Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

10 điều cấm kỵ chỉ có tại Trung Quốc

(Kevin Winter/Getty Images)
(Kevin Winter/Getty Images)

Chính quyền Trung Quốc khét tiếng về chế độ kiểm soát mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Dưới đây là danh sách 10 điều bị cấm chỉ có tại Trung Quốc.

1.Thuyết Big Bang
Vào tháng 4/2014, Cục Quản lý Nhà nước về Báo chí, Xuất bản, Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình đã dỡ bỏ những bộ phim truyền hình như “The Big Bang Theory,” “The Good Wife,” “NCIS,” và “The Practice” (lược dịch theo thứ tự: “Thuyết Big Bang”, “Người vợ tuyệt vời”, “NCIS” và “Nghề luật sư” khỏi các trang web chuyên chiếu video, tờ Global Times đưa tin.
Người hâm mộ những tác phẩm điện ảnh bị cấm đoán đã thể hiện nỗi bất bình vì nội dung phim không hề chống đối chính quyền hay mang chất bạo lực hoặc phạm luật. Chính quyền tuyên bố loạt phim bị gỡ bỏ vì lý do bản quyền hay vi phạm một quy định cấm nội dung “gây phương hại tới chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”, “tuyên truyền dẫn dụ giới trẻ phạm tội” hoặc “kích động mê tín và sùng bái tôn giáo”.
2.Brad Pitt
(Jason Merritt/Getty Images)
(Jason Merritt/Getty Images)
Ngôi sao điện ảnh Mỹ nổi tiếng Brad Pitt từng bị cấm vào Trung Quốc sau vai diễn thầy giáo của Đức Dalai Lama trong bộ phim “Seven Years in Tibet”(lược dịch: Bảy năm ở Tây Tạng). Mới đây cấm vận đối với siêu sao điện ảnh Brad Pitt đã được nới lỏng khi anh âm thầm cùng phu nhân Angelina Jolie tới Thượng Hải để quảng bá bộ phim mới Maleficient. Tương tự, Trung Quốc cũng đưa Harrison Ford và Richard Gere vào danh sách đen do họ ủng hộ nền tự trị của Tây Tạng, hai nhà làm phim Martin Scorsese và Khashyar Darvich chịu chung số phận vì đã xây dựng hình tượng nhân vật mang tính tích cực về Đức Dalai Lama trong tác phẩm điện ảnh “Kundun” và “Dalai Lama Renaissance”-lược dịch “Sự tái sinh của Đức Dalai Lama”.
3.Mạng xã hội Facebook
(Veluben/Wikimedia Commons)
(Veluben/Wikimedia Commons)
Giới chức Trung Quốc chặn Facebook từ năm 2009, có lẽ là bởi cuộc bạo động bùng phát hồi tháng 7 năm đó giữa tộc người thiểu số Duy Ngô Nhĩ và người Hán Trung Quốc tại vùng Tân Cương miền tây bắc, theo CNN. Chỉ những trang mạng xã hội trong nước tuân thủ hệ thống kiểm duyệt của chính quyền như Sina Weibo mới được tồn tại và phát triển ở Trung Quốc. Tuy nhiên nhiều người dùng đã sử dụng công cụ như mạng riêng ảo VPN để vượt Tường Lửa vào Facebook.
Trung Quốc cũng cấm Instagram, ứng dụng chia sẻ ảnh qua điện thoại di động của Facebook, ngay sau khi phong trào biểu tình đòi dân chủ tại Hồng Kông khởi phát từ năm 2014. Tất cả những động thái đó của chính quyền cộng sản Trung Quốc cho thấy chế độ này rất lo sợ về mối liên kết giữa trang mạng xã hội và bất mãn dẫn tới chống đối trong công chúng.
4.Twitter
(Bethany Clarke/Getty Images)
(Bethany Clarke/Getty Images)
Giống Facebook, vào năm 2009 Twitter cũng rơi vào danh sách dài dằng dặc những website bị kiểm duyệt tại Trung Quốc.
Vào cuối năm 2010, Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết số lượng website truy cập được so với cùng kỳ năm ngoái đã giảm tận 41%, BBC đưa tin. Những trang mạng trực tuyến như Blocked in China cho phép người dùng Internet tìm hiểu để xem một trang web có thực sự bị cấm ở nước này hay không.
5.Avatar 2 D
Một cậu bé đang xem quảng cáo bộ phim “Avatar” tại rạp chiếu phim ở Bắc Kinh ngày 21/1/2010, trước khi giới chức nước này thông báo dừng chiếu bộ phim phiên bản 2D tại hệ thống rạp công cộng sớm hơn dự kiến. (LIU JIN/AFP/Getty Images)
Một cậu bé đang xem quảng cáo bộ phim “Avatar” tại rạp chiếu phim ở Bắc Kinh ngày 21/1/2010, trước khi giới chức nước này thông báo dừng chiếu bộ phim phiên bản 2D tại hệ thống rạp công cộng sớm hơn dự kiến. (LIU JIN/AFP/Getty Images)
Mặc dù rất thành công tại các rạp chiếu phim Trung Quốc, kiểm duyệt nước này vẫn cấm phiên bản Avatar 2 D (Trung Quốc có rất ít rạp chiếu phim 3D nên lệnh cấm 2D thôi đã đủ để người dân nước này không thể tiếp cận nội dung bộ phim) do sắc màu chính trị hàm chứa trong đó có thể được hiểu là sự so sánh giữa cuộc xâm lược xứ sở Pandora của con người với việc cộng sản tiếp quản Trung Quốc năm 1949.
Trên thực tế, người dân Trung Quốc không thể chính thức thưởng thức nội dung của phần lớn những siêu phẩm điện ảnh Hollywood do mỗi năm chỉ có 34 bộ phim tầm cỡ của nước ngoài được phát hành tại đây, theo tờ Guardian. Thậm chí ngay cả sau khi đã phê duyệt một bộ phim, Đảng còn cắt xén bất kỳ nội dung nào họ coi là thiếu tính thẩm mỹ hoặc tuyên truyền lật đổ chế độ.
6.Hoa Nhài
Jasmine_flower-480x465
Sau Cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia, chế độ cộng sản Trung Quốc đã kiểm duyệt cả từ “hoa nhài” bằng cách loại bỏ nó khỏi Internet và cấm bán loại hoa này tại nhiều chợ khắp Bắc Kinh. Sở dĩ chính quyền Bắc Kinh làm vậy là bởi nỗi lo sợ về nguy cơ bất ổn trong xã hội với suy nghĩ về hoa Nhài tương tự như cuộc vận động đòi dân chủ, theo một bản tin trên tờ New York Times.
7.Du hành xuyên thời gian
(Jeff J Mitchell/Getty Images)
(Jeff J Mitchell/Getty Images)
Chế độ Trung Quốc đã cấm các bộ phim về du hành xuyên thời gian với lý do bất tôn trọng lịch sự và “phù phiếm”, theo The New Yorker. Phát ngôn kiểu này của Đảng Cộng sản Trung Quốc có vẻ khá nực cười khi tính đến việc nó đã phá hủy có hệ thống những di tích lịch sử và văn hóa theo chủ nghĩa xét lại trong chương trình giáo dục nhà nước của chế độ này.
8.Tái sinh
(Christopher Furlong/Getty Images)
(Christopher Furlong/Getty Images)
Năm 2007, Trung Quốc ra luật cấm các thầy tu Phật giáo Tây Tạng được tái sinh mà không xin phép Cục Quản lý Tôn giáo Nhà nước. Theo tờ Newsweek nổi tiếng, động thái này nhằm hạn chế ảnh hưởng của Đức Dalai Lama đứng đầu Phật giáo tại Tây Tạng, người theo truyền thống sẽ đầu thai qua những thế hệ tiếp theo để hoàn thành sức mệnh cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh.
Vào tháng 3 năm nay, tờ Time đưa tin, chính quyền Trung Quốc và Đức Dalai Lama đã rơi vào cuộc tranh cãi mới khi vị lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng khẳng định rằng chế độ Trung Quốc không có quyền chọn người kế vị cho ông vì có thể ông sẽ không tái sinh nữa.
9.Cấm sinh con thứ hai
(Kevin Frayer/Getty Images)
(Kevin Frayer/Getty Images)
Chính sách một con của Trung Quốc đã cấm người dân sinh con thứ hai (ngoại trừ lần sinh đầu là song sinh hoặc tam sinh) do chính quyền muốn kế hoạch hóa gia đình, kiểm soát dân số đặc biệt tại những trung tâm đô thị lớn. Phụ nữ có thai lần hai sẽ phải phá và ở một số địa phương còn bị phạt nặng. Chính sách này đã gây mất cân bằng xã hội do nhiều người phá thai hoặc bỏ con nếu biết là bé gái vì muốn có con trai.
10.Google
(screenshot/google.com)
(screenshot/google.com)
Người Trung Quốc không thể “tra cứu Google”, khác với bất kỳ công dân nước nào trên thế giới, mỗi khi vấp phải vấn đề hóc búa hay gặp khó khăn cần tư vấn. Hơn nữa, những sản phẩm khác liên quan tới Google, đặc biệt là Youtube, Gmail và Google+ cũng bị chính quyền Bắc Kinh chặn đứng.
Các công cụ tra cứu được phép sử dụng tại Trung Quốc cũng bị giới chức nước này kiểm duyệt nghiêm ngặt. Có thể nêu ví dụ qua một số cụm từ bị cấm đoán triệt để tại nước này như “biểu tình Quảng trường Thiên Anh môn”, một trong trào đòi dân chủ của sinh viên năm 1989 đã bị chính quyền dùng quân đội vũ trang can thiệp và biến thành cuộc thảm sát đối với hàng trăm hay hàng ngàn dân thường, hay “Pháp Luân Công”, môn tu luyện tinh thần ôn hòa bị Đảng Cộng sản thẳng tay đàn áp dã man kể từ năm 1999. Chính vì vậy người dùng Internet Trung Quốc buộc phải tạo ra hệ thống mã thay thế khác nhằm tiếp cận những nội dung nêu trên.
Biên dịch từ Epoch Times

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Bác sĩ trưởng khoa” hay bi kịch một thời của người trí thức Việt Nam?


“Bác sĩ trưởng khoa” hay bi kịch một thời của người trí thức Việt Nam?



Đặng Văn Sinh






Nếu đọc kỹ ở cấp độ sâu hơn, chúng ta sẽ nhận ra một điều, “Bác sĩ trưởng khoa”* không đơn thuần chỉ là cuốn tiểu thuyết hư cấu được hình thành trên nền tảng những đặc điểm của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển rất phổ biến ở thế kỷ XX, đem đến cho người đọc những trang viết đầy cảm xúc, mà phía sau nó, còn một hồ sơ chuyên môn, được ghi chép trung thực bởi một nhà văn, vốn là chuyên gia phẫu thuật, dưới dạng những đoạn hồi ức như một thủ pháp đông hiện, phơi bày những góc khuất của ngành y mà dư luận công chúng chưa từng biết đến. Đồng thời, cũng từ mặt trái của chuỗi bệnh viện công, người ta có quyền suy luận đến hiện trạng xã hội, một hiện trạng rất không bình thường, ẩn chứa nhiều rủi ro bất trắc, liên quan đến số phận cộng đồng nhưng lại bị giấu kín qua lớp vỏ bọc hào nhoáng.

Vấn đề của “Bác sĩ trưởng khoa” là vấn đề thời đại. Tinh thần thời đại ấy bao quát mọi hoạt động xã hội. Nó dường như đã trở thành một hình thái văn hóa, đạo đức chi phối hành vi và nhân cách mỗi viên chức trong hoạt động chuyên môn hàng ngày. Nói như vậy, có nghĩa là, mỗi một kíp mổ và quá trình mổ xẻ trong bệnh viện nào đó, đều được xem như một công đoạn vận hành của cấu trúc xã hội. Vì thế, nó không dừng lại ở những y cụ như dao kéo, panh, bông gạc hay gây mê, hồi sức… mà còn là tâm thức xã hội, sự tử tế hay bất lương, và rộng hơn là triết lý sống mang trong mình nó tư tưởng nhân văn hay lạnh lùng vô cảm của cả một cộng đồng.

Về mặt bố cục, chỉ cần đọc vài trang ở bất cứ phần nào của cuốn tiểu thuyết, chúng ta dễ dàng nhận ra những chỉ dấu của phương pháp Hiện thực cổ điển qua lối kể đơn tuyến kết hợp thủ pháp hồi cố với nỗ lực đan cài sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính. Tuy nhiên, giới hạn phân cách giữa dòng chủ câu chuyện với các phụ lưu của “Bác sĩ trưởng khoa” lại khá mờ nhạt, đôi lúc bị xóa nhòa, khó phân biệt được đâu là lời dẫn với mạch hồi tưởng của cùng một sự kiện nhưng lại được định vị ở những khoảng thời gian khác nhau. Sự lệch pha giữa trực tiếp và gián tiếp trong cách xử lý văn bản đương nhiên là gây khó khăn cho việc tiếp nhận nắm bắt mạch truyện, đôi khi cũng là một biện pháp nghệ thuật, có tác dụng như chiếc phanh hãm nhằm điều tiết trạng thái cảm xúc, tạo ra những khoảng “lặng” để người đọc có sự chuẩn bị cần thiết về mặt tâm lý trước khi tìm hiểu những phần tiếp theo câu chuyện.

            Nhân vật chính, bác sĩ Trần Tử Khang xuất hiện thường xuyên suốt 470 trang sách, nhưng quá trình hoạt động của ông luôn bị gián cách bởi các trường đoạn, lúc thì được chèn vào bằng ca phẫu thuật của một bác sĩ non tay nghề cắt nhầm nội tạng bệnh nhân dẫn đến tử vong nhưng vẫn vô can (!?), đơn giản chỉ vì anh ta có lý lịch bần cố nông; lúc lại kéo dài cả một chương phơi bày mưu lược triệt hạ đồng nghiệp của những quan chức thiếu bản lĩnh chuyên môn nhưng thừa thói đố kỵ nhân tài. Cũng có đoạn trình bày khá tỉ mỉ về gia cảnh Đặng Vũ Hoàng Anh mà ông bố là cán bộ cao cấp của Đảng, được tiêu chuẩn mua hàng Tông Đản, mỗi khi có việc “nhạy cảm” cần phải bí mật thì ông bà nói với nhau bằng tiếng Pháp, nhưng lại rất dị ứng với thành phần xuất thân có nguồn gốc “nhà quê” của Trần Tử Khang nên đã dùng cả những thủ đoạn không mấy tử tế cho con gái ly hôn mà chẳng mảy may để tâm đến đứa cháu ngoại vẫn còn trứng nước. Đó là chưa kể đến những cảnh tượng kinh hoàng ở một trạm phẫu tiền phương sau trận không kích của máy bay Thần Sấm, Con Ma mang tính hủy diệt được phục hiện làm bối cảnh cho sự phát triển của mạch truyện.

Như vây, về mặt tổng thể, ở phần bình diện, “Bác sĩ trưởng khoa” như một bức tranh toàn cảnh với những điểm nhấn khác nhau, chia đều cho cả hai miềm Nam Bắc về sự khốc liệt của chiến tranh. Tình cảm, lương tri và nhân cách con người bị hủy diệt không chỉ bởi súng đạn, mà còn bởi ý thức hệ. Học thuyết Đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa lý lịch là thứ vũ khí vô cùng sắc bén để loại bỏ một cách có hệ thống giai tầng trí thức. Nếu có ai đó may mắn thoát thoát khỏi những cuộc đấu tố trong Cải cách ruộng đất hay Cải tạo tư bản tư doanh thì cũng bị vô hiệu hóa, biến thành những công chức gọi dạ bảo vâng, sống vật vờ như các xác không hồn.

Qua hệ thống nhân vật, xét về tương quan thế lực, người đọc không khó nhận ra, đây là một cuốn tiểu thuyết được dàn dựng khá mất cân đối. Trước khi bàn về vấn đề này, chúng ta nên tìm hiểu thêm một chút về phương pháp sáng tác mà người viết bài đã đề cập ở phần trên. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Bác sĩ trưởng khoa” là tiểu thuyết được sáng tác theo khuynh hưởng Hiện thực cổ điển xuất hiện ở Việt Nam vào những năm ba mươi của thế kỷ XX với hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện (hoặc thiện và ác). Các nhân vật này đấu tranh với nhau phản ánh những mâu thuẫn xã hội, những xu hướng chính trị… thể hiện quan điểm sáng tác của người cầm bút qua hàng loạt biến động lịch sử. Nhân vật, rất nhiều trường hợp trở thành người phát ngôn cho tác giả về quan điểm thẩm mỹ, tư tưởng thời đại cũng như cách nhìn nhận lịch sử. Vì thế, với tiểu thuyết Hiện thực chủ nghĩa, hệ thống nhân vật chính là linh hồn tác phẩm. Số lượng nhân vật và sự tương quan giữa hai tuyến chính diện và phản diện thường không có quy định rõ ràng, mà tùy vào hoàn cảnh cụ thể, nhà văn tạo ra chúng theo yêu cầu nội tại của tác phẩm, miễn là phù hợp và cân đối với cấu trúc tổng thể.

Trở lại với “Bác sĩ trưởng khoa”, nói theo quan điểm của các nhà nghiên cứu theo trường phái Hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì nhà văn Vũ Oanh rất “mất lập trường chính trị” khi mà ông chỉ để cho một bác sĩ Trần Tử Khang đứng chênh vênh trên “chiến tuyến” ý thức hệ “tiểu tư sản bấp bênh”, còn bên kia là cả một đám đông, mang danh đồng nghiệp nhưng thực chất lại rất khác nhau về tầm vóc văn hóa, kỹ thuật chuyên môn và cả phẩm giá con người. Họ nhân danh lý tưởng cao đẹp, khoác trên mình đủ thứ học hàm, học vị, chức danh xủng xoảng, nhưng thực chất lại là lũ hoạt đầu, kiến thức nông cạn, trong đầu chứa đầy mưu ma chước quỷ, rình cơ hội chèn ép nhân tài, hãm hại người trung thực. Công sở, bệnh viện, thậm chí các cơ quan nghiên cứu trở thành diễn trường đấu đá, sẵn sàng hạ gục nhau giành quyền lực, bổng lộc, cho dù trong cuộc họp vẫn gọi nhau là “đồng chí”(!?).                         

“Bác sĩ trưởng khoa” được nhìn nhận như bức tranh với gam chủ đạo màu xám, khi mà, một bác sĩ Trần tử Khang phải đối đầu với cả một tập thể các nhà chuyên môn bị tha hóa. Bệnh thành tích, thói háo danh và sự ghen ghét người khác hơn mình đã ăn mòn lương tâm họ. Trần Tử Khang cho dù có đôi bàn tay vàng cũng không thể nào giải phẫu được căn bệnh nan y này, một khi nó đã hằn sâu trong não bộ của những Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân hay Đinh Mãn Độ…

Có thể nói, ngay sau khi ra trường, cho dù là học trò yêu của Giáo sư Tôn Thất Tùng, Trần Tử Khang đã phải sống trong một môi trường xã hội không bình thường mà hệ tư tưởng của nó được thiết kế dựa trên nền tảng ý thức hệ vô sản, lấy Đấu tranh giai cấp làm động lực phát triển. Học thuyết Đấu tranh giai cấp luôn gắn với động loạn xã hội. Những cuộc xung đột sắc tộc hay nội chiến đều được nhân danh lý tưởng cao siêu cùng với nghệ thuật tuyên truyền thượng thặng đã tạo nên hội chứng đám đông, huy động được hàng triệu cá thể sẵn sàng “bỏ bút nghiên theo nghiệp binh đao”. Cuộc chiến tàn khốc, dai dẳng đã hủy hoại sinh lực cộng đồng, tàn phá nguyên khí quốc gia, biến những công trình văn hóa phải mất nhiều thế kỷ mới tạo dựng được thành phế tích.

Trong bối cảnh xã hội lúc ấy, Trần Tử Khang không thể từ chối vào chiến trường. Anh chỉ là con tốt trên bàn cờ thế sự. Người ta sẵn sàng thí tốt chứ không đời nào thí xe, cho dù “con tốt” ấy có một bàn tay tài hoa và cái đầu tỉnh táo, biết phân tích tình hình thời cuộc ở trình độ bậc thầy của những chính khách “xôi thịt” xuất thân từ giai cấp công nông.

Hàng loạt trí thức tài năng như Trần Tử Khang bị đưa vào chiến trường với đầy đủ lý do không thể chối cãi, nhưng nguyên nhân đích thực của nó thì người ta lại cố tình lờ đi. Chính vì thế mới có chuyện, phó tiến sĩ “hữu nghị” Phạm Quang Minh hay bác sĩ Đinh Mãn Độ, được bổ nhiệm làm giám độc bệnh viện chỉ vì có các bậc sinh thành là cốt cán trong thời kỳ Cải cách ruộng đất.

Sau nhiều năm lăn lộn ở chiến trường, tuy thân xác vẫn nguyên vẹn, nhưng tâm hồn Trần Tử Khang bị thương tổn nặng nề. Ra khỏi cuộc chiến, Khang trở thành con người hoàn toàn khác cho dù tay dao của ông vẫn duy trì phong độ của một phẫu thuật viên hàng đầu. Nói cách khác, sự tổn thương về tinh thần của người bác sĩ phẫu thuật phải được nhìn ở góc độ tư tưởng triết học. Vết thương ấy chẳng những không lành mà còn di căn như một khối u ác tính luôn gây ra những cơn kịch phát mỗi khi trái gió trở trời.

Thân phận của Trần Tử Khang chính là bi kịch của lớp trí thức tài năng, chứa chan nhiệt huyết nhưng gần như suốt đời không được trọng dụng bởi chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, mà trớ trêu thay, thành phần nguyên khí quốc gia ấy, từng được Thân Nhân Trung coi là bảo vật, khắc vào bía tiến sĩ, lại là những kẻ đầu tiên bị triệt hạ. Chưa hết, những kẻ lãnh đạo cơ hội còn dùng đủ mọi “mưu hèn kế bẩn” hạ nhục người bác sĩ tài hoa, mà một trong những trò đó là đẩy cho ông mổ những ca khó, ca nặng, chỉ cần sơ sẩy một chút là kỷ luật “treo dao”.

Ở đây như có một nghịch lý nhưng buộc phải chấp nhận, cuộc đời này không có chỗ cho những người như ông dung thân, chưa nói là thi thố tài năng. Người ta không cần một cá nhân nổi trội vượt lên trên dàn lãnh đạo thiển cận nhưng vô cùng ngạo mạn, mà họ cần một đám đông vô danh được giáo dục theo phương thức phục tùng mệnh lệnh một khi đã có nhóm người “ưu tú” suy nghĩ thay cho cả dân tộc.

Muốn lý giải hiện tượng này, ta hãy điểm lại một vài chân dung nhân vật, những “gương mặt thời đại” của ngành y, một lĩnh vực đặc biệt gắn liền với sinh mệnh con người, nhưng các vị trí chủ chốt trong cơ cấu hoạt động lại được trao vào tay những kẻ dốt nát, cơ hội, hãnh tiến và ham hố thành tích như Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân, Đinh Mãn Độ. Điều đáng lo ngại ở đây lá, sự dốt nát, tính cơ hội cũng như thói đố kỵ nhân tài ấy lại được hợp thức hóa dưới danh nghĩa “tập thể lãnh đạo”. Chiêu bài “tập thể”, “tổ chức đảng”, “lập trường” hay “ý thức giác ngộ giai cấp”…thực chất chỉ là những cái ô bảo kê cho sự lộng hành của những cán bộ tha hóa nằm trong hệ thống quản lý khá chặt chẽ, được gia cố bằng tư tưởng Marxisme giáo điều và tinh thần tiến công cách mạng nơi đầu môi chót lưỡi: “Cái tài rồi thì sớm muộn gì cũng rèn dạy được. Có ngô nghê, ú ớ thế nào rồi cũng thành. Cứ vào các trường đại học của ta, là chúng mày dù có thần kinh, đần độn, ngớ ngẩn… cũng sẽ thành nhân tài tuốt tuột. Chứ còn cái lý lịch làm sao thay đổi? Cái đạo đức của tầng lớp địa chủ tư sản và người lao động cũng thế. Là ta chỉ rèn giũa đào tạo những con người ưu tú, từ con cái của giai cấp công nông lao động trong sạch, những gia đình cách mạng kiểu mẫu mà thôi”(tr. 287-288).

Phó tiến sĩ Phạm Quang Minh, Giám đốc Bệnh viện quân y 101 là trở ngại đầu tiên của Trần Tử Khang khi ông có ý định ra khỏi quân đội sau nhiều năm phục vụ chiến trường. Đại tá Phạm Quang Minh có đầy đủ phẩm chất của một trí thức công nông, trong đó, thói kiêu ngạo cộng sản (Lenin) và “lập trường giai cấp” vững vàng chính là kim chỉ nam của “quy trình” vô hiệu hóa nhân tài. Ông ta luôn tìm mọi cách dìm họ xuống để mình nổi bật lên: “Minh xuất thân bần nông. Là người được cấp trên nâng đỡ và tin cậy ngay từ khi tham gia cách mạng…vào Đảng lúc mười tám tuổi, rồi học y tá. Sau chống Pháp ông học y sĩ, rồi tôt nghiệp đại học. Sau khi nhận danh hiệu Anh hùng trên đường Trường Sơn, ông được ra Bắc học chuyên khoa ngoại cấp hai. Và sau cùng, ông có bằng phó tiến sĩ y khoa…vừa đúng mười sáu năm ròng” (tr. 26 – 27). Ngoài bệnh háo danh hành xử theo cách tiểu nhân như chiếm đoạt công trình khoa học của người khác,  Phạm Quang Minh còn là một kẻ lạnh lùng, tàn nhẫn trong cách cư xử với đồng nghiệp: “Không có thằng này, những ca khó khăn như thế, và những ca phẫu thuật gan, mật, đại tràng, trực tràng, thực quản… Ai mổ? Bác sĩ ngoại khoa đông nhưng họ chưa làm được. Tại sao thằng này mổ giỏi nhiều mặt bệnh… chỉ có một mình nó xử lý an toàn ” (tr. 15). Bộ mặt thật của viên đại tá phó tiến sĩ rởm một lần nữa lại được bóc trần qua diễn biến tâm lý của ông ta: “Mình cương quyết không cho nó đi. Chỉ cho nó làm phẫu thuật viên và bác sĩ điều trị. Không cho danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”. “Thầy thuốc nhân dân” lại càng không được! Mấy năm nay nó đòi ra quân liên tục. Đừng hòng! Đừng có tưởng bở! Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, chứ đâu phải bọ quân hồi vô phèng” (tr.16).

Để vô hiệu hóa Trần Tử Khang, Phạm Quang Minh đã huy động cả hệ thống tổ chức. Viên đại tá rất phấn khởi khi đọc được những dòng “bút phê” trong lý lịch của đồng nghiệp từ chiến trường gửi ra: “Từ khi Khang mới về, ông đã đọc kỹ lý lịch, nhất là những nhận xét của người chỉ huy ở chiến trường B3 Tây Nguyên. Họ lưu ý các cấp chỉ huy về tư tưởng lệch lạc, phi vô sản và lập trường bấp bênh của viên trung úy bác sĩ. Trong đó ghi rõ, đã kiểm điểm với quy mô sâu rộng, cả về thời gian cũng như số người tham gia phê phán. Cần phải theo dõi giáo dục lâu dài, vì bản chất giai cấp thì rất khó cải tạo, thay đổi(tr.14). Đọc đến đây ta phải hiểu được ẩn ý của tác giả phía sau những con chữ. Buồn thay cho nền y học nước nhà khi mà những kẻ thiển cận ở tầm học vấn “bình dân học vụ”, lại nhân danh lập trường này, tư tưởng nọ để làm một công việc ngược đời là “giáo dục” tầng lớp trí thức(!?). Cách hành xử trái quy luật tự nhiên và  đạo lý đã dẫn đến những hệ lụy mà cái giá phải trả rất không nhỏ khi con người được dùng làm vật thí nghiệm cho những thầy thuốc thiếu trình độ chuyên môn nhưng lại rất vững vàng quan điểm, lập trường. Trường hợp “bán dao” của Phạm Quang Minh hay Bùi Cường và Lã Hồng Quân trong các ca phẫu thuật không phải là hiếm một khi nó trực tiếp liên quan đến tính mạng con người. Cử chỉ”xuống thang” của của vị phó tiến sĩ đối với Trần Tử Khang xem ra có phần sượng sùng: “Ca này ổ bụng dính đặc như bí. Khang mổ được không? Khang vào làm giúp” (tr.18). Còn Lã Hồng Quân, tuy đã mấy lần buộc phải “bán dao” để mong cứu sống bệnh nhân sau cái chết oan ức của lão Mộc Đen nhưng vẫn trâng tráo thỏa thuận với Trần Tử Khang một “hợp đồng’ hết sức vô liêm sỉ: “Bây giờ tôi thống nhất thế này…Từ nay, mỗi ca lớn nhỏ, tôi đều vào mổ với bác. Ta cùng làm với nhau. Về danh nghĩa, tôi là bác sĩ Chuyên khoa cấp hai, lại là trưởng khoa, là lãnh đạo. Tôi đứng tên, tôi che chắn cho bác trên phương diện pháp ký và đối ngoại. Tức là tôi sẽ phải đối mặt với các vụ kiện cáo… Để bác rảnh tay, chuyên tâm mổ xẻ. Mà có thế, giám đốc Bùi Cường mới chịu ký duyệt cho mổ. Trong hoàn cảnh hiện nay, không có tôi, bác không thể làm ăn gì được” (tr. 324).

Bộ sưu tập về “trí thức bần cố” trong “Bác sĩ trưởng khoa” còn phải kể đến Nguyễn Quý Thân, Phạm Quang Thoảng, Bảo Hiên, Phạm Phát… Tất cả những nhân vật tai tiếng này đều có một thứ báu vật vô giá bảo hiểm cho sự cất nhắc địa vị mà Trần Tử Khang dù có nằm mơ giữa ban ngày cũng đành chịu phép, là nguồn gốc xuất thân. Lý lịch trong sạch lúc ấy quan trọng lắm.  Các nhà lãnh đạo nhìn cái gì cũng có tính giai cấp, kể cả khoa học và người làm khoa học . Chính vì thế, một gã lưu manh như Lã Hồng Quân, chỉ nhờ mấy đôi lợn giống và một bữa rượu thịt chó ông bố tiếp đãi ban tuyển sinh huyện mà được xét tuyển vào đại học Y khoa: Lý lịch và đạo đức thằng cháu Quân đây, là tuyệt vời rồi! Cả bố mẹ đều cố nông và đều là du kích thời đánh Pháp oanh liệt. Thế mày thích đại học, hay thích vào bộ đội, hở Quân? Đằng nào khoái hơn?” (tr. 288). Với loại thầy thuốc như Lã Hồng Quân, con bệnh qua tay anh ta không nhanh chóng ra nghĩa địa mới là sự lạ: “Họ im lặng nghe giám đốc Bùi Cường lăng xê trưởng khoa Ngoại mới. Anh ta vốn dốt, bỗng chốc thông minh; thiển cận lập tức trở thành sáng suốt, nhìn xa trông rộng; hiểu biết ít ỏi, nông cạn, thoắt đã uyên bác, hàn lâm… thoắt cái đã là bác sĩ chuyên khoa cấp hai và chễm chệ ngồi ghế trưởng khoa”(tr. 290). Sở dĩ đồng nghiệp ở bệnh viện Hồng Phúc đàm tiếu về tư cách tân trưởng khoa Ngoại - Sản với lời lẽ không mấy tốt đẹp như vậy, một phần cũng bởi cái chức danh chuyên khoa cấp hai có được của anh ta là do ăn cắp luận án: “Giáo sư Nguyễn Đức Tấn cho Quân mượn cái luận án của học trò cũ từ hơn mười năm trước. Quân sao lại một bản rất sạch sẽ. Đề tài ‘Mổ điều trị thủng ổ loét dạ dày, tá tràng’. Quân có thêm bớt một số chữ, vài câu, vài dòng ở mỗi trang, mỗi đoạn. Cái thủ thuật sáng tạo ấy thì Quân giỏi. Các bảng biểu, phân tích, biện luận…trong luận văn đều được giữ nguyên. Chỉ thay đi những con số người bệnh mổ và ngày tháng năm viết luận văn ở cuối. Tổng số mổ khâu lỗ thủng dạ dày trong luận án của Quân lớn hơn bất cứ ai đã bảo vệ trước đó. Người ta có kiểm tra những con số trên mặt giấy với bệnh nhân được mổ thực bao giờ! Quân thuê làm vi tính, in ra nhiều bản. Và Quân bảo vệ tại Hội đồng Giáo sư cấp nhà nước, do chính tiến sĩ Nguyễn Đức Tấn đứng vai Giáo sư chủ tịch”(tr.275).

Còn Đinh Mãn Độ thì dùng ngón nghề “B quay hợp pháp” để leo dần từ gã y tá quèn chuyên bưng bô đổ vịt đến chức vụ giám đốc bệnh viện tỉnh rồi trở mặt trả thù những người từng cưu mạng mình.

Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân, Phạm Phát, Thủ, Nguyễn Quý Thân, Nguyễn Chủng, thậm chỉ cả GS.TS. Nguyễn Đức Tấn, PGS.TS. Lương Ngọc Bình… đều có một mẫu số chung là trí tuệ thấp kém nhưng không hẳn là những kẻ xấu xa bẩm sinh. Họ là sản phẩm của một xã hội khuyết tật, được thăng tiến dựa trên tiêu chí thành phần giai cấp. Môi trường xã hội ô nhiễm chính là điều kiện lý tưởng để nuôi dưỡng những dục vọng thấp hèn.

Một điều rất đáng bàn nữa trong “Bác sĩ trưởng khoa” là nhân vật Trần Tử Khang, không hiểu do vô tình hay cố ý, được xây dựng trong tình trạng cô đơn. Tuy nhiên, đây không phải là sự cô đơn tâm lý của một cá nhân bất đắc chí, mà là của cả một thế hệ trí thức được đào tạo bài bản ở thời kỳ còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phương Tây, bị học thuyết Đấu tranh giai cấp loại khỏi cộng đồng bằng những ngón đòn triệt hạ chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Nhìn lại quá khứ, hầu hết các vương triều phong kiến Việt Nam đều trọng dụng kẻ sĩ, coi trí thức là nguyên khí quốc gia. Vì thế, triều đình thường có chiếu cầu hiền cùng với quy chế tiến cử nhân tài. Thế nhưng, khi lịch sử Việt Nam mở sang trang mới, đất nước không còn giặc ngoại xâm, thì những đối tượng bị thanh trừng hoặc vô hiệu hóa đầu tiên lại là thành phần tinh hoa của dân tộc.

Trần Tử Khang cô đơn vì ông không có điều kiện thi thố tài năng cứu người bênh, chấn hưng nền y học èo ọt ngày càng nhếch nhác bởi hệ thống quản lý yếu kém và tệ tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Nỗi buồn của ông cũng là nỗi buồn của cả một dân tộc chỉ có thói quen nhìn lại phía sau, vui vẻ gậm nhấm dần vinh quang có thật và tưởng tượng trong mớ bùng nhùng của lịch sử mà ít khi dám ngẩng đầu nhìn đến tương lai.

Từ những đoạn hồi ức được phục hiện bên cạnh những trường đoạn của thời hiện đại, giống như kỹ xảo đồng hiện trong phim truyện, người đọc có thể hình dung được thân thế, sự nghiệp cùng nhân cách của Trần tử Khang qua sự dàn dựng bố cục không mấy mạch lạc của văn bản. Những dính dấp trong mạch truyện, phương pháp diễn đạt không liền mạch cũng như thủ pháp hòa trộn giữa ngôn ngữ kể với ngôn ngữ nhân vật luôn tạo ra những mê cung, đánh đố người đọc trước mỗi ngã rẽ, khiến ta không thể phán đoán ngay được ý đồ của tác giả.

Phải thừa nhận một điều là, xung quanh Trần Tử Khang có khá nhiều đàn bà. Ông có sức hấp dẫn phụ nữ như nhụy hoa thu hút bầy ong tìm mật. Tuy thế, cuộc đời tình ái của người bác sĩ tài hoa này lại hoàn toàn không suôn sẻ. Với người phụ nữ nào Trần Tử Khang cũng bị phản bội trừ Trần Lam Khương.

Đến đây, người đọc lại nhận ra, cấu trúc mất cân đối trong “Bác sĩ trưởng khoa” xâm thực sang cả địa hạt ái tình. Cách viết về tình yêu, hôn nhân của Vũ Oanh hầu như đều trượt ra khỏi quỹ đạo chính tắc. Các mối quan hệ trong cuốn tiểu thuyết, dù là tình yêu, tình dục hay đơn giản chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau đều phát triển nương theo quy luật tự nhiên mà không bị gò ép vào những tiêu chuẩn đạo đức giả vốn chỉ được đặt ra để các “đồng chí” giăng bẫy triệt hạ nhau.

Đọc “Bác sĩ trưởng khoa”, ta có cảm giác như người viết cố tình xây dựng hai cốt truyện đan cài vào nhau trên cùng một văn bản nghệ thuật. Cốt truyện về chuyên môn thì đầy rẫy những pha đấu đá, lừa lọc, thanh toán nhau trong bệnh viện bằng các biện pháp “tổ chức”, còn cốt truyện về tình yêu, hôn nhân thì lại cho ta một cái nhìn toàn cảnh về phông văn hóa của những người thầy thuốc tự nhận là trí thức, trong đó, không hiếm trường hợp huy động cả thành phần xã hội đen vào cuộc để thỏa mãn sự ghen tuông mà trong đó, chi tiết khá điển hình là cuộc hành hung Đào Thị Như Hoa (tr 113 - 120).

Phần lớn các mối quan hệ nam nữ trong “Bác sĩ trưởng khoa” đều đươc “giao dịch” ở phía bên kia của sự minh bạch. Danh xưng “tổ chức” giam hãm con người trong cái lồng của hệ ý thức giáo điều, duy ý chí, biến họ thành những cỗ máy vô cảm. Chủ nghĩa xã hội có tham vọng giáo dục công dân của mình thành những vị thánh. Trong xã hội không tưởng đó, tình yêu nam nữ được xếp vào phạm trù đạo đức. Yêu đương vụng trộm là tội lỗi. Tình cảm tự nhiên vốn được tạo hóa ban cho, qua một thời gian dài bị khống chế quá giới hạn chịu đựng, tự nó sẽ gây ra những đột biến giống như hiện tượng “tức nước vỡ bờ”. Đến lúc ấy, những dạng thức ngoại tình mà nòng cốt của nó là tình dục phát triển thành dòng ngầm, lúc ẩn lúc hiện, vô cùng sinh động với kỹ xảo biến hình  như trò chơi ảo thuật.

Đặng Vũ Hoàng Anh và Ngô Ngân Hà là hai người phụ nữ từng đi qua cuộc đời Trần Tử Khang để lại trong ông những vết thương lòng. Với Đặng Vũ Hoàng Anh, khi còn là sinh viên trường y, cô có một tâm hồn trong sáng, dâng hiến con tim non trẻ, cuồng nhiệt của mình cho tình yêu. Thế nhưng, Hoàng Anh được sinh ra trong một gia đình cán bộ cao cấp mà ông bố và bà mẹ đều nhiễm thói kiêu căng, hợm hĩnh cũng như thấm nhuần sâu sắc học thuyết Đấu tranh giai cấp. Từ một thiếu nữ hồn nhiên, yêu đời, Hoàng Anh bị tha hóa, phản bội chồng từ chính nhân sinh quan méo mó của những bậc sinh thành. Từ một bác sĩ được đào tạo bài bản, tương lai đầy hứa hẹn, trở thành gái bao, từ chối nghĩa vụ làm mẹ, ăn chơi thác loạn, Hoàng Anh cũng như Ngân Hà và Bảo Hiên chính là kết quả của nền giáo dục nhồi sọ, luôn véo von tự ca ngợi mình bằng những bài văn sáo rỗng.

Với Trần Tử Khang, mối tình ấy ám ảnh ông suốt đời, thì ngược lại, Đặng Vũ Hoàng Anh coi đó chỉ là thứ trò chơi mơ mộng nhất thời của tuổi học trò nên sẵn sàng rũ bỏ chạy theo những thứ phù vân.

Ngô Ngân Hà thừa hưởng được của bố mẹ vốn là tiểu thương sự tính toán hơn thiệt kể cả ở địa hạt tình yêu, làm sao có lợi nhất trong các phi vụ làm ăn. Thời điểm ấy, bác sĩ đối với cô chỉ là nghề tay trái. Cho dù được đào tạo chính quy, “vừa hồng vừa chuyên”, lại có biên chế chính thức trong bệnh viện Hồng Phúc nhưng cô ta lại sống bằng nghề môi giới vật liệu cho những chủ thầu xây dựng. Ngân Hà đi học lấy bằng thạc sĩ y khoa nhưng chưa bao giờ dám cầm dao mổ, đến khi mở phòng khám riêng, bệnh nhân xẩy ra sự cố lại phải nhờ đến Trần Từ Khang. Là một kiểu phụ nữ ham mê nhục dục, bất cần các quy chuẩn đạo đức tối thiểu, sống buông thả, tuy đã qua mấy đời chồng, sẵn sàng lên giường với bất cứ người đàn ông nào, nhưng Ngân Hà chưa bào giờ thỏa mãn. Cuộc làm tình đầu đời giữa Ngân Hà với anh lái xe Trường Sơn trên đường đi thăm người yêu được Vũ Oanh tái hiện như là sự nổi loạn giới tính đầy sức thuyết phục. Đó chính là sự khởi đầu cho một chuỗi sự kiện xẩy ra sau này làm nên tính cách rất khác thường của người nữ bác sĩ kể cả khi cô ta đã leo lên đến chức vụ Bí thư đảng ủy, phó giám đốc bệnh viện Hồng Phúc.

Cuộc hôn nhân bất đắc dĩ của Ngô Ngân Hà với Nguyễn Quý Thân đầy kịch tính khi mà nửa đêm cô ta lẻn dậy bắt quả tang ông chồng già đang làm tình với con Ô sin Thị Nở ngay trên giường mẹ đẻ, hay sự gá nghĩa muộn màng chẳng phải vì tình yêu với Trần Từ Khang, đều là những trò chơi tạm thời trong hành trình tha hóa nhân cách. Xét đến cùng, cả Đặng Vũ Hoàng Anh, Ngô Ngân Hà, thậm chỉ cả bác sĩ Bảo Hiên, cũng là những phụ nữ đáng thương, bị cuộc đời lừa lọc nên tìm mọi cách trả thù đời mà Trần Tử Khang, một trí thức ngu ngơ, ngẫu nhiên rơi vào tầm ngắm của họ.

Như vậy, về mặt sự nghiệp, Trần Tử Khang hoàn toàn thất bại, nếu nhìn nhận theo quan điểm của những kẻ cơ hội, bợ đỡ, nhưng ông đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người bệnh về tài năng và nhân cách.  Trần Tử Khang, với tư cách là một nhà khoa học, một nghệ sĩ có bàn tay vàng trong làng phẫu thuật tầm cỡ quốc gia, không học hàm, học vị, không chức danh, chức vụ, nhưng thật sự là một thầy thuốc nhân dân, cho dù bị cả một hệ thống quyền lực xúm nhau lại đánh đòn hội chợ. Về mặt tình yêu, gia đình, Trần Tử Khang cũng là một kẻ thất bại ê chề. Lúc bắt đầu khởi nghiệp, Khang bị ông bà Đặng Vũ Chí Thành xúc phạm, bị Hoàng Anh phản bội, khi đã luống tuổi, trong quan hệ gia đình không mấy tốt đẹp, ông lại bị Ngô Ngân Hà hạ nhục.  Cuộc đời Trần Tử Khang từng nếm trải không ít đắng cay, nhưng ông khác người ở chỗ là bình tĩnh đón nhận, coi nó như một phần tất yếu trong cuộc nhân sinh đầy bất trắc. Đôi khi Trần Tử Khang còn hóa giải được nó như đã từng hóa giải sự sai lầm trong các ca phẫu thuật của đồng nghiệp, cứu sống không ít bệnh nhân. Cuối đời, sau khi giải nhiệm, chỉ còn mỗi Trần Lam Khương là người yêu ông thật lòng thì lại đi xa.

Trần Tử Khang là một bác sĩ đáng trọng nhưng cũng đáng thương. Ông chính là thân phận của người trí thức được đào luyện trong lò giáo dục của chế độ mới nhưng lại bị chính guồng máy quan liêu, tham nhũng ấy đẩy ra ngoài lề cuộc sống bằng những thủ đoạn bẩn thỉu.

Viết “Bác sĩ trưởng khoa”, tác giả Vũ Oanh tìm được một cốt truyện mà tính hiện thực của nó nổi trội hơn những cuốn tiểu thuyết viết về ngành y như “Thành trì”, “Những năm ảo vọng”, “Thân phận thầy lang” của Anh Quốc; “Người tình tuyệt vời”, “Bác sĩ Bređơ”, “Một ca suy tim” của Mỹ;  “Đèn không hắt bóng”, “Gia đình Nire” của Nhật; “Thầy lang” của Ba Lan; “Cái chết của ông bác sĩ” của Hungari; “Một gia đình lớn” của Liên Xô. Mấy chục năm qua, Việt Nam cũng đã có vài tiểu thuyết về đề tài trên, mà điển hình là “Chân trời”, “Lời thề Hypocrate”, “Màu trắng không im lặng”, hoặc “Cát bụi nhân ai”…, tuy nhiên, hầu hết chúng đều diễn ngôn theo khuôn mẫu của phương pháp sáng tác Hiện thực xã hội chủ nghĩa thông qua đặc trưng điển hình hóa nhân vật, để cuối cùng có được sự kết thúc phe tích cực chiến thắng, còn phe tiêu cực thất bại  như một công thức bất thành văn. Ngược lại, “Bác sĩ trưởng khoa” có một cái kết buồn khi Trần Tử Khang nghỉ hưu, sống lặng lẽ như một dật sĩ đã quá hiểu lẽ đời. Sự thất bại của người thầy thuốc từng trải này là phù hợp với quy luật phát triển của một xã hội mà những người quản lý nó không chấp nhận những giá trị phổ quát đang vận hành của nền văn minh nhân loại. Từ lâu, họ đã tạo ra cho mình một nền văn hóa “đậm đà bản sắc” khác người, không thể dung nạp được những nhân cách lớn. Trong khi ấy, Trần Tử Khang vẫn “bảo thủ” không chịu tuân theo luật chơi của họ, trở thành một kẻ khác, được hiểu ngầm như là “thế lực thù địch”, đương nhiên sẽ bị vô hiệu hóa. Một lần nữa ta phải nhìn nhận, thân phận của Trần Tử Khang là một tất yếu lịch sử. Bi kịch đời ông chính là bi kịch của cả một thế hệ chỉ vì muốn sống và làm việc theo những chuẩn mực văn hóa của xã hội văn minh.



Chí Linh, 7/10/2015



Đ.V.S.



*“Bác sĩ trưởng khoa”,tiểu thuyết của Vũ Oanh, NXB Hội Nhà văn - 2013, tái bản 2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giới siêu giàu Trung Quốc đang “vung” tiền mua gì ở Mỹ?



Các công ty Trung Quốc, với chính sách cởi mở hơn của chính phủ cùng tham vọng gia tăng các tài sản nước ngoài, đang tiến hành một chiến dịch mua bán rầm rộ tại Mỹ.
Họ tuyên bố sẽ gia tăng các hợp đồng mua bán lên mức kỷ lục là 40,5 tỷ USD trong năm nay, gần gấp đôi so với năm 2015. Dưới đây là những tài sản mà giới siêu giàu Trung Quốc đang “điên cuồng” mua sắm tại Mỹ:
Khách sạn sang trọng
Các hạng mục đầu tư của tập đoàn Strategic Hotels & Resorts Inc. bao gồm các khách sạn thuộc hệ thống Four Seasons ở Austin và thung lũng Silicon, cũng như khách sạn Intercontinental Miami và Chicago. Tập đoàn bảo hiểm Anbang của Trung Quốc đang trả khoảng 6,5 tỷ USD để mua nhóm khách sạn trên từ tập đoàn Blackstone Group LP, chỉ ba tháng sau khi doanh nghiệp tư nhân có trụ sở ở New York này thu mua lại những khách sạn kể trên.
Trung Quốc đang "nhăm nhe" mua lại nhiều khách sạn sang trọng ở Mỹ.
Anbang cũng đang dẫn đầu trong cuộc đua thu mua các tài sản của Starwood Hotels & Resorts Worldwide Inc., sau khi đã hai lần “mua hụt” khách sạn của tập đoàn Marriott International Inc.. Starwood sở hữu các bất động sản trị giá khoảng 4 tỷ USD, bao gồm khách sạn St. Regis ở New York. Mức giá mới nhất mà Anbang đề nghị với Starwood là khoảng 14 tỷ USD.
Các công ty đồ sản xuất gia dụng
Hãng sản xuất đồ gia dụng của Mỹ cũng đã thuộc về doanh nghiệp Trung Quốc.
Công ty General Electric đã đồng ý bán phân nhánh kinh doanh hàng gia dụng cho tập đoàn Haier của Trung Quốc với giá 5,4 tỷ USD hồi tháng 1/2016, cao hơn mức giá mà Electrolux AB đưa ra là 2 tỷ USD. Tuy nhiên, Haier sẽ cần phải vượt qua cuộc bỏ phiếu tín nhiệm từ giới chức Mỹ, Mexico, Canada và Colombia.
Cần cẩu
Cần cẩu cũng là một lĩnh vực thu hút doanh nghiệp Trung Quốc.
Tập đoàn Khoa học và công nghệ công nghiệp nặng Zoomlion, nhà sản xuất máy móc công nghiệp của Trung Quốc, đang theo đuổi công ty sản xuất cần trục Terex Corp ở Westport, bang Connecticut. Sau khi Terex đồng ý hợp nhất với đối thủ Phần Lan Konecranes Oyj, Zoomlion vẫn cố gắng vớt vát phi vụ trên, tuần trước doanh nghiệp này đã nâng đề nghị lên mức 31 USD một cổ phần.
Nhà sản xuất phim bom tấn Hollywood
Tỷ phú Trung Quốc cũng muốn dấn thân vào sản xuất phim bom tấn.
Người giàu nhất Trung Quốc tháng 1 vừa qua đã đồng ý mua lại công ty giải trí Legendary Entertainment LLC, nhà sản xuất của bộ phim bom tấn “Godzilla”, “The Dark Knight” và đồng sản xuất của “Jurassic World”, với mức giá 3,5 tỷ USD. Nhà tỷ phú Wang Jianlin đã trở thành người Trung Quốc đầu tiên nắm quyền kiểm soát một công ty làm phim Hollywood.
Các nhà phân phối phần mềm
Doanh nghiệp Trung Quốc cũng đầu tư vào sản xuất phần mềm ở Mỹ.
Nhà phân phối phần mềm kết nối và máy tính Ingram Micro Inc. đã được một công ty Trung Quốc là HNA Group Co. thu mua với số tiền lên tới 6 tỷ USD. Ingram Micro sẽ tiếp tục hoạt động ở Irvine, California và sẽ trở thành một phần của khối tập đoàn Trung Quốc, doanh nghiệp đã lắp đặt nhiều phần mềm tại các sân bay lớn trên thế giới.
Ứng dụng hẹn hò đồng tính
Trung Quốc cũng quan tâm cả ứng dụng hẹn hò cho người đồng tính.
Công ty công nghệ Kunlun ở Bắc Kinh, chuyên về các trò chơi trực tuyến, doanh nghiệp mang Angry Bird đến Trung Quốc, đã mua phần lớn cổ phần của Grindr, ứng dụng mạng lưới xã hội cho người đồng tính lớn nhất thế giới. Chủ tịch Zhou Yahui của Kunlun đã trả 93 triệu USD tiền mặt cho 60% cổ phần của công ty New Grindr LLC và giờ đang tìm kiếm các hạng mục đầu tư tiềm năng khác ở Mỹ.
Sàn giao dịch chứng khoán
San giao dịch chứng khoán Chicago sẽ sớm rơi vào tay doanh nghiệp Trung Quốc?
Sàn giao dịch chứng khoán Chicago hồi tháng 2 vừa qua cho biết tập đoàn đầu tư Trung Quốc, Chongqing Casin Enterprise Group đã đồng ý thu mua lại sàn giao dịch này. Tuy sàn Chicago chỉ nắm giữ khoảng 0,5% thị trường chứng khoán Mỹ nhưng nếu thỏa thuận được các chính quyền thông qua thì đây sẽ là vụ thu mua một sàn giao dịch chứng khoán Mỹ đầu tiên của một công ty Trung Quốc.
Nội dung được thực hiện qua thảm khảo nguồn tin từ Bloomberg News. Bloomberg News cùng tờ BusinessWeek là hai chuyên trang về kinh tế, phân tích tài chính và cung cấp dữ liệu cho các đối tác doanh nghiệp của Tập đoàn truyền thông Bloomberg.
Tuệ Minh (lược dịch)/Infor.net
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hội nhà văn VN lẽ nào chiếm dụng 700 triệu đồng để đẩy báo Văn Nghệ vào tình trạng nợ lương nhân viên?


Ngày 24-8-2016, Nhà thơ Lương Ngọc An- biên tập viên báo Văn Nghệ, đã có cuộc trao đổi về những lùm xùm của cơ quan nơi mình công tác và Hội Nhà văn Việt Nam trong những ngày gần đây: “Theo tôi, nhất quán, công bằng và minh bạch là điều cần thiết nhất của người nắm chính sách, dù là ở đâu đi nữa. Tư hữu chính sách, ắt sẽ tạo ra những hệ lụy, không chóng thì chầy… Việc Hội Nhà văn Việt Nam mua báo Văn Nghệ phát cho hội viên theo tiêu chuẩn đến cả năm nay chưa thanh toán, số nợ lên đến 600 – 700 triệu đồng là có thật!”. Ơ hay, sao lại thế được nhỉ? Chủ tịch Hội nhà văn VN tuổi 74 còn hùng hổ uốn ba tấc lưỡi ngọt lạt để tranh cử Đại biểu Quốc hội kia mà. Kết quả, dù trượt Quốc hội, nhưng tinh thần tận tụy bám chức, bám ghế, bám quyền, bám lợi của soái ca Hữu Thỉnh vẫn còn nguyên vẹn. Lẽ nào, “cái đầu hói” tỏa ra bao nhiêu ánh sáng lấp lánh ở trụ sở Hội nhà văn VN suốt hơn 2 thập niên, mà lại phát sinh “vết sẹo” như vậy ư?



HẬU QUẢ VIỆC HỘI NHÀ VĂN VN NỢ 700 TRIỆU ĐỒNG

@: Gần đây, dư luận đang đặt ra nhiều câu hỏi về chiếc ghế của Phó Tổng biên tập Thành Đức Trinh Bảo khi quá tuổi nghỉ hưu 2,5 năm nhưng vẫn tại vị. Điều này đã làm nội bộ cơ quan bức xúc, có tư tưởng chống đối vì chị Bảo kiêm cả công tác nhân sự nhưng lại không gương mẫu. Anh nhìn nhận ra sao về việc này?
Lương Ngọc An: Đúng là thời gian vừa qua trên báo chí và dư luận có nói nhiều đến việc Phó Tổng biên tập Thành Đức Trinh Bảo của báo Văn nghệ đã quá tuổi mà vẫn chưa nghỉ hưu. Thực ra những chuyện như thế này không phải quá xa lạ ở Hội Nhà văn hiện nay, như bạn đã thấy trong những câu chuyện, những bài báo thời gian vừa rồi. Song nếu nói chỉ vì lý do này đã làm cơ quan bức xúc và có tư tưởng chống đối thì tôi cho là chưa thực chính xác. Sự bức xúc chỉ xảy ra khi cách người ta ứng xử với nhau không hợp tình hợp lý, sự công bằng, minh bạch có vấn đề thôi, chứ tuổi tác đâu đã phải là điều quan trọng, nhất là với nhà văn.
Lâu nay riêng ở báo Văn nghệ, khi các đồng chí cán bộ lãnh đạo có nghỉ hưu có chậm một vài năm so với quy định cũng chẳng ai có ý kiến gì. Nhớ từ thời tôi mới về đây làm việc, nhà thơ Hoàng Minh Châu nghỉ hưu khi đã gần 70 tuổi, nhà thơ Võ Văn Trực nghỉ hưu cũng khoảng năm 67 tuổi, nhà báo Hữu Nhuận nghỉ năm 66 tuổi, và gần đây nhất là nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn, nghỉ quản lý năm 62 tuổi... Có sao đâu. Chỉ đến bây giờ mới có chuyện ầm ĩ, và vấn đề tuổi tác mới được đem ra đo đếm, các “cơ chế đặc thù” mới được đem ra vận dụng, che chắn.
Như vậy rõ ràng cần phải nhìn nhận vấn đề ở một góc độ khác, gắn với cách hành xử, gắn với tư cách và năng lực của mỗi cá nhân… Cũng chính vì thế mà nói rằng chị Bảo kiêm công tác nhân sự nhưng lại không gương mẫu, thực ra cũng có lý do từ uy tín.
Nói vậy không có nghĩa là sự nhất quán trong chính sách cán bộ của Hội Nhà văn là không có ảnh hưởng. Theo tôi, nhất quán, công bằng và minh bạch là điều cần thiết nhất của người nắm chính sách, dù là ở đâu đi nữa. Tư hữu chính sách ắt sẽ tạo ra những hệ lụy, không chóng thì chầy…

@: Có thông tin cho rằng, báo Văn nghệ mấy năm qua gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tài chính, nợ lương cán bộ suốt 2 tháng qua. Tại sao lại xảy ra thực trạng này? Có thông tin dư luận nói, Hội Nhà văn Việt Nam đang nợ báo Văn nghệ số tiền lên tới 700 triệu đồng, và đây cũng là một trong số những nguyên nhân khiến báo trở nên khó khăn. Thực hư thông tin này ra sao?
Lương Ngọc An: Đúng là mấy năm vừa qua tình hình tài chính của báo Văn nghệ có gặp những khó khăn. Bên cạnh những khó khăn chung có nguyên nhân từ xu hướng xã hội, thì còn có những khó khăn riêng do đặc thù. Tuy nhiên từ trước đến nay chưa bao giờ gặp phải tình trạng nợ lương đến 1 tháng chứ đừng nói là 2 tháng như hiện nay.
Là người lao động, chúng tôi hiểu sự nỗ lực của các anh chị trong Ban Biên tập khi giải quyết vấn đề này, nhưng trong đó cũng phải thấy rằng các giải pháp tình thế thì nhiều, chứ một chiến lược cơ bản để cân đối thu chi cho một cơ quan thì vẫn thiếu, nên tình trạng tài chính lúc nào cũng chơi vơi.
Việc Hội Nhà văn Việt Nam mua báo Văn nghệ phát cho hội viên theo tiêu chuẩn đến cả năm nay chưa thanh toán, số nợ lên đến 600 – 700 triệu đồng là có thật. Ban Biên tập và bộ phận tài vụ đã thông báo công khai điều này trong cuộc họp cơ quan, và lý do 2 tháng nay anh em trong cơ quan chưa được nhận lương có liên quan trực tiếp đến nguyên nhân này. Nghe đâu cả các tháng sau nhiều khoản chi phí khác cũng đang trông chờ vào đó. Song nếu bảo đó là nguyên nhân khiến tờ báo trở nên khó khăn thì tôi không dám khẳng định. Chẳng lẽ chỉ có chừng đó tiền mà có thể làm nên khó khăn hay thuận lợi cho cả một tờ báo được hay sao?

@: Trước đây ở báo Văn nghệ có anh Trương Vĩnh Tuấn làm kinh tế rất giỏi nhưng vừa đến tuổi đã nhận được quyết định nghỉ hưu luôn. Trong khi đó, hiện tại trong cơ quan có nhiều người đã quá tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn còn tại vị, đảm nhiệm chức vụ 2 - 4 khóa liên tiếp. Trong khi đó, nhà văn Hữu Ước đã từng nói với Đất Việt vào năm 2015 rằng: Khi mới nhậm chức sẽ dễ dàng đưa ra sự đổi mới, nhưng sang khóa thứ 2 sự đổi mới, sáng tạo sẽ bắt đầu khác đi, chưa nói tuổi tác kéo theo sự mệt mỏi, trước hết là chất xám, con người chất xám không phải năng lượng vô tận. Còn quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?
Lương Ngọc An: Chuyện nhà văn Trương Vĩnh Tuấn là chuyện của báo Văn Nghệ. Còn những điều nhà văn Hữu Ước nói là chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam, cần phải rạch ròi 2 nội dung này.
Ở báo Văn nghệ, đúng là trước đây anh Trương Vĩnh Tuấn, cũng là cấp phó nhưng là người tháo vát trong vấn đề kinh tế, nên anh em cũng được nhờ. Nói “anh em” ở đây là tôi nói cả cán bộ trong cơ quan, nghĩa là cấp dưới của anh Tuấn, lẫn cấp trên, là Tổng Biên tập nữa. Vậy nên anh Tuấn giỏi một thì người biết dùng anh Tuấn phải là người giỏi mười. Nhiều người cũng đồng tình với tôi điều này.
Còn chuyện của Hội Nhà văn Việt Nam và những điều anh Hữu Ước nói thì tôi không muốn bàn đến, vì nó xa quá. Tôi chỉ nghĩ một điều, rằng chúng ta cần phải nhìn Hội Nhà văn ở hai lĩnh vực rất khác nhau. Thứ nhất là một tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, và thứ hai là là một cơ quan hành chính thuần túy. Cái tính đặc thù của Hội cũng chính là ở chỗ này, và hai lĩnh vực song hành này cũng có những đòi hỏi về công tác quản lý rất khác nhau, rất tách biệt nhau thì mới được…

@: Nhân nói về tính đặc thù, xin anh nói rõ hơn về khái niệm này. Nó có liên quan gì đến khái niệm kéo dài tuổi nghỉ hưu theo kiểu X+… ở Hội Nhà văn mà dư luận đang bàn tán gần đây?
Lương Ngọc An: Thú thực là tôi không muốn nói về việc này. Chuyện cộng thêm tuổi làm việc cho một số đối tượng là cán bộ công tác ở các cơ quan Hội Nhà văn trước đây vẫn có, nhưng nghe đâu đã bỏ lâu rồi, không hiểu sao nay lại đem ra áp dụng lại và áp dụng theo nguyên tắc nào thì tôi không rõ, nhất là lại trong bối cảnh gần đây xã hội đang nói nhiều, thì lại càng là điều khó hiểu.  Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này, rằng kéo dài tuổi làm việc cho một người nào đó, chưa hẳn đã là khẳng định năng lực, phẩm chất của người đó, mà có khi đấy lại là một câu chuyện khác…

@: Tình trạng này không chỉ xảy ra ở báo Văn nghệ mà còn ở rất nhiều cơ quan cấp 2 của Hội Nhà văn Việt Nam khiến dư luận nghi ngờ có "tình cảm riêng tư" của Ban chấp hành với một số cán bộ thân thiết, tạo ra sự bất công. TBT Khuất Quang Thụy cũng nhận định cách hành xử của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam như thế là bất thường. Là người gắn bó nhiều năm với báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, theo anh thì Ban chấp hành Hội Nhà văn cần phải làm gì để lấy lại lòng tin cho hội viên, người dân?
Lương Ngọc An: Câu hỏi của bạn ngay trong nó đã hàm chứa câu trả lời rồi. “Riêng tư” là câu chuyện của “tình cảm”, còn “nguyên tắc” là yêu cầu của “công việc”. Khi đem “riêng tư”, đem “tình cảm” vào “công việc” thì chắc chắn “nguyên tắc”, nặng thì sẽ bị phá vỡ, nhẹ thì sẽ bị đánh tráo bằng những khái niệm mỹ miều khác. Chuyện ứng xử của Hội Nhà văn có bất thường hay không cứ nhìn vào đó mà đo thì biết ngay. 
 
Cảm ơn anh đã trao đổi thẳng thắn với Đất Việt!


Nguồn: THANH TÂM – Báo Đất Việt


Phần nhận xét hiển thị trên trang