Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

Chuyện cái la bàn



Truyện ngắn của Hồng Giang



Buổi tối.. Cả xóm Hoa đào chìm vào màn đêm tối như cách đây mấy mươi năm, khi chưa có điện lưới quốc gia. Làng xóm vắng lặng như chỗ không người, như người ta đã lại chuyển đi đâu đó hết cả rồi. Những đám lá cây hai bên đường đen thẫm lại, con đường rải đá cấp phối chỉ nhìn thấy vệt trắng lờ mờ chừng sải tay trước mặt. Phía rừng xa đom đóm đang mở hội hoa đăng chập chờn bay, những đám lân tinh lập lòe trên đám lá mục. Tiếng cú rúc vẳng về, đêm tối như chật chội, đông cứng lại.
Chỉ riêng nhà ông Giàng Chu vẫn lấp lóa ánh đèn, tiếng nhạc từ chiếc ti vi vẫn véo von.
Không phải ông là trưởng thôn, người ta ưu tiên gì cho ông. Đến chủ tịch bí thư xã cũng không hơn gì người dân ở đây, cũng “bình đẳng” cái khoản mất điện như mọi người dân ở đây thôi.
Nghe nói: Chả cứ vùng này, ngay các thành phố, thị xã dưới vùng xuôi điện cũng mất liên tục, có nơi mất mấy ngày liền. Mọi người truyền tai nhau câu ví :
“ Ngành điện thành ngành điên nặng mất rồi”!
Lại bảo : “Tại năm nay hạn hán nhiều, không đủ nước cho các hồ thủy điện, vì thế điện thiếu.” Có người còn nói: “Do nghành điện độc quyền, muốn chơi khó, để nâng giá điện, điện cũng biết leo thang rồi đấy!”. Cũng có người thì thào: “Tại nước ngoài phá hợp đồng bán điện, để gây sức ép gì đấy, chứ thực ra điện không đến mức khó như thế!..”. Người thêm: “ Người ta thâm lắm, họ đợi cho mình yên trí phát triển lưới điện rộng ra khắp nơi, hang cùng, ngõ hẻm nào dây điện cũng căng như mạng nhện, chờ cho dân mình quen điện rồi, đột nhiên cắt phăng ngay đi để bán máy phát nhỏ, bình, kích điện.. Chắc là họ có chủ ý từ trước cả rồi, dân mình khờ, giờ mới tranh nhau xếp hàng mua máy, mua bình của họ như ngày bao cấp xếp hàng mua gạo!” vv.. Có phải ai cũng có tiền để mua đâu? Xóm Hoa Đào này chưa thấy ai có cái bình, cái kích nào cả, lại thắp đèn dầu như mọi khi. Nhà nào không còn đèn thì đốt đống lửa to giữa nhà.
Tháng sáu nửa đêm trời mới mát trở lại, cả ngày nóng như ở trong lò nung, đốt lửa đâu phải để sưởi? Bần cùng thôi!
Đã là tin đồn thì có lắm chuyện. Người ở xóm này chỉ nghe qua thế thôi chứ không bàn tán nhiều, bản tính người H’Mông vốn dĩ thật thà, ít nghe chuyện rắc rối.
Đã bao nhiêu chuyện lôi thôi từ những tin đồn thất thiệt rồi, nghe thêm làm gì?
Chỉ khổ khi có điện quen rồi, như mắc nghiện, giờ không có, cứ như canh không có muối, khèn nghe không thành tiếng, khèn không “nổ”vậy..

Nhà ông Giàng Chu có điện là nhờ ông biết lo xa, tính cẩn thận, thấy cái gì hay của người ta biết học hỏi, làm theo, chứ có ai ưu đãi cho ông đâu?
Ông thấm thía câu chuyện về cái la bàn được nghe kể từ hồi còn nhỏ.
Chuyện rằng: “Ngày xưa.. Tổ tiên người H’Mông đã từng có một đất nước hùng mạnh, có vua cai quản, cát cứ cả một vùng được gọi là mái nhà thế giới. Vua của nước Jiuli (1) là ngài Xi Vưu. Bản tính nhà vua vốn hiền lành, tốt bụng, hay nhường nhịn, yêu quý người dân.. Hàng ngày ông ăn ở, làm việc như mọi người, không phân biệt vua tôi. Đức tính ấy của ông được tất cả người dân quý trọng.
Nhưng bản tính xuề xòa, dễ dãi không biết lo xa cũng có nhiều cái hại..
Nước láng giềng thời bấy giờ là Hoa Hạ của người Hán. Tộc người này luôn tìm cách lấn chiếm và thôn tính nước Jiuli, nhưng không nổi vì người Jiuli luôn đoàn kết, lại giỏi săn bắn, cưỡi ngựa, bắn tên, mũi lao người H’Mông rèn sắc bén, cứng hơn của người Hán. Họ bèn bàn với vua của người H’Mông giảng hòa, cắm mốc phân chia đất đai. Xi vưu là ông vua yêu chuộng hòa hiếu nên đồng ý ngay. Ông không ngờ khi lấy cây ngô làm mốc, người Hán đã sắp đặt âm mưu từ trước. Cây ngô ngắn ngày, họ bỏ thay bằng cây khác lấn sâu vào đất của vua XiVưu. Người dân Jiuli nổi giận, thế là nổ ra chiến tranh. Người Hán bị thua, vua của họ là Hoàng Đế liền liên minh với Viêm Đế để đánh lại người H’Mông. Chiến tranh kéo dài trong nhiều năm, không phân thắng bại..
Không may cho người H’Mông vào một năm, mùa đông nhiều sương mù, Quân của Jiuli bị lạc nhau, quân, tướng như rắn không đầu. Nhiều người bị đói, bị khát trong rừng, không tìm thấy đường, tinh thần suy sụp. Người Hán nhờ có cái la bàn nên vẫn giữ được phương hướng, bố trí mai phục, đánh bại được vua Xi Vưu, thôn tính nước Jiu li.
Họ thực hiện đồng hóa người H’Mông rất thâm độc. Hoạn hết đàn ông, đốt hết sách vở, lương thực của người H’Mông, chỉ một số chạy thoát được, nên đến ngày nay người H’Mông không còn chữ viết. Người Hán bắt người H’Mông làm thân trâu ngựa. Người H’Mông bản tính thích tự do, không cam chịu, nên mới rời bỏ quê hương, cứ đi mãi.. xuôi theo bờ sông Dương Tử tìm vùng đất mới..”
“Nếu như ngày đó người H’Mông cũng có cái la bàn, cái vật có khi chỉ bé bằng chiếc đồng hồ đeo tay, có kim chỉ hai đầu phương hướng, mọi chuyện sẽ khác”. Điều này cứ ăn sâu vào đầu óc ông Giàng Chu, ông nghĩ thày mo nào cũng có cái la bàn mang theo khi làm lễ cúng ma là vì thế.
Người H’Mông đã nhận ra thiếu sót của mình về cái la bàn, chỉ tiếc nhận ra muộn quá. Nếu không người H’Mông không phải lang thang, du canh, du cư hàng ngàn đời nay, qua không biết bao nhiêu ngọn núi, chịu không biết bao nhiêu khổ ải, gió sương, nắng giãi, mưa dầu.. Ở đâu cũng như ở nhờ, ở tạm ..
Có lẽ người H’Mông bây giờ không nên lấy câu “ Chi pâu”(2) làm câu cửa miệng.
Người H’Mông cần phải biết những gì nên biết, cần làm những việc nên làm.
Vậy mà vẫn còn nhiều người vội vàng, chưa biết lo xa.
Khi cả vùng mới có điện lưới, bao nhiêu củ điện chạy bằng sức nước đặt ngoài suối ai cũng bán cho hàng “Đồng nát” cả!
Riêng nhà ông thì không. Điện lưới ông cũng mua dây kéo về, chỉ khi nào dùng nhiều hơn mức bình thường ông mới dùng, còn đâu vẫn dùng điện của nhà. Cũng là điện 220v chứ có khác gì đâu ? Xem tivi, thắp sáng một nhà dùng vẫn đủ mà.
Chỉ khi có công việc, như họp thôn phải chạy thêm quạt, thắp thêm bóng đèn hay bơm nước tưới cây, ông mới dùng điện nhà nước.
Nhờ vậy mỗi tháng tiền điện bớt được cả trăm ngàn.
“Nước suối chảy ra sông, ra bể là nguồn lợi trời cho, chả tội gì bỏ phí”. Ông Chu nghĩ vậy và cái củ điện vẫn còn nguyên.
Ngày trước không biết, hà tiện không phải kiểu, cứ sáng ngày ra phải đi đóng củ điện không cho quay, sợ mòn vòng bi. Vì thế rất mất việc, có khi còn nguy hiểm những khi mưa gió, đã có người chết lúc sơ ý đi đóng củ điện rồi. Mà vòng bi đâu có bao nhiêu tiền ? Ông mua luôn cả xâu dài, chạy cả ngày, cả đêm, hàng tháng mới phải thay. Chả mất công đóng mở như mọi khi .
Nhiều người sau này thấy ông làm như vậy muốn làm theo thì đập đã phá bỏ mất rồi, củ điện cũng chẳng còn.
Mất điện như bây giờ mới thấy khổ quá, nóng nực mà không chạy được quat, nhà có ti vi mà không xem được, phải xem nhờ nhà ông!
Ba gian nhà đất, vách chình tường của ông Giàng Chu trở nên chật chội. Trong nhà lại lắm cột, kê bàn ghế, giường nằm nên khoảng nhìn tivi được rất hẹp. Chiếc tivi đặt ở ngăn tủ, kê gian giữa nhiều góc bị khuất nên chỉ số ít người xem được. Những người ngồi lệch với màn hình nom hình người trong tivi cứ dài ngoằng ra, rất tức con mắt..
Nghĩ mãi, ông bèn mang nó ra sân, cho nhiều người cùng xem, ích kỷ làm gì? cái tính ấy không phải tính của ông!
Cái sân kê bằng sạp lát bằng tre hóp trước nhà, ngày mùa dùng để phơi bắp, giờ thành ra được việc, ngồi được ối người. Mà cái xóm Hoa Đào này được bao nhiêu người đâu? Vẻn vẹn hơn chục nóc nhà, có thêm chừng ấy nữa, ngồi cũng đủ mà!
Bây giờ thì cả xóm học theo nhà ông, nhà nào cũng làm cái sạp trước nhà, không phơi bắp bằng sào như mọi khi, treo chẳng được bao nhiêu quả ngô, lại phải để cả bẹ nên khi phơi xong mất nhiều chỗ lắm, lại lồng cồng, đem cất cũng khó. Nhà cửa đã chẳng rộng rãi gì mà bắp để cả bẹ choán hết cả chỗ trong nhà. Làm cái sân kiểu này, bắp lột trần, phơi được nhiều, rất tiện lợi. Khi trời mưa, hoặc buổi tối sợ sương ướt chỉ việc phủ cái bạt lên là chẳng sợ gì cả. Hôm sau, trời nắng lại cuốn bạt lên phơi tiếp..
Cái này là ông học được hôm lên Mộc Châu, thăm người nhà. Cũng là người H’Mông cả, nhưng trên đó người ở đây còn khối người phải học. Cũng con người thôi, hai chân , hai tay như mình, nhưng người H’Mông trên đó khác lắm.

Ngay cái việc nhà ông có điện vào lúc này cũng là học được từ người anh em trên Mộc Châu cả đấy. Vùng ấy người H’Mông khá hơn dưới này. Có nhà còn lắp cả điện dùng ánh nắng mặt trời, tuy rằng vẫn có điện lưới. Số tiền dôi ra được từ việc tiết kiệm điện nhà nước hằng năm không phải ít. Cái đó thì ở đây còn lâu mới theo kịp.
Người ta cũng là người, hai chân hai tay như mình thôi, nhưng người ta khá là nhờ cái đầu. Dù khó đến mấy, vẫn có cách làm, như có lúc đi trong sương mù đã có cái la bàn ấy!
Cái tình, cái lý của người H’Mông dù qua bao nhiêu núi cao, sông dài, ở đâu cũng giống nhau mà. Cũng thắm, cũng bền như những sợi lanh rực rỡ, đan kết vào nhau. Nhờ vậy người H’Mông dẫu trải qua bao nhiêu thử thách, vẫn quần túm lấy nhau, không rời. Hỏi cái hay không ai dấu làm của riêng. Cái gì hay của anh em, mình phải học, như thế mới ra con người..

**
Có ánh đèn pin lấp lóa bên kia suối, tiếng nói chuyện tíu tít có vẻ như đông người lắm.
Ngày trước đi đêm người ta thường đốt đuốc. Những cây nứa khô nỏ, lửa cháy phần phật như reo, như hát. Bây giờ phải đi xa lắm mới kiếm được những bó đuốc như thế. Rừng bây giờ có còn bao nhiêu nứa nữa đâu ?
May mà có điện, lại lắm kiểu đèn pin, toàn hàng Tàu, điện yếu lại nạp thêm vào. Tiện thì có tiện, chỉ mỗi tội nó không được bền, như thể người ta cố ý làm như thế để mau bán được hàng. Nếu mua một lần dùng mãi, hàng làm ra có nước đem ra biển đông mà đổ!
Sao người ta không làm cho nó kỹ càng dùng được lâu lâu chút nhỉ? Chả cứ cái đèn pin, nhiều thứ hàng Trung quốc đều như thế cả. Mỗi lúc xuống chợ, ông nhìn chợ mà thấy buồn. Ngoài rau gạo ra, toàn là hàng Trung Quốc cả. Làm như mở chợ để bán hàng cho họ! Rẻ thì có rẻ nhưng là thứ tạm bợ, không được lâu. Có thứ nghe nói còn có độc nữa. Người mình đi đâu cả mà không làm? Ông ở vùng sâu vùng xa thật, nhưng không đến nỗi lạc hậu, chẳng biết gì.
Là trưởng thôn ông cũng được phổ biến rồi chứ? Đâu cứ phải chiếm đất chiếm người mới gọi là “xâm lăng”? Đành rằng giao lưu, hội nhập gì gì, cũng đừng để người mình mất thị trường, mất chợ ngay trên đất mình, trong lúc người mình còn thiếu việc làm, còn phải “xuất khẩu lao động” ra nước ngoài !

Người đến mỗi lúc một đông, có cả người Dao bên Lản Tỷ bên kia núi cũng sang. Trong số những người đến đây, không phải ai cũng mê bóng đá cả, có người đi để tranh thủ nạp đèn pin nhờ ổ điện nhà ông. Thành ra cái sạp trước nhà trở nên chật.
Nhiều no, ít đủ, nhường nhịn nhau mà ngồi.
Ông cũng nhường chỗ cho người đến sau, vào trong nhà lấy hũ rượu rót ra bát.. Lan man nghĩ một mình. Ý nghĩ không đầu, không cuối, chập chùng như những ngọn núi một đời ông đã từng qua.
Cả thôn có ba xóm, có mỗi mình nhà ông có điện, thôi thì giúp người ta lúc khó khăn. Mà mình có mất thêm gì đâu mà hẹp hòi?
Chỉ bực nhất là đám trẻ, mỗi đứa một cái điện thoại. Bọn trẻ đua nhau mà! Sóng điện thoại chưa vào được đến đây, muốn gọi được phải ra ngoài xã cách cả chục cây số, vậy mà đứa nào cũng thích.
Chúng sắm chủ yếu là để nghe nhạc. Đi thả trâu, đi lên nương cũng mang theo, cứ hát eo éo, chẳng bài nào ra bài nào. Chẳng có gì hay mà chúng mê thế kia chứ?
Có đứa nhà không có tiền, cặm cụi đi đào củ ba mươi, hái quả sẹ hàng tuần, sáng đi tối mới về, bán lấy tiền mua cho bằng được mới chịu!
Cái ổ cắm điện ông dành riêng ở góc nhà không lúc nào dứt được cái rắc căm điện thoại. Hết đứa này đến đứa kia chờ đến lượt để nạp điện thoại của mình.
Bọn trẻ bây giờ không như lúc ông còn trẻ.
Không phải người quen, không biết chúng là người H’Mông. Chúng nói tiếng phổ thông, đi xe máy, ăn mặc chả khác gì người Kinh. Váy áo dân tộc chỉ mặc khi diễn văn nghệ, khi làm đám cưới. Xong rồi lại cất kỹ vào tủ.
Kể ra cũng phải, chúng cất để dùng được lâu, người biết làm thổ cẩm bây giờ ít lắm. Một bộ váy áo nếu mua phải mất sáu bảy triệu mới nên, chúng giữ là phải. Chúng khác thời xưa nhiều lắm. Có đứa lém lỉnh ngay cả người Kinh cũng không bằng. Trên Mộc Châu, có nơi trẻ con người H’Mông còn nói tiếng Anh nhanh như gió để hướng dẫn khách du lịch nước ngoài. Ông nghe mà cứ ngẩn cả người, phục chúng nó quá!
Nhiều lúc ông cứ nghĩ bọn trẻ hay tò mò, ham tìm hiểu là điều rất tốt. Ai chả mong măng cao hơn tre ?
Nhưng lại lo liệu rồi đây cái gọi là “ bản sắc văn hóa” của dân tộc mình có còn nữa hay không? Cái nước Tam Miêu của người H’Mông ngày xưa do không chống lại được sự đồng hóa của người Hán mà quốc gia tan dã, con cháu lưu lạc khắp bốn phương trời. May mà còn giữ lại chút phong tục, tập quán qua cách ăn mặc, tiếng nói . Còn có cây Khèn, cái trống làm bè làm bạn..
Bây giờ nếu những cái đó mất nốt, hỏi người H’Mông có còn là người H’Mông nữa không?
Nghĩ đi, nghĩ về, lại chuyện cái “La bàn”!
Nếu không có phương hướng thì sự tinh khôn, nhanh nhạy của bọn trẻ sẽ chẳng ích lợi gì. Chúng sẽ chỉ là những cây đu đủ đực mà thôi. Tươi tốt đấy, nhưng chẳng bao giờ có quả to, ngon ngọt, mà chỉ ra những đùm quả dúm dó, đắng chát.

Ông Chu dừng ý nghĩ miên man trong đầu mình, như dừng con ngựa trước một khúc quanh, thói quen một vài năm trở lại đây, hình như là chứng hay mắc phải của người già. Tiếng ồn ào bên ngoài làm ông chú ý.
Hôm nay là trận Wol Cup chung kết. Đội Hà Lan gặp đội chủ nhà Pháp đang đến hồi căng thẳng..
Ngoài sạp tiếng trầm trồ hò reo mỗi lúc một ầm ĩ. Có đứa hứng chí sút cả vào lưng nhau, cãi vã một lúc rồi thôi. Nhưng ông để ý được lâu, đầu óc ông lại bận nghĩ về chuyện khác..
Chuyện thằng Thào Sinh làm ông khó xử ..
**
Phía sau nhà ông Giàng Chu là khe Khấu Lấu. Hai bên lòng khe vách đá dựng đứng chạy tuốt lên đầu nguồn, nơi có ba ngọn núi đất tạo thành hình cái lòng chảo. Mùa mưa nước từ trên cao dội ào ào tạo thành thác nước trắng xóa, nhìn lóa cả mắt.
Nước dồn xuống lòng suối hẹp sôi ùng ục, cuộn trào, quyét sạch những gì có trên mặt đất dọc hai bên bờ, cây cối đổ ngổn ngang. Có năm lũ to, trâu còn bị lũ lôi đi như lôi đám cỏ rác. Nó gắng sức rẽ vào bờ mà không sao cưỡng lại được sức nước như con bạch tuộc khổng lồ giữ chặt lấy nó. Đến chỗ nước thôi chảy xiết, con trâu dạt được vào bờ thì không ai nhận ra hình dạng của nó nữa. Con trâu va vào đá sừng gãy toác, da bị phanh ra từng mảng, chiếc đuôi cụt lủn không biết đã dắt vào khe đá, hay bụi cây nào.
Nhưng mùa khô khe nước chỉ còn thoi thóp chảy như người đái dắt, không đủ làm nước lần dẫn nước về bản. Từ ngày rừng bị phá hầu như mùa khô nước cạn hẳn, không còn giọt nào.
Cái khe là lối thoát nước duy nhất của thung lũng lòng chảo đầu nguồn, nó như cái phễu chảy xuống không thiếu giọt nào. Ngày trước nước có quanh năm, bây giờ chỉ dồn vào mùa lũ. Thành ra “Lúc chết giá, lúc quá lửa”.
Khi cần nước làm mạ, lòng khe khô như rang. Lúc lúa trổ đòng thì nước như thác đổ. Nước tràn qua cánh đồng làm lúa đổ rạp, gãy xơ xác. Cả cánh đồng lúa trước cửa nhà ông Chu lúc bấy giờ, thỉnh thoảng mới được một vụ lúa, còn thì mất trắng.
Khi thì hạn hán kéo dài, lúc nước về tàn phá..
Mơ ước đắp con đập trị thủy giữ nước trên khe để chống lũ và lấy nước làm ruộng là mơ ước bao đời nay. Tưởng chừng không sao làm nổi. Đã có lần cả thôn cùng nhau xây đập chắn nước, nhưng chỉ được mùa lũ thứ hai đập đã không chịu được. Nó vỡ toác ra từng mảng, gạch đá trôi dạt xuống tận cánh đồng. Từ đó không ai nghĩ đến chuyện xây đập nữa.
Cho đến một ngày, Thào Sinh đến nhà tìm ông. Ông tưởng nó đến tìm con Lanh, nhưng không phải.
Nó nói hôm con Lanh xuống trường sư phạm học là nó đưa đi. ( Lúc ấy chưa có con đường to như bây giờ, nó phải đưa con lanh đi bằng ngựa ). Con Lanh ngồi phía trước, nó ngồi sau, đi mất một ngày mới tới trường con Lanh học. Vậy mà ông đâu có biết, tưởng nó còn đến đây tìm?
Ông hỏi nó: “ Mày không xin đi học ở đâu à?” nó bảo “ Nhà cháu không có tiền, các em còn nhỏ, ở nhà làm đỡ “strí”(3) thôi!” Ông biết hoàn cảnh nhà nó khó khăn, “nỉa”(4) chết rồi, nên thôi không hỏi nữa.
Nó ngồi chơi một lúc rồi lúng túng hỏi ông: “ Giể lầu” có biết vì sao cái đập trên Khấu Lấu vỡ không?” Ông bảo: “ Cái đó ai mà không biết? Nước nặng quá mà! Nhưng mày hỏi để làm gì chứ?”
Nó bảo: “ Nước từ trên cao dồn xuống đương nhiên là mạnh rồi, nhưng cháu nghĩ người ta xây đập không có chân tựa, như thế nó mới vỡ”.
Ông nói: “ Người ta thuê cả kỹ sư thiết kế đấy, nhưng nước nặng quá, chỉ có giời mới ngăn được thôi!”
Nó không nói gì lẳng lặng chào ông rồi về.

Tưởng chuyện về cái đập đến đấy là thôi. Ai ngờ mấy ngày sau ông đi tìm trâu thấy nó với mấy thằng nữa đang làm gì lúi húi trong khe. Ông tò mò lần vào thì thấy chúng đang buộc những cái giọ sắt vào nhau. Chẳng biết như thế để làm gì? Trên đám đất gần đấy ông thấy có đống lửa, có cả cái nồi nấu cơm ăn, cái bình đựng nước..Một cái lán mới làm ngay bên cạnh, lá lợp hãy còn tươi. Hình như chúng ăn ngủ tại chỗ lâu lâu rồi.
Ông hỏi chúng nó chỉ bảo: “ Rồi sau “giể lầu”(5) sẽ biết mà!” Hình như chúng muốn giấu ông chuyện gì, ông cứ ngờ ngợ như thế.
Ít lâu sau, cả thôn đồn ầm lên là thằng Tào Sinh to gan. Ông mò lên khe thì cái đập đã gần xong rồi. Hàng trăm chiếc giọ sắt lèn đầy đá hộc buộc giằng vào nhau xếp lại thành cái đập chắn ngang lòng khe. Phía trên được đan bằng những tấm phên dày, đổ đất lèn như khi người ta chình tường. Chỉ có đất với đá mà nom cái đập vững chãi vì có chân thoải rộng ra hai bên. Nước đang từ từ dâng lên chừng phân nửa con đập, ít ngày nữa là đầy.
Có người bàn ra tán vào, cười cợt: “ Đúng là che người lá khoai”. Người ta chưa tin mà!
Thào Sinh không nói gì, mặt nó đanh lại. Nó bực lắm nhưng chưa cãi lại vì chưa biết kết quả thế nào? Nó đã phải bán cả con ngựa của nhà để mua dây thép về đan giọ, mưu cầu ích lợi cho cả thôn mà người ta còn cười nó, không bực sao được?
Con ngựa của người H’Mông có khác gì “Con trâu làm đầu cơ nghiệp” của người Kinh đâu? Ngay cả thằng A Thoan, bí thư chi đoàn của thôn còn chưa được nhiệt tình như nó, nói đến làm đập còn e dè, giờ cười cái nỗi gì?
Qua mấy vụ lũ, con đập chẳng hề suy chuyển.
Thực ra thì cũng bị sạt lở vài chỗ, nhưng Thào sinh cùng mấy đứa bạn hàn khẩu được ngay. Nếu không vá kịp thời chỗ rò sẽ phá rộng ra, đập dễ bị vỡ. Bên này đập và trên mặt Thào Sinh cho trồng cây sậy, chân đập trồng kín tre gai. Con đập ngày càng vững chắc nhờ các bụi tre mỗi năm mỗi dày.
Bây giờ khe Khấu lấu đã thành cái hồ chứa nước quanh năm. Có một con mương nhỏ thoát nước khi hồ đầy.
Cả thôn không còn lo nước làm mạ, không còn lo mùa lũ tràn về. Củ điện nhà ông Giàng Chu cũng nhờ sức nước từ con mương của bọn Thào Sinh dẫn về.
Ngoài cái lợi cho cả thôn, Thào Sinh và đám bạn còn có cái lợi riêng. Mỗi năm chúng thả cá cũng thu được hàng chục triệu đồng. Nó trở thành ông chủ tuổi trẻ nhất cả vùng.
Không cứ cái việc đắp đập, nó còn giỏi nhiều việc khác. Dám nhận hàng hecta đất rừng để trồng cây trong lúc trong thôn vận động mãi không ai nhận làm. Người ta sợ trồng cây lâu ngày lấy cái gì để ăn trước mắt ? Liệu sau này cây trồng rồi mình có được hưởng lợi không ? Hay như một vài nơi, nhà nước khuyến khích trồng rồi thu lại, chỉ trả công cho đủ mua gạo ăn?
Nó không nghĩ thế. Dám nghĩ dám làm, chỉ vài năm nữa là có tiền tỷ trong tay!
Mấy hecta trồng keo, trồng mỡ giờ cây khép tán, đường vanh trung bình sáu mươi phân trở lên. Nó cứ lấy ngắn nuôi dài, đồng tiền trong tay nó chỉ việc sinh sôi nảy nở.
Tuy có chút vốn liếng, nó vẫn cặm cụi như ngày trước không dính vào cờ bạc, hút sách. Nói nămg vẫn phép tắc, không cậy có tiền, ăn chơi đua đòi. Chính vì vậy mà ông ngày càng quý nó.
Con Lanh học xong sư phạm, chưa xin được việc phải tạm thời về nhà, có khi phải chờ lâu lâu mới xin được việc.
Ngày ngày hai đứa quấn lấy nhau, nó càng ngày càng tươi như hoa pặc piềng đỏ thắm. Ông lấy làm mừng. Thào Sinh mua về cái máy phát cỏ. Hai đứa theo nhau đi làm rừng như đôi chim gâu. Nếu không xảy ra chuyện gì, cuối năm nay ông sẽ cho chúng thành vợ chồng. Cái ăn cái tiêu không còn phải lo.
Nhưng ông trời thường éo le, con đường không mấy khi thẳng, thường có những khúc cong.
Cái chính cũng bởi con Lanh tiếc mấy năm trời ăn học, nó chưa muốn ở nhà gắn bó với ruộng nương. Có người rủ về thành phố làm việc, hứa trả công cao, nó đã vội nhận lời. Nó định làm tới cuối năm gom một ít tiền để chạy việc, nên bằng lòng theo người ta.
Thằng Thào Sinh không đồng ý, hai đứa khúc mắc với nhau, ông Giàng Chu thấy thật khó xử.
Thào Sinh nghe người ta nói Lanh về làm tiếp viên nhà hàng, nó buồn lắm. Nó chưa từng đặt chân đến những nơi ấy, nhưng qua báo đài, tivi nó biết những nơi như thế chẳng hay gì . Nó chán. Suốt ngày nằm trên cái chòi canh cá trên khe, không muốn về nhà. Nó giận mình bất lực không biết làm thế nào để giữ chân được Lanh ở nhà. Sợi lanh óng ánh, đẹp thế nhưng cũng khó nắm chặt trong tay mãi.
Lanh đi ra bên ngoài, lòng người như cây gỗ thơm, ngoài nắng mưa nhiều, chắc gì đã giữ được lời hẹn với mình? Nếu chỉ vì ít tiền để lo việc, sao Lanh không nói với nó? Nó có thể lo được mà. Hay là vì lẽ nào khác mà Lanh không nói? Xét cho cùng, làm gì cũng là để có cuộc sống, cứ gì phải đi dạy học mà Lanh phải khổ sở như thế?
Ngay mấy cô giáo trong xã này cũng có hơn gì người ta đâu? Cô nào cũng kêu căng thẳng thời gian, chuyện phức tạp trong nhà trường, bao nhiêu cái phải đau đầu. Làm gì cũng có cái khó, cái khổ của nó, chẳng việc gì thuận lợi hoàn toàn.
Hai đứa khỏe mạnh, cứ đà như hiện nay, Thào Sinh tin chắc mình sẽ không để Lanh phải khổ. Còn được tự do, thoải mái, tự mình làm chủ lấy mình. Vậy mà nỡ lòng nào Lanh lại cầm lòng đi cho bằng được? Thào Sinh nói thế nào Lanh cũng không chịu nghe!

Chuyện hai đứa làm ông Giàng Chu đau đầu. Khách đến chơi nhà đông chật, không đủ chỗ ngồi, mà ông chẳng muốn bắt chuyện với ai. Có ai hỏi ông chỉ ậm ừ cho qua chuyện.
Cuối cùng buổi tường thuật bóng đá cũng hết. Phát thanh viên nói lời cảm ơn khán giả. Mọi người lục tục ra về, vừa đi vừa bàn tán trận đấu bóng, xôn xao sang đến tận bên kia con suối.
Còn ông đầu óc ông vẫn để đâu đâu. Thậm chí đến đội nào thắng, đội nào thua ông cũng không để ý nữa.
Thôi được rồi, ngày mai việc đâu cũng tạm để đấy đã. Ông phải xuống chỗ con Lanh làm xem hư thực thế nào. Nếu đúng như người ta đồn đại, ông phải bắt con Lanh về cho bằng được. Ông còn sống ngày nào không thể để con gái mình đi vào con đường cụt, vào bụi rậm mà không cứu được .

Ông định tắt đèn đi ngủ thì thấy bà vợ ông từ trong buồng chạy ra nói có tiếng gì sột soạt sau nhà? Vùng này lâu nay trộm cắp không có, vì mấy thằng nghiện đã đi cai cả rồi. Thú rừng lâu lâu cũng không gặp, mà nếu có, con chó của nhà đã sủa lên rồi chứ ? Giống chó của người H’Mông được tiếng là tinh khôn, biết được ý chủ. Lúc chủ có khách, trong nhà có người, nó không hề cắn ai. Nhưng nếu chủ nhà đi vắng, khó lòng người nào vào được trong nhà. Có con rắn hay con cầy mò về nó đuổi cho kỳ được, khó lòng thoát khỏi hàm răng sắc nhọn của nó.
Vậy thì cái gì nhỉ ?
Ông cầm đèn pin ra soi sau nhà, trời ơi! Ông không tin ở mắt mình nữa: Con gái ông đang nấp sau bó gianh xếp ở hiên nhà chỗ gần cửa sổ của buồng của “nỉa” nó.
Đầu tóc nó rối bù, áo quần lem luốc, chân không giày dép. Sao nó lại ra nông nỗi này kia chứ? Ông hỏi nó: “ Sao về không vào nhà, lại đứng đây?” Nó bảo nó sợ.
Nó theo ông vào nhà. Bà Giàng Chu ôm chầm lấy con gái, hai “nỉa” con khóc không ra tiếng. Có thể con ông bị người ta lừa bán ra nước ngoài, may mắn nó trốn về được.. Cũng có thể nó bị người ta ép buộc làm chuyện gì xấu xa, nó không chịu, nên mới ra nông nỗi này. Nếu không thế sao nó lại sợ hãi cả strí, nỉa của mình?
Ông vừa giận lại vừa thương con. Tốt nhất là không nên hỏi gì nó vào lúc này. Nó đang đau lòng. Biết đâu lại quẫn chí như đứa con gái ở thôn Khuổi Triển, làm mấy lá ngón cho xong đời, xong một kiếp nhục nhã, có sống cũng không thiết gì nữa. Khác nào hòn cuội lăn lóc dưới làn nước, bám đầy rêu!

Cứ để nó bình tĩnh lại, ông tin con ông không đến nỗi nào. Ít ra nó cũng được ăn học để biết cái hay, cái dở, cái gì nên hay không nên. “ Mày đã chót đánh rơi cái la bàn rồi “scứ”(6) à, muốn nên người phải tìm lại thôi, nó ở ngay trong cái đầu của mày ấy!” ông lầm thầm như thế về đứa con gái của mình và tin là nó sẽ tìm lại được.
Người H’Mông không có cái la bàn trong đầu, có khác gì bị lạc giữa rừng già?
Sẽ đói khổ vì lang thang như ngày trước thôi. Mày có giỏi, khôn mấy cũng không nghĩ được nhiều như người già. Tỉnh lại đi con à!
Ông tin là nó sẽ tìm lại được cái la bàn cho đời mình, vấp gốc cây rồi nó sẽ biết đứng dậy, sẽ đến được nơi nó muốn. Vì nó không phải chỉ có một mình, nó còn có strí, có nỉa, có mọi người..
Chỉ lo không biết thằng Thào Sinh nghĩ gì về chuyện này ? Có nên báo cho nó biết con Lanh đã về rồi không ? Nó là thằng con trai sáng ý, giỏi ăn, giỏi làm, nhưng liệu cái bụng nó có đủ rộng để bỏ qua chuyện không ? Đành là có chuyện, mới hiểu được lòng người, dù sao chuyện cũng đã rồi. Ngựa đã mắc cương, đi hay ở là tùy mày thôi Thào Sinh à..

Tiếng gà đã sang canh. Xóm hoa đào ran lên tiếng gà. Cái giống đến lạ, một con cất tiếng là y như rằng có bao nhiêu con đua nhau gáy theo. Cứ như thể nếu không gáy sẽ bị mất phần vậy !
*****


Ghi chú : 1: Còn gọi là Tam Miêu
2: Không biết
3: Bố
4: Mẹ
5: Bác
6: Con ( Tiếng H’Mông)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam ‘tuy vẫn bước nhưng không biết đi đâu’


Một người nghèo lượm rác kiếm sống trên đường phố Hà Nội. Mức độ nghiêm trọng của các thảm trạng xã hội càng ngày càng lớn vì chính quyền Việt Nam vẫn loay hoay chưa biết làm thế nào để xây dựng “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” (Hình: Getty Images)
HÀ NỘI (NV) – Đó là điều mà ông Nguyễn Chí Dũng, thứ trưởng của Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư Việt Nam, thú nhận tại hội thảo về xây dựng thể chế “kinh tế thị trường.”
Hội thảo vừa kể do Ngân Hàng Thế Giới (WB) và Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội.
Tại hội thảo đó, ông Dũng tâm sự thêm rằng ông nghĩ mãi mà vẫn chưa thông là nếu tiếp tục bước tới khi không rõ sẽ đi đến đâu, đi bằng cách nào và bao giờ đến… thì làm sao Việt Nam có thể đi nhanh và kinh tế có thể phát triển bền vững (?).
Cho đến giờ giới lãnh đạo chính quyền CSVN vẫn khăng khăng sẽ hướng Việt Nam vào con đường “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Tuy nhiên giới này vẫn chưa phác họa được diện mạo của “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” ra sao, có những điểm gì khác với nền kinh tế kế hoạch theo kiểu cộng sản và kinh tế thị trường thuần túy.
Theo ông Dũng, thể chế đang được cải cách thông qua cải cách luật pháp, tái cơ cấu đầu tư công, cải cách lề lối quản trị doanh nghiệp nhà nước nhưng hình như chưa đủ nên lại tiếp tục cải cách thể chế.
Ông Dũng thú thật là cải cách liên tục nhưng cảm giác ở đâu đó vẫn thiếu cái gì đó chưa đúng, chưa đủ, chưa yên tâm vẫn còn nên vẫn thấy cần phải tiếp tục cải cách. Nếu cứ loay hoay cải cách thì rõ ràng sẽ để vuột mất cả thời gian lẫn cơ hội.
Thứ trưởng của Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư Việt Nam tự vấn, cuộc sống giống như một dòng chảy, việc đặt định cách thức giám sát từng giống như đắp đập khiến dòng chảy bị nghẽn, giờ phá đi thì gọi là gì? Chẳng lẽ đắp đập rồi dỡ bỏ là cải cách? Không như nhiều quốc gia khác – chọn được đường ngay từ đầu, trước đây, Việt Nam đi theo một hướng giờ chuyển sang hướng khác trong bối cảnh điểm xuất phát thấp, nguồn lực hạn chế. Vậy thì làm sao để kinh tế Việt Nam có thể tiếp cận với các chuẩn mực tốt mà các quốc gia khác phải mất vài trăm năm mới định hình được?
Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Việt Nam, góp ý: Chúng ta hay nói Việt Nam thì khác, Việt Nam có “đặc thù”! Tuy nhiên theo ông Cung, không nên nhấn mạnh điều đó, vì nếu cứ nhấn mạnh sự khác biệt thì Việt Nam tự đẩy mình sang bên lề tiến trình toàn cầu hóa. Có “đặc thù” thì phải tự nắn để hòa vào dòng chảy chung theo chuẩn mực quốc tế.
Ông Cung dẫn Nam Hàn để chứng minh. Trước đây Nam Hàn cũng có nội chiến, cũng nghèo. Hồi thập niên 1960, Nam Hàn cũng như Việt Nam nhưng đến thập niên 1980, Nam Hàn đã bước vào giai đoạn hai của quá trình phát triển còn Việt Nam ở giai đoạn một. Nay, Nam Hàn bước vào giai đoạn ba thì Việt Nam cũng vẫn còn loay hoay ở giai đoạn một. Nam Hàn và Việt Nam rõ ràng có khác biệt nhưng việc chú trọng vào sự khác biệt đó là để tự thay đổi chứ không phải để du di, chần chừ.
Ông Raymond Mallon, một cố vấn cho dự án có tên “Hỗ trợ tái cơ cấu nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam” do chính phủ Úc tài trợ, bảo rằng, dẫu liên tục cải cách, các vấn nạn chính của Việt Nam vẫn là sự chuyển đổi của nền kinh tế rất chậm, doanh nghiệp tăng trưởng chậm, kinh doanh thiếu sáng tạo, nhờ quan hệ mật thiệt với các viên chức, các nhóm tài phiệt tiếp tục giàu nhanh nhờ có đặc quyền tiếp cận vốn, đất đai và thị trường.
Ông Jeong Ho Kim, một giáo sư của trường Chính Sách và Quản Trị tại Nam Hàn, cho biết, ba điểm chính giúp Nam Hàn thịnh vượng như hiện nay là: Chính trị đa nguyên, xã hội dân sự, sử dụng các ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức và sáng tạo cao làm trụ cột.
Ông Jeong Ho Kim lưu ý, Nam Hàn thành công còn vì vừa cảnh giác với các Chaebol (những tập đoàn do các gia tộc điều hành), vừa dùng nhiều cách để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gỡ bỏ sự bảo hộ các doanh nghiệp nhà nước, các lĩnh vực công ích như vận tải, tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, tăng phúc lợi xã hội. (G.Đ)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIỮ VỮNG CÔNG CỤ “CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN”!


Đối với những nước theo Chủ nghĩa Mác - Lenin, công cụ “Chuyên chính vô sản” rất quan trọng. Nó đảm bảo cho chính thể XHCN tồn tại trước các “thế lực thù địch”. Có lãnh tụ Cộng sản từng phát biểu: “Súng đẻ ra chính quyền”, tức là Đảng CS phải dùng bạo lực để cướp chính quyền và giữ vững chính quyền.
Sau thời kỳ thăng hoa, các nước XHCN lần lượt suy tàn và sụp đổ. Bắt đầu từ Đông Âu, rồi Liên bang Xô viết vĩ đại, rồi Venezuela… Các nước cộng sản còn lại như Trung Quốc, Cu Ba, Triều Tiên cũng dần dần biến màu, không còn chất cộng sản nữa mà đi vào quỹ đạo phong kiến (Triều Tiên), đế quốc (Trung Quốc), hoặc đang chuyển hóa mạnh sang con đường dân chủ tư bản (Cu Ba). Chỉ riêng Việt Nam ta vẫn ngẩng cao đầu, hùng dũng giương cao ngọn cờ búa liềm, tiến lên phía trước. Ngày nay, Đảng CS Việt Nam trở thành lãnh tụ của phong trào cộng sản thế giới, đương đầu với thế lực hùng hậu của Chủ nghĩa Tư bản.
Sở dĩ Đảng ta vẫn đứng vững trước phong ba, bão táp của thế kỷ vì Đảng ta sử dụng hữu hiệu công cụ “Chuyên chính vô sản”. Đảng đã đưa vai trò của Đảng danh chính, ngôn thuận vào điều 4, Hiến pháp Cộng hòa XHCN Việt Nam. Đảng đã biến hai lực lượng Quân đội và Công an “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nước, với Dân”. “Trung thành với Đảng” được đưa lên hàng đầu, tiên quyết và không khoan nhượng.
Hai lực lượng này được biên chế và trang bị vũ khí, khí tài rất hiện đại. Ngành Công an có những đội xe đặc chủng rất tiên tiến, đội cảnh khuyển được huấn luyện giỏi, sẵn sàng đập tan các thế lực chống đối. Lực lượng an ninh hoạt động rất chuyên nghiệp, nghiệp vụ cao, bóp chết các loại phản động, chống đối ngay từ khi mới manh nha. Ngoài ra, Đảng cón sáu tổ chức chính trị, xã hội đông đến gần 400.000 biên chế, không quản hy sinh, sẵn sàng lăn xả để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Nổi bật là Đoàn TNCSHCM, đội hậu bị hùng hậu, lực lượng Hồng vệ binh trung thành của Đảng. Ngoài ra, Đảng còn có trên 30 hội đặc thù mà đặc trưng cũng nhằm bảo vệ Đàng ở vòng ngoài. Hơn 800 tờ báo, hàng trăm trang tin điện tử với mấy chục ngàn nhà báo sẵn sàng bảo vệ Đảng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Đảng còn có hệ thống Ban tuyên giáo, Bộ Thông tin & Truyền thông hoạt động hết sức hiệu quả. Nhà báo nào, tờ báo nào, trang tin nào không nghe lệnh, đi chệch hướng lập tức sẽ bị tuýt còi, bị trừng trị nghiêm khắc.
Với lực lượng mạnh như vậy, các thế lực thù địch, bọn Việt Tân không thể làm gì được chúng ta. Bà con cứ việc ăn no, ngủ kỹ, lo làm ăn, còn mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo.
Biết sử dụng công cụ “Chuyên chính vô sản” một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, Đảng ta cho thế giới Phương Tây thấy sự lãnh đạo tài tình, khôn khéo của mình. Các nước Đông Âu, Liên Xô nhận ra được điều này thì đã quá muộn. Tuy nhiên, sử dụng công cụ “Chuyên chính vô sản” ta còn kém các đồng chí Triều Tiên và người anh lớn Trung Quốc. Bài học “Thiên An môn” là bài học kinh điển để các chế độ XHCN nghiên cứu và học tập.
Đảng ta, chế độ XHCN ở Việt Nam sẽ mãi trường tồn nếu công cụ “Chuyên chính vô sản” được giữ vững.
Chuyên chính vô sản muôn năm !
-----

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao truyền thống đã lầm về tâm lý quần chúng trong các cuộc bỏ phiếu vừa qua?

Con Vịt và Con Vẹt




"Hồ Sơ Người-Việt"





* Post-truth - từ quốc tế trong năm - hay "hậu chân tướng" là chuyện tào lao *




Giới truyền thông rồi các học giả đã đoán sai kết quả bầu cử Tổng thống tại Hoa Kỳ sau khi đoán sai nhiều cuộc trưng cầu dân ý khác tại Anh Quốc, Colombia và ngay tại Ý vào tuần qua....

Một tháng sau bầu cử tại Mỹ, người ta tìm hiểu nguyên nhân và tranh luận, rồi nói đến khái niệm “post-truth”. Từ điển Oxford English Dictionary gọi đó là “Từ Quốc Tế Trong Năm”, International Word of the Year, và nếu gõ lên Google thì thấy có 240 triệu lần nhắc đến từ đó.

Chúng ta có thể tạm dịch là “hậu chân tướng” hay “hậu chân lý” để nói về hiện tượng lầm lạc chính trị căn cứ trên những điều sai mà cứ được trình bày như sự thật. Sau đó mới thấy ra sự thật khác, nhưng lại tranh luận tiếp rằng ai đưa ra những điều sai lạc ấy, trong mục đích gì? Thí dụ nóng hổi là những “tin ngụy tạo” – fake news – và việc chính giới Hoa Kỳ, từ Tổng thống Barack Obama trở đi, đòi điều tra xem Liên bang Nga can thiệp thế nào vào cuộc tranh cử Tổng thống năm nay, khi hai cơ quan hữu trách là CIA và FBI lại không có cùng quan điểm….

Hồ Sơ Người-Việt tìm hiểu hiện tượng lầm lạc ấy, nhưng từ một giác độ khác, để giúp quý độc giả và cả giới bình luận!


THUẬT QUỶ BIỂN

Chẳng biết vì sao và từ đâu, người Việt Nam ta đã có chữ “tin vịt” để nói về loại tin tức không có thật. Năm nay người ta mới có chữ post-truth và fake news đang thành thông dụng, nhưng tìm hiểu kỹ thì mới thấy người mình hình như tinh quái hơn khi có chữ “tin vịt”.

Có lẽ từ “post-truth” được tác giả Ralph Keyes dùng lần đầu vào năm 2004 trong cuốn sách tựa đề là “Post-Truth Era”, sau đó David Roberts nói về “post-truth politics” vào năm 2010, là hiện tượng lầm lạc chính trị vì tin vịt. Thật ra, truyền thông Tây phương đã có một từ thông dụng là “meme” do một nhà khoa học về sự chuyển hóa sinh ly Richard Dawkins phát minh vào năm 1976.

Xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ “mimema”, chữ meme hàm ý là điều bắt chước, từ trên đưa ra cho dưới học theo (giả dụ như cha truyền con nối, thầy dậy trò nghe) hay phát triển theo chiều ngang, qua truyền thông hay phim ảnh cho đại chúng cùng xem và tin. Ông Dawkins nói đến hiện tượng di truyền như trong sinh lý học: nếu cơ thể tiếp nhận các chủng tử hay “gene” thì trí não cũng có thể tiếp nhận thông tin và bị ảnh hưởng. Nếu là thông tin sai lạc thì suy nghĩ lầm lạc và hành động sai quấy! Hiện tượng “post-truth” đang gây sôi nổi chỉ là một “meme” mới, một con vịt mới.

Về chính trị thì con vịt này nguy hiểm khi nó được các con vẹt lưu truyền tiếp. Truyền thông con vẹt gây họa cho chúng ta mà mình không biết!

Đã nói đến một từ cổ Hy Lạp thì ta không quên rằng trong nếp văn hóa chính trị Trung Hoa, người ta có từ “thuật quỷ biển” là nghệ thuật quỷ quái biển lận nhằm gây lầm lạc cho đối thủ, lầm về ta và lầm về địch! Giới nghiên cứu chính trị Hoa Kỳ đã dịch từ này thành “perception management”, trong ý nghĩa là “nghệ thuật gây ấn tượng.” Với phương pháp thông tin đại chúng phát triển rất nhanh và nhờ kỹ thuật hiện đại, như qua Twitter, Face Book hay mạng xã hội, người ta có thể là nạn nhân của “thuật quỷ biển”, ấn tượng bị quản lý mà không hay!

Khi tranh luận về hiện tượng “post-truth”, người ta cho rằng Donald Trump đắc cử Tổng thống là do thuật quỷ biển của đối phương!


TỪ LẰN RANH TẢ HỮU QUA LÃNH VỰC VĂN HÓA


Chẳng lẽ truyền thông và giới an ninh Hoa Kỳ lại bị lầm lạc tới mức đó sao? Hình như sự thể nó phức tạp hơn vậy.

Từ nhiều năm nay, giới hướng dẫn dư luận là truyền thông báo chí, các học giả và thầy cô trong trường, v.v…. đã hiểu sai hay tiên đoán lầm một số kết quả bỏ phiếu tại nhiều nơi trên thế giới và gây lúng túng cho giới lãnh đạo chính trị. Ở đây, ta chỉ nói về cuộc đầu phiếu tự do của các chế độ tương đối dân chủ, như bầu cử năm 2015 hoặc trưng cầu dân ý tại Anh ngày 23 Tháng Sáu, tại Colombia ngày hai Tháng 10, hay tại Ý vào tuần qua. Đấy là bối cảnh chung

Riêng tại Hoa Kỳ thì kết quả tranh cử Tổng thống đã gây chú ý vì trái ngược với đa số dự đoán hay bình luận. Sau đấy, giới quan sát mới tìm hiểu hoặc tranh luận về nguyên nhân lầm lạc.

Thí dụ từ cánh hữu, bên đảng Cộng Hòa, người ta cho rằng xã hội Hoa Kỳ đã đổi thay từ vài chục năm nay, từ 1960 hay 1980, khiến một thiểu số ưu tú da trắng tách dần khỏi quần chúng và nhóm đại gia giàu nhất, khoảng 3-5% dân số, tự cô lập và hết quan tâm đến số phận của 30% dân chúng bần cùng nhất ở dưới. Chẳng những vậy, thiểu số giàu sang và có học ấy lại đề cao nếp văn hóa lạc quan, phóng túng và thậm chí lố bịch như thường thấy trong phim ảnh.

Từ cánh tả, bên đảng Dân Chủ, người ta tự kiểm điểm và thấy thiểu số ưu tú và phú quý, kể cả giới học giả và bình luận gia khét tiếng là tinh tường, không đánh giá tầm quan trọng của yếu tố vô thức, hay tiềm thức quần chúng. Tiềm thức ấy là bản năng chính trị, có ảnh hưởng còn cao hơn cái “ngã” hay tính chất siêu ngã trong tâm lý con người. Vì đánh giá sai tâm lý quần chúng, người ta mới kinh ngạc về kết quả bỏ phiếu.

Khi ráp lại hai cách giải thích khách quan này thì chúng ta có thể nghĩ tiếp, rằng quần chúng ở dưới cho là giới thượng lưu ở trên sống dư thừa mà sa đọa và sở dĩ như vậy là vì… quần chúng xem phim của Hollywood và đọc báo lá cải về đời tư của minh tinh màn bạc hay danh tài thể thao. Cũng vì xem phim, không về tài phiệt Wall Street tham lam và vô tình hay về các mưu hiểm của điệp viên CIA chống lại Chính quyền, mà về đám Mỹ ruộng bệnh hoạn và hiếu sát, nhiều người còn tin rằng thành phần bỏ phiếu cho Donald Trump là đám da trắng thất học, có tính kỳ thị và ưa thích bạo động.

Không phải là mọi nghệ sĩ hay lực sĩ giàu có đều đồi trụy như vậy, và đám da trắng sùng đạo không đòi đưa người khác lên dàn hỏa thiêu, nhưng ấn tượng này đã có trong tâm lý của nhiều người và nó chi phối quyết định bỏ phiếu trong khi báo chí lại chẳng nhìn ra.

Sự thật chình ình trước mắt là xã hội Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng về văn hóa vì một số giá trị truyền thống đã tạo ra sức mạnh cho nước Mỹ lại bị nhiều người bỏ rơi, thậm chí khinh miệt. Với một số người tự nghĩ là tiến bộ thì tinh thần ái quốc – với biểu tượng là quốc kỳ - hoặc tinh thần sùng chuộng tín ngưỡng và kỷ cương gia đình, là biểu tượng lạc hậu, mê tín. Đám người “mê tín” và “vô học” tại các tiểu bang bị lãng quên đã bỏ phiếu và gây bất ngờ cho các tiều bang tiên tiến nhất ở ven biển.

Khổ nỗi là khi ấy những con vẹt lại suy luận tiếp rằng quần chúng dại dột tin vào tin vịt mà bỏ phiếu sai, có khi là tin vịt do các thế lực thù nghịch tung ra! Tức là ngay trong cách tìm hiểu, người ta lại có thể loan truyền tiếp nhiều luận cứ nhuốm mùi “meme”.

Chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích khác khi theo dõi tin tức về cháy rừng! 

Trong trận hỏa hoạn, chính ngọn lửa bừng bừng lại gây sức hút làm bão lửa lan rộng với tốc độ cao. Nạn cháy rừng có thể là do kẻ gian đốt rừng mà cũng có thể là do nguyên nhân tự nhiên, nhưng khó trị vì quy luật vật lý hóa học. Báo chí có thể vô tình, nhưng là luồng dưỡng khí thổi bùng tin vịt như trong một đám cháy rừng. Bây giờ mới tìm xem ai là kẻ ném que diêm vào rừng!

___


Kết luận ở đây là gì?


 Con vẹt mới đáng sợ hơn con vịt!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủ tướng muốn thay đổi lớn


Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có sự đồng ý trong Bộ Chính trị, trong Trung ương rồi thì ông mới có thể nói được. Ông ấy không thể nói cái gì vượt qua những quy định của Đảng vì ông ấy là Ủy viên Bộ Chính trị… Luật sư Trần Quốc Thuận nói. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc liên tiếp hàm ý sẽ có nhiều cải cách xóa bỏ những thể chế lỗi thời kìm hãm phát triển và cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc trò chuyện với ông Frank-Walter Steinmeier, Bộ trưởng Ngoại giao Đức, tại Hà Nội hôm 31/10/2016.
Xóa bỏ thể chế lỗi thời

Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã có những phát biểu gây chú ý trong hai sự kiện diễn ra tại Hà Nội. Ngày 27/12/2016 tham dự Hội nghị tổng kết năm 2016 của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi giới khoa học nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Đây là câu nói của Tổng Bí thư Trường Chinh tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, quyết định chủ trương Đổi mới để chặn đứng nguy cơ sụp đổ kinh tế và chính trị vào giữa thập niên 1980.

Một ngày trước, hôm 26/12/2016 báo chí giật tít lớn ‘Thể chế do chúng ta đặt ra mà lại sợ nó’. Đó là lời người đứng đầu chính phủ phát biểu tại Hội nghị Tổng kết năm 2016 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Nguyên văn lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc : “Thể chế do chúng ta đặt ra, nghĩ ra, nhưng mà chúng ta lại sợ nó. Thể chế ràng buộc sự phát triển thì phải bãi bỏ ngay, đừng để các thể chế đó bắt chúng ta phải chạy theo, phải sợ nó một cách vô lý…”

Thủ tướng đã không đề cập trực diện thể chế Kinh tế Thị trường Định hướng Xã hội Chủ nghĩa chính là thể chế mẹ, đẻ ra những thể chế con đầy bất cập mà nay đang kìm hãm sự phát triển.

Trả lời Nam Nguyên vào tối ngày 27/12/2016, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từ Saigon nhận định:

“Ở trong nước thì nói là cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, nhưng khi làm việc với nước ngoài các lãnh đạo Việt Nam từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho tới Thủ tướng và cả Chủ tịch Quốc hội đều yêu cầu nước ngoài nên công nhận Việt Nam đã có nền kinh tế thị trường mà không có nói là theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. 

  Tôi nghĩ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có sự đồng ý trong Bộ Chính trị, trong Trung ương rồi thì ông mới có thể nói được. Ông ấy không thể nói cái gì vượt qua những quy định của Đảng vì ông ấy là Ủy viên Bộ Chính trị…

- Luật sư Trần Quốc Thuận
Như vậy điều đó cho thấy việc Việt Nam cơ bản công nhận kinh tế thị trường, yêu cầu các nước khác công nhận có nền kinh tế thị trường thì tự thân mình cũng nghĩ ra điều đó. Làm việc với Châu âu với Nhật nhất là với Hoa Kỳ gần đây vẫn thường nhắc là mình có nền kinh tế thị trường, mà không dùng từ định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tôi cho là đó là việc phải tiến tới, bởi vì thị trường nó là quy luật tự nhiên, đâu có phải là sản phẩm của ai đâu, bây giờ đã đến lúc phải thừa nhận nó, không nên nói ỡm à ỡm ự nữa.”


Những nhận xét của Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, làm chúng tôi liên tưởng tới phát biểu của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry vào hôm 10/10/2016 tại một cuộc Hội thảo ở California về an ninh mạng và vai trò của Internet đang làm thay đổi thế giới. Phát biểu của ông Kerry được tóm lược: “…Việt Nam ngày nay không còn dấu vết của chủ nghĩa Cộng sản, hiểu theo nghĩa là một kế hoạch và lý thuyết kinh tế… Ở đó là chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt, có internet và người dân được tiếp cận. Đó vẫn là quốc gia độc đảng và độc đoán, và không may vẫn còn vi phạm nhân quyền và nhiều thứ khác… nhưng theo thời gian đất nước này chứng tỏ đang thay đổi…”

Liên tiếp nói rất mạnh về cải cách thể chế hàm ý cả thể chế kinh tế lẫn chính trị, vấn đề đặt ra là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc không thể một mình đưa ra những đột phá quan trọng. Luật sư Trần Quốc Thuận từ Saigon trả lời câu hỏi này. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có sự đồng ý trong Bộ Chính trị, trong Trung ương rồi thì ông mới có thể nói được. Ông ấy không thể nói cái gì vượt qua những quy định của Đảng vì ông ấy là Ủy viên Bộ Chính trị…”

Tới lúc sửa Hiến pháp

Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015. AFP photo
Luật sư Trần Quốc Thuận từng 14 năm đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, lập lại sự kiện lãnh đạo Việt Nam đi gặp nhiều nước khác kể cả Hoa Kỳ, Tổng Bí thư đề nghị là Hoa Kỳ nên công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, chứ không hề đề nghị người ta công nhận Kinh tế Thị trường Định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Luật sư Trần Quốc Thuận tiếp lời:

“Như vậy có hai lời nói, một ở trong nước và một ở nước ngoài, tôi cho là lời nói ở nước ngoài có giá trị hơn, bởi vì đó là một thị trường thực sự. Còn thị trường trong nước chỉ là thị trường nội địa, nó có những hạn chế của nó…Dĩ nhiên Việt Nam muốn làm như vậy nhưng bây giờ mới là hô hào khẩu hiệu, nhưng muốn làm điều đó thì phải làm một việc quan trọng hơn là phải sửa hiến pháp và nhiều luật pháp liên quan. Trong Hiến pháp cũng nói rằng kinh tế quốc doanh sở hữu Nhà nước là nền tảng, như thế làm sao mà bình đẳng được, nó có nhiều ưu thế hơn. Nhưng bây giờ người ta đang hô hào phải công nhận các thành phần kinh tế là bình đẳng thì mới có kinh tế thị trường được. Tôi cho rằng lời nói đó có thể dẫn tới việc trọng đại hơn là những qui định trong Hiến pháp mà ràng buộc thì đã đến lúc cần phải sửa.”

Tại Hội nghị Tổng kết năm 2016 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tổ chức hôm 26/12 ở Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Cao Đức Phát hiện là Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương nêu ví dụ về những điểm nghẽn thể chế. Theo đó, điều 193 Luật Đất đai là một rào cản về việc tích tụ ruộng đất và cần sửa đổi. Điều này quy định chỉ được chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường. Như vậy người có vốn và kinh nghiệm không thể đầu tư vào nông nghiệp.

Vẫn theo thông tin báo chí, ông Cao Đức Phát còn đề cập tới một trong những quy định ngăn trở tích tụ ruộng đất đó là những tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quy định này cũng cản trở việc đầu tư vào nông nghiệp.

  Tôi cho rằng lời nói đó có thể dẫn tới việc trọng đại hơn là những qui định trong Hiến pháp mà ràng buộc thì đã đến lúc cần phải sửa.

- Luật sư Trần Quốc Thuận
Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên vào tối 27/12/2016, Giáo sư Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam nhận định là, chính sách chia nhỏ đất đai từng giúp người nông dân nghèo có đất canh tác, ngày nay không còn thích hợp trong xu thế phát triển và hội nhập của Việt Nam. Bên cạnh đó biến đổi khí hậu khắc nghiệt cũng làm cho đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp không đáng kể. Từ Saigon Giáo sư Bùi Chí Bửu nhận định:

“Đặc biệt đầu tư đất đai thì hiện nay nông dân sở hữu cái sổ đỏ, muốn đi mua đất trong khi luật lệ chưa cho phép thì người ta không dám phiêu lưu chuyện đó. Thành ra có lẽ phải chờ một sự tháo gỡ cơ chế, sửa lại một số luật lệ trong Luật Đất Đai và cho phép mở rộng hạn điền thì có lẽ hiện thực hơn…sau đó doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư được còn hiện nay vẫn chỉ là dạng liên kết giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp; trong liên kết với quy mô chật hẹp như vậy thì không có ông doanh nghiệp nào dám ký hợp đồng với 1.000 ông nông dân một lúc, người ta hay dùng từ gọi là phá kèo, cam kết giữa hai bên dễ dàng bị gãy đổ.”

Theo Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, có lý do để tin tưởng sẽ có cải cách sâu rộng để giúp đất nước vượt qua khó khăn ách tắc, từ đó nâng cao mức sống của người dân. Cựu quan chức Quốc hội ghi nhận ý kiến chung là, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có những phát biểu trúng vào những điều mà người dân mong đợi và cần có thời gian để Thủ tướng thực hiện.

Nam Nguyên


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng?

 NĂM BẢY CHỤC NĂM TRƯỚC: CHẲNG AI ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH 
Trong một lần gặp gỡ đầu 2016, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu có kể với tôi là ở nhiều xí nghiệp do người nước ngoài làm chủ hiện nay, có nhiều thợ mới. 
Họ là những người nông dân bỏ làng ra tỉnh để làm ăn. Nhưng cách sống cách suy nghĩ của họ thì hoàn toàn là của những người nông dân đi làm thuê lang bạt.
Họ không được đào tạo đầy đủ.
Họ không có đồng lương hợp lý. Họ xa gia đình và sống trong một hoàn cảnh tạm bợ.
Họ luôn nghĩ rằng mình chỉ làm cho qua một thời gian, kiếm ít vốn để sinh sống và sau này sẵn sàng quay trở về làng quê nơi đã xuất phát.
Nguyễn Thị Hậu và các đồng nghiệp của chị -- dân xã hội học - cho rằng đó không phải là những người công nhân theo đúng nghĩa của nó.
Phần tôi trong những năm 1960 tôi thường hay gặp gỡ với nhà văn Võ Huy Tâm, tác giả cuốn tiểu thuyết Vùng mỏ mà tất cả các học sinh Việt Nam đều phải biết dù không mấy người yêu thích.
Anh Tâm đúng là một công nhân thật.
Anh kể với tôi, chỉ có công nhân thời nay thì mới ăn cắp, còn người công nhân thời Pháp thuộc không bao giờ ăn cắp vì nếu ăn cắp họ lập tức bị sa thải liền.
Vậy có thể nói là cái mà chúng ta hay xác định về nhau rằng là người thành phần nọ thành phần kia, hóa ra toàn chuyện áng chừng. Con người bây giờ như một câu thơ của Hồ Xuân Hương tả các nhà sư, "chẳng phải tàu chẳng phải ta" tạp nham hỗn hào thật khó xác định.
Khoảng năm chục năm trước, tôi có lần ngồi với nhà thơ Hoàng Hưng. Vốn cùng là dân học sinh Hà Nội, chúng tôi thử rút kinh nghiệm về quãng đời mài đũng quần trên ghế nhà trường và thử tính xem xã hội muốn mình thế nào, từ đó gọi xã hội hôm nay là gì.
Chắc là nghiền ngẫm đã lâu, anh Hưng bảo tôi, hãy tạm gọi nó là xã hội thích không được.
Mình đã hỏi nhiều người -- anh Hưng nói tiếp - tất cả những thằng học khá chúng mình đều có cảm tưởng là cả lớp không thích , nếu không muốn nói là ghen ghét đố kỵ. Vì đây là một xã hội cá mè một lứa, mình mà nổi lên là gây phiền cho nhiều người. Nhưng các anh học kém cũng không được yên. Phát hiện ra cậu nào thuộc dạng học sinh cá biệt thày chủ nhiệm cũng chỉ thị cho bọn học giỏi phải kèm anh ta bằng được, không để một ai dưới trung bình. Anh không có quyền kém cũng như những anh khác không có quyền giỏi. Thế chẳng phải thích không được là gì.


VÀ THỜI NAY
NHỮNG CUỘC “LẬP NGHIỆP” NGOẠN MỤC
Mới học cấp II (phổ thông cơ sở), bọn học sinh Chu Văn An những năm 1960 trở về trước chúng tôi đã được huy động đi dạy Bình dân học vụ. Nhà ở Thụy Khuê nên tôi được giao dạy ở khu vực làng Hồ (Yên Thái), chuyên làm giấy. Tuần hai buổi, thứ hai thứ năm, tôi theo xe điện lên Bưởi rồi cuốc bộ vào mãi cuối xóm, dưới ánh đèn dầu dạy cho một bác thợ seo. 
Trí thức hóa công nông – đã từng có một khẩu hiệu như thế. Nói nôm na là thời ấy,  người ta không được dốt. 
Ngày nay tôi vẫn bị cách nghĩ đó ám ảnh, và thấy nó có vẻ đúng nhưng lại thấy rõ là nó đã lạc hậu. Nhìn những anh em làm lao động chân tay, chẳng hạn mấy bạn trẻ công tác bảo vệ ở chung cư mình đang sống – các anh em này khi rỗi rãi chỉ chơi game --, tôi đã mấy lần định bảo họ sao không theo học một chương trình nào đó, nhưng lại thôi ngay. Đấy cũng là lúc tôi buồn rầu nhận ra cái điều đơn giản rằng nay đã sang một thời khác. “Thời nay tử tế mới khó chứ lười biếng dốt nát tha hồ không ai chê trách, tương tự như cờ bạc rượu chè nhậu nhẹt đang được khuyến khích!” - ai đó đã nói với tôi như thế và tôi không cãi lại được.
Điều này đúng với cả các em đang cắp sách đến trường. Quyền được dốt của học trò ngày nay được thực thi nghiêm túc hơn nhiều so với các thế hệ trước. Em có kém cỏi đến mấy, các thầy các cô cũng chẳng quan ngại. Thang điểm ngày càng hạ, vả chăng đã có các lớp học thêm, và đường dây chạy bằng cấp ...- cả một cơ chế hình thành bảo đảm cho những bạn trẻ -- trong đó đặc biệt nổi lên một số lười học nhưng lại khôn ngoan giỏi giang trong việc xoay sở kiếm chác -- yên chí vào đời lập nghiệp. Họ được khuyến khích và dần dần đóng vai trò rường cột xã hội. Nhớ lại thời đi học chắc có lúc họ nghĩ giá kể mình gắng sức học giỏi theo nghĩa trường ốc thì chắc chẳng được như thế này.
Thế còn những học sinh học giỏi thời nay thì sao? Câu chuyện năm chục năm trước tôi với anh Hoàng Hưng bàn nhau nay đã trở thành lạc hậu. Xã hội đang khuyến khích những người trí thức giỏi giang theo cái nghĩa riêng mà chỉ thời nay mới có: 
1/ trở thành gà chọi để mang khoe, biến thành cây cảnh để chứng tỏ tiềm năng trí tuệ của địa phương cũng như cả cộng đồng. 
2/ được trao vài vai quan trọng trong bộ máy quan liêu, việc này khiến nhiều nhà chuyên môn giỏi ngày nay chỉ còn cái mã và nếu trong quá trình quan liêu hóa này họ có tha hóa biến chất thì cũng không ai tước bỏ cái vai chuyên môn hôm qua của họ. Họ đã trở thành một thứ bản thể mới, xa lạ với những lý tưởng trong sáng mà họ noi theo khi mới bước vào đời. Nhưng nhìn lại từ lúc còn hàn vi thì phải nói cái quyền được giỏi của họ vẫn được bảo đảm đấy chứ?
Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng? Suy trước tính sau, tôi vẫn chỉ thấy có một câu trả lời là gần như thế. Không phải ai thời nay cũng đi theo con đường tha hóa, nhưng theo thiển ý của tôi sức đề kháng ở mỗi người ngày càng yếu ớt. Thỉnh thoảng trên các trang mạng tôi cũng đọc được vài tin về các trí thức trẻ Trung quốc . Nhiều người trong họ du học Anh Mỹ trở về lúc đầu trong lòng cũng còn đầy lý tưởng, nhưng rồi, trên đường tiến thân và lo hạnh phúc gia đình, họ cũng nhanh chóng gia nhập vào bộ máy chuyên chế và tham nhũng. Trở thành chính mình lúc này đồng nghĩa với đầu hàng.


blog V.Tr.Nh

Phần nhận xét hiển thị trên trang