Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Thăm thẳm đường về (12 ) TT

 Kết quả hình ảnh cho hình ảnh làng quê xưa
12.
 
 

C
húng ta hãy kéo lùi lịch sử khoảng hai chục năm. Khi ấy mọi người thường hay gọi gã bằng " Nó ". Nó thế nọ, nó thế kia v.v... Điều ấy cũng không quan trọng gì với một thằng bé 12 tuổi. Cách gọi như vậy không có gì miệt thị, xem thường hay có ác ý với một cậu bé. Sở dĩ dùng chữ " Khoảng " để tính thời gian bởi vì yếu tố lịch sử ở đây cũng không cần thiết lắm. Nó không cần đến sự chính xác. Không có số phận người nào hoàn toàn chính xác cả. Khi ta đứng ở góc độ này " Nó " thế này. Khi ta đứng ở góc độ khác " Nó " thế khác. Tất cả phụ thuộc vào chỗ đứng. Trong trường hợp này thuyết tương đối tỏ ra là một lý thuyết hấp dẫn, thuyết phục hơn cả.
Cái " Khoảng " thời gian ấy nó còn là một cậu bé gầy guộc, tóc cháy nắng, vàng như lông bò. Vẫn đi chân đất như hầu hết cư dân của vùng này, coi giày dép là thứ lạ lùng, xa xỉ.
Nắng héo ngọn cây, mặt đường như bị nung nóng nó vẫn không mũ nón đội đầu. Móng chân nó dài, sắc như vuốt mèo đang bám chắc vào thân cây tre để mấu, trèo mỗi lúc một cao lên cây gạo đơn độc giữa cánh đồng. Cây gạo to, nhiều cành cụt, lớp vỏ xám mốc xù xì, nhưng những từ cành cao hoa đỏ rực. Cảm giác có một đám cháy lớn rừng rực trên vòm trời đang nung nóng tiết trời cuối xuân sang hạ.
Dước gốc cây là toà miếu cổ. Ngôi miếu thờ Thành Hoàng của làng. Vào những năm loạn cư, ba làng tranh chấp đồng bãi bồi non. Ông Cả đã liều thân mình giành khu bãi hơn nghìn mẫu cho làng. Cảm cái ơn đức ấy, dân làng đã lập toà miếu này. Miếu tuy nhỏ nhưng được dựng lên trên gò đất cao. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát cả cánh đồng. Thời trước, bên cạnh miếu xây bằng gạch, phía sau còn hai gian nhà tre lá nơi để tuần phiên ăn nghỉ trông nom đồng bãi cho làng. Đêm đêm hễ có động là nghe tiếng tù và rúc lên văng vẳng. Dân làng tay dao, tay thước theo chỉ dẫn của đoàn, xã chặn các ngả đường săn bắt kẻ gian.
Sau này vào thời chống Mỹ, trên ngọn cây gạo đặt thêm cái chòi phòng không. Thoáng thấy bóng máy bay phản lực là tiếng kẻng vang rền. Dân quân du kích chạy ra hào trực chiến. Người già trẻ con vội vã xuống hầm.
Hàng trăm năm nơi đây từng là gò đất thiêng. Tai hoạ từ dưới đất, dưới sông tràn lên, từ trên trời rơi xuống đều được từ đây báo động khẩn cấp về làng.
Tuần tiết, ngày rằm mồng một làng xã đều có lễ vật phụng thờ. Là chốn linh thiêng không ai dám làm điều ô uế. Ngay cả lời nói người ta cũng phải dè chừng, e điều báng bổ.
Rất nhiều huyền thoại về ông Cả. Đời nọ truyền cho đời kia. Đời sau thiêng liêng huyền bí hơn đời trước. Những bộ óc giàu trí tưởng tượng tô vẽ cho câu chuyện về ông Cả mỗi ngày mỗi ly kỳ. Mãi cho đến cải cách ruộng đất, phá lề lối cũ, xây đời sống mới, những câu chuyện ấy mới bị lãng quên dần dần. Đình chùa còn không giữ được vẻ tôn nghiêm, nói gì đến ngôi miếu cổ? Người ta san ủi khu gò cao làm bờ vùng bở thửa. Ngôi miếu không còn dấu vết, như thể nó chưa hề có mặt nơi này.
Nhưng cây gạo cổ thụ người ta vẫn để. Là nơi trú nắng mưa giữa đồng quang mông quạnh. Còn một lẽ nữa để duy trì cái chòi canh chót vót trên ngọn cây.
Vào " Khoảng " thời gian như trên đã nói chưa xảy ra chiến tranh phá hoại. Phải ít năm nữa bầu trời xứ này mới nghe thấy, nhìn thấy bóng máy bay phản lực gầm gào. Khi ấy trên chòi mới treo thêm cái kẻng và có người túc trực suốt ngày đêm.
Còn bây giờ, khi mía chưa có đường, ngô lúc chưa gần đến ngày thu, cái chòi canh chót vót trên cao này bỏ không.
Chỉ có những đứa trẻ chăn trâu bò táo tợn, mới dám trèo lên. Những đứa nhát không dám vì từ trên cao nhìn xuống chóng mặt, rất dễ nhào xuống gãy cổ.
Trừ những ngày mưa bão hay vào mùa rét, nó rất thích trèo lên chơi. Trên đó có cái chõng tre nằm rất mát, gió cứ như quạt hầu. Nó nói khoác với bọn ở bên dưới rằng từ trên chòi nhìn rõ cả chùa một cột ở Hà Nội. Thực ra thì nó chỉ nhìn thấy núi Ba Vì xanh mờ ở phía tây, Tam Đảo xa tít phía đông. Từ đây về tới thủ đô ít nhất cũng phải ba mươi cây số, làm sao mà nhìn thấy được? Mắt người làm sao có được tầm nhìn xa đến thế? Còn chùa Một Cột sở dĩ nó dám nói là nhờ những bức tranh phong cảnh rẻ tiền, người ta bán ngoài chợ vào những dịp cuối năm. Những bức tranh sơ sài, mầu sắc loè loẹt của các hoạ sĩ không chuyên. Ấn tượng sâu đến nỗi nó cảm giác như đã đến tận nơi, sờ tay vào rồi.
Trẻ con thì giàu óc tưởng tượng. Những đứa không trèo lên chòi cũng tin là nó nói thực. Thậm chí chúng còn hình dung ra chùa Một cột cao to, lộng lẫy không kém gì nó.
Còn vì sao nó lại chỉ đứng hướng về phía nam của chùa một cột? Rất đơn giản! Đó là hướng mà hễ đêm đến, nếu trời không trăng sao, phía ấy bầu trời luôn có quầng sáng từ ánh đèn điện thành phố hắt lên. Phía ấy còn rất ít người thắp đèn dầu. Dù giàu, dù nghèo người ta cũng có vài bóng đèn điện. Tuy ánh sáng cũng chỉ vàng vọt, hạn hẹp, nhưng vẫn còn hơn chán vạn đèn hoa kỳ thắp ở quê.
Không có gì chán bằng đêm tối ở quê nó. Tối như bưng lấy mắt, làng xóm như bỏ đi đâu hết cả rồi...
Mọi khi trèo lên chòi, ngó nghiêng một lúc là nó lăn ra ngủ. Ở trên cao gió mát lại không muỗi rĩn quấy rầy. Nó lấy một đoạn thừng buộc ngang thắt lưng, cột chặt vào cái chõng. Nếu ngủ say có lỡ lăn ra ngoài thì sợi dây thừng sẽ giữ lại không bị rơi xuống đất. Ở độ cao ba bốn mươi mét thế này, vô phúc rơi xuống, có mà tan xương nát thịt. Tháng trước đã có vụ một người lớn ngủ ở đây bị rơi. Anh ta nằm cùng một người khác, chen nhau thế nào trong cơn mê ngủ rơi xuống. Cả thân hình giống như một bị thịt đỏ máu không còn nhận ra mặt mũi, hình dạng. Người nằm cùng lúc tỉnh dậy mới phát hiện ra, vội vã trèo xuống soi đèn, anh ta sợ đến líu cả lưỡi. Mãi sau mới trấn tĩnh được, anh ta rúc một hồi tù và cho người trong làng chạy ra... Những câu chuyện về ông cả một dạo đã lắng xuống, nhân cái chết của người coi đồng lại rộ lên. Người ta kháo nhau ông Cả thiêng lắm. Ông bị bọn người đối địch làng Hiu đâm chết khi còn trẻ nên vong linh ông rất thiêng. Những kẻ ăn ở không ra gì thường bị ông quở phạt. Trong làng đang rỉ tai nhau người coi đồng vừa bị rơi xuống đất phạm vào một trọng tội. Anh ta có người anh trai đi công tác đặc biệt ( đó là cách gọi những người “đi B” thời gian này. Mãi sau người ta mới nói lộ dần ra là đi B, đi C ). ở nhà chị dâu em chồng tí cháo, tỉ mẻ thế nào, bà chị dâu phềnh bụng. Chị ta xấu hổ bỏ nhà đi mấy tháng nay. Có tin chị ta lên Thanh Sơn Phú Thọ nương nấp. Lại có tin chị phẫn chí, trầm mình ngoài sông Hồng. Hàng chài lưới thôn  Vẽ vừa vớt được xác một người đàn bà bụng mang dạ chửa. Người này mặt mũi bị cá rỉa không còn nhận ra là ai nữa. Thành ra chuyện sống chết của chị vẫn là câu chuyện bán tín bán nghi chưa được kết thúc. Qua miệng người này là câu chuyện này. Người khác là câu chuyện khác. Cứ mờ mờ mịt mịt không biết đâu mà chừng. Từ đó, người ta rất ngại phải leo lên chòi. Trẻ con thì sợ không dám trèo nữa. Còn người lớn vì công việc bất đắc dĩ phải lên thì dù thức hay ngủ người ta đều buộc đoạn dây vào người như kiểu thắt dây bảo hiểm. Biết đâu lỡ phạm phải điều gì bị ông Cả ra tay thì sao?
Sống ở trên đời không thể lường trước mọi việc, ai cũng một lần da tới thịt, bụng ai cũng còn có cứt, tránh sao khỏi có lúc lầm, lỡ một việc nào đấy? Người ngay, kẻ gian, người tốt xấu đôi khi ranh giới cũng khó phân biệt. Nhiều khi bảo thế nào nên thế ấy. Nhưng đấng linh thiêng lại rất sòng phẳng, rạch ròi, không mơ hồ đơm đặt như miệng lưỡi thế gian.
Nó cũng sợ mất một dạo, không dám trèo lên chòi. Nhưng rồi tính tò mò tinh nghịch lại thôi thúc nó. Nó cảm thấy bứt rứt như bị đánh mất, đánh rơi thứ gì. Rủ bọn trẻ chăn trâu không đứa nào dám trèo, một mình nó cũng leo lên. Chỉ khác lúc trước là leo lên rồi buộc ngang sợi dây ngang bụng. Nó yên trí rằng có sợi dây ấy sẽ không gặp phải rủi ro. Tỷ như bị rơi xuống thật nó có khác gì con nhái bị treo lơ lửng? Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Số phận nó sau này gặp nhiều tai ương bất hạnh. Để trở thành một bị thịt nát thì không bao giờ.
Có một mình trên chòi, nó không thể trò chuyện với ai, chỉ có gió. Nó huýt sáo theo gió. Từ trên cao nó nhìn thấy toàn bộ quang cảnh của làng nó, khu trường học, trạm xá, nhà uỷ ban. Những con đường ẩn hiện dưới các luỹ tre.
Các luỹ tre chỉ tồn tại vài chục năm nữa vì dân số trong làng đông dần lên, tre là thứ cây giá trị kinh tế không cao, không bằng cây ăn quả. Người ta sẽ phá bỏ những khóm tre đã từng đi vào dân ca, dân ngữ. Sẽ không còn dáng tre xoã tóc trưa hè làm bóng mát cho làng. Làm nơi cò đậu mỗi chiều về.
Sông Hồng mùa nước như tấm lụa đào khổng lồ trải dài vô tận. Từ đây không thể nhìn thấy sông bắt đầu từ đâu, chảy tới đâu thì gặp biển. Chỉ thấy những con thuyền xa tít buồm trắng, buồm nâu thấp thoáng chân trời. Đầu óc non nớt của nó nghĩ tới những mảnh đất chưa từng đặt chân tới. Những con đường, dòng sông và những con người xa lạ. ở những nơi đó chắc hẳn cuộc sống không khó khăn tù túng như ở quê mình. Nó nghĩ ở những miền quê ấy không còn ai nghe đài theo kiểu quê nó. Người ta đã có máy bán dẫn không cần đến cột ăng ten tua tủa lên trời của loại đài ga len, nhìn giống hộp đựng thuốc lào. Hoặc giống như hộp xi đánh giầy, chỉ từng người nghe được. Nghe bằng cách dí sát vào lỗ tai, tạp âm lào xào phải lắng tai tập trung, chú ý mới nghe thấy nói gì. Chỉ cần đụng mạnh tay là chiếc kim dò sóng trên cục vàng non lệch chỗ, không nghe được gì nữa. Dò vã mồ hôi mới gặp làn sóng điện ở một điểm khác trên cục kim loại xù xì giống cục thiếc không có góc, cạnh, không rõ hình gì.
Vậy mà những nhà kha khá một chút mới có được. Vài chục mét dây đồng, vài chục mét dây điện có vỏ bọc chăng từ trên trời xuống đất đâu có ít tiền? Lại phải là người tỉ mỉ khéo tay mới làm được hộp chỉnh sóng, ống nghe rất cầu kỳ. Thời ấy thuật ngữ: " Thông tin ", " Tin học " còn xa lạ trong vùng. Có một ống nghe đài như vậy với nhiều người vẫn đang là mơ ước... Mọi khi nó cứ nhìn đông, nhìn tây mà lan man như thế. Sau đó làm một giấc ngủ rồi dong bò về. Nhưng hôm nay nó không đầu óc đâu mà vẩn vơ những chuyện như vậy. Đang có một việc đột xuất chờ nó ở nhà. Nó chỉ lên lấy cuốn sách gài dưới mái chòi rồi xuống ngay.
Vừa mới sáng ra, hôm nay đã thấy ông Trạng Nguyên đến nhà. Vẫn đôi mắt toét nhèm, quần ống thấp ông cao, vẫn giọng lập bập quan trọng nói với mẹ nó:
- Hôm qua em để quên không đưa bác. Còn cái công văn. Bác cho người lên huyện lấy sách. Hợp tác xã ta được phân phối “sản phẩm văn hoá”. Nếu không lên người ta sẽ đưa vào kho, lúc muốn cũng chẳng lấy được. Quyền lợi cả, chả tội gì phí của trời!
Mẹ nó bảo:
- Nếu vậy chú lấy thêm hai người nữa mang xe đạp đi mà lấy ngay đi.
Ông Trạng Nguyên vội xua tay:
- Xe đạp chở hết thế nào được. Hôm ở xã trên người ta phải mang xe cải tiến mới chở hết đấy. Mà xếp có ngọn nữa cơ. Ông Huyện oái oăm thật. Đang lúc này cứ cho vài tạ urê có tốt hơn không. Cho sách người làng mấy ai biết đọc? Hoạ chăng có đám trẻ con. Nhưng chúng còn đi học, cứ ôm quyển truyện cả ngày thì học hành gì?
Mẹ nó bảo:
- Chú nói ở đây với tôi thì được. Nói chỗ khác là không nên. Người ta sẽ bảo “quan điểm, lập trường” của chú chưa vững vàng. Trên có chủ trương việc gì là đã có nghiên cứu, ta cũng không thể không tin tưởng. Có sách báo mở mang dân trí, kinh tế càng phát triển chứ.
Ông Trạng Nguyên gãi đầu:
- Là em cứ thực thà như thế. Không tin tưởng trên thì tin ai? Nhưng mà cho chừng ấy sách vào lúc này em thấy nó thế nào ấy. Huyện đã cho thì ta cứ nhận. Chỉ có điều mang về để đâu? Không khéo chuột gặm thì rách việc.
- Tạm thời cứ mang về văn phòng ban quản trị. Tủ đựng sách, nhà văn hoá ta làm sau.
- Vậy em lấy thêm ba xã viên nữa đi cùng bác nhé.
Mẹ nó gật đầu. Ông Trạng Nguyên thập thĩnh đi ra ngõ. Bộ quần áo gụ cũ chuyển màu giun đất chẳng có vẻ gì là ông Trạng. Người ta gọi thế chẳng qua là bông đùa nhân cái tên gọi là Nguyên của ông mà thôi. Tên là Nguyên mà đời ông toàn chuyện dở dang. Bố mẹ mất sớm, vợ bỏ nhà đi. Ông có chân trong ban quản trị là nhờ thành phần cơ bản. Là anh cố nông, cốt cán từ cải cách ruộng đất. Có thời làm công an xã, ít chữ làm một thời gian rồi nghỉ. Ông như cái giẻ lau tay. Cán bộ hợp tác xã, cán bộ xã hễ cần đến người làm việc gì là gọi ông. Mở kho lấy ngô giống, thóc giống - Gọi ông Trạng Nguyên. Nhập kho thóc dự phòng, đỗ lạc dành cho xuất khẩu - Gọi ông Trạng Nguyên...Đến cái phích ở văn phòng hết nước, lo chè hết cũng ông Trạng Nguyên!
Có chân trong ban quản trị, ông hầu như không phát biểu ý kiến bao giờ. Trừ khi người ta gặng hỏi ông mới ậm ừ nói không rõ câu. Âm ngữ mờ mờ đục đục, phải có người khác tóm tắt ý kiến của ông mọi người mới hiểu. Nhưng không cuộc họp quan trọng nào ông không có mặt. Bởi vì nếu ông vắng mặt, ai là người lo trà, thuốc cho các vị? Và việc gì quan trọng ông cũng biết, chỉ sau Bí thư, Chủ nhiệm.
Ông cũng tự thấy mình quan trọng. Trong túi áo nâu to đút vừa quyển vở lúc nào ông cũng có quyển sổ bìa nhàu nát. Bìa sổ không biết dính các thứ nhựa gì, xam xám đen đen như nhựa khoai lang. Túi bên kia là nửa cái khăn mặt nhuộm nâu để đỡ xà phòng vì xà phòng rất hiếm và đắt. Cái khăn ấy được dùng để chấm vào đuôi mắt khi nhử xanh kéo ra quá nhiều. Cũng có khi dùng lau mồ hôi mỗi khi có việc phải vào bếp. Mà cái bếp ở trụ sở ban quản trị không mấy khi tắt lửa. Mùi sào nấu luôn từ đó toả ra khắp làng. Thời khó khăn, chẳng có của cải gì để người ta tham nhũng, như vài chục năm sau đơn vị tính bằng cây vàng, nhưng tệ ăn uống thì thật là ăn tệ ăn hại.
Trên túi áo ngực ông còn có thêm cây bút Trường Sơn mỏ cái nắp lộ ra bên ngoài. Bút mầu đỏ, quản bị dập quấn bằng mấy vòng chỉ khâu. Mỗi khi cần sự viết, phải tháo cổ bút ra, bóp mạnh vào cái săm đựng mực mới viết được vì nó luôn bị tắc. Cái lưỡi gà két đầy cặn mực tim tím trong ướt, ngoài khô không chịu xuống mực. Cả làng chỉ có lão Kính méo mồm là có cây bút Pắc Ke. Người ta đồn nhờ cây bút ấy, lão Kính làm được cả thơ. Lão ca ngợi bờ vùng bờ thủa, ca ngợi phân xanh, ca ngợi công ơn Đảng Bác. Lão thường đọc cho mọi người nghe vào những đêm văn hoá của làng. Một số bài đăng trên các báo ngoài Hà Nội. Có bài còn được ngâm trên đài. Kính méo nói lão đã dùng tiền nhuận bút mua cây Pắc ke làm kỷ niệm. Lão chỉ dùng nó cho việc “sáng tác văn học”. Còn các việc khác cần viết lách lão dùng bút thường. Loại bút ngòi bằng sắt trông như đầu lá lúa, quản bút bằng gỗ như mẩu đuôi chuột. Khi viết phải chấm ngòi vào lọ mực. Viết chừng nửa dòng phải chấm tiếp. Vậy mới có câu đố: " Không phải bò, không phải trâu, uống nước ao sâu, đi cày ruộng cạn " vài mươi năm nữa sẽ khó ai hình dung ra nó có hình dạng như thế nào. Còn bây giờ, cây bút này có thể nói là vật dụng có tính phổ biến rộng rãi trong cả nước.
Câu chuyện sáng nay giữa mẹ nó và ông Trạng Nguyên đã làm nó chú ý. Đây có thể là sự kiện đặc biệt đầu tiên xảy ra ở vùng này. Xe đi chở gạo, chở lúa mì cứu tế là chuyện hàng năm, vì hợp tác chẳng mấy vụ cân đối được lương thực. Năm nào cũng thiếu, cũng đói. Xe đi nhận vải vóc, thuốc men của “phe ta” viện trợ cũng có vài lần. Đi nhận sách vở, giấy bút cho học sinh được phân phối mỗi năm hai đợt.
Nhưng xe đi nhận sách văn hoá, văn nghệ thì là lần đầu có thể nói hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn năm nay mới có. Một vùng quê không xa thủ đô là mấy mà tờ báo quyển sách được coi là chuyện hiếm hoi. Tờ báo được người ta chuyền ta nhau đọc đến lúc không còn đọc được nữa. Tức là nó nhàu nát hoàn toàn, mềm như dưa, không rõ chữ. Còn sách càng được chú trọng chăm chút hơn. Bìa sách được bọc bằng vải dày quét nhựa cây hồng cứng bằng sơn ta. Sách lúc nào cũng sặc mùi băng phiến chống gián nhấm, chuột gặm. Chỉ đọc mươi phút người mũi bị xoang, phế quản yếu sẽ ho sặc sụa. Người có bộ máy hô hấp bình thường còn bị say. Không phải sách hay mà người ta say. Mà mùi sách rất khó tả. Băng phiến nhiễm vào lâu ngày, mùi mồ hôi của nhiều người, cả mùi ẩm mốc do không có nơi để thoáng gió. Sách thường để dưới chiếu, gối đầu giường. Đủ loại phân tử hoại mục của môi trường sinh hoạt tạo thành một hỗn hợp mùi vừa chua vừa hắc vừa nồng rất khó chịu.
Nhưng có một quấn sách là một điều may. Một thế giới khác, con người chỉ bằng ý thức của mình thôi có thể xâm nhập, giao du, hưởng lạc trong đó. Niềm say mê đọc sách của nó trở thành kỳ quái. Nó có thể đọc từ sáng đến chiều quên chuyện ăn uống, nếu không bị mẹ sai đi làm việc gì. Buổi tối nó đọc tới khuya, ngủ khi nào không hay. Có hôm suýt gây ra hoả hoạn. May mà nhà nó đã thay mái tranh bằng mái ngói. Nếu không hôm ngủ quên nó quờ tay đổ đèn, lửa cháy lên màn, nhà nó đã không còn. Một tàn lửa rơi trúng mặt khiến nó hoảng hốt tỉnh dậy, giật vội chiếc màn đang cháy nhem nhem.
Hôm nay nó sẽ dong bò về sớm. Nó sẽ đợi ở nhà. Thể nào khi sách về người ta sẽ vào báo cho mẹ nó biết. Những bông hoa gạo xoay tít rơi xuống như có ai chủ ý nghịch ngợm. Cũng không làm nó hứng thú theo dõi như mọi khi. Cả đám đánh trận giả đang chui rào rào vào nương mía của lũ bạn nó cũng không để tâm đến. Có đứa nào đó nheo nhéo gọi, nó cũng lờ luôn.
Nó phốc lên lưng bò, hai chân quặp chặt vào nách chỗ gần hai chân trước con bò, quất cho nó lồng lên. Con bò tỏ ý không bằng lòng, cứ quay cổ lại gặm vớt chút cỏ. Nó nhảy xuống quật túi bụi, con bò mới vùng vằng chịu ra đường. Nó vội chứ con bò đâu có tội. Đã là bò thì sách chẳng là gì. Cỏ mới là thứ quan trọng. Nó nghĩ như thế và thôi không đánh con bò hai bên bụng còn lõm sâu, có ý thông cảm. Ra đến đường to con bò mới chịu phóng nhanh. Nó thích thú cúi rạp xuống ra roi như người ta cưỡi ngựa. Lát sau nó đã về đến nhà. Bà nội nó đang ngồi đầu hè cạo tay khoai. Thứ khoai mọc dưới ruộng nước có những vòi dài bằng ngón tay nó mọc ngòng ngèo. Bà kém mắt nhưng những tay khoai bà cạo rất kỹ, không sót tý vỏ ngứa nào. Những ngón tay nhăn nhúm của bà rờ kiểm tra từng mẩu tay khoai. Chỗ nào sót bà lại cạo lại.
Bà không nhìn thấy nhưng tai bà lại rất thính. Nghe tiếng chân bò là bà biết nó đã về. Bà hỏi:
- Còn sớm sao mày đã về hả cháu?
Nó đáp:
- Cũng sắp trưa rồi bà ạ!
Bà cau mặt:
- Gà đẻ đã lên ổ đâu mà đã trưa. Mày chỉ được cái trí trá. Tưởng bà không nhìn thấy, nói gì cũng được à?
Nó ứng biến:
- Hôm nay nó đẻ muộn bà ạ!
Bà đứng dậy rờ rẫn đi vào nhà. Nó buộc bò ngoài gốc bưởi rồi vào theo. Bà đưa cho nó cái gói bằng lá chuối tươi, bảo:
- Có miếng bánh đúc cô Thực cho, bà dành cho anh em chúng mày đây. Ăn đi rồi vào nhóm giúp bà tý lửa. Nấu cơm kẻo nắng lên lại nóng.
Vẫn chưa thấy thằng em về. Em nó học thường không thuộc bài, lâu lâu lại bị thầy giáo phạt. Thầy không đánh, nhưng bắt đứng úp mặt vào tường, phải về sau cả lớp mười lăm phút. Nó đã cố nhắc em và chỉ bài cho nó. Nhưng em nó vào tai này ra tai kia, không nhập tâm được chữ nào. Chỉ được cái tròn như cối lỗ. Nhà ăn uống chẳng có gì mà hai má nó cứ phinh phính. Mông đít tròn như cái rá con. Được cái nó cứ hễ nằm xuống là ngủ, bên mép rãi chảy ròng ròng. Bà nội bảo mẹ nó với thằng em hợp tuổi. Mẹ với nó đều cùng mệnh thuỷ. Thuỷ với thuỷ không xung khắc như hoả với hoả, hoặc kim với kim. Nó chưa hiểu xung, hợp, thuỷ, hỏa là gì. Nhưng thấy mẹ thương em nó lắm, tuy bà không sinh ra nó. Mẹ bảo em nó dễ ngủ là thần kinh tốt. Nó vặn lại: Thần kinh tốt sao nó học kém thế. Mẹ nó bảo:
- Nó chưa đến tuổi - Nhưng thằng này về sau khá, nó không nghịch ngợm như mày. Học giỏi cũng tốt, nhưng có tài không có đức thì làm gì?
Nó ấm ức. Tài là gì, đức là gì nó chưa hiểu rõ. Còn nói như mẹ thì không ổn. Chẳng có ai như mẹ nó, quý con người hơn con mình. Mấy năm trước thằng em còn bé đi họp tối nào mẹ cũng cõng nó kềnh kềnh trên lưng. Những người cộng sự của bà khen nó má lún đồng tiền, mẹ cười hở hết cả lợi. Con trai má lúm đồng tiền có gì hay? Người ta lại khen nó ngoan, nó hiền lành. Thực ra nó là thằng bé nhút nhát. Những đứa ngu ngốc thường nhút nhát. Nhưng người ta lại hay lầm là kẻ hiền lành. Chỉ được cái nó bảo sao thằng em không cãi lại, vì thế nó cũng không bực và không đánh em bao giờ.
Nó ăn nửa miếng bánh, còn một nửa dành cho thằng em. Bánh đúc là thứ bánh của người nghèo. Ngoài bột gạo hoà nước muối chả có nhân nhị gì. Có người không xay gạo ra bột mà ninh cả hạt rồi đánh cho mịn. Thêm ít nước vôi trong và tý hàn the cho dai bánh. Mãi về sau này nó mới biết hàn the chính là Pooc môn, thứ hoá chất độc hại. Còn bây giờ bánh đúc không có hàn the không ai mua vì nó vừa nhớt vừa bở, lại nồng nữa.
Sáng đi thả bò chưa ăn gì vào bụng. Bánh đúc lúc này ăn đến đâu tỉnh người ra đến đấy. Đúng là thứ bánh ăn lành bụng. Nó thấy đỡ cồn cào, nhưng lại rất thèm. Giả như có ăn hết cả chỗ dành cho thằng em thì cũng không đã. Nó đang tuổi ăn. Nó có thể ăn hết nửa mẹt bánh đúc mới gọi là nọ. Nhưng điều đó quả là khó. Mẹt bánh đúc nhà nó chỉ có vào dịp tết. Ngày dưng thế này lấy đâu ra giữa lúc củi thì như quế, gạo như châu thế này?
Nhưng thôi, không nghĩ chuyện ấy nữa! Làm người lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện ăn thì làm sao nên người? Bà nó đã bao nhiêu lần nói ra điều đó. Bà còn bảo: Người ta ăn để sống chứ không sống để ăn. Nó nghĩ bà nói thế không có gì sai. Nhưng bà lại chưa nói sống để làm gì? Những việc lớn nó không hiểu. Nhưng nhất định là sống phải làm một việc gì đấy.

ó
ó   ó

Sách chất đống trên hiên nhà trụ sở ban quản trị. Từng buộc, từng buộc mười cuốn một, bó bằng dây đay. Toàn một thứ giấy đen sạn. Riêng sách kinh điển bìa đỏ hoặc xanh giấy ruột trắng hơn một chút. Loại giấy này về sau úa màu rơm, có cuốn gáy sách dày năm phân, nhưng có cuốn chỉ vài chục trang. Thể loại đủ cả: Kỹ thuật nông nghiệp, khoa học đời sống, vệ sinh phụ nữ. Nhiều nhất là sách chính trị, văn kiện đại hội Đảng. Sách văn nghệ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ gồm vài mươi cuốn.
Ông cậu nó đang nhờ ông giáo Ngọ phân loại sách ra từng thứ. Ông giáo cắt những miếng giấy nhỏ vuông vắn dán vào bìa sách. Tuỳ theo từng loại ông viết mà số sách khác nhau, để riêng ra từng chồng để sau này dễ tìm.
Ông cậu nó không có chân trong ban quản trị nhưng lại là trưởng ban văn hoá xã hội nên việc này ông có trách nhiệm. Với số sách lớn như thế này ông chưa biết xử trí ra sao. Đang thời phân phối bình quân nên sách cũng chia đều cho các xã. Chưa ai nghĩ tới việc có bao nhiêu người đọc và người ta cần loại sách nào. Gay nhất là nơi để sách. Không thể chất đống trong kho hay xếp vào góc nhà trụ sở. Vậy để đâu? Thôi thì việc này hợp tác phải lo. Nếu nó là thứ hàng hoá khác như đường muối có thể chia đều cho xã viên, hoặc chia theo ngày công lao động. Loại tài sản này không thể làm như thế. Đem chia xã viên vẫn nhận, không chê. Liệu người ta có đọc không hay đem dùng việc khác? Chẳng hoá ra tiền của Nhà nước phí phạm?
Lâu nay người ta vẫn quen cách chỉ đạo từ trên xuống. Trên cho cái gì dưới cứ việc nhận. Không cần biết dưới cần cái gì. Cho cái gì thích hợp và hữu ích hơn.
Hai người toát mồ hôi đến quá trưa mà vẫn chưa xong việc phân loại. Rồi còn phải làm danh mục nữa chứ.
Ông cậu nó bảo với ông Trạng Nguyên:
- Để ở đây thì không được rồi. Vướng lắm, không có chỗ họp hành. Hay là ta cứ chuyển đến nhà bà bí thư, rồi tìm cách giải quyết sau. Sớm muộn hợp tác cũng xây hội trường, bấy giờ dành hẳn một gian làm phòng đọc sách.
Ông Trạng Nguyên chưa biết nói thế nào. Ông đi nắng về, mặt mũi nhễ nhại mồ hôi, lưng áo ướt đẫm. Thấy nói vậy, cũng bảo:
- Cũng không còn cách nào khác. Nhưng mấy cậu xã viên đi lấy sách về cả rồi, không có người chuyển.
Cậu nó bảo:
- Ta chuyển chứ ai? Ông ra kéo cái xe bò vào đây!
Gọi là xe bò chứ thực ra là xe ba gác, có hai càng bằng sắt kéo bằng tay. Người ta buộc thêm sợi dây đầu càng xe khoác vào vai. Người kéo phải gò lưng, hai tay nắm hai càng, cổ khoác dây cũng không khác con bò là mấy.
Ba người xếp sách lên xe, phải hai chuyến đầy mới hết. Chưa có trường hợp nào sách lại trở thành gánh nặng thế này. Ngoại trừ ông giáo Ngọ là cứ mân mê từng cuốn sách, ra chừng thích thú. Cậu nó và ông Trạng Nguyên không mấy hào hứng.
Cậu nó nói câu pha trò:
- Tài sản quý đây. Chỉ tiếc là không ăn được ông Trạng Nguyên nhỉ.
Ông Trạng Nguyên cười méo mó, không nói gì. Nói ông Trạng Nguyên dang dở mọi đường thì không đúng hẳn. Sau khi người vợ đầu xinh đẹp được ban đội xây dựng cho bỏ đi thời sửa sai, ông ở vậy hai năm. Sau đó ông lấy một bà luống tuổi. Bà này gần như không có tóc, lông mày trụi lũi, nhẵn thín, răng hô, còn thêm bệnh vảy nến. Ngồi đâu bà ta gãi đấy. Kéo lại được cái đẻ mắn, đẻ dày. Hiện thời trai gái ông có cả thảy năm đứa. Đứa nào mắt cũng đờ đẫn, chỉ có môi miệng luôn mấp máy. Hai bên khoé miệng lúc nào cũng rớt rãi lòng thòng.
Nghe ông cậu nó nói thế ông nghĩ ngay những miếng đường khuôn. Miếng đường cũng to dày vuông vức, xin xỉn như những cuốn sách này. Giá các con ông được hai miếng đường bằng cuốn sách, mặt chúng sẽ sáng lên. Mắt chúng đờ đẫn chẳng qua là do thiếu ăn lâu ngày. Cơm rau muối còn chưa đủ no, lấy đâu ra đủ chất dinh dưỡng. Có cách gì biến những cuốn sách này thành những miếng đường nhỉ? Nước miếng trong miệng ông tứa ra như sắp được ăn đường vậy.
Trong khi mấy người lớn đang khổ sở lúng túng với đống sách thì nó mừng hớn hở. Xe ba gác không kéo được lên dốc cổng đành phải đỗ ngoài đường.
Làng nó vườn nhà nào cũng đắp cao hơn đường. Thói quen chống lũ ngập từ bao đời. Người ta đào những cái ao rất sâu, đắp đất lên vườn. Sau này các ao mới được lấp đi để lấy đất làm nhà. Đấy là chuyện của mấy chục năm nữa. Còn bây giờ lối từ ngoài đường vào nhà là cái dốc cao. Xe chở sách phải xếp tạm xuống đất vì không thể kéo lên được. Ông Trạng Nguyên còn đang lúng túng, chưa tìm được người để khuân sách vào nhà. Nó bảo thằng em lấy cái quang hai anh em hì hục khuân vào. Ông Nguyên rờ túi còn mấy cái kẹo bột đưa cả cho nó. Chắc là khi sáng ở Huyện ông định mua về cho con bé con nhà ông. Thấy anh em nó sốt sắng ông đưa cho nó như một cách trả công. Thằng em nó đang vùng vằng vì bị nó ép khiêng sách, thấy có kẹo nó vui ra mặt.
Ông cậu nó và ông giáo Ngọ rủ nhau vào nhà cậu nó. Ông mang theo hai cuốn truyện hình như là " Người mẹ " và " Thép đã tôi thế đấy ". Ông cậu đồng ý cho mượn, chỉ dặn ông giáo giữ cẩn thận, xem xong thì đem trả. Ông giáo cười:
- Ông không phải lo. Người biết quý sách bao giờ cũng giữ cẩn thận. Món ăn tinh thần với tôi còn hơn rượu thịt kia ông ạ!
Ông Trạng Nguyên có vẻ không tin. Ông giáo người làng này mà chẳng giống mấy người làng. Mái tóc gợn sóng của ông lúc nào cũng chải, rẽ ngôi cẩn thận. Quần áo trên người tuy không sang trọng nhưng là thẳng nếp, luôn sạch sẽ. Thường khi thấy ông giáo cầm tờ báo cuộn tròn trong tay. Mặc dù chẳng ai quan tâm đến ý kiến của mình, ông luôn hiến kế với chính quyền xã. Khi thì thiết kế kiểu nhà kho chống ẩm, lúc quy hoạch hệ thống tưới tiêu nước.v.v... Người ta không bác ông ra mặt nhưng những sáng kiến của ông chẳng ai để mắt tới. Năm trước nó còn là học trò của ông. Từ hồi lên cấp II nó mới ít gặp ông. Nó không bao giờ quên những giờ kể chuyện của ông. Có những chuỵên trong sách giáo khoa và cả những chuyện không có trong sách. Chuyện nào qua ông kể cũng sinh động như thể nhìn thấy, nghe thấy hiển hiện ra trước mắt. Ông có cách tạm dừng câu chuyện ở đoạn thắt nút, khiến học trò phải lặng đi rồi nhao lên, xin thầy kể tiếp.
Người ta bảo ông giáo còn làm thơ. Thơ của ông buồn, không gửi đăng báo bao giờ. Nét vui vẻ bề ngoài của ông như để che đi phần trắc ẩn bên trong. Vô tình một lần nó được mấy ông cán bộ trong khi chờ họp nói chuyện ở nhà nó: "Lão ấy có vấn đề. Lý lịch không rõ ràng". Nó hỏi mẹ, mẹ nó mắng không nên để ý đến chuyện của người lớn. Tò mò mãi nó cũng biết được rằng: Ông giáo trước khi đi bộ đội đánh Pháp đã từng là “việt quốc, việt cách” một đảng “phản động” gì đấy. Sau này ông được cử sang Trung Quốc học, khi về cũng không được tin dùng. Việt quốc, Việt cách là gì? Nó chưa hiểu. Chỉ biết nó là cái gì xấu xa ghê tởm không ai muốn dính vào. Nó lấy làm lạ là một người như ông giáo sao lại là “thành phần xấu” được?
Thỉnh thoảng nó vẫn đến nhà ông giáo mượn truyện. Không biết sách vở hay niềm đam mê của ông giáo nhiễm vào nó mà số phận nó sau này gặp nhiều trắc trở? Điều này thì bây giờ nó chưa nhận ra. Nó chỉ thấy thích khi tìm được cuốn sách hay. Nó có trí nhớ khá đặc biệt. Xem xong một cuốn sách nó còn có thể kể lại cho bọn bạn nghe không sót một chi tiết nào. Nó còn bịa thêm cả những tình tiết mà trong sách không có, hoặc nó quên một đoạn nào đấy mà bọn bạn cứ há hốc mồm ra nghe.
Lão Kính méo mồm cán bộ xã rất nghiêm, nhưng lại hay kể chuyện cười, chuyện tiếu lâm. Nó không ưa các loại chuỵên ấy. Có lẽ cả xã chỉ có nó và lão Kính là biết cách kể chuyện. Tuy rằng mỗi người kể một cách khác nhau.
Tự dưng có một đống sách mang đến nhà. Dù người ta bảo chỉ để tạm nó cũng xếp cẩn thận vào cái hòm bằng gỗ sung có bốn chân cao quá đầu gối. Cái hòm mà cuối năm nay bà nó uất ông con trai là chú nó bổ ra làm củi. Bây giờ hòm trống rỗng, chỉ để làm bàn thờ khi giỗ, Tết. Nó xếp đầy hòm sách. Còn bao nhiêu chồng lên mặt hòm. Vẫn không hết. Nó buộc mấy thanh tre treo lên như kiểu xích đu xếp sách lên. Xung quanh vách gian nhà ngoài những sách là sách. Chỉ ít ngày sau nhà nó giống như một thư viện. Nó thành thủ thư tự nguyện vì không ai cắt cử và cũng không lương bổng gì. Nó có bạn các xã xung quanh đến. Đều là các cô, các cậu bé mê sách như nó. Chưa bao giờ nó thấy cuộc đời nó vui, có ý nghĩa như lúc này.
Một thằng bạn nó rất thân, sau này có số phận đặc biệt tên là Thái. Từ nhà nó lên nhà Thái phải đi qua một cách đồng, quãng giữa có ngôi đình thờ một vị tướng quân thời Hai Bà Trưng. Ngôi đình hồi cải cách ruộng đất từng là nơi đấu tô địa chủ. Phía sau đình là bãi đất rộng là nơi hành quyết những địa chủ trong vùng. Vẫn còn dấu vết những huyệt mộ chôn những người bị xử bắn, tuy hài cốt của họ đã được chuyển đi nơi khác khi cải táng. Đêm đêm nơi này đom đóm lập loè bay. Tiếng ếch nhái côn trùng kêu cũng rất kỳ quái. Những đêm trăng tỏ về khuya người ta còn nhìn thấy bóng người đi thoăn thoắt trên mái đình, trên những ngọn cây gạo cổ thụ cao sừng sững. Cả tiếng nỉ non phía sau đình. ít khi có người ngang qua đây vào lúc tối trời.
Từ buổi chơi với Thái, vài lần hai đứa đi qua đây. Ban đầu cũng thấy chờn chợn, sau rồi quen, không thấy sợ nữa. Ông bố Thái là địa chủ xuống thành phần. Nhà cửa của ông lúc đầu bị tịch thu sau được trả lại. Năm gian nhà ngói, nền lát đá hoa rộng rãi mát mẻ hơn nhà nó. Ông bố Thái ít nói nhưng quý người. Nó đến chơi có gì ngon ông đều mang cho nó ăn. Tuy xuống thành phần nhưng ông vẫn ở diện chưa được vào hợp tác. Cả nhà vẫn làm mấy sào đất riêng lẻ ở cuối cánh đồng. Ông có cái xe đạp thồ khung Pháp đen trũi, nan hoa xe to như đũa ăn cơm, vành sắt gò như vành xe cải tiến. Mùa chuối ông buôn chuối, mùa cau ông buôn cau. Cứ dọc đường Sơn Tây = Hà Nội ông đi suốt năm. Khi từ nhà đi xe chở nặng ông đi bộ tay đẩy xe, xích xe tháo ra buộc gọn vào bên càng xe. Khi về lắp xích vào ông đạp xe, hai bên hai sọt thồ. Cái nghề lam lũ ấy nhờ nó mà ông kiếm được tiền, sinh hoạt trong nhà khá hơn. Thực ra nó chơi với Thái lại không phải vì việc ấy. Nhà nó nghèo, ăn uống thiếu thật, nhưng nó không quan trọng miếng ăn lắm. Ngay cả khi người ta mời mọc nó cũng rất ngại, không bạ chỗ nào cũng ngồi vào ăn. Một bữa ăn đấy, mấy bữa ăn đâu? Nó chơi với Thái vì thằng này có lắm sách hay. Hôm đầu tiên đến nhà, nó rất ngạc nhiên. Giữa vùng quê hẻo lánh thế này lại có một gia đình nông dân có cả một tủ sách? Nó hỏi, Thái nói:
- Ông già tớ mê sách từ hồi còn trẻ. Ông còn định viết lách gì đấy, nhưng do thời thế ông bỏ ý định đó. Nhưng thói quen đọc sách ông vẫn giữ đến giờ. Đi chợ Hà Nội, ông thường tìm vào hàng sách cũ thấy cuốn nào hay mua về. Lâu ngày tích lại thành tủ sách này.
Nó xem qua một lượt. Đủ các loại sách mới cũ nhưng chủ yếu là sách văn học. Nhiều nhất là văn học cổ điển Trung Quốc: Thuỷ Hử, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Ký.v.v... Còn có cả “Những người khốn khổ”, “Vỡ mộng”, “Thép đã tôi thế đây”... Nếu phải mua một lúc số tiền không phải nhỏ. Nhưng ông bố Thái mua lần lần từng cuốn một. Rồi cũng thành bộ. Có bộ mười mấy tập như Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc. Cuốn nào cũng được ông bố Thái bọc bìa cứng quét sơn ta ở gáy sách. Nó xem mà mê mẩn cả người. Nhà nó cũng có hàng đống sách. Nhưng đấy là thứ sách thập cẩm, ngẫu nhiên người ta mang tới. Còn ở đây là sách bỏ tiền túi ra mua có chọn lọc. Chỉ cần xem thể loại sách có thể biết được sở thích hay tính cách của chủ nhà.
Thái có thể đi chơi bất kỳ lúc nào trừ giờ đi học ở lớp. Nó lại khác. Ngày hai buổi, một buổi đi học, một buổi chăm bò. Nó chỉ đi chơi vào lúc chiều gần tối. Đến chín giờ tối là nó phải về vì mẹ nó không cho đi chơi khuya.
Chiều hôm ấy nó buộc bò vào chuồng, ăn tạm bát ngô bung. Thứ ngô để nguyên cả hạt, hoà nước vôi đãi sạch vỏ cứ thế bồi bằng trấu quanh nồi. Ngô là thứ lương thực chính của người đồng bãi. Cả năm chỉ được ăn cơm trắng vào ngày giỗ hay dịp Tết. Nhà khá ngô trộn muối vừng hay chút mật nước. Nhà nghèo chan nước tương, có khi ngô trộn muối trắng. Bà nó bảo ăn ngô nhiều vị béo, đỏ da. Nó không tin lắm, nhưng thấy có lý khi bà nói: Do ăn ngô mà con trai con gái vùng này có hàm răng chắc, mặt vuông chữ điền. Nó thấy quả có thế. Người vùng khác mới ít tuổi nhiều người đã món rụng gần hết cả răng. Còn mặt vuông chữ điền thì nhìn là biết, không sai. Có lẽ ăn ngô hạt nhiều, bộ hàm phát triển. Thầy giáo chả dạy bộ phận nào trên cơ thể người vận động nhiều thì phát triển. Một ý nghĩ ngồ ngộ nảy ra trong đầu nó: Vậy những người nói nhiều, lưỡi cũng to ra sao? Hay cái ông làm nghề thổi bóng đèn ngoài chợ, miệng cũng rộng hơn người thường à? Hình như không phải hoàn toàn như thế. Ông thợ thổi bóng đèn chỉ môi thâm hơn người khác còn mồm miệng cũng giống mọi người.
Chỉ hai bát ngô bung ăn với lá gừng kho tương nó thấy đã lưng lửng. Có thể ăn thêm bát nữa, sợ muộn nó cất luôn bát đũa. Nếu đói tối về ăn thêm. Ngô vừa đổ ra còn cả rổ không sợ thiếu. Dù cả nhà ăn bữa tối này cũng không hết được. Sáng mai còn đủ hấp lại ăn buổi sớm.
Nó vừa đi vừa chạy băng qua cánh đồng. Nếu có chiếc xe đạp khoảng cách này không là gì cả. Đi bộ mất hơn nửa tiếng, nó còn kịp về trước lúc trời tối hẳn. Thằng Thái vừa khoe có cuốn sách hay lắm. Hỏi tên sách nó không nói, thế mới bực chứ. Số sách người ta mang đến nhà nó đã đọc gần hết đầu sách hay. Sách văn học chỉ chiếm phần ít trong đám sách ấy. Phần còn lại chủ yếu là sách nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, bàn về chuyện này chuyện nọ của các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước. Toàn sách lý luận với những thuật ngữ chính trị nó không hiểu. Ngoài ra một số sách kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh là loại sách dành cho nhà chuyên môn chứ không phải là đứa trẻ như nó. Nó đang đọc dở bộ Tây Du Ký. Nếu không mượn được cuốn mới hay như thằng Thái nói, nó sẽ đọc tiếp tập Tây Du Ký tiếp theo. Thằng Thái cẩn thận. Nó chỉ cho mượn từng cuốn một. Xong cuốn này, trả nó mới cho mượn cuốn khác. Chắc nó sợ mất. Nó lại khác hẳn. Ai mượn nó cũng đưa. Nó nghĩ sách là tài sản chung không nên độc chiếm một mình. Nó chỉ ghi tên người mượn vào tờ giấy. Do sơ suất không biết bây giờ tờ giấy ấy nằm đâu. Nếu người mượn không tự giác trả, không biết ai mà đòi. Cẩn thận như Thái cũng có cái tốt. Nghe nói ở trên tỉnh và ngoài Hà Nội nơi cho mượn sách người ta còn bắt cược tiền.
Nó vừa đi vừa nghĩ miên man trong đầu, không chú ý đến cảnh vật xung quanh. Nếu bây giờ người ta chuyển số sách này đi và kiểm kê lại thì sẽ ra sao? Nó cảm thấy lo lo.
Nhà thằng Thái chiều nay có khách. Một ông khách ăn mặc không giống người trong vùng, nói tiếng lơ lớ. Nó hỏi nhỏ, Thái bảo ông này người Hoa ở chợ đầu đê. Làm nghề châm cứu. Năm 1978 sau này nó còn gặp ông một lần nữa trong chuyến tàu lên Lào Cai. Bây giờ ông đang châm cứu cho bố của Thái. Ông già mắc chứng tê thấp do bị khô khớp vì đi bộ nhiều. Ông người Hoa có một hộp kim bằng bạc. Trông giống kim tiêm nhưng dài hơn. ông dùng cồn châm lửa đốt kim để sát trùng, ngọn lửa xanh không có khói  mùi thơm nồng nồng. Dùng đoạn thước bằng sừng ông đo đạc cẩn thận lắm, những chiếc kim bạc cắm tua tủa trên lưng bố Thái mà ông già không thấy kêu đau. Mỗi khi mũi kim cắm vào người chỉ thấy ông già hơi nhăn miệng.
            Từ bé nó không thấy ai chữa bệnh kiểu như thế này ngoài những mũi kim ra thuốc men không thấy gì, chỉ có một lọ cồn nhỏ, dùng bông nhúng vào, xoa lên huyệt cắm kim. Mải mê xem, nó quên cả đường về. Thái an ủi nó:
            - Ở đây ăn cơm với nhà tao, tối nay tao xuống nhà mày ngủ mai mới về.
Nó mừng quá hỏi lại:
- Chắc chắn nhá?
Thằng Thái khịt mũi:
- Quân tử không nói hai lời.
            Thái nói nó còn một vật lạ bất ngờ sẽ cho nó xem sau bữa cơm.
Nó nóng ruột muốn về nhà ngay, thấy nói thế, đành ở lại. Vật lạ ấy là cái đài bán dẫn không cần cột ăn ten căng dây chót vót trên ngọn tre. Đó là hộp nhựa hình chữ nhật, bề mặt to bằng quyển vở. Đài chạy bằng pin khô không dùng pin nước tự chế như đài galen. Thái bảo đài này có hai bóng bán dẫn không dùng vàng non để dò làn sóng. Nhưng nói rất to cả nhà cùng nghe, chứ không phải áp vào tai mỗi một người được nghe. Nhà thằng này quả là nhiều sự lạ, nó chưa thấy bao giờ ở lại nghe tiếp chương trình tiếng thơ mới ra về, Thơ Tố Hữu, thơ Bùi Minh Quốc, thơ Sông Hồng. Nó lần đầu nghe Trần Thị Tuyết ngâm diễn trên đài. Khác hẳn ông Kính méo mồm ngâm ở sân hợp tác. Ngay cả cô Loan cuối làng được cả xã khen là tốt giọng, ngâm thơ hay cũng không thể bì.
            Thơ ngâm không rộn rã như ca nhạc thịnh hành, nó có cái gì xao xuyến lâng lâng rất lạ, nghe xong nó có cảm giác cảnh vật như đổi khác hẳn đi.
            Cuối cùng hai đứa cũng phải đi qua cánh đồng khu đình để về nhà nó, cũng may đêm nay trăng tỏ, có thể đọc sách dưới ánh trăng, cảnh vật rõ mồn một. Cả hai vẫn cảm thấy rờn rợn. Bỗng thằng Thái níu áo nó bảo dừng lại:
- Này mày nhìn lại xem, hình như ở cửa đình có dựng cái xe đạp?
- Ai ra đó giờ này mà để xe ở đây nhỉ?
Hai đứa ngơ ngác nhìn nhau, những  chuyện đồn thổi lâu nay lướt qua trong đầu, nó thấy lạnh sống lưng. Nhưng đầu óc tò mò lại xui nó nói ra miệng :
- Tao với mày thử lên xem sao?
Thái ngần ngại.
            - Nhỡ bọn trộm cướp đi hành nghề  ở đâu về qua đây thì sao? Có khi chúng lấy được vật gì nặng chưa kịp mang đi tạm giấu ở đây, gặp nó cho một nhát là xong đời. Tao không dại ?
            Nó khích bạn:
-   Mày đúng là gan con muỗi, nếu là bọn gian nó phải sợ người ngay chứ. Học “ Ba xây, Ba chống” rồi mà mày không biết à? Với lại mình bí mật theo dõi chứ đâu dể chúng biết, chần chừ một lúc thằng Thái cũng nghe theo nó.
Hai đứa nhặt mấy cục đá, hai tay cầm hai cục, còn đâu nhét vào túi áo, túi quần. Cả hai rón rén bò dần lên gò đất cao. Chúng nấp sau bóng cây gạo đổ dài áp sát cửa đình. Ngoài chiếc xe đạp dựng ở trước đình ra không thấy gì nữa nó nhận ra cái xe đạp khung nam của lão Đởm nhờ ở cái ghi đông khác kiểu của lão. Nhưng lão đi đâu lên đây vào lúc này nhỉ? Nó hình dung ra nét mặt nghiêm nghị lúc nào cũng ra dáng  đạo mạo của lão. Con người từ lời nói đến dáng đi  đều có cái gì không thực, như để diễn ấy, đến đây vì việc gì? Hay là có kẻ nào đó  lấy cắp chiếc xe của lão chưa kịp mang đi còn để  ở đấy? Chợt hai đứa nghe thấy tiếng rì rầm bên phía Tam quan, có tiếng phụ nữ cười khúc khích. Tuy còn nhỏ nhưng cả hai đều biết chuyện gì đang xẩy ra. Con người lão Đởm nom bề ngoài không ai nghĩ lão lại có tính chim chuột. Hoá ra tính cách bên trong với với vẻ bên ngoài của một số người nhiều khi cũng không thống nhất với nhau. Chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá người thì thật là sai lầm.
Nó ra hiệu cho thằng Thái quay ra, chuyện này có gì hay ho đâu để mà tìm hiểu. Nhưng thằng Thái lại không nghĩ như nó, trong cái túi nó có cái đèn ba pin mọi hôm bố nó dùng để đi chợ sớm. Thường ông đi từ lúc ba  giờ sáng mới kịp ra Hà Nội bán hàng. Mấy hôm nay ông ở nhà chữa bệnh nên nó mang theo. Trời sáng trăng nên nó không cần đèn, lúc này nó lấy ra bấm lên soi vào Tam quan. Trước mắt hai đứa là đôi trai gái đang tồng ngồng. Nhìn rõ cả cái mông và cả khoảng lưng rộng của gã đàn ông. Thấy động cả hai  vùng dậy vơ vội quần áo bỏ chạy ra sau đình hai đứa được một trận cười vỡ bụng. Chúng quay trở ra, đi được một quãng thấy lão Đởm đạp xe đuổi theo. Lão bảo hai đứa đứng lại, cả hai vừa sợ vừa buồn cười, nhưng cố nén không cười ra tiếng. Lão Đởm bảo:
- Hai đưa biết đâu bỏ đó không được nói ra với ai. chuyện người lớn, chết người không phải đùa. Thằng Thái ra vẻ thành thật:
- Chúng cháu không nói, chú cứ yên tâm!
Lão Đởm thọc tay vào túi quần, lấy ra gói kẹo. Có thể là gói kẹo hai người mang theo để ăn, lão đưa cho nó. Nó định không cầm nhưng thằng Thái đón lấy. Lão Đởm dặn dò thêm mấy câu rồi quay lại, chắc là lão quay lại đón người đàn bà kia. Nó chợt nhớ ra rằng lâu nay lão Đởm đi họp thường hay đèo cô Lan kế toán đi cùng,  hai người trước mặt mọi người nói chuyện đứng đắn nên không ai ngờ. Cô Lan da trắng tóc dài, eo người như người thành phố, mắt cô đen láy, đuôi mắt sắc lẻm. Người như thế mà chồng đi vắng hàng năm nay. Chồng cô đi làm công tác đặc biệt, không ai biết là đi đâu. Có thể vào Nam hay sang Lào. Bộ đội như chồng cô không đến những nơi ấy thì còn đi đâu ?
Mãi sau này, khi thôi bồ bịch  với ông Đởm cô quay sang cặp với ông cậu nó, cũng có thể vì cô mà cậu nó về sau mất hết cả địa vị, tiền tài khi ông làm chủ nhiệm HTX Tín dụng. Nhưng đó là câu chuyện mười mấy năm nữa mới xẩy ra. So với cô Lan, vợ lão Đởm không khác gì con cóc xấu xí bên bông hoa hồng. Mụ lưng dài thườn thượt, chân tay một dóng. Đã thế lông mày chổi xể,  mắt trắng như mắt Trương Phi, mũi sư tử sần sùi trên cặp môi vừa cong vừa dày. Nếu không có cái vườn rộng, chắc gì ngày xưa lão Đởm chịu làm rể? Bởi vì hình thức bề ngoài lão Đởm đâu có đến nỗi. Giá mà cô Lan là vợ lão có phải xứng đôi không? Tất cả mọi sự khập khiễng thường dễ sinh chuyện.
Lão Đởm đang làm trưởng ban Kiểm Soát, thành viên Ban quản trị dưới quyền mẹ nó. Nhưng lão lại có liên hệ ngành dọc với bên công an. Tuy chức tước không to, nhưng nhiều người e ngại, người ta còn nói lão có đường dây lên huyện lên tỉnh rất bí mật. Có những vụ việc lão báo cáo thẳng lên huyện không qua xã. Hệ thống chính quyền khi nào cũng vậy, nó luôn tồn tại cả hai hình thức, vừa công khai vừa bí mật. Trong lúc Thế giới có hai hệ thống, hai phe, trong nước chia cắt hai miền, cuộc đấu tranh “ai thắng ai giữa hai con đường” thì cơ cấu chính quyền như vậy là đương nhiên.
Ở tuổi nó những điều đó chưa tỏ tường lắm. chỉ qua câu chuyện của các bác, các chú đến nhà trao đổi với mẹ, nó hiểu lơ mơ như vậy.
Cố nhiên sự việc bắt gặp lão Đởm vừa rồi nó không muốn nói ra. Không phải nó yêu quý gì lão mà vì nó nghĩ là không nên. Biết đâu như vậy là nói xấu cán bộ? Là cái tội người ta sợ nhất vào lúc này. Không cẩn thận là bị quy kết vào phần tử “có vấn đề”, Đang thời giám điệp, biệt kích ráo riết hoạt động, những biểu hiện như vậy không có lợi gì.
Nhưng Thái thì không như vậy. Hồi cải cách bố nó bị bắt trói giam ngoài đình. Bố nó chưa quên khi có người múc cho gáo nước, lão Đởm bắt được, giằng lấy hắt đổ đi, những lúc vắng vẻ bố nó thường nhắc chuyện này cho cả nhà nghe.
Tuy đêm đó ngủ ở nhà nó, thằng Thái không nhắc gì đến chuyện lão Đởm, sớm hôm sau về nó kể cho bố nó nghe, không biết bố nó thù lão Đởm viết ra bài vè hay là ai đó.
Mấy ngày sau có một tờ giấy dán trước cửa trụ sở uỷ ban. Bài vè tục tĩu tố cáo lão Đởm dan díu với cô Lan.
Lão Đởm có nghi ngờ nó bép xép để lộ ra hay không thì nó không biết. Nhưng gặp lão nó chào, lão tím mặt không trả lời. Chữ viết rõ ràng là của người lớn, nhưng trẻ con có nói ra thì người lớn mới biết được chứ!
Tưởng đâu câu chuyện kết thúc ở đó. Không ngờ lão Đởm  thâm thù. Hai tháng sau nhân dịp kiểm kê tài sản hợp tác xã, lão đưa ý kiến kiểm tra số sách huyện đầu tư về . Theo lão nói sách cũng là thứ tài sản, còn quý hơn tài sản vật chất vì nó có giá trị tinh thần lâu dài, không như các loại tài sản khác chỉ có giá trị nhất thời.
Người ta kiểm kê lại thiếu mất mấy chục cuốn sách văn học là loại có giá tiền cao hơn các loại khác. lão Đởm bác bỏ lời trình bầy của mẹ nó, dù mẹ nó nói toàn là sự thật. trẻ con sơ xuất mang luỵ cho người lớn. Lão còn nói:
- Hôm tôi họp trên huyện có qua hàng sách cũ thấy có cả sách của ta vì bìa sách có dán kí hiệu rõ ràng. Nếu cháu chót dại đem bán sách của tập thể thì đồng chí phải dỗ nó đi chuộc về.
Mẹ nó biết nó không làm chuyện ấy nhưng bây giờ nói ra ai tin? Nó cho mượn có ghi danh sách nhưng lại làm mất tờ giấy ghi. Cuối cùng mẹ nó lại phải nhận nộp lại số tiền theo gía của số sách bị mất. Thế là cái xe đạp mẹ nó giành dụm mua để lấy đường đi đành phải bán. Bà còn chịu kiểm thảo trước chi bộ về chuyện thất thoát tài sản của tập thể .
            Đã mấy chục năm qua đi, những câu chuyện cũ gã nhớ lại như nó vừa xẩy ra. Hồi đó người ta gọi gã là Nó. Nó thế nọ, nó thế kia.. tai nạn sách vở chữ nghĩa xẩy ra với gã từ lúc mới tập tững vào đời.
Sau việc xẩy ra ở bãi vàng gã bị bắt giam ở Huyện. Những ngày trong lòng muôn lỗi buồn lo, những việc cũ lại có dịp nhớ về. Quá khứ quả thực là một gánh nặng, một áp lực mà trên bước đường đời không dễ cất đi cho nhẹ nhõm thơi thả cõi lòng.





Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế là không sòng phẳng!


Bùi Tâm An






























(TBKTSG Online) – Từ hôm qua 1-10, giá gas bán lẻ của hàng loạt thương hiệu đồng loạt tăng 15.000 đồng/bình 12kg với nguyên nhân được đưa ra là do giá hợp đồng giao tháng 10 (giá CP) tăng 47,5 đô la Mỹ/tấn so với giá chốt tháng 9. Vậy nhưng, chính người trong ngành gas cũng thừa nhận, nếu tính đúng, giá gas có thể chỉ tăng khoảng phân nửa mức tăng đã công bố.

Người làm trong ngành gas chia sẻ, đúng là giá CP chốt tháng 10 tăng 47,5 đô la Mỹ/tấn nhưng cũng từ đầu tháng 10, có một yếu tố khác đã biến động mạnh theo hướng giảm, đó là premium (khoản chi phí vận chuyển, bảo hiểm…). Mỗi công ty đầu mối nhận mức giảm khác nhau vì còn tùy quy mô, giá trị đơn hàng… Có công ty trên dưới 20 đô la Mỹ/tấn nhưng lại có đơn vị được đến 30 đô la Mỹ/tấn.

Vì vậy, nếu tính yếu tố này vào thì giá gas bán lẻ tháng 10 chỉ tăng trong khoảng 6.000-8.000 đồng/bình 12kg, tức thấp hơn phân nửa so với mức 15.000 đồng/bình 12kg mà các doanh nghiệp kinh doanh gas đã đồng loạt thông báo hôm 30-9.

Việc tăng giá theo mức tăng của giá CP, thay vì có tính toán đến premium, có thể chấp nhận được ở góc độ nào đó vì người kinh doanh thì ai cũng muốn đạt lợi nhuận tốt nhất khi có thể.

Tuy nhiên, nếu nhìn lại cách hành xử của các doanh nghiệp gas khi ở tình hình ngược lại thì sẽ thấy mức tăng 15.000 đồng vừa qua là không sòng phẳng với người tiêu dùng.

Có rất nhiều thời điểm, giá CP giảm nhưng vì premium được các nhà cung cấp điều chỉnh tăng 20-30 đô la Mỹ/tấn nên giá bán lẻ được các công ty gas đầu mối điều chỉnh giảm thấp hơn mức giảm của giá CP.

Cũng có không ít thời điểm, giá CP và giá premium đều tăng và ngay lập tức, công ty gas đầu mối điều chỉnh giá bán lẻ tăng có tính đầy đủ hai yếu tố trên.

Vì vậy, lần này, khi giá CP tăng nhưng premium lại điều chỉnh giảm khá mà các công ty kinh doanh gas chỉ tính đến CP, “quên” yếu tố còn lại là một sự không sòng phẳng với người tiêu dùng.

Chưa hết, chính những người trong ngành cũng thừa nhận, đáng ra mỗi công ty tùy vào mức giảm của premium có thể đưa ra mức tăng giá tốt cho người tiêu dùng nhưng vì phải nhìn qua, nhìn lại các doanh nghiệp khác, nhất là các “anh cả”, chiếm thị phần lớn, có tiếng nói trên thị trường nên cuối cùng tăng giá theo nhau.

Mức tăng 15.000 đồng/bình 12kg đã được “bàn bạc”, “thống nhất”. Tất nhiên, các trao đổi chỉ bằng miệng, không lưu ở bất kỳ bút tích nào.

Nói như vậy thì rõ ràng, các doanh nghiệp gas đã có sự liên kết, thậm chí “thông đồng” về giá, một hành vi bị cấm theo Luật Cạnh tranh nhưng lại không thể xử lý.

Một vấn đề cũng cần nhắc nữa, đó là gas là mặt hàng chịu sự quản lý về giá. Theo quy định hiện hành, mỗi lần điều chỉnh tăng hoặc giảm giá, các doanh nghiệp phải đăng ký giá, trong đó phân tích các yếu tố trong cơ cấu giá với cơ quan chức năng, là ban vật giá của sở tài chính tỉnh, thành phố hoặc Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính (tùy cấp quản lý).

Vậy nhưng, lần này, dường như các yếu tố đã được báo cáo không đầy đủ hoặc không được xem xét cẩn thận!

Các doanh nghiệp gas và cơ quan quản lý mặt hàng này luôn khẳng định, giá gas đã tuân theo quy luật thị trường, tức bám sát giá thế giới. Tuy nhiên, xem ra, điều này không phải lúc nào cũng đúng, nhất là lúc tăng giá.
***

Giá gas tại Việt Nam hiện nay được cung cấp từ 2 nguồn: sản xuất trong nước (Nhà máy Dinh Cố, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Nhà máy Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi) và nguồn nhập khẩu.

Giá được xác định theo công thức:

P = ((CP + Pre)*(1+ thuế suất thuế nhập khẩu))* Tỷ giá bán đô la Mỹ - đồng Việt Nam của ngân hàng.

Trong đó, CP là giá CP được công bố bởi Saudi Aramco. Hàng nhập khẩu và hàng trong nước đều tính theo giá CP này.

Pre (Premium) là toàn bộ các chi phí vận chuyển, bảo hiểm ngoài nước (đối với hàng nhập khẩu) và là mức phụ phí thị trường, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, quản lý, lợi nhuận định mức của doanh nghiệp (hàng mua từ các nhà máy trong nước).

Premium được thực hiện theo hình thức đấu giá (các doanh nghiệp kinh doanh gas tham gia đấu giá mức Premium khoảng 6 tháng một lần với nhà cung cấp trong nước để xác định mức giá hàng giao hàng tháng)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giải mã điểm tựa để Trung Quốc trỗi dậy


Thảo Linh 

VNN - Năm 1995, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia đã công bố một báo cáo dày 350 trang về mạng lưới doanh nhân Trung Quốc ở nước ngoài, gọi họ là “một trong những lực lượng chính tạo ra sự tăng trưởng năng động đặc trưng trong khu vực”.

Điều này phản ánh vai trò kinh tế của hơn 50 triệu người thuộc cộng đồng Hoa kiều trên thế giới – sống hầu hết ở Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao và Đông Nam Á. Đầu những năm 1990, cộng đồng Hoa kiều được mô tả là đối thủ của Nhật Bản trong việc gây ảnh hưởng trong kinh doanh trên toàn châu Á, với tổng thu nhập tương đương GDP của Trung Quốc.

Đà tăng trưởng kỳ diệu của Trung Quốc từ giữa những năm 1990 đã khiến cộng đồng Hoa kiều ít được nhắc đến, nhưng điều này chỉ làm lu mờ vai trò chủ chốt của họ trong sự nổi lên của Trung Quốc. Cụm từ cộng đồng Hoa kiều chỉ là một cách nói giản tiện về những người Trung Quốc ở nước ngoài, hầu hết họ không phải những doanh nhân giàu có.

Nhưng chính họ đã đóng một vai trò nòng cốt trong sự phát triển của các ngành công nghiệp xuất khẩu của Trung Quốc và góp phần hội nhập kinh tế nước nhà với khu vực theo cách cho phép Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng trong khi duy trì những nét đặc trưng của nền kinh tế chính trị trước năm 1979. Như vậy, cộng đồng Hoa kiều rõ ràng đã đem lại cho Trung Quốc một nguồn lực mà không một cường quốc đang nổi nào trước đó có được.

Từ đầu thời kỳ cải cách kinh tế ở Trung Quốc, cộng đồng Hoa kiều đã đóng góp một phần lớn trong đầu tư nước ngoài đổ vào Trung Quốc. Nguồn đầu tư này tập trung vào các lĩnh vực hướng đến xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng các mạng lưới sản xuất xuyên quốc gia mà ngày nay trói buộc các nước láng giềng với Trung Quốc thông qua hệ thống thương mại nội khu vực hội nhập bậc nhất thế giới.

Nhưng thành quả trên không phải là đã được định sẵn. Những năm 1980, Trung Quốc vẫn còn là một nước thiếu vốn, do tranh cãi chính trị về định hướng cải cách kinh tế. Trong những năm bấp bênh này, đầu tư về Trung Quốc của cộng đồng Hoa kiều bền vững hơn so với các đối tác cạnh tranh nước ngoài của họ, dựa trên các quan hệ văn hóa và tổ tiên để bù lại các nguy cơ chính trị. Họ cũng trực tiếp mở ra các cuộc thảo luận về cải cách: các chủ doanh nghiệp Hoa kiều phục vụ trong Hội thảo tham vấn chính trị nhân dân Trung Quốc và Quốc hội Trung Quốc, xây dựng các mối quan hệ ở mọi cấp, tới tận Đặng Tiểu Bình. Họ tác động đến việc xây dựng khái niệm và thực thi các đặc khu kinh tế (SEZs). Công nghệ và vốn họ đổ vào các SEZs này đã là động lực cho sự thăng hoa của ngành công nghiệp xuất khẩu của nước nhà, thúc đẩy chính giới tiếp tục tự do hóa và mở cửa.

Đầu tư của cộng đồng Hoa kiều đã làm sống lại các làng nghề của lĩnh vực tư nhân ở Trung Quốc và củng cố sự cân bằng trong cán cân thanh toán quốc gia, cho phép nhập khẩu hàng hóa tư bản để nâng cấp nền kinh tế trên quy mô lớn hơn. Việc này đã bù đắp đáng kể cho tình trạng rút vốn ồ ạt của phương Tây sau sự kiện Thiên An Môn, khi tăng trưởng của Trung Quốc sụt giảm xuống mức làm dấy lên lo ngại nguy cơ suy thoái.

Đến năm 1994, nền kinh tế Trung Quốc đã đảo chiều, trở thành câu chuyện về tăng trưởng ngoạn mục nhất khu vực. Doanh nhân Mỹ quan tâm đã thúc giục Tổng thống Clinton dỡ bỏ lệnh hành pháp của mình và trao lại cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc, đảm bảo rằng thị trường Mỹ sẽ trở thành một cỗ máy cho sự nổi lên của Trung Quốc.

Khả năng tăng trưởng hai con số của Trung Quốc trong khi duy trì một lĩnh vực nhà nước khổng lồ và không hiệu quả, một tài khoản vốn đóng kín và một hệ thống tài chính chưa phát triển, đã trở thành hiện thực nhờ việc xây dựng một bộ máy xuất khẩu dựa trên đầu tư nước ngoài. Tổng FDI đổ vào Trung Quốc từ năm 1979 – 2000 chiếm 1/3 GDP trong năm 2000, hơn một nửa số tiền này đến từ Hồng Kông, và hơn 3/4 đến từ các nước Đông Á, hầu hết từ cộng đồng Hoa kiều.

Khi FDI vào Trung Quốc từ các nguồn không phải Hoa kiều gia tăng, Hồng Kông và Singapore đã trở thành các trung tâm trung gian, với các hệ thống pháp lý kiểu Anh và tách biệt với thẩm quyền xét xử của Trung Quốc đại lục.

Khi nền kinh tế Trung Quốc cất cánh, các tương tác của cộng đồng Hoa kiều với nền kinh tế cũng được thích nghi. Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc hiện là chìa khóa cho Trung Quốc quốc tế hóa đồng nội tệ của mình trong khi tiếp tục che chở nền kinh tế dưới sự kiểm soát các tài khoản vốn, điều có thể làm tăng sự bất chắc liên quan đến vai trò của London thời hậu Brexit. Chính phủ Singapore và các công ty tư nhân thực chất đều tham gia vào nỗ lực của Trung Quốc nhằm phát triển bền vững và tinh vi hơn, ví dụ thông qua dự án Thành phố sinh thái Thiên Tân và Sáng kiến kết nối Trùng Khánh.

Cộng đồng Hoa kiều ở Đông Nam Á, vốn vẫn chế ngự lĩnh vực tư nhân ở các nước ASEAN, là những nhà đầu tư lớn về Trung Quốc và là người môi giới cho các tác nhân kinh doanh khác. Hiện, khoảng 90% thượng mại của Indonesia với Trung Quốc liên quan đến người Indonesia gốc Trung Quốc, dù tập trung trong những lĩnh vực mà họ không phải là chủ sở hữu chính như cơ sở hạ tầng và nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Một nhân tố khác khó định lượng nhưng một số người cho rằng Trung Quốc đang tìm cách thúc đẩy, là tác động vào dư luận về tổ tiên người Hoa ở một số nước ASEAN, đặc biệt là trong giới tinh hoa. Ví dụ điển hình nhất là Hoàng gia Thái Lan, nhưng sự kế thừa này còn có thể biểu hiện trong những cách đáng ngạc nhiên khác.

Ngày nay, cộng đồng Hoa kiều ngày càng gia tăng thông qua người di cư thế hệ đầu từ Trung Quốc, và bản thân Trung Quốc cũng đang hướng tới một nền kinh tế tăng cường tri thức với dày đặc các tương tác xuyên biên giới. Bản chất hay thay đổi của các cộng đồng Hoa kiều và quan hệ của họ với cố quốc là một chủ đề cần bàn thảo thêm, ít nhất vì họ ngày càng được chú ý về chính trị.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc loay hoay với “miếng bánh ngon nhưng không dễ xơi”


Junhua Zhang 

VNN - Với tình hình này, trong ngắn hạn, sáng kiến OBOR của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ chỉ mang lại kết quả rất khiêm tốn mặc dù được đầu tư rất lớn.

Kể từ năm 2013, sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (OBOR) đã trở thành tâm điểm ngoại giao kinh tế của Trung Quốc. Bản chất của OBOR là thúc đẩy liên kết khu vực và xuyên lục địa giữa Trung Quốc với lục địa Á - Âu. Khả năng kết nối bao gồm năm lĩnh vực quan tâm chính: phối hợp chính sách, xây dựng cơ sở hạ tầng (bao gồm đường sắt và đường cao tốc), thương mại không bị cản trở, hội nhập tài chính, và quan hệ nhân dân. Trong số này, xây dựng cơ sở hạ tầng là đặc điểm nổi bật của Con đường tơ lụa mới.

Trong khi Con đường tơ lụa lịch sử là kết quả cuối cùng của các hoạt động thương mại từ dưới lên, chủ yếu do các quốc gia bên ngoài Trung Quốc thúc đẩy, thì sáng kiến OBOR lại được thiết kế bởi giới tinh hoa cầm quyền của Trung Quốc. Nó là nỗ lực lớn đầu tiên của Trung Quốc nhằm thiết kế và thực hiện một chiến lược thương mại xuyên lục địa và chắc chắn sẽ có những hệ quả toàn cầu và địa chính trị quan trọng.

OBOR là một sản phẩm của tư duy trọng thương mới của Trung Quốc. Chủ nghĩa tân trọng thương ngày nay khác chủ nghĩa trọng thương của thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, khi các thương gia thường đồng lõa với chủ nghĩa đế quốc của các cường quốc trong việc tìm cách gia tăng quyền lực chính trị và tài sản tư nhân. Chủ nghĩa tân trọng thương ngày nay bị hạn chế hơn nhiều, nhờ các khuôn khổ pháp lý quốc gia và quốc tế, việc không sẵn lòng tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang, cũng như nhận thức rộng rãi và lớn hơn về các quyền con người.

Chủ nghĩa tân trọng thương của Trung Quốc ủng hộ thương mại toàn cầu và các thể chế của nó trong khi cũng theo đuổi một chiến lược toàn cầu hóa của chính phủ nhằm tích lũy vốn và của cải cho quốc gia. Chiến lược này của Trung Quốc ưu đãi rõ ràng cho các doanh nghiệp nhà nước và tập trung vào việc thiết lập các khu vực mậu dịch tự do với Trung Á và Nam Á, tương tự như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) có hiệu lực vào năm 2010.

Vậy điều gì đang thúc đẩy sáng kiến OBOR của Trung Quốc?

Nhiều lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc đã và đang phải đối mặt với sự dư thừa công suất từ năm 2006. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hy vọng sẽ giải quyết vấn đề khủng hoảng thừa bằng cách khám phá các thị trường mới ở các nước láng giềng thông qua OBOR. Sáng kiến OBOR sẽ cung cấp nhiều cơ hội hơn cho sự phát triển của các khu vực biên giới kém phát triển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng dự định khám phá các lựa chọn đầu tư mới nhằm duy trì và tăng giá trị của nguồn vốn tích lũy được trong vài thập niên qua. OBOR có tiềm năng phát triển thành một mô hình sáng tạo luật chơi thay thế của chính trị quốc tế và có thể đóng vai trò như một phương tiện để tạo ra một trật tự kinh tế và chính trị toàn cầu mới.

Tuy nhiên, có những rủi ro đáng kể liên quan đến chiến lược OBOR của Trung Quốc. Chủ nghĩa tân trọng thương của Trung Quốc thiếu sự nhạy cảm khi giải quyết một số vấn đề ở các nước sở tại, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến văn hóa, môi trường, và sắc tộc.

Dự án Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) là một ví dụ điển hình về những rủi ro và thách thức đối với Trung Quốc. CPEC là sự kết hợp giữa các dự án giao thông vận tải và năng lượng và bao gồm việc phát triển một cảng biển nước sâu lớn nhằm cung cấp con đường tiếp cận trực tiếp tới Ấn Độ Dương và xa hơn nữa.

Giới lãnh đạo Trung Quốc coi Pakistan là một trong những đồng minh lâu đời và tận tâm nhất của mình. Đây là lý do tại sao CPEC đang được đối xử như con đẻ của sáng kiến OBOR. Tuy nhiên, nhiều bất trắc tồn tại có thể khiến dự án này sụp đổ. CPEC phải đối mặt với sự phản đối chính trị trong nước ở Pakistan, với cuộc đấu đá giữa các tỉnh và chính quyền trung ương về việc phân bổ vốn đầu tư.

Một vấn đề nghiêm trọng hơn là an ninh. Về phía Trung Quốc, Phong trào Hồi giáo Đông Thổ (ETIM) đang cản trở những nỗ lực của Trung Quốc; trong khi về phía Pakistan, lực lượng Taliban người Pakistan và các nhóm chiến binh chống nhà nước khác đang đặt ra một mối đe dọa lớn cho các đội xây dựng và có thể phá vỡ dòng chảy của hàng hóa.

Với tình hình này, trong ngắn hạn, sáng kiến OBOR của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ chỉ mang lại kết quả rất khiêm tốn mặc dù được đầu tư rất lớn. Khó mà dự đoán được liệu dự án OBOR của Trung Quốc sẽ có hiệu quả trong trung đến dài hạn hay không, vì điều này phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các thách thức của hai chính phủ, cũng như vào môi trường bên ngoài.

Tuy nhiên, OBOR đánh dấu sự khởi đầu của một chính sách ngoại giao kinh tế mới cho Trung Quốc khi nó thay đổi dần dần trở thành một cỗ máy năng động của nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Việc liệu chính sách mở rộng theo đường lối trọng thương mới của Trung Quốc có đáp ứng được các kỳ vọng hay không vẫn còn chưa rõ ràng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con tê giác cuối cùng..

image
Trong một khu rừng rậm nhiều đồi dốc ở phía tây nam Việt Nam, con tê giác cái đơn độc từng có thời dạo bước. Đó là con tê giác cuối cùng trong phân loài của nó, và đây là nơi nó sinh sống.

Cát Lộc, khu vực phía bắc của Vườn Quốc gia Cát Tiên, là một phần của nơi từng bị tàn phá bởi Chất Da cam trong Cuộc chiến Việt Nam. Ngày nay, nơi này nổi tiếng là khu bảo tồn động vật hoang dã, cũng là nơi nhiều nỗ lực bảo tồn thất bại.

Con tê giác cuối cùng hàng ngày đi lang thang qua hàng ngàn hec-ta rừng, một khoảng cách rộng hơn rất nhiều mà loài động vật ăn cỏ này thường di chuyển.

Nhưng như thế là nó còn có nơi để chạy. Có nhiều lạch nước và sông để tắm và rất nhiều thức ăn - như cây mây, một loại cây dây leo mọc khắp nơi trong rừng.

rhinoceros
Nhưng một ngày nọ, tay thợ săn ngắm bắn nó qua khẩu súng bán tự động - và bóp cò.

Chúng ta không biết liệu con tê giác có biết ai là kẻ giết nó hay không, và cũng không biết nó đã bị bắn bao nhiêu phát.

Khi tiếng súng vang lên, vọng khắp khu rừng cũng là lúc chốt lại sự tuyệt chủng của loài tê giác Java ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sự tuyệt chủng đã không xảy ra ngay lập tức. Dù bị thương, con tê giác vẫn chạy thoát. Và từ đó, suốt một thời gian, nó biến mất sau cánh rừng xanh dày đặc che chở nó.

rhinoceros
Vận mạng của loài tê giác Java ở Việt Nam, một phân loài tê giác có tên là Rhinoceros sondaicus annamiticus, khi đó đã được Sarah Brook theo dõi sát sao.

Brook là nhà bảo tồn của Quỹ bảo tồn động vật hoang dã WWF. Hàng ngày, bà phải vật lộn với địa hình khắc nghiệt ở vườn quốc gia Cát Lộc - đồi dốc và thảm thực vật dày đặc - với một chú chó đánh hơi, được huấn luyện để theo dõi mùi phân tê giác.


Trong suốt gần sáu tháng, Brook đã thu thập mẫu phân, theo dấu các con tê giác Java trong vùng, và không biết chắc liệu chỉ còn có một con hay không. Bà làm việc chặt chẽ với kiểm lâm của vườn quốc gia và lắp đặt các bẫy camera quan sát.

image
Ảnh loài tê giác Java trong sở thú London thế kỷ 19

Nhưng các bẫy camera được thiết lập quá trễ. Họ không bao giờ ghi được hình ảnh của con tê giác. Brook chưa một lần tận mắt thấy nó còn sống. Rừng Cát Lộc rất lớn và hoá ra chỉ có một mình con tê giác đơn độc sống trong ấy.

Vào đầu năm 2010, tin xấu ập đến.

Một kiểm lâm gửi cho Brook bức ảnh một bộ xương tê giác phát hiện vào tháng 4/2010. 

Một bức ảnh sọ tê giác, tách rời với phần còn lại của bộ xương con thú, rõ ràng cho thấy sừng của tê giác đã bị cắt. Trong thực tế, cái sừng đã bị cắt một cách thô bạo. Vì săn trộm.

Nỗ lực điều tra

image
Vườn quốc gia đăng một thông cáo nói con tê giấc chết vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng Brook không tin lắm về thông tin này. Và sau khi kiểm tra xương tê giác vài tuần sau đó trong tháng 5/2010, bà phát hiện một viên đạn ở chân trái trước con thú.

"Chúng tôi muốn biết thực sự điều gì đã xảy ra và tìm sự thật," bà nhớ lại, "Vào lúc đó, chúng tôi đã nghi đó là cá thể tê giác cuối cùng."

Brook lao vào điều tra và cố gắng tìm đúng người có thể giúp bà.

image
Bà gửi một email đến Ulrike Streicher, một bác sĩ thú y đã làm việc ở Việt Nam nhiều năm, người biết rất rõ về Vườn Quốc gia Cát Tiên và từng làm cố vấn cho WWF.

Brook cũng liên lạc với Ed Newcomer, một chuyên viên đặc biệt từ tổ chức US Fish and Wildlife Service (Tổ chức về Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ). Khi đó ông làm việc tại Thái Lan nhưng đã có cơ hội điều tra về tê giác.

John Cooper, một chuyên gia pháp y về động vật hoang dã đến từ Anh, và Douglas McCarty, làm việc tại nhóm chống buôn bán động vật hoang dã Freeland, cũng có tên trong danh sách hỗ trợ.

Vào tháng 9/2010, nhóm chuyên gia khắp thế giới cùng tập hợp tại vườn quốc gia, trong một căn phòng đầy những mẫu phẩm sinh học. Ở đó có nhiều tủ trưng bày hình ảnh từ mẫu dấu chân tê giác đến bản đồ khu vực, Newcomer nhớ lại.

Nhiệm vụ đầu tiên là xem xét bộ xương được đưa về.

Khi một trong những kiểm lâm cho nhóm chuyên gia xem bộ xương, Cooper nhận xét có vẻ xương đã được tẩy trắng.

"Họ nói, 'ồ, chúng tôi đã tẩy trắng nó' và tôi nói, 'Ok, vậy còn khả năng tìm thêm mẫu xương nào không',"Streicher nói. "Những người duy nhất làm việc với xác động vật ở Việt Nam là những người làm việc trong bảo tàng - và lời khuyên của họ là tẩy trắng xương."

Không có khả năng tìm được mẫu xương nào để phân tích, công việc xác định nguyên nhân cái chết của con tê giác trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Mọi người đồng tình là họ cần phải đến xem xét nơi bộ xương tê giác được tìm thấy. Và đó là chuyến đi bộ 7km vào rừng sâu - và sau đó quay lại 7km để thoát khỏi rừng.

image
Vết đạn tìm thấy trên xương con tê giác

Hành trình điều tra

Đội nghiên cứu thực hiện hành trình này trong một ngày rất nóng, ẩm. Một hướng dẫn viên đi trước họ, phạt các nhánh và cành cây để tạo đường đi. "Đường cực kỳ gập ghềnh," Newcomer nói.

Những kinh nghiệm, hiểu biết của Newcomer đóng vai trò then chốt cho phần này của cuộc điều tra.

Cuối cùng họ cũng đến khe suối nơi xác con tê giác được tìm thấy. Đó là một đoạn rừng rậm, dốc và dày đặc ở phía bắc và một đoạn rừng thoải hơn ở phía nam. Phía dưới là một dòng suối nhỏ chảy xiết từ phía đông sang tây.

image
"Vẫn còn dấu chân tê giác trên mặt đất," Newcomer nói. "Và phía trên vị trí cái xác được tìm thấy có những cây tre rất khoẻ - chúng nằm trong khoảng đường kính 10-15cm - và chúng nằm rạp hẳn trên mặt đất, như thể có xe ủi cán qua."

Newcomer thấy một cây tre bị gãy thành dạng chữ U. Mọi người lập tức tưởng tượng ra con tê giác đã nằm đè lên nó, có lẽ sau khi ngã xuống và bị vướng vào.

"Nếu nó để bụng vướng vào những cây tre này, nó có thể đã bị ngạt thở," Newcomer nói.

Dần dần bức tranh về cái chết của con tê giác bắt đầu hiện ra. Con tê giác đã di chuyển xung quanh trước khi chết, nó đã vật vã, và nó đã chuệch choạc va chạm, xô ngã vào cây cối xung quanh.

Họ kiểm tra khu vực đó xem còn có chút xương nào của nó không, nhưng không tìm thấy gì.

Newcomer nhanh chóng phác thảo khu vực, ghi chú các đặc điểm quan trọng của vị trí như dấu chân và địa điểm sọ tê giác được tìm thấy, cùng với vị trí dòng suối.

image
Bộ xương tê giác trên sàn khi đoàn chuyên gia xem xét

Khi họ rời khu vực, Newcomer là người cuối cùng trong nhóm quay lại để chụp một bức ảnh. Ông biết ông sẽ không quay lại nơi này. Việc nơi này có thể là địa điểm chú tê giác Java cuối cùng của việt Nam chết khiến ông bị sốc. Ông chờ đợi vài giây, nhìn vào những cây tre bị gãy và dòng suối bên dưới.

"Vô cùng xúc động," ông nhớ lại. "Như là bạn bị một cú đập vào đầu vậy."

Cả nhóm đi bộ rời khỏi rừng. Vào buổi chiều, trời đổ mưa, một số đoạn đường đã biến thành suối. Cuối cùng họ cũng lội qua và kiệt sức.

Vết đạn

Trở về văn phòng vài ngày sau đó, nhiệm vụ kế tiếp của họ là dựng lại bộ xương tê giác trên sàn càng chính xác càng tốt.

Xem xét kỹ hơn bộ xương có thể cho thấy rất nhiều điều về sức khoẻ con thú trước khi nó chết.

image
Những gì mà các nhà khoa học có được là bộ xương đã bị tẩy trắng

Cooper và Streicher là chuyên gia trong lĩnh vực này. Ngoài các đặc điểm khác, họ để ý thấy sự thay đổi về khớp trên chân trước trái của con vật, có thể gây ra sự cứng đờ và có lẽ gây đau.

Móng trên chân này cũng ít bị mòn hơn, cho thấy chân đã không hoạt động bình thường.

Cooper đã viết về nghiên cứu này trong quyển sách gần đây tên “Điều tra động vật hoang dã trong rừng”: "Có lẽ là... vết thương do đạn gây ra, đã khiến chân trước bên trái bị cứng đờ, đau đớn và bị viêm, khiến cho con tê giác dễ gặp các yếu tố rủi ro, có thể gây tử vong."

Sau đó, Streicher đưa mảnh xương đặc thù này lên một thiết bị chụp quét CT. Nó cho thấy một lỗ phía dưới và phía trên, ở vị trí viên đạn dừng lại, khá giống như hậu quả gây ra do bị viêm - làm viêm xương.

Trong một báo cáo gửi WWF, các nhà điều tra nói quá trình viêm, sưng này có lẽ đã kéo dài ít nhất hai tháng, hoặc có lẽ đến năm tháng.

Đây là kết luận chính. Con tê giác không chết vài ngày hay vài tuần sau khi bị bắn. Nó đã sống thêm được nhiều tháng sau đó.

Nó không chỉ bị thương trong thời gian ngắn, mà bị thương theo cách khiến nó không thể đi lại và cuối cùng, có vẻ đó là nguyên nhân dẫn đến cái chết.

image
"Các động vật như thế này, tê giác, voi, chúng không thể làm gì nếu mất một chân," Streicher giải thích. "Chúng quá nặng để đi cà nhắc."

Newcomer cũng lưu ý rằng, theo điểm găm của viên đạn và đường đạn đạo, viên đạn có vẻ như do một tay săn trộm bắn ra từ một vị trí thấp hơn con tê giác - có lẽ là ở sườn đồi - và tên trộm có lẽ đã nhắm vào tim con thú.

Có thể con tê giác trúng không chỉ một phát đạn, nhưng các viên đạn trúng vào thịt hay qua các cơ quan phần mềm mà không trúng vào xương thì đội nghiên cứu không thể tìm ra. Vì tất cả những gì họ có chỉ là bộ xương con thú.

image
Một câu hỏi không lời đáp khác sau đó là, liệu có phải chính tay bắn súng đã tìm ra con tê giác sau nhiều tháng nó bị thương để cưa sừng nó, hay một kẻ cơ hội khác đi ngang qua đã cắt sừng khi thấy cái xác tê giác.

Dù là cách nào, mặc dù sừng tê giác có thể bán được hàng ngàn đô la Mỹ, nhưng sừng tê giác Java không lớn lắm.

"Nó dễ dàng nằm lọt thỏm trong bàn tay bạn, bạn có thể bỏ nó vào túi." Newcomer nói khi ông nhận xét tình hình đau đớn - một phân loài tê giác bị tuyệt chủng chỉ vì một cái sừng bé xíu.

Nỗ lực bảo tồn thất bại

rhinoceros
Vài tháng sau đó, phân tích DNA xác nhận phân tê giác mà Brook thu nhặt được trước đó đều là của một con tê giác - và đó cũng chính là con tê giác mà người ta tìm được bộ xương.

Với quá ít chứng cứ để tiếp tục, rất khó để đi đến kết luận, nhưng các dấu hiện rõ ràng chỉ ra hệ lụy của sự việc: một tên săn trộm bắn con tê giác ít nhất một lần, một viên đạn găm vào chân trái trước của con thú gây ra nhiễm trùng, viêm xương và ngăn cản con vật di chuyển, điều này có thể có hoặc không dẫn đến việc con thú ngã xuống ở cánh rừng bên dòng suối, cũng là nơi con tê giác cuối cùng không trụ được nữa.

image
Hiện trường nơi xác con tê giác được tìm thấy

"Phát đạn đã giết con tê giác," Newcomer sau đó tuyên bố. "Chỉ có điều nó giết con thú sau một thời gian dài chứ không phải ngay tức thì."

Sau đó, Brook mô tả những gì xảy ra là "nỗ lực bảo tồn thất bại" của Việt Nam. "Tôi bị tác động khá nhiều bởi việc này, và thực sự bị trầm cảm sau đó," bà nhớ lại.

Lý do chính của bà ở Việt Nam là tìm hiểu về số lượng tê giác, và loài tê giác đó đã tuyệt chủng.

Cảnh sát Việt Nam tham gia điều tra, cung cấp các phân tích về đường đi của viên đạn. Họ nói viên đạn đến từ một khẩu súng bán tự động, như AK47.

Nhưng không một nhà điều tra nào từng nói chuyện về việc liệu có vụ bắt giữ hay kết tội nào sau đó hay không.

Tổ chức WWF nói họ tin cuộc điều tra chính thức vẫn còn mở. Dù ai đã bắn con tê giác và ai đã cưa sừng của nó - dù họ có phải là cùng một người hay không - chúng vẫn đang nhởn nhơ.

rhinoceros
Một số ít cá thể tê giác Java vẫn còn tồn tại trên thế giới. Có một số lượng rất nhỏ - khoảng từ 40 đến 60 cá thể - còn sống ở Indonesia. Nhưng tê giác Java nằm trong danh sách bị đe dọa nghiêm trọng của Liên đoàn Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên.

Các cuộc tuần tra do Quỹ Tê giác Quốc tế và Quỹ Tê giác Indonesia luôn theo dõi số lượng, nhưng các nhóm này cảnh báo khu vực sinh sống cho loài tê giác nên được mở rộng để đảm bảo chúng có thể tiếp tục tồn tại.

Ngày nay, Ed Newcomer làm việc tại Botswana. Ông vẫn quan tâm rất nhiều đến số phận loài tê giác.

Gần đó, tại công viên Quốc gia Kruger ở Nam Phi, mỗi ngày đều có ba đến bốn con tê giác bị săn trộm. Và có một sự trớ trêu cay đắng với những vụ giết hại này.

"Các con tê giác bị giết để đáp ứng nhu cầu ở Việt Nam," ông nói.

Hy vọng

rhinoceros
Nhưng vẫn còn hy vọng. Vì một điều, như Newcomer chỉ ra, con người đã từng rất thành công trong việc chống lại săn trộm trước kia.

Ví dụ như trường hợp lệnh cấm buôn bán ngà voi quốc tế đã giúp làm giảm, mặc dù không chặn được hẳn, nạn săn trộm voi. Một lệnh cấm tương tự với sừng tê giác đã được áp dụng, mặc dù vẫn còn gặp rất nhiều rào cản với luật của quốc gia sở tại.

Brook giờ đây làm việc cho Cộng đồng Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCS), cho biết với rất nhiều nhà bảo tồn ở Việt Nam, việc mất con tê giác Java cuối cùng là cú sốc sâu sắc.

Có thể đã quá trễ để cứu tê giác, nhưng từ đó trở đi đã có nhiều nỗ lực tập trung vào các loài quý hiếm bị đe dọa khác.

image
Một bức vẽ minh họa loài tê giác Java

Bà lấy ví dụ điển hình với loài sao la, một trong những loài động vật lớn có vú hiếm nhất trên thế giới. Khá giống một chú linh dương nhỏ, sao la chỉ mới được phát hiện từ năm 1992 và là loài đặc hữu ở Lào và Việt Nam.

"Cơ bản là họ đã thay đổi cách tiếp cận với việc bảo tồn những loài ở miền Trung Việt Nam và thiết lập một hệ thống đồng quản trị với những khu vực được bảo vệ mới - mục đích chính là để bảo vệ saol a," Brook giải thích.

image

"Dự án đã thành công trong việc loại bỏ số lượng lớn bẫy trong khu vực."

Sừng của con tê giác Java cuối cùng ở Việt Nam có lẽ đã biến mất trong thị trường chợ đen.

Thậm chí nếu ta có tìm ra chiếc sừng, trong trường hợp này cũng không thể xác định gene của nó với cá thể đã được xét nghiệm. Những kẻ săn trộm có lẽ sẽ chẳng bao giờ bị bắt.

Và chưa hết, trong những cánh rừng ở đông nam Á, rất nhiều sinh vật tuyệt vời vẫn còn sống sót - và rất nhiều vẫn còn sinh sôi nảy nở.

Mất đi con tê giác cuối cùng là thảm kịch ở Cát Tiên, nhưng nhiệm vụ của rừng quốc gia này vẫn chưa kết thúc.

Trong suốt 720km2 diện tích rừng, khỉ, gấu chó, tê tê và loài hươu hiếm gần như đã vượt qua những khó khăn.

Dù có may mắn, chúng chẳng bao giờ có thể vượt qua được tầm ngắm bọn săn trộm ngoài kia, sâu thẳm trong rừng rậm mênh mông.



Chris Baraniuk

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁN BỘ TÀU CÒN NGU HƠN DÂN HUỐNG NỮA LÀ CÁN BỘ TA.


Mình thấy cái này từ trithucviet.vn. Tên bài viết là "Khả năng phân tích xuất sắc của ông lão bán bánh quẩy" - liền nghĩ ngay đến cahn và cái vung tay, giơ chân!
Một ngày nọ, vị huyện trưởng vừa nhậm chức đến ăn sáng ở một quán ăn nhỏ, khi vừa mới ngồi xuống bàn thì nghe thấy ông lão bán bánh quẩy vừa bận rộn chiên bánh vừa càm ràm: “Mọi người tranh thủ ăn uống đi, quản lý thành phố sắp đến dẹp quán rồi, ít nhất ba ngày không ăn bánh quẩy của chúng tôi được đâu!”
Huyện trưởng bất ngờ, gần đây lãnh đạo Sở vệ sinh tỉnh muốn đến thanh tra, chiều hôm qua huyện mới quyết định 3 ngày sau sẽ triển khai sửa sang đột xuất, làm thế nào mà mới sáng sớm ông lão này đã biết rồi vậy?
Nào ngờ chuyện này còn chưa rõ ràng thì chuyện khác lại khiến huyện trưởng càng thêm đau đầu. Một hôm, huyện trưởng đến quán bánh quẩy của ông lão như thường lệ. Không ngờ ông lão lại báo tin: “Mấy ông ở trên sắp đến thanh tra rồi! Ai có chuyện bất công gì thì đến nhà khách huyện đợi đi!”
Huyện trưởng lại kinh ngạc, lại đau đầu. Tổ công tác của Văn phòng tỉnh sẽ đến thanh tra vào thứ Tư, tin tức này tối hôm qua mới được thông báo trên ủy ban, ông lão này sao lại biết được nhanh như vậy chứ? Điều khiến ông kinh ngạc hơn nữa chính là ông lão này chẳng những biết rõ hành trình của các quan lớn, mà còn biết hết cả hành động bí mật kiểm tra đột xuất các khu vực giải trí.
Một ông lão không biết chữ mà lại biết rõ nhiều tin tức nội bộ của chính phủ như vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, nhất định là một nhân viên chính phủ nào đó không biết giữ mồm giữ miệng. Vì thế, huyện trưởng lập tức mở cuộc họp để phê bình các cục trưởng, chủ nhiệm. Ai nấy đều cúi đầu, không dám nói tiếng nào trước lãnh đạo.
Dù vậy, cục trưởng công an bạo gan hỏi: “Thưa huyện trưởng, việc ông lão này là do chính mắt ông nhìn thấy hay chỉ nghe nói thôi?”
Huyện trưởng tức giận vỗ bàn: “Đều do chính tai tôi nghe thấy đấy! Tôi hỏi anh, có phải những người ở tỉnh xuống tối nay sẽ thanh tra các nơi vui chơi không?”
Cục trưởng công an bối rối ra mặt rồi im lặng. Huyện trưởng tức giận ra lệnh: “Anh đích thân điều tra ông lão đó, ngày mai báo lại với tôi!”. Cục trưởng công an lập tức thay thường phục rồi đi bí mật điều tra ông lão bán bánh quẩy. Không ngờ rằng, ông lão lại đang thông báo tin tức với mọi người: “Trưởng thị trấn gần đây bị xui rồi. Mọi người cứ đợi mà xem, chuyện không nhỏ đâu…”.
Cục trưởng công an vừa nghe xong thì rất ngạc nhiên. Và ông cười ngượng, giả vờ hỏi: “Sao ông biết được? Chẳng lẽ con trai ông là thư ký ban kiểm tra?”
Ông lão cười haha: “Làm thế nào tôi biết được ấy à? Trưởng thị trấn trước đây đều bảo tài xế đến mua bánh quẩy của tôi, hai hôm nay thì lại thay đổi, tự đến đây ăn, nét mặt thì cứ buồn rầu. Lúc cha ông ấy mất cũng không thấy ông ấy buồn rầu đến thế, ngoài mất chức ra thì còn có thể là gì được?”
Cục trưởng công an nghe xong thấy kinh ngạc, ông lão này quả thật là bản lĩnh. Và ông hỏi tiếp: “Làm sao ông biết được việc hôm qua đồn ông an thanh tra khu giải trí?”
Ông lão bán bánh quẩy lại cười: “Ông không thấy khu vui chơi mới sáng đã treo bảng tạm nghỉ sửa chữa à? Người ta có mắt, tin tức nhanh chóng lắm!”
“Vậy làm sao ông biết được Sở vệ sinh xuống kiểm tra?”
“Ngoài những lúc bên trên xuống kiểm tra thì có khi nào ông nhìn thấy xe tưới nước rửa đường đi ngang qua không?”
Cuối cùng, cục trưởng công an hỏi ông lão vấn đề mà ông khó hiểu nhất: “Lần trước tổ công tác ở Văn phòng tỉnh đến chỉ đạo công việc, làm sao ông biết tin nhanh vậy?”
Ông lão cười: “Thì càng đơn giản. Hàng xóm nhà tôi có một vụ án, tòa án treo suốt 8 năm không thèm làm. Hôm đó đột nhiên nhân viên tòa án lại đến hỏi thăm, vừa cười vừa hỏi này hỏi nọ, lại còn không ngừng hứa hẹn vụ án sẽ được giải quyết ngay. Chẳng phải là rõ rành rành là sợ họ khiếu nại đó sao!”
Cục trưởng công an phục sát đất, lập tức vội vàng chạy về báo cáo tình hình cho huyện trưởng. Huyện trưởng nghe xong thì nổi giận, lập tức triệu tập cuộc họp lần nữa, dạy dỗ suốt bốn giờ đồng hồ:
“Các anh xem, một người bán bánh quẩy lại có thể biết rõ những việc chúng ta làm từ những hiện tượng rất đơn giản thôi, điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là trong chúng ta tồn tại quá nhiều chủ nghĩa hình thức. Thói xấu này mà không thay đổi thì sao có thể nâng cao hình tượng của nhà nước đây? Từ hôm nay trở đi, bộ phận nào tiếp tục để lộ cơ mật vì lý do này, để cho ông lão đó ‘nhìn thấy trước’ thì tôi sẽ không khách sáo nữa đâu!”
Một buổi sáng nọ, huyện trưởng lại đến chỗ ông lão bán bánh quẩy định kiểm tra hiệu quả của cuộc họp. Không ngờ ông lão lại thông báo tin mới: “Hôm nay trên kia có quan lớn xuống đấy, không chỉ xuống một người thôi đâu!”
Huyện trưởng kinh ngạc, quả là không thể xem thường được. Buổi trưa, thị trưởng sẽ đến kiểm tra công việc cùng với quản lý tỉnh, chuyện này chính ông cũng chỉ vừa nhận được thông báo vào tối hôm qua, ông lão này sao lại biết trước được thế này?
Huyện trưởng cố nén giận hỏi ông lão: “Ông nói có quan lớn đến, vậy rốt cuộc là lớn đến mức nào vậy?”
Ông lão trả lời mà chẳng buồn ngẩng đầu lên: “Thì lớn hơn huyện trưởng!”
Huyện trưởng lại hỏi: “Ông nói không chỉ có một người đến, vậy thì có thể cho biết là con số cụ thể không, rốt cuộc có mấy người đến?”.
Ông lão ngẩng đầu nghĩ, rồi trả lời chắc chắn: “4 người”.
Huyện trưởng trợn mắt há miệng, quả thật là cấp trên sẽ có 4 người đến! Tim ông đập thình thịch nhưng lại hỏi: “Thầy… thầy… làm thế nào thầy biết được những việc này? Hơn nữa lại còn biết chính xác như vậy?”
Ông lão bán bánh quẩy lại cười: “Chẳng phải rất dễ sao? Lúc sáng khi tôi ra quán thì thấy cảnh vệ ở nhà khách huyện đều đeo gang tay trắng, ai nấy đều như thể sắp ra trận, chắn chắn là có cấp trên đến rồi. Sau lại thấy trong bãi đỗ xe, xe của thư ký, huyện trưởng đều đỗ vào trong góc, chắc chắn sẽ có cấp trên cao hơn họ đến. Nếu nhìn kỹ thì xe của thư ký và huyện trưởng đỗ ở vị trí số 5 và 6, cho nên cấp trên sẽ có 4 người. Ông có tin không? Người làm quan không giống dân thường chúng tôi, đi vệ sinh cũng phải xem cấp bậc, trình tự trước sau!”
Huyện trưởng nghe xong há hốc miệng đang ngậm đầy bánh quẩy, ngồi bất động tại chỗ.
Theo Secretchina
Thanh Mai

Phần nhận xét hiển thị trên trang