Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Lòng căm thù Mỹ liên kết Moskva và Bắc Kinh lại với nhau


Phạm Duy Hiển


Xã luận tờ Fiancial Times

Phạm Nguyên Trường dịch


Giải thích sai về sự chia rẽ trong quan hệ Xô-Trung hồi những năm 1950 và đầu những năm 1960 là một trong những thất bại lớn nhất của cơ quan tình báo trong thời Chiến tranh Lạnh. Nếu Mỹ nhận thức mức độ thù địch giữa hai siêu cường thì họ có thể tìm được cách lợi dụng những mâu thuẫn này sớm hơn nữa.


Hiện nay, Mỹ và các nước đồng minh của họ có nguy cơ là sẽ mắc sai lầm ngược lại. Đa số các nhà phân tích nghiêm túc ở phương Tây hiện vẫn phủ nhận khả năng hình thành liên minh thực sự giữa Nga và Trung Quốc. Thậm chí nhiều chuyên gia Nga và Trung Quốc còn nói rằng thái độ thiếu tin cậy cả trong lịch sử lẫn văn hóa giữa hai bên đơn giản là còn quá lớn.

Nhưng quan hệ Nga-Trung đã trở thành gắn bó hơn và diễn ra với tốc độ nhanh hơn là tuyệt đại đa số từng nghĩ. Liên minh toàn diện, được xây dựng trên lòng hận thù đối với trật tự thế giới mà Mỹ giữ thế thượng phong, là hoàn toàn có thể, nếu chưa nói là đã trở thành hiện thực.

Trong tuần này, tàu chiến Nga và Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận trên biển lớn nhất từ trước tới nay – kéo dài tám ngày, với bài tập đánh chiếm các hòn đảo trong khu vực đang tranh chấp ở Biển Đông (South China Sea). Cuộc tập trận này là tiếp tục cuộc thao diễn của lực lượng hải quân hai nước hồi tháng 6 ở Biển Hoa Đông (East China Sea), gần những hòn đảo nằm ở trung tâm khu vực tranh chấp quyết liệt giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Việc thể hiện tình đoàn kết như thế diễn ra hai tháng sau khi Tòa quốc tế ở Hà Lan bác bỏ đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền đối với phần lớn khu vực mà ngoài Trung Quốc ra còn có tới 5 nước cùng đòi hỏi chủ quyền. Ngay trước ngày Tòa đưa ra phán quyết – Trung Quốc coi là bất hợp pháp - Tổng thống Nga, Vladimir Putin, là người đã đứng hẳn về phía Trung Quốc.

Bắc Kinh có truyền thống tránh né những liên minh chính thức và trong mấy năm gần đây họ chỉ có hai đồng minh gần gũi là Pakistan và Bắc Hàn mà thôi. Nhưng Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, đã và đang áp dụng chính sách đối ngoại quyết đoán hơn tất cả những người tiền nhiệm trong vòng 40 năm qua và có dấu hiệu chứng tỏ rằng Trung Quốc đang có xu hướng nuôi dưỡng ý tưởng thành lập các liên minh chính thức. Từ năm 2013, Tập Cận Bình và Putin đã gặp nhau tổng cộng 17 lần và những cuộc gặp gỡ của các ủy ban công tác hai bên cũng gia tăng nhanh chóng.

Ngoài lòng thù hận mà hai bên đều có đối với sự “can thiệp” của Mỹ vào sâu sau của mình, Trung Quốc và Nga còn giống nhau ở nhiều phương diện khác, từ hệ thống chính trị độc tài đến thiên hướng ngả về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Tập Cận Bình và Putin cùng hứa sẽ “hồi sinh” dân tộc mình và khuyến khích tinh thần bài ngoại, cùng với chủ nghĩa dân tộc theo lối dân túy và cố gắng dùng các phương tiện thông tin đại chúng để tạo ra hình ảnh nhà lãnh đạo cứng rắn.

Liên minh này có thể mang tới cho Nga nhiều rủi ro. Moskva đang thận trọng trước sự ghẻ lạnh của các liên minh tiềm tàng trong khu vực. Nước này cũng lo lắng trước sự mất cân đối trầm trọng về nhân khẩu ở vùng Viễn Đông, đấy cũng là nơi mà các tỉnh đông dân của Trung Quốc nằm kề ngay bên cạnh những khu vực không người rộng lớn của Nga. Putin cũng đang bực mình vì Nga có thể trở thành đối tác nhẹ đồng cân hơn.

Trong khi đó, ở Bắc Kinh, kí ức về cuộc chiến tranh biên giới ở vùng Mãn Châu hồi những năm 1960 và thái độ kẻ cả của Moskva trong quan hệ với những nước cộng sản trước đây cũng vẫn còn làm người ta nhức nhối.

Cả hai bên dường như đều ngày càng muốn bỏ qua những khác biệt và tập trung vào cái đang liên kết họ lại với nhau: lòng hận thù đối với siêu cường mà họ tin là đang xuống dốc không phanh.

Washington và bạn bè của họ không được lặp lại sai lầm của thời Chiến tranh Lạnh khi cho rằng quan hệ Xô-Trung là đời đời bền vững và hạ thấp rủi ro của liên minh bài phương Tây. Nhưng, điều đó cũng không được cản trở việc Mỹ hợp tác với Nga và Trung Quốc khi có điều kiện, dù đấy có là Syria hay biến đổi khí hậu thì cũng thế.

Nhưng nó đòi hỏi phải thận trọng và phải chú ý hơn nữa đối với việc bảo đảm an toàn cho các liên minh của phương Tây ở Đông Âu và châu Á.

Nguồn: https://www.ft.com/content/d8992f2c-79a3-11e6-a0c6-39e2633162d5
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những chỉ dấu khủng hoảng trước mắt



Thế giới đang có quá nhiều chỉ dất bất ổn, trong đó là nguy cơ khủng hoảng tài chính sắp tới tại Trung Quốc. Diễn đàn Kinh tế sẽ cùng chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa tìm hiểu xem người ta đã thấy những gì mà có kết luận u ám này…
Ảnh minh họa chụp tại Qingdao, Shandong, Trung Quốc hôm 9/8/2016.
Kinh tế Trung Quốc và Âu Châu đáng ngại nhấtNguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do cùng Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong mấy ngày qua, các thị trường tài chính đều chờ đợi xem Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ quyết định thế nào về lãi suất trong hai ngày họp định kỳ vào Thứ Ba và Thứ Tư của một ủy ban chuyên môn về chính sách tiền tệ và tín dụng. Nhưng trong khi đó, thế giới bên ngoài lại có nhiều dấu hiệu đáng ngại hơn là một vụ tăng lãi suất tại Mỹ. Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày cho bức tranh toàn cảnh về các dấu hiệu đáng ngại này.


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhìn riêng trường hợp Hoa Kỳ, bản thân tôi thì mong là Ngân hàng Trung ương Mỹ sớm ra khỏi tình trạng quá bất thường và bất lợi khi duy trì lãi suất mấp mé ở số không. Nhưng định chế này phải đắn do cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau nên chắc là chưa tăng lãi suất ngắn hạn kỳ này, và người ta còn phải nghe ngóng tình hình và quyết định về lãi suất vào kỳ sau, trong sáu tuần nữa. Nhưng như cô vừa nêu ra, thế giới bên ngoài có nhiều dấu hiệu kinh tế đáng ngại và tôi cho rằng đáng ngại nhất là tình hình kinh tế Trung Quốc và Âu Châu ở hai đầu Đông Tây của cả đại lục Âu-Á. Kỳ này ta sẽ tập trung vào hai nơi đó.

Nguyên Lam: Như vậy, xin nhờ ông mở đầu và nói về những dấu hiệu này.

  Thế giới bên ngoài có nhiều dấu hiệu kinh tế đáng ngại và tôi cho rằng đáng ngại nhất là tình hình kinh tế Trung Quốc và Âu Châu ở hai đầu Đông Tây của cả đại lục Âu-Á.

-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tại Hoa Kỳ, người ta tưởng niệm vụ khủng bố 9-11 ngày 11 Tháng Chín năm 2001 với hậu quả là 15 năm sau vẫn còn lan rộng ra toàn cầu nhưng đa số lại đã quên vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 với sự sụp đổ của tập đoàn đầu tư Leman Brothers vào ngày 15 Tháng Chín. Về kinh tế, ta không nên quên biến cố đó vì hậu quả vẫn kéo dài cho đến nay chưa dứt. Hôm 15 vừa qua, một thống kê u ám từ Âu Châu cho thấy hậu quả đó, qua ngày 18, vụ bầu cử tại thành phố Berlin của Đức càng xác nhận chuyện này. Sau đó thì ta mới nhìn vào Trung Quốc, là nơi sẽ xảy ra một biến cố còn nguy ngập hơn vụ Lehman Bros. tại Mỹ.

Nguyên Lam: Nguyên Lam hiểu là ông nhìn trên toàn cảnh và chấm vào hai nơi có thể có nhiều biến động kinh tế nhất trong thời gian tới. Xin đề nghị ông giải thích cho chuyện đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thứ nhất, thống kê ngoại thương tại Âu Châu cho thấy xuất khẩu của Đức bị giảm 10% trong Tháng Bảy so với năm ngoái. Với sản lượng kinh tế đứng hạng thứ tư thế giới, Đức là một trụ cột của khối Âu Châu vì có nến kinh tế mạnh nhất, nhưng nhược điểm sinh tử của Đức là quá lệ thuộc vào xuất khẩu, với xuất khẩu chiếm 46% tức là gần 50% của Tổng sản lượng. Nếu hàng hóa dịch vụ bán ra ngoài mà sụt thì sản lượng kinh tế Đức có thể giảm 5% và nạn suy trầm tại Đức sẽ gây khó khăn cho Âu Châu. Thật ra Âu Châu đã bị nguy ngập từ năm 2008 và khối Euro bị khủng hoảng từ năm 2010 tới nay chưa dứt.

Vì vậy, Đức mới tìm cách bán hàng nhiều hơn qua Mỹ và qua Tầu. Khi ấy, và nhìn vào quan hệ tay ba Mỹ, Tầu, Đức, nếu Hoa Kỳ mua của Trung Quốc ít hơn thì xuất khẩu của Đức qua Tầu để bán cho Mỹ cũng sụt. Nếu Hoa Kỳ lại mua của Đức ít hơn thì hậu quả còn tai hại gấp bội. Kinh tế Mỹ lệ thuộc rất ít vào xuất khẩu trong khi khả năng nhập cảng của một thị trường tiêu thụ quá lớn lại là nguồn sống cho các nước xuất khẩu như Đức và Tầu. Mà từ vài năm nay, cơ cấu kinh tế Hoa Kỳ đang chuyển theo hướng tự sản xuất nhiều hơn, nếu Hoa Kỳ mua hàng ngoại ít hơn thì hai nước kia sẽ bị tai họa lớn. Bây giờ ta mới nói qua chính trị và bầu cử.

Một trung tâm chứng khoán ở Fuyang, Trung Quốc hôm 20/4/2016.
Nguyên Lam: Nghe chuyên gia kinh tế trình bày quan hệ mua bán giữa các nước thì thính giả của chúng ta mới hiểu vì sao khi kinh tế toàn cầu còn suy yếu sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, xứ nào càng lệ thuộc vào xuất khẩu thì càng bị rủi ro suy thoái kinh tế, đứng đầu có lẽ là nước Đức và Trung Quốc ở hai đầu của đại lục. Bây giờ ta mới nói tới chuyện chính trị của nước Đức trước khi ngó qua Trung Quốc. Thưa ông, chuyện ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Người ta thấy là qua các cuộc bầu cử hội đồng hàng tỉnh tại Đức từ mấy tuần qua, gần đây nhất là hôm 18 tại Berlin, đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo theo xu hướng trung hữu của Thủ tướng Angela Merkel bị thua nặng. Bên cạnh đó, đảng Dân Chủ Xã Hội theo xu hướng trung tả cũng mất phiếu. Hai đảng truyền thống này mà gom lại cũng chưa đạt 30%. Trong khi đó, các đảng nhỏ ở ngoài lề, từ cực tả đến cực hữu đều thắng lớn. Năm tới, Đức lại có tổng tuyển cử, và nếu chiều hướng phân rã tiếp tục, với sáu đảng mỗi đảng chỉ có chừng 15% số phiếu thì bất ổn chính trị tại Đức ở trung tâm Âu Châu sẽ là bất ổn lớn cho cả khối. Kinh tế suy trầm và chính trị tanh bành là một rủi ro lớn cho Liên Âu, giữa vụ khủng hoảng về di dân và nạn khủng bố. Đấy là lúc ta quan tâm đến báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS cũng vừa công bố hôm 18. Đây mới là chuyện đáng lo nhất.

Nạn vay mượn quá nhiều 


Nguyên Lam: Dường như ông trình bày bối cảnh chung rồi mới đi vào báo cáo đáng lo ngại này. Thưa ông, Ngân hàng BIS là gì và vừa báo cáo những gì mà ông cho là đáng lo nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thế giới có Ngân hàng Thanh toán Quốc tế gọi tắt là BIS (Bank of International Settlement), là “ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương”, do các ngân hàng trung ương Âu-Mỹ thành lập từ năm 1930 với chức năng yểm trợ luồng trao đổi tư bản cho thông thoáng và ổn định. Nhưng BIS còn có trách nhiệm quan trọng hơn nữa, là theo dõi tình hình tài chánh toàn cầu để gióng chuông cảnh báo. Các phúc trình kinh tế của họ cho từng quý có giá trị chuyên môn rất cao nên được người ta đặc biệt chú ý.

Báo cáo mới nhất của họ nêu ra một rủi ro tài chánh lớn cho hệ thống ngân hàng trên thế giới. Dựa trên một số tiêu chuẩn chuyên môn khi so sánh lãi suất với hối suất tức là tỷ giá ngoại tệ, Ngân hàng BIS cho rằng các thị trường tài chính đã có sự lệch lạc tiên báo một vụ khủng hoảng và lần này có thể còn nghiêm trọng hơn vụ Lehman Brothers năm 2008.

Khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF dự báo một rủi ro suy trầm toàn cầu, với đà tăng trưởng bình quân chỉ ở khoảng 2-3%, thì một vụ khủng hoảng tài chính sẽ là tai họa đáng sợ cho năm tới. Đáng chú ý hơn vậy là việc Ngân hàng BIS cảnh báo rằng chính Trung Quốc lại có thể bị khủng hoảng tài chính trong vòng ba năm tới đây vì nạn vay mượn quá nhiều.

Nguyên Lam: Bây giờ ta mới đi vào trọng tâm của vấn đề là khủng hoảng tài chính bên Trung Quốc. Thưa ông, Ngân hàng BIS nhận định thế nào về Trung Quốc?

  Vụ khủng hoảng do Ngân hàng BIS cảnh báo càng dễ xảy ra nay mai. Và triệu chứng tiên báo sẽ là hàng loạt doanh nghiệp vỡ nợ. Vụ khủng hoảng sắp tới tại Trung Quốc sẽ là một chấn động toàn cầu, còn kinh hãi hơn vụ tập đoàn Lehman Bros. sụp đổ…

-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin vắn tắt thế này: các chuyên gia kinh tế tài chính thường theo dõi tình hình từng nước và so sánh đà tăng trưởng của tín dụng với đà tăng trưởng của sản lượng kinh tế. Họ đề ra một cái ngưỡng đáng quan tâm là khi tín dụng cao gấp 10 sản lượng thì đấy là chỉ dấu tiên báo quốc gia này có thể bị khủng hoảng tài chánh, là trường hợp xảy ra cho Hoa Kỳ năm 2007 khi thị trường gia cư bị bể và dẫn tới vụ khủng hoảng năm 2008. Khi hệ số này lại có chiều hướng tăng tốc thì tình hình dễ thành nguy ngập.

Ngân hàng BIS theo dõi tình hình Trung Quốc từ nhiều năm và thấy đà gia tăng ngày càng mạnh. Từ hệ số 6,7 vào năm 2011 đã vọt lên 22,1 vào năm 2014. Năm ngoái thì hệ số này lên tới 24,5 và vừa qua thì đã là 30,1! Nói cho gọn thì mức rủi ro này đã vượt các nước Đông Á trong vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ ngày hai Tháng Bảy năm 1997 và bỏ xa hệ số 10,6 của Mỹ trước vụ Lehman Bros. Tôi xin nhắc lại là Tháng Sáu vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế định chế IMF đã khuyến cáo Bắc Kinh là phải giải quyết chuyện này càng sớm càng hay, nhưng mãi tới nay, chưa thấy ai nhúc nhích vì họ không thể làm khác được là cứ phải theo lao.

Nguyên Lam: Vì chuyện này hơi chuyên môn nên Nguyên Lam xin đề nghị ông giải thích thêm cho thính giả của chúng ta hiểu vì sao mà sự cách biệt gia tăng giữa tín dụng và sản lượng lại là dấu hiệu của khủng hoảng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thông thường, người ta đi vay với hy vọng dùng tiền đó tạo thêm tài sản cho tương lai và tài sản ấy phải cao hơn số tiền đi vay gồm cả vốn lẫn lời thì mới có lợi. Đấy là chức năng của tín dụng, đối chiếu với kết quả đo lường ở sản lượng. Nếu nghĩ rằng tài sản trong tương lai còn tăng giá mạnh thì người ta càng có khuynh hướng đi vay nhiều hơn và lấy rủi ro lớn hơn. Khi ấy, người ta có tinh thần đầu cơ, tức là đầu tư để kiếm lời nhiều và nhanh, nhưng cũng gặp nhiều rủi ro hơn nữa. Đây là trường hợp mà người ta gọi là bong bóng đầu cơ. Bước thứ ba còn nguy hơn vậy, là người ta vẫn có thể đi vay rất nhiều mà chưa chắc đã có khả năng thanh toán trong tương lai. Thực chất thì đấy là sự lường gạt, rất dễ xảy ra trong một hệ thống tài chính lỏng lẻo về kiểm soát và lệch lạc về chính sách. Trung Quốc đã bị nạn bong bóng đầu cơ và đang bị thêm nạn lường gạt tín dụng hay vỡ nợ vì chính sách.

Nguyên Lam: Ông vừa trình bày ba cấp tín dụng đo lường ở ba cấp rủi ro và giải thích ở chính sách của Trung Quốc. Tức là ông cho là vụ khủng hoảng tài chính sắp tới tại Trung Quốc lại xuất phát từ chính sách của nhà cầm quyền, thưa ông tại sao như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Xưa nay, Trung Quốc dùng đầu tư làm đòn bẩy, là sức bật cho sản xuất và sản xuất thừa thì xuất khẩu. Từ vụ khủng hoảng tài chính rồi Tổng suy trầm 2008-2009, số nhập khẩu của các nước có giảm và xuất khẩu của Trung Quốc cũng vậy như chúng ta vừa nói. Nhưng vì chưa thể cải cách cơ chế để lấy tiêu thụ nội địa làm đầu máy tăng trưởng, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn thúc đẩy đầu tư, chủ yếu là để tạo ra việc làm hầu tránh nạn thất nghiệp và họ tài trợ đầu tư bằng tín dụng. Vì tín dụng là từ các ngân hàng của nhà nước, và tài trợ cho các cơ sở sản xuất chủ yếu cũng của nhà nước, các khách nợ thuộc loại quốc doanh này bất kể tới rủi ro và thấy nhà nước bơm tiền thì dùng đồng tiền đó vào việc đầu cơ. Đây là lý do khiến cho lượng tín dụng tăng vọt từ mấy năm nay vì các doanh nghiệp đi vay còn nhiều hơn trước. Và mặc dù sản xuất ra hàng không bán được, hoặc trút tiền vào các dự án xây dựng có tính chất đầu cơ, tức là thổi lên bong bóng, người ta vẫn cứ đi vay, trong tinh thần lường gạt chủ nợ là nhà nước. Vì vậy, vụ khủng hoảng do Ngân hàng BIS cảnh báo càng dễ xảy ra nay mai. Và triệu chứng tiên báo sẽ là hàng loạt doanh nghiệp vỡ nợ. Vụ khủng hoảng sắp tới tại Trung Quốc sẽ là một chấn động toàn cầu, còn kinh hãi hơn vụ tập đoàn Lehman Bros. sụp đổ…

Nguyên Lam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng im lặng: Bênh chi cái thứ Hoa hậu rau sạch


Hoa hậu khai rằng dù biết ông Cao Toàn Mỹ đã có gia đình vợ con, nhưng vẫn “đem lòng cảm mến”, vẫn “lén lút quan hệ”. Cô “cảm mến” cái ví của ông ta thì đúng hơn. Cô muốn làm nghề “trồng rau” thì đúng hơn. Cô không đáng để chúng ta phải thương. 

Hoa hậu Phương Nga
Để tôi nói cho các bạn nghe về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà Hoa hậu Phương Nga bị truy tố. Khoản 4 điều này, với tình tiết “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu trở lên”- có khung hình phạt từ 12 đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Có lẽ, tương lai mờ mịt với đằng đẵng chăn kiến, mây tre đan ở “Hilton Chí Hòa” hay một cái “Hotel 5 sao” xa lơ xa lắc nơi rừng xanh núi đỏ nào đó khiến cô Hoa hậu không thể không tự cứu mình. 

Và, thưa các bạn, chúng ta được biết tới một “hợp đồng tình ái” - chân dài - đại gia.

Hãy nhìn dung nhan hoa hậu với một vẻ thảo mai xen lẫn bình thản khi cổ đứng trước tòa khai rành khai rọt:

16,5 tỉ đồng là số tiền để “quan hệ tình cảm trong vòng 7 năm”. Có dấu vân tay. Có lịch trình cụ thể: “thứ hai, tư và sáu là “ghé” buổi trưa, còn thứ ba, năm và bảy “ghé thăm” vào buổi chiều… Trong thời gian ấy, không được “quen” người khác.

Đây là những tình tiết chính trong lời khai của Hoa hậu trước tòa. Và cũng là lý do chính khiến Tòa trả lại hồ sơ để làm rõ.

Tất nhiên, mọi việc sẽ phải được cơ quan điều tra xem xét. Và có 2 khả năng hoặc có hoặc không có thể xảy ra ở đây. Không khó để đoán vị đại gia nọ sẽ sổ toẹt, sẽ chém tay rằng đó chỉ là chước thoát tội của một hoa hậu lừa (Anh ta dám đưa người từng vai ấp má kề ra trước vành móng ngựa thì còn điều gì là không dám làm?).

Nhưng khả năng nào thì sự xấu xí vẫn không buông tha hoa hậu. Cô ấy khai rằng dù biết ông Cao Toàn Mỹ đã có gia đình vợ con, nhưng vẫn “đem lòng cảm mến”, vẫn “lén lút quan hệ”.

Cô hoa hậu không đáng để chúng ta phải thương. Cô “cảm mến” cái ví của ông ta thì đúng hơn. Cô muốn làm nghề “trồng rau” thì đúng hơn.

Tôi tin vào bản “hợp đồng rau sạch” này. Thực tế chẳng từng đầy rẫy những vụ hoa hậu bán dâm, chuyện các người đẹp chân dài chẳng nghề ngỗng gì ngoài nghề... tiêu tiền.

Chớ trách tôi “dìm hàng” một người phụ nữ đang thân yếu thế cô, đang dưới đáy.

Hãy nhớ đến người vợ của “đại gia kim cương”, hãy nghĩ đến những người vợ, những đứa trẻ phía sau những cú áp phe chân dài - đại gia này.

Nếu cô ấy muốn làm rau sạch, muốn “tiêu tiền gùm đại gia” hãy lắc đầu trước những người, giữa chừng, rút điện thoại ra trả lời “Bố sắp về đây”.

Nếu cô ấy muốn bán mình. Xin hãy bỏ ra khỏi đầu vương miện hoa hậu. Tại Nga, tại Vinh, hay tại Châu Phi thì cũng là hoa hậu người Việt.

Anh Đào
(Lao Động)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nóng: Chiến tranh Điện tử đang nổ ra ở Biển Đông


“Chiến tranh điện tử có thể diễn ra rất bất ngờ, ác liệt và nhanh chóng…” là cách miêu tả về một cuộc xung đột trên Biển Đông trong cuộc tập trận của Hải quân Trung Quốc.

Cuộc tập trận diễn ra trên biển Hoa Đông của Hải quân Trung Quốc (PLAN) hồi đầu tháng này nhằm mục đích ” tăng cường sức mạnh tấn công, độ chính xác, sự vững vàng và tốc độ của quân đội trong điều kiện bị áp chế điện tử và gây nhiễu mạnh”, hay nói cách khác là trong môi trường tác chiến điện tử.
Cuộc tập trận là một động thái chuẩn bị nhằm đối phó với nguy cơ nổ ra chiến tranh điện tử với Mỹ trên biển Đông và biển Hoa Đông.
Một dấu hiệu chuẩn bị cho cuộc chiến tranh điện tử của Trung Quốc ở Biển Đông là Bắc Kinh đang tích cực xây dựng và thiết lập các hệ thống radar ở hầu hết các đảo nhân tạo mà nước này bồi đắp trái phép ở biển Đông.
Theo tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) của CSIS thì một loạt các hệ thống radar đã được bố trí trên 7 bãi đá của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép, bao gồm Châu Viên, Chữ Thập, Ga-ven, Vành Khăn, Gạc Ma, Tư Nghĩa và Subi.
Các hệ thống này được sử dụng cho các mục đích khác nhau, trong đó có một số trạm có thể phục vụ hai mục đích. Trạm radar ở đá Chữ Thập và đá Subi sẽ được sử dụng để điều hướng cho các máy bay hoạt động trên các sân bay xây dựng trái phép ở đây.
Nhưng khi kết hợp với nhau, chúng còn cho phép mở rộng tầm kiểm soát nhận dạng phòng không cũng như tăng cường khả năng tác chiến điện tử của quân đội Trung Quốc (PLA) trên khắp một vùng rộng lớn ở biển Đông.
Về áp lực dư luận, những hệ thống ra đa có vẻ như sẽ ít gây căng thẳng hơn việc bố trí các hệ thống pháo hay tên lửa phòng không, hoặc thậm chí là các đường băng nếu xét về các cấu trúc hạ tầng được xây dựng trái phép trên các đảo nhân tạo.
Bởi lẽ chúng ít nhiều “hỗ trợ” cho những ngụy biện của Trung Quốc rằng sẽ sử dụng các đảo nhân tạo vào mục đích tìm kiếm cứu nạn.
NÓNG: Chiến tranh điện tử đang nổ ra ở Biển Đông! - Ảnh 2.
Tàu chiến của Hải quân Trung Quốc thực hành bắn đạn thật trong diễn tập.
Tuy nhiên, sự thật là các hệ thống radar này hoàn toàn “thừa công dụng” nếu như chỉ phục vụ mục đích đó, chúng thậm chí “dư sức” đáp ứng nhu cầu của quân đội Trung Quốc. Điều này đã làm dấy lên quan ngại cho các nước khác trong khu vực.
Những hệ thống radar phân bố rải rác trên quần đảo Trường Sa (của Việt Nam) giúp tăng cường khả năng tác chiến điện tử (ISR) cả quân đội Trung Quốc trên biển Đông, và nếu kết hợp với lực lượng hải quân và mạng lưới vệ tinh tình báo, nó sẽ cho phép định vị một cách nhanh chóng các tàu thuyền và thiết bị quân sự đang hoạt động trong khu vực.
Cũng cần lưu ý rằng các hình ảnh vệ tinh công bố gần đây cho thấy các thiết bị truyền dẫn tín hiệu vệ tinh cũng đang được xây dựng trái phép trên nhiều đảo nhân tạo.
Những thiết bị này khi đi vào hoạt động có thể cho phép định vị mục tiêu ngoài tầm chân trời một cách chính xác và tinh vi hơn, phục vụ cho các hệ thống tên lửa đạn đạo chống hạm của Trung Quốc.
Qua đó, mở rộng phạm vi chiến lược chống tiếp cận – chống xâm nhập (A2/AD) của Bắc Kinh, cũng như tăng cường mối đe dọa cho các mục tiêu di động – chẳng hạn như nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ.
Sự kết hợp giữa các lực lượng của Trung Quốc ở biển Đông, chẳng hạn như dân quân biển, sẽ càng tăng cường phạm vi kiểm soát. Những lực lượng này đều thuộc sự chỉ đạo của Chính phủ Trung ương ở cả biển Đông và biển Hoa Đông.
Những báo cáo gần đây cho thấy Trung Quốc đã bắt đầu trang bị thiết bị truyền dẫn tín hiệu nối với hệ thống định vị toàn cầu Bắc Đẩu cho toàn bộ đội tàu cá đông đảo cũng như lực lượng dân quân biển của Trung Quốc, giúp Bắc Kinh có thể đảm bảo huy động lực lượng này đến nơi cần tăng cường hiện diện khi cần thiết.
Những radar trên các đảo nhân tạo cũng cho phép PLA tiến hành các hoạt động gây nhiễu các thiết bị điện tử và ra đa của các nước khác trong khu vực.
Chẳng hạn như năm trước, Trung Quốc đã tìm cách gây nhiễu các thiết bị điện tử và chặn đường truyền dẫn tín hiệu GPS của máy bay do thám RQ-4 Global Hawk của Mỹ trên biển Đông.
Về phía Mỹ, Lầu Năm Góc cũng đang thúc đẩy triển khai đầu tư và nghiên cứu các công nghệ tác chiến điện tử tiên tiến, bắt đầu ở cấp độ chiến thuật trên biển Đông.
Chính phủ Mỹ mặc dù tuyên bố việc triển khai các máy bay này nhằm phục vụ cho “các nhiệm vụ huấn luyện song phương”, song 4 chiếc Growler hoàn toàn có thể tiến hành các hoạt động do thám và tình báo điện tử (SIGNT) trên biển Đông.
Máy bay Growler còn có khả năng gây nhiễu các radar mà Trung Quốc thiết lập trái phép trên các đảo nhân tạo.
Điều này có thể dẫn đến một kịch bản đó là các phương tiện tác chiến điện tử của Mỹ sẽ tăng cường tập trung vào các trạm rada của Trung Quốc trên biển Đông, còn Trung Quốc sẽ gia tăng các vụ tấn công điện tử và tăng cường khả năng phòng thủ để bảo vệ các cấu trúc rada này trên các đảo.
Trong tương lai, cả hai bên có lẽ sẽ tăng cường khả năng chiến tranh điện tử nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát hoặc vô hiệu hóa vùng cảnh báo sớm của đối thủ trong khu vực. Việc tăng cường khả năng tác chiến điện tử cũng là một cách ít gây sự chú ý từ bên ngoài và ít mang tính khiêu khích hơn.
Trong tương lai, những hoạt động tương tự sẽ càng gia tăng, đặc biệt một khi các cơ sở ra đa của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo hoàn thành và đi vào hoạt động, không quân Trung Quốc sẽ bắt đầu hoạt động ráo riết trên khắp khu vực.
Chiến tranh điện tử vốn ít thu hút sự chú ý của dư luận, đã và đang trở thành mặt trận khốc liệt giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông. Cuộc chiến này nếu cứ tiếp tục và kéo dài chắc chắn sẽ làm tăng nhiệt cho thùng thuốc súng vốn đã rất nóng bỏng ở biển Đông.
Điển hình là hồi đầu tháng 6 năm nay, Hải quân Mỹ đã triển khai 4 máy bay tấn công điện tử EA-18G Growler đến Philipines.
(Soha)/TTHN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Tôi từng thấy dự án tỷ đô vô vọng vẫn được duyệt'


"Tôi cũng được chứng kiến một dự án đầu tư hàng tỉ đô la Mỹ được đệ trình vào giữa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và mặc dù bị các chuyên gia tài chính đánh giá là “vô vọng”, nó vẫn được phê duyệt một cách rất nhầm lẫn".
Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn (hoặc sự không đồng nhất) hiện nay giữa phát triển kinh tế - thông qua các dự án kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, lợi ích cộng đồng? TBKTSG trao đổi với luật sư Nguyễn Tiến Lập, Văn phòng Luật sư NHQuang & Cộng sự, Trọng tài viên VIAC.

Phóng viên: Theo ông, việc xem xét, đánh giá và ra quyết định thực hiện một dự án kinh tế nên như thế nào? Vai trò, tiếng nói của người dân - cộng đồng liên quan và toàn xã hội về tác động của dự án đối với họ ra sao?
Formosa, Luật đầu tư, tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư
Luật sư Nguyễn Tiến Lập. Ảnh: TBKTSG
- Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Có thể nói rằng bất cứ dự án đầu tư nào cũng gây ra các tác động về nhiều mặt như kinh tế, xã hội và môi trường, dự án càng lớn thì các tác động gây ra càng lớn. Đặc biệt lưu ý là các tác động đó không bao giờ chỉ là tích cực, có dự án mang lại lợi ích về kinh tế nhưng lại có ý nghĩa tiêu cực về xã hội và phải trả giá về môi trường, điển hình là dự án thép của Công ty Formosa ở Hà Tĩnh như chúng ta đã biết.
Tuy nhiên, có một thực tế là trải qua bao nhiêu lần xây dựng và sửa đổi các luật về đầu tư, chúng ta vẫn đi theo một lối mòn tư duy rất cũ và bị trói buộc bởi cách tiếp cận một phía và một chiều. Đó là khi đánh giá các tác động của dự án thì chủ yếu chỉ căn cứ vào sự giải trình của chính nhà đầu tư và sự thẩm định của các cơ quan nhà nước mà quên đi quan điểm và tiếng nói của các tổ chức chuyên môn độc lập và đặc biệt là người dân, với tư cách là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp.
Tại sao lại như vậy? Có lẽ bởi bao lâu nay, chúng ta luôn luôn tự cho rằng Nhà nước là đại diện của dân nên luôn luôn nghĩ thay và lo hộ cho dân rồi! Nhưng những gì diễn ra với dự án thép Formosa đã chứng minh hùng hồn rằng điều đó sai...
Trên thế giới, không ở đâu người ta có lối tư duy đơn giản như vậy cả. Cho nên, đối với mỗi dự án đầu tư, dù là ở quy mô nhỏ và tác động không lớn, nhưng hễ có một số lượng nhất định người dân phản đối là người ta cho dừng dự án ngay để xem xét lại, nếu không dừng hẳn thì ít nhất cũng buộc phải giải trình cho người dân hiểu rõ hơn.
Từ cách tiếp cận lấy tăng trưởng kinh tế làm mục tiêu đến coi con người làm trung tâm là một chặng đường đấu tranh để thay đổi nhận thức khá dài. Năm 2011, Liên hợp quốc đã ban hành bản khuyến nghị về các nguyên tắc chung về kinh doanh và nhân quyền. Theo đó, không chỉ Nhà nước mà cả các nhà đầu tư và doanh nghiệp cũng buộc phải tôn trọng và bảo về các quyền con người đã được pháp luật thừa nhận, trong đó có các quyền quan trọng như quyền sinh kế, quyền được hưởng môi trường trong sạch và an toàn cho sức khỏe, quyền bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và cộng đồng...
Từ thời điểm này và cả trước đó, ở nhiều quốc gia, một nguyên lý hành động và ứng xử mới đã được cả chính quyền và các doanh nghiệp lớn cam kết tuân thủ. Đó là, đối với một dự án đầu tư, người dân trực tiếp và các cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng đều có quyền tham gia vào quá trình đánh giá các tác động kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, khi phê duyệt dự án, chính quyền còn cho phép cả hai bên, tức nhà đầu tư và người dân, cùng đồng thời đánh giá tác động và phản biện lẫn nhau. Rất tiếc rằng cả nhận thức và thực tế này đường như còn khá mới mẻ và xa lạ với đất nước chúng ta.
Làm sao để hạn chế sự câu kết giữa chính quyền địa phương, các quan chức với các ông chủ dự án nhằm lách luật, thậm chí là vượt qua luật? Hay bản thân luật hiện nay cũng có vấn đề, cũng tạo môi trường cho sự câu kết này, thưa ông?
- Cũng phải thừa nhận là sự câu kết giữa chính quyền và các quan chức địa phương với các nhà đầu tư và chủ dự án có thể xảy ra ở khắp nơi, không chỉ Việt Nam. Lý do đơn giản là bởi các lợi ích trước mắt cho tất cả các bên như: thành tích chính trị về tăng trưởng và tạo việc làm cho các nhà chính trị địa phương, các lợi ích vật chất mà các quan chức có được thông qua đường dẫn tham nhũng, tiêu cực; còn người dân bình thường thì có thể nhất thời ủng hộ và hoan nghênh dự án do bị lừa dối và cả tin vào các điều hứa hẹn về tương lai tốt đẹp hơn.
Vậy thì luật pháp có thể giúp được gì nhằm hạn chế sự câu kết này? Theo tôi, vấn đề không chỉ là thực thi luật pháp mà trước hết ở chất lượng của pháp luật. Câu hỏi cụ thể là: pháp luật có thực sự thể hiện tính khoa học, dân chủ, nhân văn và lẽ công bằng hay không, hay pháp luật được tạo ra chỉ như một công cụ để bảo vệ lợi ích của một nhóm xã hội nào đó, thậm chí là các lợi ích được theo đuổi tại một thời điểm chính trị - xã hội nhất định nào đó?
Phân tích ở khía cạnh này, tôi cho rằng các luật về đầu tư, kinh doanh của chúng ta trước đây và cả Luật Đầu tư hiện giờ đã và đang có rất nhiều vấn đề căn bản. Xét từ góc độ lợi ích của nhà đầu tư, chúng ta không tôn trọng các nguyên lý thị trường. Xét theo quan điểm bảo vệ lợi ích của người dân, chúng ta không hướng tới mục tiêu bảo về các quyền của họ. Thay vào đó và trên tất cả, một tinh thần toát lên vẫn là kiểm soát và quản lý của Nhà nước, được nhấn mạnh tới mức nhiều người nhận xét là không hiểu động cơ của điều đó là gì, bởi nó không gắn với lợi ích nào cụ thể cả. Cá nhân tôi ủng hộ quan điểm xem xét lại sự cần thiết tồn tại của chính Luật Đầu tư hiện nay.
Các dự án kinh tế lớn hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng vốn vay, cả trong nước và nước ngoài. Những rủi ro nào cần cân nhắc khi quyết định có cho thực hiện một dự án hay không, thay vì chỉ nhìn vào chiếc bánh vẽ mà chủ đầu tư trưng ra?
- Trong khía cạnh cụ thể này, tức quy mô vốn hay tài chính của dự án, tôi cho rằng đang tồn tại cả sự nhầm lẫn lẫn sự có chủ ý từ phía các cơ quan phê duyệt. Nhầm lẫn ở chỗ, về bản chất kinh tế, không có dự án lớn nào được thực hiện bởi chính người đang được gọi là “chủ đầu tư” cả, và đối với các dự án hàng tỉ đô la Mỹ thì câu trả lời càng tuyệt đối là “không”. Thay vào đó, các ông chủ dự án chỉ đóng vai trò người phát triển (tức developer) và là người bỏ ra các chi phí ban đầu. Còn chủ sở hữu thật sự của dự án bao giờ cũng là các ngân hàng và định chế tài chính.
Ở các nước, đối với một dự án đầu tư, người dân trực tiếp và các cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng đều có quyền tham gia vào quá trình đánh giá các tác động kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan.
Đã từng tham dự các cuộc họp thẩm định dự án, tôi chưa thấy các cơ quan phê duyệt tham khảo ý kiến các nhà tài trợ hoặc nhà tư vấn, môi giới tài chính mà chỉ tập trung chất vấn các developer mà thôi, hay cùng lắm là đòi cho xem các tờ giấy cam kết tài trợ của ngân hàng nào đó, vốn không có giá trị pháp lý thực sự nào cả. Tôi cũng được chứng kiến một dự án đầu tư hàng tỉ đô la Mỹ được đệ trình vào giữa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và mặc dù bị các chuyên gia tài chính đánh giá là “vô vọng”, nó vẫn được phê duyệt một cách rất nhầm lẫn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn có cả sự chủ ý của cơ quan phê duyệt, đặc biệt là các cơ quan địa phương. Đó chính là chủ trương săn đuổi các dự án có quy mô vốn lớn. Quy mô lớn thì tính phức tạp càng cao và dự án càng tạo cơ hội trục lợi lớn hơn cho các cán bộ “câu kết”. Đồng thời, cái bánh vẽ được tạo ra cũng càng lớn hơn, ít nhất có lợi cho sự quảng bá về thành tích chính trị trong phát triển kinh tế của địa phương.
Formosa, Luật đầu tư, tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư
Có một thực tế là khi đánh giá các tác động của dự án thì chủ yếu chỉ căn cứ vào sự giải trình của nhà đầu tư và sự thẩm định của các cơ quan chức năng mà quên đi quan điểm và tiếng nói của các tổ chức chuyên môn độc lập và đặc biệt là người dân. Ảnh: Daidoanket.vn/ TBKTSG
Có dự án ra đời sau này trong bối cảnh quy hoạch về sử dụng đất, quy hoạch phát triển ngành đã có nhưng các quy hoạch đó dễ dàng được sửa đổi để hợp thức hóa dự án hoặc ngược lại? Vậy thì, theo ông, các quy hoạch này có ý nghĩa gì? Cần thay đổi tư duy và cách làm quy hoạch ra sao?
- Có thể nói rằng vấn đề quy hoạch cũng đang là một nhức nhối khác đối với xã hội và người dân. Công tác quy hoạch dường như không còn sự tín nhiệm xã hội nào bởi cả tính mục tiêu, tính khoa học, sự minh bạch và công bằng lẫn sự ổn định của các bản quy hoạch. Trong trạng thái lý tưởng, công tác quy hoạch hỗ trợ cho sự phát triển đồng đều, hài hoà và bền vững, đồng thời các bản quy hoạch trở thành hành lang pháp lý cho các dự án đầu tư cụ thể. Bởi xét cho cùng, hiệu quả và hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước có trọng tâm chính ở quy hoạch.
Tuy nhiên, rất tiếc rằng trong những năm qua, điều tiêu cực nhất ảnh hưởng đến chất lượng các bản quy hoạch là tính chủ quan, duy ý chí của những người làm ra nó, lấy kế hoạch áp đặt lên thị trường. Ngoài ra, yếu tố làm cho các bản quy hoạch không còn tính pháp quy là sự dễ dàng bị uốn nắn hay sửa đổi bởi các nhóm lợi ích có thế lực trong xã hội thông qua các dự án đầu tư cụ thể.
Chúng ta đang có quá nhiều quy hoạch lại ở mức độ quá chi tiết, do đó, nó luôn luôn thiếu các phương tiện và nguồn lực để thực hiện. Không cấp chính quyền nào muốn các quy hoạch của mình thất bại cả, do đó, chỉ cần có dự án đầu tư như một nguồn lực xuất hiện là người ta sẵn sàng cho phép thương lượng để chỉnh sửa quy hoạch. Mâu thuẫn này là có thật và tồn tại ở mọi nơi. Tuy nhiên, chỉ có thể giải quyết nó bằng những người làm quy hoạch thật sự công tâm vì sự phát triển đất nước, đồng thời với sự nhận thức đúng đắn bản chất thị trường của nền kinh tế trong mối quan hệ với vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hơn là các ý kiến đề xuất về xây dựng Luật Quy hoạch một cách giản đơn.
TheoMỹ Lệ/ Thời báo Kinh tế Sài Gòn
*Tiêu đề bài viết do Tuần Việt Nam đặt
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Obama đã vô hiệu hóa ‘vũ khí’ của ông Putin?


Có thể nói, về lĩnh vực khí đốt, thế giới đang “đơn cực” với ông vua lớn nhất là nước Nga, nay đã trở thành đa cực.
Trong suốt hai nhiệm kỳ của mình, tổng thống Obama luôn luôn bị đánh giá là không quá quan tâm đến chính sách đối ngoại, thậm chí “yếu ớt”: rút quân khỏi Iraq, giảm quân số có mặt ở Afghanistan... Có thực như vậy?  
Vô hiệu hóa “vũ khí” dầu mỏ 
Năm 2014 là năm rất đáng nhớ đối với toàn thế giới khi chứng kiến giá dầu mỏ “rơi” với tốc độ kinh ngạc, mất khoảng 60% chỉ trong vòng 9 tháng. Lúc đó thì dư luận mới chú ý đến công nghệ dầu và khí đá phiến sét của Hoa Kỳ. 
Người ta thực sự sửng sốt, khi dầu mỏ vốn là công cụ để làm khuynh đảo thế giới từ những “ông vua dầu” vùng Trung Đông, có thể làm lao đao nước Mỹ thì nay ngược lại.
Dư luận càng chú ý hơn khi nó được gắn với sự kiện nước Nga của V.Putin sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine và hứng chịu đòn trừng phạt từ Phương Tây, trong đó có Hoa Kỳ. Tác động kép của một giá dầu giảm thấp cùng lệnh trừng phạt khiến túi tiền của nước Nga lép nhanh trông thấy. 
Năm 2014 cũng là năm Mỹ soán ngôi cả Nga lẫn Saudi Arabia trở thành nhà sản xuất hidro carbon lớn nhất thế giới. Từ đó nước Mỹ bắt đầu quá trình dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, và tương lai sẽ trở thành nhà xuất khẩu dầu khí “máu mặt.”  
Từ 2005 – 2015, trong vòng 10 năm, nhập khẩu dầu mỏ của Hoa Kỳ đã giảm 32%. Kết quả này có được là kết quả của việc phát hiện trữ lượng dầu khí đá phiến gần như vô tận của nước Mỹ. 
Công nghệ dầu khí đá phiến ngày càng tân tiến khiến thời gian đưa một giếng dầu đá phiến vào hoạt động chỉ không quá 3 tháng. Về giá thành, dầu đá phiến Mỹ có giá thành xê dịch từ 23 - 50 đôla một thùng, do đó giá thành trung bình là 36 đô la. Thông thường, nếu giá xê dịch ở mức 30 - 36 đôla, thì dầu đá phiến Mỹ vẫn giữ nguyên được lợi thế trên “sân nhà” do không phải vận chuyển từ tận Trung Đông về Mỹ.   
Công nghệ hóa lỏng khí đốt cũng không ngừng được hiện đại hóa, làm cho viễn cảnh xuất khẩu dầu khí của Hoa Kỳ bằng tàu chở dầu và LPG đã nằm trong tầm tay. Theo thời gian, chi phí của bán khí LPG bằng tàu thủy sang châu Âu (thị trường tiêu thụ lớn nhất) sẽ rẻ hơn so với bán khí bằng đường ống.  
Một so sánh đơn giản – đường ống “Sức mạnh Siberia” đính kèm hợp đồng khí đốt khủng Nga – Trung đến nay vẫn chưa xây dựng được là bao vì đủ các khó khăn, từ vốn đến các yếu tố địa hình… người ta đã bắt đầu tính đến một dự án khí hóa lỏng để thay thế. 
Có thể nói, về lĩnh vực khí đốt, thế giới đang “đơn cực” với ông vua lớn nhất là nước Nga, nay đã trở thành đa cực. 
Tổng thống Obama, tổng thống Putin,  Bin Laden, khủng bố, giá dầu, Crimea, lệnh trừng phạt Nga
Một mỏ khai thác dầu từ đá phiến, Mỹ. Ảnh: Expressnews.com/TBKTSG
Câu chuyện năng lượng này sẽ tác động đến hai nhóm nước.  
Nhóm nước thứ nhất, những nước chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng hóa thạch mà không chuyển đổi kịp thời, sẽ rất khó khăn vì giá dầu mỏ thế giới còn duy trì ở mức thấp một thời gian dài nữa. Có thể kể các nước nhóm này như Saudi Arabia, Nga, Venezuela… Saudi Arabia vừa qua đã cách chức bộ trưởng năng lượng sau khi ông này tại vị 25 năm. Còn Venezuela thì đang lâm vào một cuộc khủng hoảng nặng nề, đến thực phẩm còn không có để cung cấp cho người dân. 
Lệnh cấm vận với Iran được dỡ bỏ cho phép sự góp mặt trở lại của một đại gia bị “bỏ đói” lâu ngày vào thị trường dầu mỏ, chỉ làm khó khăn thêm cho những thương gia lâu năm đang lao đao, đặc biệt là Nga.  
Nhóm thứ hai, những nước tiếp tục phụ thuộc năng lượng hóa thạch sẽ đi vào tụt hậu. Nổi bật lên trong nhóm này là Trung Quốc “công xưởng của thế giới” với đặc điểm lâu nay là sản xuất hàng xuất khẩu phục vụ thị trường toàn cầu, nhưng với công nghệ không quá cao và thực tế, nước này vẫn đang thiếu và thèm khát công nghệ tiên tiến từ cả Nga lẫn Phương Tây ở mọi lĩnh vực từ quốc phòng đến dân dụng.  
Trung Quốc có thể nói là nền kinh tế phụ thuộc lớn nhất vào năng lượng hóa thạch, và trong tương lai nếu không chuyển đổi kịp sang hướng thân thiện hơn với môi trường, thì những hệ lụy của nó sẽ quá lớn để khắc phục. Điều này với Trung Quốc hoàn toàn không dễ dàng nếu như không muốn nói là không thể làm được trong một vài thập kỷ tới.  
Nếu như thực sự có một sự đối đầu Mỹ – Nga (Obama – Putin) thì những gì ông Obama làm trong thời gian tại vị của mình chính là “không đánh mà thắng”?. 
Đối mặt khủng bố bằng sự phồn vinh 
Từ sự kiện ngày 11/9/2001 chúng ta hiểu, thế giới của thế kỷ 21 không phải đứng trước nguy cơ chiến tranh thế giới giữa các siêu cường, mà là cuộc đối đầu của nhân loại văn minh với chủ nghĩa khủng bố.  
10 năm sau, vụ tập kích tiêu diệt Bin Laden cho thấy có sự thay đổi trong chiến lược quân sự của Hoa Kỳ, giảm dần sự có mặt của quân đội ở nước ngoài và thay bằng tăng cường hoạt động tình báo và tập kích bằng lực lượng đặc nhiệm phản ứng nhanh.  
Nhưng thế giới lại xuất hiện một thế lực khủng bố mới mang hình hài của Nhà nước, đó là IS (Nhà nước Hồi giáo). Nhiều chuyên gia đã đánh giá việc hình thành và phát triển của IS một phần do Bin Laden bị tiêu diệt.  
Có quan điểm cho rằng khủng bố không thể bị tiêu diệt bằng tấn công quân sự, mà phải bằng việc xây dựng một thế giới hòa bình và phồn vinh. Sự thay đổi trong chính sách năng lượng của Hoa Kỳ cũng cho phép nước này không cần có mặt sâu rộng tại điểm nóng “rốn dầu” Trung Đông như trước đây.  
Cũng chính việc giảm sự có mặt của lực lượng quân sự ở hải ngoại, kết hợp một nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ, xã hội phồn vinh… sẽ làm giảm căng thẳng đối đầu giữa một bên là tư tưởng khủng bố cực đoan và một bên là “chủ nghĩa đế quốc bóc lột nguyên nhân của nghèo đói.” 
Cũng là ông Obama ủng hộ của nhiệt tình các cuộc đối thoại để đi đến ký kết Hiệp ước Paris 2015 về biến đổi khí hậu toàn cầu (12/12/2015.) Những gì mà Barack Obama đã làm trong hai nhiệm kỳ của mình, dù bị cho là “yếu về đối ngoại,” nhưng chính sự “hòa dịu” đó đã đem lại cho thế giới một bộ mặt mới, rất khác và tôi tin là chính sách này của ông còn có ảnh hưởng đến tương lai: những gì nhân loại mong muốn là hòa bình và một môi trường trong sạch. Ông Obama rất xứng đáng với giải Nobel Hòa bình được trao tặng năm 2009. 
Phúc Lai   
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quảng cáo an ninh quốc gia?


Ở một góc độ khác, cũng là chuyện quảng cáo, lại là sự quảng cáo… cho quản lý lỏng lẻo, vô trách nhiệm của chính quyền cơ sở.
Bún bò Huế, Đồng Kỵ, Bắc Ninh, Trung Quốc, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, nhà báo Kim Dung
Biển hiệu với hầu hết là chữ Trung Quốc đặt trên đường 271, đoạn qua phường Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) chỉ người biết tiếng Trung mới có thể hiểu. Ảnh: Lê Anh Dũng
Đó là câu chuyện khu “phố Tàu” tái xuất sát nách Thủ đô gây ồn ào tuần qua. Hiện tượng này chẳng mới mẻ gì. Trước đó, báo chí từng cảnh báo không ít hiện tượng “phố Tàu” ở Việt Nam. Nhưng vấn đề là hình như các “phố Tàu” cứ tiến dần, tiến về Thủ đô một cách… cố ý, còn ngược lại các quan chức cơ sở lại thường rất… vô tình. “Khu phố Tàu” ở đây là các làng nghề mộc Đồng Kỵ, Phù Khê (thị xã Từ Sơn- Bắc Ninh). Gọi là tái xuất bởi các khu phố này từng phải dỡ hàng trăm biển hiệu “tiếng Tàu” vi phạm Luật Quảng cáo năm 2013.
Nghĩa là luật cứ ban hành, quảng cáo cứ treo?
Chữ viết, tiếng nói của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia không chỉ là văn hóa, mà ở góc độ quảng cáo, đó chính là thái độ tự tôn, khẳng định chủ quyền, vị thế quốc gia. Người viết bài chợt nhớ nước Nga trong chuyến đi du lịch cách đây ít năm. Ở bất cứ khách sạn 05 sao, cho đến nhà hàng nào, cũng chỉ rặt tiếng Nga, không có bất cứ thứ tiếng nào, kể cả tiếng Anh, thứ tiếng khá thông dụng của thế giới. Sự kiêu hãnh về quốc gia của họ đến mức hơi cực đoan, thậm chí có phần cản ngại trong các dịch vụ du lịch với khách nước ngoài, nhưng nó cũng cho thấy tính tự chủ, kiêu hãnh về chủ quyền quốc gia rất cao.
Đặt hiện tượng đó bên cạnh những biển hiệu chỉ rặt “tiếng Tàu” ở nước Việt sẽ thấy điều gì? Nếu không phải là sự thiếu tự trọng, thiếu tự tôn đến mức đáng xấu hổ, cho dù nhân danh chuyện kinh doanh buôn bán.
Người dân các làng nghề, do nhận thức đơn giản, hạn chế bởi mưu sinh hoặc kiếm tiền, nhưng chính quyền cơ sở của hai làng nghề Đồng Kỵ, Phù Khê này họ làm gì?
Ông Trần Quang Nam- Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thừa nhận, đây không phải lần đầu tiên khu “phố Tàu’ xuất hiện. Và cũng không chỉ riêng Đồng Kỵ mà còn nhiều khu vực khác. Nhưng ông cũng thú nhận không hiểu vì sao thời gian gần đây hiện tượng này lại xuất hiện trở lại.
Ông là giám đốc phụ trách ngành văn hóa, liên quan đến quảng cáo, du lịch, nhà hàng mà cũng không hiểu, thì ai hiểu được đây?
Nhưng xét cho cùng, người Việt treo biển quảng cáo “tiếng Tàu”, vi phạm Luật quảng cáo vẫn còn có thể xử lý kịp thời. Còn những việc khác nghiêm trọng hơn nhiều, nhưng xử lý e rằng lại rất khó.
Đó là hiện tượng “Những ông chủ giấu mặt ở ‘phố Tàu’ Đà Nẵng” (VietNamNet, ngày 11/8). Điều đặc biệt hơn nữa, khu “phố Tàu” này nằm sát sân bay Nước Mặn, đã được quy hoạch phân lô nền biệt thự, với 246 lô. Trong đó, 77 lô ở những vị trí đắc địa do 07 công ty người Trung Quốc góp vốn với phía Việt Nam - thành lập và trực tiếp điều hành, mua đứt…
Đúng là có tiền mua tiên cũng được!
Còn theo Thiếu tướng Trần Minh Hùng - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5, toàn bộ tuyến đường dọc ven biển là khu vực có vị trí quân sự trọng yếu, bất khả xâm phạm.
Bất khả xâm phạm đến mức người Việt thì không mua được, nhưng người Trung Quốc lại có thể làm chủ cả một khu vực rộng lớn, sát sân bay Nước Mặn? Thế mới tài. Vì sao?
Theo ông Trần Văn Sơn, Giám đốc Sở KH-ĐT t/p Đà Nẵng, họ (người Trung Quốc) lợi dụng kẽ hở của pháp luật Việt Nam, góp vốn, mua cổ phần rất nhỏ tại các doanh nghiệp hoặc dự án để trở thành nhà đầu tư, sử dụng đất. Nhiều dự án được đại gia người Trung Quốc đầu tư xin thời hạn cấp đất đến 50 năm.
Vậy ngành chức năng có biết họ là người Trung Quốc không? Hoặc những ai là người Việt đứng ra “che chở” cho những người Trung Quốc đứng tên mua nhà, mua đất, mua dự án lên đến nửa thế kỷ?
Chính quyền Đà Nẵng chả lẽ không hiểu những vụ việc tiềm ẩn nguy cơ nghiêm trọng như thế này, trong khi người dân ai cũng hiểu?
Chuyện quảng cáo, nhưng là tầm nghĩ và trách nhiệm của chính quyền cơ sở.
Vì lòng tham, dường như có không ít những kẻ nhân danh người Việt đang quảng cáo về… an ninh, chủ quyền nước Việt?
Kỳ Duyên
Phần nhận xét hiển thị trên trang