Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Chuột Cống -

Truyện ngắn của THÁI SINH

Thị đi loanh quanh khắp các gian phòng, gõ vào các bức tường, lay khuôn cửa rồi gật đầu với vẻ hài lòng lắm: “Được, tốt!” Dường như thoả mãn, đêm đầu tiên về nhà mới thị ngủ như chết, miệng há hốc, ánh sáng ngọn đèn ngủ khiến da thịt thị xanh mướt, nhợt nhạt như kẻ chết trôi, nom khiếp quá. Tôi vốn thính ngủ, nghe thị ngáy lại lạ nhà nên không tài nào ngủ được, hết nhìn đăm đăm vào ngọn đèn cho mỏi mắt rồi lại đếm cũng không tài nào ngủ được. Tôi trở dậy lững thững đi ra phía sau, trong ánh sáng của ngọn đèn cao áp từ phía bệnh viện hắt lại, ngôi nhà tôi hiện mờ mờ cùng với các khoảng sáng tối càng khiến ngôi nhà của tôi nhuốc một màu ma quái. Tôi tiến lại phía tiếng chuột rúc gần bể nước, một cảnh tượng làm tôi kinh hoàng, một lũ chuột cống lúc nhúc nối đuôi nhau đi từ phía lò gạch xuống cống.


                                        CHUỘT CỐNG

                                                Truyện ngắn của THÁI SINH

Gia đình tôi chuyển về đây gần được một năm nay, người chủ trước sau khi giao chìa khoá bảo vợ chồng tôi:
- Ở mảnh đất này thiên thuận địa lợi, khí vượng làm ăn phát đạt, nhưng ghét nhất là lũ chuột cống. Chúng hoành hành dữ lắm, làm thế nào cũng không dẹp được...
Vợ tôi vốn là người đàn bà sắc sảo, thị cầm tinh con mèo, nghe vậy bỗng bật cười:
- Chuột cống hả? Việc trị lũ chuột ấy để tôi, chỉ cần ném cho mấy mồi bả là chúng lăn quay hết thôi mà...
Nhà tôi nằm ở cuối con đường, một phía giáp với cống dẫn nước từ hồ nước Mát ra bệnh viện đổ ra sông, phía sau nhà trước kia là khu lò gạch của HTX nay đã bỏ hoang. Theo sách cổ của người Trung Hoa thế đất của gia đình tôi thuận tiện cho việc làm ăn buôn bán. Có lẽ thế, nên khi nghe ai đó giới thiệu vợ tôi viện đủ lý lẽ để mua bằng được  mảnh đất này. Thị lôi từ đâu về một mớ sách báo in ảnh loè loẹt dúi vào tay tôi:
- Sách dạy cả đấy, anh cứ xem đi. Tôi tính chán cả rồi, nếu không lấy miếng đất này thì muôn năm tìm khắp thị trấn cũng chẳng có chỗ nào tốt hơn đâu...
Tất nhiên là tôi chiều theo ý thị, đôi khi cáu lên tôi đã mắng: “ Đồ cám bã, biết gì...” Vốn là người lười đọc, nhưng tôi biết thừa đám nhà báo, văn nghệ sĩ là một lũ mánh qué, lừa bịp. Còn thị, nếu cái gì thị đã tin thì khó lay chuyển được. “ Một điều nhịn là chín điều lành”, tôi tự nhủ như thế.
Thị đi loanh quanh khắp các gian phòng, gõ vào các bức tường, lay khuôn cửa rồi gật đầu với vẻ hài lòng lắm: “Được, tốt!” Dường như thoả mãn, đêm đầu tiên về nhà mới thị ngủ như chết, miệng há hốc, ánh sáng ngọn đèn ngủ khiến da thịt thị xanh mướt, nhợt nhạt như kẻ chết trôi, nom khiếp quá.Tôi vốn thính ngủ, nghe thị ngáy lại lạ nhà nên không tài nào ngủ được, hết nhìn đăm đăm vào ngọn đèn cho mỏi mắt rồi lại đếm cũng không tài nào ngủ được. Tôi trở dậy lững thững đi ra phía sau, trong ánh sáng của ngọn đèn cao áp từ phía bệnh viện hắt lại, ngôi nhà tôi hiện mờ mờ cùng với các khoảng sáng tối càng khiến ngôi nhà của tôi nhuốc một màu ma quái. Tôi tiến lại phía tiếng chuột rúc gần bể nước, một cảnh tượng làm tôi kinh hoàng, một lũ chuột cống lúc nhúc nối đuôi nhau đi từ phía lò gạch xuống cống. Chúng đi nhộn nhạo, con nào cũng béo nung núc, to như con chó con, lông ánh màu lân tinh, khiếp quá. Chúng thản nhiên đi qua trước mặt tôi, việc tôi có mặt tại đó chẳng khiến chúng sợ hãi, đôi ba con còn dừng lại ngước gương mặt bẩn thỉu nhìn tôi rồi khịt khịt hai lỗ mũi như hăm doạ, trêu tức.
Máu trong người tôi sôi lên, tôi vớ một thanh củi nhằm một con to nhất đang bước đi khệnh khạng giáng xuống. Thanh củi gãy khấc, bay vù trở lại suýt văng vào mặt tôi. Có lẽ vì nóng giận nên tôi đã nhằm trượt, đàn chuột nhảy cẫng lên chạy tán loạn. Một con đang lôi kéo một cái gì đó vụt chạy qua chân tôi, cọ đám lông ướt dượt, nhầy nhụa khiến tôi rùng mình co vội chân lên, bất chợt khi đặt chân xuống tôi đạp phải cái đám bầy nhầy mà con chuột bỏ lại làm tôi trượt chân ngã oạch xuống. Cái tấm thân chẳng mấy to lớn của tôi trở thành vật ngáng đường lũ chuột, chúng phóng ào ào qua người tôi, khi tôi đứng lên được thì toàn thân bê bết bùn đất cống rãnh mà lũ chuột khi chạy qua để lại. Tức quá tôi chửi ầm lên đã đánh thức vợ tôi dậy. Thị cầm đèn pin với gương mặt ngái ngủ soi loang loáng lên người tôi, giọng gắt gỏng:
-  Đang đêm anh làm cái gì mà ầm ĩ lên thế?
-  Chuột, tại lũ chuột cô hiểu không? – Tôi chỉ cái vật bầy nhầy dưới đất- Nào, soi vào đây xem bọn quỉ bỏ lại cái gì.
Thị bước tới vừa soi đèn vừa cầm đoạn củi gãy khều cái vật dưới đất lên, tôi thoáng thấy thị rùng mình, giọng lạc đi:
- Trời ơi, sao lại thế này, thai nhi...
Hất đám bầy nhầy xuống cống, thị múc đầy xô nước dội ào ào tống khứ cái của nợ đó đi. Sau khi rửa ráy xong tự nhiên tôi thấy lạnh toát người, tôi vội trèo lên giường trùm chăn kín đầu định đánh một giấc tới sáng. Nhưng mà sao cái hình ảnh quái quỉ từ đâu đó ập tới cứ chờn vờn trước mắt tôi. Tôi nhớ ai đó đã kể rằng: Ở một bệnh viện nọ có một bầy chuột cống to lắm, chúng sống quanh quẩn cạnh nhà xác, nhiều trẻ sơ sinh bị chết vừa mang vào nhà xác chưa kịp chôn đã bị lũ chuột cống lôi đi mất. Vì thế mà các bệnh viện phải làm lồng sắt úp lên các tử thi để chống lũ chuột, nhiều khi sơ ý lồng úp không kín do vội vàng là bị chúng tấn công...Toàn những chuyện rùng rợn, ma quái và bịa đặt, khiến tôi chả thể nào ngủ được. Gần sáng thì tôi lên cơn sốt, có lẽ vì đêm qua cảm lạnh nên người tôi nóng hầm hập, đầu nhức như búa bổ, mồ hôi đầm đìa, khó nhọc lắm tôi mới nhỏm dậy lấy được mấy viên thuốc. Khi đó vợ tôi đã dậy, thị tong tả đi chợ chuẩn bị bữa cơm vào nhà mới trưa nay. Sau khi uống mấy viên thuốc tôi đỡ sốt hơn và bắt đầu ngủ lại, vừa chợp mắt tôi như  rơi vào cơn mộng mị.
...Lia tờ báo đã nhàu nát trước mặt tôi hắn hỏi:
- Cậu đọc bài báo này rồi chứ?
- Dạ,thưa anh em đã dọc rồi. Rất nhiều chi tiết không chính  xác...
- Nhưng nói chung là đúng chứ gì? Hắn cười khẩy- Mấy ngày nay tôi liên tiếp bị các “cụ” gọi. Cả bàn dân thiên hạ đang xôn xao về bài báo. Công ty đang ăn lên làm ra thì thế này đây, chỉ ít ngày nữa là Thanh tra sẽ xục vào. Thử hỏi tất cả những việc làm đó của tôi là vì ai, vì công ty, vì anh em hay vì tôi? Mấy thằng nhà báo thối mồm luôn chõ vào việc của người ta. Nhưng ai là người cung cấp tài liệu cho chúng, nếu không phải là nội bộ? Chẳng lẽ là tôi, cô Liên những người đã bị báo nêu?
Tôi nhớ trước đó vài tháng hắn gọi tôi lên, vừa ngáp một cái rõ to, đôi mắt gà gà nhìn tôi nửa cười cợt, nửa hờ hững:
- Thế nào, chú đã thảo xong bản hợp đồng rồi chứ? Bên B họ có ý kiến gì?
- Dạ, em đã làm xong, họ không có ý kiến gì chỉ chờ anh cho ngày giờ ký thôi- Tôi đáp.
- Tuần tới tôi và cô Liên đi Hà Nội giải quyết nốt số vật tư, cậu và ông Biển ở nhà thay tôi ký hợp đồng với B...
Nói vậy tức là hợp đồng đã được ký rồi, việc ăn chia đã thoả thuận, tôi và ông Biển chỉ làm cái việc hợp pháp hoá bản hợp đồng đó thôi. Điều gì sẽ xảy ra nếu sau này hợp đồng gặp trắc trở. Hắn đứng lên vuốt cái đầu bóng nhẫy rồi vỗ mạnh vào vai tôi.
- Phải mạnh dạn lên, rồi mai này công ty sẽ thuộc về tay các cậu chứ còn vào tay ai nữa? Sau bữa ấy tôi được “đề bạt” từ nhân viên phòng tài vụ lên Trưởng ban bảo vệ. Vợ tôi uất lắm, thị vốn có họ xa với bà Nhạn vợ ông chủ tịch, thị rít hai hàm răng:
- Chân lý thuộc kẻ mạnh, dù anh có thanh minh đến mấy hắn cũng chả tin. Thôi, anh cứ để hắn cho tôi, sức nó tôi chỉ búng một cái là đổ...
Bẵng đi một dạo chừng dăm sáu tháng sau những trận bão táp đã ngưng, không ai hề hấn gì, bởi tôi biết các “cụ” đã che chở, những người có liên quan chỉ bị kiểm điểm nội bộ. Nhưng xem ra hắn còn ngờ tôi cung cấp tài liệu cho nhà báo nên vẫn tìm cách hất tôi đi. Một hôm gia đình ông chủ tịch có việc, trước đó mấy ngày vợ tôi đi uốn tóc, sơn sửa móng tay, xắm váy áo, giày dép...cứ y như thị vừa đi mỹ viện về. Thị ngúng nguẩy bảo tôi:
- Ngày mai em phải giúp chị Nhạn tiếp khách. Toàn khách tỉnh không thể ăn mặc dúm dó được.
- Em hôm nay đẹp quá- Tôi buột miệng.
- Đừng nịnh thối - thị cười dí ngón tay vào trán tôi.
Hôm ấy hắn cũng có mặt tại nhà ông chủ tịch, sau bữa cơm bà Nhạn kéo hắn ra một góc chỉ vào vợ tôi:
- Hẳn anh chưa biết cô này, nó là em gái tôi, chồng nó là Trưởng ban bảo vệ chỗ anh. Nghe nhà tôi nói, tới đây sẽ kéo nó lên văn phòng làm thư ký cho ông ấy theo dõi khối tài mậu. Dù sao cậu ấy cũng được học hành tử tế, chắc anh đồng ý?
 Hắn há hốc mồm, giọng lắp bắp.
- Không thưa chị. Cậu ấy là người tốt, cán bộ nguồn của chúng em. Tất nhiên hiện nay chúng em đang thử thách, xin chị hiểu cho.
Chừng hai tuần sau vợ tôi từ nhà ông chủ tịch trở về, thị mở ví ném ra giữa bàn tờ giấy gấp đôi:
- Chị Nhạn gửi cho anh quyết định đề bạt đó. Ông Chánh văn phòng ạ, giờ thì ông đừng bảo tôi là đồ cám bã nhá- thị rót nước tồ tồ xuống cái cốc đặt trên bàn- Dẫu sao tối nay vợ chồng mình cũng nên đến nhà hắn, cảm ơn hắn vài câu cho phải phép.
Tối ấy thị mặc chiếc mini guýp, áo cổ rộng đi giày cao gót nom thị khá hấp dẫn. Tối ấy tôi thấy hắn chỉ chăm chắm nhìn vợ tôi, cái nhìn thô tục và đểu cáng. Khi chia tay, hắn tiễn vợ chồng tôi ra tận cổng, hắn bảo tôi:
- Tôi giao việc cho chú là tin tưởng chú lắm, chú phải cố gắng lên nhé...
Khi bắt tay vợ tôi, người hắn như khòm xuống cười đần độn.
- Em về nói với chị Nhạn xin chị ấy cứ tin ở anh, là chỗ thân tình của “cụ”, việc giúp đỡ cậu ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của anh...
Chừng chín giờ thì vợ tôi đi chợ về, thị lay tôi dậy:
- Em vừa mua con béc dê giống Đức và con mèo Đại Hoàng về cho anh đây. Phen này lũ chuột cống chẳng còn đường mà chạy...
Tôi trở dậy người mệt bã bời. Con béc chừng ba tháng tuổi người gầy nhẳng, bị buộc bằng sợi dây vải ở xó nhà, con Đại Hoàng thì ngồi dúm dó bên đĩa cơm vợ tôi vừa xúc ra đặt dưới đất. Tôi nhẩm tính con béc kia phải dăm tháng nữa mới có thể tấn công được lũ chuột, chứ bây giờ sức nó khó có thể thắng nổi chúng.
Bữa cơm mừng nhà mới thị chỉ mời mấy người bạn là những chỗ làm ăn của thị. Có lẽ vừa qua cơn sốt nên uống được hai chén tôi đã phải xin phép mọi người lên giường đắp chăn. Nửa đêm nghe tiếng khụt khịt và tiếng chó sủa nhăng nhẳng phía sau nhà khiến tôi phải trở dậy. Trong ánh sáng mờ mờ tôi nhìn rõ con béc bị đám chuột cống vây quanh, chúng tấn công con béc từ mọi phía, khi con béc quay về phía này thì con phía sau lao tới. Cuộc đọ sức quyết liệt giữa bầy chuột cống với con béc ba tháng tuổi, chúng đánh phủ đầu nhằm gieo vào đầu óc nó một nỗi khiếp đảm, nhằm dập tắt mối hiểm hoạ sau này. Cuộc chiến chừng đã lâu, con béc dường như đã thấm mệt, nó nằm bẹp xuống chống cự yếu ớt. Vừa lúc đó tôi thấy xuất hiện một con chuột lớn từ dưới cống đi lên, con vật to hơn cả con béc kia, đầu nó chọc lốc, toàn thân phủ một lớp lông trắng. Bầy chuột giãn ra nhường lối cho nó, nó tiến lại phía con béc. Con béc há hốc mồm chưa kịp phản ứng thì nhanh như chớp nó lao vào hất tung con béc lên trời. Con béc vừa rơi xuống nó lại lao tới...Cứ thế con béc bị hất lên trời như một túm giẻ rách rơi vào sát chân bể nước, nó đè hai chân trước lên người con béc, có lẽ nó sẽ xé xác con béc trong chốc lát thôi. Tôi vơ vội thanh củi vừa la hét vừa quật túi bụi vào bầy chuột khiến chúng chạy nhảy tán loạn. Vợ tôi choàng dậy, thị lầu bầu:
- Đêm nào anh cũng  lục xục, la hét chẳng để ai ngủ cả...
Tôi chỉ vào con béc người bê bết bùn đất, mặt đầy máu bảo thị.
- Nếu không có tôi lũ chuột cống sẽ ăn thịt con này từ lâu rồi. Nhìn thân hình tơi tả của con vật đang nằm rên ư ử dưới chân, thị bực tức đá một nhát hất nó vào cửa bếp.
Đêm sau con béc không dám ra ngoài, nó nằm trong nhà sủa đàn chuột đi lại rậm rịch phía sau, điều đó càng làm tôi khó chịu. Hôm sau, trước lúc đến cơ quan tôi chạy mua mấy gói thuốc diệt chuột, phen này quyết diệt bằng hết lũ chuột khốn kiếp kia. Tối ấy tôi phi hành mỡ thơm phức rồi trộn cơm với thuốc chuột rải từ miệng cống suốt dọc đường đi của chúng và chuẩn bị một cái tải để sớm mai nhặt xác. Buổi sớm hôm ấy tôi dậy hơi muộn, tôi nghe tiếng vợ tru tréo:
- Thôi, thế là anh giết tôi rồi! Giết tôi rồi...
Tôi vùng dậy chạy ra ngoài xem vợ tôi la lối cái gì, thị nắm lấy cổ áo tôi giật mạnh.
- Tối qua anh bỏ thuốc chuột? Con Đại Hoàng ăn phải bả chuột chết rồi. Ôi, con mèo dòng giống của nhà vua mà tôi phải nhọc công mới tìm mua được...
Tôi bế con mèo lên tay, con vật còn nóng và đang thoi thóp, tôi quát thị:
- Đừng có tru tréo lên thế, nhanh lên pha cho tôi ít nước đường, tôi sẽ giải độc cho nó.
Tôi hấp tấp đổ từng thìa đường cho con vật khốn khổ, nó uống được vài thìa thì nôn ra, tôi lại đổ tiếp để nó nôn ra bằng hết thì thôi. Tôi ủ nó trong lòng bàn tay của mình cho đến khi nó mở được mắt vẫy cái đuôi bé xíu, vợ tôi khi đó mới reo lên:
- Thật phúc cho mày nhé, nếu tao không phát hiện sớm thì mày đã toi mạng rồi. Giống mèo Đại Hoàng này quí lắm anh ạ...
Ngày tháng cứ trôi qua, con béc và con Đại Hoàng mỗi ngày một lớn, lông nó bóng mượt nom hùng dũng lắm. Thế nhưng con béc hình như chưa quên trận chiến đêm nào với đám chuột, nó chỉ hực hực ra oai, dừng như không thèm chấp đám chuột cống hôi tanh kia.Con Đại Hoàng thì biết sức mình, vả lại nó thuộc dòng giống quyền quí cao sang, nó sinh ra đâu phải để bắt chuột? Tuy nhiên, lũ chuột nhắt trong nhà thấy bóng nó là khiếp vía kinh hồn. Thỉnh thoảng nó tóm được một con để vờn cho vui, như ngầm bảo với bà chủ rằng: “Tôi có ích với bà lắm đấy...” Còn đám chuột cống cả con béc và con Đại Hoàng đều làm ngơ, gia chúng đều như có sự thoả thuận ngầm: “Tốt nhất là chúng ta không nên động tới nhau...”
Tôi đoán thế, mỗi lần ra sau nhà nhìn thấy con đường đi của lũ chuột người tôi bứt rứt không yên. Con đường của lũ chuột hôi hám mòn hũng xuống, từ đây chúng toả đi các ngả tới bệnh viện, vào trại chăn nuôi, xục vào các bếp, kho lúa...gieo rắc bệnh tật và nỗi kinh hoàng cho không ít người. Tôi nghĩ phải chặn con đường của chúng. Xây bịt cái cống kia thì không được, vì đây là lối thoát nước của cả phố và cũng là lối thoát duy nhất của hồ nước về mùa mưa. Chỉ còn cách là lấy lưới sắt rào lại, buộc chúng phải tìm lối đi khác. Nghĩ thế và tôi làm thế. Đêm ấy tôi mở cửa sổ nhìn ra phía sau, trong ánh trăng suông tôi thấy cơ man là chuột. Chúng chạy nhông khắp sân giếng, rúc rít nghe thảm thiết lắm. Thế nhé, từ nay chúng bay tìm đường khác mà đi, tao kinh tởm cái mặt chúng mày lắm rồi. Tôi cảm thấy sướng nở từng khúc ruột.
Vợ tôi về khá muộn, thị ngã vào lòng tôi. Mấy tháng nay tôi thấy thị như người dở chứng, thỉnh thoảng lại như thế, tôi đã cố hết sức mình nhưng không thể nào thoả mãn được ngọn lửa tình đang ngút lên trong người thị. Dường như đã thoả, thị xoa đầu tôi:
- Chiều nay em lên chỗ sếp anh, lấy cho đứa bạn chữ ký, ông ấy khoe với em tới đây được đề bạt lên tỉnh. Nom ông ta có vẻ thô kệch nhưng mà tình cảm lắm nhé...
- Ừ, tình cảm...
Tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện, bởi lúc này tôi buồn ngủ quá. Trong giấc ngủ hình như tôi nghe thấy tiếng rục rịch cứ y như có người đang đào bới một cái gì đó dưới nền nhà. Tôi bật đèn trở dậy và rùng mình thấy một đàn chuột đang chạy nhảy giữa nhà, hình như chúng đang hát một bài ca của loài chuột. Chúng đứng quanh con chuột già to nhất có bộ lông trắng muốt, với dáng vẻ đường bệ, đôi mắt tinh ranh sắc sảo. Con chuột này chắc đã thành tinh, hắn đang ngửa mặt lên trần nhà, hàm răng vàng khè mòn vẹt. Mỗi lần nó rúc lên một tiếng khiến cả đàn chuột cùng rúc theo. Con béc và con Đại Hoàng giương mắt nhìn lũ chuột một cách vô cảm. Tôi điên tiết vớ chiếc ghế đẩu ném vào giữa đàn chuột, chúng chạy tán loạn con lao qua cửa sổ, con lao vào gậm giường, rồi kéo nhau ùn ùn qua lỗ cánh cửa bị chúng vừa khoét. Con chuột già khựng lại, nó giương đôi mắt nhìn tôi như thể hăm doạ, loáng một cái nó biến mất như một vệt sáng. Sớm ngày ra tôi thấy mấy đống đất cao như ụ mối quanh các chân tường.
- Thôi chết rồi, đêm qua lũ chuột đào đường hầm qua nền nhà tôi...
Lúc đó vợ tôi đã dậy, nhìn các đống đất và các hang hốc quanh chân tường, giọng chị thất thanh:
- Không khéo sập nhà mất, chúng đào lủng hết chân móng nhà rồi còn gì. tại sao lại thế này nhỉ?
Tôi chỉ vào chiếc lưới sắt rào ở miệng cống.
- Đêm qua tôi rào cái này vào đây...
Mặt thị đanh lại rít lên.
- Ai bảo ông chặn đường đi của chúng? Đây là con đường sinh sống, dẫu ông có ngàn lần bịt lại cũng không cản nổi bước chân của chúng đâu...
Thị gào lên rồi giật tung tấm lưới sắt ra:
- Chúng ta cần phải sống chung với cả lũ chuột, ông hiểu chứ?
Tôi không thể cãi lại thị, hình như thị nói đúng.
Và bây giờ, đêm đêm tôi nghe tiếng đàn chuột rồng rắn nhau qua chiếc cống cạnh nhà tôi, tiếng chúng rúc rít nghe rợn lắm.
                                                                                                     

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tác giả bí ẩn của ca từ Thuyền Viễn Xứ


Năm 1952, Ngọc Bút đến nhà in báo Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo, quận Nhứt xem tập thơ vừa in xong của mình. Tập thơ mang tên Cởi mở, gom lại 22 bài thơ do cô viết từ năm 16 tuổi. Lúc đó tuy mới 18, cô đã tham gia biên tập thơ cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương và gia nhập nhóm thơ - văn - nhạc lấy tên là Chim Việt. Những bài thơ trong tập đã được đăng rải rác trên một số báo, cô dùng bút danh Khánh Ngọc, rồi sau đó là Huyền Chi. Buổi đó, nhạc sĩ Phạm Duy vừa đến và được bà Đào, chủ nhà in, giới thiệu về cô. Phạm Duy khi ấy còn trẻ, mới 32 tuổi nhưng đã nổi tiếng. Ông vừa đưa gia đình vào Nam và đang thu xếp cuộc sống ổn định ở quê hương mới cho gia đình. Biết cô vừa in xong tập thơ, ông mượn xem và xin cô một tập để nếu có bài nào hay thì xin được phổ thành ca khúc.


Huyền Chi - tác giả bí ẩn của ca từ “Thuyền viễn xứ”

PHẠM CÔNG LUẬN

Trong một tập sách in những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, ông có đưa vào một câu dưới bài Thuyền viễn xứ: “Huyền Chi, cô ở đâu?”. Đó cũng là câu hỏi của tôi khi nghe lại ca khúc đầy ắp cảm xúc này. Huyền Chi là ai? Ít thông tin trên mạng cho biết cô là một cô gái phụ mẹ bán vải ở chợ Bến Thành. Cơ duyên nào khiến bài thơ của cô được nhạc sĩ danh tiếng Phạm Duy phổ nhạc?
Đầu năm 2016, tôi xem được những tấm ảnh của Huyền Chi và biết thêm nhiều thông tin về cô. Trong ảnh, Huyền Chi là một cô gái có nét đẹp của một diễn viên điện ảnh với dáng cao, cân đối và trắng trẻo. Cô gái ấy sinh ra ở vùng Tân Định, Sài Gòn, có lúc ra định cư tại Phan Thiết rồi quay về sống ở thành phố này tới nay.
Cô học tiếng Anh từ trước năm 1954 khi tiếng Pháp là ngoại ngữ phổ biến, đang được học hằng ngày ở các trường Tây tại Sài Gòn. Cô làm thơ khi còn rất trẻ, ra tập thơ duy nhất năm 18 tuổi rồi để thất lạc. Cô có một bài thơ được phổ thành ca khúc Thuyền viễn xứ của nhạc sĩ Phạm Duy dù chỉ gặp ông lần duy nhất trong đời.
Bài thơ buồn của cô gái trẻ
Tôi gặp bà Hồ Thị Ngọc Bút tại quận 2, trước giờ bà dạy tiếng Anh tại nhà. Không thể nghĩ rằng bà đã 82 tuổi. Trước mặt tôi là một phụ nữ trắng trẻo, vóc dáng cao, khỏe mạnh.
Bà Ngọc Bút chính là nhà thơ Huyền Chi của những năm đầu thập niên 1950.
Đầu thập niên 1930 có một kỹ sư Hỏa xa (Ingénieur technique adjoint) tên là Hồ Văn Ánh, từng được đào tạo tại Pháp trong những khóa đầu tiên cho thuộc địa.
Năm 1940, ông làm giám đốc Hỏa xa các tỉnh Phan Thiết, Phan Rang và Nha Trang, có ngôi nhà riêng hai tầng khang trang ở Phan Thiết, một “wagon” riêng trên tàu hỏa đặc biệt cho gia đình tùy nghi sử dụng miễn phí.
Công việc của ông là tổ chức, đào tạo, kiểm soát và duy trì hệ thống Hỏa xa toàn quốc. Vì công việc, ông di chuyển và ở lại nhiều thành phố nên vợ ông lần lượt sinh sáu người con ở các nơi trên đường công tác.
Con gái út Ngọc Bút được sinh ra tại Sài Gòn khi ông làm việc tại đây. Khi ông đến Phan Thiết, Ngọc Bút được đi học tại Trường nữ tiểu học Phan Thiết.
Cuộc sống đang êm đềm thì biến cố xảy ra, bà nội của cô ở quê nhà Bắc Ninh bệnh nặng. Đáng lẽ cả gia đình đều phải về, nhưng trong nhà có một người con cũng đang bị bệnh nên chỉ có ba cô và hai anh chị cô về Bắc trước.
Dự tính khi con bớt bệnh, mẹ cô sẽ dẫn tất cả về luôn. Không ngờ đó là lần cuối cùng cô gặp cha, rồi do bom đạn, loạn lạc, tản cư và cuối cùng là cuộc chia đôi đất nước khiến gia đình cô phân cách vĩnh viễn.
Mẹ cô mở sạp bán vải tại cửa Nam chợ Bến Thành để sinh sống. Cô ở với mẹ, vừa đi làm vừa đi học, vừa dọn hàng giúp mẹ.
Trong thời gian hai miền Bắc - Nam được tự do thông thương năm 1954, mẹ đã trở về Bắc với cha cô, nhưng bốn người con vẫn ở lại miền Nam vì lúc ấy ai cũng đã có công ăn việc làm và cô cũng sắp kết hôn.
Những năm tuổi nhỏ được theo cha mẹ về thăm quê mỗi năm và đi đây đi đó, Ngọc Bút có nhiều cảm xúc về quê hương xứ Bắc. Hơn nữa, sự phân ly, chia cắt gia đình quá sớm khi còn bé đã để lại một ấn tượng sâu trong lòng cô.
Vì vậy cô đã tưởng tượng ra một cuộc chia ly trên quê hương trước khi nó biến thành sự thật. Đó là lý do ra đời của bài thơ Thuyền viễn xứ.
Nhiều người hỏi: “Vì sao cô còn trẻ mà làm thơ buồn thế?”, cô trả lời: “Tôi tưởng tượng thôi mà!”. Nhưng thật ra nỗi đau âm ỉ trong lòng cô trong nhiều năm đã tạo nên những vần thơ ấy.
Huyền Chi, cô ở đâu?
Năm 1952, Ngọc Bút đến nhà in báo Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo, quận Nhứt xem tập thơ vừa in xong của mình. Tập thơ mang tên Cởi mở, gom lại 22 bài thơ do cô viết từ năm 16 tuổi.
Lúc đó tuy mới 18, cô đã tham gia biên tập thơ cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương và gia nhập nhóm thơ - văn - nhạc lấy tên là Chim Việt. Những bài thơ trong tập đã được đăng rải rác trên một số báo, cô dùng bút danh Khánh Ngọc, rồi sau đó là Huyền Chi.
Buổi đó, nhạc sĩ Phạm Duy vừa đến và được bà Đào, chủ nhà in, giới thiệu về cô. Phạm Duy khi ấy còn trẻ, mới 32 tuổi nhưng đã nổi tiếng.
Ông vừa đưa gia đình vào Nam và đang thu xếp cuộc sống ổn định ở quê hương mới cho gia đình. Biết cô vừa in xong tập thơ, ông mượn xem và xin cô một tập để nếu có bài nào hay thì xin được phổ thành ca khúc.
Một thời gian sau, cô nghe được ca khúc Thuyền viễn xứ do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ lục bát của cô trên sóng phát thanh và thấy ca khúc này được in thành tờ nhạc khổ lớn rất thịnh hành lúc đó của hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu. Trên bìa hai ấn phẩm này ghi rõ: Nhạc: Phạm Duy, ý thơ: Huyền Chi.
Đó là khoảng thời gian cô vừa lập gia đình với ông Trần Phụng Tường, giáo sư trung học. Cô rời khỏi công việc biên tập thơ, theo chồng về Phan Thiết. Cô hầu như không tiếp tục làm thơ, lo toan làm ăn, mở hiệu sách, dạy tiếng Anh và chăm sóc tới bảy người con. Có lần trong tờ giấy in ca khúc Thuyền viễn xứ, cô thấy lời nhắn của nhạc sĩ Phạm Duy: “Huyền Chi, cô ở đâu?”.
Thỉnh thoảng, cô vẫn nghe trên sóng phát thanh giọng hát Lệ Thu. Cô nhận thấy nhạc sĩ Phạm Duy rất tài tình, dùng ý bài thơ lục bát với nhịp điệu chậm rãi, đều đặn của cô viết thành một ca khúc đầy cảm xúc. Ông chắt lọc ngôn ngữ trong thơ, thêm thắt và tạo nên một tác phẩm âm nhạc hoàn hảo.
Năm 1975, bà Ngọc Bút cùng gia đình về lại Sài Gòn, nơi chôn nhau cắt rốn của bà và sống ở đây đến nay. Phu quân của bà đã tạ thế năm 2010 sau mười năm nằm một chỗ vì bệnh.
Trong khoảng thời gian này, bà được tin nhắn mong có cuộc gặp của nhạc sĩ Phạm Duy sau khi ông hồi hương về Việt Nam, nhưng bà xin từ chối vì bận chăm sóc chồng. Sau đó, bà có nhận được khoản tiền tác quyền từ lời của ca khúc Thuyền viễn xứ từ nơi sở hữu tác quyền ca khúc này.
Đọc lại bài thơ Thuyền viễn xứ của bà Ngọc Bút, thấy thơ của một cô gái mới 16, 17 tuổi đã rất đằm sâu và mênh mang với giọng điệu và ngôn ngữ phóng khoáng:
“...Có thuyền viễn xứ Đà Giang / Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa / Hò ơi! Câu hát ngàn xưa / Ngân lên trong một chiều mưa xứ người / Đường về cố lý xa xôi / Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang / Sau mùa mưa gió phũ phàng / Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa / Lệ nhòa như nước sông Đà / Mái đầu sương tuyết lòng già mong con...”.
Gặp tài năng của nhạc sĩ Phạm Duy, lời trong ca khúc mang sắc thái khác: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”.
Như một sự đồng điệu đồng cảm của người phổ nhạc. Có thể vì Phạm Duy cũng là một người xa xứ, khi đọc được bài thơ cũng là lúc ông vừa giã từ quê hương miền Bắc để trở thành cư dân của Sài Gòn, nơi ông có thời hoạt động âm nhạc sôi nổi nhất.
Đến nay, ca khúc này rất gắn bó với người Việt hải ngoại. Họ thấy mình trong đó, như vẫn đang đi trên con thuyền viễn xứ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGỨA


Truyện
Phapxa Chan
Thoạt tiên, Hắn nghĩ cơn ngứa xuất phát từ gần bẹn trái. Đưa tay toan gãi, nó biến mất. Một hiện tượng không lạ. Có thể lờ đi.
3 phút sau, một tín hiệu ngứa phát sau vai phải. Lại báo động giả. Vẫn lờ đi được.
2 phút, lặp lại. Vẫn chịu được.
1 phút. Độ phớt thậm chí tăng lên.
3 giây/một báo động ngứa. Và khốn kiếp thật! Tốc độ của tay vẫn không đua được với sự nhanh chóng biến mất của những cơn ngứa đểu cáng.
Hắn múa như một con khỉ. Hai cánh tay và mười ngón vồ như điên tìm những cơn ngứa siêu chảo chớp.
Thịt tróc. Da toét. Cơn ngứa giờ đã đạt đủ tốc độ phân thân toàn thân Hắn và không còn tay nào để gãi nổi nữa.
“Chết mẹ, mình bị hủi à?”. Đã có suy nghĩ ấy. Nhưng tình trạng còn nặng hơn hủi vì những cơn ngứa sau khi xâm lược từng milimet trên da hắn, bắt đầu đi vào nội tạng và não.
Tột cùng. Hắn hết ngứa nổi nữa. Vì cơn ngứa đã tràn ra ngoài. Nhìn đâu hắn cũng thấy duy một ý niệm: Ngứa. Cụ thể là nhìn ai Hắn cũng thấy họ đang ngứa. Vật gì cũng đang ngứa. Chuyện gì cũng ngứa.
Hắn lại gãi tiếp. Tưởng chừng giai đoạn mới này cơn ngứa đã yếu thế hơn Hắn. Vì ở một diện rộng, tay Hắn không múa như khỉ quanh người nữa.
Mặc một chiếc áo tươm tất trong ngày trọng đại, với tư cách kẻ duy nhất trên hành tinh không ngứa, Hắn rưng rưng nhận phong thánh. Dĩ nhiên: Thánh Gãi.
Cùng bản chất với cơn ngứa bên trong, những báo động cũng xuất hiện đâu đó như hệ thống tin tình báo của các siêu anh hùng. Và cùng đường lối trên, cơn ngứa luôn biến mất nhanh hơn hành động gãi. Nhưng phải nói Hắn khôn lên quá nhanh sau những cuộc truy đuổi ngứa trên da.
Vừa một báo động ngứa nhá lên trong thành phố, Hắn vươn tay tới với một bộ tịch gãi cực kỳ điệu nghệ. Dĩ nhiên, động tác giả thôi mà. Nhưng nhận ngay là một tràng pháo tay.
Hắn đi đến văn phòng thị trưởng với một tập kiến nghị “Những việc cần làm ngay để hết ngứa”.
Hắn bước lên bục giảng với giáo trình “Triết học ngứa”.
Hắn đi đến khu ổ chuột với thuốc xịt muỗi để nhân dân hết ngứa.
Hắn lướt nhẹ trên giầy khiêu vũ và thủ thỉ vào tai một cô nàng bỏng rẫy: “Làm ơn để cho tôi giải thoát em khỏi cơn ngứa!”. Nàng nằm ngửa. Hắn gãi. Một cách chậm chạp của con khỉ.
Tháng năm êm đềm cho Thánh Gãi. Chắc từ lâu Hắn quên một sự thật là: Cơn ngứa xuất phát từ bẹn trái vẫn tiếp tục hành trình di chuyển và sinh sôi. Sau khi tràn ra đầy thành phố, cơn ngứa xâm lược các quốc gia và vùng lãnh thổ lân cận. Rồi cả Hệ Mặt Trời đã ngứa rồi. Cả thiên hà cũng ngứa nốt.
Đến một ngày cơn ngứa hết nhiên liệu. Và nó chết đột ngột. Buồn chưa! Cả vũ trụ tự nhiên hết ngứa.
Điều đó lại được báo hiệu từ bẹn trái đầu tiên. Rồi vai phải. Rồi thành phố. Rồi cả cô ả hôm nọ cũng hết ngứa mất rồi.
Hắn bước lên bục giảng với triết học ngứa. Sinh viên thộn mặt. Cả hành tinh bị xóa mất ký ức về ngứa.
Không!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Hắn lại bị biến thành khỉ lần nữa. Lần này là cuộc đua của cánh tay với sự ra đi của ngứa. Hắn cố vồ lấy nhưng chúng vẫn nhanh hơn.
Bình tĩnh lại Hắn nằm ủ những triết luận khác để ba hoa: “Ngứa – Hoài niệm cổ xưa”, “Hành trình khai quật trầm tích Ngứa”, “Ngứa – cảm hứng từ tôn giáo cổ đại”.
Không được. Thế giới này sao trống rỗng quá thể từ ngày ngứa chết.
Hắn thất thểu ra đi.
Đi mãi để tìm ai đó trên hành tinh hiểu được một tri thức cổ xưa đã mất.
Sáng hôm sau người ta tìm thấy Hắn nằm giữa ổ kiến.
Nhắm mắt thanh thản và mãn nguyện.
29.12.2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiện tượng Facebook: Ngôn ngữ đang giãy chết?




Nguyễn Hữu Liêm
"In the beginning was the Word." (John I)
Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ Tây phương, như là một hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất – những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.
Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.
Con người là con vật biểu tượng. Ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng – mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. "Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến với những cá nhân khao khát tinh thần "quây quần bên nhau" lắng nghe vị thầy phát ngôn về Sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời – là "Logos."
Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết – vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.
Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng – còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và "quây quần lắng nghe," đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.
Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng trống không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí. Và gần đây hơn là các mạng xã hội online – như Facebook (FB).
Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố thời nay thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Khi hắn từ giã làng xóm ở nông thôn với thiên nhiên để lên thành thị sống trong khung cảnh nhân tạo, tình yêu trần gian đã trở nên niềm đam mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần "sắc" và "pháp" và lại bỏ ra ngoài "thanh, hương, vị, xúc." Thế gian được người đọc báo tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động. Để rồi người thành thị mỏi mệt với phố chợ, với báo giấy, hắn trở nên cô đơn để chuyển qua đời sống online với các mạng lưới xã hội. FB trở nên thực tế trần gian cho con người thành thị bây giờ. Nói ngắn gọn: FB chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian này chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng khung FB.
Nhưng thế gian mà FB dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu – chỉ vì ngôn ngữ của các tâm hồn duy phản ứng (reactive souls) chỉ phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên lý lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố và cảm nhận cá nhân nhất thời. Mỗi post trên FB là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của người tham dự. FB của ai thì ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ của FB thời nay đánh mất chiều sâu nguyên lý, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới online.
Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí, của FB, của text messaging, twitter, snapchat, đang độc chiếm diễn đàn. Chữ viết và trang báo giấy, cùng chia số phận của sách in, nay cũng đang chết dần mòn. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ngữ báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.
Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. "Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) – tức là ngôn ngữ – không có nổi chiếc gối để tựa đầu." (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào – huống chi là ngôn ngữ báo chí.
Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.
Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là vấn đề tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận – như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay – phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có những con người hay tập thể nào chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng tự do này.
Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Ngôn ngữ đã chết – vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Giải độc” IS bằng tư tưởng thần học Trung Cổ

Nguồn: Mustafa Akyol, “The Medieval Antidote to ISIS”, The New York Times, 21/12/2015.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Những cuộc tàn sát gần đây ở Paris và San Bernardino, California một lần nữa cho thấy khả năng của cái gọi là Nhà nước Hồi Giáo trong việc lôi kéo những người Hồi Giáo bất mãn. Bằng cách sử dụng một sự pha trộn giữa việc diễn giải kinh Quran sát theo nghĩa đen và tự khẳng định “chính nghĩa” của mình, nhóm cực đoan này đã có thể thuyết phục các thanh niên, thiếu nữ từ khắp Pakistan đến Bỉ tuyên bố trung thành với nó và hành động bạo lực nhân danh nó.
Đây là lý do mà hệ tư tưởng tôn giáo của Nhà nước Hồi Giáo cần phải được xem xét nghiêm túc. Sẽ là sai lầm khi cho rằng những tư tưởng của nhóm này đại diện cho Hồi Giáo chính thống, như những người bài Hồi Giáo thường hay làm, và cũng không đúng khi nghĩ rằng Nhà nước Hồi Giáo “không liên quan gì đến đạo Hồi” như là những người Hồi Giáo sợ những người bài Hồi Giáo thường nói. Thực tế, những kẻ cầm đầu thánh chiến rất am hiểu tư tưởng và giáo lý Hồi Giáo cho dù chúng sử dụng hiểu biết của mình cho những mục đích lầm lạc và tàn ác.
Một nơi tốt để bắt đầu tìm hiểu tư tưởng của nhà nước Hồi Giáo là tạp chí Dabiq, tạp chí điện tử bằng tiếng Anh mà nhóm này xuất bản hàng tháng. Một trong những bài đáng chú ý nhất mà tôi đã đọc được là một bài dài 18 trang vào tháng 3 mang tựa đề “Irja: Dị giáo nguy hiểm nhất”.
Trừ khi bạn có một chút kiến thức về thần học Hồi Giáo thời Trung Cổ, bạn có thể không biết ý nghĩa của từ Irja. Từ này dịch theo nghĩa đen là “trì hoãn.” Nó là một nguyên tắc thần học được đưa bởi một số học giả Hồi Giáo trong thế kỷ đầu tiên sau khi Hồi Giáo ra đời. Trong thời gian đó, thế giới Hồi Giáo đang phải trải qua một cuộc nội chiến lớn khi những người Sunni và Shiite khởi thủy tranh đấu để giành quyền lực, và một nhóm thứ ba gọi là Khawarij (người bất đồng) tuyệt thông và giết hại người của cả hai bên. Đối mặt với sự hỗn loạn đẫm máu này, những người đề xuất irjacho rằng câu hỏi nóng hổi về việc ai là người Hồi Giáo thật sự phải được “trì hoãn” đến kiếp sau. Họ lập luận rằng ngay cả một người Hồi Giáo đã từ bỏ mọi hoạt động tôn giáo và phạm nhiều tội lỗi thì người đó cũng không thể bị lên án là một người “bội giáo”. Đức tin là chuyện của cái tâm, điều mà chỉ có Chúa – chứ không phải người phàm – có thể phán xét.
Những học giả đề xuất điều này được gọi là Murjia, hay những người ủng hộ irja, hoặc đơn giản là những “người trì hoãn”. Thứ thần học mà họ phác họa đã có thể là nền móng của một đạo Hồi khoan dung, không thúc ép, và đa nguyên – một chủ nghĩa Hồi Giáo tự do. Đáng tiếc thay, họ không có đủ ảnh hưởng trong thế giới Hồi Giáo. Hệ tư tưởng này nhanh chóng biến mất, và đi vào tiềm thức của dòng Sunni chính thống như là một trong những “giáo phái dị giáo”. Các murjia đã để lại dấu ấn trong nhánh khoan dung hơn của Hồi Giáo Sunni, đại diện bởi chủ nghĩa Hanafi-Maturidi, thịnh hành nhất tại khu vực Balkan, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Á, nhưng ngày nay gần như không có một nhóm nào tự nhận mình là murjia. Từ irja cũng ít khi được nhắc đến trong những tranh luận về thần học Hồi Giáo.
Vậy thì tại sao Nhà nước Hồi Giáo lại quá lo lắng về “dị giáo” cổ xưa này? Câu trả lời cho câu hỏi này có thể được tìm thấy trong chính bài viết của Dabiq, khi các tác giả đã buộc tội các nhóm phiến quân Hồi Giáo khác đã “phạm tội” Irja. “Những nhóm này không cai trị bằng luật sharia cho dù họ quản lý những khu vực “đã được giải phóng””, những tác giả thuộc nhà nước Hồi Giáo đã viết một cách thù địch như vậy. Nói cách khác, họ không giết những “người bội giáo”, ban hành nhục hình, hay buộc phụ nữ phải trùm kín từ đầu đến chân.
Những nhóm mà Nhà nước Hồi Giáo cho là “phạm tội” irja – trong đó có nhiều nhóm theo chủ nghĩa Hồi Giáo bảo thủ – có thể sẽ không sẵn lòng chấp nhận cái mác này. Trong những cuốn sách tôn giáo của họ, irja cũng có thể xuất hiện như là một dị giáo. Nhưng chúng ta nên công nhận rằng bằng cách “trì hoãn” việc áp đặt tôn giáo và trừng phạt những người tội lỗi, họ đang thực thi irja trên thực tế. Họ có thể hành động không theo nguyên tắc, mà vì thực dụng.
Sự thật là có hàng trăm triệu người Hồi Giáo trên khắp thế giới đang tuân theo irja, cho dù họ không hiểu thuật ngữ này. Một vài trong số họ tập trung vào kinh Quran, chứ không phải bộ luật Shariah thời Trung Cổ, và họ tuân theo lời kinh Quran nổi tiếng rằng, “Không có ép buộc trong tôn giáo”. Những người Hồi Giáo khác thì chịu ảnh hưởng văn hóa của chủ nghĩa tự do phương Tây. Một số nữa thì chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Sufi, nhánh Hồi Giáo thần bí này tập trung vào sự mộ đạo của cá nhân chứ không phải việc họ chấp hành luật lệ. Trong bài lên án irja, Nhà nước Hồi Giáo cũng nhắm đến những người Hồi Giáo khoan dung này. Họ là những người, theo Dabiq, đã “khiến đạo Hồi chỉ còn là một tuyên bố chứ không có sự thật.” Họ phải được nhắc nhở rằng, “lòng nhân từ và sự tha thứ của Đức Allah không phải là một cái cớ để phạm tội”.
Với tư cách là một người Hồi Giáo như thế, tôi kêu gọi những người cùng tôn giáo và suy nghĩ như tôi hãy đeo mác irja một cách tự hào – và hồi sinh việc tìm hiểu nó. Chúng ta đã đánh mất tư tưởng thần học chủ chốt này hơn một thiên niên kỷ trước; nhưng chúng ta rất cần nó ngày hôm nay để chấm dứt cuộc nội chiến tôn giáo của chúng ta và để đảm bảo tự do cho mọi người.
Hiểu rằng irja là liều thuốc “giải độc” thần học chống lại chúng, Nhà nước Hồi Giáo đã gọi điều này là thiếu sùng đạo. Thật ra điều này là sùng đạo thật sự đi kèm với sự khiêm nhường – điều được bắt nguồn từ việc tôn sùng Chúa như là người duy nhất có thể phán xét con người. Ngược lại, sự cuồng si của Nhà nước Hồi Giáo trong việc áp đặt những điều mà chúng cho là sùng đạo dường như được thúc đẩy bởi sự kiêu ngạo, sự kiêu ngạo bắt nguồn từ việc phán xét tất cả những người khác, và để nắm quyền đối với họ nhân danh Chúa.
Mustafa Akyol là tác giả của cuốn sách “Islam without Extremes: A Muslim Case for Liberty”.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/12/giai-doc-is-bang-tu-tuong-than-hoc-trung-co/#sthash.lZrKigcm.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG CHÍNH SÁCH KỲ DỊ


Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Những chính sách ban hành ra từ trước đến nay khá nhiều và thường thì hầu hết chúng bị người dân phản đối, mặc dù các quan chức vẫn thường nói người dân chúng ta “dân trí thấp”.
Thế nhưng, với trình độ dân trí họ cho là như vậy, mà mỗi khi ban hành ra thì người dân lại chỉ trích và phản đối một cách gay gắt chúng.
Vậy phải chăng trình độ của người quản lý và điều hành, làm chính sách còn tệ hơn cả người dân mà với “dân trí thấp”?
Đã có rất nhiều đề xuất ngu ngốc đã từng được đưa ra để thảo luận: phụ nữ ngực lép không được đi xe máy; phụ nữ quá 33 tuổi không được sinh đẻ; xe máy phải chính chủ khi lưu thông; phải có hộ khẩu Hà Nội mới được mua nhà ở thủ đô và ngược lại; cấm xe biển chẵn đi ngày lẻ và biển lẻ đi ngày chẵn; xe buýt nhanh BRT ở Hà Nội vừa triển khai đã đổ bể; hệ thống đường đi bộ dưới mặt đất thì bỏ không; đề xuất bắt buộc mỗi người phải hiến máu một lần một năm;…
Nhưng những chính sách loại như vậy vừa đưa ra là người dân đã phản đối một cách quyết liệt ngay tức thì và kèm theo một số lý luận khá hợp lý. Một số khác thì cho rằng nó bất ổn mà không hẳn rõ vì sao mà cứ phản đối như một cách thể hiện quan điểm phần nhiều là thiếu căn cứ mà dựa trên cảm tính cá nhân. Hoặc một số chính sách đưa vào thực hiện trong thực tế thì đã thất bại ngay từ khi triển khai. Bởi nó không có tính khả thi.
Ở Đức, Pháp, các nhà hoạch định chính sách luôn có một bộ phận gọi là bộ phận đánh giá tính thực thi của các chính sách khi được ban hành ra. Ví dụ, họ tính toán xem nếu đạo luật về chống trốn thuế mà được đem vào thi hành trong thực tế thì có tốn kém hơn là số người/số tiền đang bị trốn thuế hay không. Và nó có cần thiết để đem ra áp dụng lúc này hay sẽ gây ra những tổn thất nhiều hơn là việc nó không nhất thiết tồn tại. Và nhờ vào đó họ cân nhắc xem có cần đến việc ban hành một đạo luật nào đó và đem áp dụng vào trong thực tế đời sống hay không. Nên họ không rơi vào tình cảnh bị người dân phản đối hay đưa ra những đề xuất ngu ngốc như những người quản lý, điều hành đất nước như ở xứ ta.
Chuyện con Rồng kỳ dị với các bộ phận từ đầu đến đuôi là những con vật khác nhau, nó chỉ là một ví dụ đơn lẻ nhưng là phản ánh toàn diện và tổng thể cách tư duy và điều hành nhà nước của quan chức trong chính quyền. Nó méo mó và dị dạng, nó thiếu chất xám và chỉ khoả lấp mang tính tạm thời.
Làm chính sách, phải có cái nhìn bao quát, nắm được tình hình thực tế, tính đến khả năng thực thi khi áp dụng, khả năng sống sót của một chính sách về sự lâu dài. Tất cả những cái đó thì không thể thiếu ở một nhà lãnh đạo, một chính phủ điều hành đất nước mang tính kỹ trị và có tầm nhìn hơn người khác.
Việc đưa ra đề xuất bắt buộc người dân hiến máu mỗi năm một lần là một đề xuất vi phạm Hiến pháp về quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, được đảm bảo về nhân phẩm, danh dự của con người.
Quyền được sống an toàn và mưu cầu hạnh phúc là những quyền con người mà được bảo vệ bất khả xâm phạm từ bất kể ai. Nhất là từ phía chính nhà nước của mình.
Những đạo luật, chính sách vi hiến, trái luật vẫn được ban hành đầy rẫy và rất thường xuyên mà không ai kiểm soát được, nó chính là kết quả vận hành của một chính phủ yếu kém, thiếu trí tuệ và phẩm chất, không tôn trọng nhân dân của mình.
Có lẽ chúng ta đã quá quen với việc thích ứng các chính sách và đạo luật hàm chứa nhiều rủi ro và đầy tính cưỡng bách trong đó nên thành ra mỗi khi được phản kháng một điều gì đó mà có thể khiến nó tạm ngừng thực thi thì đã cảm thấy vui mừng một cách thoả mãn. Nhưng không nhìn sâu hơn cái gốc rễ vấn đề đó là lỗi ở thể chế và cơ chế vận hành của bộ máy. Nên việc nổ bỏng thường sẽ cho ra những sản phẩm lỗi tiếp theo mà phần lớn là không thể tiêu dùng được.
Ở xứ ta, họ thường ban hành chính sách dưới ba dạng:
1. Đề xuất tiêu cực;
2. Đề xuất ít tiêu cực hơn;
3. Đề xuất gần như không khả thi.
Khi ban hành ra, chắc chắn người dân sẽ chỉ để tâm và phản đối đề xuất thứ 3 và có thể kèm theo phương án thứ nhất. Và tạm chấp nhận cái thứ 2. Và cái còn lại này nó sẽ được đem thực thi trên thực tế trong sự đồng tình mang tính chấp thuận trong tình cảnh ít có lựa chọn khác cho người dân.
Và điều này được lặp đi lặp lại trong suốt quá trình điều hành, quản lý đất nước, nên đa phần người dân là với tâm lý “chấp nhận được” mặc dù biết nó có nhiều tiêu cực và chưa thoả đáng.
Vậy nên, bắt buộc phải thay đổi gốc rễ của vấn đề, chứ không thể chỉ suốt ngày đi phản đối một vài chính sách đơn lẻ được trưng ra rồi coi đó là thành quả của chúng ta.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điều này có phù hợp với nhân tính không?

Tư liệu lịch sử :Hậu quả vì không khóc khi Mao Trạch Đông qua đời

Khi Mao Trạch Đông qua đời, không có quy định là ai cần phải khóc, nhưng dường như mỗi người dân Trung Quốc khi đó đều biết được mối nguy hiểm nếu như không khóc. Tác giả của bài viết này lúc đó 10 tuổi, và có những ký ức cho đến bây giờ vẫn không thôi ám ảnh cô.
Khi Mao Trạch Đông chết, người dân khắp nơi xếp thành từng hàng dài để tưởng niệm. (Ảnh: Internet)
Vào năm 1976, có hai câu chuyện để lại ký ức sâu sắc nhất trong tôi. Một là người dân khắp huyện hoặc mặc áo trắng hoặc mặc áo đen, với các loại dáng vẻ khóc lóc, xếp thành từng hàng dài, đông nghìn nghịt đến rạp chiếu phim trong huyện để tưởng niệm Mao Trạch Đông; hai là tại một cuộc họp đấu tố diễn ra ở trường học nọ, một bé gái với vẻ mặt sợ hãi đau khổ cố gắng trấn tĩnh, mà nguyên nhân chính là vì khi Mao Trạch Đông chết, bố cô bé đã không khóc.
Nhân dân lấy các dạng các loại tư thế khóc lóc. (Ảnh: Internet)
Năm đó tôi 10 tuổi, nhà ở trong huyện, bởi vì mẹ tôi là giáo viên trường công, có thể bị điều động bất cứ lúc nào, nên tôi đi theo mẹ học ở một trường tiểu học quê làng cách huyện thành không xa lắm. Tôi nhớ mang máng bé gái đó tên là Phùng Hương Trân. Cô bé này cùng trong đội tuyên truyền của trường với tôi, thường biểu diễn các vở ca múa miêu tả nông dân kéo xe ba gác vui vẻ quyên góp lương thực cho nhà nước; giọng hát của cô bé cao vút, còn có thể độc xướng. Điều khiến tôi ấn tượng nhất là, cô bé ấy là cô “công chúa nhỏ” trong nhà. Bởi là con gái út, bố mẹ tuổi tác rất lớn mới sinh ra cô, anh trai chị gái đều đã lớn tuổi hơn cô rất nhiều, vậy nên rất được thương yêu cưng chiều. Mỗi ngày cô đều thắt bím tóc đến lớp; còn tôi lại phải tranh giành, chia sẻ với chị em từng chút thức ăn một, đầu tóc chỉ chải qua loa để khỏi phiền đến người lớn.
Mao Trạch Đông qua đời, không có quy định là ai cần phải khóc, nhưng dường như mỗi người đều biết được mối nguy hiểm nếu như không khóc. Ngay đến cả những đứa trẻ “da trâu” bị bố lấy cây chổi lông gà đánh đến tay sưng đỏ cả lên mà vẫn không chảy nước mắt, thì lúc này đây cũng giống như người lớn, gương mặt hướng đến di ảnh có viết rằng “kế thừa di chí của người lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông”, lấy tay áo che mặt lại gào khóc thảm thiết. Nhưng không biết tại sao, bố của Phùng Hương Trân lại không ý thức được mối nguy hiểm này, cũng bởi vậy mà đã gieo phải mầm họa.
Dường như ngay cả học sinh tiểu học đều biết được mối hiểm nguy hiểm đang rình rập nếu như không khóc. (Ảnh: Internet)
Tôi không nhớ rõ là trước hay sau lễ truy điệu của Mao Trạch Đông, hôm đó toàn thể học sinh trong trường xếp thành hàng ngũ, Phùng Hương Trân đứng ở phía sau tôi. Bố của cô đột nhiên bị giải lên trên bục, ông ấy xem ra không giống như bố của nhiều học sinh khác, hoàn toàn là một ông lão dáng người cao gầy, đầu tóc trắng xám, sắc mặc đen đúa, nếp nhăn ở hai bên miệng hằn sâu, hai mắt rũ xuống không nhìn người khác, hai cánh tay ông bị hai người trẻ tuổi tóm chặt ra đằng sau lưng, bộ dạng khó coi cúi gầm mặt xuống, đứng đó để bị lên án, bị đấu tố.
Tôi hoàn toàn không nhớ được nội dung nói chuyện trong buổi đấu tố đó, chỉ nhớ được lúc đó đại đội trưởng dân binh cốt cán của đại đội đứng trên bục, trên mặt anh ta mọc đầy mụn nhọt. Đây rõ ràng chính là anh trai hoặc là người chú của một người bạn học mà tôi từng gặp ở nhà bạn ấy. Anh ta trông thật trẻ trung, mạnh mẽ đứng bên cạnh “ông lão xấu xa” đang khom lưng xuống ấy. Không biết có phải đã được bố trí sẵn trước đó hay không, khi cuộc đấu tố diễn ra đến cao trào, đại đội trưởng dân binh không ngăn được phẫn nộ, đột nhiên giáng một cú đá mạnh xuống chỗ đầu gối của ông Phùng, chỉ nghe thấy ông kêu thảm một tiếng rồi ngã quỵ xuống đất, rất mau lại bị tóm lấy cổ áo, túm lấy tóc lôi lên, không lâu sau trên trán đã xuất hiện một cục u lớn.
Tôi nhớ rằng tôi lúc đó tôi quay đầu lại nhìn Phùng Hương Trân, mặt cô tái mét, môi run run, cúi gầm mặt nhìn xuống đất, nhưng không khóc. Tôi không nhớ được tâm trạng bản thân mình lúc đó như thế nào, dường như là tê dại, không biết phải làm sao, quay đầu lại tiếp tục nhìn trên bục.
Sau khi trở về nhà nghe thấy bố và mẹ đàm luận về chuyện này, nói là bố của Phùng Hương Trân bị đấu tố là bởi vì Mao Trạch Đông qua đời, khi cái loa công suất lớn của đại đội phát nhạc tang, người hàng xóm nghe không rõ chuyện gì liền đến hỏi, ông Phùng mặt mày tươi cười nói rằng: “Mao Trạch Đông đã chết rồi”.
Ở đây ông ấy đã phạm phải hai sai lầm chết người, một là cười, hai là nói “chết rồi” . Điều này thời đó chính là tội phản cách mạng, không cần tòa tuyên phán, cũng không cần bất cứ trình tự pháp luật nào, đại đội có thể bắt giải đến hiện trường để đấu tố đánh đập.
Ngày hôm nay nhìn lại, có thể thấy đây là chuyện hoang đường hết sức. Ở một làng quê, mọi người đời đời cùng sinh sống trên một mảnh đất, tình cảm gắn bó.. Vậy điều gì khiến cho họ đã tố cáo người hàng xóm của mình chỉ bởi một câu nói không cẩn trọng với một “người khác” vốn không quen biết, thậm chí còn đấu tố đánh đập tàn nhẫn? Chính quyền địa phương đó tại sao lại phải thi hành hình phạt công khai đối với một người già cả vô tình “vi phạm lệnh cấm” trước mặt các em nhỏ còn chưa đến tuổi thành niên? Hiệu trưởng, giáo viên vốn là những người được xem là đại biểu cho văn minh và lý tính của xã hội, tại sao lại để cho một bé gái 10 tuổi tận mặt nhìn thấy cha mình bị lăng nhục, đánh đập công khai như vậy mà không chút e ngại.
Tại sao tôi khi đó đã được 10 tuổi lại không có một chút đồng cảm với người bạn của mình? Điều này có phù hợp với nhân tính không? Nếu như không phù hợp với nhân tính, tại sao tất cả những điều này lại có thể xảy ra một cách rõ ràng ở Trung Quốc – một đất nước có văn hóa lịch sử lâu đời được cả thế giới khen ngợi là đất nước lễ nghi?
Theo secretchina.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang