Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

Đằng sau viện trợ nước ngoài của Nhật Bản


japanaid

Nguồn: Purnendra Jain, “Japanese foreign aid: what’s in it for Japan?“, East Asia Forum, 21/07/2016.
Biên dịch: Vũ Hiền
Viện trợ nước ngoài là một công cụ can dự quốc tế quan trọng trong bộ công cụ chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Mặc dù Tokyo không còn là nhà tài trợ hàng đầu thế giới như những năm 1990, nhưng nước này vẫn đứng thứ tư thế giới vào năm 2015 với ngân sách viện trợ hàng năm gần 10 tỷ USD.
Không chỉ quy mô ngân sách viện trợ thay đổi mà cách suy nghĩ của Tokyo sau viện trợ nước ngoài cũng đã thay đổi. Trong những năm 1980, khi đó Nhật Bản trở thành một siêu cường về viện trợ, thì cũng là lúc những lời phê bình xuất hiện ở cả trong và ngoài nước về bản chất viện trợ “kiểu con buôn” của nước này. Tiền thường chảy vào tài khoản cá nhân của các nhà lãnh đạo chính trị tham nhũng ở châu Á và các dự án gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về môi trường.
Để đối phó với tình trạng này, Nhật Bản đã ban hành Điều lệ viện trợ phát triển chính thức (ODA) đầu tiên vào năm 1992 và sau đó sửa đổi vào năm 2003. Một cách tiếp cận mới đối với viện trợ có thể được nhìn thấy trong Điều lệ hợp tác phát triển hiện nay của Nhật Bản, được công bố vào năm 2015. Mặc dù điều lệ mới duy trì một số khía cạnh quan trọng của những điều lệ trước đây, chẳng hạn như an ninh con người, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế và phúc lợi của phụ nữ, nó còn đưa ra một số chương trình nghị sự mới và gây nhiều tranh cãi như là một phần của chương trình viện trợ. Trong khi những điều lệ trước đó ghi rõ những hoạt động liên quan quốc phòng và quân sự nằm ngoài khu vực viện trợ, sự nhiệt tình của Chính quyền Abe trong khái niệm “đóng góp tích cực cho hòa bình” đã mở ra những khả năng mới, bao gồm cả việc sử dụng ngân sách viện trợ cho các mục đích quân sự phi chiến đấu.
Nhật Bản gần đây đã cung cấp các tàu tuần tra biển cho Việt Nam và Philippines. Định hướng chiến lược của các gói viện trợ này là rất rõ ràng: cả Việt Nam và Philippines đều có tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc và đang lo ngại trước sức mạnh quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông. Đối với việc sử dụng ngân sách viện trợ, Nhật Bản hiện nay cũng cung cấp các cơ hội giáo dục cho quân nhân của các quốc gia Đông Nam Á thông qua các tổ chức giáo dục của Nhật Bản. Những quân nhân ở “độ chín” của sự nghiệp sẽ dành một khoảng thời gian kéo dài trong các tổ chức giáo dục được chỉ định của Nhật Bản để học lịch sử, chính trị, ngoại giao và quan hệ quốc tế. Việc hiểu biết tốt về lịch sử và quan hệ quốc tế sẽ giúp quân nhân đánh giá cao những lợi ích của hòa bình và hậu quả thảm khốc của chiến tranh.
Việc Nhật Bản tập trung trở lại vào các nước Đông Nam Á cũng có thể được ghi nhận qua Sách Trắng mới nhất về ODA, được công bố vào tháng 4/2016. Trong bối cảnh quan hệ bế tắc của Nhật Bản với Trung Quốc ở biển Hoa Đông và những tuyên bố chủ quyền phi lý cũng như hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông, Nhật Bản đã tích cực thúc đẩy khái niệm tự do hàng hải của các tuyến đường biển và phát triển mạng lưới các quốc gia có cùng chí hướng trong khu vực. Để đạt được mục tiêu pháp trị, an ninh hàng hải, các biện pháp xây dựng hòa bình và an ninh mạng, Sách Trắng của Nhật Bản đã coi các quốc gia Đông Nam Á như là các đối tác quan trọng. Mặc dù việc xây dựng mạng lưới các quốc gia có cùng chí hướng là không có gì bất thường trong lịch sử chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau chiến tranh, những điều đáng chú ý ở đây là việc Nhật Bản sử dụng ngân sách viện trợ cho các hoạt động quân sự mở rộng, cho dù những khoản viện trợ này không nhằm trực tiếp cho mục đích chiến đấu.
Việc sử dụng viện trợ để thúc đẩy lợi ích quốc gia là một sự thay đổi chính sách quan trọng trong các mục tiêu ODA của Nhật Bản. Trong khi lợi ích quốc gia ngầm hướng dẫn chính sách viện trợ của Nhật Bản trong quá khứ, đây là lần đầu tiên nó được nêu rõ ràng trong một tài liệu của chính phủ và được Bộ Ngoại giao cũng như Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) bảo vệ. Vì vậy, tiền viện trợ của Nhật Bản không chỉ liên quan đến sự đóng góp cho hòa bình toàn cầu mà còn ngày càng gắn liền với khái niệm về “sự thịnh vượng của người dân Nhật Bản”.
Một phương tiện tạo ra sự thịnh vượng là thông qua liên kết doanh nghiệp và các nhà thầu Nhật Bản với các dự án viện trợ của nước này. Lợi ích thương mại rõ ràng ban đầu đã trở nên nổi bật trong các mục tiêu chính sách viện trợ nhằm giải quyết sự suy thoái kinh tế dài hạn của Nhật Bản, trong khi các công ty Nhật Bản đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh có lợi nhuận ở nước ngoài. Với việc Nhật Bản nhấn mạnh vào “chất lượng cơ sở hạ tầng”, “chất lượng tăng trưởng” và “chất lượng hợp tác”, tiền viện trợ giờ đây ngày càng liên quan đến công nghệ, thiết kế và xây dựng của Nhật Bản. Mặc dù chi tiết chưa được công khai, Chính quyền Abe đã thực hiện một cam kết mới với Ấn Độ để xây dựng tàu cao tốc chạy từ trung tâm tài chính của Ấn Độ, Mumbai, tới thành phố cảng thương mại Ahmedabad, bang Gujarat, quê nhà của Thủ tướng Narendra Modi. Dự án lớn này, ước tính trị giá ban đầu gần 15 tỷ USD, sẽ được tài trợ chủ yếu thông qua ngân sách ODA của Nhật Bản.
Các cam kết ODA lớn trong những năm gần đây cho các nước như Việt Nam, Indonesia và Ấn Độ cũng đem lại những cơ hội kinh doanh đáng kể cho các công ty Nhật Bản. Những nước này chiếm khoảng 1/3 tổng số ngân sách ODA của Nhật Bản. Với những năm đầu trong chương trình viện trợ của Nhật Bản, những dự án viện trợ lớn sẽ giúp cho các công ty Nhật Bản thâm nhập vào các thị trường mới nổi, nơi những triển vọng tăng trưởng kinh tế và mở rộng thị trường là rất lớn. Trong khi Nhật Bản xác định lại định hướng viện trợ để phục vụ cho các lợi ích quốc gia và địa chiến lược của mình, phần lớn là do những thay đổi trước môi trường địa chiến lược toàn cầu trong bối cảnh sự nổi lên của Trung Quốc, Tokyo vẫn cam kết mạnh mẽ với triết lý viện trợ thông thường. Nước này vẫn đặt các nguồn lực tài chính và nhân lực đáng kể vào các vấn đề xã hội và nhân đạo mà các xã hội đang phát triển ở châu Á, châu Phi và các nơi khác đang phải đối mặt.
Tóm lại, Nhật Bản đã hết lòng tham gia chương trình Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDG) và tự hào về vai trò của mình trong việc xóa đói, giảm nghèo, cải thiện các tiêu chuẩn y tế ở những nước đang phát triển. Tokyo giờ đây cũng ủng hộ mạnh mẽ chương trình nghị sự về Mục tiêu Phát triển Bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc, trong đó “phủ sóng” các vấn đề toàn cầu lớn hơn và rộng hơn so với MDG đã làm./.
Tác giả là Giáo sư Purnendra Jain thuộc Khoa nghiên cứu châu Á, Đại học Adelaide, và là cựu chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu châu Á của Úc.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/08/13/dang-sau-vien-tro-nuoc-ngoai-cua-nhat-ban/#sthash.Olrvrz7G.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chớ để có thêm một FORMOSA nữa xuất hiện tại Cần Giuộc, Long An!


TS Trần Văn Bình, CHLB Đức
Kinhtebien onlineCác hội nghị khoa học bàn về năng lượng sạch, mọi người đều hiểu rằng các nhà máy nhiệt điện chạy than là những quả bom môi trường trong tương lai và các nước nên tránh. Bài viết của TS Trần Văn Bình khá gay gắt nhưng đó là sự thật. Chính quyền Việt Nam nên lắng nghe và điều chỉnh lại chính sách năng lượng!
Quy trình nhà máy nhiệt điện, than (có thể từ than đá hoặc than nâu) hay còn gọi là nhiên liệu hóa thạch, dầu, khí đốt, … được đốt cháy tạo ra hơi nước để quay turbine, lực quay cơ được truyền đến máy phát điện (Generator) để chuyển thành năng lượng điện.
Những nhà máy phát điện này tạo ra rất nhiều khói xỉ/ mụi nên phải có những hệ thống làm sạch qua nhiều giai đọan, chất khí thải ra gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Ngoài ra một tỷ lệ lớn khí CO2 được tạo ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch ở các nhà máy nhiệt điện này.
Ngày nay, trên thế giới rất nhiều quốc gia đã và sẽ đóng cửa nhiều nhà máy nhiệt điện đốt nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí … nhất là đốt than để tránh gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, thì tại Việt Nam các nhà máy mới không ngừng được xây dựng, thậm chí đã có những đề án Vĩnh Tân 2,3,4 rồi đến dự án Vĩnh Tân thứ mười mấy nữa!!!
Gần đây nhất là dự án ở tỉnh Long An, huyện Cần Giuộc, cách Thành Phố HoChiMinh khoảng 30 km. Dự án có tên Nhà máy nhiệt điện than Long An I, do Tập đoàn Deawoo E & C / Hàn Quốc triển khai, có công suất 1.320 MW. Deawoo E&C và UBND tỉnh Long An đã chọn xã Phước Vĩnh Đông, giáp ranh thành phố HCM, để xây dựng nhà máy có vốn đầu tư khoảng 2,7 tỉ U S Dollars.
Nghe đâu có tin từ một Bộ ở ngoài Hà Nội, bộ này vừa đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép bổ sung dự án Nhà máy nhiệt điện than Long An II (huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An) vào quy hoạch điện VII.
Nhiều trí thức, chuyên gia khuyến cáo Long An nên nghiên cứu, kêu gọi đầu tư vào năng lượng xanh & sạch như điện gió và điện mặt trời tốt hơn là làm điện than. Khí độc từ than thổi đi khắp nơi, lan tỏa không giới hạn địa phương hay vùng miền nào cả. Bài học từ ô nhiễm bụi đen của thủ đô Trung Quốc, rồi Vĩnh Tân / Tuy Phong-Bình Thuận là những ví dụ, kinh nghiệm đau thương.
Chúng tôi, cũng như các bạn đồng nghiêp, các chuyên gia trong và ngoài nước đã nhiều lần kiến nghị, khuyến cáo Viet Nam hoàn toàn có khả năng phát triển các nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo (NLTT) cụ thể như điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, địa nhiệt, điện từ sóng biển ..v..v…
Hãy đánh giá, cùng lướt nhìn qua tiềm năng về nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo (NLTT) ta thấy gì?
Việt nam có tiềm năng lớn nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo và phân bố rộng khắp trên toàn quốc:
+ Tiềm năng về năng lượng gió ước tính 500 đến 1000 kWh/m2/năm,
+ Tiềm năng kỷ thuật của thủy điện nhỏ ( loại công suất dưới 30MW) ước tính 4000 MW,
+ Nguồn năng lượng mặt trời phong phú ước tính bức xạ nắng trung bình là 5 kWh/m2/ngày, phân bố nhiều nơi trên khắp đất nước,
+ Tiềm năng về năng lượng khí sinh học ước tính 10 tỉ m3/năm.
Chúng tôi nghĩ rằng, Việt Nam cần phải điều chỉnh chiến lược phát triển nguồn năng lượng theo xu hướng chung của các nước tiên tiến trên thế giới. Nếu Long An – Cần Giuộc đặt vấn đề xây dựng nhà máy nhiệt điện than vào bối cảnh hiện nay thì đó là điều không hợp lý nếu không muốn nói khác là với quyết định này các vị đã đi vào vết xe của FORMOSA-Hà Tĩnh rồi đấy, lỗi lầm này chắc chắn con cháu chúng ta, các thế hệ mai sau sẽ không khoan dung, tha thứ đâu!!!
Hãy xem xét hậu quả tác động môi trường, hãy tôn trọng ý kiến của người dân, hãy nghĩ đến sức khỏe của cộng đồng, các Bộ Phận Trách Nhiệm, EVN, các nhà lảnh đạo trung ương và trực tiếp là các vị lảnh đạo địa phương hãy lấy quyết định: dừng ngay dự án Nhà máy nhiệt điện than Long An Cần Giuộc!
Dự án nhiệt điện than của Long An chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến Thành Phố HCM và địa phương lân cận. Đối với những dự án có tác động đến môi trường, khi cấp phép đầu tư cần tham khảo ý kiến chuyên gia độc lập và các địa phương xung quanh, cả việc tham vấn cộng đồng dân cư; Chúng tôi rất tâm đắc và hoàn toàn đồng ý với ý kiến, đề nghị của bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, nguyên Phó chủ tịch Phòng TM-CN Việt Nam, TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương.
Và trên hết, những con người đại diện cho đất nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hãy thực hiện đúng với lời cam kết của mình đối với thế giới tại cuộc họp thượng đỉnh về biến đổi khí hậu vào cuối năm 2015 ở Paris (Âu Châu) vừa qua!
Như thế, có nghĩa là cứ xây dựng thêm một nhà máy điện chạy than điều đó càng thể hiện thêm sự không tôn trọng lời cam kết của Việt Nam, -của chính mình – về giảm lượng phát khí thải CO2; đồng thời hoàn toàn không phù hợp với xu hướng tiến bộ thế giới.
Sơ đồ các nhà máy và dự án nhà máy nhiệt điện ở ĐBSCL:
TS. TRẦN VĂN BÌNH (Việt kiều CHLB Đức)
Chuyên Viên Tư vấn bậc cao ngành Năng Lượng & Môi Trường
(TP HCM, Aug.2016)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUỶ VƯƠNG TRONG KIẾP LUÂN HỒI







QUỶ VƯƠNG TRONG KIẾP LUÂN HỒI

                                                                                  Nhà văn Lê Mai

Đọc “Quỷ Vương”, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Vũ Ngọc Tiến (Nxb Hội nhà văn- 6/2016), tôi chợt nhớ đến tập thơ “Chẹc chẹc” của văn thi sĩ Nguyễn Đình Chính - tập thơ mà nhà văn Nhật Tuấn nhận xét: “Trên bãi cứt của nghệ thuật đương đại sẽ mọc lên kỳ hoa dị thảo”. Hai tác phẩm của hai cây bút tuổi Tuất (1946), một nghiêm cẩn nho nhã, một bông phèng biết tuốt, chửi tuốt ấy lại có chung một điểm: Lạ, rất lạ và đáng suy ngẫm…

Ở “Quỷ Vương” điểm lạ của văn phong bút pháp Vũ Ngọc Tiến là ở chỗ ông không viết tiểu thuyết lịch sử theo logic thông thường vì tác giả mở đầu cuốn sách bằng chương “Biệt thự hoa phù dung” và kết thúc bằng chương “Một cơn lũ quét”, cả hai chương đều ở thì hiện tại. Vậy thì ông viết về quá khứ, về hiện tại hay hướng tới tương lai? Bút pháp đồng hiện của cây bút có nghề này đã khía vào những kiếp luân hồi, làm nên sự sáng tạo độc và lạ. Dù bối cảnh ở thì hiện tại tác giả chỉ đề cập đến cái tỉnh K lèo tèo heo hút với một vài quỷ quan, một vài doanh nghiệp, nhưng đã giúp người đọc nhận ra cái tàn nhẫn, khốc liệt, cái đớn hèn đểu cáng, cái khốn khổ điêu linh… ở tầm rộng lớn hơn. Cái tài đó, cái lạ đó của Vũ Ngọc Tiến đã làm cho cuốn “Quỷ Vương” trở nên kỳ hoa dị thảo có sức cuốn hút ma mị.  Đọc “Quỷ Vương” ta không chỉ biết về lịch sử 100 năm thời Lê sơ tái hiện không theo trình tự thời gian của sự kiện lịch sử mà theo văn cảnh của thì hiện tại, độc giả còn phát hiện ra trong đó những mạch ngầm tinh quái, tàn bạo của lũ quỷ vương, quỷ quan xưa đã vậy, nay còn ghê gớm hơn để rồi day dứt lo lắng cho sự luân hồi của những kiếp sau trong tương lai gần nếu hôm nay đây chúng không bị diệt trừ tận gốc.


Ta bắt đầu từ chương sách mở truyện “Biệt thự hoa phù dung”, Vũ Ngọc Tiến không ngẫu nhiên miêu tả rất tỉ mỉ, rất trân trọng và run rẩy những đặc điểm sinh học, tính năng, công dụng… của một loài hoa vốn mọc ở đầu khe cuối bãi, sớm nở tối tàn (em của chị phù hoa, cháu của cụ phù vân). Trong một xã hội tha hóa, ông muốn hướng chúng ta vào sự lưu luyến, xót thương với thân phận cái đẹp mỏng manh quá, yếu ớt quá! Ông muốn hướng ta nhớ đến “Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu” của On-ga Bec-gon hay liên tưởng đến phận người trong bài ký “Hoa bên trời” thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng viết: “Mỗi lần nhắc đến hoa phù dung, tôi lại thấy cảm giác rờn rợn như một số phận đầy bi thảm; như thể nó không phải một loài thực vật mà là một thiếu nữ” (trang 14). Và cũng chính thi sĩ ấy đã phải bàng hoàng thốt lên câu thơ: “Nhìn hoa bâng khuâng anh nói/ mới thôi mà đã một ngày” “Đời người mỏng manh, phù du đến thế sao? “Thời gian sao mà xuẩn ngốc?/ mới thôi mà đã một đời người!” (Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường) Có lẽ cũng vì thế Vũ Ngọc Tiến muốn ta hướng tới kiếp luân hồi theo luật nhân quả: “Thiền sư Kiến Phúc trụ trì chùa Sùng Miên trong một lần tọa thiền khai mở luân xa đã nhìn thấy nàng Lệ Thanh có khuôn mặt giống hệt Thùy Dung; còn chàng nho sinh Bùi Trụ giống Hiếu Dân như đúc. Thầy Kiến Phúc quả quyết rằng đã nghe rõ thông điệp từ quá vãng mách bảo, hai người là kiếp luân sinh của họ” (trang 17- 18). Chu kỳ luân hồi xuất hiện vào 30 năm cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 (1497- 1527): “Cuối thời Lê sơ đạo đức xã hội suy vi, kỷ cương triều đình mục nát đến thối rữa nên ngồi trên ngai vàng là một thứ “Quỷ Vương”, quan chức trong triều nhung nhúc loại quỷ quan; còn ở làng quê cái ác lộng hành, người sống lẫn với quỷ ma, có khi chỉ một con gà, con chó mất cắp người ta xúm lại đánh hội đồng kẻ ăn cắp đến chết mới thôi” (trang 174). Quỷ Vương (Uy Mục) - kẻ đã bắt giam tra tấn cực hình đến chết toàn bộ gia quyến chú ruột, đánh anh đập em, thậm chí giết cả bà nội bằng thuốc độc, đốt cung Trường Lạc…; kẻ mắc chứng bạo dâm, mỗi lần phá trinh một phi tần hay cung nữ vua đều nghĩ ra những trò quỷ quái để hành hạ người đẹp trước khi ân ái… (trang 43). Rồi Trư Vương (Tương Dực), kẻ dâm loạn với hết lượt phi tần của các đời vua trước; kẻ giết hại 15 vị vương công không cần xử án; kẻ nghĩ ra nhiều trò tiêu khiển điên rồ quái ác; kẻ sai Vũ Như Tô xây cung điện 100 nóc, xây cửu trùng đài nguy nga tráng lệ… trong lúc ngân khố nước nhà cạn kiệt, dân chúng đói khổ, lầm than… Quỷ Vương, Trư Vương đã bị ngòi bút của sử gia thời nay Bùi Hiếu Dân dũng cảm lột trần trước bàn dân thiên hạ đâu phải chỉ để cho vào đề tài nghiên cứu, đóng bìa đẹp, cất trong lưu trữ. Nó như khắc khoải âu lo giờ đây Quỷ vương, Trư vương đã luân hồi vào kiếp sống nào, tập thể nào, nhóm lợi ích nào? Thấp thoáng đâu đây. Bảng lảng đâu đó. Khi hữu hình lúc vô hình có chút hơi hướng liêu trai, tác giả cho hiện ra bóng dáng Ông Cụ. Một Ông Cụ rất lạ. “Hễ nhắc đến cụ lớn L, từ quan đầu tỉnh đến thường dân không ai dám gọi tên thật, chỉ dùng hai chữ Ông Cụ nghe vừa thiêng liêng, trang trọng vừa huyền bí như một vị thánh” (trang 6). Quả có như vậy, trong đời sống thường ngày ở vương quốc tỉnh K, hễ Ông Cụ nói là phải đúng, Ông Cụ làm là phải hay; nhất cử nhất động của Ông Cụ là tấm gương soi, mọi lời Ông Cụ đều là khẩu dụ vua ban, sấm truyền của thánh.  Nhưng trong cuốn “Quỷ Vương”, dưới ngòi bút của tác giả, Ông Cụ cứ dần làm ta thất vọng: bao che nâng đỡ lũ quỷ quan như Thế Quyền, Huy Hùng; ưu ái, bọc lót cho những tập đoàn kinh tế buôn gian bán lận; lên giường với con nuôi ân ái kiểu gì, hưng phấn đến độ nàng không rên ư ử như đám ca ve mà lại rên thành tiếng ệ… Thì ra tiếng rên ấy nàng Xuân trong cuốn “Quỷ Vương” thường tự nhủ cái tiếng ệ trong quan hệ ô nhục đó đồng âm với tiếng ệ của đồng Nhân dân tệ! (trang 79). Thảo nào mà trong công trình nghiên cứu lịch sử của mình, nhà viết sử Hiếu Dân đã viết về các triều vua Lê: “Nghĩ cũng lạ, ở nước Đại Việt có chủ quyền mà phe nhóm nào trong triều cũng mượn hơi dựa vía nhà Minh…” (trang 63).

Quỷ Vương, Trư Vương còn luân sinh vào những kiếp nào? Vũ Ngọc Tiến đã chỉ ra trong chương “Xuân Tây Thi xuất ngoại”, đó là Thử Vương (vua chuột) trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo (trang 158 - 178) khiến ta sững sờ kinh ngạc về hiện trạng kinh tế nước nhà. Nó còn hiện diện trong Tập đoàn kinh tế  Bil- Kel với những hồn ma bóng quỷ của chủ nghĩa tư bản hoang dã theo chân Lê Thế Quyền, Xuân Tây Thi từ chợ “Đôm 5” ở nước Nga thời “Vua Chốp” về tỉnh K, tác yêu tác quái trong các lĩnh vực khai khoáng, ngân hàng, buôn lậu, chiếm đoạt thuế giá trị gia tăng… Nơi nào liên minh ma quỷ giữa quyền lực và tiền tệ hình thành, nơi những lợi ích nhóm phát tác thì ở đó những Quỷ Vương, Trư Vương, cả đến Thử Vương tha hồ thỏa sức tung hoành, đẽo da dóc thịt dân lành như các triều vua Lê đốn mạt khi xưa cả thôi. Những bản hợp đồng ký kết giữa bọn Thử Vương ngành lúa gạo với lũ quỷ ngoại quốc phương Bắc trong truyện là tội ác với hàng triệu nông dân miền Tây Nam Bộ. Những mưu đồ tham nhũng chính sách của Quyền, thủ đoạn ghê rợn của Huy Hùng dùng thanh đồng vị Coban 60 để tiêu diệt đối thủ trước kỳ đại hội ở tỉnh K… tác giả đã gọi đúng tên chúng nó là “Quỷ”, sao có nhiều người trong chúng ta lại mới chỉ rón rén, nhỏ nhẹ gọi là “Sâu” nhỉ? Tôi chợt liên tưởng đến vụ con quỷ Formosa… Hơn 500 năm đã vùn vụt trôi qua, sao tôi lại thấy những đám tiểu yêu quái ở mấy tỉnh miền Trung thản nhiên, hớn hở tắm biển và ăn cá để chứng tỏ biển vẫn lành, cá vẫn tươi ngon trước ánh mắt nghi ngờ, thương hại của dân! Tôi nhớ đến những bộ mặt vô cảm, lỳ lợm của các quỷ quan trong vụ Vinashin, Vinaline làm thất thoát hàng núi tiền, cướp hàng biển mồ hôi nước mắt dân lành lấy tiền, vàng bỏ túi hay đem đi tiêu xài sa đọa. Tôi rùng mình lo sợ cái chu kỳ luân hồi mới của Quỷ Vương dường như đang đến sẽ tàn bạo khốc liệt hơn, nhưng cũng văn minh hơn, đểu cáng hơn chăng? Dân tộc sẽ ra sao, đất nước sẽ thế nào nếu không nhanh chóng diệt hết lũ quỷ ma này?...

Nhà văn Vũ Ngọc Tiến quả thật rất thực lòng yêu thương và cảm thông cho cặp luân sinh Lệ Thanh - Thùy Dung. Cứ động đến văn cảnh nào viết về họ ta lại thấy ngòi bút ông run rẩy hơn, nhả chữ rưng rưng hơn. Tuy vậy, tôi thấy dường như ông thiên vị, ông ưu ái, ông chiều chuộng “Thần dân” Lệ Thanh hơn “Công dân” Thùy Dung chăng? Là “Thần dân” dưới chế độ phong kiến, lại ở thời mạt vận, đương nhiên nàng Lệ Thanh khó tránh khỏi kiếp nạn phải làm nô tì, là nô lệ tình dục…, trải bao ngang trái của tình yêu, bao tủi nhục của phận người, nhưng cuối cùng nàng vẫn được đoàn tụ với chàng nho sinh Bùi Trụ. Hơn 500 năm sau, ông lại khoác cho “Công dân” Thùy Dung một bi kịch dai dẳng không có hồi kết và một cái bệnh rất vớ vẩn: Bệnh viêm tuyến lệ. Một thứ bệnh không thời thượng không hiện đại như HIV, máu trắng, xương thủy tinh  hay u vú, u nang buồng trứng vẫn thường gặp trong phim Hàn Quốc. “Công dân” Thùy Dung âm thầm sống trong hôn nhân không có tình yêu, chỉ đơn giản là cuộc mua bán: Nàng bán trinh, còn chồng mua trinh. Rồi là cái máy đẻ. Rồi cũng trải qua bao tủi nhục của kiếp người. Rồi cuối cùng thì chồng chết vì bị đầu độc phóng xạ, người yêu trong mộng cũng chết vì lao lực và ung thư phổi. Tuyến lệ của nàng vẫn viêm, nước mắt vẫn chảy, hốc mắt vẫn cay…

Với cặp luân sinh Bùi Trụ - Hiếu Dân, nhà văn Vũ Ngọc Tiến cũng rất thực lòng yêu thương, trìu mến với họ. Ông dành những trang văn hào sảng, giàu trí tuệ, tràn đầy nhiệt huyết cho Bùi Trụ, nhất là khi chàng được đoàn tụ với Lệ Thanh, được vua Mạc Đăng Dung trọng dụng, giao cho việc thiết kế và xây dựng Dương Kinh, phục vụ cho chiến lược hướng ra biển Đông vươn khơi, mở rộng ngư trường và giao thương trên biển. Nhưng sao những trí thức thời nay lại khốn khổ đau thương đến vậy? Người ưu thời mẫn thế như thầy giáo Hạnh thì phải đi tu. Người thông minh dũng cảm, học rộng biết nhiều như nhà báo Quang Huy thì bị tử nạn trong một vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Người say mê khoa học, sôi sục cống hiến như nhà nghiên cứu sử học Hiếu Dân thì công trình nghiên cứu luôn bị vướng cản và không được sử dụng. Ung thư mà chết. Chết trong nghịch cảnh: người yêu mình thì mình không yêu; người mình yêu thì đã có chồng. Thương cảm lắm! Xót xa lắm!... Chỉ có gã nhà văn đê tiện, ranh mãnh, đểu cáng tên Khang được các quỷ quan thuê làm mưu sĩ cho những vụ đâm thuê chém mướn, cướp đất, thông thầu… là nhởn nhơ sung sướng hưởng chút tiền rơi lộc vãi của lũ ma quỷ trong tỉnh K. Thảm thay, thương thay những trí thức thời mạt vận. Vẳng đâu đây câu nói lạnh tanh đầy ngạo mạn của ông “Con Giời” bên nước lớn láng giềng phương Bắc: “Trí thức là cục cứt”. Viết tới đây tôi chợt ngộ ra cái điều cụ Tản Đà từng than thở: “Dân 25 triệu ai người lớn/ nước 4000 năm vẫn trẻ con”!…  

Tôi thật sự bất ngờ đến ngỡ ngàng khi đọc chương “Triết gia trong chùa Sùng Miên” (trang 201- 228). Chương sách dài 28 trang, không nhân vật lạ lùng, không chi tiết giật gân, không sự kiện to lớn… và không cả cởi truồng mà sao cuốn hút người đọc đến vậy. Tất cả chỉ là cuộc trò chuyện bình thường giữa ba nhân vật yếm thế thời hiện đại thủ thỉ luận bàn về lịch sử 100 năm thời Lê sơ. Những mong muốn, ý tưởng toát ra trong cuộc trò chuyện này đã thôi thúc nhà nghiên cứu sử học Hiếu Dân hoàn thành công trình khảo cứu “Lịch sử 100 năm thời Lê sơ” và phải kết thúc bằng sự ra đời vương triều nhà Mạc với nhiều cách tân đổi mới, cũng giống như tác giả phải kết thúc cuốn tiểu thuyết bằng chương “Một cơn lũ quét” vậy. Dõi theo cuộc trò chuyện của họ ta thấy: Té ra cái dân tộc này, đất nước này từ xa xưa gần 1000 năm trước đã từng quá quen với đa nguyên - một thuật ngữ mà giờ ta đang e dè, né tránh hễ nhắc đến coi như phạm húy. Tam giáo đồng nguyên thời Lý, đặc biệt vào thời Trần chẳng phải đa nguyên thì là cái gì? Các ông vua hiền minh đầu triều Trần đã sử dụng, Việt hóa nó thành hệ tư tưởng độc đáo của xã hội Việt Nam; biến nó thành động lực phát triển. Và nhờ thế mới có hòa giải dân tộc, hòa hợp tôn giáo chính là sức mạnh làm nên kỳ tích ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông. Té ra Lê Lợi, vị anh hùng dân tộc lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, có công cứu nước nhà thoát khỏi nguy cơ Bắc thuộc lần thứ hai lại đã mắc một sai lầm trầm trọng, di lụy đến bao đời qua nhiều thế kỷ. Vì ngai vàng quyền lực của họ Lê, ông kiên quyết chối bỏ hệ tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đã thành quốc bảo thời Trần; rước về một thứ đạo Nho thời Tống hủ lậu, suy đồi, không còn giữ được mặt tích cực của đạo Nho lúc khởi thủy thời Tiên Tần. Sự thật là đánh thắng giặc Minh xong rồi, chính ông lại tự nguyện đẩy cả dân tộc vào cái rọ tư tưởng hủ bại của giặc Tầu, dùng nó làm hệ tư tưởng độc tôn, thống soái khiến xã hội trì trệ, giáo dục hư nát, con người bị mặc nhiên tước bỏ mọi sự sáng tạo. Về mặt này Lê Lợi cũng đã tự biến mình thành tội đồ của dân tộc Việt. Theo vết mòn tư tưởng hủ lậu ấy, hậu duệ của ông - vua Lê Thánh Tông nổi tiếng hiền minh, tài năng xuất chúng, kiến tạo nên một vương triều hùng mạnh, thịnh trị nhất trong lịch sử các triều vua Việt Nam, nhưng lại là ông vua hăng hái quyết liệt nhất trong việc nuôi dưỡng sự toàn trị, độc tôn tư tưởng Tống Nho, phỉ báng đạo Lão, chèn ép đạo Phật tới mức đuổi hết các vị Tăng, Ni kiệt xuất ra khỏi kinh thành, dạt về trụ trì các ngôi chùa hẻo lánh ở các làng quê hay chốn thâm sơn cùng cốc. Khi các độc tố của tư tưởng hủ Nho ấy đủ thời gian ngấm sâu vào cơ thể Đại Việt, nó phát tác: Quỷ Vương, Trư Vương xuất hiện; quỷ quan, cẩu quan nhung nhúc. Đó cũng chính nhằm vào lúc Thánh Tông qua đời, triều chính rối ren, kỷ cương phép nước hỗn loạn, giáo dục hư nát, đạo đức xuống cấp, đất nước ngập chìm trong bạo loạn, lòng người ly tán nước mắt ngập tràn… Hệ lụy này bao giờ mới dứt! Bánh xe luân hồi cứ quay, cứ quay đến tận bây giờ thành “hệ tư tưởng thùng nước gạo” nào nữa đây, khiến tôi đọc “Quỷ Vương” không thể không liên tưởng đến cá chết, biển chết, rừng chết, sông Cửu Long ngập mặn, Tây Nguyên khô hạn, người Tầu tràn ngập khắp nơi, lòng tin cạn kiệt… Phải chăng lời bàn trong cuộc trò chuyện của ba nhân vật trong chùa Sùng Miên “Đạo mất trước, nước mất sau” sớm muộn sẽ thành hiện thực nếu ta không mau thức tỉnh?...

Đọc vài trăm trang cuốn “Quỷ Vương” ta hiểu được tiến trình thăng trầm phức tạp của lịch sử 100 năm thời Lê sơ. Ta biết được một số mạch ngầm tinh quái, độc ác của các loại vua quỷ, quan quỷ thời nay nào có khác gì ngày xưa hóa kiếp lộn về trong vòng luân hồi và đặc biệt ta có thể dùng nó  đoán định tương lai… Cảm ơn tác giả - nhà văn Vũ Ngọc Tiến! Và nhân đây người viết cũng có lời xin lỗi rằng, trước đây tôi nghĩ ông cũng giống nhiều nhà văn khác ở xứ này, chỉ là người kể chuyện có duyên, nhưng đọc “Quỷ Vương” tôi mới nhận ra ông là của hiếm vì trong văn ông có tư tưởng và mang tính phúng dụ…

Hà Nội 7/2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trả lại danh dự cho người đánh máy


Kết quả hình ảnh cho Ảnh đánh máy chữ xưa?

BÚT BI
TTO - Mạng phây-búc hôm nay loan truyền một bức tranh cổ động cười đau cả ruột: “Hãy trả lại sự công bằng cho người đánh máy”!

- Ai làm tổn thương những người đánh máy lương thiện hả?

- Một vụ chấn động mấy bữa nay: Công an huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai phát văn bản cảnh báo đến người dân trong huyện về việc gần đây có 16 vụ bắt cóc trẻ em mổ lấy nội tạng ở các vùng biên. Dân tình hoảng loạn! Rồi hôm qua, công an huyện này xác nhận không có chuyện kinh thiên động địa đó, lỗi văn bản là do... đánh máy nhầm!

- Tội nghiệp người đánh máy!

- Một vụ khác đến Thủ tướng cũng phải lên tiếng: một anh bạn trẻ sửa điện thoại “cùi bắp” kiếm ăn qua ngày, một bữa đẹp trời mấy ông công lực ập tới hốt hết và xìa ra văn bản đòi khởi tố về tội... kinh doanh ngoại tệ khiến anh chàng tội nghiệp thất điên bát đảo. Cuối cùng, họ nói anh này không có tội và việc đòi khởi tố tội kinh doanh ngoại tệ cũng là do cóp-pi từ văn bản khác và... dán nhầm!

- Bữa trước ở Hà Nội người ta rần rần trồng cây mỡ và hô lên là cây vàng tâm. Sự việc bại lộ người ta la lên “lỗi do thằng đánh máy!”. Coi bộ nghề đánh máy nguy hiểm quá! Nếu là tui, tui bỏ nghề.

- Vậy lấy ai làm nghề đánh máy?

- Thì phạt mấy ông bà làm bậy rồi đổ thừa cho người đánh máy...

- Vừa thôi! Nói như ông thì tui sẽ hô: “Hãy trả lại danh dự cho người đánh máy!”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016

Hệ lụy Pokemon Go ở Việt Nam?


pokemon pokemon go real life pokemon go app commercial
Cơn sốt Pokemon đã bắt đầu đổ bộ vào Việt Nam

Cảnh tượng thường thấy từ sáng đến tối tại khu vực Hồ Gươm hay Quốc Tử Giám ở Hà Nội những ngày gần đây là những đám đông thuộc nhiều độ tuổi, người lạ cũng như người quen, tay cầm điện thoại di động có cài đặt một trò chơi có tên Pokemon Go. Chính thức được giới thiệu vào thị trường Việt Nam vào ngày thứ Bảy ngày 6/8, trò chơi tương tác ảo này kỳ vọng mang lại cơn sốt mới đối với giới trẻ, nhưng cũng có thể có những hệ lụy còn chưa lường hết.

image
Hiện tại, đã có rất nhiều địa điểm đã trở thành "pokestop" là nơi pokemon sẽ tập trung đến để bắt, hoặc "pokegym" là nơi người chơi sẽ huấn luyện và đấu các pokemon với nhau, ví dụ như Quốc Tử Giám, Hồ Hoàn Kiếm, hay đường Kim Mã...

Không chỉ có ở Hà Nội, hiện các tỉnh thành khác như thành phố HCM hay Vinh, trò chơi cũng đã được phổ biến rộng rãi.

pokemon go pokemon commercial app promo
Có nguồn gốc từ Nhật Bản là trò chơi điện tử bấm nút không nối mạng Intenet ra đời năm 1995, thương hiệu Pokemon đã rất nổi tiếng với thế hệ 8x và 9x. Tuy nhiên yếu tố hoài cổ là không đáng kể. Có thể thấy rõ sức hút của trò chơi này đối với các thế hệ thanh thiếu niên ở Việt Nam, đặc biệt là học sinh cấp 2, cấp 3 và nhiều độ tuổi khác.

Vậy sức hấp dẫn của trò chơi này là ở đâu?

image
Người chơi sử dụng điện thoại di động tương tác với các địa điểm thật

Tương tác ảo

"Chiến thuật khá đơn giản, nếu không muốn nói là khá nhạt, vì người chơi chỉ cần bằng cách lia bóng để bắt được các thú vật trong thế giới tưởng tượng trong pokemon," theo lời anh Anh Tú (còn gọi là Tú Michael).

Về hình họa hay cách thức tương tác với màn hình cũng không có gì mới so với một số game trước đó như Ninja Hoa Quả (Ninja Fruit) hay Angry bird.

image
Nhưng đây là trò chơi đầu tiên sử dụng thành công ứng dụng tương tác ảo (augmented reality). Điểm mấu chốt ở đây là sự kết hợp giữa một thế giới ảo của những con vật tưởng tượng được lồng ghép trên thực tế quen thuộc là các địa điểm địa lý.

Sự mới lạ cũng làm nên sức hấp dẫn của trò chơi, mà theo Amelia Tait của tờ New Stateman, là ở sự kết hợp giữa cả tâm lý cạnh tranh và thách thức và nguy hiểm khó dự đoán đối người chơi.

Theo một người khác, ông Lê Huy Tâm, tính cạnh tranh và tâm lý tích góp với tần suất tăng dần cũng là nhân tố gây nên sức hấp dẫn của trò chơi này.

"Thực tế là luôn luôn có một con thú mới để thuần phục, một địa điểm mới, một bản đồ mới. Điều này dễ khiến người chơi có tâm lý cố thêm một chút để được thêm một chút".

Tyler Menzel, GIPHY Editorial Director pokemon go pikachu app
"Ngoài ra là tính tương tác khá cao. Người chơi thảo luận về cách thức huấn luyện các con thú. Khi cùng có mặt tại địa điểm đó người chơi cũng cần nhanh tay nhanh chân vì nếu có Pokemon xuất hiện thì ai bắt đến trước thì bắt được, chậm là mất".

"Tâm lý đám đông cũng làm nên tính gây nghiện của trò chơi này đối với nhiều quốc gia, không chỉ ở Việt Nam," theo ông Tâm, một giảng viên Đại học sống ở Hà Nội.

Hiện tại Hà Nội đang ở một trong những thời điểm nóng nhất trong năm với nhiệt độ ngoài trời 39-40 độ, nhưng thay vì ở lì trong nhà, giới trẻ chịu khó đi ra ngoài đến các pokestop và pokegym. Người chơi kiêm huấn luận viên có thể gặp nhau, giao lưu về chiến thuật rèn luyện và chiến đấu cho pokemon của mình.

"Một điểm tích cực nữa là Việt Nam là nước có dân số trẻ, rất nhanh nhạy với phần mềm cho phép chia sẻ bảng xếp hạng và chiến tích qua nhiều kênh mạng xã hội khác như Facebook, Twitter, Zalo, Viber, Skype...," theo lời ông Tú Michael.

"Đây chính là bí quyết thành công của Pokemon Go."

Hệ lụy khó lường

Tuy nhiên trò chơi này cũng có thể dẫn tới một số sự việc không mong muốn.

Ở Hà Nội, trang Webtretho đã ghi nhận có sự việc phụ huynh báo con học lớp 7 mất tích, nhưng hóa ra đang đi săn tìm pokemon.

image
"Trò chơi này mất khá thời gian, nếu cứ tà tà chơi thì 1 ngày một người chơi có thể tốn từ 2-3 tiếng để lên khoảng 3 level (mức độ)", theo nhận định của ông Anh Tú.

Ngoài ra phải kể đến là một vấn đề nan giải là an toàn giao thông khi chơi Pokemon Go.

Thông thường, không phải người chơi nào cũng có ý thức để điện thoại trong túi dừng xe, đi đến địa điểm thích hợp thì dừng xe lại và đứng 'bắt' các con thú vật pokemon.

image
Ngoài ra, việc giơ điện thoại ra ở Việt Nam cũng nan giải vì nguy cơ cướp giật là rất cao có thể gây tai nạn nghiêm trọng.

Một số địa điểm cần sự thành kính và yên tĩnh như trước Quốc Tử Giám hay Nhà hát Lớn Hà Nội, hiện tại rất nhiều người đứng ở vỉa hè, đỗ xe để bắt pokemon, do đường hẹp dễ dẫn đến tình trạng ùn tắc, theo ông Huy Tâm.

Tuy nhiên, việc đổ lỗi riêng cho trò chơi hay người thiết kế là không hợp lý.

"Họ (những người sáng lập thiết kế trò chơi) không có trách nhiệm về các vấn đề xã hội," theo ông Anh Tú.

"Trách nhiệm ở đây thuộc về ý thức của người chơi, của các bậc phụ huynh không nên cho con trẻ cầm Ipad hàng giờ chơi điện tử, hoặc của các nhà chức trách hay giới bảo vệ của các địa điểm khuyến cáo về nội quy đối với người đến thăm và bắt Pokemon tại các địa điểm Pokestop hoặc Pokegym."

pokemon pokemon go real life pokemon go app commercial
"Lo ngại về phần mềm gián điệp không có cơ sở vì bản thân trò chơi này không có chức năng nhớ, chụp hay truyền tải hình ảnh. Đúng là người chơi có quyền tắt hay mở chức năng quay camera, nhưng những hình ảnh trong phần mềm cũng chỉ là những hình công khai có sẵn trên Google Map," vẫn theo lời ông Tú.

Tương lai Pokemon Go ở Việt Nam

Có thể thấy công ty Nintendo rất thông minh về mặt chiến lược khi ra mắt trò chơi Pokemon ở nhiều quốc gia vào nhiều thời điểm khác nhau để thăm dò thị trường.

"Dựa vào phần mềm google map để lựa chọn các pokestop là những địa điểm ăn khách, Việt Nam hứa hẹn sẽ là một thị trường tiềm năng vì số lượng người sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) là rất lớn," theo lời ông Anh Tú.

Bên cạnh đấy, đường truyền Internet dù không phải quá nhanh nhưng cũng đủ ổn định để duy trì trò chơi lâu dài.

Joe pokemon go real life pokemon go app
Tuy nhiên, theo ông Tú, trong tương lai, trò chơi cũng cần phải có thêm nhiều hình thức mới lạ, nếu không sẽ chỉ là một hiện tượng đến rồi đi.

Nhưng hiện tại, "Dù thích hay không thích Pokemon Go, bạn cũng không thể phủ nhận tác động của trò chơi Pokemon lên đám đông và giới trẻ Việt Nam trong thời gian tới," theo ông Anh Tú.

awesome dad fathers day video game son

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Hữu Đang - Bi thương và cay đắng:


Kỳ 1: Mưa thanh xuân



Chiều đông ảm đạm, xám xịt màu tro bụi: "Đông, xuân nào có khác gì/ Bầu trời chỉ thấy đen sì những mây/ Đường quê mọi nẻo mọi lầy/ Lần vào đến tận ngách này… còn trơn". Những câu thơ đầy tâm trạng bất giác làm già Đang ngậm ngùi. Nhưng, lạ thật, chiều nay lòng già còn có thêm cái gì chộn rộn, phấp phỏng … Như một linh cảm. Ngoài cửa tam quan, một bà già khoác áo bông to sụ, ôm khư khư cái tay nải rách, đứng chôn chân ngó vào. Bà đứng dưới mưa bụi, như tự đày đọa mình, không cất tiếng gọi, cũng không hề có một động thái nhỏ nào, chứng tỏ mình chỉ là người đi qua muốn dừng chân ngắm ngọn tháp cổ. Bà nhìn trân trân vào người Nguyễn Hữu Đang. Bà chờ đợi cái giây phút này bao năm rồi nhỉ? Hai người nhìn nhau trong mưa, ở cái tuổi ngoài bảy mươi vẫn cứ hồi hộp xao xuyến, thoáng một chút gì lo sợ và tự hỏi: Liệu có ai nhìn thấy không? Già Đang chống gậy đứng dậy, dò dẫm bước đi trong tiếng kêu xủng xoẻng của cái "lục lạc" kết bằng các mảnh sắt vụn đeo quanh người. Ông già dừng lại, cất tiếng ôn tồn hỏi: "Bà tìm ai?". Bà lặng thinh không nói, trong bà đang tìm lại bóng dáng chàng trai cách đây gần năm mươi năm bà đã gọi là "chồng". Khó khăn lắm bà mới cất lời:

- Ông không nhận ra tôi nữa hay sao? Già lắm rồi phải không?

- Quả tình, tôi không nhớ được nữa!

Bà chép miệng:

- Buồn thật, thế mà tôi vẫn nhớ như in, ngày tôi về làm dâu nhà cụ Tổng Huyên, làm vợ anh Đang cơ đấy!

Ông già đứng chết lặng dưới mưa bụi, lúc sau lập cập như muốn sụp xuống cảm ơn bà đã tìm đến với mình trong lúc hoạn nạn. Gió càng về tối càng lạnh, đường quê chiều đông không một bóng người qua lại, cảnh chùa chiền càng thêm u tịch. Già Đang rùng mình đón những cơn gió lạnh vô tình. Bà nhìn ông, cái nhìn chất chứa sự chờ đợi bao nhiêu năm.

Bà khẽ cất tiếng:

- Chả nhẽ ông không mời tôi vào nhà ư?

- Tôi làm gì có nhà mà mời bà? Chỉ ở nhờ góc nhà Tổ, cái nhà quay ngang kia kìa - Tay già Đang run run chỉ vào ngôi nhà rêu phong với những cánh cửa gỗ ảm đạm.

- Thì ông cứ cho tôi vào một lúc để nói với nhau câu chuyện… Mấy chục năm nay…

- Thế bà không sợ liên lụy ư? Tôi lo cho bà sau khi ở cổng chùa nơi cửa Phật từ bi vừa bước ra tức khắc bị người ta truy chụp tội "liên quan với một tên chống Đảng".

- Tôi không biết liên quan liên dân gì hết. Chống ai, hay không chống ai tôi không cần biết. Tôi là vợ ông, có cưới xin hẳn hoi, tuy chưa được ở với nhau một đêm, chưa một lần cầm tay nhau. Vì ông mà tôi mang tiếng đã qua một đời chồng, để sau này phải đi lấy lẽ ông Phó Phu làng Nguyệt Giám bên Kiến Xương. Sao ngày ấy ông đanh thép cứng cỏi thế, giờ nhu nhược thế? Ông "sợ" à, mà "sợ ai cơ chứ"?



Bức ảnh chân dung của mình và "người đẹp" Huyền Nhiên được Nguyễn Hữu Đang ghép lại thành hai mặt đóng trong khung để trên bàn làm việc của ông những năm tháng cuối đời




Hai người già nua cũ kỹ líu ríu bước theo nhau vào gian nhà Tổ. Bà Nhuận tìm một chỗ thật thuận tiện ngồi xuống để quan sát nơi già Đang ở. Bà nhoài người kéo cái chăn chiên rách gấp lại để ngay ngắn trên đầu giường chép miệng:

- Ông ăn ở luộm thuộm quá.

- Cuộc sống của tôi nó là thế! - Già chỉ từng thứ trong gian nhà chật hẹp như để thanh minh cho cái sự luộm thuộm không đáng có của mình - Đây là hũ gạo, lọ mắm, đây là chai nước cáy. Mấy cái rổ rách hôm qua mới ngồi buộc lại, nếu không hôm nay bà nhìn thấy nó bung vành tuột cạp lại chê tôi đoảng.

Bà già nhìn quanh, thấy đống sách vở xếp ngay ngắn trên kệ tường liền hỏi:

- Ông còn đọc sách à?

- Nó là cái nghiệp của đời mình. Cũng chỉ vì đống sách kia mà tôi phải ra tù vào tội.

Cạnh chỗ bà ngồi là mấy vỏ bao thuốc lá, mấy mảnh giấy xi măng, miếng nhỏ bằng hai ngón tay, miếng to bằng bàn tay, bà cúi xuống định vo viên đem đốt. Già Đang vội kêu lên:

- Chớ! Giấy để tôi viết đấy.

- Tù tội thế này rồi, ông còn viết lách cái gì nữa?

- Thì nghĩ được điều gì, viết ra điều đó, cái nó chợt đến rồi chợt đi ngay, nên tôi phải ghi lại. Tôi ghi toàn những điều bàn đến đạo đức của con người, lẽ sống của con người, có lợi cho con cháu.

Bà Nhuận như không muốn nghe chuyện ấy, bà giở tay nải buộc chéo khoe bộ quần áo cưới mà chưa một lần xỏ tay. Bà cười bảo:

- Đây là bộ quần áo thầy mẹ anh may cho em. Hôm cưới chờ anh về để mặc. Anh cũng tệ lắm, đã không ngó ngàng gì lại từ hôn người ta.

Bà Nhuận nói xong những câu như rứt ruột ra rồi ngó trân trân già Đang. Cả hai người đầu óc quay cuồng ôn lại chuyện cũ, như thước phim quay chậm để hai người già quay lại hình ảnh những ngày tháng 1938:

Cụ Tổng Huyên ốm nặng rồi mất. Hồi ấy già Đang dạy học ở Hà Đông, hay ở Thanh Hóa thì phải, ở nhà các cụ đã cưới chạy tang bà Nhuận trước đó mấy ngày. Khi già Đang về nhà lo xong lễ tang cho bố, khẽ nói với bà Nhuận:

- Giờ tôi nay đây mai đó, không biết sống chết thế nào? Biết bao giờ mới được về quê sum họp. Nhiệm vụ của người thanh niên khi việc nước còn đè nặng lên đôi vai thì chưa thể nghĩ đến điều riêng tư được. Vì thế, nếu cô ở đây sẽ lỡ làng cả cuộc đời người con gái. Hãy thông cảm với hoàn cảnh khó khăn này.

Cô Nhuận đêm ấy chỉ ngồi khóc, nước mắt đẫm hết chiếc khăn. Con gái một gia đình gia giáo, tử tế có tiếng trong vùng, chỉ biết lặng lẽ cúi đầu nghe theo chàng trai có chí lớn. Hôm sau ôm khăn gói theo chồng về bên Nguyệt Lâm để thưa lại chuyện với hai cụ.

Người con gái có dáng đầm, da trắng ở vậy mấy năm, sau đi làm lẽ ông Phó Phu. Buồn thế! Bà Nhuận sinh hạ được mấy người con, có anh giờ làm ở huyện Công an Kiến Xương, Thái Bình.

Mấy chú ngóe lọc sọc trong cái giỏ đeo gần đấy, bà Nhuận thấy động hỏi:

- Con gì trong ấy?

- Mấy con ngóe bắt được lúc chiều chưa kịp băm chả.

Bà trợn mắt hỏi:

- Ông ăn ngóe à?

- Cả cóc, cả rắn nữa bà ạ. Vớ được bữa chả rắn ăn vào nhẹ mình mẩy lắm - Nói rồi, trông ra trời chiều tối âm u, già Đang liền bảo - Thôi bà về đi, kẻo tối.

- Ông đuổi tôi à?

- Tôi đâu có dám, bà về muộn sợ con cháu nó lo.

- Chúng nó có việc chúng nó, mình có việc của mình. Hôm nay tôi ở lại đây giặt giũ cho ông, khâu vá lại đám quần áo rách cho ông. Nghe người ta nói ông ốm, tiếng ông còn nặng lắm chưa khỏe đâu.

Già Đang cười rớt cả nước mắt:

- Nghĩa là bà ngồi tù cùng tôi hay sao? Việc tù đày ai nào có thích gì?

- Thôi thì cái phận của tôi nó là thế, nhưng dù ông có ngồi tù thì tôi đến giúp đỡ không được hay sao?

- Bà không sợ người ta theo dõi à!

- Tôi chả sợ ai, chỉ sợ ông không chấp nhận sự giúp đỡ của tôi. Hay tôi không xứng với ông? Ông đã có người khác ở trong lòng?

- Đúng vậy bà ạ! Ngày tôi ở Hà Nội, tôi có quen biết một cô gái tên là Huyền Nhiên, cô sinh ra trong một gia đình trung lưu, mới có mười chín tuổi, khi đó cô ta chưa học hết bậc thành chung, con người ấy cũng nết na thùy mỵ đoan trang như bà. Cô chỉ có một người bạn gái cùng trang lứa, đôi bạn ấy sống với nhau rất chân thực, tuy là gái Hà Nội nhưng không đua đòi - Ông tâm sự với bà Nhuận - Nhớ lại ngày đầu làm quen cô ấy, tôi có đọc cuốn văn học Pháp E. Renan đã lấy bút ghi lại một câu vào trang sổ tay của mình "Sắc đẹp của phụ nữ là ân huệ của thượng đế ban cho loài người. Chúng ta có nghĩa vụ kính trọng người phụ nữ đẹp". Tôi quý Huyền Nhiên theo lẽ đó cho nên tới nửa năm quen nhau mà vẫn không dám chạm tay vào người Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay thôi tôi cũng cho đó là sự xúc phạm, còn nói gì đến… Tôi đã mang đến không ít tặng phẩm đều bị nàng từ chối. Tại sao? Cuối cùng tôi đem cho nàng cái vòng “sơ men” bằng bạc, coi đấy là vật giao ước kết hôn. Nàng nín thở ngồi xem, mắt hơi nhắm lại, rưng rưng lệ, rồi nàng lại bỏ vòng vào hộp, đóng nắp lại đưa trả cho tôi. Tôi hỏi nàng dồn dập, vì sao? Và không phải không có câu khiên cưỡng. Nàng xua tay sợ hãi nói:

- Đừng anh! Đừng nghi ngờ như vậy! - Rồi Huyền Nhiên nghiêm chỉnh ngồi im, một lúc sau nàng nhỏ nhẹ - Thế này anh Đang ạ. Em chỉ ước ao được gặp Cụ Hồ, được đứng gần Cụ, mà anh thì đến chỗ Cụ luôn. Anh cho em theo đến chỗ Cụ một lần. Chỉ một lần thôi cũng được.

- Thật là khó khăn, tại sao em cầu kỳ vậy?- Tôi hỏi.

- Cầu kỳ ư? - Mắt nàng hơi nhướn lên nhìn tôi - Có lẽ nhân dân cả nước này cầu kỳ. Em cứ cầu kỳ đấy! Bạn em chúng nó bảo thế nào anh chả tìm cách đưa vào gặp Cụ Hồ được. Ví như đưa quà biếu. Em nhớ có lần người gửi cam biếu Cụ. Cụ chẳng những vui lòng nhận mà còn viết thư cám ơn nữa.

-Thế rồi sự "cầu kỳ" ấy cũng được đáp ứng bà ạ! - Già Đang nhớn mắt nhìn bà Nhuận tìm lấy sự đồng cảm của bà trong việc ứng xử của già với Huyền Nhiên.

Đó là một buổi sáng Cụ Hồ tiếp đoàn đại biểu "Mùa đông binh sĩ" do ông Ngô Tiến Cảnh, nhà tư sản ở Bắc Giang này đã quen trong phong trào chống nạn thất học, đề xuất biếu Cụ tấm áo trấn thủ mới may được, gọi là "áo trấn thủ đầu tiên mùa đông binh sĩ" trong một vạn chiếc. Huyền Nhiên được tôi bố trí đi cùng đoàn đại biểu. Thật là cơ hội hiếm có mở đường cho cô ấy đến gặp Cụ Hồ. Tới giờ hẹn, tôi đã dùng xe hơi đưa Huyền Nhiên về trụ sở "Mùa đông binh sĩ" rồi vào Bắc Bộ Phủ. Cụ Hồ tiếp ở phòng khách lớn. Khi ông Cảnh nói đến câu: "Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được", Huyền Nhiên bước nhanh đến bên Cụ Hồ, nâng khay ngang mặt, dáng điệu uyển chuyển cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ lưỡng rồi khen "Tốt lắm" sau đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh. Cụ không quên quan tâm đến người con gái đang đứng ở cạnh đó. Cụ Hồ đặt tay lên đầu Huyền Nhiên, vỗ nhẹ vào mái tóc uốn, nói giọng ấm áp: "Bác cám ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu giúp đỡ bộ đội nhiều hơn, đem lại cho họ những món quà của tình thương yêu đồng bào".

Trên đường về, tôi với cô ấy cùng im lặng, bởi có người lái xe. Mãi đến khi bước vào nhà, Huyền Nhiên mới trao phần thưởng cho tôi… Đó là nụ hôn nồng thắm. Từ đấy bộ vòng "sơ men" lấp lánh trên cổ tay nàng. Sau ngày 14/11/1946, Pháp đánh Hải Phòng, rồi khiêu khích đánh lên Hà Nội. Tình hình trở nên nghiêm trọng, Huyền Nhiên theo gia đình tản cư. Trước khi đi Huyền Nhiên có gửi tặng tôi chiếc xe đạp cô vẫn dùng kèm theo lá thư ngắn: "Anh dùng chiếc xe xấu xí này như Quan Vân Trường dùng ngựa Xích Thố, và mỗi khi ngồi lên xe anh vẫn coi như có em ngồi sau lưng"…

Sự xa cách ấy là mãi mãi. Đến 1954 sau chiến thắng Điện Biên, tôi trở về Hà Nội làm việc ở báo Văn Nghệ, hăm hở đi tìm nàng mà không thấy. Sau này nghe tin nàng sống ở xa, với một gia đình đầm ấm, sinh hoạt đầy đủ, hình dáng có khác xưa nhưngsức khỏe thì sút kém. Tôi thông cảm với hoàn cảnh mà nàng lựa chọn. Nàng vẫn chỉ là một dáng tiên ẩn hiện trong tôi, không có tuổi và không bao giờ mất…

Già Đang hơi gục mặt xuống, trông vóc dáng càng thảm hại, xấu xí. Con mèo từ đâu chạy vào đòi ăn, nó chũi chũi vào chân già. Già thò tay vào gầm giường lôi ra cái bát mẻ, vét nốt thìa cơm đổ cho nó, không quên dằm cho nó con rốc kho vừa gắp ở niêu đất ra. Già Đang nói với giọng lừ khừ như tiếng mèo rên với bà Nhuận:

- Nó là con mèo hoang trong làng, đêm đêm đi tìm giống khác rồi lạc vào đây, không nhớ đường về với chủ nữa. Có nó cũng vui, đêm đêm nghe tiếng mèo gọi nhau thảm thiết thê lương lắm. Những lúc như thế thường là nghĩ đến thân phận mình. Hồi này nó đã quen, rét thế nào cũng rúc vào chăn rách của tôi mà ngủ. Nằm ngủ có nó ấm ra phết! Có đêm tôi nói với nó như nói với một con người: "Mày tưởng tao sướng lắm à? Tao cũng cảnh cô quẫn, đơn độc không gia đình vợ con, không bè bạn thân thích. Mày còn tìm đến đồng loại để nô đùa khúc khích với nhau, rỡn cợt nhau. Sau này biết đâu lại chẳng có lũ mèo con, được người chăm sóc tử tế. Bữa ăn lại được ăn trước, thức ăn để trong bát đĩa, chủ giành riêng cho mày. Chả bao giờ mày phải "nhạt miệng". Còn tao, ăn cơm tù, bốc trên lá, uống nước ống, cơm mốc cơm thiu cũng cố mà nuốt. Vừa ăn vừa nghe người ta chửi bới, lắm khi miếng ăn kề miệng còn bị người ta hất đi. Nuốt chưa khỏi cổ, người ta bắt nhả ra, cũng phải cố mà nôn ra cho đủ.

Bà Nhuận rưng rưng:

- Ôi dào, tôi nghe não cả ruột, đời ông khổ thế là cùng, cô đơn cô quả thế là cùng. Thế mà nhiều lúc tôi trách lầm ông. Cả cuộc đời ông không biết được tình cảm chồng vợ, chăn gối, buồng the như thế nào? Năm 1958, 1959, ông đã đi tù rồi, tù đến hôm nay. Bao nhiêu năm sống độc thân, giờ thành ông già lụ khụ. Giá ngày ấy ông cho tôi một đứa con rồi bỏ mặc tôi ở quê đi theo cách mạng, nay gặp lại cũng còn vợ còn chồng. Tự ông đánh mất tất cả, làm lỡ làng tất cả.

Già Đang đưa tay gạt đám quần áo cũ vào góc giường nhẹ nhàng nói:

- Thôi bà đào xới chuyện cũ lên làm gì, làm khổ cả hai người, khổ cả Huyền Nhiên. Biết đâu, ở một nơi nào bây giờ cô ấy cũng đang nghĩ về tôi.

Già Đang tiễn bà Nhuận ra cổng chùa thì dừng lại. Hai người bịn rịn mãi. Bà Nhuận nghẹn ngào: "Nỗi oan của ông khác nào Thị Kính, khi làm vợ mang tiếng thất tiết giết chồng, lúc giả trai trốn vào cửa Phật bị Thị Màu đổ tội trăng hoa. Chỉ đến lúc về cõi Phật người ta mới biết nỗi oan của nàng. Còn ông, người ta vu cho chống Đảng. Tù tội suốt mấy chục năm, về làng người đời xa lánh. Trẻ con giơ tay chửi "tên chống Đảng". Nó xói xỉa ông, đày đọa ông. Cửa Phật liệu có biết nỗi oan cho ông. Đời ông lúc đi nắng lửa, khi về gió táp, chả lúc nào yên. Cũng chỉ vì tính nết cứng đầu cứng cổ và đống sách mục trong nhà. Chữ nghĩa làm gì cho khổ? Cứ ngu như tôi đây có hơn không?

Bà khẽ cúi xuống nhặt bông hoa đại thơm nhét vào bàn tay ông. Già Đang nhanh tay ngắt bông hoa "dâm bụt" dắt vào mái tóc bà, cả hai nhìn nhau cười mà như khóc… Nhìn bông hoa đại trắng thơm ngát, nồng nhiệt, nằm trong lòng tay mình, bỗng ông già nghĩ: Trong cuộc đời có nhiều người xúc động vẩn vơ, có khi không cắt nghĩa nổi. Lâm Đại Ngọc là một nhân vật trong Hồng lâu mộng, đơn độc trong tình cảm lại yếu đuối, hay mau nước mắt, hay thương cảm cho đời cho mình đến mức như mắc một căn bệnh. Có lần buồn quá, cô nhặt hoa đem vùi dưới đất xong rồi lại khóc "Chôn hoa người khóc ngẩn ngơ / Đến khi ta chết ai người chôn ta". Đọc thầm hai câu thơ ấy trước bà Nhuận, bất chợt ông nghĩ đến cái phận mình lúc chết, không biết ai là người chôn đây? Có lẽ ông sẽ chọn chỗ dưới gốc tre làng để chết, khỏi phiền đến ai chôn cất.

Sau này nghe người làng Vũ Công bảo: "Không biết có phải cửa Phật từ bi động lòng trắc ẩn thương cảnh oan khuất của già Đang mà chỉ đường cho bà Nhuận lui tới trông nom ông trong những lúc ốm đau liệt giường liệt chiếu. Khi khỏe, già Đang sang làng Nguyệt Lâm tìm nhà bà Nhuận ăn cơm, chụp ảnh cùng con cháu bà ghi lại mối tình đầu thiêng liêng bà giành cho ông mà ông không biết.

Thế là ông Nguyễn Hữu Đang hai lần từ bỏ mối tình của hai người con gái đi làm việc nước. Một lần do gia đình tạo dựng, một lần do ông… Lại thêm một chuyện tình nữa cũng đầy phiền muộn và nước mắt.

Trước lúc gặp Huyền Nhiên, chàng trai Nguyễn Hữu Đang ở nhờ một gia đình người công chức cũ. Căn nhà đó trông sang trại lính Pháp, có một cô gái rất trẻ mới ngoài hai mươi tuổi ở với một ông già. Xét trong cách ứng xử mọi lẽ, không tìm thấy tình cảm bố con, nhưng tình chồng vợ chưa tới. Thời gian ở đấy người cách mạng trẻ tuổi nhận được ở cô gái mối tình ấm áp. Mỗi khi đi công tác về, tự tay cô rót đưa cho anh cốc nước, tự tay trải lại cái chiếu, hoặc giặt bộ quần áo cho anh. Nguyễn Hữu Đang rất có cảm tình với cô gái đó. Từ ánh mắt đến nụ cười… Càng tìm hiểu quan hệ giữa ông già và cô gái mọi chuyện càng như được đóng kín. Sau này qua tâm sự với cô, Nguyễn Hữu Đang đã hiểu được thân phận của con người chìm nổi. Cô bé đó vốn là đứa trẻ ăn mày, được ông bà nhặt về nuôi dạy. Càng lớn, duyên càng thắm, sắc càng tươi, lại ở một gia đình có học thức, nên lời ăn tiếng nói, đi đứng vào ra "thuần" Hà Nội. Lúc bà mất có cầm tay cô trăng trối: "Cháu ở lại trông nom săn sóc ông, làm vợ ông, trông nom lấy cái gia đình bé mọn này vì ông bà không có con”.

Họ là vợ chồng, chung nhau trong cái buồn của tuổi tác. Cô ấy lại muốn có con. Nhưng khốn thay ông già đó không thực hiện được. Lúc phát hiện ra sự phiền muộn đó, ông Đang rất rung động và tìm cách trốn chạy. Chuyện này ông kể với Kiều Duy Vĩnh người bạn tù từ Yên Bái lên hang đá Hà Giang. Hai ông ở với nhau suốt mười lăm năm tù ngục, có lúc cùng chung một cái khóa tay. Câu chuyện đẫm nước mắt là thế… Ông Đang bảo: Nếu không được giáo dục, không có ý chí của người làm cách mạng và không có cuộc kháng chiến thúc đẩy sức chiến đấu của thanh niên thời ấy thì ông sẽ trở thành người "phạm tội".

(Câu chuyện trên tôi được đích thân ông Kiều Duy Vĩnh kể lại cho nghe vào hồi hai giờ chiều ngày 10/6/2007 tại nơi ông Vĩnh, ở ngõ 447 số nhà 469 Ngọc Lâm, Gia Lâm, Hà Nội. Hôm ấy nóng tới 39-40oC- Võ Bá Cường viết thêm).

Nguyễn Hữu Đang là người không vợ, không con, không nhà không cửa, không một lần chung chăn chung chiếu với người mình yêu và người yêu mình, cũng là người duy nhất ở Việt Nam không nghe thấy tiếng máy bay, tiếng bom Mỹ, không biết ở bên ngoài có cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vì lúc đó ông nằm liệt trong hang đá ăn mắm dòi, gạo mục, uống nước suối. Chỉ riêng sức chịu đựng không có người đàn bà nương tựa về tâm hồn trong lúc ông bị đánh tơi tả ấy phải chắp tay vái "cụ" ba vái. Và chúng ta tự hỏi: "Trên thế gian này có ai cô đơn hơn Nguyễn Hữu Đang không?" chỉ thấy nổi lên ở ông điều cay cực, oan trái mà ông vẫn bình thản ngồi đọc sách, dịch sách, tìm thấy trong Lão Tử, Trang Tử điều gì để thanh thản sống bám lấy cuộc đời thô nhám này. Ông biết chịu đựng và sống có chừng mực. Ông bảo: "Đời là cuộc chơi nhưng chơi không cay cú" nên lúc ông bị đày đọa, ông coi đó là cuộc chơi nên cũng không hề hé răng hé lợi kêu than, tố khổ. Cái đáng quan tâm nhất trong cuộc đời cô đơn của ông, công việc gì thuộc phạm trù tư tưởng ông cố làm được tất cả, thắng tất cả với cá nhân mình. Nhưng cái đáng sợ nhất ở ông sau khi chịu tù 30 năm về ông không biết sợ cái gì cả…

Tối ấy già Đang ngồi "lê la" trước bãi cỏ cửa chùa, già thấy không mùi hoa gì thơm hơn hoa cỏ dại. Già như người ngơ ngác bâng khuâng trong cái cảm giác lúc chia tay bà Nhuận ra khỏi cửa tam quan. Gặp lại bà chẳng khác nào như lúc nắng hạn gặp mưa xuân, con cá đang nằm phơi mình trên lạch cạn gặp được dòng sông chảy. Rất vui ý nghĩ hai người có nhiều sự giống nhau, đôi bên đều được giãi bày nỗi lòng mình và tỏ ra thích thú. Chỉ có thời gian là ngắn nhất. Già ngửa mặt nhìn trời, bỗng có ngôi sao đánh "xẹt" một vệt sáng đến tận chân trời rồi biến mất. Trời mùa xuân mưa bay lớp lớp cũng ít vì sao le lói. Cảnh tượng đó làm già xúc động. Đã gần bảy chục tuổi rồi, biết đâu ngày nào đó già cũng như ngôi sao kia tự dưng biến mất vĩnh viễn không còn tồn tại trên mặt đất này. Một ngôi sao trước khi biến mất còn để lại cho đời một vệt sáng… Vậy già này đâu chịu lẳng lặng ra đi, phải làm một việc gì đó cho có ý nghĩa lúc cuối đời mình. Âu cũng là một bước đi định mệnh đầy oan khuất.

(Còn tiếp)

VÕ BÁ CƯỜNG (Báo Dân Sinh)



Nguyễn Hữu Đang (1913-2007); quê: Thôn Trà Vy, xã Vũ Công, huyện Vũ Tiên (nay là huyện Kiến Xương), Thái Bình; là một nhà báo, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm; hai lần bị đế quốc bắt vào tù (1930, 1944); tham gia sáng lập Hội Truyền bá quốc ngữ và Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào, được bầu vào Uỷ ban giải phóng dân tộc để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa 8/1945; Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ Trưởng ban tổ chức Ngày lễ Độc lập 2/9/1945 và trực tiếp là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập. Ông đã lần lượt giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban vận động Hội nghị văn hóa toàn quốc, Trưởng ban Tuyên truyền xung phong Trung ương, Trưởng ban Thanh tra bình dân học vụ...

Tháng 4/1958, Nguyễn Hữu Đang bị bắt cùng một số trí thức, văn nghệ sỹ liên quan trong vụ "Nhân văn - Giai phẩm". Tháng 1/1960, ông bị kết án 15 năm tù, ra tù ông tiếp tục bị quản thúc tại quê nhà hơn 15 năm.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Nguyễn Hữu Đang dần dần được minh oan và phục hồi danh dự, được coi là "Lão thành cách mạng", được hưởng chế độ hưu trí (1990). Từ năm 1993, ông sống tại Hà Nội trong một căn hộ do Nhà nước cấp. Ông qua đời tháng 2/2007.

Trong bối cảnh bi tráng của lịch sử lập quốc Việt Nam thời kỳ hiện đại, chính quyền công nông non trẻ vừa thành lập, chấm dứt 100 năm đất nước dưới ách nô lệ thực dân và đế quốc, đã phải đương đầu với biết bao nhiêu thù trong giặc ngoài; rồi đi vào kháng chiến gian khổ "Chín năm làm một Điện Biên" và tiếp tục làm một cuộc trường chinh 30 năm chiến đấu giành lại non sông thống nhất, không khỏi có những số phận rơi vào bi thương và cay đắng như Nguyễn Hữu Đang. Lý giải điều này, một mặt là do "quán tính" của cuộc cách mạng vĩ đại. Mặt khác, cũng có cả lý do chủ quan của cá nhân, như Nguyễn Hữu Đang đã từng thổ lộ: "Viết đến đây, tôi không nghĩ về tôi; tự thương mình đã rơi vào cái hố duy ý chí từ tuổi mười lăm, rồi cứ thế càng ngày càng cuồng tín, hợm mình, tham thắng, khi biết đến cái bí quyết sống "tri túc" lấy làm đủ của đạo học thì đã muộn". (Trích thư của Nguyễn Hữu Đang, ngày 1/6/1990, gửi Dương Thu Hương, nhà văn bất đồng chính kiến, hiện đang sống lưu vong ở nước ngoài).

Chiêm nghiệm từ câu chuyện Nguyễn Hữu Đang, chúng ta càng nhận ra những bước đi vĩ đại của quá trình phát triển cách mạng, nhận ra vẻ đẹp tiết tháo của người trí thức và nhận ra cả những kinh nghiệm sống trong đóng góp và phản biện cho hiện tại và tương lai...

Baodansinh.vn xin giới thiệu với bạn đọc tư liệu về Nguyễn Hữu Đang rút từ cuốn sách "Người đeo lục lạc" của Nhà văn Võ Bá Cường - một nhà văn cùng đồng hương Thái Bình đã có nhiều công sức tìm hiểu, chắp nối và nghiên cứu về Nguyễn Hữu Đang. Tư liệu sẽ được giới thiệu hàng ngày với khoảng gần 30 kỳ.

Rất mong nhận được phản hồi, góp ý và chia sẻ của bạn đọc!

Nguyễn Thành Phong

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÔNG TUYÊN GIÁO




Hôm nọ ông bạn rủ về quê chơi, nhân dịp chi họ ông mới xây được ngôi Nhà thờ Tổ. Sau lễ gia tiên, tất nhiên có dăm mâm để con cháu “thụ lộc”. Tửu nhập, ngôn xuất, trong không khí gia đình, họ hàng tha hồ thoải mái. Mình ngồi mâm cùng ông bạn, hai nhà giáo nghỉ hưu, một doanh nhân và ông tuyên giáo huyện, kiêm Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện. Ông bạn bảo doanh nhân:


- Hoàn thành Từ đường của chi họ hôm nay, công của Quý là rất lớn. Anh đóng góp 700 triệu lại cung tiến toàn bộ đồ thờ. Các cụ sẽ phù hộ cho doanh nghiệp của anh ngày càng phát triển…

- Thưa các bác, các chú, tình hình gay lắm. Doanh nghiệp nhà nước ưu tiên đủ thứ, mà làm ăn toàn thua lỗ; các bố cuống quýt cổ phần hóa thì đang nát như tương, rối như canh hẹ; doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thì mỗi năm phá sản hàng vạn; những tập đoàn tư nhân lớn sống được đều có các ông to đứng đằng sau cả đấy… Loại doanh nghiệp tép như cháu sống sót qua đận này là phúc rồi. Cháu chuyên về vận tải, mà hàng hòa không sản xuất ra, cung, cầu suy giảm lấy gì mà chuyên chở. Đã thế, thuế đường tăng lên mấy lần; công an thì rình mò như cú, chặt chém khắp đường ngang, ngõ tắt… 

Ông tuyên giáo dốc chén rượu “ực” cái, giơ bàn tay, ra hiệu “không nói nữa”, và hỏi Quý:

- Cháu có phải đảng viên không?

- Cháu là giám đốc kiêm bí thư chi bộ luôn. Chi bộ cháu có 11 đảng viên đều chuyển ngành từ bộ đội sang, chứ có kết nạp ai đâu. Xí nghiệp tư nhân, phát triển đảng làm gì. Nhiều anh là đảng viên, về đây nó bỏ luôn, có nộp giấy sinh hoạt đâu...

- Chú nói cho cháu biết, cháu có ba cái sai: Cái thứ nhất cháu là đảng viên nhưng phát ngôn xa rời tính đảng – tính đảng tức là bám sát tinh thần nghị quyết. Nghị quyết bao giờ cũng đánh giá tình hình có khó khăn, tồn tại, diễn biến phức tạp vân vân, nhưng thắng lợi vẫn là cơ bản. Tao hỏi mày, Giê – đê – pê nước mình, bét ra cũng 5 -6%, có thằng tư bản nào sánh bằng? Thằng Mỹ, thằng Nhật, thằng Anh, Pháp… trùm tư bản cũng chỉ tăng 1 – 2% là sướng bỏ mẹ lên rồi. Đấy, nhìn phát triển kinh tế, phải biết nhìn tổng thể vấn đề… Cái sai thứ hai, là mày không hiểu, cổ phần hóa là chủ trương lớn của Đảng; khi Đảng mình biết không thể bỏ qua giai đoạn tư bản được, buộc phải phát triển kinh tế thị trường, nhưng không để thị trường tự phát kiểu tư bản sơ khai, nên phải lập ra các doanh nghiệp nhà nước để giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa… Nay giai đoạn quá độ vào kinh tế thị trường, tương đối ổn rồi, thì chuyển dần doanh nghiệp nhà nước sang cổ phần hóa. Đó không phải bị động, tự phát, mà là đúng đường lối… Cái sai thứ ba, là mày coi thường tổ chức đảng tại xí nghiệp. Phải củng cố, tăng cường chi bộ đảng để làm hạt nhân thống nhất tư tưởng toàn xí nghiệp… Chú sắp về hưu, nếu không bận giảng ở Trung tâm chính trị huyện, tao về phụ trách công tác đảng cho mày…

- Thôi uống đi, nào! Ông đúng là bệnh nghề nghiệp, ở đâu cũng đem chính trị ra giảng được, tài thật- Ông giáo hưu trí gật gù, rồi đột nhiên hỏi:

- Thế tôi hỏi ông, ngay huyện ta thôi, tình hình đạo đức xã hội suy đồi là tại đâu? Con các cán bộ xã ta thì toàn trốn tránh nghĩa vụ quân sự cả; con cán bộ huyện, có mấy thằng vừa học dốt, vừa hư cũng đi du học, nay mai về là chiếm các chỗ bở béo; rồi con phó chủ tịch huyện, nghiện hút, yêu con gái người ta không được, thuê côn đồ đến quậy phá đám cưới nhà người ta; rồi trộm cướp, đánh nhau, bạo lực học đường gia tăng là sao?… Chưa bao giờ xã hội lộn xộn như thế… Ông tuyên giáo lại giơ tay ra:

- Em nói bác nghe, các nhà giáo nhìn xã hội, hay nặng cảm tính, cứ đem nề nếp chuẩn mực đạo đức nhà giáo để đánh giá cho nên không bản chất xã hội. Nhìn trong gia đình, có ông bố bà mẹ nào vừa lòng với con mình không? Nhìn ra thế giới, có nước nào không có chuyện lộn xộn không? Thế giới bây giờ đang khủng hoảng ghê lắm. Mình rất may, Đảng ta vẫn duy trì được ổn định chính trị, xã hội, giữ môi trường hòa bình cho phát triển. Tôi hỏi các bác, mình có để xảy ra chiến tranh như Sy-ri không? Có để bọn IS vào khủng bố không? Có cái xe tải đâm vào mấy trăm người như ở Pháp không? Có xả súng bắn nhau như ở Mỹ không?... Đấy, ta phải nhìn toàn cảnh thế giới mới thấy mấy đứa học sinh đánh nhau, mấy thằng trộm cướp vặt là cái gì. Có người không biết cứ bảo đa đảng là tốt. Người ta trót đa đảng rồi thì phải chịu. Đấy, Mỹ có 2 đảng chính, suốt ngày cãi nhau như mổ bò, dân chúng cũng chia 2 phe ủng hộ bên này, phản đối bên kia, gây mất đoàn kết. Mình đang yên lành, dại gì chia ra năm bè, bẩy mối, đấu đá nhau, loạn tung xã hội lên. Bây giờ mình một đảng dân đã kêu đông cán bộ, lắm nghị quyết, họp hành nhiều; thế thì mấy đảng có mà chết à?

Mình là khách, chỉ ngồi nghe, tủm tỉm cười. Ông bạn từ Hà Nội về có vẻ hơi bức xúc, bảo:


- Lý luận tuyên giáo của chú Quang vẫn như mấy chục năm về trước. Bây giờ người ta đọc trên mạng xã hội nhiều thông tin, đa chiều, suy nghĩ khác lắm rồi… 

- Đấy… Đấy chính là kẽ hở nguy hiểm để các thế lực xấu lợi dụng tung tin hỏa mù. Cái này em cũng kiến nghị lên trên nhiều lần, là phải quản nghiêm, quản chặt. Bây giờ phải giáo dục cho nhân dân, nhất là lớp trẻ, rằng chỉ những thông tin nào của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị- xã hội, các tổ chức chính danh công bố, mới là chính thống; còn thông tin của các tổ chức không chính danh là không giá trị, nhất là ý kiến các cá nhân riêng lẻ, phát ngôn linh tinh, thì không nghĩa lý gì.

- Nói như chú, dân viết đơn thư tố cáo tham nhũng không có giá trị gì à?- Ông bạn tôi hỏi tiếp.

- Thì cái đơn, thư ấy gửi đến tổ chức, tổ chức ghi nhận về mặt tinh thần tích cực đấu tranh; nhưng thư phải chuyển cho tổ chức đảng nơi đương sự công tác để xác minh xem thực hư thế nào, lúc đó mới có giá trị hay không. Như thế mới đảm bảo nguyên tắc đảng, bảo vệ được đảng viên. Nếu không kẻ xấu lợi dụng, tố cáo, vu khống bừa bãi có mà loạn…

- Như chú Quang nói, thì xã hội mình ngon lành quá. Vậy sao số người bỏ nước ra đi ngày càng tăng? Người ta sợ con cháu gánh nợ công, sợ ô nhiễm môi trường, ung thư tràn lan, sợ Trung quốc xâm chiếm, cai trị dân mình…Vậy làm công tác tư tưởng thế nào?

- Vấn đề như bác nói là chuyện bình thường diễn ra khắp thế giới, Hy Lạp nợ đầm đìa, di dân các nước kéo lũ lượt vào châu âu; ung thư thì Ấn Độ, Trung Quốc cũng chả kém ta…Nó là vấn đề của các nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Anh châu Âu rồi mới chết dở, anh tự do, dân chủ, nhân đạo quá, cho nhiều người nhập cư vào là nuôi ong tay áo cho bọn IS. Đấy, dân chủ, tự do quá là chết!

Còn rất nhiều chuyện nữa, càng uống vào càng chuyện khỏe. Nhưng mình cũng ngà ngà, chả nhớ hết. Lúc đứng lên, mình bắt tay ông Quang, bảo “Tuyên giáo các anh tài đến thế là cùng”!

Các bạn thấy không, khắp các vùng trong cả nước có hàng vạn cán bộ tuyên giáo chuyên giảng dạy, tuyên truyền một cách say sưa, tự tin, áp đặt nhồi nhét những thứ như vậy vào đầu óc dân ta, sao dân chẳng u u minh minh… Đây cũng là những lý lẽ mà các dư luận viên thường xuyên sử dụng để bảo vệ chế độ. Bên cạnh đó là hệ thống công an “đông như quân Nguyên”, thấy ai nói khác, làm khác với tuyên giáo là theo dõi, đe dọa… Đấy chế độ ta “dân chủ đến thế thế là cùng”!

Các bạn thử phản biện ý kiến “Ông tuyên giáo” xem nào? Không đơn giản đâu, họ ngụy biện và đánh tráo khái niệm rất tài tình.

12/8/2016
M.V.T

Phần nhận xét hiển thị trên trang