Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Biên Cương đả Huy Đức - Đúng sai tự vấn:

Huy Đức Osin lại xuyên tạc cuộc chiến chống Khme Đỏ!

Đúng ngày 7/1/2017 năm nay, đất nước Campuchia long trọng kỷ niệm ngày hồi sinh từ những “cánh đồng chết” do chế độ Khơ-me-đỏ gây ra. Báo chí Việt Nam đồng loạt đưa tin về sự kiện này với việc với việc ghi nhận công lao hy sinh của hàng vạn quân tình nguyện Việt Nam đã cứu đất nước này thoát khỏi họa diệt chủng Khơ-me đỏ, thì ở ngay trên đất nước Việt Nam, một kẻ nhân danh nhà báo - cựu chiến binh lại xối xả tuôn ra những lời xét lại lịch sử, quy kết đội quân tình nguyện này biến “cơ hội” giải phóng Campuchia khỏi Khơ-me- đỏ để “xâm lược” Campuchia là nằm trong ý đồ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thời đó.



Thủ đoạn của Huy Đức là núp dưới danh nghĩa truy tìm nguồn gốc câu nói “đã nghe người CPC nào gọi 'Quân tình nguyện VN' là 'bộ đội nhà phật' chưa?"” để cho rằng, đây là sản phẩm của ngành tuyên huấn trong quân đội do các “ "chính trị viên" đã soạn cho người CPC những lời thơm tho để ca ngợi VN. Cũng không ít kẻ nịnh bợ từng có vài lời đãi bôi. Vấn đề là ta không thể biết có bao nhiêu người dân CPC thực sự nghĩ như những lời được mớm...”, rồi ông ta kêu gọi đồng nghiệp “Các nhà báo hãy nói về những điều mình biết, đó là sự hy sinh của cha anh mình. Còn người dân CPC đánh giá vai trò của bộ đội VN như thế nào hãy để cho họ nói.”. Nếu như Huy Đức chỉ dừng lại ở việc góp ý với những người từng là đồng nghiệp của ông ta cách đưa tin sao khách quan với hiện tại, phản ánh đúng tình trạng quan hệ phức tạp hiện nay giữa Việt-Cam, tình trạng nhóm đối lập thường trực vu cáo Việt Nam xâm lược Cam để chia rẽ quan hệ hai nước, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan để mua phiếu cử tri cũng như khai thác vấn đề Mỹ-Trung hậu thuẫn cho thế lực này “khống chế” Việt Nam trên bàn cờ chính trị láng giềng …thì chắc chắn dư luận sẽ không bức xúc đến vậy. Việc Huy Đức mượn cớ tình trạng “nhạy cảm” về hiện trạng chính trị này để tấn công xương máu đã hy sinh vô ích cho Campuchia và bôi nhọ thế hệ lãnh đạo Đảng Cộng sản đã quyết tâm tận diệt lực lượng Khơ-me –đỏ nhằm xét lại lịch sử thì thực sự là sai lầm nghiêm trọng, phơi bày toàn bộ mưu đồ nham hiểm, bản chất hèn hạ đê tiện của kẻ cầm bút dày dạn nhưng bất lương









Ngay lập tức bài viết được giới chống đối VN cả trong và ngoài nước lan truyền khủng, tung hô, phụ họa. Ông Vũ Thư Hiên – kẻ đã đào tẩu khỏi Việt Nam cùng thời với Bùi Tín với ảo tưởng lật đổ chính thể cộng sản sau khi Liên Xô sụp đổ để lên nắm quyền, nhanh chóng tung hứng, chỉ ra, đây là mưu đồ của “liên minh Duẩn-Thọ” đã lợi dụng việc đánh đuổi Khme Đỏ để “chiếm đóng” Campuchia. Đám “xét lại” lịch sử, hay “thực dụng chính trị” cũng ủng hộ Huy Đức, cho rằng Việt Nam đánh đuổi Khme  Đỏ, rồi dựng lên chính quyền bù nhìn hiện nay nên bị dân Cam thù ghét là “đáng đời”…Đám zận chủ thiển cận, ô hợp, mù tịt về lịch sử -chính trị như Hoàng Dũng – thành viên đám tay sai phản động lưu vong Mỹ là Con đường Việt Nam, được dịp trưng trổ phán xét phủ nhận toàn bộ lịch sử bảo vệ đất nước, xin trích nguyên văn  “Hoàng Dũng Chuyện của CPC kệ họ chứ, VN dại dột mất xương máu ráng chịu”. Đám tàn quân cờ vàng thì như vớ được vàng, tha hồ lên án “bản chất độc ác, diệt chủng của cộng sản” vì Khme Đỏ cũng là theo lý tưởng cộng sản diệt chủng giới tư sản, được Trung Quốc hậu thuẫn nên tàn sát cả người Việt nhằm tham vọng độc chiếm Đông Dương…

Đồng thời, bài viết này của Huy Đức đã dấy lên phản ứng vô cùng bức xúc từ chính cựu chiến binh VN và cả dư luận – những người am hiểu lịch sử. CCB chống Tàu Nguyễn Đình Thắng (Thắng Còng) và những đồng đội của ông này vạch trần động cơ của Huy Đức luôn tìm các mua chuộc các CCB gặp hoàn cảnh khó khăn để “chung tay” xét lại lịch sử với hắn ta, trong đó có cả ông Bình mới gây ra cái chết thương tâm cho cháu bé do sơ suất gần đây, đã bị những CCB như ông Thắng Còng phát hiện, ngăn chặn kịp thời.

FB Thi Nguyễn – chủ kênh youtube Winwin Việt Nam, người luôn gắn bó với các CCB Việt Nam và các cây viết báo chí lịch sử cho biết, từ chính giới phóng viên của Huy Đức đã có vô khối lên án bản chất của  hắn “ nó là phóng viên chuyên viết kiểu chuyên án ấy. Kiếm tiền giỏi. Từng chui vào các hang ổ buôn lậu này kia, kiếm được thì không viết bài, không được thì viết. Nhiều mánh khóe, thủ đoạn. Nó viết Bên thắng cuộc, kiếm bộn tiền. Lão Đĩnh đua đòi, viết Đèn Cù, không đắt. Thực ra lão Đĩnh viết bỉ ổi, thằng osin nó khôn, viết ra chiều khách quan.”. (Mời đọc thêm bài viết tổng hợp nhận định của đồng nghiệ về cái nghề làm báo để kiếm tiền của Huy Đứchttp://molang0205.blogspot.com/2014/09/huy-uc-mot-nhan-cach-tham-oc-va-meo-mo.html ). Có thể thấy, Huy Đức là kẻ mang bản chất vô liêm sỉ với nhiều thủ đoạn thượng thừa của kẻ có tài – nhưng tài không đi kèm với đức nên trở thành kẻ gây họa cho xã hội đã chót sản sinh ra hắn. Một fb khác phân tích thủ đoạn của Huy Đức “Chương Thanh San nó viết 7 hư 3 thực, nói mập mờ có vẻ là tin mật, tin hạn chế. Tính con người là tò mò, thấy cái gì có vẻ là bí mật là ham, đọc để còn đi buôn chuyện nên lắm người đọc. Ai tỉnh táo thì biết cái gì nó phịa, cái gì là có, ai không hiểu lắm thì tưởng thật.

Tuy nhiên tình tiết bóc trần bản chất và thủ đoạn chống phá đê tiện nhất của Huy Đức là phủ nhận rằng người Cam từng ca ngợi quân tình nguyện Việt Nam là “quân đội nhà Phật” đang được báo chí Việt Nam khai thác. Trên thực tế, chính ông Hunsen đã từng nhắc lại câu nói này khi thăm Việt Nam ngày 2/1/2012 trước quan chức, truyền thông Việt Nam và đã được đưa tin rộng rãi. Trích nguyên văn:

Ngày 2-1-2012, khi Thủ tướng Hun Sen đến Đồng Nai dự lễ khánh thành di tích lịch sử Sư đoàn 125, tiền thân của Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Campuchia, ông đã gọi bộ đội Việt Nam là đội quân nhà Phật.
Khi ấy, Thủ tướng Hun Sen nói: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng?
Câu trả lời chính là nhân dân và quân đội Việt Nam! Nhân dân Campuchia có niềm tin chỉ có tiên có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng.
Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật”. 
Hơn một năm sau, vào cuối tháng 12-2013 khi thăm Việt Nam, Thủ tướng Hun Sen tiếp tục khẳng định: “Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia đã hi sinh hàng vạn người, bị thương không biết bao nhiêu. Việt Nam đã phải trả một cái giá rất lớn khi giúp đỡ Campuchia... Vấn đề này không quên được”.
Còn đây là bài báo ghi nhận trung thực, khách quan và thẳng thẳn mọi vấn đề nhạy cảm mà giới phóng viên Việt Nam phỏng vấn ông Hunsen ngày 4/1/2012, sau sự kiện trên, Huy Đức và đồng bọn của ông nên đọc và suy ngẫm cho kỹ, trong đó có đoạn phóng viên báo Quân đội nhân dân hỏi:

Quân Đội Nhân Dân: Nhân dân Campuchia gọi bộ đội Việt Nam là “đội quân nhà Phật”. Thủ tướng có thể chia sẻ về điều này?

- Nhân dân Campuchia có niềm tin chỉ có tiên có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật.
Còn việc Huy Đức cho rằng, phát biểu của ông Hunsen trước dân chúng trong ngày lễ 7/1/2017 năm nay, không được “hay” như những lời ông này nói khi ở Việt Nam thì chỉ có thể nói, hoặc ông ta không xứng đáng là nhà báo, không có một chút tư duy chính trị nào, hoặc khả năng thứ 2 là ông ta cố sống cố chết, bới lông tìm vết để phủ nhận vai trò của Đảng cộng sản, xương máu bao thế hệ người Việt đã “giành độc lập” khỏi nhũng đế quốc to như ông ta từng luyến tiếc mà thôi. Rõ ràng với kẻ cầm bút dày dạn như Huy Đức, chỉ có khả năng thứ 2 mà thôi. Xin nhắc lại câu nói “nổi tiếng” bóc trần Huy Đức là công cụ, tay sai của ai, vì sao mất nghề báo, vì sao sản xuất ra những bài viết kiểu này, đó là câu nói (lại núp danh người bạn nước ngoài nào đó) rằng: “Tao không nghĩ nước máy đánh thắng mấy đế quốc to, tao nghĩ nước mày đã đuổi đi những nền văn minh của nhân loại”

Còn độc giả muốn tìm hiểu rõ hơn về thủ đoạn chống phá lịch sử, đất nước Việt Nam thì hãy đọc, nghe những bài báo, nhà phê bình nói về cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” như Nhà văn Đông La nhận xét về "Bên thắng cuộc",LỊCH SỬ NHÌN QUA LỖ ĐỒNG XU (Về cuốn Bên thắng cuộc của HuyĐức)“Bên thắng cuộc” và sự tụng ca của những mịt mù Trao đổi về “Bên thắng cuộc” – sự ngộ nhận cố ýCuốn sách "Bên thắng cuộc" của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử.HUY ĐỨC - MỘT NHÂN CÁCH THÂM ĐỘC VÀ MÉO MÓ 


 Nhân cách và bản chất như vậy, hà tất phải thắc mắc thêm về động cơ của hắn.

Nguyễn Biên Cương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

20 nghịch lý cuộc sống


image-30
Nhiều chân lý quan trọng trong cuộc sống lại có vẻ ngoài khá nghịch lý. Những chân lý này có vẻ như khó mà đúng, tuy nhiên kinh nghiệm lại chứng minh hết lần này đến lần khác. Chỉ khi ta nhìn sâu hơn, thì chân lý mới lộ rõ.
Dưới đây là 20 nghịch lý tôi đã gặp, và luôn đúng:

1. Bạn càng ghét một tính cách nào đó của người khác, thì càng có nghĩa là bạn đang chối bỏ tính cách ấy bên trong mình. Nhà tâm lí học Carl Jung tin rằng tính cách của người khác làm bạn khó chịu chỉ đơn giản là hình ảnh phản chiếu của tính cách bản thân mà bạn đang chối bỏ mà thôi. Freud gọi nó là “sự phóng chiếu (projection).” Ví dụ, một người cảm thấy thiếu an toàn vì cân nặng của bạn thân thường sẽ gọi người khác là “mập.” Một người cảm thấy bất an vì túi tiền sẽ phê phán cách dùng tiền và kiếm tiền của người khác.
2. Người nào không tin được ai thì không đáng tin. Những người thường thấy bất an sẽ dễ phá hủy mối quan hệ. Ta sẽ thường thấy trong những người này xuất hiện triệu chứng nhân vật chính (tức là cảm thấy đời mình khó khăn, mình là nhân vật chính và phải đương đầu nhiều khó khăn hơn, trong khi người khác là nhân vật phụ, họ cũng phải hỗ trợ cho ta giải quyết khó khăn của đời mình). Mà hơn nữa, một cách để bảo vệ mình khỏi bị tổn thương là làm tổn thương người khác trước.
3. Bạn càng cố gây ấn tượng với ai, họ càng ít ấn tượng với bạn. Không ai thích nhây hết.
4. Càng thất bại nhiều, càng có khả năng thành công. Cứ lấy bất kì câu danh ngôn thành công của người nổi tiếng nào làm ví dụ. Bạn nghe nhiều rồi. Edison đã thử 10 nghìn lần trước khi tạo được bóng đèn. Michael Jordan bị đuổi khỏi đội bóng rổ trường trung học. Thành công đến từ sự tiến bộ; sự tiến bộ đến từ thất bại. Không có đường tắt đâu.
5. Thứ gì càng đáng sợ, thứ đó càng đáng làm. Dĩ nhiên là trừ những thứ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng (mà cơ thể tự động né nhờ bản năng). Ví dụ: bắt chuyện với một người dễ thương, cold call (tạm hiểu là gọi cho người lạ) một người nào đó để tìm việc mới, nói trước công chúng, mở công ty, nói điều ngược lại với cách nghĩ thông thường, thành thực tuyệt đối với ai đó… Tất cả những thứ này bạn đều sợ, và bạn sợ thường là vì đó là những thứ bạn nên làm.
6. Càng sợ chết, càng khó tận hưởng cuộc sống. Tôi rất thích câu này: “Cuộc đời tỉ lệ với sự dũng cảm của mỗi người.”
7. Càng học nhiều, càng thấy mình biết ít. Đây là ý của Socrates. Mỗi lần hiểu biết thêm điều gì, thì tư duy ta lại tạo ra nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời.
8. Bạn càng ít quan tâm đến người khác, thì cũng càng ít quan tâm đến chính mình. Tôi biết điều này sẽ đi ngược lại nhận thức của nhiều người. Bạn sẽ tưởng tượng ra mấy thằng khốn ích kỷ chỉ biết đến mình. Nhưng mà này, con người thường đối xử với người khác theo cách họ đối xử với chính mình. Có thể bề ngoài thì không đúng, nhưng sâu bên trong, ai càng đối xử tồi với người khác thì cũng càng đối xử tồi với chính mình.
9. Càng kết nối, càng cô đơn. Tuy ta càng ngày càng giao tiếp thường xuyên, nhưng nhiều nhà khoa học khám phá ra rằng con người ta ngày càng cảm thấy cô đơn và buồn khổ trong xã hội hiện đại mấy chục năm gần đây.
10. Càng sợ thất bại, càng dễ thất bại. Dựa trên thuyết lời tiên tri tự hoàn thành (self-fulfilling prophecy). Nói cách khác, cầu được ước thấy.
11. Càng cố làm điều gì, điều ấy càng khó đạt. Khi ta nghĩ rằng một việc gì đó là khó làm, thì trong vô thức ta làm nó khó hơn. Ví dụ, mấy năm trời tôi nghĩ bắt chuyện với người lạ là một việc bất thường và khó khăn. Kết quả là tôi bỏ rất nhiều thời gian lên chiến lược và nghiên cứu kế hoạch bắt chuyện với người lạ. Tôi không biết rằng tôi chỉ cần chào một tiếng và hỏi vài câu thông thường là đã có 90% bắt chuyện thành công. Nhưng vì tôi nghĩ rằng nó khó, nên tôi đã làm mọi thứ khó khăn hơn rất nhiều.
12. Thứ gì càng nhiều, bạn càng ít muốn có. Con người rất hay bị thiên kiến khan hiếm (scarcity bias). Trong vô thức, ta cho rằng những thứ khan hiếm mới có giá trị, còn thứ gì đầy rẫy thì lại không. Sự thật không phải như vậy (hãy nghĩ đến không khí đi, rất nhiều, nhưng rất có giá trị, không tin bạn cứ thử nín thở).
13. Cách tốt nhất để ở bên ai đó là không cần phải ở bên người ấy mãi. Nguyên tắc của tôi là không tham lam. Cách tốt nhất để duy trì một mối quan hệ tình cảm tốt là đầu tư vào chính mình, để vẫn có thể vui vẻ trong những lúc không có người yêu ở bên.
14. Càng thành thật về lỗi lầm của mình, người ta càng nghĩ bạn hoàn hảo. Bạn càng thoải mái với việc mình không phải là người giỏi giang, vĩ đại, thì người khác lại càng nghĩ bạn chắc là thần thánh phương nào!
15. Càng cố níu kéo ai đó kề bên, bạn càng khó giữ. Một nguyên lý về sự ganh tị: khi các hành động hay cảm xúc trở thành nghĩa vụ, thì nó mất đi hết ý nghĩa. Nếu bạn gái của bạn cảm thấy buộc phải bỏ hết cuối tuần ra để ở với anh người yêu, thì thời gian mà hai bạn ở bên nhau đã hóa vô nghĩa rồi.
16. Càng cố tranh cãi, càng khó thuyết phục. Vấn đề là đa số luận điểm về bản chất đều cảm tính. Khi tranh cãi, nghĩa là nền tảng giá trị hay nhận thức của một người nào đó đang bị xâm phạm. Logic chỉ dùng để đánh giá những thứ nằm ngoài niềm tin mà thôi. Người ta thường không thay đổi quan điểm về niềm tin của mình vì người đối diện nói rất khách quan hay logic. Để thực sự tranh luận, tất cả các bên phải thực lòng bỏ cái tôi sang một bên và chỉ làm việc với dữ liệu trên bàn. Rất khó xảy ra chuyện này, nhất là đối với những người hay chém gió trên mạng.
17. Càng có nhiều lựa chọn, càng khó hài lòng. Đây gọi là nghịch lí của sự lựa chọn. Người ta nghiên cứu thấy rằng, càng có nhiều lựa chọn, thì ta càng ít hài lòng với mỗi lựa chọn. Lí do là khi có nhiều lựa chọn, thì chi phí cơ hội của mỗi lựa chọn càng lớn (nói dễ hiểu nghĩa là ta có cảm giác phải từ bỏ nhiều lựa chọn khác cũng hấp dẫn không kém), thế nên chọn cách nào cũng không vui.
8. Càng nghĩ rằng mình đúng thì càng không biết gì. Có một mối tương quan trực tiếp giữa việc thoải mái đón nhận những luồng ý tưởng khác biệt và mức độ hiểu biết. Bertrand Russell đã nói: “Thế giới này gặp vấn đề là vì mấy thằng ngu thì cứ chắc chắn, còn những người thông minh lại hay nghi ngờ.”
19. Thứ duy nhất chắc chắn là không điều gì là chắc chắn. Tôi nhận ra điều này năm 17 tuổi, và khi đó suýt nữa thì tôi điên luôn.
20. Thứ duy nhất không thay đổi là sự thay đổi. Đây là một câu nói có vẻ như quá rõ ràng, nhưng thực sự lại không có nghĩa gì rõ ràng cả. Nhưng… nó đúng!
SOURCE: https://markmanson.net/paradoxes-that-are-true
Nguồn dịchEcoblader 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MỐI TÌNH ĐẦU PHÙNG QUÁN Ở SẦM SƠN

 


                                                                         Ngô Minh



         PHÙNG QUÁN 1954
Phùng Quán là nhà văn dính vụ Nhân văn-Giai Phẩm. Nhưng Phùng Quán đã được Giải thưởng Nhà nước năm 2007 và được đặt tên đường ở Thị xã Hương thủy, Thừa Thiên HuếTrong những cuốn sách biên soạn về Phùng Quán, tôi đã cung cấp cho độc giả mối tình nồng cháy, vượt qua đau khổ và cơ cực của Phùng Quán – Vũ Bội Trâm, chúng tôi đã hé lộ đôi chút về những mối tình sau này của nhà văn Phùng Quán với họa sĩ Hương Quân,  …  Lần này lại một mối tình nữa, mà là mối tình đầu ly kỳ hơn đã được Phùng Quán tự kể và chị Vũ Bội Trâm, vợ nhà văn,  phát hiện ra.  Chuyện tình năm 22 tuổi này thì ngay cả vợ con và bạn bè thân quen anh cũng bị bất ngờ. Trong bài viết “ Tôi soạn Di cảo của Anh” in ở cuối sách “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” của Phùng Quán, chị Vũ Thị Bội Trâm, viết :”…vô tình tôi phát hiện ra một cuốn sổ đã cũ trong số bộn bề những sổ tay ghi chép của anh, giở ra đọc thì thấy đó là những trang anh viết về khúc quanh của cuộc đời. Càng đọc tôi càng bị thu hút bởi những chuyện mà sau bao nhiêu năm chung sống nay tôi mới được tỏ tường…”. Có thể anh viết lâu rồi, để trong tủ rồi quên chăng ? Hay sợ chị Bội Trâm ghen nên không  dám in ra ?

      cu-nhu1 Cụ Nhủ ở Sầm Sơn
Đó là mối tình Phùng Quán với một cô gái làng biển tên là Như ở Hải Thôn, Sầm Sơn, Thanh Hoá .Để dễ theo dõi cuộc tình éo le và hấp dẫn này , tôi xin vắn tắt đôi nét chuyện Phùng Quán đi làm phóng viên ở Sầm Sơn. Năm 1954, Phùng Quán đang là chân kéo phông màn của Đoàn văn công Liên Khu 4 do nhà thơ Thanh Tịnh làm Trưởng đoàn. Sau khi tham gia biểu diễn phục vụ bộ đội ta ở Việt Bắc và Điện Biên Phủ, đoàn về tới Cây Đa Tân Trào. Theo đề nghị của Thanh Tịnh, Phùng Quán được điều về Tổ phóng viên đi phục vụ việc trao trả tù binh ở Sầm Sơn, Thanh Hoá do anh Nguyễn Trần Thiết phụ trách (Nguyễn Trần Thiết sinh năm 1929, quê Thanh Hoá,  nhà văn Việt Nam, Đại tá, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội). Phùng Quán lúc đó chưa viết được bài báo nào cả, nên được anh Thiết phân công mang một cái máy ảnh to kềnh càng “như tráp thợ cạo” để chen lấn che ống kính của các phóng viên phương Tây, cản trở họ quay cảnh tù binh Pháp được trả. Cách mạng thì nghèo. Ngay bộ đội ta vẫn không đủ gạo ăn, làm gì có nhiều tiền để phục vụ các thương binh Pháp ! Nên một số thương binh Pháp ốm đau, gầy gò da bọc xương phải xuống tàu bằng cáng,  nếu cảnh này được quay, được viết đăng trên báo chí quốc tế, tuyên truyền nói xấu ta trước thế giới, thì cách mạng “bị mất mặt”. Những ngày đó, Phùng Quán theo tổ phóng viên ra Sầm Sơn đón tù Côn Đảo, hỏi chuyện người tù trở về, rồi tối lại về cặm cụi viết.

Phùng Quán trọ trong nhà một ngư dân đánh cá ở xóm Hải Thôn sát cửa biển Sầm Sơn, ngay cạnh địa điểm trao trả tù binh. Trong nhà có cô gái Như 16 tuổi, thua Phùng Quán 4 tuổi, là  đội trưởng Thiếu nữ chim hoà bình Hải Thôn. Em Như học lớp sáu. Đội chim hoà bình này khi có tù binh ta được trao trả thì ra múa để đón chào. Một bữa Như hỏi Phùng Quán :”- Anh viết cái gì mà lúc nào cũng thấy cặm cúi viết viết thế!”….” Em đứng sát sau lưng tôi, cúi xuống. Cằm gần chạm đỉnh đầu tôi. Mái tóc cắt ngắn ngang vai của em xoả xuống. Đuôi tóc chạm vào gáy tôi nhồn nhột. Tôi ngửi thấy mùi em chua chua, ngòn ngọt..”. “- Anh đang viết lại chuyện những người tù nhân đóng thuyền vượt Côn Đảo” mà hôm nọ anh nghe họ kể”. Phùng Quán viết được mấy chục trang, đọc lại thấy “chán quá”, liền trao cho cô bé Như  bảo “Em đun bếp đi”. Nhưng Như không đun bếp mà chạy ra rừng dương  đọc những trang viết đầu tiên của tiểu thuyết đầu tay của Phùng Quán một cách chăm chú. Thế là từ đó Như trở thành độc giả đầu tiên của tiểu thuyết Vựơt Côn Đảo khi nó mới vừa  manh nha. Rồi Như viết thư khen :” Em đã đọc hết tập giấy anh viết. Em đọc ba buổi chiều liền..Em vừa đọc vừa khóc thương các anh tù Côn Đảo quá. . Anh viết tiếp đi cho em đọc với. Mỗi ngày em sẽ cho anh củ khoai nướng…”. Rồi những trang  bản thảo đã dắt họ đến gần nhau. Một lần…” Tôi ngồi xuống cạnh em, bất chợt ngoảnh sang nhìn em. Lồng ngực tôi đánh đến nỗi làm mắt tôi mờ đi. Tôi chưa bao giờ thấy em đẹp như thế. .. Hai má màu hoa lựu và cặp môi đỏ ướt một cách khác thường. Đầu óc tôi quay cuồng… Em sắp lấy chồng, là chàng trai biển, con một nhà giàu có ở xóm trên…. Như đang mê sảng, tôi đưa tay vòng vào cổ mảnh dẻ của em, vòng qua mái tóc xoả vai, kéo mặt em sát mặt tôi. Tôi cúi xuống hôn vụng về lên môi em. Cả người tôi như tan ra trong hoan lạc… ‘’

Sau cái hôn đầu tiên đó, Phùng Quán run lên vì lo lắng và xấu hổ. Những ngày mới hoà bình kỷ luật quân đội vô cùng nghiêm khắc. Quan hệ với phụ nữ nơi đóng quân là quan  hệ bất chính. Đó là một tội lỗi xấu xa và ghê tởm nhất. Nếu cấp trên phát hiện ra Phùng Quán có thể đuổi khỏi quân đội ngay lập tức. Sợ quá, hai ngày sau, Phùng Quán xin Tổ phóng viên chuyển về đơn vị cũ, rồi khoác ba lô chuồn khỏi Hải Thôn, Sầm Sơn. Đi như một người chạy trốn.  Khi Phùng Quán rời Sầm Sơn được bốn năm cây số thì cô Như chạy đuổi theo, hét lên : – Anh Quán , Anh Quán ơi !. Rồi Như úp gương mặt đầm đìa mồ hôi vào ngực Phùng Quán, nức nở : ‘’ Em thương anh ! Em thương anh ! Anh không biết gì cả ?.. ‘’. Rồi Như đã nói thẳng ý định của mình :’’ Em định nói với bố mẹ trả lại lễ vật cho nhà trai, rồi em đợi anh… ‘’ Tôi nghĩ, đây là lần đầu Phùng Quán yêu và hôn con gái, vụng về, run rẩy trước con gái, rồi sợ hãi, xấu hổ sau khi hôn… Vì lúc đó anh mới 22 tuổi. Và đó là mối tình đầu của Phùng Quán.   Đọc cuốn hôi ký Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào   tôi lại nghiệm ra một điều tâm đắc: Phùng Quán trở thành nhà văn là do “tình cảm”, ‘’tình yêu‘’ của cô Như ở Hải Thôn. Cô Như ấy chính là “người đọc đầu tiên” của tiểu thuyết Vượt Côn Đảo , và đã khóc, đã khen hay, thưởng khoai nướng, bánh đúc-kê khuyến khích Phùng Quán viết tiếp.

Khi đã về Văn nghệ Quân đội, được nhà văn Vũ Tú Nam giúp đỡ, tiểu thuyết Vượt Côn Đảo được in và được đánh giá cao, người đầu tiên Phùng Quán nghĩ đến tặng sách là ‘’người em gái Hải Thôn, Sầm Sơn’’. Trong hồi ký , Phùng Quán viết : ‘’Tôi chọn cuốn đẹp nhất, nắn nót viết lên trang đầu sách : Yêu quý tặng em Như ( lúc này tôi mới nhớ ra tôi không biết họ em  là gì : Lê ,Trần  hay Nguyễn. Tại sao tôi không bao giờ có ý định hỏi em…). 53 năm sau, chuyện tặng sách Vượt Côn Đảo mới được người Đi tìm Như của Phùng Quán tên là Thu Dịu thay mặt chị Bội Trâm thực hiện. Cuộc đời kết thúc quả là có hậu. Không có điều  gì tốt đẹp trên đời này mất đi cả…

Trong dịp được Nhà xuất bản Văn Nghệ bao ra Hà Nội dự lễ ra mắt hai tập sách  Phùng Quán còn đây ‘’ và ‘’ Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào ‘’ ở Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ. Bữa đó, chị Bội Trâm kể cho tôi nghe nhiều về mối tình Phùng Quán và cô Như Sầm Sơn ấy. Chị kể rằng,  Nhà xuất bản Văn Nghệ  sau khi nghe tin Phùng Quán có cuốn hồi ký Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào, đã nhanh chóng nhờ Thu Dịu,  một sinh viên đại học báo chí mới ra trường, ở Hà Nội, đến cùng chị Bội Trâm  sắp xếp chỉnh lý lại cuốn hồi ký trước khi đưa vào Sài Gòn in. Theo chị Bội Trâm, Thu Dịu là một cô gái trẻ thông minh và quyết đoán, rất chịu khó, nói là làm và làm được.  Đọc chuyện cô Như trong hồi ký Phùng Quán, Thu Dịu cho rằng, ‘’ Đây không thể là hư cấu, vì câu chuyện rất chân thật. Vì thế cháu sẽ tìm xem nhân vật Như này có thực hay không ?’’. Tất nhiên nếu Thu Dịu tìm không ra người con gái Hải Thôn ấy, hay người con gái ấy không có thực đi nữa thì bạn đọc sách cũng không nghi ngờ những trang viết của Phùng Quán. Vì ngòi bút Phùng Quán xưa nay vốn rất chân thành, trung thực.

Nhưng nếu tìm được cô Như Hải Thôn ấy, thì câu chuyện sẽ trở nên cực kỳ thú vị, giá trị cuốn sách sẽ cao gấp nhiều lần…Vì thế Giám đốc NXB Văn Nghệ Nguyễn Đức Bình đã động viên Thu Dịu quyết tâm đi tìm. Thu  Dịu tìm Hải Thôn trên bản đồ tỉnh Thanh Hoá, trên mạng không thấy. Tìm mãi được số điện thoại, hỏi người bạn bảo là Hải Thôn thuộc xã Quảng Tiến. Điện thoại hỏi xã tên cô Như khoảng 70 tuổi thì cũng chẳng ai biết. Chị Bội Trâm khuyên Thu Dịu đừng nên vất vả tìm nữa, vì tìm phải tốn nhiều thời gian công sức lắm. Hơn nữa lúc này Thanh  Hoá đang bão lụt, đi rất nguy hiểm.

Thế mà Dịu đã đi Sầm Sơn và tìm ra cô Như thật. Dịu đi để tìm ra sự thật. Để tìm ra độ tin cậy của cuốn hồi ức Phùng Quán. Chị Trâm thốt lên :’’Đó là một  cô gái rất tôn trọng sự thật và có bản lĩnh ‘’. Theo Thu Dịu kể trong bài “ Đi tìm Như của Phùng Quán ‘’ (Báo Tuổi Trẻ cuối tuần, 11-2007), thì nhờ Website của Hội đồng hương Sầm Sơn, nhờ được một người bạn ở Thanh Hoá đi tìm giúp cô Như ở Hải Thôn. Và người bạn ấy đã tìm thấy cô gái trong đội Chim hoà bình Hải Thôn xưa, nay đã 70 tuổi, quen biết Phùng Quán, nhưng không phải tên Như mà tên là  Nhủ. Thu Dịu đã điện thoại trực tiếp gặp bác Nhủ của Phùng Quán. Thế là Dịu quyết định về Sầm Sơn, Thanh Hoá…

Chị Bội Trâm phấn khích lắm. Tôi chưa bao giờ thấy một người phụ nữ nào khi được biết cụ thể về ‘’người tình’’ cũ của chồng mình mà lại phấn chấn vui vẻ đến vậy ! Chị kể rằng, khi Thu Dịu đi Sầm Sơn, chị chọn một cuốn ‘’Vượt Côn Đảo’’tái bản, lứa in thật cũ để tặng chị Nhủ cho hợp với câu chuyện,  nhưng tìm không có. Cuối cùng phải lấy cuốn NXB Lao động vừa tái bản năm 2007, kèm theo tấm ảnh Phùng Quán mặc đồ bộ đội chụp năm 1954 để tặng bà Nhủ kèm theo lời nhắn gửi thân tình, biết ơn. Sau chuyến đi Sầm Sơn ra lại Hà Nội, Thu Dịu trân trọng chuyển chị Bội Trâm món quà của ‘’Như Phùng Quán‘’. Đó là năm con mực to dài, phơi chưa khô lắm, nhưng thơm nức với lời nhắn rằng, ‘’gia đình làm nghề biển, gửi bà vợ nhà văn Phùng Quán để bày tỏ tấm lòng của người cũ và  xin mời bà có dịp về thăm Sầm Sơn, để chị em hàn huyên‘’. Câu chuyện giống y như tiểu thuyết hư cấu!

Theo Thu Dịu kể, khi gặp, đưa ảnh, bà Nhủ Hải Thôn nhận ra ngay tấm ảnh Phùng Quán. Bà Nhủ bảo : ‘’Đúng là anh Quán thời trẻ ‘’. Bà Nhủ cũng xác nhận là ngày đó bác đã đọc bản thảo Vượt Côn Đảocủa Phùng Quán‘’vừa đọc vừa khóc’’. Rồi bà còn sửa lỗi chính tả cho Phùng Quán nữa.           Theo Thu Dịu kể, thì bà Nhủ nghe đài còn biết truyện Vựơt Côn Đảo của Phùng Quán đã được in ngay năm đó và sau đó anh bị ‘’ phê phán’ gì đó  bác cũng biết . Bà dẫn Thu Dịu đi  để chỉ những nơi ngày xưa trao trả tù binh, nơi ‘’anh Quán làm việc phóng viên’’ hàng ngày, và rừng dương noi cô bé Nhủ đã ngồi đọc những trang đầu tiên của tiểu thuyết Vượt Côn Đảo và khóc. Lúc đó, dù đã  được nhà trai ’’bỏ lễ hỏi’’, bà đã yêu Phùng Quán, đợi Phùng Quán , mãi đến 4 năm sau bà Nhủ vẫn chưa lấy chồng. Năm 1957, có lần theo anh trai  ra Hà Nội, bà đã đi tìm Phùng Quán ở Báo quân đội Nhân dân, nhưng đến nơi thì người ta bảo anh ấy ‘’đi công tác xa’. Sau đó về quê bà mới lập gia đình. Có nghĩa là bà vẫn chờ đợi và đi tìm Phùng Quán. Bà còn kể rằng, năm 1960, bà còn gặp ‘’anh Quán’’ một lần nữa. Lần đó Phùng Quán theo ông chú họ ( có lẽ là ông Phùng Thị ở Bộ Văn hoá) vào Thanh Hoá, anh  tìm về thăm ‘’người cũ’’ ở Hải Thôn, Sầm Sơn,  nhưng không gặp. Đi làm về, nghe người nhà báo lại, bà Nhủ lập tức đạp xe lên thị xã Thanh Hoá, tìm đến chỗ trọ Phùng Quán ở Ty Văn hoá. Chờ mãi mới gặp. Lần đó Phùng Quán đã  tặng bà Nhủ một bài thơ. Bà chỉ nhớ một khổ, đọc cho Thu Dịu chép :
Chim hải âu dựng cánh giữa lưng trời
                          Đang tìm bạn hay tìm ai chẳng biết
                          Bạn đời ơi thôi từ nay đã hết
                          Gửi tình thương bất diệt lúc chia tay…
Phùng Quán viết bài thơ này khi anh chưa lập gia đình. Và đến 47 năm sau bà Nhủ vẫn nhớ. Chứng tỏ tình  cảm sâu nặng giữa hai người. Bài thơ có thể là lời chia tay tha thiết với ‘’người yêu’’ Sầm Sơn vì lúc này bà đã có gia đình, mà Phùng Quán thì đang trong vòng tai ương khốn khổ…

Cuộc đời Phùng Quán quả có nhiều bất ngờ thú vị và xúc động. Chuyện bà Nguyễn Thị Nhủ, Hải Thôn, Sầm Sơn, Thanh Hoá và những thực tế mà Thu Dịu cung cấp, đã nói một điều hệ trọng : Đây là mối tình đầu,  một mối tình sâu nặng của Phùng Quán trong đời lính của mình. Mới hay, với Phùng Quán , hiện thực cuộc đời mình còn ly kỳ hơn cả tuyết thuyết hư cấu !



Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRUYỆN NGẮN HAY LÀ CHUYỆN VẶT?

HG

Cách đây mấy năm, đã từng có một hội nghị bàn về văn học như thế này. Lúc đó Đại công quốc XHCN Lybia còn đứng vững. Ngài Kadapi còn là người anh hùng, được coi như thần tượng trong lòng nhiều người căm thù sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và tình hình biển đông chưa nóng lên như bây giờ. Tham nhũng chưa làm cho người ta cảm thấy bức bối, đạo đức xã hội và ô nhiễm môi trường chưa đáng lo ngại như hiện nay.
Nhưng hắn đã cảm thấy thất vọng. Hình như có sự lèo lái trong văn đàn, muốn hướng nó đi theo chiều hướng khác. Khi người ta bảo rằng : “Văn học ngày nay không còn mang tính hướng đạo, trách nhiệm tinh thần.. Nó chủ yếu nhằm giải trí cho công chúng..” Ông ta còn nói và dẫn ra nhiều ví dụ. Cho đến bây giờ hắn vẫn nhớ như in, dù suốt hội nghị ấy hắn không hề ghi chép như hầu hết những vị ngồi nghe. Người ta đã quen theo tập quán, nghe, ghi chép một cách thản nhiên. Ai biết trong lòng họ nghĩ gì?
Nhưng câu chuyện hôm ấy để lại trong hắn mặc cảm nặng nề. Suốt một thời gian dài hắn bứt dứt không yên, hắn không viết được cái gì cho ra hồn. Giữa thực tế và lý luận có một khoảng cách ghê gớm.
Không lẽ văn học không còn lý tưởng, bổn phận để nó hướng tới như nhu cầu tự thân của nó từ khi nó xuất hiện trong đời sống con người ?
Không phải không có văn chương giải trí.. Nói như N.H.T có nhiều loại văn chương. Như anh hàng thịt có loại thịt mông, thịt sấn, thịt bạc nhạc.. Không phải chỉ có một thứ “Văn học giải trí”. Nếu có, chỉ là một phần nhỏ, một họa tiết trong bức họa muôn màu của văn học của mọi thời đại. Nó không thể cầm trương, cầm trịch, mang tính đại diện cho văn học được, dù bất luận thời thế và hoàn cảnh nào!
Nếu đơn giản “Làm văn chương chỉ để chơi”, hắn nghĩ sẽ rất nhiều người bỏ cuộc. Nhất là những ai mang cả đời mình cống hiến cho nó. Họ đánh đổi cả công danh, lợi lộc, tiền bạc, thậm chí cả mạng sống mình, tự do của mình, không lẽ để được “chơi” như thế?
Ở đấy không có chuyện đòi hỏi bổng lộc, thú vui hưởng thụ, chấp nhận hy sinh, thua thiệt nếu người ta nghĩ và làm đứng đắn. Chắc chắn không ai muốn “Chơi” như thế, vì chơi là để vui, chứ buồn nhiều hơn còn ai chơi nữa không ?
Có lẽ không cần thiết phải bàn về chuyện này nữa. Đương nhiên người cầm bút bao giờ cũng tự biết phải trang bị cho mình hành trang cần phải có, những điều sơ đẳng này rồi.
Vậy thì tại sao, một nhà thơ nhớn như vậy lại đem đặt ra vấn đề khôi hài và kỳ quặc đó?
Có câu : “Ăn cơm chúa, phải múa tối ngày”. Không lẽ vì lẽ đó sao?
Hắn biết người như ông ấy không phải không biết. Đáng buồn ở chỗ điều không đáng, không nên nói, không muốn nói, lại được nói ra với sự hăm hở với vẻ chân thành!
Hình như có sự khuyến khích ngấm ngầm cho các loại chuyện vặt vãnh, tránh xa những điều “Nhạy cảm”, nóng bỏng, nhức nhối trong hiện thực đời sống hàng ngày. Những vấn đề hơn ai hết, người cầm bút, mệnh danh “Kẻ sĩ trong thiên hạ” phải quan tâm đến hàng đầu. Vào lúc này, anh ta không có quyền nỉ non “Cà, kê, dê, ngỗng, con cá, lá rau..” Nếu không muốn đánh mất mình, muốn bị lãng quên như một thứ đồ chơi nhất thời hết hạn xử dụng.
Không phải ngẫu nhiên phần lớn các tác phẩm trên báo chí và các phương tiện xuất bản dưới nhiều hình thức hiện nay “Nhạt” và ít được công chúng chú ý. Thậm chí nhiều ấn phẩm “ Cho không, biếu không” chẳng được hoan nghênh.
Nói gì thì nói, đó là hiện tượng có thực. Không có thế lực thù địch nào, kẻ xấu nào xuyên tạc, khích bác cả.
Thực ra văn chương và tư tưởng không thể tách rời. Hay nói cụ thể hơn: Văn chương chính là cái đẹp của tư tưởng và tình cảm con người. Thiếu tư tưởng, không có chính kiến, văn chương sẽ chết, hoặc sống lay lắt, nhố nhăng bằng sự bịa đặt thảm hại, làm trò hề mua vui cho một nhóm nhỏ người và bị lợi dụng mà thôi.
Một hội thảo về thơ mà không đả động gì đến các trào lưu tư tưởng hiện đại, không nhắc đến những diễn biến đương thời, thử hỏi ích lợi gì cho người làm thơ?
Dạy anh ta về cấu tứ, về ngôn ngữ, hình thức, về tu từ, về cách diễn đạt chẳng buồn cười lắm sao? Nếu chưa biết những điều sơ đẳng, đương nhiên ấy bàn đến thơ làm gì nữa nhỉ?
Người ta có thể dạy nấu ăn, dạy làm vườn, dạy làm nhiều công việc khác.. Nhưng tuyệt đối không thể dạy làm thơ, hay viết văn được. Cái đó là trời phú cho, là thiên bẩm của từng người. Có người học hành chẳng bao nhiêu mà làm thơ vẫn rất hay. ( Đương nhiên có học, có văn hóa vẫn dễ hay hơn). Hắn có nhiều người bạn học hàm, học vị rất cao chuyên về văn học mà không có lấy một sáng tác nào, tác phẩm nào. Suốt ngày chỉ biên tập, khen chê người khác, tự cho mình cái quyền nhận xét, đánh giá, bình phẩm thiên hạ. Hắn không cho số người này là kém cỏi. Hắn chỉ lấy đó làm ví dụ cho việc có thể dạy người ta làm thơ hay viết văn được không mà thôi?
Làm gì có công thức, có định nghĩa nào cụ thể cho thơ? Nếu có chính là sự cáo chung của thơ rồi!
Lần này lại là một hội nghị khác, chuyên đề về văn xuôi. Hình như bây giờ xã hội phát triển, đời sống được cải thiện, được nâng cao, thiên hạ thái bình, lòng người thanh thản nên có nhiều thời gian, nhiều sự quan tâm hơn?
Những mối quan tâm cũ còn chưa kịp tiêu hóa hết, lại đến cuộc bàn về truyện ngắn lần này.
Hắn cứ day dứt mãi : Truyện ngắn hay là chuyện vặt đây?
**
Hội nghị diễn ra trong hai ngày. Công văn gọi đích danh “Lớp tập huấn”. Chỉ riêng cái tên gọi cũng đã nhiều người thắc mắc. Thành phần gồm các nhà văn cỡ nhàng nhàng, không mấy tên tuổi. Loại như ông “Ma xó” thì nói luôn: “Tao đến làm gì cho nó nhớp?”
Một vài ông nữa, không nói, nhưng coi như không có chuyện gì. Sự thờ ơ ở một thời điểm nào đó cũng có thể “Thể hiện chính mình”!
Vài chuyện nữa, hắn không bận tâm. Không phải hắn sính họp, hay mong được có sự đãi ngộ be bé nào đó ( thường là có, khi có các sự kiện này). Cái chính là hắn cũng đang bức bối trong công việc viết lách của mình. Hắn mong có một gợi ý nào đó trong mớ bòng bong  suy tưởng..
Xã hội đã “Đổi mới” về kinh tế, “Cải cách” về chính trị, nhưng xem ra Văn học nghệ thuật vẫn y như lề lối cũ.
Vẫn là HTXHCN với lối viết trần trụi, kể lể. . Vẫn những câu chuyện về chiến tranh na ná giống nhau. Một vài câu chuyện yêu đương nhạt nhẽo và gượng gạo.. Cần một sự cách tân, đổi mới triệt để mới mong bắt kịp diễn biến khôn lường đang xảy ra từng giờ từng phút trên đất nước này.
Đâu là hướng đi? Mỗi người phải tự có cách tìm tòi, thể hiện. Có một cuốn sách gần đây của VXT mà hắn rất thích. Có đoạn ví định hướng như đường ray đến điểm cụt. Người ta không thể cứ lăn bánh theo hai thanh ray có sẵn. Tới đây mỗi người phải tự thay bằng bánh lốp. Tự lèo lái theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Cái đó vừa là thách thức vừa là cơ hội..

Buổi sáng khai mạc có mặt tương đối đầy đủ. Nhưng đến chiều số người không đến khá nhiều. Mấy hàng ghế bỏ trống.
Hắn nhìn quanh, hóa ra đa số có mặt là các vị về hưu. Những vị không đến đây có lẽ cũng chơi cờ, hoặc ngồi uống bia, uống trà hay xem đá gà ở một nơi nào đó. Các vị này, dù có tập huấn hay không, tư duy và cảm xúc cũng vẫn y như vậy.
Khó có khả năng có “Đột phá” hay “Khởi sắc” lên được như mong muốn của nhà tổ chức.
Hắn chợt nghĩ, vào thời điểm này, khi người ta ráo riết kiếm tiền với câu cửa miệng “kinh tế thị trường”, những người còn vương vấn với văn chương sẽ ngày một ít dần. Nơi mà không nói ai cũng biết sẽ mất gì? Được gì?
Dầu sao cũng phải kính trọng các vị ấy. Những người tuổi cao, vọng trọng còn mang chút quỹ thời gian ngắn ngủi của mình phụng sự cho nền văn học nước nhà. Một nền văn học được mệnh danh từ lâu là “Phục vụ nhân dân, đối tượng chủ yếu nhằm vào Công nông binh”. Một nền văn nghệ mang tính đại chúng, tính đảng khá cao!
Định hướng như thế, hèn gì văn học như quần áo may sẵn, có quy định rõ ràng về số đo, về kiểu cách. Cái gì khác lạ rất khó chấp nhận. Chả trách NMC, đến lúc giã từ cõi này phải viết một “ai điếu cho một nền văn học”.
Số bỏ về, để ý kỹ đều là sinh viên, giảng viên đại học. Có thể những điều diễn giả trình bày không khác bao nhiêu giáo trình giảng dạy của nhà trường. Họ đến đây kỳ vọng học hỏi được kinh nghiệm sáng tác của nhà văn chứ không phải để nghe lại bài giảng trên lớp.

Hắn không hứng thú mấy, nhưng vẫn ráng ngồi nghe. Dù sao thì cũng có chút liên quan đến vấn đề mình quan tâm. Với lại, ở đời muốn học gì thì học, phải biết xem cả hai chiều. Hay cũng học, mà dở cũng phải xem chừng. Ý tưởng đôi khi lóe lên từ những phản cảm là chuyện không có gì lấy làm lạ.
Cũng không khác mấy buổi hội thảo về thơ năm nào. Đề luận.Phân tích. Khái niệm. Phương pháp.. Không có gì mới. Nếu chịu khó vào Google, mục tìm kiếm chỉ vài giây sau sẽ có hàng ngàn kết quả đại loại như thế. Thậm chí còn hay hơn rất nhiều.
Không phải nhà văn nào viết hay cũng nói được hay. Có những vị viết rất dở, nhưng lý luận văn học khi viết lại rất sâu sắc và tinh tế.
Đại tá nhà văn diễn giả là người viết truyện ngắn có nghề, có tài nhưng quả thật khi ông ta “lên lớp” lại không tài như vậy. Thay vì nói những kinh nghiệm sáng tác của mình, ông lại đặt vấn đề “Thế nào là truyện ngắn?”, “Phương pháp và cách thể hiện truyện ngắn?”..

Người ta có thể phân tích và kết luận về thành phần của không khí, của ánh sáng.. Nhưng Truyện ngắn, hay thơ cụ thể nó là thứ gì thì.. hoàn toàn không!
Có người đã ví von thế này mà hắn thấy cực hay: “ Truyện ngắn giống như tình yêu. Còn hỏi cụ thể tình yêu là gì thì bố ai trả lời được. Cứ yêu đi rồi sẽ biết!”  ( Tất nhiên tình yêu thường là quan hệ trai gái, quan hệ vợ chồng.. Nhưng không có nghĩa yêu nước, yêu thiên nhiên..vv không phải tình yêu? ) Nó vô cùng rộng, mênh mang và huyền bí lắm, làm sao có thể làm thành một định nghĩa, một quy chuẩn  cụ thể, rõ ràng được?
Còn nói “ Nó là nét chấm phá, là lát cắt, là khoảnh khắc..cảm xúc về một sự kiện, một tình huống..vv” thì xưa như mưa tháng bảy.
Có chuyện chỉ là câu chuyện khoảnh khắc, có chuyện là cả cuộc đời, thậm chí mấy đời nhân vật. Có chuyện đơn tuyến, chỉ có một vài nhân vật. Nhưng có chuyện đa tuyến có nhiều nhân vật. Có chuyện chỉ một tình huống, thúc đẩy đến cao trào để đến kết thúc bất ngờ. Nhưng có truyện miên man suy nghĩ và cảm xúc, thậm chí không có nhân vật cụ thể và kết thúc không rõ ràng, kết thúc mở chẳng hạn.. Không phải như vậy không phải là Truyện ngắn, là chuyện lan man không thành Truyện! “Giọt máu”, “Con gái thủy thần” của NHT là những truyện như thế, và ai cũng phải công nhận nó hay.
Đành rằng trước hết, truyện ngắn là phải viết ngắn, không thể dài như tiểu thuyết được. Nhưng hắn nghĩ như vậy chỉ là ước lệ. Theo hắn, dung lượng của một tác phẩm phải tùy theo câu chuyện, những vấn đề, sự kiện mà nó đề cập tới. Dài, ngắn đến đâu tùy theo cảm xúc và năng lực của nhà văn. Chả khác gì cũng là thịt cả, luộc, kho, nướng hay chế biến thế nào còn tùy vào tay nghề của người đầu bếp. Không thể cứ úp sọt cho là thịt lợn tất.
Chẳng qua giới hạn số từ là nhằm vào việc in báo cho nó tiện mà thôi. Không nhất thiết truyện ngắn chỉ từ một đến năm nghìn từ. Cũng như tiểu thuyết không nhất thiết phải dài. Hắn biết có tác phẩm gọi là tiểu thuyết số chữ in chỉ vài chục trang..
**
Đời người, niềm vui và sự thú vị ít khi lặp lại. Cái nhố nhăng, kệch cỡm, buồn lòng lại hay viếng thăm. Nhất là những kẻ thấp bé, nhẹ cân, chả vai vế gì trong xã hội. Nỗi bực mình luôn “Đi cùng năm tháng”, nửa bước không rời !
Làm cái anh văn sĩ cà mèng, lâu lâu được đi chơi xa một chuyến. Nói là đi chơi cho nó nhàn nhã, bay bướm chứ thực ra là đi đổi gió bằng trí não, tâm can mình. Ấy là các trại sáng tác thường kéo dài năm bữa, nửa tháng. Cũng ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, đi về xe đưa xe đón, có lúc được đón tiếp đón long trọng. Có anh ngỡ mình lên mây, vinh dự tự hào. Sướng lên, rượu vào cứ gân cổ mà hát đến ướt hết cả quần lúc nào không biết. Đồng bọn phải lôi vào toalet thay quần thay áo cho, dỗ mãi mới chịu lên giường nằm ngủ.
Lần này tuy không đến nỗi như thế, lại có anh nằm ngửa tênh hênh, xòe chân, giang tay trong phòng khách sạn, lẩm bẩm một mình: “ Nói gì thì nói, tớ cũng là ông tá về hưu, khối anh muốn như mình chẳng được”!
Nghe thế, miệng hắn cười, mà nước mắt ngược vào trong. Ôi là cái anh văn sĩ nước mình! Đến bao giờ mới dám nghĩ lớn, làm lớn, viết khang khác đi được?
Còn nhớ cái lần ở nhà sáng tác Tam Đảo. Hôm ấy trăng thanh gió mát. Đi dạo một vòng qua Thác Bạc, đền Mẫu, vòng về khu nhà một ông thủ tướng dưỡng bệnh những ngày cuối của kiếp người. Nghĩ linh tinh lang tang. Cả đêm không ngủ được. Ông bạn cùng phòng đã ngáy pho pho từ lâu. Trằn trọc mãi, thế là nảy ra ý muốn viết lại cái truyện hôm ở nhà mang theo. Thêm một tý dấm, bớt một tý ớt. Xoay đằng trước ra đằng sau.. Chẳng dè khi đọc lại lại thấy thinh thích.
Lúc ấy xem đồng hồ, cũng đã khuya lắm rồi. Chợt có tiếng cú kêu trên đồi thông già. Lần đầu tiên trong đời  hắn không cảm thấy ghét con vật vô duyên này. Thường người ta bảo cú kêu là điềm gở. Lúc đấy lại thấy nó hay hay. Không cay cú, không buồn, không có lúc bực, chưa chắc đã là điều tốt, chưa chắc đã nên người!
Không ngờ sáng hôm sau là buổi nhiệm thu tác phẩm. Cơm gạo của nhà nước, nói thế thôi, chứ chơi không thế chó nào được?
Hơn chục anh em, tác phẩm của người được khen hết nước hết cái. Toàn những chuyện “lành”, “Tính chân thật, rất có tâm của người cầm bút” có tính giáo dục cao, tính mỹ học HTXHCN tuyệt vời.. Còn Truyện của hắn, lãnh đạo bảo: “Nó chưa thành truyện, còn lan man, chưa biết tác giả định đề cập cái gì?”
Có gì khốn nạn bằng định làm một việc gì đó, mà không nên việc?
Hắn không còn là trẻ con để thích được khen. Nhưng tự nhiên thấy buồn hết cả chân tay.
Một truyện dụng công nhiều nhất, tâm đắc nhất, chỉ vì giọng điệu chả giống ai, coi như bỏ.
Tâm sự với ông cùng phòng ông ta bảo : “Trên đã đánh giá thì ít khi sai”. Đúng “ông trên” là ông giời, hắn đành ngậm miệng, không cãi.
Hôm sau về, hắn cứ như người vơ vẩn. Không hẳn vì sĩ diện, vì cái gì đó rất kỳ cục mà lúc đó hắn chưa hiểu ra là cái gì?
Điên tiết, hắn lên bưu điện gửi cuộc thi truyện ngắn của báo Văn. Năm đó hắn chưa biết I mêu, I mốc,  a còng, a thẳng như bây giờ.
Cũng chỉ là cho bõ ghét đứa con tinh thần, soi mãi chả thấy nó sứt môi, lồi rốn ở chỗ nào?
Ai dè tuần sau, báo đăng, lại đăng ở trang nhất. Rồi vào chung kết. Được in trong tuyển “Truyện ngắn hay cuộc thi của báo Văn nghệ” do nhà sách Nhã Nam  phát hành. Nếu không có “ông trên” nhận xét kia, có thể còn vào giải. ( Ông ấy là thành viên quan trọng của ban giám khảo ) Đã chê rồi, hắn vào giải thế nào được nữa?
Chuyện qua lâu rồi, mãi đến cuộc tập huấn lần này hắn sực nhớ lại. Thì ra khen chê ở đời còn vì nhiều lẽ lắm.  Có thể còn tại cái “Gu” của từng người. Cái “Gu” chỉ kém cái “Ngu” một chữ N đứng đầu, sao mà hắn ghét cái “Gu” đến thế ?
Thì ra giữa truyện ngắn và chuyện vặt, bề ngoài có vẻ giống nhau. Như anh em cùng cha cùng mẹ, lại khác ở cái tâm, cái tính.
Đứa lành hiền, nhu mì, bảo sao làm vậy. Đứa cứng đầu cứng cổ, nói đúng mới chịu nghe. Nói sai, đánh què thì đánh, vẫn tính nào tật ấy.
Phàm làm cha làm mẹ, ai cũng thích con cái ngoan ngoãn nghe lời. Đứa cứng đầu, khó bảo luôn bị ghét bỏ.
Văn chương cũng vậy. Biết thì biết cả, song vì sao nói thế này ra thế khác cũng bởi nhiều lẽ. Chẳng thể ai dạy được ai.

Thực ra, chuyện này  không muốn nhắc đến nữa. Cái gì nói lắm cũng cũng đâm nhàm, kể cả cái vĩ hay không vĩ đại. Cái to tát lớn lao hay cái nhỏ bé tầm thường. Nói mãi cũng thành nhảm, thậm chí gây phản cảm.. Nhưng người ta cứ hối mãi, đếm xỉa mãi thành ra cứ lấn cấn trong đầu.
Gọi là hội thảo thực ra cũng chỉ không quá ba chục người. Vẫn là chuyện làm sao để có truyện ngắn hay? Làm sao khắc phục tình trạng nhàn nhạt của hầu hết truyện ngắn đăng trên báo, thậm chí in thành sách bây giờ? Mà đâu có phải chỉ truyện ngắn? Theo y thì cả thơ và tiểu thuyết cũng vậy. Rộng hơn cả âm nhạc và hội họa lâu nay cũng không nằm ngoài tình trạng chung này. Chưa thể nói là đã “xứng tầm thời đại”, đáp ứng được mong mỏi của công chúng. Vậy thì nguyên nhân do đâu?
Một hai ý kiến cho rằng “Do ảnh hưởng của văn hóa đọc giảm sút, tác động nên người viết không đủ nhiệt huyết như trước đây. Người ta quan tâm đến những lợi ích thiết thực hơn, chưa toàn tâm toàn ý cho những trang viết của mình”. Người cho rằng “Sự quan tâm của xã hội đối với văn nghệ sĩ chưa đúng mức, chưa tạo được môi trường kích thích sáng tao”. Cũng có người đổ lỗi cho “ Gác cổng văn nghệ chưa thực sự có tự do, thông thoáng”. Có ông ra vẻ chiêm nghiệm, triết lý sâu xa, rằng thì là “ Văn chương cũng có vận số, khí số của nó. Mấy trăm năm hoặc vài chục năm mới có tài năng xuất hiện” vv.. Nghe ra các vị đều có cái đúng, có dẫn chứng cụ thể.
Ngẫm nghĩ,  thấy vẫn chưa phải. Cái người ta đi tìm vẫn chưa gọi đúng tên. Tìm giải pháp cho một mơ hồ biết tìm cách nào? Thày thuốc không tìm ra, không gọi đúng tên của bệnh vậy kê đơn, bốc thuốc cách chi đây?
Rút cục lại vẫn như mọi lần, an ủi, động viên nhau, cảm ơn, chiêu đãi và chẳng đi tới đâu!
Im lặng lắng nghe, cũng ghi ghi chép chép. Về đọc lại cũng chẳng thêm manh mối nào.
Ngay lúc hội thảo, ngứa ngáy cũng định có ý kiến. Nghĩ mình ăn nói vụng về, có khi gây hiểu nhầm, không nói được điểu đáng nói. Thể hiện sai, chả bõ cho chúng bạn cười. Nhấp nhổm rồi im lặng.
Có người viết được mà nói lại không. Có người thao thao bất tuyệt nhưng khi đọc cái anh ta viết không bằng nước ao bèo. Nghề viết nó vậy, không phải nói hay mà viết hay hoặc ngược lại. Bằng chứng là có nhà phê bình phán như thánh, như tướng, lúc anh ta viết thử một truyện đọc chẳng ra làm sao. Vẫn là nói dễ hơn làm, chỉ đạo dễ hơn người thực hiện.

Đêm về khách sạn, ở chung phong với một thằng bạn. Thằng này không biết bị lâu chưa, đặt lưng một tý là ngáy ò ò, òng ọc như người bóp cổ. Ngáy chán nó lại nghiến răng kèn kẹt. Lo nó cứ  đà này, nghiến răng một thời gian nữa, thế nào cũng “Răng bỏ rơi lợi mà đi chơi”. Sáng ngày ra, nó chữa ngượng rằng là “Đang quá bức xúc”. Ý nói về kiến văn của hội thảo vừa rồi. Y chỉ cười, không nói gì. Chính cái câu đỡ ngượng của tên bạn lại là gợi ý để tìm ra nguyên nhân. Nó có mà “bức xúc” cái khỉ mốc ấy! Vẫn là thói giỏi giả dối và thích che đậy bấy lâu nay đã thành thói quen, thành tiềm thức ăn sâu trong não trạng mất rồi!
Hễ có vấn đề, có tranh luận gì, thứ không hình không tướng ấy tự và nghiễm nhiên xuất hiện. Không riêng gì truyện ngắn, văn chương và văn nghệ nói chung đều ở trong căn bệnh này cả.
Trong hội thảo có vị nói rằng : “ Nhiều người chưa thoát ra được cái cá nhân của mình. Chưa có cái “mỹ học chung”, thiếu cái phổ cập phù hợp với cuộc sống hiện đại, có người mượn sáng tác để thỏa mãn mâu thuẫn cá nhân, mang sáng tác ra để bêu riếu người mình khúc mắc hoặc không ưa.”.  
Lấy làm ngạc nhiên? Bấy lâu nay chính cái chung chung ca ngợi, tô vẽ, ngâm vịnh ấy khiến cho bao nhiêu sáng tác trở nên nhạt hoét. Thiếu hẳn cái chiều sâu bản thể, sức nặng tâm tư và chính kiến độc lập của mỗi cá nhân. Đành rằng không thể mang nghệ thuật như một ngón nghề để trả thù, thỏa tính ích kỷ, giải quyết mâu thuẫn cá nhân. Không có vị tha, lòng nhân ái, người viết dựa vào cái gì để sáng tạo? Nhưng không có nghĩa thoát ly hẳn cái tôi cảm xúc, yêu ghét rõ ràng của mình. Cái người ta viết ra “Giông giống” một ai đó ngoài đời chính là cái thành công của tác giả. Bởi vì “văn” là bịa như thật. Đừng gán cho cái tội đả kích cá nhân. Nếu “Húy kị” như thế còn ai dám cầm bút viết cái gì? Ở đây trải nghiệm bản thân của người viết là vô cùng quan trọng. Sau đấy là kiến văn, chính kiến và cảm xúc của mỗi người. Nếu anh chưa biết yêu, biết ghét rõ ràng, đủ can đảm như Phùng Tiên sinh “Yêu ai cứ bảo rằng yêu..” Đương nhiên những trang viết của anh vía còn non, hồn chưa có là không thể tránh khỏi. Cái bệnh chung của người viết ngày nay là quá cầu an, né tránh những gay cấn, bức xúc thời đại, khát vọng của số đông đang cần củng cố lòng tin tưởng và được chia sẻ nỗi niềm. Anh ta làm như mình là người ngoài cuộc, né tránh, hoặc giả như không biết gì?
**
Có một lần tổng bảo với y: “ Mình rất buồn là hiện nay truyện ngắn của ta chất “Báo” nhiều hơn chất “Văn”. Thậm chí không ra văn mà cũng không ra báo”. Vô tình ông ấy đã tìm ra bệnh mà chưa biết chữa bằng cách nào? Báo chí của ta phần nhiều đã có định hướng, nói thẳng ra có mục đích tuyên truyền. Chủ yếu để minh họa diễn giải những chủ trương chính trị. Nhà nước đổ tiền vào đây không ngoài mục đích đó. Bất cứ ý kiến trái ngược nào cũng bị coi là có vấn đề. Đều không an toàn và không hay cả. Đừng đổ lỗi cho người làm biên tập. Anh ta có gan bằng trời cũng không dám vượt khỏi cái ngưỡng an toàn ấy. Phát hiện giới thiệu tác phẩm, tác giả góp phần làm phong phú văn đàn chưa thấy đâu, nhưng  cái giá phải trả của bản thân mình không thể không dè chừng. Nói như nhà thơ già y gặp tình cờ  dưới Vật Trì: “ Cuộc đời nó thế, thơ văn nó thế, không thể khác được. Chán không thích nữa thì thôi, chả tội gì dằn vặt mình. Chả tội gì mà buồn. Cuộc đời được mấy giấc mơ mà hão huyền”.
Còn một ý nữa, từ lâu y chưa dám nói với ai, vì dễ đụng chạm tới các nhà nọ nhà kia thời nay. Giả sử như người ta cho các vị thoải mái viết, đã chắc gì có tác phẩm hay? Còn lâu nữa mới có Nô Ben văn học dành cho Việt Nam. Một nền văn học non trẻ so với thế giới. Mới manh nha đã chịu bao nhiêu nghiệt ngã, éo le. Đường hướng thì dựa dẫm, chưa có cái gì thật sự riêng của mình. Chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng bởi một nền văn hóa vững chãi, đáng tin cậy. Thiếu một sự đồng nhất trong nhìn nhận hướng đi và đích đến.
Giáo dục của ta chẳng những để lại tệ hại cho nhiều khu vực. Kinh tế, chính trị vv.. Văn chương cũng không là ngoại lệ. Ảnh hưởng của nền giáo dục xuôi chiều, thiếu khoa học, sự minh bạch, đứng đắn.. dẫn đến nhiều lệch lạc trong nhận thức và tư tưởng. Nước ta chưa khi nào có những nhà tư tưởng, những triết gia là linh hồn như ở Trung Hoa có Khổng Phu Tử,  ở châu Âu có Nitso, có Hê Ghen, có Mác..Chưa có một học thuyết khả dĩ do người Việt Nam sáng tạo cho nền văn hóa của mình. Hoặc giả đã có nhưng lại bị che lấp trong sự rối ren, khuất tất của thời cuộc diễn ra, khi thì quá chóng vánh, lúc lại chậm chạp lờ đờ. Đòi hỏi một sự chuyển mình “Mang tính thời đại” chỉ là điều mơ hồ!
Một thời gian dài, ngoài chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, mỹ học Mác lê, chúng ta gần như xa lạ với các trào lưu tư tưởng, mỹ học tiến bộ của thế giới. Sách báo công cụ chỉ đơn thuần một phía. Thiếu cái đối chứng, thẩm định một cách khách quan, vô tư, công bằng bất vụ lợi.
Không thể đổ lỗi do khó khăn đời sống. So với thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Bính vv.. thời trước, không ai trong chúng ta phải chịu khổ sở, thiếu thốn hơn các bác ấy.
Thậm chí chúng ta sống còn đàng hoàng hơn, khá giả hơn. Có nhiều bác đi xe hơi, ở nhà lầu. Điều này là có thật.
Nhưng tác phẩm giữa hai thời kỳ này là một trời một vực. Như vậy có thấy là quá vô lý không? Giả như nhà nước có quan tâm hơn nữa, văn tài chưa chắc đã  có nhiều hơn được. Cái thiếu ở đây không hẳn là cơm áo gạo tiền. ( Đương nhiên vẫn phải có thực mới vực được đạo).
Các bác ấy sống, đọc và học, dũng khí, tận tâm hơn chúng ta nhiều lắm!
Cốt lõi của vấn đề chính là lòng can đảm, khí phách và quyết tâm của người cầm bút. Còn phải học hỏi rất nhiều. Không thể không ngạc nhiên cho đến bây giờ người viết còn xa lạ công nghệ IT? Theo chỗ y được biết qua  nhiều mối quan hệ, các cuộc giao lưu, vốn ngoại ngữ, vốn đọc, vốn học của nhiều người còn hạn chế. Đó chính là cái rào cản thật sự mà vì lịch sự, chúng ta chưa nói với nhau một cách chân thành, thẳng thắn. Chứ chỉ dựa vào năng khiếu tự nhiên, hứng lên, nghĩ được cái gì viết cái ấy thì  còn lâu mới làm được việc muốn làm. Viết để “chơi” như một số người nói chính ra là câu nói “khiêm tốn” giả vờ. Viết là cực khổ. Chỉ khi nào đổ mồ hôi, sôi nước mắt trên trang viết của mình, may ra văn phẩm ấy mới có chút sinh lực, có sức nặng chút nào đó qua thử thách của thời gian..
**
Phía chủ nhà, nhà văn gạo cội M.T.N. từng có gần chục đầu sách, cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn, tản văn. Ông từng học trường viết văn Nguyễn Du khóa I cùng thời với nhiều nhà văn tên tuổi. Nói về kinh nghiệm viết truyện ngắn ông lại bảo “Tôi chả có kinh nghiệm gì, ngoài việc xây dựng bố cục, nhân vật và tìm chi tiết để thể hiện. Văn xuôi nói chung điều quan trọng là phải có chi tiết đặc sắc và có cốt truyện mới thành truyện được. Cái mà các bạn bây giờ đang bàn luận nhiều nhất, là đổi mới truyện ngắn như thế nào? Theo tôi đổi mới về nội dung cần và trước tiên hơn là về hình thức. Nếu ta chưa chưa làm được cách tân, thì hãy cứ quay về truyền thống. Hiện đại, hậu hiện đại gì gì đi nữa vẫn phải trên căn bản truyền thống..” Nữ nhà văn, nhà thơ C.T.Q. giờ đã là Phó chủ tịch kiêm tổng biên tập một lần nữa nhắc lại sự cần thiết phải thay đổi, không những truyện ngắn nói riêng và văn nghệ nói chung nếu không muốn bị người đọc quay lưng lại. Nhà Văn TR.H.V thẳng thắn đưa ra những ý kiến của mình.. Để ý mấy vị trong ban chủ tọa có ý không hài lòng. Mặc dầu câu chuyện nhà văn đưa ra là có thật. Ông cũng nói theo quan điểm của ông.
Cái đáng bàn, đáng nói lại chưa có ai đề cập đến. Hoặc có đụng đến chỉ mới mơn man bề ngoài.
Làm thế nào để có truyện ngắn hay ư? Nghĩ phải có người viết được hay cái đã. Lâu nay có một chủ trương bất thành văn là cào bằng, thật giả hay dở lẫn lộn. Thiếu sự đầu tư có trọng điểm. Cứ nghĩ “Báo là sân chung của hội, san sẻ đều cho mỗi người một tý” kiểu dàn hàng ngang. Người có năng lực, thôi, cũng không muốn gắng gỏi làm gì. Các giải thưởng hàng năm cũng như vậy, dẫn đến loạn chuẩn.
Năm vừa rồi có một truyện rất nực cười, một truyện phim hoạt họa nước ngoài, được “Việt hóa” một cách cẩu thả lại được giải cao. May mà tác giả này không mấy tên tuổi, không ai để ý, nếu không tác giả nguyên tác nước người ta sẽ kiện ông này đánh cắp ý tưởng, cốt truyện của mình. Ở đây Y không chú ý lắm đến những vấn đề liên quan đến các giải thưởng. Không phải là câu chuyện chính, nhưng không ít thì nhiều nó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho văn đàn trở nên bàng bạc, thiếu sức sáng tạo.
Đúng là không ai dạy ai được. Gọi “thày bà” là cách gọi vớ vẩn nhất mà ngay các nhà văn tên tuổi có lòng tự trọng đều khước từ một cách dứt khoát.

Người viết có khác gì người đầu bếp đâu? Muốn có món ngon phải có thực phẩm tươi sống, lành mạnh trước đã. Không thể mang thứ ôi thiu hâm lại. Càng không thể mua thịt tăng trọng, gia vị có hóa chất, cá ươn, rau héo để làm món. Đó chính là cách nhìn, quan điểm sống, có thể gọi không sai đó là kỹ năng sống như kiểu gọi trình văn hóa vậy. Chất liệu cuộc sống qua lăng kính thẩm thấu của mỗi cá nhân quyết định. Khi nào chưa có thái độ, chính kiến, ý kiến rõ ràng chừng ấy vẫn còn loanh quanh bên gốc sung già!
Sau đấy là tay nghề, bí kíp riêng của mình. Ở kinh nghiệm nhiều năm tìm tòi, tích góp, nhẫn nại học hỏi, không lúc nào tự thỏa mãn với bản thân, mới có được món đặc sắc.
Văn chương và văn học nói chung không có món nào là món truyền thống. Đây là chỗ khác biệt với ẩm thực. Các món ẩm thực cùng định và chất lượng có thể là món truyền thống có thương hiệu mãi mãi, còn văn chương thì không. Nó luôn đòi hỏi ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua. Ngày mai phải hơn hôm nay. Mỗi tác giả không thể lặp lại ai và càng không nên lặp lại chính mình.
Cuộc ma ra ton như thế luôn vất vả, cực nhọc đâu phải chuyện chơi, để bàn hão tán nhàm?

Một cái gì đó, không phải hoang mang, nhưng rõ ràng là đang thấp thỏm trong lòng! 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĂN CÂY NÀO RÀO CÂY ẤY?


 Ăn cây nào rào cây ấy ?
Đào Hiếu
 Có anh bạn nọ, khi đi làm thường “nổ” trong cơ quan, đả kích tham nhũng, áp bức bất công và cuối cùng anh ta dùng câu nói nổi tiếng của Tổng thống Obama: “Change, we need” (1) để kết thúc bài hùng biện của mình.
Một chị ngồi bàn kế bên lên tiếng:
– Tôi thấy tụi mình đang làm cho nhà nước, ăn lương nhà nước mà hễ cứ mở miệng ra là đả phá chế độ, công kích nhà nước, chê bai Đảng… nghe thật chướng tai.
Chị Trưởng phòng bồi thêm một đòn:
– Các cụ nhà ta thường nói: “ăn cây nào rào cây nấy” chúng ta đang ăn “cây của Đảng” thì phải rào cái cây ấy chứ. Đó là đạo lý ở đời, là lẽ phải ngàn năm nay.
Anh bạn nọ im re, ngó sang tôi tìm một sự chia sẻ. Tôi chưa kịp có thái độ thì một cậu nhân viên, lính mới đã nói:
– Em nghĩ chuyện đó ai cũng biết, ai cũng thừa nhận. Từ thời phong kiến đã nghe nói: “ăn lộc vua phải vùa việc nước”. Bổn phận của mình là phải làm việc, chỉ có vậy thôi.
Thấy anh bạn nọ bị ba mặt giáp công tới tấp tội nghiệp quá, nhưng tôi biết nói gì để gỡ rối cho anh ta bây giờ?
* Ăn cây nào rào cây nấy. OK. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi. Đã ăn thì phải rào chứ, nếu không kẻ gian nó vào nó bẻ trộm cành, vặt hết trái cây, thậm chí bứng cả cây đem về nhà thì còn “đếch” gì mà ăn nữa!
Ăn cây nào rào cây nấy trở thành lá bùa hộ mạng cho nhiều loại người: anh công an xua đuổi những người biểu tình đòi trả ruộng vườn đất đai bị “quy hoạch” để chia lô bán cho các công ty nước ngoài, anh công an còng tay người xuống đường chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, anh bộ đội xả thân ngoài chiến tuyến, anh công chức suốt đời im lặng trước những âm mưu tham nhũng, hối lộ, chạy chức chạy quyền trong cơ quan nhà nước, thầy giáo cô giáo “hô khẩu hiệu” trong lớp học, sinh viên nhai đi nhai lại những sáo ngữ trong triết học Mác Lê-nin, nhà văn nhà báo uốn cong ngòi bút vẽ rắn thành rồng vẽ gà thành phượng, anh công nhân miệt mài trong nhà máy đầy khói bụi với đồng lương chết đói… tất cả chỉ vì đạo lý “ăn cây nào rào cây nấy.”
Kẻ nào không biết đạo lý ấy thì chẳng khác gì cầm thú, đồ vong ân bội nghĩa, vô liêm sỉ…
Vậy tôi phải nói sao với những người đang bắt bẻ anh bạn nọ?
Tôi rụt rè hỏi chị Trưởng phòng một câu rất nhỏ:
– Thưa chị. Chị nói ăn cây nào rào cây nấy. Vậy dám hỏi: chị đang ăn cây nào?
– Anh không biết sao? Tôi, anh và những người ngồi đây đều đang ăn lộc, ăn quả của Nhà nước, của Đảng, bộ anh không biết sao?
– Vậy Nhà nước và Đảng ăn lộc và quả của ai?
– Của ai? Hỏi lạ nhỉ?! Lộc và quả là của Đảng và Nhà nước. Họ muốn ăn bao nhiêu thì ăn, muốn ban cho ai thì người đó nhờ chứ.
– Ủa, vậy sao?! Dám hỏi chị: Đảng và Nhà nước đã sản xuất ra của cải gì mà họ có lộc và quả nhiều vậy?
– Sản xuất gì? Cái anh này ngớ ngẩn nhỉ. Đảng và Nhà nước có cả một ngân sách quốc gia. Bộ anh không biết sao?
– Ngân sách đó ở đâu mà có?
– Thì… từ… thì ngân sách là do…
Tôi ra hiệu cho chị ngừng nói, vì thấy chị cà lăm rất tội nghiệp. Tôi nói:
– Ngân sách là do dân đóng thuế mà có. Ngân sách là do dân lao động chân tay lao động trí óc tạo ra sản phẩm mà có. Tóm lại ngân sách là cái vườn cây. Vườn cây ấy là của dân. Tất cả chúng ta ăn lương là ăn lương của dân, ăn cây của dân vậy thì phải rào cho dân. Đảng cũng ăn lương của dân vậy thì cũng phải rào cho dân. Các ông Bộ trưởng, Thủ tướng, Chủ tịch nước cũng ăn lương của dân vậy thì cũng phải rào cho dân. Khi chúng ta nói: “Ăn cây nào rào cây nấy” có nghĩa là tất cả bộ máy của Đảng và chính quyền này đang ăn quả của dân vậy đều phải có nghĩa vụ rào cho dân tức là bảo bọc, bào vệ, che chắn, bênh vực cho dân. Kẻ nào hà hiếp, bóc lột, cướp bóc của dân thì mọi người có nghĩa vụ ngăn chặn để bảo vệ cho dân, rào cho kín khu vườn của dân chứ không phải rào cho Đảng, rào cho Nhà nước đâu. Đó mới là ý nghĩa đích thực của câu “ăn cây nào rào cây nấy” thưa bà chị.
* Khi đã hiểu đúng ý nghĩa của câu “ăn cây nào rào cây ấy”, chúng ta sẽ biết phải trung thành với ai? Với nhân dân hay với những kẻ đang hưởng thụ sự xa hoa vô độ bằng mồ hôi nước mắt của dân ?
ĐH

Phần nhận xét hiển thị trên trang