Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Câu trả lời là… không có gì cả!


Nguyễn Vạn Phú 
Độc giả Mỹ phải nói sướng thiệt, họ có thể đọc The Sympathizer của Nguyễn Thanh Việt một cách thoải mái như đọc một tác phẩm văn học vừa đoạt giải Pulitzer, không mảy may vướng bận chuyện chính trị, chính em. Chẳng ai hơi đâu thắc mắc vì sao tác giả hư cấu cho một viên chức CIA sau năm 1975 rồi mà còn tìm kênh không chính thức để tài trợ cho một nhóm lính Việt Nam Cộng Hoà về Thái Lan lập căn cứ phục quốc! 
Dân Việt không được cái sướng này. Ai đọc cuốn tiểu thuyết dành giải Pulitzer (dù đó là hạng mục hư cấu) này cũng sẽ săm soi coi ông nhà văn này miêu tả cuộc chiến như thế nào, lập trường hậu chiến ra sao? Và nếu xét theo góc độ đó, thiết nghĩ nếu cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, người đọc rộng rãi hơn bây giờ, có lẽ tác giả sẽ bị ném đá từ cả hai phía và e rằng phía "Cộng Hoà" sẽ dữ dội hơn phe “Việt Cộng” dù kỹ thuật của tác giả lường trước chuyện này để hoá giải đạt mức khá thượng thừa. 
Đó là một bi kịch mà người điểm sách muốn vượt qua. Tại sao không cố quên đi chuyện chúng ta, một cách nào đó,  cũng là nhân vật trong cuốn tiểu thuyết hư cấu này, thân phận chúng ta được phơi bày trần trụi để đọc nó như đa phần độc giả trên khắp thế giới? 
Nhưng đọc với tâm thế như vậy, e rằng sẽ có người thất vọng. The Sympathizer không tạo dựng được một không khí văn học thuần tuý như những tác phẩm mà Nguyễn Thanh Việt chịu ảnh hưởng như “The Quiet American” của Graham Greene. Nó không có sự lạnh lùng của "The Spy Who Came in from the Cold" của John le Carré 
Trước hết đó là bởi tác giả chọn lối viết là một tập hợp 295 trang “tự kiểm” mà nhân vật tôi viết và nộp cho Cán Bộ (các từ loại này được viết hoa vì nó được xem là tên nhân vật)Góc nhìn này làm bó tay người viết khi muốn tạo dựng hình ảnh ba chiều cho các nhân vật chính – phần lớn họ xuất hiện như những hình nhân hai chiều, buồn tẻ, đơn điệuHọ xuất hiện chỉ để làm nền cho một dòng văn chính luận được viết theo dạng mỉa mai, hai mặtNhân vật chính xưng tôi là Đại Úy trong quân đội Sài Gòn nhưng là điệp viên do Việt Cộng cài vào. 295 trang tự kiểm này kể lại cuộc đời của anh ta mà các bạn có thể đọc được ở các bài điểm sách tóm tắt cốt truyện.  
Nhưng chính góc nhìn này đã làm cho tác phẩm thành công với độc giả Mỹ, hay ít nhất là với thế hệ baby boomers lớn lên cùng chiến tranh Việt Nam. Bởi nó cung cấp một góc nhìn châm biếm, cay độc và hài hước về xã hội Mỹ, chính trị Mỹ, điện ảnh Mỹ cùng các vấn đề của nó như sự kỳ thị ở tầng sâu nhất. Trường đoạn kể chuyện nhân vật tôi tham gia làm phim The Hamlet (lấy nguyên mẫu là bộ phim nổi tiếng Apocalypse Now) đủ để nhiều người Mỹ khoái trá khi đọc miêu tả đạo diễn lừng danh Francis Coppola hay diễn viên huyền thoại Marlon Brando dưới một con mắt khác.  
Còn ở góc cạnh "kể chuyện" thì cách viết "kiểm thảo" đó lôi cuốn chẳng khác gì một phim Hollywood như "đại cảnh" tháo chạy bằng C130 tại sân bay Tân Sơn Nhất dưới làn đạn pháo rồi "cận cảnh" cái chết của đứa con và vợ của Bốn, người bạn thân của Đại Úy bằng một viên đạn không biết từ phe nào khi còn vài bước chạy là lên được máy bay. Có lẽ với nhiều người Mỹ đây là lần đầu tiên họ được đọc miêu tả chiến tranh Việt Nam nhìn từ góc lính Cộng Hòa, bị phản bội, bị bỏ rơi nhưng chỉ biết phẫn uất với đồng đội 
Bao trùm lên đó là tính hai mặt mà tác giả muốn khoác lên mọi thứ, từ bản thân nhân vật tôi (Đại Úy) từng thú nhận ngay đầu tiểu thuyết: “am a spy, a sleeper, a spook, a man of two faces (tất cả danh từ này đều miêu tả một kẻ hai mang)kể về xuất thân (con hoang của một linh mục Pháp và một phụ nữ Việt), kể về hai vai phải đóng (vừa là đại úy quân đội Sài Gòn vừa là điệp viên do Cộng Sản cài vào) đến hai người bạn cắt máu ăn thề như ba chàng ngự lâm pháo thủ (Mẫn, cấp trên trực tiếp của Đại Úy và Bốn, lính Sài Gòn chuyên giết người trong Chiến dịch Phượng Hoàng tuy hai nhưng thật ra là một). Cả nước Mỹ dưới mắt tác giả cũng hai mặt như thế, vừa văn minh vừa thực dânvừa hiện đại, siêu mọi thứ lại tàn nhẫn, khốc liệt 
Với độc giả người Việt, nếu bỏ qua được cái xét nét nói ở trên, vẫn sẽ có nhiều người thấy thú vị với những nhận định của tác giả về mặt sau của cuộc chiến, về cuộc sống của người dân tỵ nạn, của cộng đồng nàyNgay cả Ông Tướng khi nghe tay CIA trấn an, "Chính thức mà nói không có chuyện di tản đâu" cũng phải thốt lên"Còn không chính thức mà nói các ông đang bỏ rơi chúng tôi".  
Nhưng có lẽ sẽ có nhiều người khác khó vượt qua các chi tiết như Ông Tướng thu xếp để Đại Úy ám sát một nhà báo dám kêu gọi hòa hợp hòa giải vì chiến tranh đã qua rồi hay ra lệnh ngầm để Bốn giết Thiếu Tá mập vì nghi là Việt Cộng cài lại. Trường đoạn Đại Úy nhớ lại cảnh ba tay cảnh sát cộng hòa hãm hiếp một cách dã man người nữ điệp báo Việt cộng trong khi tay cố vấn CIA đứng nhìn chẳng kém gì những đoạn văn bạo dâm của de Sade.  
Đến khi Đại Úy cùng Bốn trở về Thái Lan tìm cách vượt biên vào Việt Nam để tiền trạm cho Ông Tướng đem quân về phục quốc, cả hai bị bắt và tống vào trại cải tạo, người đọc trong nước có lẽ sẽ thấy chuyện “kiểm thảo” là bình thường, chuyện Cán Bộ đòi Đại Úy phải tự kiểm mạnh hơn nữa để thấy mình bị "phương Tây đầu độc" như thế nào là bình thườngThậm chí sẽ có những nụ cười khi Cán Bộ so sánh sao không trích "Thép đã tôi thế đấy" mà trích toàn Phạm Duy với Beatles! Nhưng sẽ có những luồng dư luận phản ứng với góc nhìn "phản tỉnh" của Đại Úy, dưới sự thúc dục của chính Mẫn, sau nhiều màn tra tấn chủ yếu bằng tâm lý đã ngộ ra Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chính là “Không có gì”  không có gì cả.  
Quay trở lại với yếu tố văn học, tác giả như sợ người đọc không hiểu được tính hai mặt của câu khẩu hiệu nổi tiếng này như Đại Úy vào cuối truyện chợt hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời mình ra nên phải dành cả đoạn nói cặn kẽ cái ý đó (Mẫn Chính Ủy cứ gặn hỏi Cái gì quý hơn độc lập, tự do? Để hướng đến câu trả lời Không có gì cả)Đây là chỗ yếu nhất của sách, làm hỏng cả phần sau mang hơi hướm thực ảo trộn vào nhau, khác với lối kể chuyện ở phần trước.  
Bỏ qua các chi tiết này, bỏ qua nhiều chỗ cường điệu (như tranh luận với ông đạo diễn về chuyện phim về Việt Nam sao không cho nhân vật Việt Nam nào nói gì cả, như cho Cán Bộ trích nhiều câu thơ của Tố Hữuthì cuốn sách hấp dẫn người chịu đọc nhờ giọng văn tưng tửng của tác giảTưng tửng ngay cả khi miêu tả cặn kẽ cách nhân vật chính giết tay nhà báo bằng những phát súng vụng về, bằng sự ân hận ám ảnh trước cái chết của Thiếu Tá do lỗi Đại Úy sợ lộ thân phận nên gán cho anh ta tội làm gián điệp hay cả khi kể chuyện "tự sướng" bằng con mực ống! Giọng văn tưng tửng này chuyển thành dòng chảy ý thức (stream of consciousness) rất thành công ở các chương gần cuối khi tác giả thoát cảnh viết kiểm thảo. 
The Sympathizer là một cách tóm tắt thông minh số phận người dân Việt phải trải qua trong hơn 40 năm quaNó sẽ thành công hơn nếu tác giả biết tiết chế, không đưa vào những đoạn "tuyên ngôn" lộ liễuĐọc nó với tâm thế đọc một bài luận dài thì dễ vào hơn là đọc nó như một tác phẩm văn học vì các nhân vật xuất hiện, nói năng, hành động chỉ như để minh họa cho điều tác giả muốn nói hay đúng hơn là thể hiện những điều tác giả sử dụng chất liệu của nguồn khác (như trong lời bạt) để nói điều muốn nói 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

..điều mà họ đánh mất cũng rất nhiều!

Con người hiện đại ngày nay, dường như đều bị cuốn vào công việc, kiếm tiền… mà vô tình đánh mất nhiều điều ý nghĩa khác trong cuộc sống. Khi đọc 5 nghịch lý dưới đây, có khi bạn cũng sẽ phải giật mình nhận ra mình cũng nằm trong số đó.

người hiện đại, nghịch lý, cuoc song,
(Ảnh: Internet)
1. Cần nhà hơn là tổ ấm
 
Nhiều người với tâm lý “an cư lạc nghiệp” nên luôn muốn sở hữu một căn nhà. Vì vậy, ai cũng phấn đấu kiếm tiền tậu được ngôi nhà mơ ước. Có người vay nợ để mua cho được căn nhà rồi ráng làm lụng kiếm tiền trả dần.
Có nhà rồi, chúng ta vẫn dành phần lớn thời gian ở ngoài đường chứ không phải ở nhà. Chúng ta vẫn tiếp tục ra đường, “cày bừa” vất vả ngoài đường để có thể đổi nhà khác to hơn, mua sắm cho nhà nhiều vật dụng tiện nghi hơn. Lẽ nào chúng ta cần một “căn nhà” hơn là một “tổ ấm”?
2. Sinh con cho người giúp việc
Vợ chồng ở với nhau chỉ mong có đứa con cho vui cửa vui nhà, sum vầy hạnh phúc. Những cặp vợ chồng nào chẳng may vô sinh hiếm muộn thì quáng quàng đi bác sĩ Đông Tây khắp mọi nơi, mong có được mụn con. Trông mong là vậy, nhưng đến khi có con, chúng ta lại mặc nhiên giao con của mình cho người giúp việc trông nom, chăm sóc.
Việc dạy dỗ con cái cũng khoán luôn cho người giúp việc. Còn chúng ta – những người đã sinh ra những đứa trẻ thiên thần ấy thì mải mê đi làm kiếm tiền. Mỗi ngày gặp con chưa được 1, 2 tiếng đồng hồ. Vậy, chúng ta sinh con ra để người giúp việc có được niềm vui nâng niu ẵm bồng, chớ đâu phải cho ta?
3. Người nghèo sang hơn người giàu
người hiện đại, nghịch lý, cuoc song,
Nhiều người ở thành phố, mức sống cao, thu nhập cao nhưng mấy khi sắm được cho cha mẹ ở quê những thứ tốt nhất. Hầu hết những gì họ gửi về nông thôn là những thứ đồ cũ không xài nữa, đã hư hỏng hoặc đã lỗi thời.
Ngược lại, những người “nghèo khó” ở nông thôn luôn chọn những thứ tốt nhất gửi lên cho người thành phố. Con gà béo nhất, buồng chuối to nhất, trái mít ngọt nhất… Chẳng phải dân nhà quê “chơi sang” hơn người thành phố sao?
4. Kiếm tiền mua sức khỏe
Chúng ta muốn kiếm thật nhiều tiền, chúng ta muốn thật giàu có, vì thế luôn cố gắng làm việc thật nhiều. Làm ngày không đủ còn tranh thủ làm đêm, tuần làm 40 giờ không đủ tranh thủ thêm cuối tuần. Nhiều người thậm chí còn dùng đủ các loại thủ đoạn, mánh khóe để đạt được danh lợi cho mình.
Hậu quả là thân tâm đều mệt mỏi rã rời, bệnh tật tìm đến. Cơ thể không một phút nghỉ ngơi khiến cho mắt mờ chân run, đầu óc mụ mị, lục phủ ngũ tạng rệu rã… và phải vào bệnh viện.
Lúc đó, bao nhiêu tiền do làm lụng vất vả mà có lại đưa hết cho thầy thuốc để mua sức khoẻ. Liệu có mua được không?
5. Thế giới ảo “thực” hơn thế giới thực
người hiện đại, nghịch lý, cuoc song,
Hình ảnh sum họp gia đình thời công nghệ, bà già và đứa bé thể hiện sự cô đơn, lạc lõng trong khi các thành viên khác cắm mặt vào smartphone. (Ảnh: Internet)
Công nghệ đang ngày càng phát triển, chúng ta càng kết nối được nhiều người, khoảng cách địa lý không còn là vấn đề nữa. Ngồi một chỗ, chúng ta có thể trò chuyện với bạn bè khắp thế giới, kết nối mọi thông tin thông qua cái điện thoại bé xíu cầm trên tay. Nhiều quan hệ quá, nhiều thông tin quá nên chúng ta không còn thời gian cho quan hệ thật, đời sống thật nữa. Bữa cơm gia đình, không còn ai ân cần hỏi han ai, mỗi người vừa ăn lại vừa cặm cụi với … chiếc điện thoại của mình.
Những cuộc gặp gỡ bạn bè cũng không ngoại lệ, mỗi người một góc mải mê với chiếc điện thoại, thỉnh thoảng ngước lên nhìn nhau gượng gạo cười lấy lệ rồi lại cắm cúi với điện thoại. Thế giới ảo đang hấp dẫn hơn thế giới thật mất rồi!
Con người hiện đại ngày nay, dường như đang không biết thế nào là đủ, vậy nên điều mà họ đánh mất cũng rất nhiều!
Theo langnhincuocsong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÓI VỀ THƠ

Bản dịch của Chân Phương


René Char (1907-1988) là gương mặt hàng đầu của thơ Pháp thế kỷ 20. Sinh trưởng tại vùng Provence, thiên nhiên miền Nam ghi dấu ấn trong các bài thơ đầu tay và tập Arsenal (1929) đã được Éluard khen tặng. Với tập thơ tiếp theo, Ralentir Travaux (1930) – tác phẩm chung của Char, Éluard và André Breton – ông gia nhập trường phái siêu thực một vài năm rồi vĩnh viễn chia tay vì cảm thấy nhóm này bị Aragon tìm cách thao túng. Là một thủ lĩnh bí mật trong cuộc kháng chiến chống quân Đức xâm lược, những sáng tác giai đoạn ấy được tập hợp trong tậpFeuillets d’Hypnos (1946) đề tặng Camus. Từ đó ông một mình một cõi; vừa thám hiểm vùng bất khả tri giáp giới thi ca và tư tưởng, vừa sáng tác gần ba mươi tác phẩm thơ và kịch để tạo nên một sự nghiệp văn học lớn. (Ông được vinh dự hiếm có khi Tủ sách Pléiade xuất bản Toàn Tập các trước tác của ông vào năm 1983.) Trong hành trình nghệ thuật ông kết bạn với nhiều danh họa như Picasso, Braque, Matisse, Kandinsky, Giacometti, de Stael, Wilfredo Lam... Char từng hợp tác với nhạc sĩ Porte và Braque để dựng vở ballet La Conjuration (1947); Pierre Boulez đã chọn ba bài thơ trong Le Marteau sans Maitre (1955) để phổ thành một tổ khúc avant-garde. Một điều lạ thường là Char không thắng giải Nobel trong khi ông được các tên tuổi như Camus, Pasternak, Saint-John Perse ... ngưỡng mộ. Khó tính với bản thân trong từng câu, ngoài sáng tác thơ ông còn thử thách ngòi bút với loại mỹ học khắt khe nhất của ngôn từ, tiêu biểu trong thể loại cách ngôn (aphorisme) mà ông đã tiếp thu từ các hiền triết thời tiền-Socrate như Parménide, Empédocle hay Héraclite. Chính nội dung hàm súc giàu tư tưởng trong tác phẩm của nhà thơ đã đem đến cho ông những người bạn trong giới triết gia như Bataille, Grenier, Blanchot, Beaufret, và đặc biệt nhất là Martin Heidegger. Trong một lần viếng thăm Char tại vùng quê miền Provence, Heidegger đã làm tặng ông bài thơ tri âm nhan đề Cézanne với câu cuối: “Zeigt sich hier ein Pfad, der in ein Zusammengehören des Dichtens und des Denkens führt? (Nơi đây có mở ra chăng một lối đi cho tư tưởng và thi ca hội ngộ?).
 
Những cách ngôn trích dịch sau đây được tuyển từ vựng tập Dans l’Atelier du Poète (Gallimard, 2007); đặc biệt đoạn Sur la Poésie (758-761, 864-866). Với những suy tưởng này, hi vọng người đọc sẽ tiếp nhận được phần nào tinh hoa của một hồn thơ.
 
Chân Phương



Tu es pressé d’écrire comme si tu étais en retard sur la vie...
Mi viết gấp viết vội làm như mi trễ giờ không theo kịp cuộc đời...

La réalité sans l’énergie disloquante de la poésie: qu’est-ce?
Hiện thực thiếu mất năng lượng bung phá của thơ: nó ra cái gì?

Produis ce que la connaissance veut garder secret, la connaissance aux cent passages.
Tri kiến ngoằn ngoèo trăm lối để giấu kín điều ẩn mật - hãy tác tạo nó ra.

Un poète doit laisser des traces de son passage, non des preuves. Seules les traces font rêver.
Nhà thơ nên để lại các vết tích hành trình của mình, không để lại chứng cứ. Chỉ vết tích mới tạo ra mộng mơ.

La poésie vit d’insomnie perpétuelle.
Thơ tồn tại nhờ mất ngủ triền miên.

Levé avant son sens, un mot nous éveille, nous prodigue la clarté du jour, un mot qui n’a pas rêvé.
Không đắm chìm trong mộng, con chữ thức trước ý nghĩa của nó và ban phát ánh dương quang khiến ta bừng tỉnh.

Le chien errant n'atteint pas forcément le forêt.
Không chắc gì con chó hoang đi lạc tới rừng.

On ne partage pas ses gouffres avec autrui,seulement ses chaises.
Ta chỉ chia nhượng được mấy cái ghế cho người khác, những vực thẳm của ta thì không.

Le présent-passé, le présent-futur. Rien qui précède et rien qui succède, seulement les offrandes de l'imagination.
Hiện tại-quá khứ, hiện tại-tương lai.Không có gì đến trước và chẳng có gì tới sau, chỉ có những tặng phẩm của tưởng tượng.

Le temps vu à travers l'image est un temps perdu de vue. L'être et le temps sont bien différents. L'image scintille éternelle, quand elle a dépassé l'être et le temps.
Thời gian nhìn xuyên qua ý tượng là năm tháng biệt tăm. Hữu thể với thời gian khác biệt nhau nhiều. Ý tượng lấp lánh đời đời khi đã vượt xa thời gian và hữu thể.

Allez à l'essentiel: n'avez-vous pas besoin de jeunes arbres pour reboiser votre forêt?
Điều chủ yếu là đây: các người không cần những cây non để gầy lại rừng hay sao?

La lucidité est la blessure la plus rapprochée du soleil.
Sự sáng suốt là vết thương gần mặt trời nhất.

Ne t'attarde pas à l'ornière des résultats.
Đừng nán lâu với dấu vết các thành quả để lại.

Au centre de la poésie, un contradicteur t'attend. C'est ton souverain.
Lutte loyalement contre lui.
Nơi tâm điểm thi ca, kẻ phản biện chờ mi. Đó là chúa tể của mi.
Với kẻ ấy mi phải đấu một cách trung thực.

Notre héritage n'est précédé d'aucun testament.
Chẳng có lời di chúc nào báo trước gia tài của chúng ta.

Comment vivre sans inconnu devant soi?
Sống bằng cách nào nếu phía trước thiếu sự bất khả tri?

La vérité attend l'aurore à côté d'une bougie.
Chân lý chờ đón rạng đông bên ngọn đèn cầy.

Il faut réapprendre à frapper le silex à l'aube, s'opposer au flot des mots.
Phải học lại cách nhen đá lửa lúc bình minh, chống lại dòng chảy từ ngữ.

Magicien de l'insécurité, le poète n'a que des satisfactions adoptives. Cendre toujours inachevée.
Phù thủy của bất an, nhà thơ chỉ có những thỏa mãn nhận tạm. Tro cháy mãi chưa tàn.

Le poème est l'amour réalisé du désir demeuré désir.
Bài thơ là mối tình toại nguyện của dục vọng mãi mãi là dục vọng.

La seule signature au bas de la vie blanche, c’est la poésie qui la dessine.
Chữ ký duy nhất bên dưới cuộc đời để trắng là chữ ký của thi ca.



Phần nhận xét hiển thị trên trang