang dụng ý xấu, gây mất đoàn kết, sự ổn định và uy tín của trường”
Hắn trả lời ông là không có chuyện đó. Hắn không phản ảnh một trường hợp, một trường học cụ thể nào, càng không có ý nói xấu, đả kích bất kỳ ai. Hắn chỉ nêu những hiện tượng phổ biến có tính bao quát chung những tiêu cực, tồn tại của ngành này mà thôi.
Mượn chữ nghĩa để chửi bới, moi móc người này, người khác một cách hèn hạ là điều hắn không bao giờ làm. Dù khả năng, trình độ kém đến đâu, hắn cũng biết đó là điều người có lòng tự trọng không nên làm . Hắn chỉ viết những gì hắn cảm thấy, hắn suy nghĩ một cách thành tâm, thành ý.
Ông ta bảo: “ Vậy thì được rồi, tớ sẽ bảo vệ cậu, chỉ sợ cậu xuyên tạc sai sự thật, hoặc có ý đả kích vì mâu thuẫn cá nhân. Chứ đả phá cái sai, cái xấu thì không vấn đề gì. Còn biểu dương cậu lần đầu đã có công trong sự kiện “Cháy” báo đấy !”
Hắn về vắt óc suy nghĩ do đâu lại có chuyện này ?
Nói: “ Văn học phục vụ quần chúng nhân dân..” là để mà nói. Thực ra có mấy ai đọc sách báo bây giờ đâu?
“ Quần chúng công, nông, binh” lại càng ít đọc. Một là họ đang phải đánh vật với cuộc mưu sinh hàng ngày. Hai là giá điện, giá xăng, vật giá leo thang không cho đầu óc con người rảnh rỗi. Ngay những thành phần khá giả trong xã hội còn phải than trời. Huống chi “Quần chúng công, nông, binh” thường ở tầng lớp nghèo, ít thời gian và tiền bạc đầu tư cho loại sản phẩm “tinh thần” này. Ba là cuộc chạy đua của lối sống đề cao vật chất càng ngày càng ô nhiễm nặng bầu không khí xã hội. Chưa kể đến sự cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn hiện nay. Tóm lại, văn hóa đọc với họ như một cái gì xa lạ!
Sách báo xuất bản, quanh đi quẩn lại mấy ông nhà văn, hội viên đọc với nhau. Một số ít gửi tới các phòng ban chủ yếu để theo dõi, nắm tình hình.. Vậy thì tại sao cô hiệu trưởng trường vợ hắn dạy học lại có được số báo đăng bài của hắn?
Một buổi sáng chủ nhật có hai cô đèo nhau đến nhà Tiến. Chuyện ấy cũng bình thường vì họ là đồng nghiệp đến chơi nhà nhau. Chỉ không bình thường ở chỗ còn có một mâm lễ, đủ vàng, tiền, hoa quả. Cô hiệu trưởng nhờ vợ Tiến kêu các quan triệu vong bà nội cô về, vì bố mẹ cô còn sống cả chưa ai quy tiên. ( Nghe nói khi còn ở dương gian, cụ hợp và yêu cháu gái lắm ). Cô muốn hỏi cụ sắp tới đây trên phòng ban khi nào xuống kiểm tra và họ quan tâm đến những chuyện gì?
Ý nguyện của người lãnh đạo với công việc chung chẳng có gì phải bàn nhiều .. Chuyện này lâu nay đã thành quen lệ chẳng ai bận tâm xem nó hay, dở, đúng, sai thế nào. Xin không kể lại nữa, vì nó không phải nội dung chính của câu chuyện này.
Khi xong việc đáng lý hai cô “trở ra về” vui vẻ như mọi khi. Ngồi lan man một lát, thấy Tiến lấy ra tờ báo, làm như vô tình đưa cô hiệu trưởng. Lần đầu cô thấy có tờ báo văn nghệ này ( Mặc dù nó ra đời cũng khá lâu ). Y bảo :
- Trong đây có bài viết về giáo dục hay lắm, hình như tác giả muốn nhắm vào trường ta thì phải, chị đọc xem có thấy thế không?
Cô hiệu trưởng giở ra đọc, đến đâu nét mặt cô thay đổi đến đấy, từ đỏ lên rồi tái dần đi.. Cô hỏi:
- Anh có biết tác giả bài này là ai không?
Tiến cười, bong bóng sùi li ti hai bên mép, ấy là khi đắc chí lắm, y bảo:
- Người ta ký bút danh nên tôi chịu, không biết là ai. ( Điều này thì y nói dối), nhưng phải là người trong cuộc mới biết rành rẽ thế được. Công nhận bài viết hơi ác, nêu cả những việc nhạy cảm, lẽ ra chỉ nên đóng cửa bảo nhau..
Cô không nói gì thêm, chỉ mượn tờ báo mang về, sáng hôm sau cô cho người đến tòa soạn, như ông tổng biên tập vừa nói ..
Thực ra bài báo chỉ nêu lên ở số trường thiếu thực thi dân chủ. Hiệu trưởng có quá nhiều quyền, thậm chí chuyên quyền, mạt sát, mắng mỏ giáo viên như người ăn, kẻ ở trong nhà. Giáo viên cứ nem nép như rắn mồng năm, chẳng ai dám ó é lên tiếng. Lợi dụng trường có các phân hiệu xa, đi lại khó khăn, hiệu trưởng thường phân cho những ai không ăn cánh và không cung phụng mình.
Chuyện tài chính không minh bạch khi mua sắm trang thiết bị cho trường. Các buổi tập huấn mang tính hình thức, bắt giáo viên đóng góp cho những chuyện không rõ ràng.. Nêu các vấn đề này hắn đã có ý tránh không nói cụ thể là ai và ở đâu ? Chỉ muốn nêu một vấn đề mà người ta chưa nói, là “quan hệ giữa thày với thày” thiếu trong sáng, vậy thì các thày cô yêu thương học trò sao được?
Ngày xưa hắn đi học các thày kính trọng, yêu thương và giúp đỡ nhau, cao quý lắm. Đó là tấm gương để trò noi theo, sao bây giờ các thày cô lại cư xử với nhau như vậy? Làm sao môi trường giáo dục 
" Thân thiện” cho được? Các vấn đề khác người ta nói nhiều rồi, y chỉ nêu ở khía cạnh này trong khuôn khổ quy định số chữ của cuộc thi.
Nếu không có sự gợi ý của Tiến, dù cô có đọc, chưa chắc cô hiệu trưởng có phản ứng gì, mặc dù những biểu hiện nêu ra có phần “giông giống” trường cô. Tờ báo cũng không phải tài liệu mật “lưu hành nội bộ”cần hạn chế độc giả, Tiến có tặng cô cũng là việc nên làm, thêm phần quảng bá cho hội!
Ôi là lời nói đọi máu! Hắn nghĩ đến cuộc thăm viếng tình cờ của mấy người bạn tới nhà Tiến trước đây mà hắn là kẻ vô tình, biết đâu đây chả là việc “ăn miếng, trả miếng” của ông bạn vàng này ?
May mà sau đó mọi chuyện cũng êm ả. Khi xét giải thưởng, bài của hắn được cho sang bên cạnh. Không phải vì thế mà hắn giận y đến bây giờ. Với hắn giải chẳng là gì cả, ngoài cuộc bia bọt với bạn bè, vinh quang nào có đáng là bao để mà khổ tâm về nó?
Hắn buồn ở nỗi mình chê người không biết thương yêu đùm bọc nhau, mà chính mình lại rơi vào vòng luẩn quẩn của sự đố kỵ, ghen ghét tầm thường.
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” là câu châm ngôn không còn thích hợp với ngày nay nữa. Hình như mọi khái niệm xưa cũ đã dần thay đổi. Người ta đổ lỗi cho “kỳ gian” Song Ngư chuyển giao cho Bảo Bình, nên mọi chuẩn mực đều thay đổi, kể cả những giá trị thuần khiết nhất.. Chả biết có đúng thế không?
Chỉ biết, về sau mỗi lần hắn gửi bài, tổng biên tập thường soi đi soi lại, (cẩn thận không bao giờ thừa ). Ông làm vậy là đúng, chỉ có hắn là ái ngại vô cùng!
Có lẽ hắn phải gặp Tiến để nói rõ chuyện này mới được. Chưa lúc nào hắn thèm người tử tế, hẳn hoi hơn lúc này. Giả như không có, buồn biết bao nhiêu là buồn?!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Viết tặng một người đi.


DHG
Ai nhìn ra cửa ngày đông ?
Nắng không rõ nắng, người không rõ người !
Lá đau
từng lúc lặng rơi ..
Người đi vắng cả nửa lời chia tay !
Gió buồn nhựa úa hàng cây
co ro lớp sóng thêm gầy dòng sông !
Sầu lên bạc khói trên đồng
bờ hoa chim nhỏ
não nùng tiếng kêu ..
Người tôi mơ
người ở đâu ?
Bụi vương
mắt ướt
khúc sầu vào đông !
Biết
đời là khúc vui chung,
người còn mang hận nơi lòng mà đi ?
Đông qua nắng đẹp có về?
Đàn tôi cùng với canh khuya đợi người!
Tôi buồn
Tôi tựa vào mây
Người đi ngàn dặm riêng tôi,
vẫn chờ!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vị thủ tướng cho cậu bé 35 triệu nhập học, không ngờ cậu cứu 1,5 triệu dân của ông khỏi đại thảm họa


Đây là một câu chuyện có thật, xảy ra vào năm 1892 tại Mỹ.
Năm đó, có một chàng trai trẻ đã thi đậu vào khoa địa chất học của trường đại học Stanford, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, lại là đứa trẻ mồ côi nên cậu không biết làm thế nào để có tiền chuẩn bị nhập học. Một ngày, cậu cùng người bạn của mình nảy ra sáng kiến sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc cho một nghệ sĩ piano tài năng. Cậu hy vọng sẽ kiếm được chút tiền hoa hồng để có thể trả học phí và trang trải cuộc sống.
Họ đến gặp nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng trong vùng của mình, ông Ignace Paderewski. Người quản lý của Ignace Paderewski và hai thanh niên trẻ đã thỏa thuận với nhau và thống nhất rằng, vị nghệ sĩ sẽ nhận được 2.000 đô la cho buổi biểu diễn. Vị nhạc sĩ cũng đồng ý với đề xuất đó và cho rằng đó là một khoản thù lao hấp dẫn, phù hợp với tên tuổi của ông lúc bấy giờ. Tuy nhiên, đối với hai chàng thanh niên trẻ, đây là một số tiền rất lớn. Nếu số người đến xem buổi biểu diễn không đủ, thì họ sẽ bị lỗ nặng.
Cả hai dốc hết sức lực để tổ chức buổi hòa nhạc được thành công. Nhưng thật không may, cuối buổi hòa nhạc, sau khi kiểm kê số tiền thu được, họ phát hiện rằng họ chỉ thu được 1.600 đô-la. Thất vọng, họ tìm đến Paderewski để giải thích hoàn cảnh của mình. Họ đã đưa toàn bộ số tiền đó cho vị nhạc sĩ cùng tấm giấy nợ 400 đô la cho khoản tiền còn thiếu với lời hứa rằng họ sẽ tranh thủ thanh toán sớm nhất có thể…
Nghệ sĩ piano nổi tiếng Ignacy J. Paderewski. (Ảnh: Pridesibiya.com)
Paderewski nhìn hai chàng trai nghèo và đã rất xúc động. Ông lập tức xé tờ giấy biên nợ, cầm tay chàng trai trẻ và nói: “Đây là 1.600 USD, hãy dùng nó trả hết các chi phí và trang trải cho việc học. Với số tiền còn lại, các cậu hãy lấy 10% như là tiền hoa hồng. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa tôi.” Hai cậu sinh viên đã vô cùng bất ngờ, không thốt nên lời trước tấm lòng của Paderewski.
Người nghệ sĩ hào phóng sau đó đã trở về quê hương và trở thành Thủ tướng của Ba Lan. Ông là một nhà lãnh đạo tài ba và tận tụy, nhưng không may, chiến tranh Thế giới đã xảy ra, Ba Lan bị tàn phá. Hơn 1,5 triệu người dân trong nước đang lâm vào cảnh chết đói còn Chính phủ thì rơi vào tình trạng tài chính kiệt quệ. Ông đã đôn đáo khắp nơi nhưng cũng không thể giải quyết cuộc khủng hoảng nghiêm trọng này. Không còn lựa chọn nào khác, ông đã tìm đến Herbert Hoover, chủ tịch Cơ quan Cứu trợ và Lương thực Hoa Kỳ để xin sự giúp đỡ. Khi Herbert Hoover nhận được lời kêu gọi trợ giúp, ông đã lập tức phản hồi rằng ông sẽ gửi cho Ba Lan một lượng viện trợ lớn.
Không lâu sau, hơn một vạn tấn lương thực viện trợ đã đến Ba Lan. Thảm kịch ở Ba Lan đã được đẩy lùi. Thủ tướng Paderewski muốn gặp mặt trực tiếp để cảm ơn Herbert Hoover và hẹn gặp ông ở Paris.
Khi hai người gặp nhau, Herbert Hoover đã nhìn Paderewski bằng ánh đầy xúc động nói:“Ngài không cần phải cảm ơn tôi, thưa Thủ Tướng. Thủ tướng Paderewski, có một việc có lẽ ngài đã quên từ lâu, nhưng tôi vẫn luôn ghi nhớ trong lòng. Vài năm trước đây, khi còn ở Hoa Kỳ, ngài đã giúp đỡ hai cậu sinh viên nghèo tiếp tục theo đuổi việc học. Và tôi chính là một trong hai thanh niên đó”.

Herbert Hoover (6) và Jan Paderewski (5) chụp ảnh ở phía trước tòa nhà Belvedere Palace ở thủ đô Warsaw, Ba Lan vào tháng 8/1920. (Ảnh: Researchteacher.com)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mẹo sử dụng công luận của hai Bộ



Nguyễn Tiểu Ngộc Tam
(Tác giả gửi Blog Hahien)
Tuần qua, có hai vấn đề nêu trong hai dự thảo luật được dư luận rất quan tâm.
Một là sửa đổi một Điều trong Bộ Luật Lao Động. Cơ quan soạn thảo là Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội nêu ý kiến về việc xem xét bỏ quy định phụ nữ có con nhỏ dưới 12 tháng được nghỉ 60 phút một ngày làm việc để nuôi con.
Hai là Bộ Y Tế, chủ trì soạn thảo Luật Hiến Máu và Tế Bào Gốc, đưa ra hai giải pháp về việc hiến máu. Giải pháp 1 là quy định việc hiến máu là nghĩa vụ bắt buộc của công dân trừ một số trường hợp. Giải pháp 2 là quy định việc hiến máu là tự nguyện kết hợp với tăng chi cho hoạt động vân động hiến máu.
Nhiều người phản đối, có trường hợp tỏ ra rất giận dữ. Mình thì thấy các bạn nên bình tĩnh, theo thiển ý của mình thì các bạn cứ …yên tâm đi.
Cả hai trường hợp, các nhà làm luật rất khôn khéo.
Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội cho biết là đề xuất sửa đổi Luật Lao Động xuất phát từ việc lấy ý kiến nhiều bên, một số doanh nghiệp sử dụng lao động nữ muốn bãi bỏ quy định ưu tiên đối với phụ nữ nuôi con nhỏ. Bộ cũng cho biết là đây mới chỉ là dự kiến, sẽ lấy ý kiến rộng rãi của dư luận, trên cơ sở đó sẽ chọn giải pháp đúng để trình Chính Phủ hoàn thiện báo cáo Quốc Hội. Theo mình, quan điểm của cơ quan soạn thảo khá rõ, bà Thứ trưởng Bộ này đã cho rằng quy định như hiện nay là đúng. Bộ này còn cung cấp thông tin bổ sung rằng ở các nước khác, ví dụ như Na Uy, Mỹ, Singapore… người ta cũng có những quy định tương tự. Vậy thì mình nhìn thấy, mục đích của việc nêu vấn đề ra công luận là để …được phản đối, rồi y án như quy định hiện thời, doanh nghiệp nào hay ai đó không đồng tình thì cũng phải chịu. Đấy là mình chỉ đoán mò thôi, nhưng nếu đúng thế thì các bạn chẳng nên băn khoăn làm gì. Đơn giản, chỉ cần ủng hộ quy định cũ là đủ.
Bộ Y Tế còn khôn hơn. Đưa ra Giải pháp 1, xong rồi bầy tỏ sự băn khoăn rằng như thế có thể vi hiến, rằng chẳng có quốc gia nào trên thế giới có quy định kỳ dị như thế v.v…Rồi ông Vụ Trưởng Vụ Pháp Chế của Bộ này còn nhận sự sai sót là lẽ ra trong dự thảo luật nên đánh số thứ tự giải pháp ngược lại thì làm rõ được quan điểm ưu tiên của Bộ quy định việc hiến máu là tự nguyện. Nghĩa là Bộ Y Tế cũng mong được dư luận …phản đối ý tưởng bắt buộc hiến máu. Như vậy, ngay từ dư thảo và diễn giải trước công luận, Bộ Y Tế đã định hướng (hay là « lùa ») dư luận vào việc ủng hộ giải pháp hiến máu là tự nguyện.
Nhưng hai chuyện này có gì khác nhau ?
Cả hai Bộ đều công khai quan điểm của mình, và bộc lộ rõ « mẹo » sử dụng công luận để thực hiện ý định . Có điều khác, là có lẽ là mình nhìn thấy Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội chẳng được thêm lợi lộc riêng gì trong chuyện này. Còn về Bộ Y Tế, giải pháp ưu tiên của họ là « quy định việc hiến máu kết hợp với tăng chi cho hoạt động vận động hiến máu ». Dư luận tập trung vào phản đối chuyện cưỡng bức hiến máu, hình như quên không bình luận gì về cái chuyện tăng chi này thì phải.
Mình nhắc lại là chỉ đoán mò thôi, rằng phụ nữ sẽ vẫn được nghỉ 60 phút/ngày làm việc để nuôi con, và việc hiến máu sẽ vẫn là tự nguyện. Còn chuyện tăng chi cho hoạt động vận động hiến máu thì hãy chờ xem. Vì thế, mình mạo muội đề nghị các bạn hãy nên …bình tĩnh.
N.T.N.T

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Từ điển tiếng Việt" (NXB Thanh Niên), thật hay giả?


Từ điển tiếng Việt
mang tên NXB Thanh Niên
hiện phát hành tại thị trường Thanh Hoá
Ảnh: HTC
            HOÀNG TUẤN CÔNG
Các nhà xuất bản chân chính cần lên tiếng, cơ quan chức năng cần vào cuộc để điều tra và kết luận nhằm ngăn chặn, trừng trị nạn làm sách bậy.
Trong bài “Từ điển tiếng Việt lậu tràn ngập thị trường” (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 10-1-2017), ông Nguyễn Xuân Trường - Giám đốc NXB Thanh Niên - cho biết: Các cuốn từ điển mắc nhiều sai sót như “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh - sinh viên” (Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - NXB Thanh Niên, 2016) và “Từ điển tiếng Việt” (Khang Việt, NXB Thanh Niên, 2016, mà trong bài viết “Sai như... từ điển”, Báo Người Lao Động ngày 11-1 đã phản ánh) là “những đầu sách in lậu, giả mạo thương hiệu của NXB Thanh Niên" (?!).


Đánh lừa độc giả
Qua khảo sát trên thị trường sách, chỉ riêng tại Thanh Hóa, chúng tôi thấy loại sách có nội dung xào xáo, có những cái sai giống nhau (mang tên NXB Thanh Niên ấn hành), chủ yếu là của hai nhóm tác giả:

            Nhóm thứ nhất, các tác giả thường thay tên đổi họ dưới các bút danh Kim Danh - Ngọc Hằng; Kim Anh - Ngọc Hằng; Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đức Bốn; Kỳ Uyên - Đăng Khoa; Kỳ Duyên - Hồng Vân - Đình Chương - Đăng Khoa... có số đầu sách mang tên NXB Thanh Niên ấn hành nhiều nhất. Có cuốn ngoài bìa 1 ghi tác giả là “Kỳ Duyên - Đăng Khoa, Hội Ngôn ngữ học” nhưng bìa trong lại là “Ngọc Hằng - Kỳ Duyên” (!).

          Nhóm thứ hai là các tác giả Hùng Thắng - Thanh Hương - Bàng Cẩm - Minh Nhật hoặc Hùng Thắng - Thanh Hương - Bàng Cẩm...

          Sách của hai “nhóm” này biên soạn phần lớn là loại từ điển “bỏ túi”, khổ nhỏ, như: Từ điển tiếng Việt thông dụng; Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh, sinh viên, Từ điển chính tả... nhằm vào nhóm độc giả đông đảo là “học sinh, sinh viên”, giá cả rất vừa túi tiền (từ 30.000 đến 50.000 đồng/cuốn). Ngoài ra, nhóm biên soạn này cũng in sách ở NXB Từ điển Bách khoa, NXB Đồng Nai... với những sai sót giống hệt nhau.

          Ngoài bìa sách, các tác giả (gồm cả hai “nhóm”) thường ghi những thông tin gây nhầm lẫn cho người mua, như “Ngôn ngữ Việt Nam”, “Ngôn ngữ học Việt Nam”, “Hội Ngôn ngữ học”, “Trung tâm Từ điển học”...


          Các loại từ điển nhiều sai sót, mang tên NXB Thanh Niên này đều được bày bán công khai ở các kênh phát hành sách chính thống như nhà sách Tiền Phong, nhà sách FAHASA, Nhà sách Việt Lý, thuộc địa bàn TP Thanh Hóa. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy cuốn “Từ điển tiếng Việt” (Khang Việt, NXB Thanh Niên, 2016), bán tại nhà sách Tiền Phong (Thanh Hóa), được giới thiệu trên website của nhà sách Khang Việt (khangvietbook.com.vn). Thay vì thông tin lập lờ “Ngôn ngữ Việt Nam” như ngoài bìa sách, Nhà sách Khang Việt ghi hẳn là “Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (Khoa học - Xã hội - Nhân văn)”. Có thể nói đây là sự mạo danh, đánh lừa độc giả rất trắng trợn và nghiêm trọng.

Ảnh chụp màn hình
website của nhà sách Khang Việt 

          Cuốn “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh - sinh viên” (tác giả Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - NXB Thanh Niên, 2016), mạo danh Trung tâm Từ điển học (Vietlex, do GS Hoàng Phê sáng lập), với những cái sai không khác gì sách của Khang Việt, được bán tại nhà sách FAHASA và giới thiệu trên trang website của nhà sách (fahasa.com).
Từ điển khổ lớn, tác giả Kỳ Duyên - Đức Bốn (NXB Thanh Niên, 2013)

          Ví dụ những cái sai mà chúng ta có thể tìm thấy trong tất cả các cuốn sách từ điển khổ nhỏ mang tên NXB Thanh Niên, như: “bói toán: Bói theo phương pháp toán học”; “giao phối (đt): Kết hôn”; “giao cấu: Nói về giống đực giống cái lấy nhau”. Đáng chú ý, những lỗi này và nhiều lỗi nghiêm trọng khác mà chúng tôi từng nêu đã có trong hầu hết từ điển mang tên NXB Thanh Niên ấn hành từ năm 2012 đến nay (do hai “nhóm” tác giả mà chúng tôi nêu, biên soạn). 

Từ điển khổ nhỏ, nhiều sai sót, bán tại Nhà sách Tiền Phong (Thanh Hoá)
Ảnh: HTC

         Ví dụ, lỗi giải nghĩa từ “giao phối (đt): kết hôn” đã có trong “Từ điển tiếng Việt” (khổ lớn 14,5 x 20,5 cm) của Kỳ Duyên - Đức Bốn (NXB Thanh Niên, 2013); hay có trong “Từ điển tiếng Việt” (khổ 16 x 24 cm) của Kỳ Duyên - Đinh Chương - Đăng Khoa (NXB Từ điển Bách khoa, 2014) với lời giảng cụ thể hơn: “giao phối (đt c/g): Kết hôn, lấy nhau có cưới hỏi”. Lỗi “giao cấu: Nói về giống đực giống cái lấy nhau” đều có trong từ điển của nhóm tác giả Hùng Thắng - Thanh Hương - Bàng Cẩm - Minh Nhật, hoặc Hùng Thắng - Thanh Hương - Bàng Cẩm (NXB Thanh Niên, 2012). Các cuốn sách này hiện có bán nhiều tại Nhà sách Tiền Phong (92-Lê Hoàn, TP Thanh Hoá).

          Như vậy, theo chúng tôi, việc NXB Thanh Niên bị các nhà sách hoặc tổ chức, cá nhân nào đó làm sách giả, mạo danh (cụ thể trong từng cuốn sách) như thế nào, cần có điều tra và kết luận chính thức của cơ quan chức năng. Tuy nhiên, có thể nói những sai sót mà chúng tôi nêu ra đã xuất hiện trong “Từ điển tiếng Việt” do NXB Thanh Niên, NXB Từ điển Bách khoa ấn hành từ nhiều năm về trước. Lẽ dĩ nhiên, các nhà sách có in lậu hoặc mạo danh NXB Thanh Niên, cũng chỉ là sao chép lại những cái sai của NXB Thanh Niên mà thôi.

Cóp nhặt + xào xáo = cuốn mới
          Các nhóm biên soạn từ điển này còn có một phương pháp chung nữa là xào xáo, cóp nhặt từ nhiều cuốn từ điển khác nhau để biến thành nội dung cuốn từ điển mới. Thông thường, các tác giả sao chép từ ngữ trong các cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản trước năm 1975 ở Sài Gòn. Có khi để giải nghĩa một từ, thì nghĩa 1, tác giả chép của “Từ điển tiếng Việt” (Trung tâm Từ điển học Vietlex), nghĩa 2 chép của “Tự điển Việt Nam” (Ban Tu thư Khai trí, Sài Gòn, 1971). Có khi một từ phải được giảng 3 nghĩa thông dụng nhưng nhóm tác giả tùy tiện, chỉ chép lấy một nghĩa, khiến nghĩa từ trở nên què cụt.

          Ngoài những sai sót nghiêm trọng không thể chấp nhận thì rất nhiều yếu tố Hán Việt, chỉ là yếu tố cấu tạo từ nhưng lại được nhóm biên soạn thu thập và giải nghĩa như một từ, trong khi nó không bao giờ được dùng độc lập. Ví dụ “am (đt): Hiểu biết”; “bộc (dt): Đầy tớ”; “điệp: Dò la”; “điệt (dt): Cháu đối với chú hay bác”... Nếu chiếu theo cách xử lý của hai tác giả Ngọc Hằng và Kỳ Duyên (“Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh - sinh viên”, NXB Thanh Niên, 2016) thì chẳng ai có thể hiểu được nội dung thông báo: “Ông ấy là người am. Nó là bộc. Quân địch đang điệp” hay “Đây là thằng điệt của tôi”. Nhìn chung, các tác giả không có kiến thức về từ điển học.

          Theo quy định mới, từ năm 2015, từ điển là loại ấn phẩm mà ngoài nhà xuất bản, khi xuất bản phải được một cơ quan chuyên môn (thường là của nhà nước) có thẩm quyền thẩm định (ví như Viện Ngôn ngữ học Việt Nam). Ấy vậy mà các loại từ điển kém chất lượng vẫn tràn lan trên thị trường, phát hành công khai và chính thức trong hệ thống phát hành sách toàn quốc. Đặc biệt, các loại từ điển lại thường nhắm vào đối tượng học sinh, sinh viên - những lứa tuổi và cấp học đang trau dồi, học hỏi, hoàn thiện về kỹ năng sử dụng tiếng Việt, do đó gây phương hại càng lớn.

          Theo chúng tôi, việc điều tra, làm rõ nguồn gốc các cuốn từ điển có nội dung xào xáo, đầy rẫy những sai sót; mạo danh các cơ quan khoa học uy tín và đơn vị xuất bản làm ăn chân chính không khó.

                                            Hoàng Tuấn Công/11/1/2017


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin chưa kiểm định, lưu ngâm dấm ớt:

The China Post: Chính phủ VN đã ký một thỏa thuận bí mật với Formosa Plastics


China Post/ VNTB
Vũ Quốc Ngữ dịch
11-1-2017
Chính phủ Việt Nam cho biết đã ký một thỏa thuận bí mật với Formosa Plastics, trong đó ngăn chặn cả hai bên trong việc tiết lộ bất kỳ thông tin chi tiết của thỏa thuận.
Vào tháng Tư năm 2016, một tòa án tối cao bác bỏ kháng cáo để tăng mức phạt đối với Công ty phát thanh Mỹ (Radio Company of America – RCA), sau khi nó gây ra một trong những thảm họa ô nhiễm công nghiệp tồi tệ nhất trong lịch sử của Đài Loan 24 năm trước đó.
Các kháng cáo nhằm tăng mức phạt lên 10 lần, từ 560 triệu tệ Đài Loan lên 5,58 tỷ tệ Đài Loan.
Trong nhiều năm qua, nhiều nhân viên của RCA ở Đài Loan đã bị tiếp xúc với các chất ô nhiễm gây ung thư. Các nhân viên đã không được trang bị với các thiết bị an toàn thích hợp, họ cũng không được thông báo về những rủi ro gắn liền với công việc của họ.
Khoảng 2.000 đến 3.000 nhân viên trong tổng số 20.000 người đã bị ung thư và đã có 216 người bị chết.
Trong cùng tháng với thời điểm kháng cáo bị từ chối, một vùng biển trải dài 200 km thuộc ven biển ở miền Trung Việt Nam đã bị phát hiện ô nhiễm nghiêm trọng.
Các chất ô nhiễm đã giết chết hàng tấn cá, phá hủy môi trường, và cùng với nó đến đời sống của hàng trăm ngàn cư dân.
Nhưng nguồn gốc của vụ việc mà Thủ tướng Việt Nam gọi là “thảm họa môi trường tồi tệ nhất nước từng thấy”, gây ra không phải bởi một công ty đa quốc gia phương Tây mà là do một nhà máy thép Đài Loan sở hữu bởi một công ty con của tập đoàn hóa dầu Formosa Plastics.
Hai sự cố, mặc dù cách nhau gần 30 năm, chịu sự tương đồng nổi bật.
Sự khác biệt duy nhất bây giờ, đó là Đài Loan đã chuyển từ nạn nhân thành kẻ bách hại.
Các cuộc biểu tình bị đàn áp, vụ kiện bị từ chối, hoạt động phục hồi.
Vào cuối tháng Sáu năm 2016, một đại diện của công ty Formosa Plastics đã xin lỗi người dân Việt.
Công ty nhận trách nhiệm về việc gây ô nhiễm nước sau khi phủ nhận bất kỳ hành vi sai trái nào trong hai tháng trước đó.
Chính quyền trung ương của Việt Nam nhận bồi thường 500 triệu USD từ Formosa để đền bù đắp cho cư dân.

Nhưng cho đến nay, những người bị ảnh hưởng bởi vụ việc vẫn chưa nhận được một đồng đô la tiền bồi thường, và không có bằng chứng khoa học cho thấy rằng các vùng nước bị ô nhiễm hiện nay đã được tẩy rửa.
Trong khi đó, nhà máy thép đã nối lại hoạt động, bất chấp phản đối tiếp từ người dân địa phương và người Việt khắp nơi trên thế giới.
Trong tám tháng kể từ đó, hàng tấn cá chết tiếp tục dạt vào bờ.
Nhà hoạt động nhân quyền và linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hùng, khi nói với The China Post hôm thứ sáu, cũng tuyên bố rằng hai công nhân được Formosa Plastics giao nhiệm vụ lặn dưới nước và kiểm tra trên các đường ống dẫn chất thải phóng đã chết.
Theo tờ báo Việt Nam Express, nhiều cuộc biểu tình hòa bình bên ngoài nhà máy thép Hà Tĩnh và trụ sở Formosa Plastics tại Việt Nam biến thành bạo lực khi lực lượng cảnh sát và lực lượng bảo vệ đánh đập người biểu tình, trong khi nhiều nhà báo công dân bị giam giữ trong nhiều ngày với cáo buộc “kích động bất ổn xã hội bằng cách chụp ảnh các cuộc biểu tình để đăng bài trên phương tiện truyền thông xã hội.”
Một tòa án Việt Nam từ chối một vụ kiện với hơn 500 đơn kiện của cư dân, những người cho rằng cuộc sống của họ đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự cố.
Thêm dầu vào lửa, một đại diện của Formosa Plastics tên Chu làm người dân địa phương tức giận bằng cách nói với một cuộc họp báo được tổ chức ngay sau khi vụ việc vỡ lở rằng Việt Nam phải lựa chọn một trong hai, giữa cá hay phát triển công nghiệp của đất nước.
Câu nói của Chu đã dẫn đến chiến dịch #ichoosefish trên phương tiện truyền thông xã hội, tạo ra một làn sóng lên án chống lại Formosa Plastics và tìm kiếm sự ủng hộ của quốc tế về vụ việc.
Thỏa thuận bí mật
Nhưng bất chấp sức ép từ các nhóm trong và ngoài Việt Nam, Formosa Plastics vẫn từ chối để làm rõ những hợp chất hóa học nào đã được xả thải vào nước biển, những tai hại mà chúng đã và sé gây ra cho con người và môi trường, và mất bao lâu để phục hồi các hệ sinh thái địa ven biểni và các chi tiết của bất kỳ hoạt động dọn dẹp nào.
“Việc bồi thường là rất quan trọng cho người dân để họ có thể qua được những tháng khó khăn, nhưng những gì họ quan tâm nhất là làm thế nào để có được cuộc sống của họ trở lại,” linh mục Việt Hùng cho biết, người hiện đang ở Đài Loan để tìm kiếm sự hỗ trợ từ chính phủ ở Đài Bắc.
” 500 triệu Mỹ kim đã bốc hơi vào không khí. Chúng tôi muốn minh bạch, chúng tôi muốn biết chính phủ sử dụng số tiền đó như thế nào, và khi nào chúng ta có thể bắt đầu đánh bắt cá một lần nữa.”
Chính phủ Việt Nam cho biết đã ký một thỏa thuận bí mật với Formosa Plastics, trong đó ngăn chặn cả hai bên trong việc tiết lộ bất kỳ thông tin chi tiết của thỏa thuận.
h1Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc – một trong những nhân vật phải chịu trách nhiệm về “thỏa thuận bí mật với Formosa”. Ảnh: internet
Dân biểu Chen Man-li của Đảng Dân chủ Cấp tiến (Democratic Progressive Party) đã tổ chức một buổi điều trần công khai hồi tuần trước về vụ việc, thu thập ý kiến từ các nhóm dân sự về cách pháp luật của quốc gia có thể được sửa đổi để đảm bảo rằng không một công ty Đài Loan nào có thể lặp lại các hành động tương tự như Formosa Plastics trong tương lai.
Chen nói với tờ The China Post rằng pháp luật hiện hành không ngăn chặn một công ty địa phương trong việc ký hợp đồng bảo mật như vậy với các chính phủ nước ngoài, cũng như không thể buộc các công ty Đài Loan tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm soát ô nhiễm khi hoạt động ở nước ngoài.
Chen cho rằng, với mong muốn của Đài Loan trong việc mở rộng lợi ích thương mại của mình ở nước ngoài – đặc biệt là ở các nước Đông Nam Á, nơi luật bảo vệ môi trường là tương đối yếu rằng “Chúng ta phải nhớ không bao giờ trở thành RCA, một công ty mà chúng ta vô cùng phẫn nộ.”
———
Nguồn: Taiwan shifts from pollution victim to perpetrator

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố



Tác giả: Phạm Hải

Ngày 10/1, lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức trưng bày 18 bảo vật quốc gia Việt Nam để khách tham quan được khám phá những câu chuyện lịch sử, văn hóa của bảo vật quốc gia.
Cùng ngắm 18 trong tổng số 118 bảo vật quốc gia được trưng bày lần này. Thời gian trưng bầy từ 10/1 đến tháng 5/2017.
—————-


Trống Hoàng Hạ: Chất liệu Đồng (Văn hóa Đông Sơn), cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012. Phát hiện tại xóm Nội Thôn, làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội). Trống đồng Hoàng Hạ là loại trống H1 điển hình, kiểu dáng, đề tài hoa văn trang trí độc đáo còn khá nguyên vẹn. Trống đồng Hoàng Hạ có kích thước lớn là một tiêu bản đặc biệt được xếp vào cùng nhóm trống đồng Ngọc Lũ, nhóm trống đặc trưng tiêu biểu nhất. Vì vậy trống đồng Hoàng Hạ xứng đáng được công nhận là Bảo vật Quốc gia.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Thạp Đào Thịnh (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.

Trong văn hóa Đông Sơn, thạp đồng là di vật tiêu biểu sau trống đồng và chủ yếu chỉ xuất hiện trong phạm vi phân bố của nền văn hóa này. Trong hàng trăm chiếc thạp đã phát hiện thì thạp Đào Thịnh là chiếc thạp có kích thước lớn nhất, hoa văn trang trí phong phú, chặt chẽ, tinh mỹ và độc đáo nhất.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Đặc biệt trên nắp thạp có gắn đối xứng tâm 4 khối tượng nam nữ đang giao hoan, loại tượng mới gặp duy nhất trong nghệ thuật Đông Sơn. Bộ phận sinh dục của người đàn ông được nhấn mạnh bằng cách phóng đại so với tỷ lệ cơ thể, phản ảnh tín ngưỡng phồn thực với khát vọng vạn vật sinh sôi nẩy nở của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Việc người nam đeo dao găm ngay cả trong lúc sinh hoạt tình dục cho thấy vũ khí luôn thường trực bên người, phản ảnh trong văn hóa Đông Sơn đã phát sinh xung đột xã hội dẫn tới chiến tranh, là tiền đề hình thành các thủ lĩnh quân sự, tạo nên một trong những cơ sở vật chất hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Cây đèn hình người quỳ (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Cây đèn thể hiện theo hình tượng một người đàn ông mình trần đóng khố tư thế đang quỳ, hai tay nâng đĩa đèn. Mình trần, thân dưới mặc khố. Tượng có khuôn mặt bầu, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, quanh môi có ria mép. Đầu tượng được gắn vương miện, tóc để chỏm. Hai vai và sau tượng gắn 3 cành chữ S, mỗi cành chữ S đỡ một đĩa đèn và gắn 1 hình người đang quỳ. Trên hai đùi và đằng sau người đàn ông có 4 nhạc công cũng ở tư thế quỳ, hai nhạc công đang thổi sáo. Cánh tay, cổ tay có đeo trang sức, tai đeo hoa hình khuyên to tròn. Trên vai và quanh bụng được trang trí những mô típ chuỗi hoa sen.
Cây đèn hình người quỳ là một hiện vật độc bản, đại diện cho nghệ thuật cổ tiêu biểu, độc đáo vào thời kỳ cuối văn hóa Đông Sơn, có sự giao lưu với văn hóa Hán. Cây đèn thể hiện kỹ thuật đúc tài khéo và phản ánh thảm mỹ cảm quan về vũ trụ của cư dân cổ giai đoạn này. Chính vì vậy, cây đèn hình người quỳ xứng đáng đề cử xem xét xếp vào danh mục Bảo vật Quốc gia.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Tượng hai người đàn ông cõng nhau thổi khèn
(Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Là pho tượng sinh động nhất trong hệ thống tượng tròn Đông Sơn. Tượng miêu tả hai người đàn ông đóng khố, đầu chít khăn, đeo khuyên tai lớn chạm vai. Người cõng trong tư thế khom lưng, hai tay vòng ra sau ôm đỡ người ngồi trên lưng, hai chân như đang nhún nhảy theo điệu nhạc. Người được cõng đang say sưa thổi khèn. Tượng được thể hiện theo khối thủng, có nhiều góc cạnh và nhiều đường cong lượn, đòi hỏi kỹ thuật khuôn đúc phức tạp. Bởi vậy, pho tượng không chỉ là bằng chứng về một loại hình âm nhạc truyền thống dân tộc đã được khởi nguồn từ văn hóa Đông Sơn mà còn phản ảnh đời sống tinh thần phong phú, sự lạc quan, yêu đời cũng như trình độ đúc đồng đỉnh cao của người Việt cổ.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Trống Ngọc Lũ (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Phát hiện tại xã Như Trác, huyện Lý Nhân, sau được chuyển về thờ tại đình làng Ngọc Lũ, Hà Nam. Năm 1902, trống được trường Viễn đông Bác Cổ sưu tầm. Từ năm 1958 đến nay trống đồng Ngọc Lũ luôn được lưu giữ, trưng bày tại hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Trống Ngọc Lũ thuộc nhóm A, loại I Heger. Là chiếc trống đẹp nhất, nguyên vẹn nhất và có hình dáng cân đối, hài hòa nhất trong những trống Đông Sơn đã phát hiện. Hoa văn trang trí vô cùng phong phú, hoàn hảo, tinh mỹ. Ngoài các mô típ hoa văn hình học còn có các vành, băng hoa văn chính tả thực cảnh diễu hành hóa trang, hát đối đáp, đánh trống, giã gạo, hình nhà cầu mùa, nhà sàn, hình thuyền chiến với các chiến binh đang thực hiện nghi lễ hiến tế, hình các loại động vật như hươu, các loài chim… Thông qua đó, chúng ta thấy lại được phần nào đời sống vật chất, tinh thần, tư duy khoa học và thế giới tự nhiên đương thời.
Trống đồng Ngọc Lũ với những nét đặc sắc nói trên, không chỉ là biểu hiện cao nhất của công nghệ đúc đồng mà còn là sản phẩm lao động, tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho trình độ trí tuệ, tài năng sáng tạo tuyệt vời của người Đông Sơn, là biểu hiện rõ nét, tập trung của văn minh sông Hồng và trở thành biểu tượng tồn vong của cộng đồng cư dân Lạc Việt.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Ấn “Sắc mệnh chi bảo” (Vàng). Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 8, 1827.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2015
Ấn có núm hình rồng cuốn. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán: Thập tuế hoàng kim, trọng nhị bách nhị thập tam lượng lục tiền. (Vàng 10 tuổi, nặng 223 lạng 6 tiền – khoảng 8,3kg) và Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo. (Đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mệnh 8, 1827). Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện Sắc mệnh chi bảo.
Ấn được dùng để ban cấp cáo sắc cho văn võ cùng phong tặng thần và người. Là hiện vật độc bản, biểu trưng cho quyền lực nhà Nguyễn, có giá trị đặc biệt trong sưu tập kim bảo triều Nguyễn hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Trống Cảnh Thịnh (Đồng). Thời Tây sơn, niên hiệu Cảnh Thịnh, 1800
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.
Trống đồng Cảnh Thịnh là hiện vật độc bản trong phức hợp trống đồng Việt Nam. Tạo hình trống thể hiện sự độc đáo khi mô phỏng theo kiểu trống da truyền thống. Hoa văn trang trí chính đúc nổi đề tài Tứ linh mang ý nghĩa biểu trưng cho đất nước thái bình thịnh trị, xã hội an lạc và Long Mã cõng Hà đồ, Thần Quy chở Lạc thư, hai biểu tượng khởi nguyên của Kinh Dịch – tư tưởng triết học của người Á Đông về quy luật của sự biến đổi.
Một giá trị đặc biệt khác của trống đồng Cảnh Thịnh chính là phần tư liệu. Các dòng lạc khoản khắc trên thân cho biết trống được đúc vào tháng 4 nhuận năm Cảnh Thịnh thứ 8 thời Tây Sơn (1800) tại Chùa Cả (Linh Ứng tự), tức Chùa Nành, xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay. Đặc biệt, một bài minh dài 222 chữ dẫn thuyết lý do, mục đích đúc trống nói về người trong xã là bà Nguyễn Thị Lộc, vợ của Tổng Thái giám Giao quận công vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) đã tập phúc góp công dựng chùa Linh Ứng. Ghi nhớ công lao của bà, nhân dân trong xã đã cùng nhau đóng góp công sức, tiền của để đúc trống và những đồ thờ khác dâng lên ban Phật để lưu truyền, nhắc nhở con cháu đời sau luôn ghi nhớ công đức của tiền nhân.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Bình vẽ thiên nga (Gốm hoa lam). Thời Lê sơ, thế kỷ 15
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Là chiếc bình có kích thước lớn nhất, nguyên vẹn nhất trong sưu tập hiện vật độc bản khai quật từ tàu đắm Cù Lao Chàm, thành phố Hội An. Bình có dáng cao, vai phình, thân thuôn nhỏ về đáy tạo nên sự thon thả, thanh thoát. Hoa văn trang trí chia thành 7 băng phủ kín thân từ miệng xuống đáy. Băng hoa văn chủ đạo chiếm không gian lớn nhất ở giữa thân bình vẽ phong cảnh với 4 con thiên nga theo tích “Phi, Minh, Túc, Thực”: một con đang dang cánh bay, một con đang nghển cổ kêu, một con đang rúc đầu vào cánh ngủ và con còn lại đang kiếm ăn. Đây là cách chơi chữ và mượn hình biểu ý của người xưa nhằm gửi gắm ước nguyện được thăng tiến, tiền đồ sáng lạn, giàu có, no đủ.
Thời Lê sơ là giai đoạn phát triển huy hoàng của nghệ thuật gốm sứ cổ Việt Nam. Đồ gốm thời kỳ này không những phong phú về dòng men, đa dạng về loại hình, kiểu dáng mà hoa văn trang trí cũng rất sinh động. Sản phẩm gốm đương thời đã khẳng định được uy tín và tham gia mạnh mẽ vào giao lưu thương mại quốc tế.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Ấn vàng “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” thời Lê Trung Hưng niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) cạnh 10,84cm x10,84cm; dày 1,1cm, cao 6,3cm. Ấn hình vương, núm tạo hình sư tử hí cầu, rìa trái lưng ấn khắc dòng chữ Hán “Kế bát thập kim, lục hốt tứ lạng, tứ tiền tam phân” (dịch ra là: Cộng vàng tám tuổi, nặng 6 thoi, 4 lạng, 4 tiền, 3 phân).
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
 Ấn “Môn hạ sảnh ấn” (Đồng). Thời Trần, niên hiệu Long Khánh thứ 5 (1377)
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Phát hiện năm 1962 tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Ấn hình vuông, đế ấn tạo ba cấp, núm ấn hình bia đá. Cạnh phải lưng ấn khắc dòng chữ Hán: “Môn hạ sảnh ấn” – ấn của sảnh Môn hạ. Cạnh trái lưng ấn khắc dòng chữ “Long Khánh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo” – chế tạo vào ngày 23 tháng 5, niên hiệu Long Khánh 5, đời vua Trần Duệ Tông (trị vì: 1372 – 1377). Mặt ấn hình vuông, đúc 4 chữ kiểu triện cùng nội dung chữ trên cạnh phải lưng ấn “Môn hạ sảnh ấn”.
Sảnh Môn hạ là một trong những cơ quan hành chính trung ương cao nhất thời Trần, do vua Trần Minh Tông (trị vì: 1314 – 1329) đặt ra năm Khai Thái 2 (1325) thay cho Hành khiển ty ở cung Quan triều thuộc Nội mật viện. Đây là cơ quan thân cận của nhà vua, có nhiệm vụ giữ bảo ấn, truyền lệnh của vua tới các quan, nhận lời tấu lên vua và các công việc lễ nghi trong cung. Chức quan ở sảnh này đều do các quan đại thần đảm nhiệm. “Môn hạ sảnh ấn” được dùng để đóng trên những văn bản hành chính quan trọng của triều đình bắt đầu từ đời vua Trần Phế Đế (trị vì: 1377 – 1388) về sau.
Cho tới nay, những phát hiện về ấn đồng các triều đại phong kiến Việt Nam không nhiều. “Môn hạ sảnh ấn” là chiếc ấn đồng có nội dung rõ ràng nhất, niên đại cụ thể nhất liên quan đến lịch sử hành chính trung ương triều Trần.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Chuông chùa Vân Bản (Đồng). Thời Trần, thế kỷ 13 – 14
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013
Là chiếc chuông cổ nhất đồng thời có kích thước lớn nhất, uy nghi nhất của nền văn minh Đại Việt. Quai chuông gắn Bồ Lao hình rồng 2 đầu. Thân chuông chia thành 8 ô ngăn các bởi các đường gờ nổi. Miệng chuông đúc nổi băng cánh sen kép. Chuông có 6 núm gõ hình hoa sen nở mãn khai.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Trên thân chuông khắc minh văn chữ Hán nói về những người có công khai phá sơn lâm, mở mang đất đai lập dựng chùa Vân Bản là nhà sư tu khổ hạnh và Cư sĩ Đại Ố; những người cúng dường đất cho chùa là Thị vệ nhân dũng thủ Nguyễn Văn Kịp và vợ Chu Thị Trãi cùng anh vợ là Chu Lâm. Đặc biệt, minh văn cho biết lai lịch chuông do vị quan Tả bộc xạ cúng tiến vào chùa. Minh văn còn là lời dặn gửi đời sau phát tâm công đức giữ gìn chùa, không để bị hủy hoại, không được khuyết thiếu việc hương hỏa. Hoa lợi từ ruộng đất cúng dường thì dành cho cúng lễ, giỗ chạp.
Chuông là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung, thời Trần nói riêng.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Thống gốm Hoa nâu: Thời Trần (thế kỷ 13-14) đường kính miệng: 35cm; đường kính đáy 34cm; cao 57cm; Thống gốm hoa nâu được phát hiện khi đào giếng tại khu đền Trần (thôn Tức Mạc, phường Lộc Vượng, TP Nam Định năm 1972). Thống có dáng tròn mập, hình khối chắc khoẻ, mang đặc trưng gốm thời Trần, miệng rộng, vain gang, trạm nổi bằng cánh sen 2 lớp cánh.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Bia Võ Cạnh (Đá cát). Văn hóa Chămpa. Thế kỷ 3 – 4.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013
Là tấm bia cổ nhật Đông Nam Á. Bia là khối đá có hình trụ đứng. Trên 3 mặt khắc chữ Sanskrit. Đây là tấm bia cổ nhất còn lại của Vương quốc cổ Champa. Bia được khắc bằng chữ Phạn cổ cho biết nhiều thông tin có giá trị về lịch sử Vương triều Tiền vương quốc Nam Chăm. Minh văn còn cho biết sự du nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo vào Chămpa từ sớm.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Mộ thuyền Việt Khê
Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm.
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013
Đây là loại quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có kích thước lớn nhất trong số những ngôi mộ có quan tài bằng thân cây khoét rỗng hay còn gọi là một thuyền đã phát hiện ở Việt Nam. Bên trong mộ chứa 109 đồ tùy táng gồm chủ yếu là đồ đồng, bao gồm các loại hình vũ khí, nhạc khí, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt.
Đây là mộ thuyền có kích thước lớn nhất, hiện trạng nguyên vẹn nhất, chứa đựng nhiều đồ tùy táng quý hiếm của văn hóa Đông Sơn, là nguồn tài liệu nghiên cứu các ngành nghề thủ công truyền thống và lịch sử hình thành giai cấp trong xã hội Đông Sơn.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Bia điện Nam Giao (Đá). Thời Lê Trung hưng, năm Vĩnh Trị 4 (1679)
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2015
Bia hình chữ nhật, trán cong hình bán nguyệt đặt trên đế hình khối chữ nhật ba cấp. Diềm trán bia chạm khắc hình lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh chạm rồng, phượng, mây, hoa mẫu đơn, cúc, băng lá đề kép và vân mây hình khánh. Xung quanh đế bia chạm khắc nổi long mã và hoa lá. Mặt bia khắc bài ký về việc chỉnh đốn, sửa chữa Điện Nam Giao Chiêu sự.
Bia điện Nam giao là một trong những di vật có giá trị nhất còn sót lại của Đàn Nam Giao Thăng Long. Phản ánh rõ nét ý nghĩa lịch sử điện Nam Giao và lễ tế Nam Giao ở Thăng Long, nghi lễ lớn nhất của các vương triều Lý – Trần – Lê để tế Trời – Đất cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Nhật ký trong tù
“Nhật ký trong tù” là một tác phẩm văn học gồm 133 bài thơ chữ Hán do Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây (Trung Quốc), 1932 – 1933.
Xuyên suốt “Nhật ký trong tù” là hình ảnh “đại trí, đại nhân, đại dũng” của người tù cộng sản Hồ Chí Minh, luôn tràn đầy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và một quyết tâm cao độ đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
Hiện vật có giá trị đặc biệt, liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước, gắn bó với cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” không chỉ có ý nghĩa lớn lao về lịch sử, mà còn mang tính nhân văn, có giá trị về ngôn ngữ tiếng Việt. Với hai trang viết giản dị, dễ hiểu, tinh tế nhưng hào hùng, hừng hực khí thế xung thiên, lời kêu gọi đã diễn tả được những tư tưởng, ý chí, tình cảm của cả dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp.
Chiêm ngưỡng 18 bảo vật Quốc gia lần đầu được công bố
Sách Đường Kách mệnh
Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012
“Đường Kách mệnh” là tập hợp những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925 – 1927, do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành bí mật và chuyển về nước.
“Đường Kách mệnh” là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô sản, là nền tảng cho việc tìm hướng đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang