Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Tại sao nhiều cán bộ, con cán bộ ở biệt thự, đất đai mênh mông?


>> Con trai ông Vũ Huy Hoàng xin rút khỏi HĐQT Sabeco
>> Thủ tướng yêu cầu nắm danh sách người ‘ngáo đá’
>> Đêm không ngủ của Hàn Đức Long và chuyện phía sau 4.000 ngày oan trái


NHẪN NAM
(PLO)- Đó là một trong những câu hỏi được cử tri đặt ra tại cuộc tiếp xúc cử tri của Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân sáng 5-8.

Các đại biểu Quốc hội (QH) thuộc đơn vị số 1 TP Cần Thơ gồm Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ Nguyễn Thanh Phương và Giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP Cần Thơ Nguyễn Thanh Xuân đã có buổi tiếp xúc với cử tri quận Cái Răng vào sáng 5-8.

Tại buổi tiếp xúc, nhiều cử tri đã gửi gắm ý kiến về các vấn đề tham nhũng, ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế…

Trong vấn đề tham nhũng, cử tri Phạm Văn Sung (phường Hưng Thạnh) cho rằng hiện nay có một số cán bộ, đảng viên làm mất lòng tin trong nhân dân như vụ Phạm Công Danh (Ngân hàng Xây dựng), Trịnh Xuân Thanh (nguyên phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang), ba cán bộ thanh tra giao thông ở Cần Thơ…

“Đảng và Chính phủ không tiêu diệt những "con vi trùng" này thì lâu dần sẽ nguy hại cho đất nước. Đồng thời, nếu việc này kéo dài sẽ làm mất lòng tin trong nhân dân”- ông Sung góp ý.

Cử tri Dương Minh Hùng cũng đặt vấn đề tại sao có nhiều cán bộ, con cán bộ mà tài sản nào là nhà biệt thự, xe ô tô tốt, đất đai mênh mông. "Người dân bây giờ người ta nhìn vào dữ lắm, ai tham nhũng người ta biết hết. Cán bộ nên để dân thương, dân bảo vệ chứ đừng phô trương khiến dân xa rời…" - cử tri này nói.

Trả lời cử tri, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân cho hay các vụ án lớn đã được chỉ đạo làm rõ đưa ra xử lý. Vụ Trịnh Xuân Thanh, Tổng Bí thư đã chỉ đạo. Vụ Phạm Công Danh tòa đang xử. Cử tri yên tâm là sẽ được làm tới nơi, tới chốn.

Trong vụ Trịnh Xuân Thanh, bà Ngân cho biết các sai phạm trước mắt đã được xử lý như không tái bầu cử chức danh phó chủ tịch tỉnh, bác tư cách ĐBQH. Về hậu quả làm mất tiền, sau khi có kết luận sẽ xử lý tiếp. Quy trình luân chuyển về Hậu Giang của ông Thanh sau khi kết luận thuộc trách nhiệm của ai thì sẽ xử lý tiếp.

“Vai trò của báo chí rất lớn. Sau khi báo chí đưa lên chúng ta mới phát hiện và chỉ đạo làm rõ” - bà Ngân nói.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHÁT HIỆN ĐẶC BIỆT Ở THÁI BÌNH VỀ TRẬN ĐÁNH NGUYÊN MÔNG





VTC
Thứ ba, 10/01/2017, 07:10 AM

VTC News - Trận đánh đồn Đại Mang là một trận chiến then chốt, rất quan trọng, mở đường cho cuộc tiến đánh Tây Kết, Hàm Tử, giải phóng Thăng Long khỏi vó ngựa quân Nguyên. 


I. Xác định vị trí đồn Đại Mang và địa danh A Lỗ xưa

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Ngày 20 hai vua tiến đánh Đại Mang Bộ. Tổng quản giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên soái Toa Đô. Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa, hai vua đuổi theo nhưng không kịp, bắt được hơn 5 vạn dư đảng giặc đem về. Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát".

Ở phần chú thích sách này có ghi: "Đại Mang Bộ là tên bến trên sông Hồng nhưng chưa rõ ở đâu". 

Sách: Đại Việt sử ký tiền biên của sử gia Ngô Thì Sĩ ghi: “Vua cùng Thượng hoàng tiến quân đánh vào đồn Đại Mang. Tổng quản nhà Nguyên là Trương Hiển đầu hàng”. Nhưng sách này cũng không cho biết rõ bến Đại Mang nằm ở địa phương nào.

Sách: "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII (Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm đã cho chúng ta thấy rõ hơn về căn cứ Đại Mang Bộ trên đất A Lỗ. Sách này ghi: "Các cứ điểm của giặc (quân Nguyên) đóng dọc khúc sông Hồng chảy qua Hưng Yên ngày nay. Chiếm được phòng tuyến này, quân Trần có thể thực hiện việc cắt đứt con đường nối Toa Đô và Thoát Hoan, đồng thời có thể tiến đánh chiếm Thăng Long". 

Rõ ràng trận đánh đồn Đại Mang là một trận chiến then chốt, rất quan trọng. Nếu thắng trong trận này quân ta mới có thể đánh Tây Kết, Hàm Tử, Thăng Long được. 
.
Quang cảnh nền đất chùa Giỗ xưa

"Trong tháng 4 năm Ất Dậu, Hưng Đạo Vương đã đem quân tấn công đồn Đại Mang (A Lỗ). Đồn này nằm gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc. Có lẽ đây là cứ điểm đầu tiên trên phòng tuyến của quân Nguyên trên sông Hồng nối với sông Luộc ngày nay. Viên tướng Nguyên giữ đồn này là Vạn Hộ Lưu Thế Anh đã phải rút chạy". "Cũng cùng ngày hôm đó và trong tháng 4 âm lịch, một loạt các đồn trại khác của giặc trên sông Hồng bị quân ta tấn công" ở Tây Kết, cửa Hàm Tử, Chương Dương và thành Thăng Long.

Theo GS. Hà Văn Tấn: Sách "Kinh thế Đại điển tự lục" và sách "An Nam chí (Nguyên)" chép rằng: "Sông Hải Triều phân lưu từ sông A Lỗ, sông Hải Triều là sông Luộc. Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua chỗ nối với sông Luộc. Do đó, chúng tôi (Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm) xác định đồn A Lỗ mà "Kinh thế Đại Điển Tự Lục" chép là ở gần chỗ này". 
Nhưng ông Hà Văn Tấn cũng không chỉ rõ được địa danh A Lỗ hiện nay nằm ở địa phương nào.

Qua tìm hiểu được biết, hiện nay ở khu vực xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà còn tồn tại địa danh A Lỗ (Làng Nỏ) đã từng chứng kiến quân dân thời Trần tập kích để tiêu diệt quân Nguyên - Mông.

Theo thần tích, thần phả và tư liệu điền dã do cụ Phạm Thám, 97 tuổi, làng Xuân Lôi, Hồng Minh, và các cụ già trong xã, thì khu vực làng Thâm Động có lăng mộ và đền thờ 7 vị vua thời Trần. Trước đây đất làng Thâm Động nhìn sang bên kia sông là đến đò Hữu Bị (tỉnh Hà Nam) và một bên đất thuộc tỉnh Hưng Yên, một bên thuộc Thái Bình. Cửa sông Phạm Lỗ, tức A Lỗ ngày nay mà các tài liệu xưa thường gọi là cửa Tuần Vường.

Ngày trước, cả làng có 600 mẫu ruộng thì 300 mẫu giao cho đền Thái Lăng (nơi thờ vua Trần) và 300 mẫu giao cho dân làng cày cấy hàng năm đóng góp cúng tế ở đền Vua và không phải nộp thuế cho triều đình.

Vì nằm sát bến sông, khi dòng nước bị thay đổi do bão lụt, triều dâng, dẫn đến đất bên Thâm Động bị lở và bồi sang Hà Nam, phần đất còn lại được cắt sang làng Phú Hiếu (trước đây có con sông Giai chảy từ cầu Lê - xã Tiến Đức qua thôn Phú Hiếu xã Độc Lập) đến làng Gạch (Cổ Trai - Hồng Minh) rồi chảy ra sông Trà Lý ở cửa sông thuộc làng Phú Nha - Thâm Động.

Qua nhiều lần vỡ đê do phù sa bồi vào nên cửa sông bị lấp, vì thế dòng sông bị uốn dòng chảy ra sông Tịnh.

Trước đây, cánh đồng Lỗ thuộc vùng A Lỗ nằm sát cửa Phạm Lỗ (tức cửa A Lỗ). Do đất bên bờ sông bị lở, dòng chảy lại bị nắn dòng nên đất A Lỗ bị lở và bồi sang phía bờ bên kia thuộc đất của huyện Lý Nhân (Hà Nam). Hiện tại ở chân đê phía trong đồng còn lại nền của ngôi chùa Giỗ - chùa làng Lỗ. Tương truyền chùa được xây dựng sau chiến thắng Nguyên - Mông, nhằm để tưởng nhớ và giỗ trận những người chiến sĩ và nhân dân đã hi sinh khi đánh giặc ở đồn Đại Mang.

.
Vết tích gạch cổ chùa Giỗ xưa

Hiện tại trong nền đất của khu vực chùa Giỗ xưa, người ta đã tìm được những viên gạch, ngói thời Trần. Chùa Giỗ cách lăng Thâm Động khoảng 1km. Theo các tài liệu và các cụ già trong làng, làng A Lỗ (làng Nỏ) – trước đây do sông nắn dòng, lụt lội triền miên nên bị lở hết đất, dân làng viết đơn trình với vua nhà Nguyễn (triều vua Minh Mệnh): "Dân vô sở cư, thần vô sở hưởng, tử táng tại trung hà" (Dân không có đất ở nên khi có người chết phải đem táng ở giữa sông). Sau đó triều đình nhà Nguyễn đã cắt ruộng công điền cho dân cư vào ở làng Đồng Lỗ (thôn Nỏ ngày nay).

Trước đây khu vực này chưa có đê, hoặc nếu có cũng chỉ là đê thấp chủ yếu để ngăn nước dâng chứ chưa có đê kiên cố như sau này. Vào thời vua Minh Mệnh nước lụt dâng lên tràn khắp vùng. Đến thời vua Triệu Trị mới tổ chức đắp đê để ngăn nước triều dâng, phòng chống lụt bão. Phải chăng vì thế nên mới đổi tên từ A Lỗ ra Phạm Lỗ (các cụ già ở địa phương giải thích: do đất làng A Lỗ bị nước cuốn trôi phạm vào nhà cửa và ruộng đồng nên khi vua Minh Mạng cho chuyển làng vào phía trong đồng – làng có tên mới là làng Phạm Lỗ).

Ngay gần cửa A Lỗ xưa, sau này nhà Trần đã xây dựng hành Cung Lỗ Giang để Khâm Từ Hoàng Hậu về sống và tu hành ở đó. Một câu hỏi đặt ra liệu có phải xuất phát từ ý nghĩa của từ ghép: Giang là sông và Lỗ là cửa sông A Lỗ thời Trần, vì thế hành cung này mới có tên là Hành Cung Lỗ Giang (lấy tên vùng đất cửa sông A Lỗ và làng A Lỗ để đặt tên cho Hành Cung là Hành Cung Lỗ Giang). Rất có thể giả thiết trên là đúng.

Qua quá trình tìm hiểu các tài liệu và thực địa thị sát ở sông Hồng, sông Luộc, cửa sông Tam Tỉnh, cửa sông Phạm Lỗ cho thấy: Đoạn sông Luộc chảy đến gần sông Hồng thì tách nhánh. Ngã ba cửa sông này chính là khu vực cửa sông A Lỗ xưa.

Điều đó hoàn toàn khớp với những gì mà Đại Việt sử ký toàn thư và "Kinh thể Đại Điển Tự Lục", "An Nam chí (Nguyên)" đã ghi và giáo sư Hà Văn Tấn đã tìm hiểu, phân tích, nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở việc xác định đồn Đại Mang theo "Kinh thể Đại Điển Tự Lục" chép là ở gần chỗ này: "Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc”.

Qua các tư liệu lịch sử và tư liệu điền dã cùng với các chuyến đi thực tế cho thấy, tại cửa sông Phạm Lỗ từng có địa danh là bến Đại Mang, như vậy không còn nghi ngờ gì nữa phần lớn khu vực đồn Đại Mang xưa đã bị nước thủy triều, lụt lội tràn qua cuốn đi. Qua các trận lụt kinh khủng vào thời các triều đại phong kiến trước đây như lời tấu của dân làng A Lỗ vào triều vua Minh Mạng chúng ta tin rằng Đại Mang Bộ (bến Đại Mang xưa) nơi có đồn của giặc Nguyên đóng trên đất A Lỗ chính là khu vực thuộc làng A Lỗ (làng Nỏ) xã Hồng Minh, Hưng Hà ngày nay. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, do sông đổi dòng và có sự lấn dòng nên nhiều khả năng khu vực đồn Đại Mang xưa đã bị lở và bồi sang đất Hà Nam ngày nay.

II. Địa điểm bí mật tập kết quân áp sát đồn giặc của vua Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thuộc địa phương nào?

Qua các tài liệu lịch sử, cho chúng ta biết khi quân đội nhà Trần bất ngờ tấn công căn cứ tiền tiêu A Lỗ của giặc Nguyên trên sông Hồng thì quân Nguyên trở tay không kịp và viên tướng Nguyên giữ đồn là Vạn Hộ Lưu Thế Anh đã vội vàng rút chạy, tướng Trương Hiển phải đầu hàng quân ta.

Một câu hỏi được đặt ra, để giữ được bí mật việc điều quân và áp sát đồn giặc thì nơi tập kết quân của Hưng Đạo Vương phải ở rất gần khu vực A Lỗ. Vậy địa điểm tập kết của vua và các tướng cùng quân đội nhà Trần ở đâu? Đây là câu hỏi không dễ gì giải đáp một sớm một chiều được.

Qua khảo sát ở các xã Độc Lập, Chí Hòa, làng Tịnh Xuyên, Hồng Minh, Bạch Đằng, Hồng Giang, Hồng Châu, Hồng Việt, Thăng Long… đã cho chúng ta nhiều gợi ý quan trọng về địa điểm tập kết đóng quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trước khi tấn công quân Nguyên vào năm 1285.

Chúng ta đều biết, để chống lại sức mạnh của quân Nguyên với vũ khí cung nỏ, giáo dài, thiện chiến và hạn chế điểm mạnh của kỵ binh giặc, vua quan nhà Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã tận dụng tối đa địa hình sông ngòi chằng chịt của nước ta để khi lui có thể bảo toàn được lực lượng, khi tấn công có thể khiến giặc bất ngờ. Binh pháp của Hưng Đạo Vương đã chỉ rõ: "Lấy đoản binh để chế trường trận, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh…".

.
 
Quang cảnh nơi diễn ra trận đánh đồn Đại Mang

Từ những suy nghĩ trên chúng tôi xác định địa điểm tập kết quân của Hưng Đạo Vương phải rất thuận tiện cả đường bộ và đường thủy và không thể không ở sát ven sông Trà Lý và gần khu vực làng A Lỗ - nơi có đồn Đại Mang của quân Nguyên. Có gần mục tiêu như vậy mới tạo được yếu tố bất ngờ để quân thủy, bộ cùng áp sát tấn công địch ở căn cứ đồn Đại Mang trên đất A Lỗ.

Qua khảo sát ở xã Hồng Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, tiếp xúc với các cụ già trong làng được biết, tương truyền vào thời Trần, Hưng Đạo Vương đã đóng quân ở khu vực thuộc các xã Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng ngày nay, để tấn công giặc Nguyên tại căn cứ đồn Đại Mang (thuộc đất A Lỗ). Vì thế, sau khi Người mất dân làng ở nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ để tướng nhớ tới Người.

Tìm hiểu thực tế tại các địa danh nói trên, các con đường thủy, bộ ở trong xã Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng, Hồng Việt, Hồng Minh đã cho thấy, trước đây ở xã Hồng Châu có đền thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tại bến Đáy và đền thờ các vua Tiền Lý Nam Đế, rồi đền thờ tướng Trương Định (tên húy, còn tên thật chưa rõ) thời Trần. Đáng tiếc, các ngôi đền này đã bị phá vào năm 1962 - 1963. Hiện bài vị, ngai thờ của Đức thánh Trần đã được đưa về để trong một cung nhỏ tại chùa Bơn (Hồng Việt). Ngai thờ và bài vị của tướng Trương An Định được đưa về để ở miếu thờ Thổ Thần nằm sát sông bến Đáy thuộc xóm Đông Hương, thôn An Liêm (làng Bơn), xã Hồng Châu.

Ở xã Bạch Đằng và một số xã quanh vùng hiện vẫn còn đền thờ Hưng Đạo Vương. Đáng chú ý ở các địa phương này còn lưu giữ tên của các địa danh (tướng truyền) có liên quan tới Hưng Đạo Vương và quân của người khi đóng quân, khi hành quân, tấn công căn cứ đồn Đại Mang trên đất A Lỗ. Đó là các địa danh: Cầu Quân (tương truyền xưa kia nhân dân bắc cầu tre cho quan quân nhà Trần đi đường bộ vượt qua cánh đồng Long Xà (Hồng Châu), Bạch Đằng, Chí Hòa, Hồng Minh để bất ngờ tấn công căn cứ đồn Đại Mang.

Ngoài ra còn có địa danh cống Ba Vạn (tương truyền nơi đây xưa kia là khu vực có 3 vạn quân và thủy quân nhà Trần ém thuyền từ khúc sông (xã Hồng Giang), đến khu vực sông thuộc xã Hồng Châu và cửa Ba Vạn (xã Hồng Việt), để có thể ra sông Trà Lý (ở khu vực xã Hồng Giang hoặc Tịnh Xuyên (Hồng Minh).

Trước đây trong khu vực các xã trên có con sông tên là sông Cửu Long, sông này có đường ra sông Diêm và cũng có đường ra sông Trà Lý (sau này quan thượng thư Dương Quy Chính cho đào kênh Sa Lung cắt thằng từ xã Chí Hòa, Hồng Việt, Thăng Long ra cầu Kim Bôi rồi đổ ra sông Tiên Hưng, chảy ra sông Riêng rồi ra cửa biển Diêm Điền). Nay con sông cổ xưa nhiều đoạn đã bị lấp vào năm 1980 để nhân dân trồng lúa.

Theo các tài liệu và tư liệu điền dã tìm hiểu được ở chùa Bơn thôn An Liêm và xã Hồng Châu cho thấy, để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược vào vị trí tiền tiêu của giặc Nguyên vào mùa hè năm 1285, Hưng Đạo Vương đã điều quân theo đường sông Diêm bí mật tiến về áp sát phòng tuyến của quân Nguyên do Vạn Hộ Lưu Thế Anh chỉ huy đang trấn giữ căn cứ Đại Mang (A Lỗ) - với ý đồ ngăn chặn sự tiến công của quân ta từ sông A Lỗ, sông Luộc vào sông Hồng tới kinh thành Thăng Long.

Để tạo yếu tố bất ngờ cho trận A Lỗ được toàn thắng, Hưng Đạo Vương đã cho đóng quân tại các làng ven sông Trà Lý. Trại Bơn là nơi gần căn cứ A Lỗ, nơi đây là địa điểm Hưng Đạo Vương hội các tướng. Bến Đáy tương truyền là nơi Hưng Đạo Vương đóng đại bản doanh và cũng tiện cho việc quan sát, nắm tình hình giặc để đảm bảo cho việc tấn công bất ngờ, đánh chiếm A Lỗ, mở đường cho quân đội nhà Trần tiến theo sông Hồng đánh Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương và giải phóng kinh thành Thăng Long.

Qua khảo sát thực tế tại xã Hồng Châu cho thấy từ chùa Bơn có con đường đi sang xã Bạch Đằng.


Sông Trà Lý đoạn chảy qua sát xã Hồng Giang ngày nay, từ xưa vẫn có cửa sông, sau này mới làm cống, chảy qua cầu Quân, lượn qua miếu thờ tướng Trương An Định (xã Hồng Châu), qua làng Bơn, làng Quán, qua đền thờ Hai Bà Trưng đến ngã ba Vạn (Hồng Việt) thì tách làm hai nhánh. Một nhánh chảy qua Chí Hòa, lên Tịnh Xuyên (xã Hồng Minh) và lại đổ ra sông Trà lý ở cửa cống Tịnh Xuyên. Còn nhánh kia từ ngã Ba Vạn (Hồng Việt) chảy qua Thăng Long ra sông Cầu (Kim Bôi) rồi đổ ra sông Tiên Hưng và chảy xuống cống Trà Linh (Thái Thụy) ra biển Đông. 
Vật liệu thời Trần tìm thấy ở chùa Giỗ, nơi xảy ra trận đánh Đại Mang

Nếu tính từ điểm tập kết thủy quân của nhà Trần tại các xã thuộc Hồng Châu, Bạch Đằng, Hồng Việt, Hồng Giang thì từ cống Lấp (Hồng Giang) hiện nay theo đường chim bay đến cửa sông Phạm Lỗ (địa phận A Lỗ - Hồng Minh) chỉ 1 - 1,5km đường thủy. Còn nếu đi từ Hồng Châu theo đường bờ sông Trà Lý ngày nay thì khoảng 4km là tới điếm Yên Lại (xã Hồng Minh). Nếu theo đường bộ, từ vị trí chùa Bơn, bến Đáy (theo truyền thuyết) qua cầu Quân, qua thôn Quyết Thắng, qua cánh đồng Long Xà thuộc địa phận Hồng Châu, Bạch Đằng, Chí Hòa là tới cánh đồng xã Hồng Minh và tới làng A Lỗ chỉ khoảng 1 - 1,5 km theo đường chim bay. Nếu tính đi đường bộ khoảng 3 - 4km là tới đồn Đại Mang trên đất A Lỗ xưa.

Qua các tư liệu lịch sử và tư liệu khảo cổ học, đã cho biết khi quân Nguyên đem quân thủy bộ tấn công Thiên Trường, hai vua và quan quân chạy ra cửa biển Vạn An rồi không rõ đi về đâu. Điều này cho thấy có sự trùng khớp với căn cứ bí mật thời Trần trên đất Thụy Hồng (Thái Thụy). Thực tế qua các tư liệu lịch sử, khảo cổ học cho biết trong hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã xây dựng căn cứ bí mật tại Thụy Hồng (Thái Thụy ngày nay). Điều đó rất có lý như các tài liệu lịch sử đã ghi: "Hai vua và các quan ra đến cửa biển Vạn An rồi không rõ đi về đâu".

Chúng tôi đặt giả thiết, rất có thể khi quân ta từ căn cứ bí mật Thụy Hồng theo đường thủy ra sông Diêm về khu vực sông Tiên Hưng và từ đó bí mật tập kết vào các xã ven sông sát căn cứ của địch (như Hồng Giang, Bạch Đằng, Hồng Châu) rồi từ đó chia thành 2 đạo quân thủy bộ bất ngờ trong đêm tấn công căn cứ A Lỗ, hạ đồn Đại Mang, mở đường cho các trận đánh tiếp theo trong cùng ngày 20, cùng tháng 4 âm: Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh thành Thăng Long.

III. Tầm quan trọng của trận chiến Hạ Đồn Đại Mang

Có thể nói trận Hạ Đồn Đại Mang triệt phá căn cứ tiền tiêu của giặc ở A Lỗ là trận đánh cực kỳ quan trọng của Hưng Đạo Vương.

Quân đội thời Trần vận dụng linh hoạt chiến thuật áp sát mục tiêu lợi dụng địa hình chằng chịt sông ngòi, cây cối rậm rạp để cơ động linh hoạt quân thủy, bộ. Địa hình này vừa dễ giấu quân lại vừa đảm bảo được yếu tố tấn công bất ngờ, khiến cho kẻ địch có nằm mơ cũng không thể ngờ rằng quân đội nhà Trần đang ở ngay sát nách chúng.

Cuộc chiến nổ ra lúc gần sáng ngày 20 tháng 4 âm lịch, lại càng khiến cho quân địch bất ngờ hơn, đến nỗi Vạn hộ hầu Lê Thế Anh phải vội vàng tháo chạy không kịp chống đỡ. Tướng Trương Hiển buông giáo xin hàng.

Trận chiến Hạ Đồn Đại Mang trên đất A Lỗ là một trận đánh vô cùng quan trọng, nó mở đầu cho toàn bộ chiến dịch tổng phản công tiếp theo của quân đội nhà Trần, tấn công Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng kinh thành Thăng Long, đánh đuổi Thoát Hoan và quân Nguyên phải tháo chạy về nước (1285).

Một vấn đề đáng chú ý đó là việc giữ bí mật tuyệt đối trong việc chuyển quân, áp sát đồn giặc của vua quan thời Trần ngày đó. Qua sự việc trên cho chúng ta thấy được Hưng Đạo Vương và các vua quan nhà Trần đã gắn bó mật thiết với nhân dân, các làng xóm, trang ấp trong vùng, nhờ đó không những được nhân dân ủng hộ mà việc giữ bí mật che mắt địch đã được quân dân thời Trần thực hiện triệt để cho đến khi trận đánh giành thắng lợi.

Bài học người chèo thuyền là dân, sức dân là sức biển, "Nương sức dân làm kế gốc rễ lâu bền", từ hội nghị Diên Hồng cho đến các trận đánh tập kích đồn Đại Mang, trận phục kích thuyền giặc trên cửa biển Đại Bàng, sau này là trận Bạch Đằng Giang, các vua quan nhà Trần và Hưng Đạo Vương luôn vận dụng linh hoạt, sâu sắc tinh thần đoàn kết gắn bó với nhân dân và linh hoạt trong các chiến lược, chiến thuật đánh địch. Vì thế với binh lực yếu hơn, đất nước nhỏ bé hơn, tiềm lực kinh tế yếu kém hơn kẻ địch nhưng Vương Triều Trần đã 3 lần đánh bại giặc Nguyên Mông - đội quân hùng mạnh nhất trên thế giới vào thế kỷ thứ 13 như sử sách trong và ngoài nước vẫn từng ca ngợi.

Phải chăng tư tưởng dựa vào dân, nương sức dân, đoàn kết với nhân dân của cha ông xa xưa là tiền đề cho tư tưởng quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu… tình nghĩa quân dân như cá với nước mà Đảng ta, quân đội ta đã và duy trì thực hiện cho tới ngày nay.

>>> Đọc thêm: Vì sao quân Nguyên Mông thất bại thảm hại khi xâm lược Đại Việt?

 
Đặng Hùng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trích trường ca "Gió bay về trời ":

DHG
40.
“Một điều nhịn, chín điều lành..”
Mẹ xưa dặn : “Giữ ân tình trước sau!”
Một lần nhịn
chín lần đau !
Bàn chân có bước qua cầu mới hay..
Nhịn hoài đau lắm mẹ ơi
lặng lờ nhân thế
rối bời ruột gan.
Giáng chiều nhuộm đỏ bàn chân
lơ ngơ
anh ngắm
tay lần thực hư..
Người đang tỉnh ?
người đang mơ
Cùng tôi trải chiếu bên bờ bão dông..
41.
Hai mươi năm
Lịch sử đi qua một quãng đường
với đời người có thể dài lâu
với dân tộc chỉ là trong chớp mắt..
Hai mươi năm..
Đất nước yên bình
không nghe tiếng bom huỷ diệt
tiếng pháo bầy
tiếng rít xích xe tăng
những cảnh tàn hoang đã dựng lại vội vàng
Có phút giây nào lãng quên
một thời tan tác?
những cuộc chia ly
bao điều oan khuất?
Những buổi chiều bỏng môi khô khát,
bên chiến hào
ngọn cỏ cầm hơi ?
Mới chỉ là hai mươi năm thôi
lịch sử coi bằng gang tấc,
cái nghèo
cái đói chưa qua.
Vườn ta mới học cách trồng hoa,
nệm ấm chăn êm chưa đều cho tất cả..
Rạp mới
chưa thôi những lời ca cũ
và điều tệ hơn là :
- Người ta chưa đủ lòng tin
nụ cười
ánh mắt
Hình như còn dè dặt
người với người như thể cách xa nhau..
Vậy mà như thể đã lâu
ta vội quên đi bao điều trong quá khứ,
sự cài đặt mỗi ngày
bén nhọn
mà sâu
gặm nhấm thịt da xứ sở..
Mối nguy chưa dễ quên đâu !
Ai trông chừng ta giấc ngủ ?
“Bài học năm xưa không bao giờ cũ”
Anh nói điều này, em đừng giận nghe em !..
Số phận non nước mình
Ta đâu có thể dễ dàng quên ?..
42.
Dù gì..
Vẫn sẵn lòng nghe em,
cấy lúa trên đồng
trồng cây trên núi.
Các em ta cần thêm phòng học mới
gà nhớ sang canh đánh thức làng chài..
Thân phận đất nước mình là vậy đấy người ơi !
cơn bão đi qua
ta trồng cây bù lại
khẩu súng với cây đàn như anh em sinh đôi.
Dù có lúc tự mình xấu hổ
mấy ai hoàn hảo trên đời?
Một dân tộc biết tự nhạo mình
dân tộc ấy không bao giờ kém cỏi
Cuội nhí nhăng
ngồi dưới ánh trăng soi
vì Cuội biết :
Lầm lỡ thì sửa thôi,
Không lẽ than trời?
..Có lẽ ta chưa quen nhịp sống mới này
Tốc độ đuổi theo tốc độ
Khói xăng và bụi cùng bay
Con người ngập chìm trong thói quen hưởng thụ
Hàng hoá chất ngất cao
Thấp bé tình người..
“Lỗi ở đâu trong phần mềm hệ thống
Hay một chi tiết nào cài đặt lỡ rồi chăng ?”
Anh bâng khuâng khi ở bến sông Hồng,
chợt được nghe chàng xe ôm hỏi..
biết trả lời sao
thực tình khó nói
Đành lặng cười cùng người ấy qua sông!
Nghe sóng miên man
như vỗ bên lòng
Sông Hồng vẫn trôi
Rộng dài đất mẹ
Những câu hỏi đời vẫn mải miết xuôi
về biển đông..
Liệu ai đó trả lời ?..

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thưởng Tết 2017: Nơi mua được ôtô, nơi chỉ đủ ăn bát phở


Ngày 9/1, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (LĐTBXH) công bố mức thưởng tết năm 2017, trong đó có sự chênh lệch rất lớn giữa mức thưởng cao nhất và thấp nhất. Cụ thể, một DN ở TPHCM thưởng tết lên tới 1 tỉ đồng trong khi có DN chỉ thưởng 50.000 đồng. Ngoài ra, Bộ LĐTBXH còn cho biết, dù lương tăng bình quân 7,5% so với năm 2015, nhưng người lao động vẫn “khó sống”.
 >> Ngân hàng đua nhau thưởng Tết "khủng"
 >> Nghệ An: Thưởng Tết Đinh Dậu thấp thua năm ngoái
 >> Đà Nẵng thưởng Tết cao nhất 300 triệu đồng

Chênh lệch “khủng khiếp”
Lâu nay, mức thưởng tết giữa các địa phương, DN, vùng miền, ngành nghề có mức chênh lệch cao, thậm chí lên tới hàng tỉ đồng. Dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016, người có mức thưởng cao nhất là 624 triệu đồng, thuộc DN FDI ở Hải Dương; mức thưởng thấp nhất là 40.000 đồng, thuộc DN FDI, ở Bình Phước.
Về thưởng Tết Nguyên đán 2017, theo ông Tống Văn Lai - Phó Vụ trưởng Lao động - Tiền lương (Bộ LĐTBXH), khảo sát tiền lương và thưởng Tết Nguyên đán 2017 được thực hiện trên 63/63 tỉnh, thành phố với 23.495 DN và 3,72 triệu người lao động. Mức thưởng thấp nhất là 50.000 đồng tại doanh nghiệp dân doanh ở tỉnh Bến Tre và tại doanh nghiệp FDI ở các tỉnh Thái Bình, Tây Ninh, Hải Dương. Mức thưởng cao nhất tại DN dân doanh ở TPHCM là 1 tỉ đồng, cao hơn hẳn so với mức thưởng kỷ lục năm 2016 là 624 triệu đồng tại tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, mức thưởng tết bình quân khoảng 1 tháng lương, tương đương 4,9 triệu đồng, bằng 96% so với cùng kỳ năm 2016.

Công nhân KCN ở tỉnh Hải Dương. Ảnh: Hải Nguyễn
Công nhân KCN ở tỉnh Hải Dương. Ảnh: Hải Nguyễn
Theo thống kê của Vụ Lao động - Tiền lương, đến thời điểm này mới có 83,5% số doanh nghiệp báo cáo có phương án thưởng dịp Tết Nguyên đán cho người lao động. Với các doanh nghiệp chưa có kế hoạch thưởng cuối năm, bộ chỉ đạo các địa phương tiếp tục tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn tìm giải pháp tiết kiệm chi phí để chia sẻ, hỗ trợ với người lao động trong dịp tết.
Ông Lai cho rằng, năm 2016, bên cạnh những thuận lợi kinh tế vĩ mô, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, vẫn có 110,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Tuy nhiên, do khó khăn hơn 60.000 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, 12.400 đơn vị hoàn tất thủ tục giải thể, ảnh hưởng đến tiền lương, thu nhập của lao động.
Khu vực dân doanh dẫn đầu về tốc độ tăng lương
Theo điều tra của Bộ LĐTBXH với 2.000 doanh nghiệp quy mô lao động bình quân 360 người/DN, tại 18 tỉnh, thành phố trọng điểm của cả nước thì tiền lương, thu nhập có xu hướng ổn định và tăng so với năm 2015.
Theo đó, tiền lương bình quân ước thực hiện năm 2016 là 5,71 triệu đồng/tháng, tăng 7,5% so với năm 2015 (5,31 triệu đồng/tháng). Trong đó, DN nhà nước ước thực hiện 7,08 triệu đồng/tháng, tăng 1,85% so với năm 2015 (6,98 triệu đồng/tháng); công ty cổ phần có góp vốn của Nhà nước thực hiện 6 triệu đồng/tháng, tăng 2,56% so với năm 2015 (5,85 triệu đồng/tháng); doanh nghiệp dân doanh ước thực hiện 5,47 triệu đồng/tháng, tăng 10,06% so với năm 2015 (4,97 triệu đồng/tháng); doanh nghiệp FDI ước thực hiện năm 2016 là 5,69 triệu đồng/tháng, tăng 8,58% so với năm 2015 (5,24 triệu đồng/tháng).
Thu nhập bình quân ước thực hiện năm 2016 là 6,03 triệu đồng/tháng, tăng 5,4% so với năm 2015 (5,72 triệu đồng/tháng), trong đó: DN nhà nước ước thực hiện 7,75 triệu đồng/tháng, tăng 2,78% so với năm 2015 (7,54 triệu đồng/tháng); công ty cổ phần có góp vốn của Nhà nước thực hiện 6,48 triệu đồng/tháng, tăng 0,15% so với năm 2015 (6,47 triệu đồng/tháng); doanh nghiệp dân doanh ước thực hiện 6,04 triệu đồng/tháng, tăng 7,86% so với năm 2015 (5,60 triệu đồng/tháng); doanh nghiệp FDI ước thực hiện năm 2016 là 5,70 triệu đồng/tháng, tăng 6,74% so với năm 2015 (5,34 triệu đồng/tháng).
Từ 1/1/2017, mức lương tối thiểu vùng đã được tăng lên tuy nhiên theo đánh giá, mức lương tối thiểu chỉ đáp ứng được khoảng 80% mức sống tối thiểu của người lao động. Năm 2017 được cho là một năm đột phá, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển như chỉ đạo chung của Chính phủ. Chính vì vậy dù sẽ còn gặp nhiều khó khăn nhưng mức lương của người lao động nhiều khả năng sẽ có những chuyển biến tích cực.
Theo Lê Phương
Lao động
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tết này quan chức có ‘đói’ hay không?


Kết quả hình ảnh cho hình ảnh tài chính ngân hàng
Ảnh Tin tuc online
Khó ai biết được. Năm ngoái, năm ngoái nữa và cả những năm trước, hầu như năm nào Chính phủ cũng có công lệnh “không tặng quà tết”, nhưng xe cộ vẫn nườm nượp ra vào Văn phòng chính phủ và trụ sở các bộ ngành.

Song cảnh nườm nượp chỉ là bề nổi. Những túi quà chỉ là vật trang trí. Cảnh gặp riêng mới đáng đồng tiền bát gạo. Những phong bì kín đáo được trao tay hoặc được lồng vào quà có giá trị hàng chục ngàn USD mới xứng với “quà tết”.

Năm nào cũng thế, chỉ mới Tết Tây, ngoài đường đã ngờm ngợp lớp quan nhỏ “chạy” quan to, rồi lớp quan to “chạy” quan to hơn…

Năm hết tết đến, “cơ chế” lót tay quan chức lại nổi lên như giặc giã ở khắp nơi, bất chấp năm nào chính phủ và một số địa phương vẫn cố tỏ ra “học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” bằng một chiến dịch phát hành văn bản cấm quan chức nhận quà.

Cả chế độ tham nhũng rần rật chưa từng xuân sắc hơn rộn vang tiếng đon đả trước mặt, chửi rủa sau lưng.

Còn năm nay, tân chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc lặp lại chỉ thị của những năm trước. Tình hình có vẻ “căng” hơn. Giới quan chức lớn bị dư luận xì xào là đã “no” nên chẳng cần gì mấy phong bì lặt vặt. Chỉ “tội nghiệp” cho đám quan chức nhỏ, đặc biệt là đám nhân viên văn phòng, làm cả năm quần quật mà tết nhất chẳng được bù đắp bao nhiêu.

Kinh tế suy thoái, ngân sách cạn kiệt, các loại nợ chồng chất, doanh nghiệp nối đuôi nhau phá sản…

Một doanh nhân người Bắc chì chiết: “Lo tiền trả lương thưởng cho nhân viên mà lòng như thiêu như đốt, lấy đâu ra quà cáp biếu xén cho cái lũ thối thây ấy.”

Nhớ hồi tết năm ngoái, một số doanh nghiệp thậm chí còn phải phát hành quy định nhân viên không được tặng quà cho quan chức. Nếu tặng quà mang tính xã giao, tặng quà cho quan chức chính phủ không được quá 25 USD. Thậm chí việc mời đối tác ăn cơm hay uống cốc cà phê với quan chức chính phủ cũng phải báo cáo.

Nhục không để đâu cho hết!

Ngay cả những chuyên gia được coi là “phản biện trung thành” nhất đã phải thốt ra: để tạo ra một đồng lợi nhuận thì doanh nghiệp phải mất tương đương chừng ấy cho “bôi trơn.”

Một cuộc khảo sát cho ra kết quả chỉ có 29% doanh nghiệp triển khai chính sách liêm chính. Điều kỳ lạ là con số này lại khá phù hợp với tỉ lệ lên đến khoảng 70% doanh nghiệp sẵn sàng đưa hối lộ cho giới quan chức .

Một doanh nhân có máu mặt lẩm nhẩm: Nếu 3 năm trước mà “quà tết” đã giảm đến 40-50% so với thời gian năm 2007-2008, thì nay còn tệ hơn, có khi chỉ còn 30%. “Đói” là cái chắc!

Nhưng cứ như một màn hí kịch năm nào cũng thế, tết năm nay lại lũ lượt chính quyền các địa phương từ Lai Châu, Tuyên Quang, Hà Giang vào Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa… vác rá lên chính phủ để “xin gạo cứu đói cho dân.”

Bản lý lịch “xóa đói giảm nghèo” ở Việt Nam vẫn còn trống vắng một thành phần mới: Giới quan chức còn răng còn đớp.

Lê Dung 

 (SBTN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quá lắm rồi! Tiền giả từ TQ tràn lan!! Phải học cách phân biệt nhanh để không cầm hớ


Tiền giả mặc dù được làm rất công phu, trông y như thật nhưng nếu để ý kĩ mọi người có thể phân biệt được. Bây giờ ra đường phải chú ý việc này chứ không bản thân lại mang hoạ nữa.
Hôm trước đi mua đồ được thối tiền lại, cầm tờ tiền em có cảm giác nghi nghi mọi người ạ. Về đến nhà mới tá hoả là tờ tiền của em là tờ tiền giả. Mà ngặt nỗi nãy mua hàng xe đẩy được thối lại, bây giờ biết người đó ở đâu mà tới mắng vốn đây. Đành ngậm ngùi mất luôn số tiền đó, dù không lớn nhưng nó cứ nằm trong ví.
Thôi thì coi như em xui, nhưng mọi người đừng giống như em. Sau này hôm đó thì em đã biết cách phân biệt được rồi, thành ra hôm nay lên chia sẻ cho mọi người biết để không như vậy.
Cách phân biệt :
– Dưới đây là tờ tiền của em nè, mọi người có thấy cái chỗ phản quang có dòng 200.000 in dọc không ? Nếu là tiền thật thì sẽ được in sát tận mép, còn tiền giả thì nó sẽ in thiếu 1 tí. Nhìn kĩ mới thấy nha!
– Chưa hết, mọi nhìn cái Quốc Huy của nước mình trên tờ tiền đi. Tiền thật sẽ có màu đỏ đậm, tiền giả cũng có màu đỏ nhưng nó sẽ lợt hơn. Mấy tờ tiền mới mới sẽ nhìn thấy rõ hơn là mấy tờ tiền cũ.
– Mọi người lật tờ tiền có hình Bác lên, kế bên phía tay phải ở trên, gần dưới số 200.000 sẽ thấy có 1 đoá hoa sen. Nếu mà thấy đoá hoa đó có 1 màu thì đó là tiền thật, nhìn thấy 2 màu thì đó là tiền giả. Đem tờ tiền ra chỗ sáng sáng mới thấy được nha.
– Nhìn tiếp qua tay trái và nhìn xuống phía dưới sẽ thấy 1 cái hoa văn. Nếu ai không hình dung được thì nhình dưới hình để thấy nha. Khi thấy rồi mọi người sờ tay lên nếu mà thấy nó cộm cộm thì là tiền thật, tiền giả sờ láng o à. Chưa hết, cái hoa văn đó mà màu sắc được in đậm thì là tiền thật nha, tiền giả nó in màu ngả tím. Nhớ chú ý điểm này.
Mọi người cũng nên biết phân biệt thêm tiền mệnh giá 100.000 và 500.000 nữa
– Với tờ tiền mệnh giá 100 và 500 cách phân biệt cũng từa tựa vậy, mọi người cũng sẽ coi chất liệu ra sao. Tiền thật thì sẽ không xe được, không bị nhàu nát, mỏng và nhẹ.
Còn tiền giả thì giòn hơn và dày hơn so với tiền thật, chỉ cần mạnh tay một chút cũng có thể rách được. Tiền giả có bề mặt bóng, trơn, khi vò tờ tiền sẽ thấy những nếp nhăn gấp hằn rất rõ.
– Chi tiết hoa văn thì nhìn giống như tờ 200 của em ở trên, tuỳ theo mệnh giá mà chỗ nằm nó sẽ khác nhau nhưng mà cách để phân biệt thì y như nhau.
– Tiền thật khi được soi dưới đèn cực tím sẽ thấy mực không màu phát quang. Đồng thời chi tiết 2 dãy số seri luôn phải giống nhau, nhìn mắt thường có màu đỏ và đen nhưng khi qua đèn cực tím cũng sẽ đổi màu.
Còn tiền giả thì cứ Làm tương tự nhưng sẽ không quan sát được những hiện tượng trên.
Trên đây là những cách để phân biệt tiền thật, tiền giả. Mọi người chỉ việc ghi nhớ rồi mỗi khi cầm tờ tiền lên mà thấy nghi nghi thì kiểm tra liền. Cầm tiền giả trong người vừa thiệt thòi vừa nguy hiểm nữa.
Theo WTT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nơi chôn cột Đồng và địa lí nước Việt …

Nhà nghiên cứu Trần Việt Bắc có bài nghiên cứu hết sức công phu và tỉ mỉ :
“Động Cổ Sâm – Núi Phân Mao và những liên quan”
https://nghiencuulichsu.com/2016/07/04/dong-co-sam-nui-phan-mao-va-nhung-lien-quan/
nghiên cứu về vị trí động Cổ sâm và núi Phân mao nơi Mã viện chôn cột đồng đánh dấu ranh giới cực Nam của Hán quốc sau khi đánh bại Trưng vương .
Tác gỉa đã nghiên cứu và đối chiếu qua rất nhiều tài liệu Việt Pháp Hoa cả liên quan trực tiếp và gián tiếp để đi đến kết luận sau cùng  :
Qua những dẫn chứng từ các tài liệu cùng với những nhận xét và so sánh với bản đồ trên, người viết tạm thời đưa ra những kết luận như sau:
1-Động Cổ Sâm là vùng thị trấn Phòng Thành
2- Động Thì La là vùng thị trấn Phòng Thành Cảng
3-Động Cổ Sâm nằm kế sông Cổ Sâm
4-Sông Cổ Sâm (tên cổ thời) là sông Phòng Thành chảy qua thị trấn Phòng Thành ngày nay.
5- Đường biên giới Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh (Quảng Yên + Hải Ninh) và châu Khâm, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, thời nhà Thanh là sông Phòng Thành ngày nay.




Bản đồ chỉ vị trí động Cổ sâm – Khâm châu và Phân mao lĩnh
Hệ lụy của khám phá liên quan đặc biệt đến địa lí nước Việt vì :
Cột đồng Mã Viện đánh dấu biên giới Giao chỉ và nước Lâm ấp .
Sử viết  Khu Liên lấy Tượng Lâm là huyện phía Nam Nhật Nam lập ra nước Lâm ấp .
Chẳng cần suy xét gì cũng thấy ngay …động Cổ sâm ở đâu thì nước Lâm Ấp , huyện Tượng Lâm và quận Nhật Nam ở đấy nhưng nhiều nhà nghiên cứu lâu nay cố tình bưng tai bịt mắt không chấp nhận điều giản đơn này , do 2 chữ Lâm ấp mà rủ nhau đi tìm cột đồng mã Viện mãi biên giới Giao chỉ và Chiêm thành là quốc gia hậu thân của Lâm ấp nay là miền Trung Việt Nam .
Cũng vì cái đống thông tin loạn xà ngầu này mà giới viết sử Việt thời phong kiến đẻ ra cái quận Cửu chân ở miền Thanh hóa và Quận Nhật Nam sau là đất Chiêm thành …do dòng sử …nhà Hán chiếm  đất phía Nam Cửu chân đặt làm quận Nhật Nam …
Sự sai lầm này là sai lầm hết sức lớn về địa lí nước Việt vì cả nước có 3 quận mà lầm lẫn hết 2 quận thì còn gì là nước ta nữa ..
Ngược dòng lịch sử …Triệu Đà sau khi chiếm nước Âu – Lạc của An dương vương thì chia thành 2 quận Giao chỉ và Cửu chân …rõ ràng Giao chỉ là phần ‘Lạc’ thì phần ‘Âu’ phải ở Tây Nam Trung quốc , Trung quốc gọi người vùng Tây Nam là Ai lao di , ai lao thiết Âu chính là Âu trong Âu – Lạc , người  Âu chủ yếu  là người Choang và người Miêu ngày nay . Nhà Hán lấy đất phía Nam Cửu chân đặt quận Nhật Nam tức chia đất của người Miêu là quận Cửu chân nay là Qúy châu , còn đất của sắc  dân sau này gọi chung là Choang thì đặt quận Nhật Nam tức  Quảng Tây ngày nay .
bd vn3
Cột đồng Mã Viện ở động Cổ sâm Khâm châu là mốc phân ranh giữa Giao chỉ và Lâm ấp của Khu Liên chỉ ra … rõ ràng có 1 Lâm ấp khác với Lâm Ấp về sau của người Chăm ở miền Trung Việt Nam mà sử gọi là dòng bên ngoại của Khu Liên .
Quận Tượng của nhà Tần cũng là quận Tịnh , với tượng là con voi thì không thể mường tượng ra điều gì nhưng …tịnh cũng là tĩnh là định dịch tượng chỉ phía Tây ngược với động ở phía Đông thì nhận ra quận Tượng là quận nằm ở phía Tây trên bản đồ người Trung hoa gọi chung là miền Tăy – Nam . Nhà ‘Tây Hán ?’ lấy đất phía Đông bắc quận Tịnh đời Tần đặt quận Tường kha , tượng và tường chỉ là 1 , lấy phía Tây và Nam quận Tịnh -Tượng  lập ra quận Ích châu .
Lâm ấp của Khu Liên chính xác là Nam – Ích tức 2 vùng Nam và Ích hợp lại mà thành
Quảng Tây  là đất Nam Giao trong Thượng thư , rõ hơn theo ngôn ngữ ngày nay viết đầy đủ là ‘Nam Giao chỉ’ tức cụm từ mang thông tin chỉ dẫn về địa lí … phía Nam của ‘Giao chỉ – chỗ giữa’ , từ cụm từ mang thông tin rút gọn dần chỉ còn là Nam thành ra 1 địa danh . Người Hán đã đổi Nam thành Lâm để xóa thông tin mang tính chỉ dẫn trong địa danh , Ấp là biến âm của Ích tức quận Ích châu  ; ‘Nam – Ích’ sau chiêu tráo trở thì hóa thành  Lâm Ấp không thể xác định được ở đâu nữa nếu dựa vào tên gọi .
Huyện Tượng Lâm cực Nam của quận Nhật Nam trong sách Tàu nơi Khu Liên lập quốc cũng chỉ là miền đất ghép bởi 2 mảnh Tượng quận và đất Nam mà thành , thêm chữ huyện vào cốt chỉ để đánh lừa người ta  , sự thực quận Nhật Nam chỉ là  nửa Nam của vùng  ‘Tượng Lâm – Tịnh Nam’  tức cả vùng Tây Nam Trung quốc ngày nay .
Thiên Nam ngữ lục đoạn:
Khu Linh người nước Nam ta
Bình sinh tập dụng can qua một mình
Bèn vào Tượng quận dấy binh
Toan làm sự cả công danh ở đời.
Khu Linh thành công đã gồm cả Tượng quận nhà Tần vào…địa giới nước Nam ta ?.
Cứ theo mạch sử này đem đối chiếu với sử Việt hiện hành … thì Khu Linh hay Khu Liên tổ nước Lâm ấp sao lại là …người nước Nam ta ? và vô lí hơn nữa …Tượng quận của nhà Tần lại là đất miền Trung Việt Nam …
Mọi rắc rối được giải toả khi biết  Lâm Ấp của Khu Liên thực ra là Nam – Ích tức đất Quảng Tây và 1 phần Vân Nam như đã dẫn  ở trên , trước mắt  tạm gọi đấy là Lâm Ấp 1 để phân biệt với nước Lâm Ấp 2 của con cháu dòng bên ngoại Khu Liên ở miền Trung Việt Nam . Lịch sử nước Chiêm thành buộc phải viết lại vì đã sai …ngay từ đầu và thực sự nước Lâm ấp 1 là nước nào trong sử Trung hoa mời các bạn tìm đọc thêm trong Blog .
Điều rất quan trọng của địa lí nướcViệt là sự xác quyết không hề có quận Cửu chân ở Thanh hóa và quận Nhật Nam là miền Trung Việt Nam ngày nay , quan trọng không kém ….thông qua thông tin về  nhân thân Khu Liên vua  nước Lâm Ấp 1 mà nhận ra …người nước Nam và người Chăm  nước Lâm Ấp 2 là con cùng 1 mẹ sinh ra …
1 chút liên quan ….chuyện Nhâm Diên thái thú quận Cửu chân dạy dân cày cấy là chuyện  ở bên Tàu ngày nay  không phải ở bên ta , đám con giời …ơi nếu khôn thì đừng  bêu riếu nữa …

Phần nhận xét hiển thị trên trang