Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

· ĐAN RỖ LÊ THÀNH NGHỊ VỚI – NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHAO KHÁT ĐẾN NHỮNG MIỀN TRONG XANH


Đỗ Hoàng
Đan rỗ (1) Lê Thành Nghị vừa viết một bài “Nguyễn Khoa Điềm khao khát đến những miền trong xanh” (2). Bài viết khá dài nhằm tâng bốc, tụng ca ông quan to Nguyễn Khoa Điềm đứt gánh giữa chừng đã về vườn!
Bài viết chọn trong tập vô lối Cõi Lặng và những bài lẻ in trên các tạp chí báo giấy và tạp chí, báo mạng, công và tư để ca ngợi. Việc khen chê là quyền của mối người. Khen đúng, chê đúng thì bạn đọc tán thưởng, khen không đúng, chê không đúng thì bạn đọc phê phán trở lại. Điều ấy cũng bình thường trong văn giới. Bởi vì văn chương vô bằng cứ. Thời này khen, thời sau không khen, thế lực này thích, tầng lớp khác không thích. Không sao cả. Còn cái hay thì muôn đời ngưỡng mộ!
Chỉ biết rằng tập vô lối Cõi Lặng và những bài viết sau khi hồi hưu của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện một sự tiếc nuối quyền lực, bổng lộc, một sự uất ức, bực tức khi mình phải rời ngôi vị quyền lực to đùng, ngôi vị hái ra vàng tấn, ngọc tạ. (Đọc Cõi Lặng – Một tập sách yếu kém dưới trung bình – Đỗ Hoàng-vannghecuocsong.com)
Để bạn đọc khỏi mất thì giờ xin đi thẳng vào những câu Đan rổ Lê Thành Nghị trích dẫn để tâng bốc!
Trích dẫn câu “Mải miết trên hoạn lộ” của một ông quan to để khen thơ quan là không nên. Nguyên văn: “Anh mải miết trên đường hoạn lộ/ Ngảnh về quê hư ảo một vầng trăng” (Viết cuối năm).
Một người đam mê làm quan say hơn cả thuốc phiện, Nguyễn Khoa Điềm không dấu việc này. Ông nói toạc móng heo ra giữa thanh thiên bạch nhật, đảng viên ăn trước đồng bào, những thằng thấp học lại cao ghế ngồi.. Chứ không như nhiều kẻ khác “tôi làm cán bộ, làm cách mạng, tôi là công bộc của dân, tôi vì dân, vì nước, tôi không động cái kim sợi chỉ của dân, đạn bom chết chóc tôi lên trước, làmg nước theo sau, ăn nhậu tôi đi sau đồng bào đi trước…”. Nguyễn Khoa Điềm nói thẳng bằng thơ, ông đếch sợ hại uy tín đảng ông. Kệ! “Cứ thi dĩ nhôn chí cái đã”. Cho thỏa bong bóng! Nhưng ông có đảng viên đâu, ông bị tố cáo không đảng viên luồn sâu leo cao vào Đảng Cộng sản Việt Nam (3)
Dù Nguyễn Khoa Điềm chân tình bộc lộ mộng quan lại của mình một cách thành thật, người phê bình cũng không nên trích ra mà nịnh. Đấy là chưa kể một ông trùm tư tưởng – văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự vạch mặt nạ giả dối của mình ra để cho
bàn dân thiên hạ thấy bản chất thực của ông quan ta còn tệ hơn vạn lần ông quan phong kiến.
Ông quan phong kiến còn dè dặt hơn:
“Chưa được làm quan những ước quan
Làm quan mới biết khó vô vàn”
(Dặn con – Nguyễn Khuyến)
Quan lại – nhưng kẻ trị dân ngày xưa quá xấu xa để lại nhiều nỗi khiếp sợ cho đân lành:
“Miệng quan trôn trẻ”
“Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
“Bộ Binh bộ Hộ bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”
(Ca dao)
Từ thuở ấu trò đi học, các thầy cô dạy chúng ta đều nói quan lại chỉ phong kiến đế quốc là bầy xấu xa, không ai gọi cán bộ cách mạng như : Chủ nhiệm hợp tác xã, chủ tích xã, chủ tịch huyện, tỉnh là quan. Mà là “Anh cán bộ thì tôi bộ đội, anh xí nghiệp thì tôi dân cày cùng chung xây phong trào, chung xây phong trào đi lên…” (Lời bài hát Việt, nhạc Trung).
Lên một vài lớp nữa thì các cô thầy cho chúng ta biết thêm: Quan là chức quan, mỗi người giữ một việc gì để trị nước đều gọi là quan.(Hán Viêt từ điển – Thiều Chửu – NXB Văn hóa – Thông tin năm 2009)
Hoạn là làm quan – (Từ điền Hán Việt – Thiều Chửu – NXB Văn hóa Thông tin năm 2009)
Hoạn là nghề làm quan
Họan lộ - Hoạn đồ là đường công danh của bọn quan lại phong kiến – (Từ điển tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội năm 1967).
Vì quan lại phong kiến xấu như thế nên người Cách mạng không gọi là quan mà gọi cán bộ hoặc chức vị họ nắm giữ ví dụ như: Ông Trạch Văn Đoành, chủ tịch xã, ả Lê Thị Mẹt chủ tịch huyện… Và các từ quan lại, hoạn lộ không có trong giao tiếp , trong sách vở trong thơ ca Cách mạng. Chỉ trừ khi nói đến đế quốc phong kiến mới dùng đến chúng. Thơ ca Cách mạng sạch bóng các từ quan lại, hoạn lộ, tri huyện tri phủ, tổng đốc, tuần vũ, cửu phẩm…
Anh mải mê hoạn lộ thì làm sao anh đồng cảm nổi đau của nhân quần, anh là sao “đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác, dân đói khổ cơ hàn, thơ chết áo đắp mặt (Phùng Quán). Còn anh đã mải miết đi với quan thì thơ vô cùng lạnh nhạt, dân ứa lệ cơ hàn, quan sống vàng lút mặt!
Bài “Đi bên mùa thu” in tạp chí Sông Hương lần đầu từ thập kỷ 80 thế kỷ trước là bài thơ chẳng hay ho gì nếu chẻ sợi tóc ra làm tư thì lắm thứ rắc rối. Vì nó sống sượng khômg môt âm ba nên người ta quên đi, bây giờ Đan rỗ Lê Thành Nghị lại trích dẫn:
“Đã rung lên như lửa cháy
Một mùa thu đã chết tận xa xôi
Cho tôi sống bồi hồi
Trên chân trời rung cảm khác”
(Đi bên mùa thu)
“Tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) gồm những bài viết trong khoảng 10 năm sau chiến tranh. Vẫn còn xốn xang trong tâm hồn trước cái đẹp. Mùa thu và cô gái mặc áo vàng”.(Đan rỗ Lê Thành Nghị - Bài đã dẫn) Và tán tiếp: “Như để chuẩn bị cho khoảng lặng, hát một lời buồn có ưu tư của đắng cay từng trãi nhưng cũng đầy lạc quan vốn vậy.”
Thế hệ cha anh, thế hệ mình đã làm cho mùa thu sống lại, anh không rán mà xây đắp, anh bỏ mặc kệ nó xác xơ để mơ về “chân trời rung cảm khác”. Hóa ra cái mùa thu anh có được không đáng sống chút nào! Nguyễn Khoa Điềm đáng phê phán rồi nhưng Đan rỗ Lê Thành Nghị đáng phê phán hơn. “Người nói đi không hại, nhắc lại mới nguy!”
Đan rỗ Lê Thanh Nghị trích tiếp:
“Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành
Nỗi buồn đánh thức hy vọng”
(Hy vọng)
Hai câu này không phải thơ, nó là một chút sám hối của kẻ đã từng làm nhiều điều ác. Khi đương chức, đương quyền thì anh ra lệnh đốt sách, cấm xuất bản , cấm in ter net, cấm mạng, cấm tự do báo chí, đàn áp dân chủ tự do, đấy nhiều văn nhân vào tù, làm nhiều thi sỹ văn nhân sống dở chết dở, đánh quá nhiều dự án ma để chia chác…Nay về vườn anh mới ngộ ra một vài điều hiền lương nhưng nó quá muộn và quá lạc lõng!
Chưa hết Đan rỗ Lê Thành Nghị còn trích tiếp những câu đại sáo, đại rống, dao to búa lớn sượng sạo để tán dương:
“Bao giờ nơi nào anh đọc được mình
Qua nỗi đau nhân loại”
Đấy là anh không chịu đọc. Nếu chịu khó đọc, anh đọc được khi anh mơi nằm trên nôi, khi anh là ấu trò, đâu đợi đến lúc anh ngoài 70 tuổi.
“Thương người như thể thương thân
Thấy người hoạn nạn thì thương”
(Ca dao)
“Ăn mày là ai
Ăn mày là ta
Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày
(Ca dao)
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
(Ca dao)
“Đứa ăn mày cũng trời sinh
Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”
(Hải Thượng Lãn Ông)
Bài vô lối Sông Hương là một bài dài dòng, tù mù chung chung lập luận không đầu không cuối nhạt nhẽo, cũ ríc thua xa hàng nghìn lần bài tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà Đan rỗ Lê Thành Nghị vần tung hứng: “Cõi lặng cũng có tthể đã đến lúc trôi:
Đặt mình trên con nước, đầu hướng về biên, anh trôi đi
Cùng hình bóng những đền đài, những cạm bẫy của thời gian, nước mắt người đã chết
Anh trôi đi cùng phù du phiêu sinh vật, những tiếng chuông không ngày về…
Anh trôi đi
Không bắt đầu, không kết tthúc, không bờ bến
(Sông Hương)
Trôi đi và mang biết bao tâm sự, những sự tưởng như trải dài bất định, không bắt đầu , không kết thúc, bình yên và lặng lẽ, những tâm sự thấm thía lẽ đời, tiếng chuông không ngày về,thấm thía nỗi đau những cạm bẫy của thời gian, nước mắt người đã chết, nhưng không phải buông, không phải lãng quên, vây kín bằng những ký ức như những nốt trầm lan tỏa trên mặt sóng thời gian, không gian. Trôi nhưng vẫn nguyện làm hạt nước.” (Hết trích)
Tán thế này thì bó tay chấm com về sự nịnh thối! Những câu vô lối không phải thơ làm mình làm mẫy, giận cá chém thớt dẫn đến suy diễn sai nói sai không chỉ phương hại một người mà phương hại đến nhân loại, Đan rỗ Lê Thành Nghị chẳng tiếc lời:
“ Nhưng trên tất cả, Cõi Lặng là thì hiện tại ngỗn ngang thế sự . Đây là khoảng thời gian:
- Anh là một với cánh đồng
Cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ là những ngày gió gọi anh đi
Là chuyến về không hạn định
Chi tay với nắm đấm micro
Giã từ cà vạt...(Bây giờ là lúc) Một không gian tự do và thanh thản, đã có thể an , nhiên tự tại, một khoảng trời mênh mông bù đắp cho những gì bị mất trước đó…”(Hết trích)
Như vậy làm quan to đến đứng đầu trăm quan trong Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam mà như bị cầm tù thế sao? Không có một khoảng trời tự do nào và luôn luôn bị mất mát (!). Thề thì “anh mải miết trên đường hoạn lộ” để làm gì?. Hóa ra tất cả đều giả. Làm quan to cũng giả, làm thơ cũng giả, kẻ đan rỗ tụng ca quan lớn cũng giả.
“Bây giờ là lúc” là bài Vô lối tệ hại. Khi anh đang lên xe xuống ngựa, đi chuyên cơ ‘miệng quan có gang có thép, thì khi về thường dân anh cũng phải “giấy rách phải giữ lấy lề” ai lại ăn chịu với cỏ, cánh hẩu với quán cóc bao giờ!. “Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng “ kia mà! Cái anh thứ dân hạ đẵng cũng không mần như vậy. Rồi vì căm tức đồng liêu, cậu vợ mình sát hại phanh phui chuyện mình giả mạo giấy tờ man khai lý lịch Đảng, anh ta tự làm mình làm mấy: “Chia tay nắm đấm micro/ Giã từ cà vạt”. Nguyễn Khoa Điềm tưởng là chỉ có cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam mới xài micro, mới diện comle cà vạt. Nhầm to. Cái ấy nhân loại làm ra, Đảng Cộng sản Việt Nam đâu có làm ra. Nhân loại làm ra thì ai cũng xài được. Xin nhớ cho, Đan rỗ Lê Thành Nghị không nên tán bừa!
Rồi những câu:
“Hung bạo trên mạng, trên sàn diễn, trong lớp học
Hung bạo giữa bàn nhậu, trong cửa sau công sở, hung bạo đường phố
Hung bạo văn chương tố giác nặc danh
(Nghe tin hai nhà khoa học bị tai nạn xe máy)
Đây là những câu trong bản báo cáo của công an xóm gửi lên cấp trên. Không thể gọi đấy là thơ được. Gọi Vô lối cũng không xong!
Thế mà Đan rỗ Lê Thành Nghị ca không tiếc lời: “Sự ngang nhiên của cái ác, sự im lặng cam chịu của người tốt, sự phai nhạt niềm tin, sự tàn nhẫn hung bạo trong con người…Cái giá phải trả cho công cuộc làm ăn kinh tế, mặt sau của sự phát triển, khi đồng tiền và tiện nghi vật chất được đề cao quá đáng, văn hóa chưa được chú ý đúng mức, đẫ xuống cấp của đạo đức tinh thần diễn ra khắp mọi ngõ ngách của đời sống. Một số người trở nên hung bạo mất nhân tính. Họ lấy cảm hứng làm đau người khác làm thói quen sống của mình.” (Hết trích)
Nên viết thêm về hung bạo:
“Hung bạo bày các dự án ma để chia chác
Hung bạo với người đã chết
Hung bạo với lễ tang tướng công thần Trần Độ
Hung bạo cắt lời điếu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Hung bạo với tư tưởng tự do dân chủ
Hung bạo cấm in ternet
Hung bạo ngăn cản dân chủ, tự do
Hung bạo đốt sách nhà văn
Hung bạo bắt nhà văn cầm tù…”
Bài “Thời sự cuối ngày” thua cả một mẩu tin trên báo. Nó là lời của một cán bộ thôn ở Thừa Thiên – Huế thời nay:
“Tôi mừng cho nước sông Hương
Trong sạch
Tôi mừng cho nước tôi
Vẫn còn Thạch Sanh
Dù không ít tên Lý Thông đĩ bợm”
Thơ Nguyễn Khoa Điềm thời chống Mỹ chỉ là những câu hô khẩu hiệu phong trào cố động cho một phía đánh nhau trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, không có giá trị gì về nội dung và nghệ thuật. Vô lối của Nguyễn Khoa Điềm khi làm quan và về thường dân càng không có giá trị gì về nội dung và nghệ thuật. Nội dung thì giả dối, đại rỗng, đại ngôn, đại sảo:
Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống với người, chết vì người
(Cõi Lặng)
Dịch ra thơ Việt:
Yêu người tha thiết thiêng liêng
Nguyện cùng sống chết đảo điên vì người
(Đỗ Hoàng)
Nghệ thuật thì hầu như không có gì, chỉ là những kiểu viết vô lối hoặc nói vo sơ sài…
Nguyễn Khoa Điềm rất kém khi sử dụng từ ngữ và lạm dụng dùng từ Hán Việt chưa được Việt hóa: Vô ngôn, Hự tự, Hoạn lộ…
“Anh mải miết trên đường hoạn lộ”, Nói “đường hoạn lộ” khác nào nói “thuốc tân dược” , “tân dươch mới”, “tân niên mới”, “Xin tạm biệt hẹn gặp lại” …
Đan rỗ Lê Thanh Nghị tán dương “Nguyễn Khoa Điềm khao khát đến những miền trong xanh”, thế thì cái miền thời hiện tại đang sống đây, cái miền do những bậc tiên liệt cộng sản lãnh đạo nhân dân Việt Nam vùng lên giành độc lập và dựng được nước hôm nay là không trong xanh, còn nhiều dơ bản nên phải tìm một miền trong xanh khác! Đúng là nịnh quan lại hại hơn mười giết quan!
Hà Nội 12 – 5- 2016
Đ - H
(1) THƠ VỊNH GIỚI PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG VIỆT
Thừa một người đan rỗ
Thiếu một nhà phê bình
Đất nước mình thậm khổ
Văn chương bẩn chợ tình!
Đỗ Hoàng
(2) Bài in trên báo Văn nghệ số: 18 + 19 thứ bảy 30 tháng 4 & 7 – 5 -2016
(3) Đi thiên lý tìm công lý. Thư tố cáo gửi Đảng Cộng sản Việt Nam – Đào Nguyên Phương (Nguyễn Đức Đạo)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia

Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia
Kim tự tháp Mặt Trời (kim tự tháp lớn nhất) ở Bosnia.

Sau khi phát hiện thung lũng kim tự tháp lớn nhất thế giới tại Bosnia, các nhà khoa học lại tìm thấy chùm năng lượng bí ẩn phát ra từ kim tự tháp lớn nhất ở đây.

Kim tự tháp Mặt Trời nằm trong thung lũng Visoko thuộc Bosnia cao đến 220m, được coi là kim tự tháp cao nhất thế giới tính cho đến thời điểm hiện nay, cao hơn kim tự tháp Giza ở Ai Cập.
Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia - Ảnh 1.
Hình ảnh cho thấy rõ chiều cao và chiều dài cạnh đáy kim tự tháp Mặt Trời .
Theo Viện Vật liệu của Bosnia-Herzegovina và Viện Nghiên cứu Politecnico di Torino của Italia, nó được xây bằng vật liệu như bê tông siêu cao cấp. 
Theo Viện Đo lường Bosnia, mặt phía bắc của kim tự tháp Mặt Trời nằm chính giữa hướng bắc, dung sai chưa đến 1 độ.
Đáy kim tự tháp dốc 45 độ. Năm 2007, các nhà địa vật lý Đức dùng radar địa chất đã xác định được những hành lang bên trong.
Chùm năng lượng bí ẩn tại kim tự tháp lớn nhất thế giới
Năm 2010, các nhà vật lý Croatia đã nhận thấy những tia năng lượng xuyên qua đỉnh kim tự tháp trong vòng bán kính 4,5m.
Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia - Ảnh 2.
Kim tự tháp Mặt Trời trong sương mù.
Chùm năng lượng này xuất phát từ độ sâu 2.440m, có đường kính 4,5 m, tần số 28 kHz, phát ra dòng điện hơn 10 kilowatt, cường độ 3,9 V. và có tính chất liên tục.
Cường độ năng lượng gia tăng khi di chuyển lên trên và ra xa kim tự tháp. Hiện tượng này trái ngược với các định luật vật lý.
Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia - Ảnh 3.
Hình ảnh minh họa chùm năng lượng phát ra.
Đây có thể coi là bằng chứng "hữu hình" đầu tiên về công nghệ phi hertz (một loại sóng do Nikola Tesla nói đến) trên Trái Đất.
Năm 2011, các chuyên gia Italia và Phần Lan đã theo dõi hiện tượng siêu âm trên đinh kim tự tháp. Chùm sóng siêu âm ở dạng các khối 9.3333 Hz, có tần số cao nhất lên đến 28.3000 kHz.
Kim tự tháp Mặt Trời phủ bóng che kim tự tháp Mặt Trăng trước khi hoàng hôn buông xuống trong suốt mùa hè cho thấy rõ mối quan hệ thiên văn giữa 2 kim tự tháp.
Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia - Ảnh 4.
Kim tự tháp Mặt Trời trong thung lũng Visoko.
Giống như các kim tự tháp khác ở Trung Quốc, Mexico và Guatemala, kim tự tháp Mặt Trời bị bỏ hoang, đất và cây cối bao bọc um tùm.
Theo Viện thổ nhưỡng Liên bang Bosnia, kim tự tháp Mặt Trời khoảng 12.000 năm tuổi và được coi là kim tự tháp cổ xưa nhất hành tinh.
Phát hiện chùm năng lượng bí ẩn tại đại kim tự tháp ở Bosnia - Ảnh 5.
Nhìn từ xa, kim tự tháp Mặt Trời trông như quả núi.
Hàng vạn khách du lịch đã đến đây khám phá kim tự tháp Mặt Trời vì giá trị lịch sử và kiến trúc của nó.
Mexico cũng có kim tự tháp Mặt Trời. Nhưng so với kim tự tháp Mặt Trời của Bosnia thì nó quá thấp bé và non trẻ.
Kim tự tháp Mặt Trời ở Teotihuacan thuộc Mexico chỉ 2.000 năm tuổi và cao 60m. Nó được coi là thành tựu kiến trúc tinh xảo nhất của nền văn minh Maya.
Nguồn: Piramid Asunca, Ancient Code
theo Trí Thức Trẻ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

THĂM THẲM ĐƯỜNG VỀ ( 13 ) TT của HG


Kết quả hình ảnh cho hình ảnh cửa nhà tù?

13.
 
 

K
hông hề thấy có chủ ý, có ý thức gì, khi người ta kiểm tra người để sau đó tống gã vào phòng giam, gã đã kịp bỏ chiếc nhẫn vào miệng. Gã không nuốt vào bụng như một số kẻ trong trường hợp này từng làm, cái lưỡi khôn ngoan đẩy nó xuống dưới sát hàm răng khi gã há miệng cho người ta kiểm tra. Người cán bộ cũng không tìm thấy gì. Anh ta chăm chú ngó hai lỗ tai gã, đưa tay sờ cái đầu rối bù của gã vì tóc chưa kịp cắt, cũng không tìm thấy thứ gì. Rồi vạt áo, quần cũng được cũng được lần rất kĩ, nếu như có tiền hay đồ trang sức người ta sẽ ghi vào biên bản. Bị can chỉ được trả lại sau khi có quyết định trả tự do và ra khỏi nơi đây. Việc ấy đã trở thành một quy định bắt buộc ở một nơi như thế này. Đã từng có trường hợp kẻ lưu manh chuyên nghiệp cất giấu vàng tiền, ma tuý trước khi tống giam. Nơi giấu, cách giấu muôn hình muôn vẻ. Có đứa tiền cuộn tròn như điếu thuốc nhét vào hậu môn. Có kẻ vo bẹp cái nhẫn nuốt vào bụng. Cách này khó bị phát hiện nhưng cực kỳ nguy hiểm. Gã đã từng được chứng kiến ở những lần bị bắt trước đây. Kẻ liều lĩnh ôm bụng lăn lộn kêu đau, mặt tái dại, mồ hôi đầm đìa vì bị thắt ruột, ngay sau đó người ta phải đưa hắn đi bệnh viện để mổ lấy vật lạ trong bụng ra. Y đã kịp thời biến cái rủi thành cái may. Chưa khô vết mổ y đã tìm cách trốn ra ngoài mặc dù trại vẫn có người được phân công theo dõi y ở bệnh viện. Chỉ cần anh ta sơ hở trong lúc đi vào toa lét, hay một việc sinh hoạt cá nhân đột xuất nào đó, y đã có thể thoát ra ngoài. Có thể thân nhân hay đồng bọn của y chờ sẵn ở đâu đó đưa y trốn đi. Y không thể đi một mình vì còn quá yếu sau khi mổ .
Hoặc giả như chiếc nhẫn không bị tắc trong ruột, hai ngày sau nó sẽ được đường tiêu hoá tống ra ngoài, lúc đó chủ nhân của nó sẽ dùng nó như bùa hộ mệnh. Có thể đút lót người giữ chìa khoá buồng giam. Nếu có cơ hội trốn được ra thì đó là phương tiện sống những ngày đầu của cuộc đào thoát. Hoặc ít ra cũng để phòng thân nếu không may bị đói hoặc mắc bệnh trong nhà giam.
Nhà tù thời nào cũng vậy, luôn có một kiểu chợ đen có thể đổi chác, mua bán bất cứ thứ gì chỉ trừ súng đạn, từng có kẻ sau khi ra tù có được vốn liếng không ngờ tới được, nhờ vào thứ chợ ngấm ngầm, ghê sợ này, mà khi vào chỉ có hai bàn tay trắng .
Quả thật ở một khía cạnh nào đó nhà tù là một xã hội, một thế giới thu nhỏ lại, nó cũng có những tầng bậc, số phận, tính cách muôn mầu, muôn vẻ. Cho dù người ta không ai muốn một lần, một ngày bước chân vào, dù gì cũng “nhất nhật tại tù”.
Có những chuyện gã nghĩ kể ra, cũng không ai tin. Tỷ như có kẻ dấu được cả một đoạn cưa thép hoặc chiếc đồng hồ Oren to như đít bát vào hậu môn và vẫn qua mắt người kiểm tra lục soát! Con người trước những thử thách, tình huống ngặt nghèo, thường phát lộ những khả năng kỳ lạ, khó tin.
Năm người dẫn từ bãi vàng được tách giam riêng chờ lấy cung, chỉ trừ  Thịnh và cô gái đi cùng, chiếu cố là nữ được được ở chung một buồng. Nhưng vì số phòng giam của huyện có hạn nên ba người còn lại tuy vẫn được tách riêng nhưng lại ở chung với các can phạm khác. Gã không nghĩ lại gặp anh chàng bị bắt lại bởi lệnh truy nã. Từ hôm chuyển từ uỷ ban xã xuống đây gần hai tháng rồi mà y vẫn chưa bị di lý về xuôi. Có lẽ người ta còn tạm giữ lại để điều tra thêm thời gian y trú ngụ, lấy vợ và sinh con ở Xuân Đô y có gây thêm tội lỗi gì không ? hiện y đang bị cùm một bên chân. cái móng cùm được y quấn một lượt giẻ cho đỡ lạnh.
Phòng này được thiết kế để giam những can phạm đặc biệt. Nhưng vì không còn chỗ, nên gã được đưa vào đây, không biết rồi gã còn phải ở lại chỗ này bao lâu? Buồng giam chật hẹp, nền xi măng chỉ bằng chiếc chiếu một, vừa hai người nằm. Bên dưới là một khoảng thấp hơn chạy dài theo bệ xi măng là lối đi. Phía giáp sát cửa ra vào là chỗ đặt cái bô đi đại, tiểu tiện. Trần nhà đổ bê tông dày. Một lỗ thông hơi nhỏ bằng nửa quyển vở hắt ánh sáng từ bên ngoài vào, khi sập cửa lại, gã thấy tức ngực,  như thể không khí bị nén lại. Trong phòng ánh sáng mờ mờ như trời sáng trăng suông lúc mây nhiều. Tuy vậy gã vẫn nhận ra anh chàng hôm gã lên xã do người vợ cũ đâm đơn kiện về chuyện đứa con. Kẻ kia thì không biết gã. Người ở trụ sở hôm ấy rất đông, với lại khi đó y còn lòng dạ nào để ý đến người xung quanh ?
Khi tiếng chân người trực ban đi xa, y hỏi gã:
- Làm sao mà vào đây?
- Đánh nhau!
- Ở đâu?
- Trên bãi.
    Y khịt mũi
-  Đúng là thừa sức khoẻ. Vào có bị tẩm quất trận nào chưa?
-  Không!
- Vậy chuẩn bị đi, kiếm cái gì đựng ít nước đái để xoa bóp là vừa. Thứ thuốc ấy không phải mua mà công hiệu lắm đấy!
Gã nghĩ bụng: Thằng này nghĩ mình vào đây lần đầu, muốn hù doạ, uy hiếp tinh thần hay tìm sự thông cảm đây? Nhưng gã không nói gì. Chẳng có gì hay để nói với y rằng gã không lạ gì những chốn như thế này! Gã kín đáo lôi chiếc nhẫn trong miệng ra, bỏ vào túi áo. Để làm gì lúc này Gà chưa nghĩ đến. Có lẽ bản năng sống, bằng cách vô thức gã đã hành động như vậy. Gã vừa mừng vừa lo. Mừng là còn giữ lại được chiếc nhẫn. Trong người gã có bao nhiêu tiền người ta đã giữ cả. Còn lo là lo nếu không may hành vi này bị phát hiện, hậu quả không lường hết được. Người ngay trở thành kẻ gian, vô tội thành ra có tội cũng không hiếm trong cảnh ngộ này.
Kinh nghiệm cho gã biết vụ việc vừa xẩy ra không đơn giản, nếu chỉ xẩy ra xô xát đôi bên, gây thương tích thì cách giải quyết cũng  không quá nan giải. Quá trình điều tra sẽ không kéo dài, nếu phải ra toà án phạt cũng không nặng. Chỉ là người liên quan, gã cũng không phải lo nghĩ nhiều.
Đằng này lại lòi ra vụ tiền giả của người bạn đi cùng với Thịnh. Không biết rồi sự vụ sẽ đi tới đâu? Kết thúc như thế nào? Liệu Thịnh có dính dáng gì vào việc này không? Một chút tình cảm vừa vụt loé lên với người con gái này, bỗng chốc vụt tắt. Bao nhiêu những giả định, những câu hỏi quay cuồng trong đầu. Gã thấy nghẹn thở. May mà vào mùa này trời không nóng nực. Không may, vào mùa hè chỗ này không chịu đựng nổi. Gã đã từng ở một nơi như thế này hàng tháng trời, gã không lạ. Nhưng khi ấy sức thanh niên cường tráng còn chịu đựng được, còn bây giờ tuy gã chưa già, nhưng cũng không còn trẻ. Sức lực cũng mòn mỏi đi đã nhiều.
Người bị giam cùng mở bọc đưa cho gã mẩu bánh mì. Y nói là cách đây mấy ngày vợ y lên thăm gửi vào cho. Gã không ăn. Không phải gã chê miếng bánh cứng như mẩu gỗ, mà chỉ là gã không có cảm giác đói. Tuy vậy gã cũng không muốn y phật ý. Những cử chỉ như thế này của người cùng giam với gã là rất hiếm hoi. Không như người ta nghĩ, đã vào đến đây người cùng cảnh ngộ đùm bọc yêu thương lẫn nhau. Mà thường là áp chế, chấn lột, xéo lên nhau để sống. Không khác gì lồng gà nhét cứng đám gà đói khát vào với nhau. Con nào mạnh thì sống. Phần đông đến nơi này là tầng lớp hạ lưu, cặn bã của xã hội. Những kẻ văn hoá lùn, nhân tính nhỏ bé, lương tâm rời rã và không biết danh dự, nhân phẩm là gì.
Gã nhiều năm như con cá bị thả vào giọ cua, nên gã thấm thía cử chỉ vừa rồi. Hôm ở sân uỷ ban xã gã chỉ nhìn thoáng qua, vì sau đó người ta dẫn y đi ngay. Lúc bấy giờ tâm trạng của gã không tốt, gã không chú ý đến xung quanh nhiều lắm. Gã chỉ phân vân tại sao trông mặt mũi y hiền lành, có phần nhút nhát thế kia lại có gan giết người? Bây giờ vào tới đây gã mới nhìn rõ mặt. Ngoài bàn tay trái có sáu ngón ra y không có gì đặc biệt. Đôi lông mày dài nhỏ như lông mày con gái, mũi dọc dừa, cặp môi mọng, khiến y có phần nữ tính nhiều hơn là đấng nam nhi. Cả giọng nói âm lượng vừa phải, rất trong khiến người nghe có cảm tình. Người như y lại là kẻ sát nhân kể cũng lạ? Ngay cả cái tên cũng không giống ai: Khúc Khắc Điều! Một cái tên nếu phải gọi nhiều cả họ lẫn tên rất dễ mỏi mồm! Có khi chỉ là cái tên giả vớ vẩn nào đó. Cũng có thể là tên thật. Nếu là giả, y đã không chọn cái tên dễ gây ấn tượng ấy làm gì.
Khắc Điều kể là từ hôm bị bắt lại, đưa xuống đây tuần nào vợ y cũng xuống thăm. Quà bánh không có gì nhiều, nắm cơm to mình y ăn hai bữa mới hết, vài cái bánh chưng hoặc bánh mỳ. Thuốc lào, thuốc lá vì hắn biệt giam nên không được nhận. Mấy ngày đầu hắn thèm thuốc không sao ngủ được. Đến nỗi đói, bụng sôi òng ọc, người ta mang cơm vào, y cũng không muốn ăn. Nhưng bây giờ thì y quen rồi, không thấy nhạt miệng nữa, người như khoẻ hơn. Y chỉ nhớ con, một trai một giái mà y gọi là hai cục bột. Vợ y cũng nhớ, nhưng không bằng thương nhớ con. Cô ta còn trẻ một ngày nào đó rất có thể cô ta sẽ lấy một người khác. Mà việc đó có xảy ra, y cũng không trách cô ta. Giết người đền mạng, nếu không bị tội chết, án phạt của y cũng không thể ngắn hạn được. Mười lăm, hai mươi năm, rồi y vẵn trở về. Nhưng hai đứa con của y sẽ sống ra sao những ngày ấy?
Gã hỏi y: Sao nghĩ như vậy mà còn phạm tội? Y cười thảm hại: Nếu biết trước được kết cục thì nhiều việc đã không xảy ra. Nhà tù sẽ bị thừa vì giảm đi rất nhiều tội phạm. Đó là sự kém hiểu biết của cá nhân y, và cũng là sự mù quáng của nhiều số phận. Ban đầu gã đã định không đả động gì đến thân phận của Khắc Điều. Câu chuyện của kẻ sát nhân phần nhiều là những chuyện hãi hùng, nhiều khi man rợ. Thường thì hung thủ có bộ dạng hung ác, nét mặt u tối, đầy sát khí. Không giống như kẻ ở cùng với gã lúc này. Khi Khắc Điều hỏi gã liệu người ta có xử tử hình y hay không? Gã mới hỏi tình tiết vụ án.
Khắc Điều kể cho Gã nghe về ngôi nhà, vườn nhiều cây xanh trong một ngõ nhỏ ở ngoại ô Việt Trì. Con đường sắt chạy băng qua khu dân cư hồi chiến tranh từng bị bom đánh tơi bời. Phía bên kia đường sắt có khu nghĩa địa. Người ta đã định di chuyển ra ngoài thành phố, xa hơn chút nũa. Nhưng không kịp. Những quả tên lửa, rồi bom hạng nặng trượt mục tiêu rơi xuống khu nghĩa địa. Có những ngôi mộ vừa mới chôn được vài tuần bị bom hất tung lên. Những tấm ván quan tài, quần áo vải liệm của người chết vương lên mái nhà của khu dân cư. Còn thấy cả những cánh tay, bàn chân chưa kịp phân huỷ dưới mộ. Nếu thực có chuyện động long mạch thì đây là lần động long mạch chưa từng xảy ra. Nhưng y không cho là vì thế mà mình vướng vào tội lỗi. Cho đến bây giờ y cũng chưa hiểu hết mọi chuyện bắt nguồn từ đâu? Khắc Điều là con một gia đình khá giả, có ông bố cực kỳ nghiêm khắc. Ông là cán bộ của ngành Tư pháp đang công tác ở Toà án tỉnh. Tuy làm việc ở cơ quan nhưng ông vẫn sinh hoạt cùng với gia đình. Điều đã có thời là một học sinh giỏi, được đi dự đại hội cháu ngoan Bác Hồ năm học cấp một. Ai cũng nghĩ y vào học một trường đại học ở Hà Nội . Nếu không mê đàn hát, có lẽ cuộc đời y đã theo hướng khác, bàn tay sáu ngón của Điều như có ma lực mỗi khi cầm cây đàn Ghi Ta.
Sau vụ Toán sồm bị bắt, những sinh viên ưa nhạc vàng đều có danh sách theo dõi. Đều bị đuổi học vì nhiều lần bị thanh niên cờ đỏ cắt ống quần loe và tóc để dài, lại có liên quan đến vụ án này.
Tuổi trẻ nhiều khi phản ứng với hoàn cảnh không đúng cách. Thay vì sửa mình cho êm chuyện, lại cố tình như bị trêu ngươi. Cho đến lần y cùng một số người bạn chống trả tốp thanh niên cờ đỏ thì bị đuổi học.
Điều không dám về nhà vì sợ gặp người cha tính nóng như lửa. Y lang thang cùng đám bạn theo các chuyến tàu xuôi ngược, kiếm sống bằng cách móc túi, giật đồ của hành khách trên tàu. Cho đến bây giờ y vẫn không hiểu là tại sao có lúc tàu đang chạy băng băng như thế mà y liều thân nhảy xuống vẫn không bị sao? Mà hai bên đường đầy gốc cây, đá tảng, cọc nhọn mà y không bị vỡ đầu, lòi ruột?
Lần cuối là chuyến tàu đi Yên Bái - Lào Cai. Y đã bóc được chiếc đồng hồ đeo ở tay của một anh bộ đội. Người này vẫn chưa hay biết gì vì vẫn đang gật gà ngủ. Y không ngờ người đứng gần đấy đã theo dõi y từ đầu đến cuối. Anh ta nắm chặt cổ tay Điều, khiến y đau nhói, buông rơi chiếc đồng hồ. Người mất của tỉnh giấc nhặt lại chiếc đồng hồ bỏ vào túi, muốn cho qua chuyện, sợ phiền phức dọc đường. Nhưng người nắm tay Điền vẫn cứ  ghì chặt lôi y đến chỗ nhân viên bảo vệ. Công nhận là tay anh ta rất khoẻ, cứng như đúc bằng thép. Y đã giẫy dụa hết sức mà không thoát ra được. Không kịp nghĩ gì, lúc đó y vòng tay ra sau lưng rút con giao nhọn. Sự việc xẩy ra quá nhanh, khiến y cũng không nhớ được tỉ mỉ nó như thế nào, chỉ nghe tiếng kêu “ ối ” thất thanh của người đàn ông cao lớn mặc quân phục, anh ta ngã vật xuống sàn tàu. Ngay đêm đó Đều bị giam vào đồn của công an đường sắt. Y trốn được ra ngoài vào đêm thứ hai nhờ cặp bản lề han rỉ của phòng giam. Y lên Xuân Quang từ hồi đó. Thay tên đổi họ mong mỏi sống đời bình lặng nơi rừng thẳm, núi cao.  Y không ngờ lưới trời tuy thưa, mà rộng..
Câu chuyện của y không mới, gã đã từng nghe nhiều chuyện ly kỳ, rùng rợn nhưng nó gợi cho gã nhớ lại câu chuyện của mình. Gã cũng đã từng bị nghi vấn vào tội giết người, đã từng vượt rào trốn trại. Cuộc chạy chốn của gã có tính toán tinh vi, tình tiết ly kỳ hơn rất nhiều, nhưng rồi cũng bị bắt. Hình như con người ta dù sao mặc lòng, khó mà chạy trốn được số phận, không biết kiếp trước mình ăn ở thế nào, mà kiếp này lại lắm đa đoan?
Đêm đó gã thao thức không sao ngủ được. Khắc Điều  có hỏi gã một câu gì đấy, gã vờ như ngủ say, không trả lời.
Bên ngoài trên một bọng cây khô nào đó có tiếng con tắc kè rú lên một hồi. Tiếng con chim lợn bay đêm  rờn rợn. Trong phòng giam tối đen không nhìn thấy gì chỉ một khoảng sang sáng mờ mờ ở lỗ thông hơi, mãi gần sát trần nhà. Gã ngạc nhiên thấy Khắc Điều co hai đầu gối sát lưng mình. Nếu một bên chân của y còn mắc trong cùm y sẽ không nằm ở tư thế ấy được. Y làm thế nào để rút được chân ra? Gã thấy hoảng nếu đêm nay y tìm cách thoát ra ngoài, chuyện gì sẽ xẩy ra? Không thể nói mình không liên quan trong khi ở cùng với y một phòng!
Nhưng chuyện ấy đã không xẩy ra. Sáng hôm sau gã hết sức ngạc nhiên móng cùm vẫn bình thường như cũ. Khắc Điều lại móc nó vào cổ chân quấn lại lớp rẻ, y bảo:
- Ông cứ coi như không nhìn thấy gì nhé. Gã quay mặt, vờ như không nghe thấy
Trong số bị bắt từ bãi vàng đưa về người ta chỉ giữ lại ba người, còn tất cả đều được tại ngoại chờ ngày mở phiên toà.
Người thứ nhất bị giữ lại là Liễu cô bạn đi cùng với Thịnh. Cô này người chắc lẳn, mắt sắc đối nghịch hẳn với tên gọi. Ngoài hành vi tạt a xít vào mặt nạn nhân, cô còn liên quan tới số tiền giả gần năm trăm đô mang trong người.
Tên Sướng bưởng bè vàng người Thái Nguyên đã được chuyển về bệnh viện bỏng trung ương. Vết thương của hắn khá nặng. Nó không phải bỏng thông thường, mà do hoá chất gây ra. Bệnh viện tỉnh chưa có thiết bị và bác sĩ điều trị loại vết thương này. Hoàn cảnh của Liễu rất éo le. Vợ chồng cô vừa li hôn. Anh chồng đã theo một cô diễn viên đoàn xiếc lưu động vào miền nam. Để lại đứa con gái ba tuổi hiện đang gửi ở nhà bà ngoại. Nếu không do tính chất phức tạp và có phần nghiêm trọng có thể cô còn được xét cho tại ngoại trước cả mấy người kia. Người thứ hai là Thành Cò. Hắn đã gây thương tích khá nặng cho một tên đồng bọn của Sướng. Đầu cây côn của hắn đã làm giập con ngươi một bên mắt tên này. Đến bệnh viện người ta đã không giữ được bên mắt cho y, đành phải khoét bỏ.
Lý do nữa hắn không phải là người địa phương, mà ở dưới xuôi lên. Chưa ai biết gốc gác hắn ở đâu ? Cơ quan công an hiện đang phát công văn về quê gã và đang chờ công văn trả lời. Còn một lý do nữa để người ta tạm giữ hắn. Đó là vụ cháy cửa hàng bách hoá do lão Sinh béo phụ trách. Hắn có tên trong danh sách những kẻ bị tình nghi mà lão Sinh báo cáo lên.
Người cuối cùng còn lại là gã. Không ai nói cho gã biết gã bị giữ lại vì tội gì. Cán bộ điều tra chỉ bảo hắn suy nghĩ kỹ để thành thực khai báo, khi cần người ta sẽ hỏi. Từ hôm đến đây đã được hơn nửa tháng. Sau buổi lấy lời khai hôm mới vào không thấy ai hỏi gì nữa, người ta làm như quên không có gã đang ở đây. Chính điều ấy làm gã lo ngại, thường thì sau thời gian chờ đợi yên lặng giả tạo thế này, sẽ gặp chuyện không hay. Sáu năm trước gã đã gặp tình trạng này khi bị đưa từ Lạng Sơn về quê, về trại tạm giam của tỉnh gã rồi sau đó đi biền biệt nhiều năm. Gã đã phải mặc quần áo phạm nhân có chữ cải tạo to tướng sau lưng mà chưa bước chân ra đến cửa toà án. Lần đến toà duy nhất trong đời hắn là vụ xử ly hôn của toà dân sự. Đó là nghịch lý gã từng phải chấp nhận, liệu nó còn xẩy ra lần này nữa hay không? Thành ra người ta không động tới, gã càng lo ngại. Thà rằng người ta cứ gọi gã lên nói cho gã biết gã phạm tội gì, còn hơn là cứ im lặng chờ đợi như thế này.
Chỉ đến lúc Thịnh quay trở lại thăm gã, mới biết ai ở, ai về. Gã mừng cho cô, lại thấy tủi cho mình. Cô bảo:
- Rồi cũng đến lúc anh được về thôi. Cây ngay không sợ chết đứng. Từ ngày anh về sống thế nào, xung quanh người ta biết cả, anh không phải lo, chỉ ân hận là vì em mà anh vạ vào thân. Nếu như em biết trước thế này em đã không đến rủ anh lên bãi. Gã cười chua chát:
- Người ta chết vì những cái “giá mà” “nếu như” ấy đấy Thịnh ạ! Nhưng không sao. Em không phải lo cho anh. Anh sẽ tìm được lối ra trong đám bùng nhùng này, chỉ phiền em tranh thủ lên nhà nói để mẹ anh yên tâm. Bà cụ khổ, anh về chưa giúp được gì, đã lại để mẹ phải lo nghĩ. Mà mẹ khổ vì anh đâu phải ít.., Đằng đẵng mấy năm trời.
Thịnh là người cứng cỏi, lúc này cô cũng ứa nước mắt:
- Được rồi. Em sẽ lên ngay nếu cụ có khó khăn gì em sẽ liệu cách. Anh cứ yên tâm chờ ngày giải quyết thế nào. Đừng có bồng bột làm điều gì…
Gã hiểu ý cô định nói gì, vội gạt đi ngay:
- Anh đâu còn trẻ con, em đừng lo.
Thịnh chỉ người công an đưa cô vào vẫn đứng cạnh đấy:
- May anh Mạnh gần nhà nói giúp em mới được vào gặp anh, theo đúng nguyên tắc là không được gặp đâu.
Người công an ngồi gần cái bàn cách chỗ gã một quãng. Anh ta nét mặt nghiêm nghị nhưng đôi mắt phảng phất buồn. Anh ngồi ngó qua cửa sổ phòng thường trực ra dãy núi phía bên kia sông, không có vẻ gì để ý nghe câu chuyện của hai người. Gã đưa mắt nhìn người công an, rồi rất nhanh ấn vào tay cô gái chiếc nhẫn. Thịnh chưa hiểu ý định nói lại câu gì đó, gã vội đưa một ngón tay lên miệng ra dấu im lặng. Gã nói nhỏ để cho Thịnh nghe:
- Cầm hộ anh cái này, anh giữ ở đây không tiện.
            Thịnh hiểu ý nhưng vẫn không biết đó là vật gì cô vấn tay áo rất nhanh để cái vật nhỏ gói mảnh bao thuốc, vấn thêm tay áo một lượt Thịnh hỏi:
- Anh có cần mua thêm gì không, lần sau xuống em mang?
Gã bảo:
- Không cần mua thêm gì nữa. Anh nhận chỗ bánh, còn đường sữa này Thịnh mang về, mẹ ở nhà không được khoẻ. Anh có ốm đau gì đâu mà cần thứ này:
Cô nói:
- Lát nữa về em sẽ mua cho mẹ. Nếu anh không nhận thì em đem về cho con cái Liễu. Nó nhờ em trông con bé khi nó còn ở đây. Nhà bà ngoại nó cũng nghèo. Thằng em cậu nó lại quá quắt không gửi con bé ở đấy được.
- Nhưng việc này cũng phải hỏi ý kiến mẹ với anh Nhân đã. Đột ngột đưa con bé về sợ cụ không bằng lòng.
- Mẹ thì em đã nói qua rồi. Cụ không nói gì, còn ông Nhân ở đây về, ông ấy có về nhà đâu, lại quay lên bãi vàng luôn. Ông ấy còn bảo em thu xếp xong quay lên chỗ ông ấy. Nhưng em thề không bao giờ bước chân đến những nơi ấy nữa. Đúng là một lần dại, vái đến già.
Hai người đang dở câu chuyện thì Mạnh nhắc:
- Hết giờ rồi, cô Thịnh thông cảm về đi. Sếp về lúc này rất khó cho tôi. May mà hôm nay ông ấy đi họp.
            Gã quay trở vào. Thịnh nhìn theo cái dáng cao cao, cái đầu hơi cúi. Một vẻ nhẫn nại đau đáu buồn.

Thành Cò đi cung về ngồi rũ ra ở góc tường, cái mặt thư sinh của y nhợt nhạt như vừa ốm dậy. Cho đến lúc này gã mới thấy lạ là tại sao một bà mẹ có dáng cô hồn lại sinh ra một thằng con có nét mặt dễ coi? Giọng nói của nó cũng ngọt ngào dễ cảm. Nếu không có tính tai quái thì đây là một mẫu đàn ông trọn vẹn.
Sau khi cho một số về tại ngoại, người ta dồn gã và Thành Cò vào ở chung với hai người nữa. Một người dáng phu đào huyệt: Đầu tròn, cổ ngắn, béo lùn, mắt trắng, môi thâm xì. Người này suốt ngày lầm lì nhưng đêm nằm cứ ri rỉ khóc. Vợ chồng xô xát với nhau vì chuyện con cái, ông ta lỡ tay xô vợ ngã đập đầu vào cối đá, vợ chết ngay không kịp ngáp.
Người kia tướng mạo như thầy phù thuỷ. Trên đầu ông ta luôn chít cái khăn cũ mầu đỏ, nước da nhờn nhợt, môi mỏng, đôi mắt tinh ranh hay nhìn ngang. Miệng như lẩm nhẩm câu gì không nghe rõ. Một tay cờ bạc có cỡ ở huyện này. Anh ta vào đây nhiều lần, nên quen gần hết công an huyện.
Trừ những lúc đi cung, còn thời gian anh ta ngủ như đang ở nhà, không tỏ ra vẻ buồn rầu hay lo lắng gì cả.
Bốn người ở chung một phòng không đến nỗi chật lắm. Đến bữa một phạm nhân cải tạo ở gần hết án được giữ lại làm tự giác bưng đến hai cái xoong nhôm. Một chiếc đựng mỗi người một nắm cơm, hoặc mẩu bánh mỳ. Canh rau để chung vào cái xoong còn lại.
Ngày đầu bốn người còn nói chuyện với nhau đôi ba câu. Sang ngày thứ hai trừ Thành Cò luôn miệng, gã và hai người kia ngậm tăm, không nói câu gì. Chỉ khi Thành Cò hỏi về một điều gì đấy gã mới trả lời cậu ậm ừ cho qua chuyện.
Nhưng từ hai hôm nay thái độ của Thành khác hẳn. Nét mặt y xám ngắt ngồi dựa lưng vào tường, duỗi thẳng hai chân, hai tay chống sang hai bên. Y không nói gì, chốc chốc lại thở dài. Có lúc y đưa mắt nhìn trộm gã, ánh mắt tỏ ra bối rối. Gã linh cảm như có việc xảy ra với mình. Kỷ luật của buồng giam là bị can không được nói chuyện với người cùng bị giam về sự vụ của mình. Chỉ được hỏi chuyện gia đình hoặc những việc khác. Nhưng thường khi, những quy định này ít được thực hiện. Can phạm do áp lực tâm lý, căng thẳng về tinh thần thường vẫn thổ lộ với người bên cạnh. Tất nhiên là vẫn giữ vẻ kín đáo, rì rầm chứ không ra mặt công khai.
Hình như Thành Cò giữ vẻ im lặng không phải là vì quy định chung ở buồng giam, Y im lặng là vì một lý do khác.
Ngày xảy ra vụ án mạng ở quê, Thành còn nhỏ tuổi. Sau đấy y có được nghe kể lại vụ án có liên quan đến Gã. Trong câu chuyện y cố gắng né tránh, không đụng đến những gì liên quan đến vụ án ấy, hoặc cố liên hệ và gợi lại câu chuyện này. Có lẽ y e ngại gã nhớ lại chuyện cũ mà trả thù mình. Đấy cũng là điều dễ hiểu. Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời. Người ta không dễ gì có cảm tình với thân nhân kẻ gây sóng gió cho cuộc đời mình, cũng là lẽ thông thường ở đời xưa nay. Nhưng gã không nghĩ như vậy. Dù sao thì việc cũng qua rồi và khi ấy, ông Đởm bố y chỉ làm theo phận sự. Một người nào đó ở cương vị ông cũng làm như thế. Oán hận ông mà làm gì? Đối với ông, gã còn nghĩ như thế, thì con ông đâu có vấn đề gì? Nhưng khi hắn cứ lấm lét nhìn mình như chó ăn vụng bột, gã sinh nghi. Con người ta có tật thường hay giật mình. Biết đâu hắn lại đang có một âm mưu gì? Mua án gán tội thường là chuyện xảy ra trong những trường hợp như thế này.
Ngày xưa khi còn cùng đi học ở nơi sơ tán, thằng anh hắn tên là Son không oán không thù đã gắp lửa bỏ bàn tay gã. Thằng ấy cũng cao lêu đêu, hai chân khòng khòng không bao giờ thẳng gối. Là thằng nhiều mưu mẹo dù học hành chẳng ra gì.  Nó học cùng khoá với gã, luôn hằn học nói xấu, bôi bác gã chỉ vì học lực của nó kém hơn. Trong khi nó theo đuổi một cô bạn học cùng lớp, bị cô từ chối thẳng thừng thì gã lại được cô để mắt đến . Một lần cô nhờ gã nhân tiện ra bưu điện bỏ nhờ lá thư về cho gia đình. Từ chỗ ở ra đến bưu điện phải qua một con đèo cao, tới nơi phải đến 15 cây số. Lá thư chưa kịp mang đi gã còn để trong tập sách trên bàn học. Nó đã tai quái thay ruột phong bì bằng tờ giấy lộn rồi dán lại. Gã vô tình vẫn đem lá thư thả vào thùng thư cùng bức thư đã gửi về nhà. Gã không hiểu vì sao sau đó ít lâu cô bạn khinh ghét mình ra mặt. Mỗi lúc gặp nhau cô nhìn gã ánh mắt nảy lửa, cô quay ngoắt, không thèm trả lời gã. Khi ấy gã còn để tâm đến chuyện học, chuyện tình cảm không chú ý lắm, gã chỉ hơi buồn một thời gian. Về sau bạn cô nói chuyện lại gã mới biết nguyên do, nhưng khi ấy cả hai đã không còn chút cảm tình nào.
Lần khác nó nhặt được chiếc đồng hồ của thầy Tổ trưởng bộ môn đi tắm bỏ quên ngoài suối. Đồng hồ nó đem đi đâu không ai biết nhưng dây xích đeo đồng hồ không biết tự lúc nào được bỏ vào cặp sách của gã. Gã đã vô tình làm rơi ra giữa lớp học trước mắt mọi người. Các bạn học nhận ra ngay đoạn dây đồng hồ của thầy vì khi đó nó là vật rất hiếm, thầy mang từ đợt nghiên cứu sinh từ Liên Xô về. Xảy ra nhiều chuyện rắc rối cho gã hồi đó khiến gã ân hận đã không tố cáo nó khi nhìn thấy nó nhặt được chiếc đồng hồ. Gã không sợ nó trả thù, không làm việc đó gã nghĩ nó là người cùng quê. Đã không giúp gì nhau trong cảnh xa nhà, thì cũng không đẩy nhau vào chỗ khốn nạn. Cái thằng cò hương có hàm răng vẩu ấy gây cho gã không ít chuyện bực mình. Trong những ngày trường sơ tán lên Lạng Sơn. Đến khi nó viết đơn tình nguyện nhập ngũ gã mới nhẹ cả người. Trường tổ chức buổi tiễn đưa tân binh lên đường rất long trọng. Nó được biểu dương có tinh thần yêu nước vì lá đơn của nó được viết bằng máu trích từ đầu ngón tay. Nhưng gã biết tỏng là nó học lực yếu, nếu học hết khoá, chưa chắc đã làm nổi đồ án tốt nghiệp.
Cái thằng có lòng yêu nước ấy, sau ngày Miền Nam giải phóng đã không trở về. Nó đã móc nối thế nào đó, chuồn ra nước ngoài, làm cho bố nó bị liên quan. Lão Đởm mất chức đợt ấy khi chưa đủ tuổi nghỉ hưu. Không hiểu bây giờ nó ở đâu, hay đã vùi thây ngoài biển cả làm mồi cho cá?
Một thời gã không tin vào nhưng chuyện duy tâm vì cho nó là không có căn cứ khoa học. Coi nó là thứ biểu hiện của những đầu óc mê muội, hồ đồ, tin vào những việc dị đoan. Gã không tin chuyện có những dòng họ, nhóm người “khắc” hại nhau truyền đời. Giờ ngồi nhớ lại, xâu chuỗi vào, hình như nó là việc có thật. Như dầu với nước dù có đánh lộn lên, trộn vào nhau thế nào vẫn phân tầng riêng biệt, không thể hoà tan. Gã đã tin phần nào thuyết ngũ hành, âm dương. Đời sống con người về phương diện xã hội là muôn vàn phức tạp. Có những nguyên nhân và hậu quả không giải thích được, mà thực ra chi phối nó lại bởi những dữ kiện không khó tìm hiểu, nếu người ta dụng công, biết phân tích có hệ thống.
Cha con Lão Đởm với gã không thù không oán mà sao mâu thuẫn mỗi ngày như thể nặng nề thêm? Mấy nhiêu năm rồi vẫn chưa dứt ra được, lại chuyện Thành Cò sắp mang đến điều gì nữa đây?
Một kẻ bẻm mép như Thành Cò mà phải nín miệng quá lâu là một cực hình. Cuối cùng nó cũng mở miệng:
- Anh ạ, có đơn tố cáo em liên quan đến vụ cháy cửa hàng ông Sinh béo. Không ngờ em hộ ông Chỉ đen vài buổi đào giếng lại sinh chuyện. ở hiện trường đám hoả hoạn có người nhặt được cái bật lửa. Anh còn nhớ cai Zíp Pô có lần em đưa cho anh hút thuốc không? Gã gật đầu. Nó là cái bật lửa hình chữ nhật vỏ ngoài bằng Inox mà lính Mỹ thường dùng ở chiến trường miền Nam. Sau ngày giải phóng thỉnh thoảng người ta thấy bày bán ở chợ giời. Một loại bật lửa dùng bền đang là mốt của những kẻ chịu chơi, bán với giá khá đắt- Thằng Thành thường đem khoe khéo với cách dùng điệu nghệ mỗi khi hút thuốc - Nhưng làm sao nó lại rơi ra chỗ đám cháy?
     Thành tiếp:
- Em không nhớ nó mất lúc nào. Nó bóng loáng, trơn tuột rất dễ rơi: Cũng có thể thằng Chột con lão Chỉ thó của em. Nhiều lần em bắt gặp ánh mắt thèm thuồng của nó từ con mắt còn lại. Nó mân mê gạ em để lại cho nó nhưng em không nghe. Vật duy nhất của anh Son còn để lại ngày anh ra Bắc. Bây giờ ông ấy sống chết ra sao cả nhà không ai biết. Có đắt mấy em cũng không bán. Không ngờ nó lại là tang vật người ta khép tội cho mình. Đúng là tội vịt chưa qua, tội gà đã đến. Đời em keo này hỏng mất.
Nói đến đấy nó rơm rớm nước mắt. Cái thằng mặt đẹp đầy nữ tính này quả là mau nước mắt.
      Gã cố giữ vẻ thản nhiên nghe nó nói. Nghe đến đây đành an ủi nó một câu:
- May rủi nó có số cả, lo cũng chẳng được. Lúc không may có chui vào ống cũng không thoát được.
Gã an ủi nó như thế nhưng vẫn thấy băn khoăn. Nếu sự việc chỉ như lời nó nói làm sao thỉnh thoảng nó lại nhìn trộm mình. Cái nhìn ấy có một uẩn khúc nào chăng?
Gã thử hỏi dò nó:
- Ngoài việc ấy người ta còn hỏi chuyện gì nữa không?
      Nó hơi đổi sắc mặt:
- Nhiều chuyện lắm. Toàn những chuyện em không biết gì cả!
- Thí dụ chuyện gì?
- Người ta hỏi em có biết về việc thằng Mai chém trâu nhà ông Chỉ không?
             Gã ngạc nhiên:
- Lại còn thêm việc ấy nữa à?
- Vâng, việc xẩy ra đêm trước hôm xẩy ra xô xát ở bãi vàng. Không ai bắt được tận tay thằng Mai. Nhưng người ta nghi cho nó, công an nói họ đã bắt nó lên uỷ ban, nó khai hết rồi. Họ hỏi em chỉ là để xem mức độ thành thực thế nào. Gã biết đó là phương cách nghiệp vụ của người lấy cung. Nhưng điều này không nên nói, ở nơi như thế này bức vách có tai, không có lợi gì mà biết đâu có như thế thật cũng nên.
            Mâu thuẫn giữa Sinh béo với lão Chỉ đen gã không lạ. Chẳng qua cũng chỉ là tranh mua, tranh bán lợi lộc đồng tiền, miếng ăn.
            Lão Chỉ đang thoả thuê bán mua, bỗng chốc có kẻ cạnh tranh. Kẻ cạnh tranh với lão lại hơn hẳn cả thế lẫn lực làm sao lão có thể ngồi nhìn kẻ đạp đổ niêu cơm của mình? Lão phải tìm mọi cách triệt hạ đối phương, câu chuyện lão Quảng vô mao nói với gã hôm nào cũng chứng minh việc đó, Quảng là một tứ chiếng giang hồ hắn có lắm mưu nhiều mẹo, hành sự song không để lại dấu vết. Đánh tan một múi bè, lão Sinh chịu không làm gì được lão Chỉ, mặc dù trong bụng biết là lão Chỉ mượn tay kẻ khác làm, nhưng nếu quả thực lão Chỉ mượn thằng Thành cò gây hoả hoạn cửa hàng bách hoá thì đúng là sự ngu ngốc. Thằng này là kẻ phiêu lưu có thể nó liều lĩnh làm, nhưng lại không có gan để giữ kín chuyện, thế nào người ta cũng lần ra manh mối:
            Có điều gã không biết buổi khai cung của Thành cò… Khi bị chất vấn dồn ép nó đã khai là nó nghi cho gã và lão Quảng làm việc này. Nó nói nguyên văn:
-   Tôi đào giếng cho nhà ông Chỉ, thấy nhiều lần ông Quảng và anh Khải uống rượu trong khi hai người này không hộ ông ấy việc gì. Ba người thường rì rầm bàn tán.
- Anh có nghe thấy họ nói gì không?
- Thưa ông, hễ thấy tôi đến gần họ lại thôi, lảng sang chuyện khác nên cũng không  biết cụ thể họ làm chuyện gì.
            Đầu óc nó cũng chỉ đủ khôn ngoan để bịa ra được đến đấy. Đó là cái may cho gã nếu không, sự việc diễn biến thế nào không biết đâu mà lường.
             Những điều này nó không nói gì với gã. Nhiều năm sau này khi lão Chỉ đi cải tạo về gã mới biết. Còn bây giờ ruột gan gã nóng như lửa. ở đời không thiếu gì những trường hợp cháy thành vạ lây, có khỏi được vạ, thì má cũng xưng, đã bao lần gã chịu tội rơm vạ đá, gã quá hiểu. Không lẽ cứ phải ngồi chờ tai hoạ trút xuống đầu? Hoá giả bằng cách nào đây? Bỏ trốn tránh đi một nơi nào khác ư? Điều đó không khó với kiểu thiết kế phòng giam ở huyện này vượt ra ngoài không khó. Bản lĩnh khốn nạn ấy gã được trau dồi những năm tháng ở tù, từ những câu chuyện giết thời gian vô công rồi nghề của những bạn tù, từ kinh nghiệm bản thân, gã biết điều ấy. Nhưng đây không phải là giải pháp hay, gã đã từng làm mà rồi có tránh được đâu? Chỉ trừ những kẻ bạo gan trốn ra nước ngoài còn ở trong nước sớm muộn cũng bị bắt trở lại, tội càng nặng thêm. Trốn ra nước ngoài đâu phải là việc ai muốn cũng làm được? Có sừng có mỏ, vàng tiền như nước mà đi không thoát nói gì một kẻ không đồng xu dính túi, không mảnh giấy hộ thân như mình? Tính chuyện này không thoát tội lỗi không còn là chuyện hình sự nữa. Một kẻ bỏ nước ra đi sẽ phải mang cái án phản quốc, một tội về chính trị mà tương lai mờ mịt không thể lường trước được. Một đi không trở lại là điều gã không muốn. Mẹ già, con dại đang chờ gã ở nhà. Không biết từ hôm gã ở đây bà cháu ở nhà sinh sống thế nào? Cái quán nước gã dựng cho bà ở ngoài bờ sông đón khách đi tàu có còn không? Hay hai bà cháu lại như ngày nào, cơm nấu một bữa ăn cả ngày. Lại bà đi trước cháu theo sau, mỗi bà cháu một cái bao tải bòn mót lại quả ngô sót người ta bỏ lại. Đêm đến lại sợ tốn dầu, hai bà cháu ngồi ôm nhau trong mái nhà tranh tối đen, im ắng như không có con người đang sống, đang tồn tại? Nghĩ đến đấy, gã thấy cay cay nơi sống mũi. Gã cố nén không để nước mắt trào ra.
Lão có nét mặt phù thuỷ lấy tay hích vào sườn lão trông như phu đào huyệt:
- Không biết làm cách nào mà cái giống thạch sùng ngửa mặt ôm được trần nhà, lại còn chạy được nhỉ?
Lão kia ngái ngủ:
- Ông hết chuyện rồi à? Làm cách nào thì mặc mẹ nó. Vớ vẩn!
            Gã nhìn lên trần đúng là có hai con thạch sùng đang ngửa mặt ôm lấy trần nhà. Chẳng những thế chúng còn vờn đuổi làm tình với nhau nữa cơ chứ. Mấy mẩu chân thì bé xíu trông mềm nhũn ra thế kia mà bám thế nào mà lại không rơi? Khả năng sống của chúng thật tài tình. Hoạ may chỉ có loài kiến mới làm theo như vậy được. Thế giới tự nhiên cứ phơi ra tất cả như không cần giấu diếm gì mà thực là khó hiểu. Một ý nghĩ liên hệ chợt nảy ra trong óc gã. Tình thế của gã khác gì con thạch sùng kia. Chỉ có điều còn chưa biết bám víu bằng cách nào?
Đêm hôm ấy gần sáng có tiếng súng nổ. Có tiếng người la ó, đuổi bắt ở bên ngoài. Trong buồng giam tất cả chợt thức giấc. Không rõ chuyện gì xảy ra.
Đến sáng người tự giác vào lấy bô đi đổ,  mọi người mới hay là đêm qua Khắc Điều đã phá cùm trốn trại. Không ngờ kẻ bề ngoài nom hiền lành như thế mà lớn gan. Nếu chỉ xét con người bằng vẻ bề ngoài thì khó mà biết được. Lá gan thường ở sâu trong nội tạng, bằng mắt thường quả là không dễ nhận biết. Gã cảm thấy may vì mình không còn ở chung phòng với gã mang án giết người này. Nếu không mọi chuyện sẽ ra sao?

      Tầm độ chín giờ gã được ra gặp người nhà. Gã tưởng mẹ lên thăm hoá ra không phải. Lâm bụng đã lùm lùm tay sách cái làn dáng điệu khép nép đang đợi gã ở phòng trực ban. Cô ta đến đây để làm gì nhỉ? Ngay từ hôm đầu tiên trở về gã đã nói rõ để cô ta hiểu: Người ta không thể đem tình yêu để trả nợ cho ân nghĩa. Cái ơn cô ta và gia đình chăm sóc gã năm nào khi gã vượt trại ra gã đã trả. Trả đủ cả tinh thần và vật chất. Sau đó cô đã quan hệ với nhiều đàn ông khác. Cô đã chạm vào cái đau đớn nhất trong đời gã đã gặp với người vợ đầu tiên, không còn gì để nói về chuyện tình yêu, có chăng chỉ còn tình người. Mà điều này thì gã đã làm khi Lâm theo người khác chỉ ít ngày rời khỏi nhà. Gã đã không gây trở ngại nào cho hai người, cho dù phận mình lẻ loi. Hay là lúc này kẻ kia phủi tay, xa chạy cao bay để cô bụng mang dạ chửa? Cô nghĩ lúc này tình cảnh gã khốn cùng gã vẫn chấp nhận mình? Có lẽ cô đã nhầm. Cho dù ngày mai gã phải chịu tội chết gã cũng không chấp nhận điều đó. Con ngựa khôn không bao giờ ăn cỏ lại, cỏ thừa huống hồ gã là con người được ăn học và đã trải việc đời? Dù cảnh ngộ bi đát thế nào gã cũng không để điều đó xẩy ra. Gã có thể mất tất cả, nhưng phải giữ cho được lòng tự trọng. Nếu không gã không còn là con người nữa. Gã chỉ nói đôi câu xã giao rồi xin trở lại buồng không nhận quà một chút nào cả. Lâm không nói gì. Có lẽ cô thấy cái kết cục xẩy ra, không thể khác được. Cô lau nước mắt, nét mặt ráo hoảnh, xếp mọi thứ vào làn bước vội ra khỏi phòng.
       Một cái gì đó gợn lên như một chút ái ngại, gã không dám nhìn theo dáng Lâm đang đi rất nhanh ra ngoài cổng công an huyện. Phải cố gắng lắm mới có dáng đi như thế với người đàn bà bụng mang dạ chửa. Lúc gã quay vào, gã kịp thấy hai bố con ông Chỉ đang ngồi ở phòng lấy khẩu cung. Thằng Chột cúi gằm mặt nhưng nhìn cái đầu tóc dựng như lông nhím của nó, gã vẫn nhận ra.
Gã nghĩ bụng mình phán đoán không sai. Không hiểu rồi lão Quảng có bị đưa xuống nữa không? 
Sau này khi mọi chuyện đã lùi vào dĩ vãng gã cũng không thể quên quãng thời gian này. Một khoảng thời gian gần mười năm trời truân chuyên bao nỗi. Từ 1973 đến 1983. Liệu có còn  một số năm tháng nào nữa cho đủ mười lăm năm lưu lạc của một kiếp người ý nghĩ ấy chợt đến khi gã liên tưởng đến đoạn trường mà Nguyễn Du tiên sinh đã sáng tạo trong Đoạn Trường Tân Thanh?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hàng trăm cô dâu miền Tây ‘tháo chạy’ khỏi chồng ngoại quốc


Cô Võ Thị Minh Phương ôm 2 con nhảy lầu tự tử năm 2012 vì không chịu nổi cảnh bạo hành của ông chồng Nam Hàn. (Hình: báo điện tử VNxpress)
HẬU GIANG (NV) – Vẫn còn cả ngàn “cô dâu miền Tây” đua nhau lấy chồng Ðài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc… để mong đổi đời, trong khi đó cũng có hàng trăm người vỡ mộng, tháo chạy về quê, kéo theo nhiều hệ lụy đau buồn.
Ðó là chưa kể từ năm 2000 đến nay, hàng chục cô gái đã bỏ mạng nơi xứ người, trong đó một số tự tử vì không chịu nổi cảnh ngược đãi, một số bị chồng sát hại. Nhiều người trốn được về nước nhưng sau đó trở nên điên dại…
Theo tin báo điện tử VNxpress, ngày 4 tháng 10, mười năm trước, qua “xem mắt,” chị Lệ Hằng, thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, kết hôn cùng ông Ðài Loan. Khi về xứ người, dưới sự hà khắc, đánh đập của gia đình chồng khiến tâm lý của chị bất ổn rồi hóa điên không lâu sau khi trốn về quê.
“Khi đi thì nó tỉnh táo, xinh đẹp còn về thì lúc điên, lúc tỉnh, nhìn khổ lắm. Bữa nào lên cơn điên là nó đốt, đập phá hết đồ đạc trong nhà. Số tiền trị bệnh tâm thần gấp hàng chục lần nhận được lúc gả con,” bà Thanh, mẹ chị Hằng, nói.
Cùng cảnh khổ, chị Trang ở quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, kết hôn ông Ðài Loan góa vợ và sinh được đứa con trai kháu khỉnh. Khi bé chưa đầy tháng thì cô bị chồng nhiều lần đòi quan hệ. Không chịu được những màn “tra tấn” của chồng, chị Trang bị khủng hoảng tinh thần, tìm cách về quê nhà, không lâu sau thì bị điên.
Về nước hơn 5 năm nhưng chị Lan ở thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, không thể quên được nỗi nhục ê chề về quãng thời gian làm dâu ở Nam Hàn. Tám năm trước, qua mai mối, một ông Hàn Quốc chọn chị Lan làm vợ. Cuộc sống hạnh phúc chỉ thực sự là những ngày hai người ở Việt Nam, chờ xuất cảnh. Ghi danh kết hôn với người chồng đẹp trai, có việc làm, chị nghĩ mình sẽ được đổi đời. Nhưng mọi thứ sụp đổ khi đặt chân đến Nam Hàn.
“Người đàn ông chung sống với tôi cả tháng trời thẳng thừng nói rằng chồng thật của tôi là em trai của anh ta, một người bị câm điếc, thần kinh,” chị Lan kể và cho biết sau đó tìm hiểu mới biết người cưới cô là chỉ chồng giả, đã bán lại cho người khác, chứ cả hai không phải là anh em.
Bị nhốt trong nhà, không còn cách nào khác, chị phải chấp nhận sự thật trớ trêu, làm vợ của người đàn ông bị tật nguyền. Khốn khổ hơn, khi ba chồng người thương chị như con ruột qua đời. “Mẹ chồng bắt tôi phải ngủ với con rể của bà để kiếm đứa cháu cho bà nuôi. Tôi cự tuyệt thì bị đánh đập dã man,” chị rùng mình nhớ lại.
Theo thống kê, năm 2015, Cần Thơ có 1,263 cô gái lấy chồng nước ngoài, chủ yếu là Ðài Loan, Trung Quốc, Nam Hàn… tăng gần 300 trường hợp so với năm trước. Cùng lúc, có 382 cô dâu về nước làm thủ tục ly hôn chồng ngoại, tăng 82 trường hợp so với năm trước. Tại Hậu Giang, năm qua có hơn 610 phụ nữ lấy chồng ngoại quốc, trong khi có 172 người về nước ly hôn.
Một cán bộ tòa án Hậu Giang cho biết, phần lớn các vụ ly hôn chồng ngoại đều do vợ đứng tên theo hình thức đơn phương và đang có chiều hướng gia tăng. Có rất nhiều nguyên nhân như: bị hành hạ, ngược đãi; bất đồng ngôn ngữ, văn hóa; không sinh được con; quá cực khổ nơi xứ người; hoặc trốn về nước vì phải “làm vợ” nhiều người trong một gia đình.
Còn theo bà Nguyễn Thị Hồng Khoa, chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ huyện Vị Thủy, Hậu Giang cho biết, hiện có hơn 300 phụ nữ lấy chồng Ðài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. “Giờ đây số lượng cô dâu trốn về nước xin ly hôn chồng ngoại tăng đáng kể, kéo theo nhiều hệ lụy về thủ tục ly hôn, con cái,… khiến chính quyền đau đầu,” bà Khoa nói. (Tr.N)

http://www.nguoi-viet.com/viet-nam/co-dau-mien-tay-thao-chay-khoi-chong-ngoai-quoc/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giải Nobel y sinh học 2016: tái sinh tế bào và triết lí Phật



Thế là giải Nobel y sinh học 2016 (trị giá 937,399 USD) lọt về tay của một nhà khoa học Nhật: Giáo sư Yoshinori Oshumi thuộc Học Viện Công nghệ Tokyo (Tokyo Institute of Technology). Chỉ một người duy nhất! Ông sinh năm 1945, và nay là 71 tuổi. Gs Yoshinori Oshumi là người Nhật thứ 4 được trao giải Nobel y sinh học, và người Nhật thứ 25 được trao giải Nobel. Với giải thưởng này, thuật ngữ autophagy bây giờ có lẽ không còn quá xa lạ với công chúng.



Giáo sư Yoshinori Oshumi 

Phảng phất triết lí Phật 

Đây là một phần thưởng xứng đáng, vì những đóng góp mang tính tiên phong của Oshumi trong 30 năm qua. Để hiểu ý nghĩa của công trình nghiên cứu của Gs Yoshinori Oshumi, chúng ta phải bắt đầu với protein. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta phải loại bỏ những mô và protein bị hư hỏng, và thay thế chúng bằng các mô và protein mới. Tiêu biểu nhất là trong xương, cứ mỗi giây phút, cơ thể chúng ta loại bỏ các xương cũ và thay thế bằng xương mới. 

Chu trình này xảy ra một cách liên tục, suốt đời, rất đúng với triết lí của Phật. Phật từng nói rằng vô thường già chết không hạn cùng ai, sáng còn tối mất trong một sát na đã qua đời khác, có thể hiểu là quá trình sinh – diệt trong cơ thể của chúng ta diễn ra mỗi giây, cho đến ngày chúng ta từ giã cõi trần. Cái triết lí Phật này rất quan trọng cho giới khoa học, vì dựa vào đó, chúng ta có thể có cảm hứng và ý tưởng nghiên cứu.

Một cách ngắn gọn autophagy là quá trình tái sinh tế bào (1). Mỗi ngày cơ thể chúng ta cần khoảng 0.8 g trên 1 kg trọng lượng cơ thể. Nếu tôi cân nặng 75 kg thì lượng protein tôi cần là khoảng 60 g. Nên nhớ đây là cách ước tính cực kì đơn giản, chứ trong thực tế thì phức tạp hơn, do lượng protein còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nói chung, cơ thể chúng ta cần khoảng 60 đến 80 g protein mỗi ngày. Nhưng mỗi ngày, cơ thể chúng ta đào thải khoảng 70 g protein. 

Ngoài ra, mỗi ngày cơ thể chúng ta cũng cần phải thay thế khoảng 200 đến 300 g protein để duy trì sức khoẻ bình thường. Vấn đề đặt ra là lấy đâu để thay thế, khi mà chúng ta chỉ hấp thu khoảng 60-80 g? Bí quyết là chỗ này! Cái bí quyết đó sau này chúng ta biết làautophagy – tế bào tái sinh. Nói cách khác, trong điều kiện thiếu thốn, các protein tự chúng tái sinh (recycling) để cho đủ khối lượng cần thiết. Cơ chế này cũng chính là cơ chế mà tế bào tái sinh. Các bạn có thể theo dõi bài giảng của chính Gs Oshumi trong video clip sau đây:

Ý nghĩa 


Phát hiện của Gs Oshumi chưa dẫn đến một phương pháp điều trị nào cả. Phát hiện về tế bào tái sinh chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về cơ chế bệnh lí, về sự tồn tại của chính chúng ta. Các nghiên cứu cơ bản thường là như thế, tức giá trị thực tế thì không cao cho đến khi một ứng dụng theo sau. Hiện nay, một số nhóm nghiên cứu xương đang thử nghiệm một loại thuốc để can thiệp vào quá trình autophagy nhằm giảm tình trạng mất xương.


Điều này quan trọng, bởi vì nhiều nhà quản lí khoa học đòi nghiên cứu khoa học phải có ứng dụng thực tế. Nhưng nếu có tầm nhìn lâu dài và tốt, không ai đòi hỏi như thế cả. Chúng ta phải chấp nhận một số dự án nghiên cứu mạo hiểm thì mới có cơ may có những khám phá nguyên thuỷ.

Cơ chế tế bào tái sinh có ý nghĩa lớn đến hầu như tất cả các chuyên ngành. Cơ chế này giải thích tại sao chúng ta có thể sống sót qua thời kì đói khát. Cơ chế autophagy cũng giải thích tại sao cơ thể chúng ta có thể tự sửa chữa những tổn hại như lành xương sau gãy xương chẳng hạn. Tuy nhiên, như Gs Oshumi nói, quá trình tế bào tái sinh vẫn còn trong giai đoạn phôi thai, nên có rất rất nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời. Chính vì thế màautophagy đang trở thành một xu hướng nghiên cứu thời thượng. Đặc biệt trong chuyên ngành loãng xương, rất nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới đang theo đuổi chủ đề này để hiểu biết hơn về loãng xương và cơ chế mất xương sau mãn kinh.

Gs Yoshinori Oshumi không phải là người đầu tiên nghĩ đến khả năng tế báo tái sinh (vì ý tưởng này đã được đề cập đến từ thập niên 1960s), nhưng ông là người đầu tiên phát hiện ra cơ chế này từ men làm bánh mì. Ông phát hiện những gen kiểm soát quá trình tế bào tái sinh, và đề ra cơ chế để hiểu về quá trình này. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ở Đại học Tokyo, ông sang Đại học Rockefeller làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ. Ba năm sau ông quay về ĐH Tokyo, làm nhiều công trình, nhưng chẳng đến đâu. 

Sau đó, ông quyết định theo đuổi một ý tưởng mà lúc đó chẳng ai nghĩ đến, đó là tìm hiểu cơ chế tế bào tái sinh. Ông làm trên men làm bánh mì, vì đó là mô hình đơn giản nhất. Nói là đơn giản, nhưng rất khó làm vì chất liệu sinh học quá nhỏ, nên ông phải hợp tác với các chuyên gia khác để khắc phục vấn đề. Sau khi thành công (ông công bố bài báo về autophagy đầu tiên vào năm 1988 trên một tập san không nổi tiếng), ông chuyển sang làm nghiên cứu trên người, và sự nghiệp bắt đầu "khởi sắc" từ đó.

Lời khuyên cho người trẻ

Gs Yoshinori Oshumi có vài lời khuyên cho giới khoa học trẻ rất chí lí. Ông nói rằng sau một thời gian loay hoay với hướng đi của người khác mà không thành công, ông nhận ra là ông phải có hướng đi riêng. Ông nói tôi muốn làm cái gì đó khác với người khác, và tôi nghĩ quá trình sinh huỷ sẽ là một chủ đề thú vị (I wanted to do something different from other people. I thought auto-decomposition was going to be an interesting topic).

Mà, thú vị thật, và ông đã mở một cánh cửa cho khoa học, hay nói theo ngôn ngữ khoa học, ông đã tạo ra một paradigm mới. Ông nói với giới khoa học trẻ rằng không phải ai cũng có thể thành công trong khoa học, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải đối diện với thách thức trong nghiên cứu. Thiết nghĩ câu nói này cũng rất thời sự tính cho các bạn đang theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Sự nghiệp khoa bảng và thành công của Gs Oshumi cũng là minh chứng cho câu nói:
"In science, the credit goes to the man who convinces the world, not to whom the idea first occurs."

Chú thích:

(1) Thuật ngữ autophagy có gốc Hi Lạp. Auto dĩ nhiên là "tự", và phagy có gốc Hi Lạp là Phagein, có nghĩa là "ăn". Do đó, autophagy có thể dịch là "quá trình sinh diệt tế bào" (mang hơi hám triết lí Phật) hay ngắn hơn là "quá trình tái sinh tế bào". 


Phần nhận xét hiển thị trên trang