Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

THĂM THẢM ĐƯỜNG VỀ ( 15 ) TT.

 Kết quả hình ảnh cho hình ảnh miền nam vĩ tuyến 17 trước 1975
15.
 
 

K
hi bị vấp ngã không phải người ta lúc nào và ở đâu cũng có thể đứng thẳng lên ngay được. Phải thêm mấy bước loạng choạng mới lấy được tự chủ của đôi chân, đôi mắt mới rõ dần phương hướng.
Đấy là không kể đến có kẻ ác ý, thích vùi dập người khác vì một lý do nào đó, xô đẩy cho ngã thêm. Tệ hơn nữa làm người ta sụp đổ hoàn toàn ý chí, nghị lực, mất hẳn phương hướng rồi chìm ngập xuống bùn.
Khải hoang mang, mất hết lòng tin tưởng sau một tai vạ bất ngờ tiếp sau một vụ việc xảy ra trên bãi vàng. Đến nỗi anh chẳng còn thiết tha gì nữa. Mặc dù hoàn cảnh éo le của gia đình, Khải vẫn quyết ra đi. Đi đâu cũng được. Miễn là xa hẳn xứ này, nơi anh đã cố công, đã nhẫn nhịn, chịu đựng, mong gặp được điều tốt đẹp. Chớ trêu thay, Khải đã không gặp, cũng không chút hy vọng rồi mai đây một ngày tốt đẹp đến với mình. Có lẽ ông thầy một bữa tình cờ lấy lá số tử vi cho Khải đã đúng. Thân mệnh anh đóng ở cung Thiên di, nếu ở mãi một chỗ ít gặp may mắn, chỉ nhiều rủi ro.
Có lẽ Khải sẽ nhớ rất lâu thái độ hai bố con ông Chỉ hôm gặp bố con ông ở cửa hàng ăn số một. Anh và lão Quảng đến sau bố con ông nửa tiếng đồng hồ. Cả bốn người được ra khỏi công an huyện. Ông và thằng chột con trai ông nhờ được chiếc xe tải đi trước, nên đến bến tàu sớm hơn. Khải và lão Quảng vô mao đi nhờ một chiếc xe công nông trở gạch nên đến muộn hơn. Cửa hàng ăn số một vẫn không có gì thay đổi nhiều, vẫn những dãy bàn lem nhem đóng bằng gỗ, những chiếc ghế gỗ cao lêu đêu không có lưng tựa, nhưng các món ăn có phần phong phú hơn. Cung cách phục vụ vẫn như hồi còn chiến tranh, nhưng lối kinh doanh tập thể có vẻ mềm mỏng, linh hoạt hơn. Không còn những câu bắt bẻ, hạnh hoẹ khách hàng. Các cô nhân viên bắt đầu nhận ra một điều đáng lẽ là chân lý: “Khách hàng là thượng đế”.
Bên ngoài đã có những hàng ăn tư nhân mở. Chính sách quản lý thị trường đã phần nào nới lỏng. Hàng ăn ngoài quốc doanh thường bán nhiều món ngon với giá rẻ hơn. Nhưng vì mới nới rộng cơ chế, nên chưa kịp mở mang cửa hàng rộng rãi. Vì thế các cửa hàng quốc doanh còn cơ hội tồn tại thêm một thời gian nữa, nhờ vào cơ sở sẵn có đàng hoàng hơn.
 Không hẹn nhau mà cả bố con ông Chỉ và Khải với lão Quảng cũng tới đây. Cũng có lẽ vì nó thoáng đãng – vừa ăn vừa nhìn ngắm ra ngoài bến. Mùa này nhìn sang bờ bên nhà máy giấy thấy từng đống mía to như những quả gò. Thực ra tên gọi hành chính của nhà máy là nhà máy Đường – Giấy. Vì lúc đầu thiết kế xây dựng nhà máy sản xuất đường là chính - làm giấy là phụ, chủ yếu tận dụng bã mía thải ra. Về sau mía nguyên liệu không đủ, làm đường cũng chỉ là trợ thời, nhà máy điều chỉnh lại sản xuất, giấy lại là mặt hàng chủ yếu. ít năm sau bờ phía bên này lại cũng mọc lên một nhà máy nữa. Tuy quy mô lớn hơn nhiều nhưng cũng không thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn: Chủ quan – lúng túng- sai lầm. Lại lấy sai lầm này để sửa chữa cho sai lầm khác, đặc trưng của cơ chế quan liêu.
Kế hoạch ban đầu nghe rất to tát, khởi hành rầm rộ. Một phương án di dân hàng ngàn người lên xây dựng vùng nguyên liệu. ở bên kia sông, từ nhà Khải trông sang là khu định cư khai hoang ấy. Nhà máy thì chìm nổi, số phận cây mía cũng rất bấp bênh. Nghe nói người ta đang thử nghiệm để sản xuất thức ăn gia súc! Nghe đến buồn cười. Nên khi cán bộ sang bên này sông vận động trồng mía không mấy người hưởng ứng. Nhưng dù sao, cái nhà máy Đường – Giấy, Giấy- Đường ấy vẫn sống dai hơn công trình Bách hoá Tổng hợp, Cửa hàng ăn quốc doanh phía bờ bên này. Các dịch vụ ấy ngắc ngoải, sống thêm thời gian nữa, rồi chết hẳn thời kinh tế thị trường…
Vừa đến cửa hàng ăn số I, lão Quảng nói làm Khải trong lúc chán nản cũng phải bật cười:
- Người ta sắp phá bỏ cái nhà ăn này để xây khách sạn. Khách sạn to nhất tỉnh này, những năm tầng kia, có cả phòng mát xa chú mày ạ. Có khi chú mày còn chưa biết mát xa là thế nào đâu, nó là kiểu đấm bóp, tẩm quất ấy. Khi nào khách sạn xây xong, tao ra xin một chân. Đảm bảo tay nghề tẩm quất của anh mày đứng đầu tỉnh hi . hí…
Chẳng biết lão có đứng đầu tỉnh về cái nghề ấy thật không? Khải công nhận môn đó lão biết làm. Không biết lão học ai, tự bao giờ hay là năng khiếu bẩm sinh? Mỗi khi bí tiền mua rượu là lão lân la sang nhà lão Chỉ Đen hay nhà Sinh Béo. Bài tẩm quất của lão hay đến nỗi hai lão vắt cổ chày ra nước ấy không xót đồng tiền, cho lão tiền mua rượu uống cả ngày. Giận ai thì giận, không bao giờ hai người này giận Quảng vô mao. Hễ thấy cái mặt nhăn nhúm không sợi râu nào của lão y như rằng họ nhếc mép cười.
Nhưng hôm nay không hiểu sao lão Chỉ không cười khi gặp Quảng. Cả với Khải lão cũng giữ bộ mặt đâm lê, hằm hằm như người tát ao.
Vụ cháy cửa hàng Bách hoá của Sinh béo vẫn trong quá trình điều tra, chưa tìm ra manh mối. Tất cả vẫn nằm trong vòng nghi vấn. Nếu theo chiến thuật “Be bờ, bắt cá”, khoanh vùng đối tượng như từ trước tới nay thì người ta đã đúng. Những kẻ trong diện nghi vấn nếu không chịu khai báo, cứ tống đi tập chung cải tạo. Ba năm này không chịu giác ngộ, thú nhận tội lỗi thì ba năm nữa bằng cho tiến bộ nhận rõ lỗi lầm, tích cực cải tạo thì thôi. Nhưng sự ra đời của “Bộ luật hình sự” đã không cho phép làm như thế nữa. Bắt người phải có căn cứ, tang chứng rõ ràng. Không ai phải đi tù mà chưa được toà án xét xử. Dù rằng người ta vẫn trọng chứng hơn trọng cung, nhưng tình trạng oan sai giảm đi rất nhiều.
Ai cũng nghĩ trong vụ hoả hoạn đó có bàn tay lão Chỉ. Đồng loã với lão còn có cả Quảng vô mao nữa kia. Tay Quảng là kẻ táo gan , việc gì cũng dám làm. Năm kia vợ lão bẻ trộm ngô của nhà Thìn điếc. Vợ Thìn điếc vốn ngoa ngoắt, dẩu mồm lên chửi. Đêm hôm sau Quảng mài dao thật sắc, cứ ngang cây ngô lão phát sạch, cả một đêm không còn sót cây nào. Gọi lão lên xã, lão vặn lại: “ Có bắt được tay tôi không? Đừng có gắp lửa bỏ tay người ”, không ai làm gì được lão. Mà ngô mới vừa vào hạt, luộc thì được, thu thì còn non quá, hạt còn đang sữa phơi làm sao được?
Lão Sinh xâu chuỗi mọi hiện tượng, đinh ninh rằng mình đã xác định đúng đối tượng. Lão Sinh không lạ thái độ hai mặt của ông Chỉ đen. Trước mặt cười cười, nói nói. Trong dạ muốn hót đất đổ đi. Cũng chỉ cạnh tranh nguồn lợi từ lâm sản trong vùng. Kể ra lập luận của lão Sinh rất có lý. Nhưng đây là trên lý thuyết. Còn công việc điều tra phải căn cứ vào nhân chứng vật chứng cụ thể. Nhân chứng không ai nhìn thấy thủ phạm. Vật chứng thì duy nhất có chiếc bật lửa rơi gần hiện trường. Ngay khi nhặt được không có chó nghiệp vụ để giám định ngay. Không có điều kiện để xác định vân tay từ lúc đầu, lại qua tay nhiều người.
Vụ án đi vào bế tắc một phần vì sự ngoan cố của Quảng vô mao, không day vào trán, có đánh chết lão cũng không chịu nhận. Khích lệ, động viên, đe nẹt, khơi gợi với lão đều không kết quả.
Thằng Thành ngoài việc nhận cái bật lửa của mình, hắn không khai thêm việc gì khác. Hắn lại có căn cứ ngoại phạm là đêm hôm đó hắn đi chơi với thằng Mai ở xóm trên. Bị hỏng xe hai đứa đẩy đến khuya mới về. Đến nơi đám cháy đã gần tàn, có thằng Mai làm chứng, hắn vô can trong vụ này. Hắn bị giữ lại chỉ riêng về việc xảy ra ở bãi vàng thôi.
Vậy cớ sao lão Chỉ lại xưng xỉa với hai người?
Lão Chỉ ngồi chờ đứa con nhận xuất ăn từ quầy giao hàng. Khi thằng con chột mắt của lão vừa bê xoong cơm canh và một đĩa thịt kho đến, lão đùng đùng đứng lên. Thằng Tồ chưa hiểu ý bố ra sao thì lão lừ mắt ra hiệu cho nó. Nó đứng nguyên chỗ, chưa ngồi xuống chờ xem bố nó bảo gì. Lão ra chỗ quầy mua vé đang còn người xếp hàng rất dài. Một người mặc quân phục cũ đi theo lão, anh ta đang cần mua hai xuất ăn, có sẵn khỏi phải xếp hàng. Lão Chỉ nhận tiền từ người này rồi kéo con đi ra cửa. Nó không hiểu vì sao miếng ăn đến miệng rồi còn bỏ đi, mất cả công mua vé chờ đợi xếp hàng. Nhưng nhìn thấy hai người cùng làng thì nó hiểu. Bố nó là con người cực đoan đã ghét ai không muốn nhìn mặt. Nó đành ra theo, không quên ném ánh mắt còn lại hằn học sang hai người kia.
Lão Quảng không hiểu ý tứ của hai bố con lão Chỉ cũng bực tức không kém, lão lầu bầu:
- Ông mà đểu, bố con mày tù rũ xương! Chắc nó nghĩ mình đến ăn ké nên mới xưng mặt lên như thế. Ăn có mời, làm có khiến, ai đã thèm.
Lão Quảng nói mạnh mồm như thế, thực ra trong túi lão nhẵn thín, làm gì có đồng nào? Đồng tiền trong túi lão luôn là hòn than bỏng, chẳng bao giờ ở được lâu. Lúc nào cũng như là đào củ gãy luôn phải tiêu đến đồng cuối cùng. Buổi tối người ta đến đưa lão xuống huyện trong nhà không có đồng nào. Nếu hôm nay không về cùng Khải có lẽ lão đã nhịn đói mà về. Nói mạnh như thế, thử xem lão Chỉ mời rơi một tiếng, lão sẽ ngồi vào ngay.
Quảng không biết lão Chỉ có thái độ ấy là có lý do của lão. Điều này Khải cũng không hiểu, anh chỉ ngờ ngợ, sau này mới được biết.
Mấy lần người ta lấy khẩu cung lão Chỉ, người ta đều nhấn mạnh một câu:
- Sự việc chúng tôi đã nắm được rất kỹ. Nếu ông không thành thực khai báo thì đừng trách. Nói để ông biết, đồng vụ người ta đã khai hết cả rồi. Người ta ở gần, ông làm gì người ta nắm được cả. Chắc chắn người ta không nói sai, nói bớt cho ông.
Lão Chỉ tin đó là thực, lão không biết đấy là kiểu đòn phép tâm lý của cán bộ hỏi cung. Nếu không có kẻ tố giác thì làm sao lão lại bị bắt trong khi lão không trực tiếp mó tay vào? Mà người ta cũng nói rõ khi lão hỏi mình bị bắt vì tội gì? Đã có người làm đơn tố cáo và có kẻ khai ra lão. Về nguyên tắc cán bộ điều tra không thể nói người đó là ai. Quy định của luật là thế. Nhưng không cần suy đoán gì nhiều, lão cũng biết kẻ đó là ai theo ý chủ quan của lão. Việc này chỉ rất ít người biết: Quảng vô mao không dại gì khai ra rồi… Nếu hắn làm việc đó có khác nào tự tròng cái gông vào cổ? Hơn nữa con người không ra gì này quá dày dạn với những việc tăm tối và biết cách đối phó. Lão không ngu xuẩn đến nỗi: “Thà chết không khai hai đồng chí nằm trong đống rơm”. Lúc nào lão cũng vỗ ngực “Quân tử”. Một kiểu “Quân tử Tàu” đầu ngô mình sở, khái niệm mù mờ không có chủ thuyết rõ ràng.
Còn thằng Thành cò nó cũng mang máng biết việc này nhưng nó cũng không nói. Dù sao nó cũng dòng dõi họ Bùi, gọi lão bằng bác họ. Nó bơ vơ tay trắng lên đây, chính lão đã cưu mang nó. “ Đến con lợn ăn song cũng không ỉa vào máng của mình ”, có lần lão nghe người ta nói câu này ở đâu đó.
Vậy thì còn ai vào đây nữa, nếu không phải là cái thằng Khải mới về? Từ đời bà mẹ nó, lão còn mối hận không quên trong đợt giáo dục ngụy quân, ngụy quyền sau hoà bình 1954. Lão bị ép vào lính nhảy dù, vừa huấn luyện xong đợt ném xuống lòng chảo Điện Biên Phủ. Chưa kịp bắn phát súng nào, chưa kịp tháo xong dù đã bị bắt làm tù binh. Lão đã khai rõ như thế mà bà ta vẫn lập danh sách đưa lão đi học tập. Trong lúc vợ lão vừa mới đẻ được hai ngày. Đến đợt vận động vào Hợp Tác Xã, gia đình lão luôn là đối tượng bị nhắc nhở vì lão chưa muốn vào ngay. Chỉ còn thiếu nước chưa bị đấu như đấu địa chủ. Ngày ấy lão căm lắm, nhưng cố nén trong lòng.
Cũng là người dân làng này bỗng dưng phân tầng, phân cấp xào xáo lẫn nhau. Sinh oán, sinh thù. Sống ở thời nào phải theo thời ấy. Có ai muốn chớ trêu?
Nhưng lúc bà ta thất thế lên đây, lão đã không để bụng. Lão không giúp gì nhưng cũng không gây trở ngại. Xứ mù thằng chột làm vua. ở quê cũ lão là thành phần “có vấn đề” nhưng ở đây lão đang làm đội trưởng một đội của Hợp tác xã. Chỉ cần lão từ chối không ai dám nhận gia đình bà. Không nhập được khẩu tức là không nơi ăn, chốn ở, không ruộng đất để sống. Một thời gian dài đi đâu lão cũng rêu rao cử chỉ cao thượng của mình. Cả đến khi nghe Khải về đất này lão cũng nhắc lại chuyện đấy.
Nghe chuyện, lão Quảng xì mũi:
- Láo toét hết. Chẳng qua thằng em mày biếu lão đôi dày Côsơgin với năm cân cá mắm. Bao giờ bánh đúc có xương hãy nói đến đức nghĩa nhân của lão.
Khải nghe xong cũng không để tâm. Chuyện đời để ý kỹ quá, chẻ sợi tóc làm tư, ai còn sống nổi? Cần đơn giản những rắc rối, lôi thôi, mù mờ trong quá khứ để sống.
Vậy mà trên đường từ huyện công an ra, lão Chỉ bảo con:
- Chỉ có thằng ấy chứ còn ai nữa. Nó như con chim phải tên, hễ thấy cây cong là sợ. Nó vẩy mình ra để khỏi khốn đến thân đấy.
Lão đâu biết Khải không có một lời nào về lão. Anh không phải vì sợ sệt điều gì, mà chỉ nghĩ xóm giềng là phên dậu, ngu dại gì rải chông gai quanh mình?
Thái độ vừa rồi của hai bố con lão Chỉ làm Khải khó hiểu và hơi bực mình. Nhưng rồi anh không quan tâm đến chuyện ấy. Dù sao hôm nay cũng là một ngày may mắn. Mặc dù trước khi tha người  cán bộ vẫn nói:
- Tạm thời các anh cứ về. Quá trình điều tra sau này có gì chúng tôi sẽ gọi.
Họ nói vậy, chứ nói sao nữa. Không lẽ nói bắt nhầm bây giờ thả?
Nhưng rồi cái kim trong bọc thế nào cũng có lúc lòi ra. Một vụ như thế không khi nào họ bỏ qua. Trước sau người ta cũng tìm ra thủ phạm. Khải cũng mong là như thế, tội mất không bằng tội ngờ. Cháy thành vạ lây không phải là chuyện hiếm và đã từng xảy ra.
Quảng vô mao bảo:
Phải có cái gì ăn mừng chú mày ạ! Nhân đây anh em mình kết nghĩa anh em. Tao thấy mày cũng là thằng tù được trở lên đấy! Thôi bây giờ vào làm đĩa thịt trâu xào, không cơm cũng được, nhưng nhớ cho anh chai rượu. Coi như chú tạm ứng về nhà anh sẽ trả. Dù miệng nói như vậy, nhưng dù sao lúc này lão cũng là bạn đường, một kiểu bạn đường bất đắc dĩ. Khải mua hai xuất cơm, thêm đĩa thịt trâu và chai rượu theo yêu cầu của Quảng vô mao.
Trước khi rót rượu ra lão hí hởn:
- Dân vùng này không biết ăn thịt trâu nên nó mới rẻ. ở dưới xuôi nó đã là đặc sản từ lâu rồi. ở đây bây giờ rượu mới được bán. Mấy tháng trước còn cấm bán rượu nữa kia. Nghe đâu biện pháp này từ ông Goóc Ba Chốp ở bên Nga kia. Thế quái nào nó lại lây sang tận Việt Nam? May mà không kéo dài lâu, nếu không bọn sâu rượu như bọn anh đến ốm mà chết mất.
Thì ra lão Quảng không phải là kẻ ngu dốt, vô tích sự như dân làng vẫn nói. Lão biết nhiều chuyện tinh quái nữa kia. Nhưng làm sao một con người khôn ngoan mà lại chọn cách sống chẳng ra gì, trống rỗng, bừa phứa nhiều tai tiếng? Ma dẫn lối, quỷ đưa đường hay tự lão bất mãn với bản thân, chán đời sống kiểu vô chính phủ?
Lão rủ Khải ở lại Thị xã đêm nay. Lão sẽ đưa anh đến những chỗ anh chưa từng biết, cho Khải “nếm” mùi đời. Nhưng sau khi cơm rượu song Khải rủ lão về, nhắc đến vợ con lão đang ở nhà, lão cũng không phản đối. Về ngay bây giờ là phải đi bộ mấy chục cây số. Nếu không phải đợi đến mai mới có tàu ngược. Lão sắn quần chân thấp, chân cao, giọng lão đã run:
- Nhắc đến chúng nó, tao vừa thương lại vừa căm lắm chú mày ạ. Lũ của nợ ấy làm tao thân tàn ma dại thế này đây! Rồi lão rơm rớm nước mắt. Khải thật không hiểu vì sao lão lại nói về vợ con mình như vậy? Nhưng anh không hỏi. Đường còn xa, Khải chỉ mong sao chóng về đến nhà.

ó
ó   ó

Cái khe núi mọc đầy lá Han có cái mả hủi bao nhiêu năm nay không người qua lại. Cái mả là của một bà lão thân binh Quốc Dân Đảng từ Trung Quốc sang, lưu lạc ở đất này sau năm 1949. Bố lão Sinh Béo bấy giờ hãy còn nghèo. Ông cụ chỉ có hai gian nhà tre lợp lá cọ cho bà người Tàu này tá túc một thời gian. Về sau bà phát bệnh, ông làm cái lán nứa ở trong khe núi này đưa bà vào ở, khi bà chết dân làng đốt cái lán rồi chôn bà ở đó. Người ta đồn bà lão ăn mặc rách rưới ấy còn có cái tay nải, trong tay nải toàn là bạc trắng, vòng vàng. Không phải bỗng dưng mà ông cụ bố lão Sinh chăm nom như ruột thịt. Khi bà lão người Tàu chết, bà để lại cho ông cái tay nải ấy. Tiền của nhà lão Sinh có từ số vốn ấy mà ra… Sau này lão Sinh Béo nói chuyện đồn đại ấy là láo toét cả. Chẳng qua bố mẹ lão ăn ở phúc đức, cứu khốn phò nguy nên đến đời lão được hưởng phúc. Cũng như câu chuyện sau này lão phụ trách cửa hàng, lập điểm thu mua lâm sản bớt xén, gian giảo mà có đều là những chuyện mờ mờ tỏ tỏ, phần nhiều là những câu chuyện ấy qua miệng lưỡi thế gian thêu dệt lên chẳng qua do ác ý, trâu buộc gét trâu ăn mà thành.
Khải không quan tâm lắm đến những chuyện ấy, đó là huyền thoại hay đồn thổi, tính chính xác lịch sử không được bao nhiêu phần trăm. Cái anh lưu ý đấy là đám đất tốt. Sau gần một tuần phát dọn, một đám đất đen lộ ra. Cũng không thấy cái mả hủi đâu cả. Có thể lâu ngày mưa gió phong sương đã làm nó không còn dấu vết. Cũng có thể xương cốt bà lão đã cháy ra than bụi trong cái lán nứa hồi ấy. Nói là dân làng hồi ấy mai táng cho bà, liệu có đúng không? Thời ấy bệnh hủi là căn bệnh khủng khiếp liệu có ai dám mó tay vào?
Mẹ anh từ hồi xin thôi sinh hoạt Đảng, bỗng dưng sinh sính lễ bái. Bà bảo Khải: “ Có thờ có thiêng, có kiêng có lành ”. Hôm Khải đốt dọn bà sắm nải quả, vàng hương mang vào sì sụp khấn vái. Khải không nói gì. Anh chỉ hơi lạ sự thay đổi của mẹ. Trước ngày bà không tin lắm vào chuyện cúng bái dị đoan. Không những không tin, bà còn cho người dẹp Cô đồng, Bà cốt, thày bà cúng bái ở dưới quê nhà.
Hay là người già, đến một ngưỡng nào đó thay đổi tính nết? Khải đã trồng một vụ đậu xanh. Cây đậu cao quá gối, lá như bàn tay, lúc ra hoa quả đậu lúc lỉu. Đất để lâu ngày đậu rất tốt mà lại sạch cỏ.
Chỉ khổ khi phát, lá han châm vào chân anh mẩn ngứa, có chỗ như bị ong châm. Khải phát sốt, phát rét đến cả tuần. Anh đã nghĩ đến chuyện trồng một vườn cây lâu năm. Chỗ này gần nhà trông coi được. Làm màu chỉ nhất thời, vì nếu làm lâu nó sẽ bạc màu vì đất dốc. Cứ cuốc lâu mãi sẽ trôi hết lớp màu mỡ bên trên để trơ ra đất củ lúc bấy giờ không cây gì lên được. Trước mắt hãy trồng vườn chuối, khi nào chọn được cây giống, thay dần.
Bao nhiêu công anh đi xin chuối con về trồng. Không nhà nào có nhiều. Khải phải xuống tận xã dưới thồ xe đạp về.
Hôm ở dưới Huyện về, chuối đã lên xanh, cây bắt đầu bén rễ. Không ngờ ngay tối hôm ấy lão Chỉ sang chơi. Nét mặt lão khác hẳn mọi khi. Khải rót nước mời nhưng lão không uống. Lão bảo anh mời bà mẹ lên để lão nói chuyện - Chuyện gì nghiêm trọng thế nhỉ? Mọi khi bàn bạc việc gì lão đều nói với anh cả - Sao hôm nay cứ phải có mặt mẹ anh?
Lão hựm hưm mấy cái rồi mới vào đề:
- Thế này bà ạ, cái đám đất hôm anh Khải làm tôi đã định không giữ. Nhưng vợ con tôi không nghe. Bà nhà tôi muốn lấy lại làm. Anh Khải chót trồng chuối rồi thì bấng về tìm chỗ khác trồng, sắp tới tôi trồng tre.
Mẹ Khải ngớ người ra một lúc mới nói được, giọng bà vẫn từ tốn nhường nhịn:
- Đám ấy xưa bỏ hoang có ai làm đâu? Toàn dây móc hùm với đùm đùm, lá han. Cháu nó phải mất bao nhiêu công mới dọn được, cháu đã trồng xin ông để yên cho nó…
Bà chưa dứt lời lão đã vằn mắt cắt ngang:
- Bà nói hay chửa, làm gì có đất hoang! Đám ấy trong bản đồ thuộc đất hợp tác xã chia cho tôi. Bà không tin lên ủy ban mà hỏi.
Khải đã thấy nóng mặt, anh cố bình tĩnh:
- Chính hôm cháu hỏi ông, ông còn bảo là không của ai cả, làm được thì làm. Bây giờ ông lại nói thế?
Lão cười gằn:
- Trước khác, bây giờ khác. Tốt với nhau thế nào cũng được. Nếu cần cởi áo cho mặc không tiếc. Đểu cáng thì bát nước chỉ còn cặn cũng hắt đổ đi cũng không cho!
Mẹ Khải cũng ngạc nhiên:
- Vậy cháu có gì không phải với ông bà bên ấy? Gần gựa đây có gì ông cứ nói thẳng vào mặt cháu. Nó sai ông chửi nó cũng chịu.
- Nó làm gì, nói gì bà hỏi con bà thì biết, tôi cũng không có thời gian nói nhiều. Nói qua thế thôi kẻo bà lại bảo tôi ở ác.
            Lão đứng lên ngay, nước cũng không đụng đến.
            Mẹ anh hỏi:
            - Anh làm gì để ông ấy giận đấy? Ông này có tính thù vặt, giận giai lắm, không hay đâu!
            Khải cũng không biết nói với mẹ thế nào. Nghe lão Chỉ nói bâng quơ ngoài ngõ: “ Quân đểu, trước mặt chú khách, sau lưng thằnh ngô. Để xem phen này mèo nào cắn mỉu nào? ”.
            Cứ tưởng khi giận, lão nói thế. Ai ngờ sớm hôm sau anh vào thăm đám chuối, bố con lão đã nhổ hết lên xếp vào một đống. Khải giận run người. ở bước đường cùng anh đã muốn được yên phận, bới đất lật cỏ để sống mà không được yên. Suýt nữa thì anh đã rút cái cọc rào phang cho bố con lão một trận, muốn ra sao thì ra! Nhưng rồi anh trẫm tĩnh lại được. Đã bao lần giận mất khôn không biết đến chữ “Nhẫn” làm đầu, anh đã chuốc vạ vào thân để rồi đến nông nỗi này?
            Bắt đầu từ việc túm gáy tên phó phòng ở cơ quan anh khi gã quá xúc phạm. Khải đã đổ cả một phích nước sôi lên đầu khiến gã phải nhập viện, khi trong cuộc họp gã mạt sát anh là “thành phần cặn bã, tác phong tiểu tư sản, sâu bọ trà chộn vào hàng ngũ cán bộ”. Mà tội của anh chỉ là có quan hệ với Nhóm “Toán xồm” một dạo xôn xao Hà Nội vì ca hát nhạc vàng. Khi biết hối hận thì thôi, việc đã muộn rồi.
            Khải giận tím mặt, không nói câu gì lững thững bỏ về.
            Mẹ anh bảo:
            Thôi bỏ con ạ, cố tranh với lão cũng không được đâu. Ma cũ bắt nạt ma mới. Không ai bênh mình đâu con ạ. Một điều nhịn, chín điều lành.
            Mẹ anh xưa nay vẫn thế, luôn nhận thua thiệt về mình. Nhưng trong việc này anh cũng không có giải pháp nào hơn.
            Nhưng cây muốn lặng, gió chẳng đừng.
            Hai ngày sau, lão chặt tre gai kéo đầy ra đường. Lối xuống sông cũng là lối lên xuống bến tàu xưa nay là lối đi chung của cả làng. Nó không nằm trong phần đất của ai cả. Giờ thì lão nhận là bến của nhà lão vì lão là người đầu tiên đánh cái dốc lên xuống. Mặc dù nhiều năm sau đó hợp tác xã bỏ nhiều công làm cái bến này.
            Cái quán mẹ Khải bán hàng nằm kề con đường xuống bến. Lão Chỉ chôn cọc buộc tre gai thật dày, bịt kín con đường vào quán. Cái quán của bà cụ bỗng nhiên bị bao vây, không ai ra vào được. Cái Hà hớt hải chạy về mếu máo gọi bố. Khải bảo con đừng sợ. Anh đi luôn cùng nó ra bến. Những dóng tre gai ngọn còn tươi ngang ngửa chặn đường, Khải vừa đi vừa gỡ. Anh vẫn từ tốn:
            - Ông nghỉ tay, mời ông vào quán uống nước, tôi muốn nói câu chuyện.
            Nghe cách anh đổi lối xưng hô, lão Chỉ lườm anh một cái rất nhanh. Lão làm như không nghe thấy gì. Ngoài cái tên Chỉ đen, lão còn cái tên là Chỉ điếc. Điều gì lão không muốn nghe,  hay cảm thấy không có lợi lão đều “bỏ” đi như điếc. Thực ra lão rất thính tai, không bỏ qua câu gì. Nhất là những cái nhạy cảm động chạm đến quyền lợi của mình.
            Khải biết lão vờ như không nghe thấy, anh nhắc lại lần nữa. Lần này lão bất ngờ vung tay đẩy anh ra, làm Khải loạng choạng suýt ngã. Đến lúc này Khải không chịu nữa, anh giật con dao lão đang cầm ở tay vứt vào đám cọc rào. Công nhận là lão Chỉ khoẻ, người lão như tạc bằng thứ gỗ Tứ thiết, Lão giật một cái tụt hẳn bàn tay của Khải, rồi nhanh như chớp lão vớ luôn cái thuổng đào hố nhằm thẳng Khải vụt túi bụi. Nếu như Khải không trải qua mấy năm đày ải trong tù, quá quen với những cuộc đâm chém giành giật, có lẽ anh đã bị lão đập vỡ đầu. Bị đánh hụt, lão Chỉ thoáng một chút do dự, rồi lão la lên:
            - ối làng nước ơi, có kẻ giết người … có ó kẻ ẻ …gi ê ết…
            Đám vợ con lão trong nhà hộc tốc chạy ra, tay dao, tay gậy… Thấy tình thế bất lợi Khải đã định quay về, nhưng không kịp. Một đám năm sáu người vây tròn lấy anh. Trong tay Khải chỉ có một khúc nứa ngắn vớ được trong lúc hỗn độn. Khúc nứa đã bị gãy, thuổng của bố con lão đập giập.
            Bỗng thằng Chột, con trai lão kêu ối lên một tiếng máu nó đỏ nhoà cả mặt. Chính cái lưỡi thuổng bố nó đánh Khải văng vào. Có tiếng súng nổ, mấy dân quân xã chạy đến. Thằng An xóm trưởng, con rể lão hô hoán bắt trói Khải đưa lên xã. Theo An thì gia đình lão chỉ là người bị hại. Lão Chỉ sai hai đứa con gái đưa anh trai nó lên trạm xá băng bó. Còn lão nhặt lại con dao chạy đến quán của mẹ Khải. Hai bà cháu sợ hãi bỏ chạy. Lão Chỉ chặt đổ quán, hàng họ lão lấy chân xéo nát. Cũng chỉ là vài cái bánh chưng, lọ kẹo, mấy bao thuốc. Nhưng nom nó còn rất thảm thương.
            May mà hôm đó khi giám định vết thương, ông bác sĩ kết luận vết rách trên mặt thằng Tồ là do lưỡi thuổng văng vào. Một vết rách hình chữ U của lưỡi thuổng ngay trên con mắt chột của nó. Không phải vết đâm của mảnh nửa theo lời khai của lão Chỉ và thằng con lão.
            Khải bị phạt mấy trăm đồng vì tội gây rối an ninh trật tự. Khi anh về đến nhà, mẹ vẫn nằm trên nhà khóc tấm tức. Con bé Hà ngơ ngác đi quanh giường bà. Có lẽ mẹ anh nghĩ rằng lần này nữa, người ta lại đưa anh đi. Thấy Khải về bà mừng rỡ ngồi dậy. Mấy mẹ con bà cháu nhìn nhau, không nói câu nào.
            Lát sau ông cụ Mậu chạy tới, tay sách cái túi bằng vải chàm. Ông cụ đặt cái túi lên bàn nói với Khải:
            - Đây là những thứ còn dùng được, thứ nào lão ấy phá nát thì tôi bỏ. Nhặt vào đây cho bà lão bán thêm được đồng nào trọng đồng ấy. Tôi vẫn biết con người ấy tâm địa xưa nay như thế nào. Nhưng đến nước này thì không ngờ tới. Đúng là vừa đánh trống vừa ăn cướp.
            Mẹ Khải rót cho cụ chén nước, nói lời cảm ơn. Ông cụ gạt đi:
            - Ơn huệ gì, nghĩa làng xóm xưa nay với nhau là phải thế. Tắt lửa tối đèn phải có lúc cần đến nhau. Việc này bà cứ để tôi, hôm nào họp Ban quản trị tôi sẽ đưa ra xem các ông ấy nói thế nào? Từ nay về sau bà với anh cứ phải cảnh giác, lão chưa chịu thôi đâu.
            Ông cụ ngồi chơi một lát rồi về. Một vài người trong làng đến hỏi thăm. Có người vác cả tre đến cho mẹ anh sửa lại quán. Khải rất cảm động, không biết nói gì với họ. Thì ra ở đời người tốt, người tử tế bao giờ và ở đâu cũng có. Nếu không có những con người như vậy, Khải sẽ thấy lẻ loi đơn độc vô cùng.
            Chỗ nền quán cũ của mẹ Khải, lão Chỉ cũng dựng lên cái quán cho đứa con gái bán hàng. Lão nhận chỗ đất ấy ngày xưa lão đã trồng rau lang, đương nhiên là của lão rồi.
            Khải đã định thôi không để cho mẹ ngồi bán nữa. Bà cũng đã già, cần được nghỉ ngơi. Nhưng theo ý ông cụ Mận như thế không được. “ở đâu chứ ở làng này mềm thì nắn, rắn thì buông. Được đằng chân, lân đằng đầu. ít nữa lão Chỉ lại nhận chỗ vườn anh đang ở nói rằng ngày trước là của lão thì anh tính sao? Không lẽ anh lại chạy chỗ khác?”. Anh thấy ông cụ nói có lý, anh bảo:
            - Con cứ nghĩ ông hiền thế thì thế nào cũng xong!
            Ông cụ vằn mắt, lần đầu Khải thấy cụ Mận như thế:
            - Lành với bụt, ai lành với ma, cái cậu này rõ thật là…
            Hôm sau ông cụ làm bộ cột mới, xếp lên xe trâu kéo ra, Cụ dựng cái quán đối diện với nhà lão Chỉ. Lão lảng vảng ra dò la ý tứ. Ông cụ nói:
            - Chỗ này chắc không phải đất của ông nhỉ?
Lão Chỉ đỏ mặt:
- Vâng, đất của cụ, tôi không có ý kiến gì. Nhưng không lẽ cụ ở mãi trong làng lại ra đây bán hàng?
- Tôi không bán, tôi thuê mẹ con anh Khải trông nom hộ, lời lãi chia đôi.
Lão Chỉ nín thinh không nói gì. Lão biết cụ nói thế có ý bênh che cho nhà kia thôi, cụ đâu có cần sống nhờ vào quán này. Nhưng đụng đến ông cụ Mận lão biết là không được. Cụ là bậc lão thành ở đây. Cán bộ tỉnh huyện hàng năm còn phải về đi tết cụ. Cụ đã được các vị như Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng mời về Hà Nội chơi. Các vị hỏi cụ có nguyện vọng gì, trên sẽ xem xét. Cụ chỉ bảo cụ chỉ có nguyện vọng làm người dân tốt. Nước nguy thì đóng góp cứu nước. Thời bình thì lo làm ăn. Học câu từ ngàn đời “Dân là vạn đại” không ham hố gì. Quà Trung ương cho cụ chỉ nhận bộ quần áo nâu và cái đèn pin làm kỷ niệm, không lấy thứ gì khác. Cụ là kiểu mẫu tiêu chỉ mới của làng. Chủ tịch, Bí thư còn phải hỏi ý kiến cụ nhiều việc.
Vợ chồng Hai Nối ở trong động cũng vác phên ra làm vách quán. Không ai chào hỏi lão một câu, khiến lão xấu hổ, bỏ về.
Nhưng một kẻ đã có gan từ trên trời nhảy xuống như lão Chỉ quyết không chịu. Nhưng lão chỉ thực sự nguy hiểm sau hôm Sinh béo đến nhà có cuộc trao đổi riêng với lão.
Sinh béo lúc này đã kiêm nhiệm thêm chức trưởng công an xã. Người phụ trách công việc này đã bị bãi nhiệm. Anh ta đã nhận hối lộ để hợp thức hoá cho kẻ chốn trại có đủ giấy tờ, hộ khẩu, lấy vợ cư trú trong xã cả mấy năm trời. Đến khi bị bắt, Khắc Điều đã khai ra tất cả. Nếu như trước ngày có bộ luật hình sự, người ta không rà soát lại, thì không ai biết được việc này. Ngay cả cán bộ công an huyện phụ trách địa bàn cũng không nắm được vì công an xã không báo cáo lên. Người ta chỉ tìm ra hắn khi đội công tác đặc biệt của tỉnh được phái về, do có được kinh nghiệm từ địa phương khác.
Sinh đã thay đổi một loạt thông tin viên ở các thôn trong xã, đồng thời thay đổi một số quan hệ vốn có từ trước tới nay. Ông vẫn nắm bãi thu mua lâm sản. Cửa hàng mới được dựng lại nhưng lượng hàng mua vào bán ra giảm đi rất nhiều. Số nhân viên từ năm người rút xuống chỉ còn hai. Tư thương bên ngoài theo chủ trương mới đã lác đác xuất hiện, cạnh tranh với cửa hàng mua bán xã. Hình như mọi sự đều có sự thay đổi, không bình thường như mấy chục năm qua. Sinh là con người nhạy bén. Theo ông thì thích nghi với với hoàn cảnh là cách tồn tại tốt nhất như cổ nhân có câu: “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Lúc nào cũng vuông thành sắc cạnh là rất dễ bị sứt mẻ.
Tuy vụ hoả hoạn đến giờ người ta vẫn chưa có kết luận. Vụ chém trâu nhà lão Chỉ cũng không chỉ đích danh thủ phạm, Sinh béo có một phương án khác. Trong việc giữ gìn trị an theo ông những người lo việc này phải có con mắt nhìn xa trông rộng, tiên liệu trước mọi vấn đề. Không phải để đến khi nước đến chân mới nhảy. Bây giờ phòng hoả vẫn hơn cứu hoả. Đôi khi xác định nhầm còn hơn bỏ lỡ đối tượng. Kinh nghiệm trong thời gian qua ở địa bàn khiến ông nghĩ như vậy. Rất nhiều vụ việc nổi cộm lên mà chưa được tháo gỡ. Nguyên nhân từ sự yếu kém của cán bộ cơ sở. Cờ đến tay ông, việc sẽ khác.
Sinh đã chủ động cải thiện quan hệ với lão Chỉ. Trong mắt ông, lão cũng chỉ là tên lính tẩy hết thời. Gặp lúc sơ hở ngoi lên một tý, mạnh tay là lão xẹp ngay. Đối tượng tiềm năng gây trở ngại lâu dài cho công việc giữ gìn trị an không phải là lão mà là kẻ khác, là kẻ dày dạn đối phó với chính quyền, mồm ăn, mồm nói và có gan ở đất này. Chính vì nó mà chuyện vợ con của con trai ông không thành. Không hiểu con bé mê cái gì  ở cái thằng đi tù về, nghèo rách tả tơi, không có lấy một đồng cắn chắt mà say nó như bị bỏ bùa? Phải như ông thì đã cắt phăng đi rồi. Thiếu gì  đâu đàn bà con gái, Chẳng lẽ chỉ có nó mới có cái của nợ đó hay sao? ông đã nói như băm như bổ mà nó không chịu. Nó còn đe nếu không lấy được con ấy nó sẽ bỏ nhà ra đi. Mà ông có mỗi mình nó là con trai. Cứ nghĩ là sắm cho nó cái xe máy là con kia chuyển ý. Không ngờ chẳng ăn thua gì. Chỉ chết tiền mua xăng và chữa xe vì đường xá vùng này không phải đã thích hợp cho xe máy. Vẫn là con đường sống trâu, có chỗ bùn thụt đến gối. Đúng là mọi việc dù khó đến đâu, chịu khó tìm tòi cũng có cách giải quyết. Sinh thấy hài lòng về kế sách của mình. Vừa là biện pháp trị an giữ trật tự chung, vừa hiệu quả với việc nhà. Chỉ cần Sinh xa gần gợi ý, lão Chỉ hiểu ngay. Lão nói:
- Tôi cứ nghĩ bên ông không thông cảm với bên này, để ý thành kiến với tôi. Nếu không tôi đã trao đổi với ông, trị thằng này đến nơi đến chốn. Mầm hoạ là phải dọn sạch từ ban đầu. Để lâu nó sâu rễ bền gốc rất khó trị.
Sinh béo cười nhạt, ông nghĩ trong đầu: “Không có kẻ thù lâu dài, cũng không có bạn bè lâu dài. Mọi sự phải tuỳ cơ ứng biến. Không có gì hay bằng lấy độc trị độc. Đến như chữa bệnh người ta cũng còn phải dùng cách này. Mình sao lại không?” Sinh thì thầm:
- Ông bị bắt lên huyện ai khai ra ông thì ông biết đấy, nếu tôi không công tác, tôi cũng không giấu làm gì. Nó thuộc về nguyên tắc. Đã là nguyên tắc thì bất di bất dịch, ông thông cảm cho. Nếu ông dùng sức với thằng này thì ông nhầm. Nó lì lì thế nhưng không đơn giản đâu. Phải có cách. Trước mắt nếu thấy gì khả nghi ông cho tôi biết ngay.
      Lão chỉ chớp chớp mắt:
- Vâng, cái ấy thì có gì khó? Nhưng ông bảo cách làm sao?
      Sinh béo ghé tai: Như thế… Như thế.
      Lão chỉ toét miệng cười, điều chưa thấy bao giờ ở lão:
- Vậy thì được rồi. Ông ở đây uống với tôi chén rượu, lâu lắm từ hồi xuôi ngược với nhau ông không ngồi với tôi rồi.
Sinh béo xua tay:
- Lúc trước khác, bây giờ khác. Bây giờ tôi ngồi với ông, bên ngoài khó coi. Gần gũi với nhau thiếu gì lúc.

ó
ó   ó

            Nhà Hai Nối trúng liền mấy vụ lúa nương, hai vợ chồng bàn nhau cất nhà mới. Người Dao xưa nay vẫn ở nhà sàn. Nhà sàn người Dao thường đơn sơ hơn nhà sàn người Tày. Nhà người Tày thường làm rất to, cột nhà cả vòng tay mới hết. Họ thường xẻ ván bưng kín xung quanh nhà. Sàn nhà cũng lát ván bào nhẵn bóng, kín bưng. Hạt lúa cũng không lọt được qua khe sàn chỗ nối hai tấm ván. Nhà người Dao ngược lại rất sơ sài. Cột có khi còn cả vỏ cây không bào. Cây nóc, cây xà cũng không chạm trổ hoa mỹ như người Tày, người Kinh. Sàn nhà rải bằng giát tre băm để cả cây. Mỗi khi bước đi kêu rào rào. Có lẽ vì tập quán du canh, du cư, chỉ ở mỗi chỗ một thời gian, nhà cửa người ta không làm cầu kỳ quá. Tập quán làm lúa nương không làm ruộng nước nên không chú ý lắm đến nơi ăn, chốn ở. Vì thường thì từ sáng đến chiều cả nhà ở cả trên nương đến tối mới về. Hai Nối gần đây cùng một số người thay đổi lối canh tác mới. Anh đã phá được một số ít ruộng nước và đang dự định thay đổi cách làm ăn. Anh phá bỏ ngôi nhà sàn của mình và thay vào đó làm nhà đất như người Kinh.
            Thường là những người khá giả trong vùng mới đón thợ mộc dưới xuôi về làm. Đó là những ngôi nhà trong vùng gọi là nhà “Đại Khoa” có tới sáu hàng chân, câu truyền, kẻ bảy có chạm trổ thượng lương và hai đầu hồi. Đa phần làm nhà đất đơn giản, cũng cột, kèo bằng gỗ nhưng chỉ có bốn hàng chân, đục mộng thẳng, chỉ bào suông không tô vẽ, chạm hình chim, cá. Hai Nối cũng làm một ngôi nhà như thế. Thợ là nhờ anh em biết võ vẽ nghề mộc cùng làm. Như một hình thức đổi công, kẻ trước người sau. Chủ nhà chỉ lo cây, cột, cái lợp. Quan trọng nhất lo được cơm rượu cho người làm giúp. Tiền công không cần nghĩ đến.
            Khởi công làm từ tháng trước, khi ấy Khải chưa về. Mọi việc êm xuôi, anh mới vào hộ Hai nối vài buổi. Hôm nào cơm rượu xong đến tối mệt anh mới từ trong nhà Hai nối trở về. ở nhà bà cháu ăn cơm sớm, lúc Khải về bà cháu đã sửa soạn đi ngủ. Quảng vô mao cũng đến làm giúp. Lão gần như không biết làm việc gì. Đúng là đi cuốc mỏi tay, đi cày mỏi chân, chỉ được cái tài uống rượu. Thôi thì cũng thêm được cái chân lăng xăng, lúc giữ hộ đầu dây lấy mực, lúc xê dịch khúc gỗ cho thợ xẻ. Không còn việc gì chẻ nắm đóm, pha hộ ấm nước cho anh em uống. Đám làm nhà coi như đám hội, còn có tên gọi là “Mải” làm nhà. Đã là đám “Mải” thì càng đông càng vui, thêm đũa thêm bát không ai sợ tốn kém. Vì thế sự có mặt của Quảng vô mao không làm ai khó chịu. Đến gần trưa lão lại tự nguyện xuống bếp. Phải công nhận lão là tay xào nấu có nghề. Các món qua tay Quảng món nào cũng thơm ngon rất đặc biệt cho dù gia vị rất hạn chế. Người ta khen, lão bảo:
            - Đã là dân thì lấy ăn làm trời. Không biết nấu thì cũng không biết trời là gì. Mà các vị biết đấy, trời cũng thế thôi có biết ông ấy thì ông ấy mới biết đến mình. Tôn trọng lẫn nhau mà!
Có người bảo lão cố gắng làm gian cửa, gian nhà cho vợ con ở cho tươm tất. Lão ra vẻ bí mật:
            - Chưa thể tiết lộ thiên cơ được. Tôi cũng chỉ tạm ở đất này. Sớm muộn gì cũng vào miền Nam sinh sống. Trong đó dù sao cũng hơn ngoài này. Nhưng phải giải quyết xong một việc đã.
            Ai cũng nghĩ như lão chờ bán đất xong mới đi, vì chỉ có đất còn bán được chứ nhà của lão đâu gọi là nhà?
      Quảng nheo mắt:
      - Đám gò mả Tầu của tôi cho không đắt ai thèm mua!
Người ta lại hỏi vậy lão có món gì? Quảng càng ra vẻ bí mật:
      - Đã bảo không tiết lộ, nên không thể nói.
Buổi tối cơm rượu xong, Quảng với Khải về cùng đường. Khải bảo lão để khi khác, lão vặn lại:
- Hay mày khinh nhà anh nghèo không thèm đặt chân đến. ờ mà đúng thế thật từ ngày về đến giờ mày chưa đến lần nào.
Khải đành phải theo lão vào nhà. Con đường vào nhà lão như thể lâu không có bước chân người. Cỏ may mọc dày chi chít, thứ cỏ vô tích sự đầy những lông ngứa gài vào hai ống quần. Mãi sau này nghe cái bài hát có tên “Hương cỏ may” Khải bật buồn cười. Có lẽ gã nhạc sĩ nọ quen ở thành phố có khi còn chưa biết cỏ may là như thế nào. Còn bây giờ Khải đang phải vấn cao quần mà trời thì lạnh. Trong nhà lão Quảng tối như bưng như đi đâu vắng cả. Khi con chó nhách chỉ nhỉnh hơn con mèo sủa lách nhách mới nghe trong nhà có tiếng chân chạy. Thấp thoáng bóng người chạy ra sau nhà. Khải thấy lạ, dừng lại. Lão Quảng bảo:
- Lũ trẻ nhà anh tối đi ngủ “ luy ” hết, giặt kỹ quần áo sớm ra mới mặc đi làm. Chúng nó sợ nằm nhàu quần áo mà!
Khải giật mình, lão Quảng sáu đứa con, đứa bé nhất cũng mười lăm, mười sáu tuổi. Quá nửa là con gái mà sinh hoạt kiểu này là ra sao? Chúng thích thế hay chỉ có độc mỗi đứa một bộ, ngày giặt tối đem phơi như kiểu bố con Chử Đồng Tử?
Nhưng rồi mọi việc cũng xong xuôi. Ngọn đèn làm bằng nửa cái chai vỡ, tim bằng mẩu giẻ cũng được thắp lên. Đèn không có chụp nên ngọn lửa cứ ngả nghiêng như người say rượu. Vợ con lão ra vườn hay biến đi đâu không rõ, trong nhà còn lão Quảng và Khải. Lão lại lôi chai rượu ra. Khải gạt đi:
- Vừa uống rồi, tôi ngồi chơi với bác một lúc rồi về, mai đi làm sớm!
- Vậy thì thôi, anh cho chú mày xem cái này. Chỗ tin tưởng tao mới nói với chú. Cấm được cho ai biết đấy nhé!
Lão lôi cái bao tải cũ trong đựng thứ gì rất nặng. Quảng thò tay vào bốc ra một nắm. Lão mở tay ra, Khải thật ngạc nhiên: Trong bàn tay lão Quảng là những đồng tiền cổ màu đen hình tròn có một lỗ vuông ở giữa. Nó giống như đồng tiền người ta hay xin âm dương khi cúng lễ. Những đồng tiền khải chưa nhìn thấy bao giờ. Nó dày gấp đôi loại tiền chinh mà anh đã từng biết. Nhưng lão Quảng lấy đâu ra thứ này?
- Con nhà anh nó đào dây củ, sâu chừng nửa mét thì gặp cái chum bằng sành. Bên trong toàn một loại tiền này. Anh nghi nó là đồng đen vì không có đồng tiền nào bị han gỉ cả. Nếu bằng đồng đỏ hay bằng đồng thau thì đã gỉ hết rồi. Chỗ anh đang ở đây có thể quân cờ đen giấu của. Họ tính toán chôn vào giữa khu mộ này, không ai ngờ đến. Chú đi đây đi đó nhiều, thử tìm hộ mối giúp anh. Nếu nó là đồng đen thật thì anh em mình đổi đời rồi. Không tội gì chui rúc mãi ở xó rừng này. Tao với chú mày vào hẳn Sài Gòn cho nó sướng. Bõ cái công bao năm ăn mắm, mút dòi…
Khải chưa nói gì. Thì ra lão Quảng không đơn giản chút nào. Con người tưởng không có gì để yên được trong bụng, hoá ra cũng có cái rất kín đáo. Nếu lão có tiền xuôi ngược lão đã tự đi tìm. Còn nhờ người khác phần người ta không tin lão là chuyện có thực, phần lão không tin ai. Hư thực về số tiền này chưa biết thế nào. Nó là vật có giá trị, hay chỉ là đám đồng nát? Khải cũng không hy vọng gì nhiều về sự may mắn này. Anh chỉ gật đầu rồi chào lão ra về.
Không biết ai đến chơi hay có việc gì mà trong nhà mình vẫn còn đèn? Khải bước vội vào nhà. Mẹ anh vẫn ngồi bên ngọn đèn dầu, xung quang yên ắng, không có một ai.
- Chiều nay có hai người đàn ông đến tìm anh đấy!
- Người ở đâu hả mẹ?
- Người lạ lắm! Tao chưa gặp bao giờ, một người trông thấp đậm, một người cao to da đen, đầu đội mũ len kéo xụp xuống mặt, chỉ nhìn rõ hai con mắt. Tao chịu không biết là ai.
Mẹ anh kể suốt buổi ngồi chờ, cái mũ trên đầu hai người lạ mặt để nguyên như thế. Cả hai không nói gì nhiều. Gần đến lúc đi mới bảo là bạn của anh nào đó trên bãi vàng. Họ nói anh là đồng bọn với kẻ tạt axít vào mặt anh ta. Họ đòi anh phải bồi thường năm triệu đồng cho người bị hại. Người này nổ hai con mắt, bị bỏng rất nặng đang nằm ở viện. Họ không nói là ngày nào, nhưng bất chợt sẽ đến nhận tiền. Nếu gia đình không lo đừng trách họ xử tệ.
Khải bàng hoàng, vụ việc công an người ta đã giải quyết, để chờ ngày đưa ra toà xét xử. Anh đâu có mắc mớ gì? Khải chỉ vô tình có mặt khi đó và đã được tha về. Họ nhân danh cái gì để đòi tiền anh? Rõ ràng đây là một vụ tống tiền.
Anh lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để nộp cho chúng? Nếu không có chắc chúng không để cho anh yên. Vậy phải làm sao bây giờ? Đi báo công an thì không có manh mối, căn cứ nào để nói với họ? Cho đến bây giờ Khải cũng không biết chúng là ai, mặt mũi như thế nào, chúng là kẻ không rõ mặt, đến không hẹn, đi không chào. Nếu biết cụ thể là kẻ nào còn biết đường đối phó. Đây chúng như kẻ vô hình. Hành tung không xác định. Rất khó đề phòng.
Mẹ anh kể trước lúc vào nhà anh, bọn chúng có ghé vào nhà lão Chỉ một hồi lâu. Quan hệ của nhà lão Chỉ như thế nào? Nếu không xảy ra chuyện ẩu đả hôm vừa rồi Khải có thể sang nhà hỏi lão. Còn bây giờ thì không thể. Liệu có phải là mưu đồ của lão mượn tay kẻ khác hại mình?
Khải lựa lời nói với mẹ để bà yên tâm và giục bà đi ngủ, nhưng chính anh thì không sao chợp được mắt, trằn trọc suốt đêm với bao câu hỏi mà chưa có cách trả lời.
Gần sáng, Khải mới chợp mắt được một lúc. Khi anh tỉnh dậy mặt trời đã lên cao. Không ai làm giúp mà giờ này mới đi. Khải quyết định ở nhà nghỉ một buổi. Công việc nhà Hai Nối cũng còn phải lâu mới xong. Khải còn nhiều dịp để giúp đỡ vợ chồng anh.
Chính những ngày anh vào giúp vợ chồng Hai Nối có một việc xảy ra mà anh không biết. Thay vì uống rượu say khiêu khích chửi rủa như mọi khi, lão Chỉ âm thầm chuẩn bị một âm mưu. Lão quyết định ra tay dạy cho Khải một bài học. Lão đã từng nói với Sinh béo rằng: “Những thằng như nó không dùng được phải diệt đi, để lâu tất sinh hoạ”. Lão đã coi anh như loại kẻ thù tiềm năng, không để anh vững chân ở đất này. Đến lúc ấy muốn nhổ đi cũng không được. Sau lưng lão bây giờ còn có ông Sinh, nhờ quan hệ đôi bên được cải thiện. Cũng phải thôi, dù sao mình với họ cũng là chỗ làm ăn cật ruột lâu năm ở đất này. Chỉ cần ông ấy lờ đi không can thiệp là đủ để lão rửa mối hận mất mặt với làng từ trận xô xát vừa rồi. ở đâu chứ ở đất này bị coi thường, bị khinh thì khó bề sống nổi.
Thằng Mai con lão Sinh còn hiến cho lão một kế hay, nó bảo: “Thằng này vốn có mối thù với bọn bãi vàng, mà ở đấy toàn bọn đầu gấu bất cần đời. Ông chỉ cần cho cái Nhỡ nó lên nói với chúng nó một tiếng là chúng xuống ngay. Bồi dưỡng cho chúng nó chút đỉnh, nó không chê đâu”.
Nó đúng là con nhà nòi, mưu lược đâu ra đấy. Thế mà mình không nghĩ ra. Cái Nhỡ có đứa con hoang nhưng vẫn còn xinh gái. Nghe bố nó nói nó tấm tửng đi ngay. Gì chứ mồi chài dụ dỗ nó là gái có nghề. Thả bè trên sông trạm nào gay go đến mấy nó còn biết cách qua được, huống chi bọn bãi vàng thấy gái như mèo thấy mỡ? Chắc không thằng nào chê.
Hai thằng đến chiều hôm trước lúc Khải vắng nhà chính là hai thằng này. Chúng định về nhà lão Chỉ nghỉ một giấc gần sáng sẽ sang nhà mà không hẹn, là sợ Khải biết đề phòng, không ngờ rượu vào lại nhiều đêm rồi thức đánh bạc, nên chúng ngủ quên. Chúng đã tạo cớ như người Mỹ dựng “Sự kiện vịnh Bắc bộ 5-8”, nếu như việc chẳng may bại lộ chúng sẽ không bị buộc tội vô cớ đánh người. Việc xong xuôi chúng sẽ nhận món tiền rút êm, không ai biết chúng là ai. Nhưng cơn buồn ngủ đã làm cho chúng sáng hôm sau chưa dậy được. Lão Chỉ cho thế lại là cái may. Chúng ít đi lại ra ngoài càng ít người biết càng tốt. Đêm nay không được thì đêm mai. Cứ để yên cho hai thằng ngủ.
Nhưng khi tàu lên thấy Khải xuống tàu lấy hàng lão nảy ra một ý. Con tàu tự lực lâu nay thường thu không đủ chi. Nhân viên trên tàu tất cả có năm người, lương rất thấp. Họ vẫn phải kiếm thêm bằng cách khác. Trong đó có việc gửi hàng xuôi ngược của các quán xá, người đi buôn. Một việc nữa không kém phần quan trọng: Bớt một hai can dầu gửi vào làng bán cải thiện. Thường thì họ gửi bà mẹ Khải, buổi tối họ mới lên lấy. Thứ dầu ma dút đỏ thắp vừa tối vừa lắm muội. Nhưng người trong làng vẫn mua. Dầu trắng phân phối thường không đủ. Dẫu sao nó cũng là việc làm lén lút vụng trộm, vì là tài sản Nhà nước. Việc đó lâu nay ai cũng biết và coi đó là sự thường. Nhưng bây giờ lão Chỉ nhìn nó với con mắt khác…
Lão gọi hai thằng dậy, giục chúng đi rửa mặt, ăn tạm bát mỳ nấu, lão nói nhỏ đủ cho hai thằng nghe:
- Đợi cho nó xuống hẳn dưới tàu, bọn mày chặn ngay đầu cầu không cho nó lên bờ. ở chỗ hẹp nó có tài thánh cũng không chống đỡ nổi. Khi nào tao hô lên là khởi sự ngay.
Con tàu tự lực vốn là con tàu chiến được cải tạo lại để chở khách, nó có từ thời Pháp nên lối lên xuống rất không tiện. Người ta phải bắc tấm ván dài từ trên boong để làm cầu. Giờ là lúc những người có hàng xuống bốc hàng lên. Có mỗi cái cầu nên phải chờ nhau khá lâu. Minh Đen, thợ máy sách lên một can dầu để vào góc quán. Anh bảo Khải xuống tàu mang nốt số hàng bà cụ gửi mua dưới thị xã về bán lẻ. Khải vừa từ trên boong tàu xuống khoang hành khách bỗng thấy có tiếng la hét trên bờ:
- Có kẻ ăn cắp tài sản nhà nước bà con ơi!
- Bắt lấy nó đánh chết đi.
Khải nhìn thấy lão Chỉ cùng thằng con cầm gậy. Phía sau hai người đàn ông đội mũ len che kín mặt. Anh giật mình đúng là một cao một thấp như mẹ anh nói tối qua. Cả hai mặc quần áo bộ đội, đi dày cao cổ như đi đánh trận. Lính tính báo cho anh biết có chuyện chẳng lành. Khải định nhảy lên bờ nhưng không kịp nữa rồi. Cả bọn đã chặn ngang đầu cầu không còn lối lên. Từ tàu đến bờ khoảng tương đối xa, bờ lại thụt không thể nhảy lên được. Lão Chỉ chạy vào quán sách can dầu ra chỉ vào Khải:
- Tang vật đây rồi bắt lấy thằng đội mũ lá kia bà con ơi! Chính nó ăn cắp dầu nhà nước, bắt giải lên xã. ã..!
Khách đi tàu không ai nói gì, họ xúm lại quanh bờ, họ ngạc nhiên trước thái độ của bố con lão Chỉ, nhưng không ai dám can ngăn. Khải lấy lại bình tĩnh, anh không làm việc gì sai nên không sợ. Anh còn định đi thẳng đến chỗ lão Chỉ hỏi cho rõ việc gì. Khi Khải đến gần hai thằng đội mũ đen, bất thần lão Chỉ quát lên:
      - Nó có dao đấy cẩn thận.
Bất ngờ hai thằng rút dây côn đôi từ sau lưng áo nhằm Khải quất vun vút. Khải đành phải vừa né tránh vừa nhảy lại lên tàu. Trên bờ bố con lão Chỉ ào ào nhảy xuống. Tình thế vô cùng nguy ngập. Khải đã định nhảy xuống sông bơi sang bờ bên kia, vì trong tay không một tấc sắt khó lòng chống cự, nhưng bọn chúng là những con dái cá thông thạo sông nước. Nếu anh nhảy xuống lúc này sẽ bị chúng nhảy xuống dìm cho no nước. Thoáng một chút hy vọng vào những thuỷ thủ trên tàu, họ luôn có khẩu Aka mang theo. Chỉ cần họ can thiệp là sẽ không xảy ra chuyện gì. không hiểu sao họ chạy cả vào trong khoang, đóng sập cửa lại. Đúng là có ăn tìm đến - Có việc tìm đi. Khải đành chạy quanh cabin tránh đòn đánh tới. Một nhát côn đã văng vào vai anh, đau đến nhói óc. Bản năng sống còn bỗng trỗi dậy. Khải bỗng thấy hăng hái, quên chết, nhảy đại vào phía bọn côn đồ. Bọn chúng thoáng chút nao núng lùi lại. Nhưng thấy Khải tay không chúng lại xông lên. Khải bị vấp sợi dây suýt ngã. Sự may mắn tình cờ cứu anh lúc nguy cấp. Khải nhặt được một đoạn xích đứt vứt trên boong tàu. Đó là loại xích vòng to như ngón tay dùng để neo tàu. Không hiểu vì sao nó bị đứt vứt trên boong. Đoạn xích hơn sải tay đã khiến cả bọn lùi lại. Thằng chột hoảng hồn xô bố nó ngã vập mặt vào thành tàu. Lão ôm mặt kêu thét lên, cả bọn lùi lại đỡ lão dậy. Từ sống mũi lão vọt ra một tia máu như gà cắt tiết. Sàn boong thoáng chốc loang đầy máu. Khải dừng tay mặc chúng khiêng lão lên bờ. Đến lúc này trên bờ mới vang lên ba tiếng súng Aka , Sinh béo cùng một đoàn người lố nhố súng ống kéo tới. Người ta giục đưa lão đi viện cấp cứu ngay vì vết thương ở giữa tinh mũi giáp chỗ gọi là lá mía. Cũng may cho lão, chỉ cần dịch lên, dịch xuống nửa phân là phạm vào chỗ hiểm, tài thánh cũng không cứu được.
Lão Sinh giữ Khải làm biên bản tại chỗ, lạ một nỗi hai thằng bịt mặt chuồn khi nào, cũng không ai nói đến chúng. Cũng may cụ Mận thả bò gần đấy và mấy người đi đường làm chứng. Biên bản đành phải ghi: Lão Chỉ cùng số người nhà đánh trước, vết thương của lão là do chính đứa con của lão xô ngã gây nên. Thấy tình tiết diễn ra như thế, lão Sinh nói:
- Mọi người ai về nhà nấy, ai còn sinh chuyện xã sẽ xử lý nặng. Những người liên quan sẽ được gọi lên xã trình bày sau.
Nhưng rồi đến khi lão Chỉ ra viện cũng không thấy ai nhắc gì tới. Không phải sự việc không quan trọng không cần giải quyết, mà vì người cầm cân nảy mực thấy không nhằm được cái đích của mình nên cho qua.
Lão Chỉ đánh tiếng rằng lão chưa chịu. Bằng mọi cách lão sẽ nhổ cho kỳ được cái gai mới thôi.
      Bà mẹ Khải bảo con:
- Chúng nó chưa chịu đâu. Lão Chỉ đã đành, còn bọn bãi vàng không phải quân vừa. Thôi con cứ về xuôi kiếm việc gì làm tạm một thời gian cho nó nguôi nguôi đi đã, rồi hãy về. Tao già rồi, chắc nó không dám đụng đến đâu. Còn có dân có làng, có nhà nước không phải nó muốn làm gì cũng được.
Một lần nữa anh được chứng kiến sự vững vàng của mẹ. Người đã từng chỉ huy du kích vùng địch hậu. Cũng là người chống trọi với bom đạn Mỹ thời chiến tranh phá hoại. Đấy mới là cái cốt lõi của người mẹ bề ngoài hiền hậu, nhường nhịn đến mức tưởng như chịu lép vế trước mọi người.
Khải đã định không đi đâu cả. Không lẽ anh lại khuất phục trước bạo quyền? Đi rồi để mẹ và con nhỏ ở lại, Khải không yên lòng. Nhưng ở lại thì nỗi buồn nhiều quá, như tất cả chông gai bất hạnh rủ nhau trút xuống đầu mình. Tất cả đã mấp mé ngưỡng chịu đựng của Khải. Anh có cảm tưởng như sắp tuột tay bấu víu vào cuộc sống.
Một buổi sáng sau đó vài ngày, một cảnh tượng Khải không hình dung tới diễn ra trước mắt anh. Chiếc xe Bốt xoa của thằng Mai lượn qua lượn lại trước ngõ nhà Khải. Thịnh ngồi phía sau có ý quay mặt để Khải ở trong nhà không nhìn thấy. Nhưng cái áo cô mặc với mái tóc dài của Thịnh Khải vẫn nhận ra ngay. Vẫn là cái áo cô mặc hôm hai người đi dạo trên con đường vắng vẻ một đêm trăng dọc bờ sông. Sự thay đổi đột ngột ấy làm Khải choáng váng. ít ra cô cũng phải nói lại với anh một vài lời. Đằng này cô làm như không có chuyện gì. Ôi lòng người không biết đâu mà lường! Sự giả dối đôi khi làm người ta lẫn lộn. Còn đâu nữa sự cao thượng của tình yêu? Rốt cuộc con người ấy vẫn dễ dàng trôi tuột về cái tầm thường cố hữu của mình. Khải thấy xung quanh như đặc quánh lại ngột ngạt đến không thở được. Anh cần đi đâu đó một thời gian để thay đổi cảm giác nặng nề này. Để tiếp tục sống.  
Chỉ còn chút tiền trong túi áo, Khải để lại cho mẹ phòng khi ở nhà bà cháu đau ốm hay có việc gì đó cần đến tiền. Vẫn còn chiếc nhẫn cưới ngày nào, Đỗ Đen tình cờ thấy lại đưa trả cho anh. Không hiểu vì sao nó vẫn tồn tại đến giờ, khi Khải đã mất đi nhiều thứ to tát quan trọng hơn?
Ngày ra đi Khải định sẽ không gặp lại Thịnh. Theo anh nghĩ, cuộc gặp ấy cũng giờ không còn ý nghĩa gì. Cô đã rẽ theo nẻo khác, với bạn tình khác, với ý thức cuộc sống thực dụng, thực tế hơn.
Nhưng Khải hoàn toàn không biết lý do vì sao Thịnh phải tìm đến Mai. Trong khi thất vọng gần như mù quáng anh đã không đủ bình tĩnh và tỉnh táo để xem lại sự việc. Sau này khi trở lại Khải ân hận và hối tiếc vô cùng.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

Trăng nguyên sơ (kỳ 7) Tiểu thuyết Nam Dao


6. cõi tình (2)
*
Ra hang ngoài, Ban Mai thắp những ngọn bạch lạp, Nàng mặc yếm tơ ngà, quàng tênh xanh, váy chùng mầu đen láng mượt, eo cuốn xà tích vòng cung mầu trắng khiến những hoa văn trên bụng nổi lên như chạm trổ. Tóc giắt trâm bạc, cổ tay đeo trằm, nàng xõa tóc hong khô, tóc mượt mà chảy thành thác xuống hai bờ vai.
Đợi tôi choàng lên người tấm áo bằng lụa vàng, cuốn cạp giữ chiếc quần ống loe làm bằng vải chàm màu tím than, Ban Mai đội khăn trắng lên đầu, mở phên cửa mây, lách ra ngoài. Nàng căng mắt nhìn xuống phía dưới, tay chỉ: “Bản em đằng kia, giờ này chắc cu Tít con em đang nghịch với lũ gà con…”. Nàng quay mặt, mắt ươn ướt, buột miệng “Em thương nó lắm!”. Lát sau, nàng mím môi bảo:
“Anh nhìn rừng nhìn núi đi, đóng cửa hang là chỉ khi K’loi động lòng làm mưa thì mới mở đấy!”
Tôi đưa mắt, nhưng chỉ thấy hình ảnh Ban Mai nõn nà trong hồ nước hang sau, tai nghe nàng thì thào: “Thanh tẩy cho sạch bụi rồi đấy anh…”.
Ban Mai lấy từ cái bọc ra hai đôi đũa và một con dao gỗ. Không nói không rằng, nàng vào hang sau, lần đến thân gỗ mục, cẩn thận nậy từng cái nấm ra để vào đĩa cũng làm bằng gỗ. Nàng thì thào:
“Nấm này Pộ mo gọi là linh chi, kị kim khí. Ăn vào, con người vượt được hai phần ba đoạn đường đi tìm hạnh phúc”.
Sững ra, tôi liên tưởng đến chính câu tôi hỏi mới dăm ngày trước, hạnh phúc là gì? Không biết, thì làm sao tìm đây? Nhưng không hiểu sao tôi trân trọng đỡ lấy cái đĩa gỗ Ban Mai đưa, nâng nó lên ngang đầu, dò dẫm bước từng bước ra hang ngoài. Ban Mai đun nước sao một loại lá rừng tôi không biết tên. Nước sóng sáng xanh biếc, uống vào miệng ngọt lự, hương thơm lừng lên mũi.
Chúng tôi xếp chân ngồi bằng tròn, trước mặt là đĩa nấm đỏ hon hỏn, ở giữa mỗi cái là một chấm vàng to bằng đầu đũa, xung quanh vô số những chấm nhỏ mầu tím lợt. Lúc ấy, tôi mới hỏi, ăn vào vượt được hai phần ba đoạn đường đi tìm hạnh phúc là thế nào. Không đáp, Ban Mai hỏi lại:
“Khi nẫy anh có nói sống chết bất cần, nhưng thật thế không?”
Sống lưng tôi bỗng lạnh đi, và tự nhiên tôi sợ. Như đoán được, Ban Mai tiếp, giọng nghiêm trang:
“Pộ mo bảo, nấm này ăn vào giải thoát con người khỏi bản năng chiếm hữu. Nó đến từ nỗi sợ. Cơ ngơi tài sản, danh vọng, quyền lực đều là vì sợ mà ra. Người ta sợ đủ thứ, nhưng rút lại đều là sợ tương lai cuộc sống. Sợ nó bấp bênh nên đi chiếm hữu để tự bảo tồn. Và vì ai cũng chiếm hữu mong trấn an cho mình, đâm ra cái sợ nhân thêm lên, là sự sợ lẫn nhau. Càng sợ, càng thèm thuồng chiếm hữu, và cứ thế, con người chẳng những không giải quyết được gì mà còn làm cho sự sống mỗi lúc một bất an. Họ tham sống, quên mất cái hữu hạn trăm năm của chính mình. Tương lai nào, với ai, rồi cũng đào sâu chôn chặt. Có kẻ tin rằng chiếm hữu bây giờ khiến tương lai con em họ sẽ khác đi. Nhưng dẫu truyền giống, cứ nghĩ xem, rồi đời nào thì cũng vậy, cũng sẽ phải chạm mặt với cùng một vấn đề…”
Ban Mai nâng một cái nấm lên ngang miệng, cười:
“Hiểu ra sự chết, và đừng sợ qui luật thời gian, bắt đầu bằng từ bỏ chiếm hữu. Lúc đó, sống và chết không là hai, mà là một. Ăn nấm này vào, ta diệt được cái bản năng chiếm hữu …Và từ đó, ta đoạt lại tự do. Sống chết đã bất cần, anh có dám ăn không?”
Không biết mình có bất cần hay không, nhưng ở cái thế này, tôi cầm lên một cái nấm, giữ vẻ bình thản bỏ vào mồm. Mỉm cười, Ban Mai làm theo. Vị của nấm đắng chát khiến tôi nhăn mặt. Từ tốn, Ban Mai mỉm cười đưa tôi bát nước. Uống vào, vị chát tan ra, trở thành ngọt dịu. Nuốt xong, tôi lại lấy thêm một cái nấm khác, hỏi:
“Đoạt lại tự do là thế nào?”
“Không chiếm hữu, không có gì ràng buộc, mình không xác định bằng những gì mình có như tiền tài, cương vị… Khi đó thì mình tự do để thể hiện cái mình là, để còn lên đường. Chiếm hữu sẽ ràng buộc những bước khởi hành như dây rợ. Muốn đi về phía trước, phải chặt dây để giải phóng mình… Pộ lại dặn, cái mình là không chỉ là mình. Đặt chân lên điều ta ngộ ra đó là bắt đầu bước vào một phần ba còn lại trên con đường tìm hạnh phúc…”
“Nhưng hạnh phúc là gì?”
Vừa nói xong, mắt tôi hoa lên. Sắc mầu trong hang bỗng chuyển động, hàng bạch lạp cắm trên ghềnh đá chao ngang nhẩy múa chẳng khác gì đám trai gái Mường trong đêm hội cầu mưa. Nhắm mắt lại, tôi định thần nhưng bằng ấy sắc mầu nay bay lượn trong tiếng bổng trầm của một dàn đại hòa tấu. Mở mắt ra, Ban Mai trước mặt tôi vẫn đấy. Tóc nàng nay bạc trắng, rủ xuống ổ rơm vàng óng lên. Ban Mai cười, mắt lóng lánh, thình lình nhìn thành nàng Hươu sao. Đưa tay ve vuốt, ôi mượt mà như nhung. Xúc giác tôi bén nhậy gấp hàng trăm hàng ngàn lần lúc bình thường, cho tôi cái cảm giác ngụp lặn vào da thịt nàng Hươu, cảm giác choáng ngợp đến độ tôi chỉ có thể tan biến ra thành không khí.
*
Tiếng chí choé của lũ vượn khiến tôi tỉnh giấc. Khí lạnh trong hang làm tôi chần chờ trong chiếc chăn bông ấm áp. Quơ tay, Ban Mai không còn nằm bên cạnh, nhưng mùi hương người nàng vẫn đâu đây váng vất. Giụi mắt ngồi lên, tôi vẫn còn như cứ lênh đênh giữa hư thực trong bóng đêm, đưa mắt xung quanh tìm. Ban Mai từ hang sau đi ra, tay cầm ngọn bạch lạp cháy dở. Ánh lạp hắt lên mặt nàng những khoảng sáng tối chẳng khác gì một bức tranh Gauguin vẽ những người đàn bà đảo Tahiti tôi đã xem trong một viện bảo tàng bên Pháp. Thấy tôi đã dậy, nàng cười: “Anh ngủ ngon quá, em không dám đánh thức!”. Rót nước cho tôi, nàng ngồi xuống bên cạnh, lưng dựa vào vách đá.
Định thần một lúc lâu, tôi nói về những cái tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi sờ… sau khi ăn nấm. Ban Mai bảo nàng ban đầu cũng thế, nhưng nàng thấy những cái tôi không thấy, nghe những cái tôi không nghe… Như vậy, nàng kết luận, mỗi người sống những ảo giác riêng trước cùng một thực tại. Nàng nhắc lời Pộ Mo:
“Thực tại mắt thấy tai nghe ở bên ngoài là thế giới hiện tượng. Cái phần trong con người mới là lõi, Mo gọi là hồn, phi vật thể. Nấm ăn vào sẽ đổi cái lõi cho những kẻ có căn duyên!”
Tôi hỏi, Ban Mai lắc đầu đáp rằng đây cũng là lần đầu nàng ăn nấm như tôi. “Cái gì gọi là phần hồn?”, tôi thốt lên, giọng hoài nghi châm biếm. Lẳng lặng một lúc, Ban Mai ngập ngừng:
“Có thể nó thế này… Khi em nhìn anh ngủ, em chợt thấy lòng động một niềm xót thương vô hạn, mặc dầu riêng anh có gì đâu mà phải thương xót… Em hiểu đó là niềm xót thương đó trùm lên tất cả thế giới và nhân sinh, trong đó có anh…”
Nghe Ban Mai nói, tôi chợt nhớ đến câu “yêu em lòng chợt từ bi, bất ngờ” trong một bài hát tôi lẩm nhẩm hát đi hát lại thời tôi còn giữ được tin yêu và hy vọng. Buồn bã nhận ra sự chai sạn đã cóc cách bám vào đời, tôi nhìn sâu vào mắt Ban Mai, nước mắt ứa ra, lập lại như khẩn cầu:
“Nhưng hạnh phúc là gì?”
Không biết thế nào mà hình ảnh thằng anh chết tiệt hiện ra như nhắc nhủ. Ai cũng bảo là hắn ta bất thường, nhưng mặc dầu thế, tôi chưa bao giờ thấy hắn tuyệt vọng. Lúc nào hắn cũng lao về phía trước hành động để mang đến một cái gì, kể cả những niềm hoang tưởng. Ngẫm lại, hắn huyên thuyên đủ chuyện, nhưng khi nói về hạnh phúc thì hầu như chỉ có hạnh phúc của cả xã hội hắn mới thực sự quan tâm. Hắn từng cao giọng, cái Bảo Quốc Hộ Dân là cái mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Phần tôi, xưa nay sống như một quán tính, có lẽ tôi tránh tra vấn mình khi không cần thiết, nhưng chẳng hiểu thế nào mà lần này hai chữ hạnh phúc ám ảnh đến hớp hồn. Ban Mai vòng tay ôm đầu tôi vào, nhẹ nhàng vuốt tóc, bảo bọc như kén bọc lấy tôi, con tằm đợi giờ mong hóa bướm. Không biết bao lâu sau, tôi nghe nàng thì thào:
“Ta phải đi đoạn đầu đã. Một phần ba còn lại, khi nào đến, ta sẽ lên đường. Với nhau!”
*
Ngày hôm sau, tiếp tục ăn nấm và uống nước, tôi khám phá ra những tác động lạ lùng. Với ý chí, bộ não tôi đánh thức được trí nhớ của mọi giác quan. Tôi nhắm mắt, muốn mầu nào tức mắt thấy mầu ấy. Đi xa hơn một mức, tôi mường tượng những bức tranh đã coi, nào là Monet, rồi Van Gogh, và chúng hiển hiện trong võng mạc như có đấy. Tôi vốn nghe nhạc cổ điển mỗi lần lái xe đi làm. Và khi tôi muốn nghe Bach, lát sau tiếng đại hồ cầm âm trầm trổi lên, tai tôi nghe tấu khúc cho ba vĩ cầm cung D thứ, âm thanh réo rắt chạy đuổi nhau. Mở mắt ra, trước mặt tôi vẫn Ban Mai bất động, môi khẽ nhếch lên như sắp cười.
Nói cho Ban Mai nghe vể cái khả năng lạ kỳ tôi lần đầu chứng nghiệm, nàng không tỏ ra ngạc nhiên. Nàng thủ thỉ:
“Em khác, em nghe tiếng muôn loài, từ tiếng con trâu khụt khịt đến tiếng voi gầm, sói hú. Còn nhìn, trời chỗ nào cũng đầy những cánh chim âu bay liệng hiền hòa… Nhưng chẳng cần anh nói, em không biết tại sao em linh cảm đoán trước được. Có lẽ chúng ta đang nhập vào bước khởi đi của cuộc hòa đồng. Pộ Mo dặn, khi đó phải buông thả như mây gió trên trời cao, như sóng triều trong biển cả…”
*
Tối đó, dưới ánh bạch lạp, Ban Mai rực rỡ sức sống. Ngồi trước mặt nàng, tôi nhắm mắt, tưởng tượng nàng đến bên tôi, nói yêu tôi như chưa từng yêu ai. Tôi cũng thế, yêu lúc nào cũng là lần đầu, trinh nguyên, toàn vẹn. Ban Mai mỉm cười, cởi yếm, kéo chiếc váy chùng xuống quá gối, tay gỡ trâm bạc cài đầu, tóc lại như thác đổ xuống, uốn lượn theo những đợn sóng ngọc ngà. Tôi mở lòng tôi như đại dương, mở vòng tay rộng ngang bầu trời, chờ Ban Mai khỏa lấp mọi trống vắng. Nàng như nhung như lụa áp vào, tôi như sắt như đồng cương cứng. Tôi, Tá Cần và nàng, Yạ Kịt, yêu nhau đế đánh động lòng K’loi, sinh sôi mọi mầm sống, trên cạn là muông thú, dưới nước là tôm cá, khiến Mường Pưa dưới đây sẽ trở thành địa đàng.
Chưa bao giờ, chưa bao giờ tôi đến cực lạc như vậy. Mở mắt, Ban Mai vẫn ngồi trước mặt, môi nàng run run, miệng hé mở, mắt khép hờ, áo quần trên thân thể y nguyên vẫn thế. Nàng nói, giọng nhẹ như tiếng mây rơi đầu đỉnh núi: “Anh ơi, vừa rồi em hạnh phúc vô cùng!”. Phần dưới cơ thể tôi ướt nhờm nhợp, chứng cớ một niềm hoan lạc mà không cần đến chiếm hữu chung đụng thể xác.
Chúng tôi vào hang sau, ngâm mình trong nước hồ ấm áp, lòng hân hoan như con trẻ ngày mồng một Tết.
*
Sáng ra, Ban Mai nghiêm trang:
“Hôm nay là ngày thứ ba, ngày anh phải lấy một quyết định không đảo ngược được. Ăn nấm linh chi hai ngày xin Bua K’loi động lòng làm mưa mà được thì ta về. Nhưng nếu sau, cứ tiếp tục ăn thì đến ngày thứ bẩy ta cùng chết với nhau, trừ khi trời mưa, Pộ Mo sẽ lên đây cho ta uống thuốc phục hồi sự sống. Vì thế, em từng hỏi anh, có thật anh sống chết bất cần không? Nếu anh không sẵn sàng, xin anh cứ theo lối cũ mà về…”
Hốt hoảng, tôi chặn ngang:
“Thế còn em!”
Ban Mai bình thản:
“Em xin Bua động lòng để cứu nương cho người Mường, cứu suối cho tôm cá, cứu rừng cho muôn thú. Nếu không cứu được, chỉ còn sự chết ngự trị, em sống một mình làm gì? Nhưng anh thì khác…”
Thình lình tôi nhớ đến hai đứa con tôi và người vợ, không xấu không đẹp, không thông minh nhưng cũng chẳng đần độn. Con tôi nay đã lớn khôn, chúng nào có cần tôi như khi thơ dại. Phần vợ tôi, nàng chưa hẳn già nên có thể vá víu đi thêm một bước, với ai thì cũng như tôi, sáng đi tối về, kiếm cơm tìm áo. Bờ bên kia Thái Bình dương bỗng tít tắp xa hơn cái giới hạn địa lý đo đạc trên bản đồ. Cũng như Ban Mai, tôi tự hỏi, tôi sống một mình làm gì? Đặc biệt đối với tôi, một kẻ con đã lớn, vợ không dại, nghĩa là chẳng mấy cần tới mình.
Tôi chợt nghĩ tới chuyện chàng Cá chép và nàng Hươu sao. Chuyện nhắc nhở truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long quân của người Kinh, mẹ đẻ trăm trứng rồi cũng chia ra đôi ngả, bỏ bùa bỏ ngải làm phân liệt cả một dân tộc hàng mấy trăm năm. Thế thì chẳng lẽ tôi cũng lại tạo ra cái cõi vô tình, tiếp tục huyền thoại chia đôi kẻ trên rừng người dưới biển, để Bua K’loi lại nổi giận trừng phạt như Bua đã từng làm ở một quá khứ mịt mùng? Thình lình, tôi nghĩ đến cái vật Bảo quốc Hộ dân và thằng anh chết tiệt khiến tôi về đây rồi lên cái hang kỳ lạ này. Phải mưa thì mới có lúa, có gạo. Lúc này mưa cho lúa nẩy mầm thì đúng là hộ dân, chí ít cũng là dân Mường Thàng.
Ban Mai bưng ra một đĩa nấm. Lần này, nàng chọn những cái chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay, tròn trĩnh hơn, mầu hồng lợt, mặt trên nổi những cái chấm vàng tươi. Đột nhiên, tôi nhớ cái câu bất hủ, not life but love in death, xưa tôi thấy hơi sến nhưng nay bỗng sâu sắc đến như hiển nhiên. Thò tay, tôi bốc một cái bỏ vào mồm. Nấm này không chát, vị bùi, trôi tuột vào cổ họng chẳng cần chiêu nước. Ban Mai nói:
“Ăn nấm này, bản năng chiếm hữu sẽ không còn. Hai ngày trước, ta trải nghiệm thế giới vật thể chỉ là ảo giác có thể tạo từ thế giới phi vật thể. Lần này, hai thế giới sẽ chỉ là một, có và không đồng nhất. Con người được giải phóng khỏi mọi sự ràng buộc vật chất, không u mê đắm mình vào chìếm đoạt để có. Họ trở thành tự do, ngộ ra cái mình là, và đó là điều kiện cần để đạt đến hạnh phúc!”
“Nhưng hạnh phúc là gì?”, tôi lập lại câu từng hỏi.
Không đợi Ban Mai đáp, tôi nói cho nàng nghe về cái hạnh phúc của thằng anh chết tiệt. Cống hiến tha nhân hòng tìm đến thứ hạnh phúc chung là mục đích chuyến hắn lên đường đi tìm vật Bảo quốc Hộ dân. Và biết đâu thứ hạnh phúc của mọi cá nhân chỉ thể hiện được qua hành động đi tìm? Tìm cái chung mà thấy, khắc tìm ra cả cái riêng. Vì nói cho cùng, chung và riêng như hai mặt một đồng xu. Chúng bổ xung chứ không loại trừ lẫn nhau.
Nhìn sâu vào mắt tôi, Ban Mai khẽ lắc đầu, dịu dàng:
“Hạnh phúc là một trạng thái của phần hồn một con người tự do. Thế cho nên hạnh phúc cũng như con người, nhiều vô số kể, mỗi người tìm và ngộ ra hạnh phúc của mình. Pộ Mo dậy, hạnh phúc là tỉnh thức ở ngay hiện tại cuộc sống. Hạnh phúc không là tụ điểm tuyệt cùng mà luôn luôn là bước khởi đi để tiếp tục sự sống trong tương lai. Chỉ ở nghĩa này, nó mới trùng hợp với hành động đi tìm…”
“Em đã trải nghiệm trạng thái đó chưa?”, tôi ngắt.
Ban Mai ngẫm nghĩ, rồi hạ giọng:
“Một lần, đầu mùa mưa, em vào hái măng trong rừng. Khi đó, trên mặt đất đầy sâu róm đến đúng độ nở ra từ trên cây lả tả rơi xuống. Mấy đứa gái cùng đi tìm măng bỏ chạy về, chân dẵm lên những con sâu nhỏ bằng đầu ngón tay út, xác sâu bị đạp nhẹp rải khắp lối mòn dẫn từ rừng ra bản. Ban đầu, em cũng kinh hãi, nhưng không biết động lực nào khiến em không hốt hoảng chạy. Em ngồi xuống quan sát từng con sâu, lông lá sắc mầu, oằn èo khó nhọc trờn đi, vật lộn tìm chỗ sống còn. Chính cái sự sống ấy khiến em cảm động, và lúc đó, em chắp tay lạy K’loi hãy cứu lấy những con sâu nhỏ bé vô tội này. Em cảm nhận được sự huyền diệu bảo bọc thế gian, và em hòa đồng vào thế gian như một giọt nước trong sông hiền hòa chảy ra biển rộng. Thế là em rón rén đi thế nào tránh đạp vào sâu, đến tối mịt mới về đến bản, nhưng lòng rào rạt một niềm yêu thương, yêu từ con sâu đến hòn đá ven đường, yêu cơn gió tạt ngang, đám mây lững lờ tít tắp… Đấy, hạnh phúc với em lúc ấy như đại dương, còn em, là một giọt nước. Là giọt nước, em chỉ có thể cảm được đại dương bao la… Khi hạnh phúc, có lẽ ta chẳng cần nói về hạnh phúc. Giọt nước làm sao tách khỏi để nhìn ra đại dương là gì?”
Tôi nhắm mắt tưởng ra cảnh một Ban Mai trinh nguyên ngồi nhìn sự sống và chắp tay cầu K’loi cứu rỗi lấy những sinh vật bé nhỏ. Phải chăng hạnh phúc là lúc tâm hồn giao hòa giao cảm với sự sống muôn loài muôn vật ở thì hiện tại? Hỏi, Ban Mai gật đầu, giọng xa vắng:
“Anh tưởng tượng trong một thế giới người người vô cảm, dửng dưng trước sự sống chung quanh, quay lưng lại với muôn loài trong đó có đồng loại của mình, thì liệu anh có hạnh phúc được không? Cõi người ta không là cõi tình thì làm sao có hạnh phúc được! Cái hiện giết con người bây giờ là sự dửng dưng vô cảm với nhau! So với sói, với khỉ… thế thì còn kém. Nhất là trong khoảng sinh tồn thật ra rất hữu hạn, đến rồi đi…”
Tôi buột miệng:
“Thì cũng là chuyện cho một thoáng phù du thôi...”
Ban Mai bật cười:
“Em học hành chẳng bao nhiêu, nhưng biết gì em nói đấy, anh đừng cười em. Chính vì cái gì cũng rồi phù du nên mới phải triệt tiêu bản năng chiếm hữu bằng sự tỉnh thức. Không giữ gì cho mình nên ta vượt thoát được tất, kể cả qui luật thời gian hiển hình ra sinh tử. Vượt được thời gian, sát na ngay bây giờ hay ba tỉ năm sau khi trái đất này trở thành một khối băng miên viễn, thì rồi như nhau. Phù du và vĩnh cửu cũng đến thế, bận tâm mà làm gì!”
*
Chúng tôi sống với nấm và nước lá rừng sao lên uống. Đó là những ngày an bình tôi chưa bao giờ biết để tận hưởng. Trạng thái hạnh phúc đồng nghĩa với tình yêu chan hoà. Yêu tất cả. Từ tiếng chim ngoài hang ríu rít đế tiếng chân chồn chạy trên cỏ khô. Từ tiếng vượn đầu cành đến tiếng vạc ăn đêm xào xạc. Hiện thực trở thành phép lạ, nó hiển hiện qua từng cái ta nghe, ta nhìn, ta ngửi. Nhưng nó đến từ tỉnh thức, khác hẳn với những ảo giác hai ngày đầu. Mở cửa hang, chúng tôi nhìn nắng nhuộm vàng rừng cây cuối tầm mắt. Cái đẹp rực rỡ của thiên nhiên làm chúng tôi quên cả cầu cho K’loi động lòng làm mưa. Ban Mai bảo, hạnh phúc là cái phải tập. Mở lòng trải rộng ra đón nhận ngoại giới, lòng từ bi trào lên trong nội tâm, và trạng thái hòa đồng thành một với thế giới bỗng trở thành tự nhiên như nước từ nguồn, đã chẩy ra thì rồi sẽ về biển.
Đến khi tối mắt, đêm chập choạng lần về. Chúng tôi ôm nhau dưới cái chăn tình nghĩa cụ bà cho. Không thoáng gợn một chút đòi hỏi thân xác. Không sở hữu chiếm đoạt. Vì chúng tôi sinh thành từ trinh nguyên, không hành xử bằng bản năng chúng tôi đã thay thế bằng sự tỉnh thức. Trăng bên ngoài nay khuyết, chỉ còn già nửa. Ban Mai dập những ngọn bạch lạp. Ánh trăng hắt qua cánh cửa những vệt sáng lung linh trên nền hang mang cái hoang sơ vào phần hồn chúng tôi, nhẹ hơn gió, dao động với hơi thở phập phồng của vũ trụ.
Thình lình, sấm động.
Sấm ầm ì chuyển tiếng gầm gừ qua những thung lũng khô cằn. Gió lên, phần phật. Vài giọt mưa theo chiều gió tạt vào cửa hang.
Ban Mai liếm môi, giọng phấn chấn hẳn lên:
“Bua K’loi động lòng chăng! Hai đứa ta không hành xử như nàng Hươu và chàng Cá, Bua trách thế nào được!”
Tôi gật đầu, một niềm vui dâng lên trong lòng. Mở cửa hang, Ban Mai bước ra. Tôi theo sau. Tiếng sấm dồn dập, chớp xanh lè nháng lên chập chờn rừng núi chao nghiêng. Sét bất chợt soẹt lửa xé dọc bầu trời thành hai mảnh trong một tiếng nổ kinh thiên động địa.
Mưa ập xuống, ào ào như thác đổ. Để mặc cho mưa quật vào mặt, hai đứa chúng tôi hứng những giọt nước K’loi cho, thân thể ướt đầm, niềm hạnh phúc đan vào những giọt mưa kết chuỗi thành những sợi pha lê buộc trời vào đất, buộc đất vào số phận con người.
Hạnh phúc, trong cơn mưa này, là điều có thật.
*
Pộ Mo lên tận hang cho chúng tôi uống thuốc khắc phục tác động của nấm linh chi. Chân tay bải hoải nhưng đầu óc vô cùng tỉnh táo, chúng tôi lên võng để tráng đinh võng về bản lễ Tạ ơn K’loi. Vừa đến nhà sàn nơi Pộ làm lễ, cu Tít chạy xổ ra, miệng tíu tít: “Bà ngoại đã về, mẹ ơi!”. Một người đàn bà trung niên bước xuống thang. Ban Mai kêu Mẹ ơi, ôm chầm lấy bà. Mừng ra mặt, bà líu la líu lo tiếng Mường. Cụ Mế lúc ấy ra đứng cửa, gọi: “Phin à, dìu con gái vào nhà đã!”. Tôi hiểu Mế chính là mẹ nường Phin, và Ban Mai là đứa con sinh từ ân ái của Phin với một chàng chiến sĩ phòng không thời Hà Nội bị bom Mỹ.
Nường Phin véo von kể:
“Vừa đặt Nõn và Nường trên dưới đúng phép âm dương nơi nước nhỏ giọt xuống một cái hồ có thân cây gỗ mục vắt ngang trong cái hang ở đỉnh Nà Mèo thì trời nổi sấm động, sét đánh toạc không trung thành hai mảnh, và mưa xối xuống như thác đổ. Theo lời thần nhân, thế đúng là đã giải được trấn yểm đất nước này rồi!”
Tôi nhìn Ban Mai. Không nói nhưng chúng tôi đều biết nơi đó chính là cái hang chúng tôi trú ngụ năm ngày nay để làm lễ động lòng Bua K’loi. Chẳng cần hỏi thằng anh chết tiệt của tôi nay ở đâu, vì nó và tôi có khác chi nhau, lòng tôi bâng khuâng, linh cảm một nỗi ngậm ngùi tự nhiên ùa tới chiếm ngự.
Tối hôm đó, khi mọi người đã ngủ yên, tôi mở liếp cửa ra ngồi ở cầu thang bắc lên nhà sàn của Cụ bà. Không còn trăng, trời chi chít sao xếp theo những vòng xoáy trôn ốc trên cao. Mùi đất ẩm sau cả một ngày mưa bốc lên, khí lạnh len vào thấm buốt da thịt. Trầm tư về niềm hạnh phúc tôi vừa trải nghiệm khi sống-chết đồng nhất thể, phù du không khác chi vĩnh cửu, tôi nghe loáng thoáng lời Ban Mai:
“Hạnh phúc là tỉnh thức ở ngay hiện tại cuộc sống. Hạnh phúc không là tụ điểm tuyệt cùng mà luôn luôn là bước khởi đi để tiếp tục sự sống trong tương lai. Ý thức được điều này là tìm thấy vật Bảo quốc Hộ dân và giải trừ được vật trấn yểm cư dân Giao Chỉ”.
Giải được vật trấn yểm rồi, nay tôi bước tới là bước tới tương lai nào đây? Chẳng lẽ quay về sống cái đời sống tôi đã ngộ ra mọi sự nhàm chán của những con tính kế toán, bên thu bên chi, chỗ này khấu hao, chỗ kia là nợ bất khả hồi, tất cả để thành một kết toán làm đẹp lòng những người có cổ phiếu. Chẳng lẽ tiếp tục ba cọc ba đồng, cuối tháng tính toán trả tiền phone, tiền internet, tiền nợ xe, nợ nhà, nợ cạc Visa… Cứ ngồi như thế, tôi sực tỉnh khi ai đó choàng lên vai tôi chiếc chăn còn ngát mùi da thịt Ban Mai.
Quay lại, tôi không biết đó là nường Phin hay Ban Mai khuất trong bóng tối. Thu hết can đảm, tôi vội nói:
“Cho anh ở lại Mường. Đây là nơi cuối cùng anh muốn đặt chân lên thế gian này!”
Mơ hồ, một tiếng cười khan. Rồi chỉ có tiếng giun dế cất lên như phụ họa.
“Thế thì làm sao hạnh phúc có thể là bước khởi đi? Nơi cuối cùng là nơi dưới ba thước đất vùi sâu chôn chặt. Nơi đó không là thế gian Mường Pưa mà là âm gian, Mường Pưa Tịn…”
“Hay là… hay là… em đi với anh, ta vượt đại dương tìm một chân trời mới!”
Lại tiếng cười khan. Lại tiếng giun dế ồ lên, bỡn cợt.
“Chân trời mới lúc nào cũng ở trong em, bất tất phải là vật thể. Em đã đến đó với anh rồi cơ mà! Anh quên niềm hạnh phúc chúng ta tưởng chia nhau mà hóa ra nhân thành hai trong hang à? Khi ta phục hồi cõi tình làm động lòng K’loi, chẳng phải trời đã mưa sao? Và trời còn đang mưa, để mai này cây cối lại xanh tươi, nương lúa sẽ kết trái đâm mầm, chim muông bay lượn, hươu nai nhẩy nhót, những con sâu róm cũng tái sinh như sự nhiệm mầu của cuộc sống muôn loài khởi đi từ nguyên sơ, tiến hóa không ngừng…”
“Nhưng còn anh! Anh sẽ ra sao?”
Không đáp câu tôi hỏi, vẫn tiếng thì thào:
“Chàng Cá ơi, ở trên rừng sẽ có một ngày anh nhớ những kinh kỳ, những thành phố chộn rộn ngựa xe. Còn em, là Hươu, ở kinh kỳ rồi em sẽ tương tư núi rừng nương rẫy, thèm hít thở không khí chưa vẩn bụi xăng, ước ao sống mà không sợ. Anh còn nhớ con người chiếm hữu vì sợ chứ? Sợ tương lai bấp bênh, rồi càng chiếm hữu, càng sợ, và đâm ra sợ đồng loại cũng chìm đắm vào nỗi u mê chiếm hữu như mình! Vượt đại dương với anh, cả hai chúng ta sẽ lập lại lỗi lầm trong huyền thoại, phải chia đôi trăm đứa con, cắt làm hai chính mình ra chỉ vì cái ảo tưởng nghịch lý là để có nhau. Đã bảo thôi chiếm hữu, chàng Cá của em lại nhân danh tình yêu đòi sở hữu em, con Hươu sao này à?”
Tôi im lặng.
“Em nhắc nhé: hãy trải rộng ra đón nhận ngoại giới, lòng từ bi chiếm ngự nội tâm, và trạng thái giao cảm giao hòa thành một với thế giới muôn loài muôn vật sẽ trở thành tự nhiên như nước từ nguồn, đã chẩy ra thì rồi sẽ về biển. Thế là em đã vượt đại dương với anh rồi đấy!”
Tôi im lặng.
Hai tay ôm lấy vai tôi, người đàn bà sau lưng thủ thỉ:
“Anh mang chăn tình chăn nghĩa này về, khi đắp lên người thì đừng quên những phút giây hạnh phúc ở Mường này. Còn em, nhớ anh, em sẽ hát. Hát thế này anh nhé:
Cánh diều vì ai mọc cánh lên mây
Con người vì ai ngậm ngải lên non
Con nước vì ai lên trời xuống biển
Năm nay mưa ít
Mà vườn nhãn chưa hoa
Để con ong ngơ ngẩn ra vào [1]
*
Tôi về Hà Nội. Trên chuyến xe khách đi từ thị xã Hòa Bình, có một cuộc rước dâu kỳ lạ. Gia đình hai họ trên xe, cô dâu mặt che voan trắng, đầu kết hoa vải, áo váy rất made in HongKong. E thẹn nép vào vai chú rể mặc âu phục hình như quá rộng vì chắc là đi thuê, nút thắt cà-vạt chẳng khác gì nút một sợi dây thòng lọng treo cổ, mặt đỏ gay, cứ mủm ma mủm mỉm cười ruồi. Lạ một cái là ai cũng cầm trong tay những cái bao bằng plát-tích. Anh lơ xe thỉnh thoảng nhắc, giọng đùa cợt: “Vui duyên mới chớ quên là đừng nôn ra xe đấy nhé!”. Thấy tôi nhìn, một thanh niên rót rượu ra chiếc ly nhỏ, đưa tôi, vui vẻ: “Chú uống mừng cho đôi trẻ!”. Không hiểu sao tôi cảm động, cám ơn bằng cách thắt lại nút cà-vạt cho chú rể. Ông cụ thân sinh ra cô dâu ồm ồm: “Tưởng gì chứ thắt nút kiểu củ ấu bảo thì tớ cũng làm được!”. Cả xe lăn ra cười cho đến khi có tiếng kêu ơi ới. Tài xế đạp phanh thắng lại, tiếng còi xe inh lên tứ phía, chắc nhà chú rể ở đâu đây quanh quẩn. Xe ngừng, tôi vẫy chào, lòng bỗng dưng dưng như chia tay người thân.
Về lại khách sạn BK, tôi xin phòng 403. Vẫn cô bé tiếp viên ngày trước, đon đả: “Đi chơi có vui không chú?”. Mới mấy bữa mà cô đã quên từng gọi tôi bằng anh, tôi đâu có già đi với vận tốc ánh sáng. Khẽ gật, tôi lên phòng, nằm vật xuống giường. Ngủ thiếp đi, khi tỉnh giấc tôi mất dăm phút mới biết mình không còn ở Mường Thàng. Ngoài cửa sổ, tháp gươm vẫn đó. Xa xa, đồng hồ Bưu Điện đằng sau là những lô nhà cao tầng lổn nhổn chòi lên trời như những cuộng rau muống dại mọc được đến đâu là cứ mọc.
Tôi gọi ra VietNam Airline lấy chỗ cho chuyến bay về Montreal. Thu xếp xong, tôi điện thoại chào từ giã nhà thơ già trên phố Lý Quốc Sư. Ông ta hỏi: “Tìm được cái vật quí hiếm đó rồi chứ?”. Tôi đáp, ông ta cười, giọng vẫn trẻ như ở tuổi đôi mươi: “Phải thế chứ!”. Người cuối cùng tôi muốn cám ơn trước khi lên đường là Thụy. Anh ta bảo: “Cái ông bạn có ria mép ấy đi tìm anh, ông ấy ngay đây, đang hồ hởi lắm vì trúng hợp đồng với lò gốm Bát Tràng cho độc quyền xuất khẩu sang Âu Châu…”. Chưa dứt lời, Rậm-ria giằng điện thoại, giọng oang oang: “Cứ ở khách sạn, tôi đến gặp bạn ngay!”
Nửa tiếng sau, chúng tôi lên sân thượng khách sạn. Hà Nội mới được tắm gội sau cơn mưa kéo liền hai ngày, đỡ khô xám, cây ven hồ Hoàn Kiếm tươi xanh như trẻ lại. Rậm-ria lấy giọng bí mật, nói rất nghiêm trọng: “Cái việc ấy xong rồi chứ?”
Tôi gật, mặc dầu chẳng thật biết việc gì. Rậm-ria tiếp, mắt nhìn ra sau như sợ người nghe trộm:
“Thảo nào. Không thấy Triệu Tử Long cưỡi xích thố 300 phân khối di giao dịch vụ chém mướn nữa. Thế là ta giải được vật thằng Cao Biền trấn yểm cái tinh hoa Giao Chỉ rồi. Công đầu là của bạn đấy, xin chúc mừng!”
“Không! Không có gì là của tôi cả!”, tôi buột miệng.
Rậm-ria ngạc nhiên, nhưng tôi không nói chi thêm. Kể chuyện Bua K’loi động lòng vì Ban Mai và tôi đã bất chấp sống chết để phục hồi cõi tình bỏ ngỏ từ ngày nàng Hươu sao và chàng Cá chép chia tay thật chẳng ích gì cho một thương gia vừa trúng mối. Vì phục hồi cõi tình là triệt tiêu mọi chiếm hữu, cứu cánh của một nền kinh tế thị trường đang hội nhập vào cái thế giới vận động bằng những mặt hàng sinh ra lợi nhuận. Và không chiếm hữu là đoạt lại tự do cho phép mình là chứ không đơn thuần mình là cái mình , điều kiện đi nốt một phần ba con đường tìm hạnh phúc, thì không thể nào len được vào tâm thức của kẻ sắp sửa nhân danh văn hóa đi bán lao động rẻ mạt một đất nước nghèo đói chênh vênh giữa thực-giả, đúng-sai. Thấy tôi im lặng, Rậm-ria vỗ vai, tươi cười hỏi một câu cho có chứ chẳng đợi trả lời: “Thế còn nàng Đào Hạ Trang thời Lý, bạn có tìm thấy nàng không?”
Lần này, tôi quả quyết: “Có chứ…” trước khuôn mặt sửng sốt của Rậm-ria. Trong đầu tôi, hình ảnh Ban Mai rực rỡ với trang phục lễ hội, trâm bạc cài tóc, cạp váy thêu hoa văn, bụng quấn xà tích, tay đeo vòng hiện ra, miệng thì thầm dặn dò, hạnh phúc là hoà đồng vào muôn loài với lòng từ bi yêu thương vạn vật, trong đó có con người.
Chia tay Rậm-ria, tôi quên chẳng hỏi tin Tiểu-quỉ. Nhưng tôi chắc, hỏi cũng vô ích, ngoài chuyện chia động từ bế tắc tôi đã từng biết. Xuống đường, tôi đi đến đầu phố Lý Quốc Sư. Trước sân mặt tiền Nhà Thờ, tôi gặp lại con bé con cứ sáng sáng chờ tôi xin tiền. Nó nay bán vé số, hồn nhiên kéo tôi đến trước một mẹt hàng bày nhang đèn vàng mã sát ngôi chùa cạnh đó. Nó nói, giọng hãnh diện:
“Mẹ cháu nay kinh doanh! Như người ta…”
Người bán hàng giở nón nhìn lên, thốt: “À, anh…”
Đó là người đàn bà từng mang con ra định bán trinh cho tôi, nay không lòe loẹt phấn son như trước. Lúng túng, bà ta nói:
“Em thôi buôn son bán phấn rồi, nay bán nhang đèn cúng Phật cầu phúc cầu đức. Làm lại cuộc đời mà anh!”
Tôi bật cười, lòng bỗng dâng lên một nỗi yêu thương, có lẽ chẳng khác gì lòng Ban Mai khi nàng rón rén tránh đạp lên những con sâu róm. Con bé sáp lại:
“Chú mua cho cháu một tập vé số nhé…”
Móc túi, có đồng nào tôi đưa hết cho nó. Cười cười, nó bảo chú cho nhiều thế này, lấy hết đống vé số này cũng còn thừa. Nói xong, nó chìa cả bị vé ra cho tôi. Cầm lấy, tôi trao lại cho mẹ nó.
Ngày mai, thế nào rồi cũng sẽ khác.
Đừng sợ.
Đừng bao giờ sợ, nhất là sợ tương lai.
N.D.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phía sau nỗi đau 
là điều tử tế



Tác giả: Lan Anh


Hôm 6-10, ông Đinh Ngọc Thạch (tức Bình “còng”), người cựu binh biên giới phía Bắc và cũng là người chở chiếc xe tôn liên quan đến tai nạn làm em bé 9 tuổi T.M.H. ở Hà Nội qua đời hôm 23-9, được tại ngoại, sau hai ngày có quyết định khởi tố và tạm giam.
Thật khó có thể quên được gương mặt thất thần của người đàn ông trung niên sau chiếc xe tôn đậu bên lề đường, bên vũng máu của bé H..
Một tai nạn đớn đau, bất ngờ, gia đình bé H. đớn đau, tất cả những gia đình đang có con nhỏ như gia đình bé đớn đau, và gia đình ông Bình cũng đớn đau.
Nhưng bên lề nỗi đau đớn ấy là một số phận có lẽ phải thay đổi, dù rằng ông ta đã ở tận cùng của nỗi khổ đau: người đàn ông trung niên yếu đuối, đồng đội muốn góp tiền mua cho chiếc xe máy chạy xe ôm nhưng ông từ chối vì không biết lái xe máy, lam lũ kiếm sống bằng nghề bốc vác và chở xích lô quanh khu phố nghèo bỗng chốc sa vào vòng lao lý.
Cả hai gia đình ấy đều rơi nước mắt. Một bên mất con vĩnh viễn, một bên bị coi là “tội đồ”.

Vậy mà hai gia đình ấy đã đến được với nhau để chia sẻ sự mất mát, và cầu nối cho họ là những con người xa lạ. Cái cớ để họ nối nhịp cầu ấy là sự cảm thông: đau xót cho gia đình cháu bé và cũng đau xót cho gia đình ông Bình.
Đồng đội của ông Bình đã chia sẻ hoàn cảnh đáng thương của người cựu binh nghèo vốn mang cái tật còng từ ngày trong quân ngũ, cũng như cái tính tự trọng của ông đã khiến cộng đồng xúc động.
Thông qua nghệ sĩ Chí Trung và một nhà báo kiêm võ sư, hàng trăm người xa lạ đã chia sẻ. Họ không biết ông Bình và gia đình bé H., họ cũng không biết nhau nhưng nhờ lý lẽ trái tim mách bảo.
Trong những dòng tin ngắn ngủi, họ viết lời chia sẻ gửi đến cả hai gia đình, họ mong hai gia đình hòa giải. Họ chảy nước mắt thương em bé xấu số nhưng mong muốn không có ai phải chịu thêm đau đớn, tù đày, dằn vặt, họ mong người cựu binh được tha thứ, họ không muốn nỗi buồn phải nhân đôi.
Và đúng như mong mỏi, gia đình bé H. viết đơn đề nghị miễn xử lý người chở tôn – người cựu binh già Đinh Ngọc Bình. Gia đình bé dành sự tha thứ và sẻ chia để xoa dịu nỗi đau đớn mất đứa con trai. Một sự tha thứ thật đáng được ngưỡng mộ.
Mỗi ngày có bao nhiêu tin về cái ác, cái xấu trên báo? Chắc chắn là rất nhiều. Nhưng cũng có rất nhiều tin tốt lành như phần kết của câu chuyện này.
Ông Bình “còng” được tại ngoại và phải chịu trách nhiệm về tai nạn xảy ra với bé H., nhưng ông đã được tha thứ, được đối xử bằng sự tôn trọng và sẻ chia.
Tôi nhìn rất kỹ tấm ảnh bé H. mà gia đình bé dùng làm ảnh thờ, dù ở góc nào thì nhìn cũng như bé đang cười, một nụ cười rất nhẹ kiểu trẻ thơ.
Những câu chuyện đớn đau rồi sẽ khép lại nhẹ nhàng và nhân ái nếu chúng ta biết tha thứ, và mỗi lần như vậy cuộc sống này lại nảy được thêm những mầm xanh 
hi vọng.
Những mầm nhỏ ấy sẽ vươn mạnh mẽ nếu mỗi người sống tử tế bên cạnh những người tử tế, và viết những câu chuyện nhân văn từ cuộc sống của mình, từ những người xung quanh, như đoạn kết của câu chuyện chiếc xe tôn đau đớn những ngày qua.
————-
http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/thoi-su-suy-nghi/20161007/phia-sau-noi-dau-la-dieu-tu-te/1184119.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang