Thứ Bảy, ngày 8/10/2016 - (PLO)- Sáng 8-10, tại Hội nghị giao ban báo chí tháng 9-2016 tỉnh Hà Tĩnh, ông Nguyễn Văn Thắng, Chánh án TAND tỉnh Hà Tĩnh, báo cáo việc xử lý 506 đơn khởi kiện Công ty Formosa Hà Tĩnh của người dân huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). "Chiều 5-10, TAND thị xã Kỳ Anh đã tiến hành trả 506 đơn khởi kiện Công ty Formosa Hà Tĩnh, đúng theo quy định của pháp luật. Hiện tại, TAND thị xã Kỳ Anh đã sao chụp toàn bộ 506 đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan lưu tại tòa án để làm căn cứ giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu" - ông Thắng cho biết.
Ông Nguyễn Văn Thắng (người đứng), Chánh án TAND tỉnh Hà Tĩnh, đang thông tin về tiếp nhận và trả đơn khởi kiện Công ty Formosa Hà Tĩnh.
Theo ông Thắng, hai ngày 26 và 27-9, tổ tiếp nhận đơn của TAND thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã tiếp nhận 506 đơn và các tài liệu kèm theo của người dân huyện Quỳnh Lưu khởi kiện Công ty Formosa Hà Tĩnh, yêu cầu bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường. Việc tiếp nhận đơn đảm bảo đúng quy trình, thủ tục của pháp luật quy định.
Sau khi tiếp nhận và phân loại đơn, có 296 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong đánh bắt hải sản; 137 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong sản xuất muối; 68 đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong nghề sản xuất nước; ba đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về nghề nuôi trồng thủy hải sản; hai đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nghề kinh doanh thủy sản ven biển. Tổng số tiền các hộ dân yêu cầu bồi thường thiệt hại là 56 tỉ đồng.
Nhá máy Formosa Hà Tĩnh (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh).
Trong đơn và các tài liệu không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về những thiệt hại thực tế.
Ông Thắng cho biết: "Việc trả lại đơn căn cứ vào các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể tại khoản 5 Điều 189 kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh lợi ích quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm. Điểm C khoản 1 Điều 192, sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong việc này, Chính phủ đã có Quyết định 1880 của Thủ tướng Chính phủ". Đ.LAM
Người bạn đồng môn 08/10/2016 Là con gái của Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, nhưng Vũ Anh sống và học tập rất đời thường, tự lực, kiên trì rèn luyện và đầy nghị lực, luôn nhẹ nhàng và duyên dáng...
Vũ Anh
Tôi bước vào học cấp ba năm 1966. Trường tôi học là Trường Cấp ba Bất Bạt. Những năm ấy chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đang ở vào thời kỳ ác liệt, do vậy trường của chúng tôi không học ở trung tâm huyện mà sơ tán về xã Thuần Mỹ, một xã nằm gần sát chân núi Ba Vì.
Năm 1967 sau ba tháng hè, tôi cùng bè bạn trở lại trường lao động để chuẩn bị cho năm học mới. Khi đến trường tôi nghe mọi người bàn tán về trường mình năm nay có học sinh từ Hà Nội sơ tán về, nhưng đặc biệt hơn là các bạn về học là con các cán bộ cao cấp ở trung ương và lớp tôi có hai bạn. Nghe vậy, nhưng tôi cũng chưa nhìn thấy bạn nào.
Một hôm vào dịp giúp thầy chủ nhiệm chuyển đồ đạc sang vị trí học mới, tôi thấy hai bạn nữ lạ, mọi người nói đấy là hai bạn mới và họ còn nói có Vũ Anh là con của ông Lê Duẩn. Nghe thông tin tôi tò mò xem có phải con của Bí thư thứ nhất không, nhân lúc chuyển đồ cho thầy chủ nhiệm tôi thấy học bạ của Vũ Anh tôi xem trộm.
Tôi đọc vội thấy ngoài trang đầu ghi: Bố Lê Ba, mẹ Nguyễn Thị Bẩy - nhà báo. Phát hiện thấy tôi xem học bạ, Vũ Anh bước lại và nói: “Bạn không được xem học bạ của tớ”. Bị bắt quả tang, tôi nói chữa ngượng “Mình thấy học bạ mới nên xem, bạn không cho xem thì thôi” và đặt lại chỗ cũ.
Nói thật ra vì hồi đó thầy Vỵ chủ nhiệm lớp rất hiểu và quý tôi nên tôi mới có thể xem được học bạ của Vũ Anh. Xem được học bạ xong, tôi cũng nói với các bạn học tôi chỉ xem được có vậy thôi. Tôi và mọi người cũng không bàn tán gì thêm.
Rồi chúng tôi bước vào năm học mới. Ban đầu tôi và bạn học mới cũng bình thường chưa có sự thân mật. Một thời gian ngắn sau tôi và Vũ Anh cùng vào tổ cán sự của lớp. Tổ cán sự của chúng tôi có bốn bạn.
Nhiệm vụ của chúng tôi là hướng dẫn gợi ý giải các bài tập khó vào thời điểm khi trống trường đánh sáu tiếng, vì vậy tổ cán sự thường xuyên trao đổi về bài học với nhau trước khi một bạn đại diện lên gợi ý bài tập cho cả lớp. Tổ cán sự đã làm cho tôi và Vũ Anh thân thiết nhau hơn, hiểu nhau hơn. Việc học của tôi và Vũ Anh diễn tiến gắn kết mãi cả năm học.
Năm học lớp 10 chúng tôi chuyển sang chỗ học mới cách chỗ học cũ hơn một kilômét. Năm học mới tôi được bầu làm lớp trưởng (bạn lớp trưởng năm lớp chín đã lên đường nhập ngũ), Vũ Anh làm lớp phó phụ trách học tập, do vậy hai chúng tôi lại càng gắn kết chặt chẽ hơn. Hai năm học chung, Vũ Anh đã để lại trong tôi nhiều ký ức đẹp, đây mới là phần tôi muốn kể sâu hơn.
Nhìn bề ngoài Vũ Anh rất mảnh khảnh với nước da trắng, tóc cắt ngang vai ôm lấy khuôn mặt khá xinh, ăn mặc giản dị. Trong giao tiếp Vũ Anh rất nhỏ nhẹ, nét dịu dàng mang đậm tính cách của phụ nữ Việt Nam. Song bên trong con người bạn ấy là cả một kho nghị lực và nguyên tắc.
Về học tập, Vũ Anh là một bạn học giỏi thực sự. Bạn ấy học giỏi toàn diện các môn. Hai năm học bạn đều đạt học sinh giỏi. Bạn ấy học giỏi hoàn toàn do sự chịu khó và khả năng trời phú chứ không cần vào sự tác động nào. Nếu có ai đó nghĩ rằng Vũ Anh đạt học sinh giỏi là nhờ vào ô của bố mẹ để thầy cô nâng đỡ thì hoàn toàn sai. Trong lớp tôi ai cũng thừa nhận Vũ Anh học giỏi.
Trong học tập đã vậy, trong lao động bạn ấy cũng chứng tỏ là một người đầy nghị lực. Tôi còn nhớ bước vào năm học lớp chín được một thời gian, tôi gặp Vũ Anh đi gánh nước.
Tôi không ngờ rằng con gái của một lãnh đạo to nhất nhì nước lại đi gánh nước giữa đời thường. Người mảnh khảnh gánh hai thùng nước, đi một đoạn lại nghỉ đứng ôm đòn gánh, rồi lại gánh tiếp, cứ như vậy gánh nước về. Sau này tôi còn gặp Vũ Anh bưng chậu quần áo đi giặt ở sông.
Ban đầu mọi người nghĩ rằng các bạn này sẽ có người phục vụ đến tận răng, nhưng trong thời gian học sơ tán ở đây, nhìn Vũ Anh gánh nước chắc chẳng còn ai nghĩ gì về các bạn ấy sống trong nhung lụa.
Học kỳ hai năm lớp chín nhà trường tổ chức đi lấy củi cho lâm nghiệp để lấy tiền gây quỹ. Địa điểm lấy củi thuộc xã Ba Trại cách trường chúng tôi khoảng 7-8km. Khi đi mọi người đều đi bộ. Quá trình lấy củi thì người chặt người vác.
Với chúng tôi việc chặt, hoặc vác củi chẳng có gì khó khăn, nhưng với Vũ Anh là vấn đề mới lạ và khó khăn do chặt củi thì làm tay phồng, còn vác thì củi sần sùi làm đau vai. Cả hai việc đều là lao động nặng nhọc.
Trước công việc như vậy, Vũ Anh chẳng hề kêu ca, bạn ấy vác đến khi đau vai, hai tay vừa vác vừa nâng cây củi. Chúng tôi rất thông cảm cho Vũ Anh nên nói: “Vũ Anh ơi! Bạn có thể nghỉ không sao đâu”. Vũ Anh trả lời: “Mình sẽ cố gắng hết sức có thể”. Sau đó chúng tôi bảo nhau chặt những cành nhỏ cho Vũ Anh vác.
Vũ Anh (thứ ba từ trái sang) chụp cùng ba thầy giáo, các bạn và O Hồ (em gái ông Lê Duẩn - thứ ba từ phải sang) bên bờ sông Đà, Ba Vì.
Năm học lớp mười, xã Thuần Mỹ tổ chức đắp đê quai. Là một trường cấp ba đứng trên địa bàn xã, nên nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia lao động cùng địa phương. Lần này Vũ Anh lại vào vai gánh đất.
Tôi còn nhớ như in hình ảnh Vũ Anh gánh đất bằng quang có ba chiếc dây thừng buộc vào hình như gọi là cái ky, cái quang khi gánh đất lên đến vị trí chỉ xách vào cái dây thừng là đất sẽ đổ ra.
Quãng đường gánh không xa nhưng gánh suốt cả buổi thì cũng không phải là chuyện đùa. Chúng tôi biết chắc gánh như vậy đau vai và mệt nên bảo Vũ Anh chuyển sang đứng xúc đất. Nhưng Vũ Anh không chịu vì các bạn nữ khác đều đi gánh, các bạn đứng xúc đều là nam, tất nhiên là chúng tôi cũng bảo nhau xúc đất vừa phải cho bạn ấy thôi.
Năm học lớp mười lớp ở cách trường khoảng 1,5km, Vũ Anh đi bộ đến lớp. Dù mùa đông hay mùa hè, Vũ Anh đi học rất đúng giờ. Là lớp phó phụ trách học tập, nên Vũ Anh giữ sổ điểm và sổ đầu bài, khi tan học thì gửi ở nhà tôi vì tôi trọ gần trường, sáng hôm sau nếu 7 giờ vào học thì đúng 6 giờ 30 phút, Vũ Anh đã tới lấy sổ để ra lớp. Bạn ấy sống rất có kỷ luật với bản thân.
Trong sinh hoạt, Vũ Anh sống rất giản dị và chưa khi nào tỏ ra là con ông nọ ông kia. Vũ Anh cũng rất hòa đồng với bạn cùng học. Trong hai năm học cùng, Vũ Anh đã về nhà tôi chơi hai lần.
Năm học lớp mười, thi xong tốt nghiệp mấy ngày bạn ấy về chơi. Đường về nhà tôi 20km, thời đó đường xá khó khăn, nhất là đi qua khu đồi Ba Gò cũng hơi hoang vắng nhưng bạn ấy vẫn đi. Thăm nhà, ăn cơm với gia đình tôi, thăm làng xóm từ sáng đến chiều bạn ấy mới quay về. Vũ Anh đã mời tôi về thăm nhà bạn ở Hà Nội, nhưng tôi không dám đi. Tôi còn biết bạn ấy đi thăm một số nhà bạn nữa, trong đó có bạn nữ ở xã rừng núi Minh Quang ngay chân núi Ba Vì.
Là con gái của Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, nhưng Vũ Anh sống và học tập rất đời thường, tự lực, kiên trì rèn luyện và đầy nghị lực, luôn nhẹ nhàng và duyên dáng.
Sau khi học xong lớp mười, tôi nhập ngũ rồi vào Nam chiến đấu. Vũ Anh được kết nạp Đảng ở trường, sau đó đi học ở nước ngoài. Vũ Anh được kết nạp Đảng cũng hoàn toàn xứng đáng, chẳng phải bàn cãi nhiều. Từ đó, chúng tôi không còn liên lạc với nhau nữa.
Sau gần năm mươi năm, hình ảnh Vũ Anh còn in đậm mãi trong tôi, một người bạn học có cái đẹp toàn diện mà tôi rất ngưỡng mộ. Mấy năm gần đây lớp chúng tôi có tìm lại nhau, tổ chức họp mặt, mỗi lần gặp lại mọi người ôn lại nhiều chuyện và không bao giờ quên Vũ Anh.
Trong cách ứng xử của người Việt, không khó để nhận ra một nét ‘văn hóa’ đặc thù, đó chính là “khôn lỏi”. Nó phản ánh trong mọi ngóc ngách của đời sống, và đang trở thành mối nguy hại trong thời đại hội nhập văn minh. Thói luồn lách, nịnh bợ cấp trên, để đón thời cơ, để giành suất “đi tắt đón đầu” mau chóng thăng quan tiến chức. Đội trên tất phải đạp dưới, họ chia bè phái để thu nạp người thân, họ hàng, đệ tử. Mặt khác lại thanh trừng những người có chính kiến đối lập, những người không xu nịnh, trung thực và cầu tiến.
(Ảnh minh họa)
Đứng xếp hàng ở quầy thanh toán siêu thị, có hai đứa trẻ đứng gần nhau. Người mẹ đứa trẻ đứng sau bảo nó chen lên tính tiền trước, nó không nghe lời và vẫn xếp hàng theo đúng thứ tự. Khi ra ngoài, người mẹ ấy mắng con: “Mày ngu lắm, mua ít đồ thì giành tính trước cho nhanh. Chắc sau này ra đời toàn bị chúng nó ngồi trên đầu thôi!”. Đứa bé ngây thơ cúi gằm nhận lỗi. Thái độ bực tức của bậc phụ huynh kia không phải là cá biệt. Xuất phát từ tâm lý lo sợ con mình bị thiệt thòi, con mình bị mất cơ hội tốt, nên một số cha mẹ Việt dạy con thói khôn lỏi, đi tắt, nhằm đạt được lợi ích một cách ngắn nhất, dễ dàng nhất mà không phải tốn nhiều công sức học hỏi, lao động.
Từ những câu tục ngữ xa xưa: “Khôn ăn người, dại người ăn”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”... Đã phản ánh tư tưởng tiểu nông bao gồm những thói quen, tập quán, phong tục, hành vi và thái độ ứng xử của người Việt với phương thức sản xuất nhỏ và những điều kiện sinh hoạt phù hợp với bối cảnh nông nghiệp, nông thôn dẫn đến cách nghĩ của họ cũng hết sức vụn vặt, lẻ tẻ, không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược, thiếu khả năng khái quát tổng hợp.
Thói cục bộ, bản vị địa phương cũng là một đặc điểm tâm lý nổi bật của người Việt xưa: “Một người làm quan cả họ được nhờ”, dẫn đến việc kéo bè kéo cánh, ít giao lưu mở rộng quan hệ nên đã hạn chế rất nhiều đến tầm nhìn cũng như sự phong phú về nhân cách.
Họ chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, chỉ thấy lợi ích cá nhân, không thấy lợi ích tập thể. “Bè ai người nấy chống/ Ruộng ai người ấy đắp bờ”. Sống trong một làng quây quần vài chục, nhiều thì trên trăm nóc nhà, nhà ai có việc gì thì chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, chuyện xảy ra ở đầu làng, cuối làng đã biết.
Dư luận tạo ra tiếng tăm, tai tiếng, điều tiếng. Điều này làm nảy sinh tâm lý sĩ diện cá nhân, sống phụ thuộc rất nhiều vào điều tiếng bên ngoài. Người ta sống theo dư luận và tự mình điều chỉnh ứng xử theo dư luận đó.
Khi giáo dục con trẻ, họ cũng dựa vào thói quen, dựa vào kinh nghiệm, lo sợ con em mình “khôn nhà dại chợ”. Do đó tâm lý khó tiếp thu cái mới, ngại thay đổi để an phận thủ thừa, quen nín nhịn, nín nhịn cả với điều chướng tai, gai mắt bởi “Một điều nhịn chín điều lành”, vì cái lợi của bản thân mà làm ngơ trước sự bất công xảy ra quanh mình.
Tư duy của ông bà cha mẹ Việt vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của lớp trẻ hôm nay. Và nguy hại là, khôn lỏi, láu cá đôi lúc còn bị đánh đồng với văn hóa ứng xử, được cho là cách thức giao tiếp khôn khéo, nhạy bén, thức thời.
Có lẽ rõ nhất vẫn là ở nơi chốn cơ quan, công sở. Thói luồn lách, nịnh bợ cấp trên, để đón thời cơ, để giành suất “đi tắt đón đầu” mau chóng thăng quan tiến chức. Đội trên tất phải đạp dưới, họ chia bè phái để thu nạp người thân, họ hàng, đệ tử. Mặt khác lại thanh trừng những người có chính kiến đối lập, những người không xu nịnh, trung thực và cầu tiến.
Nhưng khi ra ‘biển lớn, sóng to’, thói khôn lỏi, ranh vặt khó phát huy tác dụng, thậm chí còn khiến người Việt mất điểm trước bạn bè quốc tế.
Còn nhớ những vụ ồn ào về chen lấn, xô đẩy, lấy quá nhiều thức ăn tự chọn trong các chuyến du lịch nước ngoài của một bộ phận du khách Việt Nam cho đến các thương vụ mua bán lớn bị phía nước ngoài phạt vì vi phạm các điều khoản hợp đồng, và đau xót hơn là bị lừa đảo vì thói “tham bát bỏ mâm” của chính người Việt với nhau.
Một vị tiến sĩ cho rằng: “Thương lái Trung Quốc đặt hàng trồng khoai lang rồi bỏ chạy, sau đó đến thu gom dứa, cau non, sầu riêng non, bông thanh long… và tiếp tục biến mất. Ý đồ của thương lái Trung Quốc như thế nào chưa bàn tới nhưng trước tiên là do người Việt ham lợi”.
Còn theo nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền: “Khôn lỏi thể hiện tầm phát triển của dân trí xã hội còn chứa đựng nhiều ‘bản năng tự nhiên’. Trong một xã hội văn minh, sự giành giật bản năng hoang dã luôn cần được kiểm soát bởi hệ thống luật pháp/đạo đức. Nếu không, nó sẽ kìm hãm xã hội ở dạng chậm phát triển, thậm chí không chịu phát triển. Cái sự khôn lỏi lan tràn trong xã hội ta, tôi cho đó là điều đáng buồn bởi nó sẽ chi phối cơ bản lòng tốt nói chung của con người.”
Văn hóa ứng xử trong xã hội văn minh hội nhập là cả một quãng đường dài cần phải học hỏi, tiếp thu và không ngại phá bỏ những tư tưởng lạc hậu, hẹp hòi, bảo thủ. “Chân thành là sự khôn ngoan cao cấp” – Lời này có lẽ luôn thích hợp.
Sư thầy Thiện Đức (tục danh là Trần Minh Đức, SN 1964) là người bị thương nhẹ nhất trong số 3 nạn nhân hiện đang cấp cứu tại bệnh viện. Sư thầy này được xác định là bị nhiều vết đâm, rách ở trán, đứt động mạch thái dương. Đến giờ sư thầy Thiện Đức vẫn không ngờ học trò Thiện Huy gây ra chuyện lớn đến thế. Sư thầy Thiện Đức kể: lúc đó có nhiều người đang phụ làm bếp ở khu vực phía dưới và một số người vãn cảnh chùa. “Tôi nghe thấy tiếng Thiện Huy và sư thầy Nguyên Tuệ nói qua lại với nhau ở khu chánh điện. Tiếp đó Thiện Huy la hét lớn tiếng, nói nhiều câu, đại ý rằng, sẽ lấy dao đâm chém hết người trong chùa. Nói vừa xong, Thiện Huy chạy xuống bếp và gây ra sự việc...”, sư Thiện Đức kể. Ông thuật tiếp: “Thấy Thiện Huy cầm dao đi lên, tôi la lớn báo động cho sư thầy Nguyên Tuệ biết để chạy thoát thân nhưng Thiện Huy vẫn cố đuổi theo. Lúc này tôi cầm ghế nhựa nhằm chặn bước nhưng bị Thiện Huy xông đến, chém gục tại chỗ”. Diễn biến sau đó theo 1 số sư thầy kể lại, Thiện Huy đuổi vào am của sư cô Quang Ngọc thuộc khuôn viên chùa. Tại đây Thiện Huy vung dao đâm chém loạn xạ làm cho 3 người gồm: sư thầy Nguyên Tuệ, sư thầy Thiện Lĩnh và sư cô Quang Ngọc bị thương. Chùa Bửu Quang là ngôi chùa vốn yên bình từ trước đến nay Riêng sư cô Quang Ngọc đã 103 tuổi, bị tấn công trong lúc ngồi xe lăn, không kịp chạy thoát. Sư cô này đã tử vong trên đường chuyển đến cấp cứu tại bệnh viện Quân đoàn 4. Một số sư thầy khi tham gia khống chế Thiện Huy cũng bị thương tích nhẹ. Các nhân chứng khai báo với công an, khi gây án và khi bị khống chế, tước đoạt hung khí, Thiện Huy như 1 người…điên, cặp mặt trợn trừng, vẻ mặt vô hồn, lạnh tanh…
TRUY SÁT NGAY TẠI CỬA CHÙA THẾ LÀ CÁI ÁC CHẲNG CHỪA MỘT AI NGUY TAI! NGUY TAI! NGUY TAI! HỠI ÔI, ĐỨC PHẬT NHƯ LAI ĐÂU RỒI? SAO KHÔNG CỨU ĐỘ NƯỚC TÔI ĐỂ CHO BỌN ÁC KHẮP NƠI HOÀNH HÀNH?
Huế, 6-10-2016 Mai Văn Hoan
Ảnh: Sư thầy Nguyên Tuệ đang cấp cứu tại bệnh viện.
Sống hòa mình với xã hội, tôi thu lượm được nhiều kiến thức thực tế, đặc biệt là lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Điều này rất cần cho một người cầm bút. Đặc biệt là viết “Câu chuyện truyền thanh” cho đài phát thanh, một thể tài hấp dẫn nhưng khó viết nhất. Vì, câu chuyện truyền thanh là một vở kịch của báo nói. Nó vừa phải truyền tải những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống, vừa có tính văn nghệ của một vở kịch nhỏ. Các nhân vật của câu chuyện truyền thanh phải nói tiếng nói của tác giả. Vì vậy tác giả phải có vốn sống. Cuốn sổ tay của tôi luôn được giở ra để ghi chép “lời lẽ các nhân vật”. Nhà báo Phan Quang trong cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long”, xuất bản sau năm 1975 được tái bản nhiều lần đã có một nhận xét tinh tế: người Việt Nam từ đầu đến cuối đất nước, sống cách xa nhau hai nghìn cây số, nhưng Bắc Nam thoạt gặp đã dễ dàng nghe tiếng nói của nhau. Cùng một cội nguồn, cùng một ngôn ngữ dân tộc như vậy là lẽ đương nhiên. Không những ngữ pháp không thay đổi, từ vị thống nhất mà tôi còn ghi nhận một chi tiết hay hay: người Bắc và người Nam chi nhau hai phần của một từ kép, khi thì phần trước, khi thì phần sau. Chẳng hạn: dơ bẩn, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, chà xát, hay biết… người Nam dùng phần đầu. Ngược lại trong thóc lúa, lanh lẹ, nóng nực, dẫm đạp, đón rước, lừa gạt… người Nam lại lĩnh phần sau (Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Trẻ, tr. 412).
Trong những năm tháng rong ruổi ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã ghi thêm được nhiều ví dụ về sự “chia nhau” một từ kéo như thế. Năm ông Phan Quang tròn 85 tuổi, tôi đã gửi ra Hà Nội “mừng thọ” ông 100 từ kép được “chia nhau” như thế. Mời bạn đọc… xem chơi!
Tôi xếp các từ kép này theo thứ tự abc (chữ đầu) của từ: ô dù, ốm đau, buồn rầu, bơi lội, bóc lột, cố gắng, co kéo, chọc ghẹo, chán ngán, chặt đốn, cưng chiều, chén bát, chờ đợi, chửi rủa, chậm trễ, cần thiết, cạn kiệt, chia xớt, đưa rước, dạy bảo, dòmn ngó, dọn dẹp, dụ dỗ, đùa giỡn, đùi vế, đau ốm, đĩ điếm, khờ dại, điên khùng, dư thừa, giỡn chơi, đui mù, dòm ngó, dọa nạt, đe dọa, hư hỏng, hao tốn, hăm dọa, hối thúc, hù dọa, hung dữ, ham thích, hoảng sợ, hèn nhát, hư hao, ham muốn, lượm nhặt, nhờ cậy, kiểm điểm, khỏe mạnh, kêu xin, kỳ lạ, khờ dại, lựa chọn, lời lãi, lười biếng, mau lẹ, mồm miệng, may rủi, nôn nóng, mai mốt, ngăn ngừa, ngăn chặn, nón mũ, ngất xỉu, nhìn ngó, quậy phá, rơi rớt, rảnh rỗi, rượt đouổi, rầy la, tập dượt, thuê mướn, thay thế, tiêm chích, thưa kiện, tìm kiếm, trưng bày, tồi tệ, to lớn, trêu chọc, tuyển mộ, trông chờ, tránh né, thương yêu, trông coi, uổng phí, ưa thích, vâng dạ, vay mượn, rượt đuổi, sáng tỏ, sửa chữa, giúp đỡ, giành giật, gầy ốm, già cỗi, ghê sợ, say xỉn, phòng ngừa… hơn 100 từ ghép kể trên đều như nhận xét của Phan Quang. Ví dụ như đui mù thì người Nam nói đui, người Bắc nói mù. Câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà / còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”.
Có một nhận xét của nhà văn Nam Bộ cũng tinh tế chẳng kém gì Phan Quang là ông Sơn Nam. Đó là như tôi đã viết hàng trăm bài phát thanh, bài báo, bài bút ký trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Nam chí Bắc và cho ra đời đến 5-6 đầu sách về Đồng bằng sông Cửu Long. Một lần gặp Sơn Nam ở Sài Gòn, ông biểu tôi: ban đầu tao cứ tưởng mày là một thằng Nam Bộ, nhưng đọc kỹ, tao biết mày là một thằng Bắc Kỳ thứ thiệt. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi lại ông: vì sao thầy lại nhận xét thế? Ông già hóm hỉnh nói: mày viết hay dẫn chứng, hay đưa con số để chứng minh điều này điều kia… thằng Nam Bộ nó không thế. Thì ra là vậy. Do tôi cố gắng dùng ngôn ngữ của người dân Nam để viết, như ghi chép cả trăm từ kép để học cách nói của dân Nam Bộ nên ban đầu Sơn Nam tưởng tôi là Nam Bộ. Nhưng sự hay dẫn chứng, chứng minh của tôi khiến Sơn Nam phát hiện ra tôi là dân Bắc Kỳ! Và chính ông đã viết lời bạt cho cuốn “Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long” gần 400 trang của tôi do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2000. Báo Nhân Dân số ra ngày 9.5.2000 đã đăng bài viết đó của Sơn Nam.
Nếu những năm dạy học ở nông thôn miền Bắc đã cho tôi hiểu phần nào về cuộc sống và xã hội Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ thì những năm “dấn thân” ở Đồng bằng sông Cửu Long đã cho tôi hiểu tính cách con người Nam Bộ. Là người Việt Nam, người dân Nam Bộ có tất cả những ưu điểm và khuyết tật của người Việt nói chung, nhưng điều kiện địa lý, thiên nhiên, vị trí của mảnh đất Nam Bộ (xa phương Bắc) đã tạo nên những tính cách rất đặc trưng của người dân. Từ công chức, cán bộ trong bộ máy công quyền (xưa và nay) cũng như người dân nói chung họ có tính cởi mở, thẳng thắn, dễ tin người, ham vui trọng nghĩa, hồn nhiên đến hoang sơ… và đối với họ, không có nguyên tắc nào cả!
Tôi không phải nhà lý luận, nhà nghiên cứu, tôi chỉ là nhà quan sát nên dẫn ra đây vài ví dụ điển hình để góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà xã hội học. Vào đất Tiền Giang, tôi công tác ở Đài Phát thanh của tỉnh còn vợ tôi công tác ở công ty ngoại thương Tiền Giang. Ba năm liền, vợ tôi năm nào cũng được tăng lương, trong khi đó các người khác 3-4 năm còn phải xét. Khi họp chi bộ, có người thắc mắc với giám đốc công ty ngoại thương là ông Nguyễn Văn Khang (tức Ba Khang): cô Thuận (tên vợ tôi) mỗi năm mỗi tăng lương, anh em người ta thắc mắc nhiều lắm? Giám đốc Ba Khang mắng: chúng mày ngu vừa phải thôi… chú Khải, chồng cô Thuận ở bên Đài phát thanh, chú ấy có công với tỉnh, viết bao nhiêu bài giới thiệu Tiền Giang ra cả nước, bên ấy chúng nó ngu, không tăng lương cho chú ấy… thì bên này mình tăng lương cho vợ chú ấy cũng thế… thắc mắc cái gì! Không ở đâu có cái logic tăng lương như thế. Chỉ có các anh Hai Nam Bộ mới có cái tư duy logic kiểu đó. Nhưng xét ra… cũng không sai!
Để nói về tính cương trực thẳng thắn của dân Nam Bộ, tôi xin dẫn ra một ví dụ cũng khá điển hình. Những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ 20) còn chế độ bao cấp, phân phối đều. Tỉnh Minh Hải, vùng mặn nuôi tôm cũng được trung ương phân phối một lượng phân bón nhập ngoại như các tỉnh khác. Trong khi đó, Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao cần nhiều phân bón nên phải xuống Minh Hải mua phân dư thừa. Thời đó mua bán ngoài kế hoạch được cấp là một sai phạm nghiêm trọng. Khi đoàn của thủ tướng Phạm Văn Đồng vào kiểm tra, ông hỏi: vì sao lại mua bán phân bón, phải đình chỉ ngay. Chủ tịch Tiền Giang lúc đó là ông Sáu Bình trả lời: chúng tôi chẳng những không đình chỉ mà còn tiếp tục mua nữa vì dưới đó trung ương phân cho họ, họ không trồng lúa, thừa phân, trên này chúng tôi trồng lúa thiếu phân nên còn phải tiếp tục mua nữa(!) Có cho ăn kẹo thì một ông chủ tịch tỉnh ở miền Bắc cũng không dám cãi lại Thủ tướng như thế.
Người Nam Bộ hay nói thẳng. Vì thế, trước đây tướng Qua về nhà tôi, đã hai lần “than phiền” với ông bố tôi về tính nói thẳng của dân Nam Bộ. Một lần ông nói về ông Bẩy Trân. Ông Bẩy Trân như tôi đã nói ở đầu sách, ra Hà Nội để “nằm chờ” bố trí công tác quan trọng. Nghe đâu thời học trường Đảng cao cấp ở Moscow cùng với ông Trần Văn Giàu và ông Mười Giáo, ông đã có lần lấy vợ người Nga. Vì thế sau năm 1954, trung ương dự định bố trí đi làm đại sứ ở Liên Xô và cử ông đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Khi ông Trường Chinh vào giảng bài về lịch sử Đảng ông có nói, tổ chức thanh niên tiền phong ở Nam Bộ trước kia là tổ chức phản động thân Nhật. Học viên Nguyễn Văn Trân đứng dậy nói: thanh niên tiền phong ở Nam Bộ lúc đó do tôi cử Trần Văn Giàu đi gặp Phạm Ngọc Thạch để tổ chức ra nó. Tuy cái vỏ bên ngoài là của Nhật, nhưng cái ruột bên trong là của ta. Đồng chí không biết lịch sử Nam Bộ thì đừng nên giảng như thế! Tướng Qua kể lại cho ông bố tôi sự việc trên rồi kết luận: mấy ông Nam Bộ tập kết ra Bắc thẳng quá nên sẽ rước họa vào thân. Ông Bẩy nhà ta (vì lúc đó Bẩy Trân là sui gia với bố mẹ tôi) sẽ gặp nạn mất thôi. Chỉ ít lâu sau Bẩy Trân nhận được quyết định về hưu lúc mới ngoài 50 tuổi.
Trường hợp thứ hai là nhà trí thức Dương Bạch Mai. Cũng một lần, tướng Qua về nhà nói với ông bố tôi: trong một hội nghị trung ương, ông Dương Bạch Mai tuyên bố Mao Trạch Đông là tên thổ phỉ, không thể nghe ông ta được. Ông Nam Bộ này liều quá, rồi lại mang họa vào thân!
Hồi đó Mao Trạch Đông được xem như ông thần, ông thánh, lần đầu tiên tôi được nghe có người phê phán ông Mao là “thổ phỉ”. Sau này, tôi còn được nghe một người nữa, vào những năm đó, đã dám phê phán Mao Trạch Đông là thầy Nguyễn Văn Hạnh của tôi. Đó là năm thứ 2 của khóa Đại học Sư phạm văn (1963-1966) sơ tán tại Đại Từ, Bắc Thái, trong một giờ lên lớp về lý luận văn học, thầy Hạnh khi nói đến bài phát biểu của Mao trong “Cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An” đã phê phán “Mao Trạch Đông không có hệ thống, vì thế những bài phát biểu của ông không thể lấy làm căn cứ được”! Lập tức bài giảng của thầy Hạnh đã bị chi bộ lớp (gồm một số giáo viên cấp 2 được cử đi học để lên dậy cấp 3) báo cáo lên Đảng ủy của khoa! (khoa văn).
Nói về tính “hoang sơ” của dân Nam Bộ, tôi có một kỷ niệm rất vui. Đó là kỳ đại hội Đảng bộ huyện Gò Công tây tỉnh Tiền Giang, tôi với tư cách là nhà báo được mời đến dự. Khi tôi đến thì đại hội đã khai mạc, cờ quạt uy nghiêm. Ông trưởng ban tổ chức đại hội giới thiệu tôi như sau: xin giới thiệu có nhà văn Nguyễn Khải đến dự với đại hội chúng ta. Tiếng vỗ tay rào rào… Tôi hoảng quá, nói với vị trưởng ban tổ chức: xin anh cải chính cho, tôi không phải là nhà văn Nguyễn Khải, ông ấy lớn lắm, mang tiếng cho tôi. Vị đó nhất định không cải chính. Tôi năn nỉ thì vị ấy lấy tay gạt vào không khí, nói: Khải nào không là Khải!!! Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi mang danh nhà văn Nguyễn Khải để nâng ly, chúc tụng. Có vị đến cụng ly với tôi nói: tôi đã đọc tác phẩm “Cù Lam Tràm” của đồng chí rồi, hay lắm(!) mọi người lại cụng ly chúc mừng tôi! Thật là tưng bừng rôm rả!!!
Nói về tính phóng khoáng của dân Nam Bộ, tôi lại có ví dụ. Đó là vào năm 1994, Đồng bằng sông Cửu Long đang có dịch tôm chết rất lớn, thiệt hại nặng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi kiểm tra vùng nuôi tôm lớn ở Cà Mau. Khi ông Kiệt hỏi vị chủ tịch Cà Mau: vì sao tôm chết? Ông chủ tịch tỉnh trả lời “vô tư”: thưa thủ tướng tôm nó chết vì nó không thể… sống được! Mọi người đã cười rần! Tôi nghĩ chắc ông thủ tướng tức giận lắm. Nhưng không thấy ông nói gì… vậy mà đến hội nghị khoa học để bàn về vấn đề tôm chết năm ấy, ông Võ Văn Kiệt còn đem câu chuyện “tôm chết vì nó không thể sống được” ra kể để mọi người cười một mẻ nữa! Tôi có cảm giác ông Kiệt “thích” câu trả lời đó của chủ tịch Cà Mau. Sau hội nghị này, tôi có viết một câu chuyện truyền thanh (CCTT) nhan đề: “Vì sao tôm chết” để hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm. Mở đầu CCTT là đoạn thủ tướng đến kiểm tra vùng nuôi tôm… CCTT này đã được phát trên đài TNVN và sau đó nhiều đài phát thanh ở Nam Bộ đã phát lại.
Khi ông Võ Văn Kiệt qua đời, báo Cà Mau có bài “khóc” ông đăng đến 9 số báo liền (từ số ra ngày 16.6.2008 đến số 11.7.2008). Trong 9 số báo ấy có đoạn tôi đọc được như sau, đại ý nói có lần thủ tướng đi công cán đến một địa phương ở Nam Bộ. Một người bạn chiến đấu cũ của ông đến thăm và đưa theo một người thanh niên. Người bạn cũ nói với vị thủ tướng đương kim: tôi đưa cậu này đến để nó nhìn mặt cha nó, vì lúc mẹ nó chết đi dặn nó là phải đi tìm cha, cha nó tên là Võ Văn Kiệt. Nó chỉ yêu cầu thế thôi, không đòi hỏi gì nữa. Ông Kiệt đã vui vẻ tiếp cậu thanh niên này. Và còn giữ cậu ở lại chơi, cho coi TV. Ba ngày sau ông nói với cậu ta: bác đã nghĩ kỹ lại rồi, khi bác hành quân qua làng mẹ cháu, bác không có bạn gái nào ở đó cả, vì thế cháu không phải là con của bác. Nhưng bác nhận cháu là con nuôi, cháu về đi khi nào muốn gặp bác thì cứ lại. Cậu thanh niên kia cảm ơn thủ tướng rồi ra về. Ít lâu sau cậu đến gặp để xin lỗi thủ tướng vì cậu ta đã tìm thấy cha của mình là Võ Văn Kiệt trong một nghĩa trang liệt sĩ. (Tên thật của thủ tướng Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hòa).
Trên đời này ít có vị thủ tướng được kim nào lại gặp câu chuyện éo le như thế, và cũng hiếm có vị thủ tướng nào lại ứng xử một cách bình tĩnh và bình thản như thế, nếu không phài là một “anh Hai Nam Bộ”? Tôi cho là vậy. Vậy mà khi thủ tướng qua đời (ở tuổi 85) năm 2008, tôi có chủ biên một cuốn sách xuất bản đúng dịp kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, trong cuốn sách đó có 7 bài tôi viết về ông lúc còn sống cũng như sau khi ông mất. Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác của GS Tương Lai, Ts Nguyễn Xuân oánh, Ts Tô Vân Tường (nguyên phó thủ tướng chế độ Sài Gòn cũ) và Nguyên chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị… Tôi có đưa câu chuyện kể trên vào một bài viết của tôi như Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM khi duyệt đã cắt bỏ đoạn đó. Cả cái tên sách do tôi đặt: “hào Kiệt của Dân”, chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ Kiệt và chữ Dân viết hoa, để… chơi chữ! (ông Võ Văn Kiệt là hào kiệt của dân. Kiệt và Dân cũng là tên ông – Sáu Dân). Nhưng khi Nhà xuất bản đem bìa sách lên thành ủy để duyệt, trưởng Ban tuyên huấn là ông Phan Xuân Biên lúc đó nhất định không đồng ý cái tên sách như thế. Tôi hiểu ông trưởng Ban tuyên huấn quê ở miền Trung này muốn giữ “chén cơm” của mình thật cẩn trọng. Vì lỡ ra có người ở trên hỏi: vậy chúng tao là hào kiệt của ai? Không lẽ chúng tao là hào kiệt của quan à?
Cãi lý mãi, cuối cùng tôi vẫn thua vì người ta có quyền “xét duyệt”. Thấy tôi có ý định không in cuốn sách đó nữa vì không được chấp nhận tên sách do mình đặt ra, chị Thanh Hương lúc đó là giám đốc Nhà xuất bản tổng hợp Tp HCM “thương lượng” với tôi, hay là đổi tên sách là: “Hào kiệt Đồng bằng sông Cửu Long”! Tôi đem việc này kể với nhà thơ Thái Thăng Long, anh Long chửi thề: đù mẹ, thế thì chỉ bằng thằng Bảy Nhị thôi à?! (Bảy Nhị là Nguyễn Minh Nhĩ, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, một người nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long).
Cái sự kiểm duyệt ở chế độ độc trị nó kinh khủng như thế. Vì thế, có một nhà văn ở một nước XHCN bên Đông Âu trước đây đã có lần phải thốt lên: chúng tôi không có kẽ hở để suy nghĩ! (noud n’avons pas l’escape de pencer).
(Còn tiếp)
Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu
Nếu bạn bỏ thời gian theo dõi các kì tranh cử ở Mỹ, không chỉ gói gọn trong tranh cử tổng thống thì bạn sẽ thấy một yếu tố quan trọng nhất, đó là tiền. Muốn thắng trong tranh cử, thì tiền không là tất cả nhưng nếu không có tiền hay yếu thế về tiền thì gần như cầm chắc khả năng bại cuộc.
Tại sao? Vì đơn giản quần chúng thường không quan tâm nhiều đến kinh tế chính trị, quần chúng ít lãng mạn, họ chỉ quan tâm đến thực tế thay vì chính sách hay lý tưởng. Muốn họ quan tâm, không thờ ơ, bạn phải vận động, phải quảng cáo….hay nói đúng kiểu ngôn từ hà nội là phải đi tuyên truyền. Vì vậy, ai nắm truyền thông và giáo dục là một lợi thế cực lớn. Và ở Mỹ, nó nằm trong tay phe cánh tả, lý do các ông chủ của các tổ chức trên đa số là phe cánh tả.
Bất kì một tổ chức chính trị nào cũng vậy, muốn mạnh và duy trì được sức mạnh ấy dài lâu phải có nguồn tài trợ dồi dào. Vậy bản chất của một tổ chức chính trị lớn mạnh phải là nơi tích tụ của nhiều dòng chảy về tiền. Bây giờ, hãy đặt câu hỏi, tại sao người ta phải tài trợ cho bạn? Đơn giản vì bạn đã, đang và sẽ làm điều có lợi cho người ta. Tức một tổ chức chính trị nói thẳng ra là một tổ chức phân phát quyền lợi kinh tế chính trị và một đảng phái chính trị là một tổ chức lợi ích-tiền bạc ăn chia khổng lồ.
Nghe có vẻ bi quan nhưng đó là thực tế. Từ thực tế đó, ta suy luận đến nhiều vấn đề sau:
1. Chế độ dân chủ giúp hạn chế rất nhiều sự lũng đoạn trong kinh tế chính trị của một phe phái nào đó.
2. Cánh tả thường có lợi thế tương đối hơn cánh hữu vì là hệ thống cung cấp những đặc quyền (sẽ dẫn đến đặc lợi) cho giới giàu. Tuy nhiên, giới giàu không phải là một thực thể thống nhất mà nhiều phe phái, chưa kể các tiểu doanh thương muốn xóa bỏ các đặc quyền của giới giàu nên họ thường ủng hộ cánh hữu, dẫn đến cánh hữu vẫn có thể thắng thế nếu biết cách sắp xếp, chia chác lợi ích tốt hơn.
3. Tại sao phong trào dân chủ ở Việt Nam có vẻ “chẳng phát triển như bạn mong đợi”? Vì nó không thể so với chính quyền hiện tại ở mức độ phân phối lợi ích. Muốn nó lớn mạnh một cách rõ ràng thì nền kinh tế hiện tại của Việt Nam phải sụp đổ. Bạn không thể nói những lý tưởng trên trời kiểu như “dân chủ”, “nhân quyền” với người dân bình thường. Họ sẽ không nghe đâu, cái họ quan tâm phải là lợi ích trước mắt, phải là lợi ích của cá nhân họ, và khi họ thiếu thốn đến cùng cực, vượt qua ngưỡng chịu đứng của riêng mình thì họ mới nghe bạn với tâm lý hy vọng có sự thay đổi.
4. Nhìn vào “dòng chảy của tiền” bạn có thể hiểu ra rất nhiều điều.
5. Giới giàu nhiều tiền nhất sẽ luôn có lợi hơn trong mục tiêu định hướng quần chúng. Vì vậy, không bao giờ có cái gọi là tự do kinh tế tuyệt đối hay công bằng cơ hội tuyệt đối. Chính người dân phải tự nâng cao dân trí để tránh bị dẫn dắt bằng hai công cụ truyền thông và giáo dục. Và chính dân trí cao sẽ giúp môi trường kinh tế tự do hơn và nhiều cơ hội cho người dân hơn bằng cách xóa bỏ đi nhiều đặc quyền của giới giàu.
Ông cha ta có câu, “có thực mới vực được đạo”, nếu ngẫm đi ngẫm lại và khéo suy diễn với chân lý trên như đã trình bày thì quả không sai.