Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Lưu bài này không vì Vũ Thị Hòa, mà nó liên quan đến Bảo Ninh. Đọc và nghĩ về cái nhà ông ĐL này:

Giám đốc Vũ Thị Hòa

Tin (bài và ảnh) đều của Đông La.



Lấy nguyên về từ bên blog Đông La.



---


THỨ BA, NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2016

DOANH NGHIỆP VŨ THỊ HÒA
ĐỜI MÀ VẪN ĐẠO

Chuyến đi họp Hội nghị Lý luận Phê bình lần thứ IV của Hội Nhà Văn VN của tôi coi như thành công rực rỡ. Hai cuộc hội thảo ở nhóm Lý luận Phê bình và ở Phiên Toàn thể tôi đều được giới thiệu phát biểu ở “giờ vàng”, đã phát biểu được hai vấn đề quan trọng nhất. Thứ nhất là về đổi mới văn chương, tôi duy nhất là người đã đưa ra quan điểm riêng về thi pháp chứ không như đa phần copy những thi pháp của nước ngoài. Còn nhìn thấy gì viết thế cũng chỉ là copy hiện thực, cũng không phải sáng tạo, không phải là mới. Thứ hai trong phiên toàn thể tôi đã nói được về cái thực trạng phân hóa, thoái hóa, dẫn đến sự đối chọi nhau gay gắt trong tâm thức của người Việt về tất cả các vấn đề, đã và đang xảy ra trong xã hội VN. Văn chương phản ánh cuộc sống của con người, tâm thức lại là cái chủ yếu, vậy văn chương chưa phản ánh được sao có thể cho là đổi mới? Tôi đã nêu ra cụ thể cái thực trạng lộn ngược các giá trị, phê phán ngay trên diễn đàn cuốn Nỗi buồn chiến tranh đang được lãnh đạo Hội Nhà Văn đề nghị và “đấu tranh” để nó được xét Giải thưởng Nhà nước năm 2016. Mới hôm qua tôi được biết nó đã chính thức bị loại ở vòng xét cao nhất! Nếu nó được giải thật tôi sẽ viết nữa vì tôi thì “chẳng sợ quái gì” mà không dám chỉ ra những sai trái của những người đề nghị và xét giải! Tôi có cái sướng là đã đến thời điểm có thể thoải mái nói thẳng, nói thật. Chỉ còn ngại một điều duy nhất là nói thật sẽ làm mất lòng nhiều người, trong đó có những người tôi quý mến và họ cũng quý mến tôi. Nhưng đã hiểu Đạo, không dám nói thật sẽ là trái Đạo, mà tôi thì sợ trái Đạo hơn là sợ làm mất lòng. Truyền thống ứng xử của người Việt ta có câu “dĩ hòa vi quý”. Nếu là chuyện không chấp vặt, coi trọng cái tổng thể, cái lớn lao hơn nó sẽ là nét ứng xử đẹp; nhưng bỏ qua sai trái, chấp nhận sai trái, còn tôn vinh cả sai trái nữa thì không phải dĩ hòa vi quý mà là dĩ hòa vi loạn
***
Buổi tối “cô đơn” làm vài chai ở quán “cóc” bên đường phố Tam Đảo về, một mình ở khách sạn lại trằn trọc khó ngủ, lại lan man nghĩ đủ thứ trên đời.
Tôi nghĩ về chuyện “chúng nó” thường cho tôi là hay “nổ”, là chuyên gia bới móc, nên một bữa đang họp có người ghé tai tôi thì thầm: “Anh không phải chỉ điểm nhưng có quyển này anh thấy có vấn đề, em xem nhé!” Nhưng mọi người đâu biết tôi sinh hoạt ở Hội Nhà Văn TPHCM đã 30 năm nhưng chưa phát biểu một câu nào. Thực tế chỉ tại tôi biết nhiều quá, chỉ khi nào thấy cái sai có tác động lớn; như quan điểm của những người có địa vị cao (như Trần Độ, Trần Xuân Bách chẳng hạn); quan điểm của những người nổi tiếng (như Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương chẳng hạn); hoặc những vấn đế tri thức lớn tác động mạnh đến nhận thức chung của mọi người (như triết học, khoa học chẳng hạn), tôi mới lên tiếng.
Rồi tôi thấy việc công đã xong chỉ còn việc tư đã giao hẹn là về thăm nhà, không phải nhà ở quê Hải Dương mà là Đại gia đình cô Vũ Thị Hòa ở Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Kiều Chí Huệ hẹn đúng 6 rưỡi sáng sẽ mang xe đến đón.
Tôi lại nghĩ lan man về thế giới tâm linh, về cô Vũ Thị Hòa. Thực tế có sự mê tín dẫn đến có rất nhiều chuyện lợi dụng mê tín để trục lợi; ngược lại cũng lại có chuyện lợi dụng “chống lợi dụng mê tín để trục lợi” cũng để trục lợi. Điển hình là con nhà báo mắt lác, mồm ác Thu Uyên và bọn tay sai của nó. Như thằng Huân “chó điên”, thằng “chuột Chù” Mộng Long, thằng “Củ hành” thối, con Lê Hương Lan và bọn “bò đỏ” Google Tiên Lãng, trong đó có những thằng “cò” hài cốt liệt sĩ từng ở trong quân đội. Chúng bất nhân ở chỗ vì muốn chứng tỏ mình đúng nhưng lại bằng sự ngu xuẩn, láo lếu, đã bất chấp thực tế, vơ đũa cả nắm, bất kể đúng sai, tốt xấu, vu khống người có công. Có những đứa học luật mà ngu như lợn (xin lỗi loài lợn) vì phạm tội mà không biết, lên án người khác mà không bằng chứng là phạm tội.
Còn tôi trước hết là một nhà nghiên cứu, cũng như từng nghiên cứu về khoa học, văn học, triết học, tôi đã nghiên cứu, suy ngẫm về tâm linh.
Trước hết và quan trọng nhất với tôi là tôi nuốn biết có hay không thế giới tâm linh? Khả năng siêu phàm của con người, trong đó có hiện tượng mà ở ta gọi là ngoại cảm, có thật hay không? Còn chuyện đúng, sai, tốt, xấu liên quan đến pháp luật là chuyện của các cơ quan có trọng trách.
Đầu tiên tôi chú ý đọc về ông Nguyễn Văn Liên. Cơ quan nghiên cứu xác nhận ông Liên có thật khả năng tìm mộ, nhưng đúng, sai chính ông Liên cũng không giải thích được. Tôi đọc kỹ nhất là chuyện GS Trần Phương tìm hài cốt em gái là liệt sĩ thuộc đội nữ du kích nổi tiếng Hoàng Ngân. Chuyện liên quan đến hai nhà ngoại cảm nổi tiếng là Nguyễn Văn Nhã và Phan Thị Bích Hằng. Có nhiều chuyện ly kỳ nhưng điều để tin nhất là hai người một Nam, một Bắc, trước, sau độc lập, nhưng cuối cùng đã giúp tìm được bộ hài cốt có trong một vườn nhãn ở Hưng Yên mà trước đó hai người đều không biết. Phan Thị Bích Hằng đã quá nổi tiếng, tôi đã có ý muốn gặp để “nghiên cứu” nhưng phải dễ dàng chứ phải xếp hàng thì tôi không bao giờ. Đến giờ tôi vẫn chưa gặp Bích Hằng, nhưng qua vụ Thu Uyên nói láo thì chính Bích Hằng đã liên hệ với tôi vài lần.
Còn nhà ngoại cảm tôi gặp đầu tiên và chỉ một lần duy nhất chính là ông Nguyễn Văn Nhã. Ông Nhã trước giải phóng đã tích cực tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, ông cũng học chính Khoa Hóa Đại học Khoa học Sài Gòn mà sau Giải phóng tôi vào học. Hồi tôi học trường hợp với Văn Khoa thành Đại học Tổng hợp TPHCM, ông Nhã làm Bí thư Đoàn trường. Sau này Nhân Văn và Khoa học lại tách ra thì con gái tôi lại học cùng lớp đại học Nhân Văn với con ông Nhã. Một lần tôi cùng anh Thu, người cùng làng, hồi học anh lớn tuổi và là sĩ quan nên là Đảng ủy viên nhà trường có thân với ông Nhã, đã đến gặp ông Nhã tại quán cơm chay của ông ấy tại đường Bùi Viện. Ông Nhã kể ban đầu nhờ ông Nguyễn Văn Liên tìm mộ bố vợ, gặp “bà thầy” của Nguyễn Văn Liên, bà ấy bảo chính ông cũng có sứ mệnh tìm mộ liệt sĩ nhưng phải ăn chay và niệm Phật dù muốn hay không. Ông bảo đang làm ăn, nhậu nhẹt hàng ngày, không làm được đâu. Bà ấy bảo “Cứ chờ xem”. Rồi cơ duyên đưa đẩy người ta cứ hỏi ông Nhã về mộ thất lạc, ông Nhã không biết nhưng có một động lực vô hình đã khiến ông trả lời, có lần đang đi trên đường, điện thoại kêu ông cứ trả lời đại đi cho xong. Rồi chính ông phải ngạc nhiên vì sau đó những câu trả lời của ông lại đúng. Nhưng đang ăn mặn bình thường phải ăn chay với ông là một cực hình, có lần ăn chay mấy ngày rồi còn vài tiếng nữa là đi tìm mộ vậy mà ông không chịu nổi, thèm quá, đã làm vài quả trứng ốp-la với bánh mì. Hôm đó ông thất bại. Lần sau rút kinh nghiệm, vì các liệt sĩ, ông tuân thủ ăn chay, ông đến một nghĩa trang liệt sĩ niệm Phật đúng một trăm lần, ông và cả 7, 8 nhà ngoại khác đi cùng, đã thấy cả nghĩa trang mỗi ngôi mộ đếu có một vong hồn liệt sĩ ngồi với một thần thái rất vui tươi và an lạc. Ông đã nhận ra, thì ra chính câu niệm Phật mới chính là món quà qúy giá nhất đối với mỗi linh hồn. Từ đó ông chăm chỉ niệm Phật nhiều hơn, đôi lần ông nghe thấy cả nền trời cùng vang lên tiếng niệm Phật, ông thấy cả nền trời đỏ au, những vầng mây trắng rất đẹp, có cả cầu vồng nữa. Ông tự nhủ nếu niệm Phật và ăn chay mà có tác dụng như thế thì ông sẵn sàng ăn chay. Tự nhiên ông thấy ăn chay dễ dàng hơn, rồi cả nhà ông cũng theo ông ăn chay trường luôn. Ông còn mở quán, mở ra cả một dịch vụ phục vụ cơm chay, nơi chúng tôi ngồi nói chuyện chính là quán cơm chay. Trên mạng hiện có băng video ông nói chuyện tại một chùa gần giống với chuyện ông nói với chúng tôi.
***
Đó là thời tôi chưa biết cô Hòa. Rồi đến một hôm tôi đọc một bài trên báo Lao động viết là có cô Vũ Thị Hòa ở Yên Bái lợi dụng ngoại cảm  lừa đảo. Lên mạng tìm hiểu thì thấy trên youtube có một loạt băng video của Huỳnh Quốc Hồng đưa lên chiếu hình ảnh cô Hòa tìm mộ. Từng là một lính Miền Đông Nam Bộ, từng bó tăng chôn đồng đội, tôi nhận ra ngay không có chuyện cô Hòa lừa đảo, đơn giản là vì không ai có thể làm giả được mộ dưới gốc cây, dưới chân tường, dưới nền nhà gạch bông, v.v… được. Thấy cô cứ ngửa ngửa tay (sau gặp cô nói là cô mở đất), tìm một lúc cả chục mộ ở một bệnh xá quân y cũ, chẳng cần nhang khói, hình ảnh, cầu khấn gì cả. Cô cũng không vẽ bản đồ, chỉ dẫn dài dòng mà lập hẳn một đoàn tâm đức giúp thân nhân và cơ quan tìm HCLS. Đoàn của cô đến tận nơi, nói trước mộ có gì, rồi đào lên y như thế. Tôi tự nhủ “Chính cái nhà cô này mới là nhà ngoại cảm giỏi nhất”. Rồi khi thấy Thu Uyên và thằng BS Nguyễn Lê Cát trên VTV1 nói láo về ngoại cảm, về cô Hòa, đúng thứ bảy, 26-10-2013, tôi đã viết bài đầu tiên về cô Hòa khi chưa quen cô: Một chương trình nhân đạo bất nhân. Tôi viết hoàn toàn tự nhiên như bản tính tôi xưa nay thấy sai thì viết. Không ngờ ông Đại tá Sử gọi điện, hẹn đến nhà, nối máy nói với cô Hòa. Và rồi sau đó mọi chuyện đã diễn ra như tôi đã viết với bao thác ghềnh vực xoáy mà chính tôi cũng không bao giờ ngờ tới.
***  
Tôi chưa viết hết nhưng cũng đã viết khá nhiều về khả năng của cô Hòa. Với riêng tôi, qua khả năng của cô và phỏng vấn trực tiếp, tôi hiểu thêm nhiều về thế giới tâm linh.
Hiện tượng ngoại cảm luôn xuất hiện ở mọi thời nhưng trong gần 20 năm qua lại xuất hiện nhiều nhất ở VN. Nói đến ngoại cảm là liên quan đến thế giới tâm linh, vì phàm trần mắt thường nhìn thấy thì cần gì ngoại cảm. Nhưng thế giới tâm linh là vô hình nên nhận thức đúng là vô cùng khó khăn, vì thế các tôn giáo cũng nhận thức khác và mâu thuẫn nhau. Là nhà nghiên cứu tôi có nghiên cứu tôn giáo nhưng với tôi thực tế mới là chân lý cao nhất. Có điều hiểu cho đúng thực tế cũng lại quá khó. Vì thế có những ông sư có chức sắc cao, học cao thành đến tiến sĩ cũng vẫn nói sai.
TS Phật giáoThích Nhật Từ, trong một cuộc phỏng vấn, cho “phần lớn thì các nhà ngoại cảm sử dụng năng lực thấu thị” do “sự vỡ lớp thùy mã trên vỏ não, làm cho năng lực của não bằng trực quan nhạy cảm hơn là lúc bình thường. Phần lớn nó là một tai biến đối với người ngoại cảm như do tai nạn, do té ngã, do chó dại cắn, thay vì phần lớn là chết thì những người này lại mở cái lớp thùy mã đó”. Vì vậy “họ có khả năng đoán được các tần số từ các loại vật chất mà bây giờ khoa học gọi là trường sinh học. Bản thân các vật chất đều tỏa ra xung quanh một trường sinh học, và người bị mở lớp thùy mã sẽ cảm nhận được trường sinh học đó để lý giải nó tương đương với hài cốt của người A, người B, người C. Cho nên, dù họ đã tái sanh vài chục năm, thậm chí đã chết đi, sống lại vài lần, nhưng hài cốt đó vẫn được tiếp tục nhận dạng”.
Nói như vậy, ông sư TS đã sai cả về khoa học lẫn thực tế.
Trường sinh học là trường tỏa ra từ một cơ thể sống chứ không thể từ một bộ hài cốt, tức cơ thể chết. Trường tỏa ra từ bộ hài cốt nên gọi là “trường tử học’ thì đúng với thực tế hơn, còn có đúng với khoa học không thì cần phải xét xem có trường tử học không cái đã. Ông sư tiến sĩ nói: “Bản thân các vật chất đều tỏa ra xung quanh một trường sinh học”. Điều này thì hoàn toàn sai theo khoa học vì chỉ có vật chất vận động biến đổi trong một cơ thể sống mới sinh ra trường sinh học chứ không có một vật chất bình thường nào sinh ra được trường sinh học cả.
Khoa học đã biết chắc chắn nhiều quy luật của những đối tượng mắt thường không nhìn thấy, như thế giới vi mô của các hạt hạ nguyên tử; các trường như điện trường, từ trường, rồi điện từ trường; nhưng với trường sinh học thì khoa học chưa biết cụ thể được.
Nhiều nghiên cứu về các trường năng lượng sinh học của con người thường sử dụng các cảm biến photon đã phát hiện sự phát sáng của cơ thể người. Điều này dễ hiểu vì cơ thể sống là tổ hợp nhiều hoạt động của các phần tử mang điện chuyển động và luôn thay đổi trạng thái nên sinh ra ánh sáng ở các tần số khác nhau. Các nhà nghiên cứu nhận thấy nếu hào quang thay đổi thì người ta có bệnh do điện từ trường của tế bào thay đổi làm mất cân bằng. Người ta cho rằng cách chữa bệnh của các nhà thôi miên, nhà ngoại cảm, nhân điện... chính là sự tác động lên cơ thể bệnh nhân một nguồn năng lượng sinh học làm tái cân bằng. Nước Pháp là một trong những nước phát triển về Y học Năng lượng chẩn đoán bệnh bằng việc đo bề dày lớp hào quang quanh cơ thể.
Tiến sĩ Hansen đã sử dụng một phương pháp khác, đó là dùng một con lắc xoắn, một loại thiết bị đủ nhạy trước tác động của các lực rất nhỏ. Một trường luôn sinh ra một lực, nếu có trường sinh học cũng sẽ gây ra một lực. Hansen đã công bố nghiên cứu năm 2013 của mình có tiêu đề là “Sử dụng sự cân bằng của con lắc xoắn để dò tìm và đặc tính hóa trường năng lượng sinh học của con người” trên tạp chí Scientific Exploration.
Quay lại ý ông sư tiến sĩ nói: “Bản thân các vật chất đều tỏa ra xung quanh một trường sinh học”, thực tế vật chất chỉ tỏa ra trường vật chất (nếu có thể) như vật tích điện tỏa ra điện trường; nam châm và dòng điện tích sẽ sinh ra từ trường; trong các nguyên tử tương tác  giữa proton và electron là trường điện từ. Bằng tri thức về điện từ, con người có thể làm cho vật chất “tỏa ra trường”, tức sóng điện từ các loại, được ứng dụng hàng ngày trong đời sống, như tivi, điện thoại chẳng hạn. Vậy theo khoa học, cơ thể con người ta khi chết, mọi hoạt động sống ngưng lại, phân hủy dần còn lại hài cốt, không thể “tỏa ra một trường sinh học” nào cả. Nên không có khoa học nào có thể giải thích được hiện tượng ngoại cảm, nếu có, chỉ có thể là khoa học tâm linh mà thôi, trong đó có Đạo Phật.
Theo Đạo Phật khi người ta chết, ngoài phần xác dần phân hủy vẫn còn lại phần hồn. Có nhiều cách gọi: “thần thức”, “linh hồn”, “hương hồn”, “linh quang”, v.v… Nhưng rất nhiều người hiểu rằng, cả chính tôi trước kia cũng hiểu theo thế, theo Đạo Phật, ngoài số ít người cực thiện, chết siêu thoát ngay lên cõi cao hơn cõi người, cực ác chết bị đày ngay xuống địa ngục, còn đại đa số sau 49 ngày, sẽ tái sinh trở lại cõi người hay vào các cõi khác tùy theo nghiệp. Ông sư Thích Thanh Duệ, Viện trưởng Phân Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, khi phản bác hiện tượng ngoại cảm, cũng nói: “Sau 49 ngày, phần hồn ấy sẽ được quyết định là đầu thai vào nơi này hay nơi khác. Khi thần thức của con người đã chuyển tiếp rồi thì nó không thể trở lại nói chuyện được với các nhà ngoại cảm nữa”.
Còn ông sư TS Thích Nhật Từ cũng nói: “tồn tại của họ (hương linh) là một thời gian rất ngắn để tái sinh… Cho nên, dù họ đã tái sanh vài chục năm, thậm chí đã chết đi, sống lại vài lần, nhưng hài cốt đó vẫn được tiếp tục nhận dạng. Và, phần lớn các nhà ngoại cảm … cảm nhận trường sinh học … vẫn xác định rất đúng những người chết đó tương đương với chiến sĩ tên là Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B…”
Hai ông sư nói có đúng theo Kinh Phật không thì do kinh Phật mênh mông tôi không bao giờ đọc hết nên tôi không thể biết hai ông sư nói vậy là đúng hay sai. Nhưng so với hiện tượng ngoại cảm trong thực tế thì hai ông nói sai hoàn toàn. Cô Hòa cũng như các nhà ngoại cảm khác không phải nhận sóng, giải mã như một cái máy thu vô tuyến nhận sóng vật chất vô tri, vô cảm mà họ gặp, họ thấy, họ đối thoại với những linh hồn có nét mặt, đặc điểm, hình dạng như còn sống; họ có thái độ, có ý thức, có cảm xúc buồn vui.
Trước khi gặp cô Hòa, tôi cũng đã băn khoăn nhiều về chuyện linh hồn tái sinh hết sau 49 ngày chết mà hai ông sư nói ở trên, linh hồn đã tái sinh sao còn có thể nói chuyện với hà ngoại cảm? Nhưng sau khi gặp cô thì tôi hiểu, sau khi chết, tùy theo nghiệp, thần thức cũng sẽ “tái sinh” ngay về các cõi phù hợp, trong đó có cõi người. Cõi người của linh hồn cũng chính là cõi người mà người sống đang sống. Chỉ có khả năng thiên nhãn thông theo kinh Phật mà các nhà ngoại cảm phần nào có được có thể nhìn thấy linh hồn trong chính không gian của người sống. Cô Hòa nói linh hồn cũng phải tu, được lộn lại kiếp sống sẽ tu nhanh hơn, còn được lộn lại hay không thì tùy theo nhân duyên, phúc đức. Nhưng không hiểu đạo, vô minh, tham sân si, phần nhiều người ta được lộn lại sống một kiếp người lại không tu đạo làm người mà lại đi tu đạo làm súc sinh, đạo làm quỷ. Có những kẻ đang sống cũng đã thành quỷ chỉ đội lốt người mà thôi!
          ***
 Đúng 6 rưỡi Kiều Chí Huệ đến, tôi xuống thấy xe mới, người mới hỏi thì Huệ nói: “Lái xe mới của cô mà”, hỏi thêm một câu nữa thì mới hiểu vấn đề. Lên xe, chạy ngoằn ngoèo mấy phút, hỏi vài người mới xuống đúng đường. Yên vị, Huệ nói với tôi:
-Anh ơi, anh cho em xin lỗi anh nhá, vừa rồi em lỡ nói xấu anh với cô, cô giận em quá, muốn từ em luôn đó.
Cũng như lúc Huệ khóc gọi điện cho tôi, tôi nói lại cái ý:
-Cái chính là ở cái tâm, nếu tâm Huệ tốt, lỡ sai vì chưa hiểu vấn đề, cứ kiên trì, cô giận nhưng cứ đến rồi cô cũng sẽ tha cho.
Chuyện này đầu tiên Hường báo tin cho tôi có “một chị” nói xấu anh, cô giận lắm, từ luôn; rồi Hà nói tên ra là Kiều Chí Huệ; đến Huyền thì kể bị cô cấm cửa Huệ khóc lóc “lên bờ xuống ruộng”, phải cầu cứu mấy đứa chúng em xúm lại năn nỉ cô mới tha cho, cô bắt gọi điện thoại xin lỗi anh, lúc vừa khóc tu tu vừa gọi cho anh là có bọn em đấy.
Vụ này lúc đầu Hường báo quả thật tôi không chấp thật nên không hỏi ai, có lẽ vì tôi phê phán cái sai nhiều người, kể cả những ông “cốp” cho đến những người danh tiếng lẫy lừng, nên tôi bị phe ủng hộ họ chửi không ít nghe quen rồi chăng. Lúc đầu bị sốc lắm, rồi nhận ra ở đời luôn có người tốt, người xấu, nếu mình tốt thì bọn xấu tất phải chửi mình, còn khi bọn xấu đã khen mình thì chính mình cũng xấu mất tiêu rồi. Còn Huệ bảo tôi viết hay nhưng cũng hay chửi thô lỗ là do chưa hiểu chứ không phải chuyện tốt xấu gì ở đây. Vô cớ chửi người mới là thô tục, còn chửi bọn xấu, bọn đểu, bọn ác thì thô tục bao nhiêu cũng chưa đủ. Cô Dung, chị của Hường, Huyền, bảo “Anh chửi con Thu Uyên rất hay nhưng vẫn chưa hết cỡ anh ạ”. Những gì xấu xa nhất như ngu xuẩn, lưu manh, đĩ điếm, tôi đã chửi cả, vậy mà chưa hết thì còn cái gì nữa mới hết? Còn quan hệ giữa cô Hòa và tôi thì phải những người gần cô, sát sạt vòng trong cùng như Hường, Huyền, Thương mới biết hết, Huệ còn ở vòng ngoài, biết sơ sơ nên nói sai cũng phải thôi. Tôi chỉ buồn cười, hoàn toàn không giận thật, không phải tỏ ra vị tha hay cao thượng cái gì cả.
Dọc đường, 3 anh em, chú cháu xuống ăn phở đàng hoàng rồi mới đến chỗ cô. Đến nơi gặp cô tôi thấy lạ quá:
-Ô sao trông cô trắng bóc vậy?
Cô cười không trả lời, dẫn tôi đến phòng cô thu xếp cho tôi nghỉ. Tôi bảo muốn nói riêng với cô về công việc cho xong cái đã. Nếu không cô hay bị co kéo, hết cơ hội nói luôn. Tôi luôn lo cho cô vì như đã nói tôi không thể theo cô từng bước, cô cũng không thể nói với tôi từng suy nghĩ, mà có thời người ta đến với cô đông như kiến, trong đó có người muốn lợi dụng cô. Như từng có những người như thế nhưng không được thì đã phản cô, dựng chuyện, làm cô khốn khổ. Với tôi, sự bình yên của cô là quan trọng nhất, còn cô toàn chuyện vui, mọi người đến chung vui với cô hết phần của tôi cũng được.
Nghe tôi nói, cô bảo:
-Em biết anh lo cho em. Nhưng những gì anh hỏi thì anh cứ yên tâm.
-Vậy là được rồi.
Lúc này Huệ mới được vào. Cô bắt giặt quần áo cho tôi, Tôi ngại bảo: “Thôi thôi”, cô bảo “Anh em có gì mà ngại”. Tôi nói:
-Vừa rồi cái Huệ đúng là có sai nhưng do nó chưa hiểu rõ. Cô giận quá làm nó hơi bị oan. Em không giận nó tí nào vì tâm nó tốt, em chỉ ghét những đứa xấu, không chỉ làm sai mà còn cố tình làm sai thôi.
Cô trợn mắt nói:
-Oan cái gì, người ngoài không hiểu anh không sao, đằng này Phật tử theo cô mà không hiểu anh là không được. Phải hiểu anh như thế nào thì cô mới bảo anh là “sắc bút của Phật Bà” chứ! Không chỉ với Huệ mà qua vụ này em muốn cho mọi người biết…
Nói chung là cô nói toàn những điều làm tôi phổng mũi lên thôi, y như 30 năm về trước tôi hỏi Nhà thơ Chế lan Viên: “Chú ơi chú, cháu làm thơ có được không chú?” Ông đã trợn mắt lên nói: “Ông tưởng tôi cho giải vì tình cảm riêng hở? Nếu thế thì hàng vạn người đến gặp tôi bao nhiêu giải cho đủ”. Ông giận nhưng cơn giận của ông lại làm tôi khoái chí nhất trên đời.
Sau đó tôi và cô ra với mọi người. Huyền, vợ chồng Hường, Hà, v.v… lần lượt đến. Tôi rất vui nhưng cũng ngại khi thấy mọi người đều phải vượt hàng trăm cây số đến nên nói giỡn: “Xa xôi quá mà gặp cái nhà ông Đông La này nhiều quá thì cũng chán!”. Ngồi một lát lát thì BS Thành đến. Tất cả quây quần bên cô trò truyện.
Cô kể:
-Vừa rồi cô thiền, cô lấy cây sâm Ngọc Linh về xem cái chất “logic” (tôi nghe không chính xác) của nó xem phù hợp với đất nào…
Thành xen vào:
-Chất saponin…
-Mặc kệ các anh, em nói theo ngôn ngữ của em. Em thấy nó không phù hợp với đất của mình ở đây mà phù hợp với đất trên SaPa cơ. Chính vì thiền mà cái chất bổ trong sâm nó làm da em trắng ra đấy.
Mấy người đàn bà trầm trồ khen cô đúng là trắng bóc như da trẻ con thật. Thành bảo cô dạy cho mọi người đi để mọi người đều trắng đẹp ra. Tôi hỏi cô mang tính chất “nghiên cứu”:
-Cô mang cây sâm để trước mặt rồi thiền à?
-Anh buồn cười, em mang cây sâm về là mang về trong suy nghĩ của em ấy chứ.
Tôi nói với Thành:
-Chất bổ trong củ sâm tưởng tượng lại làm trắng được da người ngoài đời thật thì đúng lại là một chuyện kỳ lạ, chưa có trong bất kỳ loại sách vở nào.
Tôi đã viết chuyện da cô trắng bóc có liên quan đến tâm linh là vì thế. Như bao chuyện, người không hiểu sẽ cho là hoang đường, nhưng với cô Hòa thì nhiều chuyện còn hơn cả hoang đường cũng vẫn là sự thật.
Bàn thêm tí về vẻ đẹp. Mới gặp nhau ai cũng thích vẻ đẹp bên ngoài nhưng chính vẻ đẹp của tâm mới giữ được mối quan hệ bền vững. Nhiều người vẻ ngoài không đẹp, nhưng tâm họ sáng nên khi gần họ ta cảm thấy thật thải mái, thân thiện. Nên tâm thiện chính là loại son phấn kỳ diệu nhất của phụ nữ. Nhưng dường như cái tâm cũng làm biến đổi hình thức. Như Thu Uyên ngày xưa thuộc hàng mỹ nhân của VTV, từ khi nói láo tâm ác đã làm cho càng ngày càng xấu, thấy mặt bệu bạo như cái túi da đựng đầy mỡ. Cũng quân VTV, cô Lê Bình tính hơi “du côn” nhưng tâm tốt hơn nên trông đẹp hơn. Ngay Tạ Bích Loan ngày xưa không thể sánh được với Thu Uyên nhưng giờ trông cũng đẹp hơn.
Còn tôi, chuyến ra Bắc vừa rồi thật bất ngờ, cũng được hai người khen. Rõ ràng là tôi không đẹp mà tuổi tôi thì còn đẹp gì nữa, đến Thế Anh, Chánh Tín, Thương Tín trông còn phát khiếp nữa là. Vậy mà trước khi vào dự tiệc chiêu đãi của Hội nghị, ông Hồ Thể Hà, một nhà văn hình như ở Huế, gặp tôi lần đầu trong hội thảo thơ Nguyễn Quang Thiều, thấy tôi nói:
-Trời ơi, sao trông anh trẻ đẹp thế?
Chính là tôi ngay sau cái lúc ngồi đây:
Tôi buồn cười, hỏi ra thì ông ấy chỉ hơn tôi có một tuổi. Trí thức họ trọng trí tuệ, có thể thần thái trí tuệ của tôi đã trang điểm làm cho ông Hà thấy tôi đẹp chăng? Người thứ hai khen tôi lại chính là cô Hòa, cô khen tôi chắc vì tôi mặc cái áo mới, nhưng lần nào cô cũng bảo tôi đi cắt tóc. Tôi bảo nhà văn phải để dài tí cho ra dáng nghệ sĩ.
***
Rồi chúng tôi đi đánh chén. Cô mổ một con lợn làm thực phẩm, tôi không đến cô cũng mổ, nhưng tôi đến đúng dịp thì cứ cho là cô mổ lợn để đón tôi cho oai. Cô ít cho uống bia, hôm đó thì thoải mái. Ngồi dưới đất với anh Thu, Thành và đàn ông, khi đã hơi ngắc ngư tôi đứng dậy sang gây sự với nhóm đàn bà ưu tiên ngồi trên bàn. Kiều Chí Huệ mời một ly “tạ lỗi”:
Tôi nói:
-Từ ngày quen cô Hòa, mấy bà, mấy cô ở đây dù có đẹp như tiên thì tôi cũng như mù luôn. Khổ là từ xa, việc tốt cô không thấy, tôi cứ làm việc xấu là cô thấy ngay, thế mới khổ. Tôi nói thế này này, cô Hòa của chúng ta ấy, nếu cô cứ là thần thánh luôn có khi lại không hay, cô phải là “bà Hòa bán cá” nữa thì mới hay…
Đúng lúc đó cô đến, tôi bảo: “Em vừa nói xấu cô thì cô đến”. Một người nhường chỗ cho cô ngồi bên tôi:
***
Chuyện cô trở thành Tổng Giám đốc Vũ Thị Hòa có nhiều người không tin nhưng từ vùng đất hoang đã biến thành vườn cây thuốc có hệ thống tưới tự động hiện đại như hình ảnh dưới đây thì tin hay không vẫn là sự thật:
Đã có một cuộc tranh luận về chuyện sao cô từng dứt áo bỏ nhà ra đi làm tâm đức giờ lại làm kinh doanh như một người phàm? Theo sách thì hỏi như vậy là đúng nhưng thực tế đời phàm với bao khuyết tật thì lại không cho người ta sống theo sách.
Trước đây ngày nào cô cũng gọi cho tôi, gần đây cô bảo có lý do nên cô ít gọi, tôi bảo “Mình có làm gì sai đâu mà sợ” nhưng cô vẫn không muốn người ta suy diễn sai, nghĩ sai về tôi nên vẫn ít gọi. Cách đây vài hôm cô gọi, cô bảo lâu lắm mới gọi cho anh thích quá, mới gặp ở Tam Đảo mà hỏi thăm đủ chuyện. Thấy Huyền mới đưa mấy hình lên:
Tôi bảo:
-Cô họp công ty trông oách quá!
Cô cười:
-Anh biết mà.
-Nhưng cô phải cân đối đầu vào đầu ra, phải có nguồn tiêu thụ, có thu nhập để trả lương công nhân chứ.
-Em làm thật mà, giờ em cũng giúp cho mấy chục người có công ăn việc làm đấy. Làm công ty cũng là làm tâm đức. Anh yên tâm, có anh Thành giúp liên hệ với Viện dược liệu. Cây thuốc của em là thuốc thật chứ không như có nhiều thuốc giả đâu.
-Hồi em mới ra trường, việc đầu tiên là cùng một nhóm chiết xuất chất Berberin từ cây vàng đắng làm thuốc đường tiêu hóa đấy. Cây dược liệu đúng là tốt thật cô ạ.
Công ty của cô đúng thật là một công ty nhưng lại trồng cây thuốc nên việc làm của cô Đời mà vẫn Đạo!
19-7-2016
ĐÔNG LA

http://donglasg.blogspot.com/2016/07/doanh-nghiep-vu-thi-hoa-oi-ma-van-ao.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nỗi buồn Bảo Ninh


Mới đây, “Nỗi buồn chiến tranh” - cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam - đã “trượt” ra ngoài vòng đề cử tác phẩm Giải thưởng Nhà nước vì không đủ tỉ lệ phiếu bầu

Thông tin nhà văn Bảo Ninh - tác giả của cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” - “trượt” khỏi vòng 3 đề cử Giải thưởng Nhà nước khiến dư luận trong văn giới xôn xao. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã đề nghị xét lại trường hợp này.
Nỗi buồn dai dẳng
Đã rất lâu, từ hồi “Nỗi buồn chiến tranh” ra đời năm 1987 và lập tức gây “bão” trên văn đàn Việt Nam ở đủ mọi khía cạnh khác nhau. Tác phẩm này liên tiếp nhận các tặng thưởng, giải thưởng, những niềm vinh dự lớn lao, tác giả của “Nỗi buồn chiến tranh” được nhiều nhà phê bình trong và ngoài nước tôn vinh là tác giả của “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới”…
Tuy nhiên, “cha đẻ” của cuốn tiểu thuyết duy nhất của Việt Nam được đưa vào vòng đề cử Giải Nobel Văn học này còn nhận được rất nhiều thứ đắng chát trong cuộc sống và sự nghiệp viết văn của mình. Từng có thời tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bị cấm không được in suốt nhiều năm liền. Cho tới năm 2005, cuốn tiểu thuyết này chỉ được xuất hiện trở lại với bạn đọc sau khi đã đổi tên thành “Thân phận của tình yêu”. Sau đó, sách đã được in lại với tên chính thức đã nổi danh: “Nỗi buồn chiến tranh”, đồng thời được dịch ra rất nhiều thứ tiếng nhưng những nỗi buồn dai dẳng cả trong đời sống lẫn chuyện nghề nghiệp mà tác giả đã trải nghiệm và đi qua, ông chỉ muốn quên đi mà không dễ gì quên được.
Nhà văn Bảo Ninh Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Nhà văn Bảo Ninh Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Cho đến tận bây giờ, sau mấy chục năm đổi mới, nếu để lên “bàn cân” của bất cứ hội đồng lựa chọn giải thưởng nào liên quan đến văn học Việt, cũng chưa có cuốn sách nào vượt qua “Nỗi buồn chiến tranh”. Thế nhưng, cũng đến tận giờ này, nhà văn vẫn phải ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Chuyện xưa, kết đi được chưa?” (tên một truyện ngắn đã xuất bản của Bảo Ninh).
Bảo Ninh những ngày này thường khó liên lạc, có người bạn nói ông mất điện thoại nhưng thực ra suốt bao nhiêu năm nay, cũng ít ai tìm được Bảo Ninh trên các loại “sóng”. Chỉ có những người thân, bạn bè thực sự mới biết ông đang ở đâu, có gặp gỡ ai không, đang viết cái gì, tỉnh hay say. Ông sống bình thản, vẫn viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết và khá thờ ơ với việc giải thưởng này nọ. Nhiều năm trước, ông không gửi hồ sơ, nếu năm nay có người thông báo chuyện “trượt” giải thưởng thì đối với ông, chắc cũng không có gì quan trọng.
Đề nghị xét lại
Dẫu vậy, nhiều bạn văn bức xúc không hiểu vì lý do gì mà thành tựu của văn học đổi mới lại bị “gạt” ra ngoài giải thưởng danh giá này trong khi lớp nhà văn đàn em của Bảo Ninh như Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái… đều đã vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước? Thậm chí, trong danh mục đề cử còn thường xuyên xuất hiện những cái tên “xa lạ” với độc giả, với người đọc và khó mà xứng tầm với các nhà văn tên tuổi.
“Đến tác phẩm của Bảo Ninh mà còn “trượt” thì chúng tôi chẳng biết nói gì nữa. Nếu chấm xét các tác phẩm văn học thì phải hỏi ý kiến từ các nhà chuyên môn, không hỏi họ thì hỏi ai để lấy cơ sở tôn vinh tác phẩm? Đã có ý kiến căng thẳng về việc này nhưng hội đồng vẫn “bất chấp” - nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giám đốc NXB Hội Nhà văn, thất vọng.
Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” được dịch ra rất nhiều thứ tiếng: Tiếng Anh, Ba Lan, Pháp…
Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” được dịch ra rất nhiều thứ tiếng: Tiếng Anh, Ba Lan, Pháp…
Hai vòng dưới, tỉ lệ phiếu bầu cho nhà văn Bảo Ninh rất tốt: ở tuyến cơ sở, đạt tỉ lệ 100% phiếu bầu; ở ủy ban chuyên ngành cấp bộ, đạt tới 90% phiếu bầu; ở cấp nhà nước, tỉ lệ sụt xuống chỉ còn 76% phiếu bầu. “Không chỉ bỏ phiếu cho anh Bảo Ninh, tôi đã bỏ cả nửa giờ để hùng biện về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”. Giờ bỗng dưng tác phẩm bị thiếu phiếu thì chúng tôi cũng không biết có chuyện gì, tại sao lại như thế?” - nhà văn Chu Lai, thành viên hội đồng xét giải, cho biết.
Cả hội đồng có 28 người nhưng chỉ có mấy người hoạt động trong lĩnh vực văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh nói: “Trong lĩnh vực văn chương, chỉ có tôi, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Hoàng Nhuận Cầm”. Theo ông Hữu Thỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật và Hội Nhà văn Việt Nam đang làm công văn khẩn đề nghị xem xét việc này để có thể bỏ phiếu lại.
Nhiều nhà văn, nhà thơ cũng mong được bỏ phiếu lại cho nhà văn Bảo Ninh. “Không thể để một nhà văn thành công lớn trong nền văn học đương đại của chúng ta như Bảo Ninh phải chịu thiệt thòi” - một nhà văn khẳng định.
Yêu cầu tỉ lệ phiếu phải đạt 90% là quá cao
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng bức xúc: “Tỉ lệ phiếu phải đạt 90% là quá cao. Theo tỉ lệ này, chắc chắn các tác phẩm rất khó để đoạt giải. Trước đây, theo nghị định năm 2012, tỉ lệ cũ chỉ có 75%”. Một số ý kiến từ nhà nghiên cứu, nhà phê bình cũng cho rằng tỉ lệ số phiếu đạt được chỉ cần 75%, thậm chí quá bán đã là tốt rồi vì hội đồng bao gồm nhiều thành phần, không phải ai cũng là nhà chuyên môn trong đúng lĩnh vực nên sự thống nhất sẽ rất khó. Nhiều nhà phê bình, nhà nghiên cứu không muốn lên tiếng trong sự vụ khá “nóng” này nhưng ai cũng cảm thấy rất rõ một “nỗi buồn” quá lớn cho “Nỗi buồn chiến tranh” và nhà văn Bảo Ninh.
Hòa Bình
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phán quyết Biển Đông: Lợi và hại đối với Việt Nam


Lê Hồng Hiệp -Phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc là một cột mốc lịch sử trong tiến trình tranh chấp Biển Đông. Là một trong những bên tranh chấp chính, Việt Nam đã hoan nghênh việc Tòa ra phán quyết, và nói rằng sẽ đưa ra một tuyên bố riêng về nội dung của phán quyết này. Tuyên bố dự kiến sẽ giúp làm sáng tỏ cách hiểu của Việt Nam đối với phán quyết, đồng thời cung cấp các manh mối về việc Việt Nam có thể sẽ xử lý tranh chấp như thế nào trong tương lai.

Tác động của phán quyết đối với Việt Nam
Việt Nam được hưởng lợi đáng kể từ phán quyết, nhưng cũng phải đối mặt với một số tác động tiêu cực đối với các tuyên bố chủ quyền của mình ở Quần đảo Trường Sa.

Hai điểm trong phán quyết của Tòa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Thứ nhất, Tòa tuyên bố yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc dựa trên đường chín đoạn là không phù hợp với Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Thứ hai, Tòa xác định không thực thể nào thuộc Quần đảo Trường Sa đủ tiêu chuẩn của một hòn đảo theo Điều 121 (3) của UNCLOS. Như vậy, các thực thể này tối đa chỉ được hưởng một vùng lãnh hải 12 hải lý mà không được hưởng một Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) có thể mở rộng đến 200 hải lý.

Những phán quyết này đã thu hẹp đáng kể phạm vi tranh chấp biển giữa Trung Quốc và Việt Nam. Từ giờ trở đi, sẽ không còn vùng chồng lấn giữa đường chín đoạn của Trung Quốc với EEZ của Việt Nam, cũng như giữa EEZ giả định của một số thực thể nhất định trong Quần đảo Trường Sa và EEZ của Việt Nam tính từ đất liền.

Phán quyết của Tòa cũng đặt ra một tiền lệ pháp lý quan trọng giúp Việt Nam xử lý tranh chấp với Trung Quốc đối với vùng biển xung quanh Quần đảo Hoàng Sa. Do các thực thể thuộc Quần đảo Hoàng Sa cũng tương tự như các thực thể ở Trường Sa về quy mô và tính chất, chúng nhiều khả năng cũng không có EEZ. Ngoài ra, phán quyết của Tòa cho rằng Quần đảo Trường Sa không thể được hưởng các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất cũng có thể áp dụng được đối với Quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc thiết lập xung quanh quần đảo này hồi năm 1996 sẽ không còn giá trị nữa.

Trong các sự cố trên biển giữa hai nước trước đây, trong đó có việc Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí thuộc EEZ của Việt Nam hồi năm 2012 và triển khai giàn khoan Hải Dương 981 trong EEZ của Việt Nam hồi năm 2014, Trung Quốc đã biện minh bằng cách viện dẫn tới các quyền của mình trong phạm vi đường chín đoạn hay vùng EEZ giả định của hai quần đảo. Với hai phán quyết trên, Việt Nam hiện có một cơ sở pháp lý vững chắc để ngăn chặn sự xâm phạm của Trung Quốc vào EEZ của mình trong tương lai.

Tuy nhiên, phán quyết cũng tạo ra một số tác động tiêu cực đối với tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Quần đảo Trường Sa. Ví dụ, do Tòa tuyên bố rằng không thực thể nào thuộc Quần đảo Trường Sa được hưởng EEZ, quyền tiếp cận của ngư dân Việt Nam đối với ngư trường quan trọng này có thể bị giảm xuống đáng kể. Cụ thể, họ sẽ mất quyền đánh cá trong các vùng nước bên trong EEZ của Philippines và ngoài vùng lãnh hải của các thực thể đủ tiêu chuẩn thuộc Quần đảo Trường Sa. Việt Nam cũng có thể sẽ phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình đối với Bãi Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây vốn được Tòa tuyên bố là các thực thể lúc chìm lúc nổi (LTEs) và thuộc về thềm lục địa của Philippines.
Quan trọng hơn, Việt Nam cũng có thể sẽ phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các đá Tốc Tan và Núi Le, những thực thể đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Những thực thể này, được các chuyên gia xác định là các bãi lúc chìm lúc nổi, nằm trong vùng EEZ của Philippines và bên ngoài lãnh hải của các thực thể xung quanh. Theo UNCLOS, các thực thể này không phải là đối tượng của các tuyên bố chủ quyền, và Philippines có quyền chủ quyền đối với chúng. Mặc dù phán quyết của Tòa không trực tiếp đề cập tới các thực thể này, Việt Nam có thể bị Philippines yêu cầu từ bỏ chúng.

Tuy nhiên, cần xác định rằng, phán quyết của Tòa trọng tài không giải quyết vấn đề chủ quyền của các thực thể, vì vậy những tác động tiêu cực trên chỉ mới là những khả năng, phụ thuộc vào đàm phán giữa Việt Nam và Philippines, cũng như mức độ tuân thủ của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không tuân thủ phán quyết, nguyên trạng tại Trường Sa nhiều khả năng sẽ không thay đổi.

Tác động tới quan hệ của Việt Nam với Philippines và Trung Quốc

Như vậy, phán quyết của Tòa vừa tăng cường sức mạnh đàm phán của Việt Nam đối với Trung Quốc, vừa làm suy yếu vị thế thương lượng của ta trước Philippines. Tuy nhiên, Việt Nam có thể vẫn sẽ ủng hộ phán quyết vì các lợi ích mà phán quyết mang lại nhìn chung vượt xa các thiệt hại có thể có. Hơn nữa, Việt Nam vẫn có thể đàm phán với Philippines về quyền đánh cá của mình cũng như việc chiếm đóng các thực thể lúc chìm lúc nổi nêu trên. Dẫu sao, do Việt Nam và Philippines là các “đồng minh trên thực tế” trong vấn đề tranh chấp Biển Đông nên phán quyết nhiều khả năng sẽ không gây tác động tiêu cực tới quan hệ song phương, ít nhất là trong ngắn hạn.

Còn về quan hệ Việt -Trung, các tiền lệ được thiết lập bởi phán quyết của Tòa sẽ giúp chúng ta nhiều khả năng giành phần thắng nếu tiến hành một vụ kiện tương tự về Quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, Việt Nam không nên khởi động tiến trình này ngay vì làm như vậy sẽ gây ra sự thù địch dữ dội từ phía Trung Quốc và gây bất ổn quan hệ song phương, điều Việt Nam chưa sẵn sàng đối phó. Thay vào đó, chúng ta nên để mở lựa chọn pháp lý này và sử dụng nó như là một đòn bẩy mặc cả trong việc xử lý quan hệ với Trung Quốc.

Tóm lại, Việt Nam sẽ đo lường phản ứng của mình một cách cẩn thận để tối đa hóa lợi ích thu được từ phán quyết của Tòa. Đồng thời, việc Việt Nam ủng hộ Philippines ngay từ giai đoạn đầu của quá trình trọng tài ngụ ý rằng Việt Nam đã sẵn sàng chấp nhận những tác động tiêu cực có thể có của phán quyết đối với lợi ích của mình. Mặc dù vậy, chính sách Biển Đông và hành động trên thực địa của Việt Nam trong thời gian tới sẽ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tuân thủ của Trung Quốc đối với phán quyết, cũng như tình trạng quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Philippines trong tương lai.

Trước mắt, Việt Nam chưa cần phải vội vàng hành động.

Tác giả: Lê Hồng Hiệp
TS Lê Hồng Hiệp là nghiên cứu viên chính tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS – Yusof Ishak Institute), Singapore. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên tờ TODAY (Singapore) tại ĐÂY.
(Nghiên Cứu Quốc Tế)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

ĐIÊN CUỒNG CHỐNG VIỆT NAM NHƯNG CÒN CỐ GIẤU MẶT



1. Thông qua bè lũ Pôn Pốt – Lêng Xa-ry tiến hành cuộc chiến trnh biên giới chống Việt Nam ở phía tây nam Việt Nam.
Ngay từ giữa những năm 1960, những người lãnh đạo Trung Quốc đã mưu tính nắm trọn vấn đề Campuchia, trước mắt nhằm phá hoại Mặt trận đoàn kết các nước Đông Dương, làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, có thể đàm phán với Mỹ và lâu dài nắm bắt Campuchia lệ thuộc và trở thành một bàn đạp của Trung Quốc để bành trướng xuống Đông Dương và Đông nam Châu Á. Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, nước Campuchia hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của bè lũ Lon non, tay sai của Mỹ, họ dùng bọn tay sai Pôn Pốt – Lêng-xa-ry chiếm quyền lãnh đạo đảng Cọng sản Campuchia, gạt quốc trưởng Xihanuc và những người thân cận của ông ta, để xây dựng nên một chế độ phát xít diệt chủng có một không hai trong lịch sử loài người và thông qua chế độ đó hoàn toàn kiểm soát nước Campuchia, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới và căn cứ quân sự của họ để tiến đánh Việt Nam từ phía tây nam.
Họ đã đổ tiền, vũ khí và dụng cụ chiến tranh các loại và đưa hàng vạn cố vấn Trung Quốc vào campuchia để thành lập hàng chục sư đoàn mới gồm đủ bộ binh, thiết giáp, pháo binh, xây dựng thêm hoặc mở rộng nhiều căn cứ hải quân, không quân, hệ thống kho hậu cần.
Dưới sự đạo diễn của Bắc Kinh, tập đoàn cầm quyền phản động Phnông Pênh lúc đó tiến hành một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp vu khống Việt Nam “xâm lược Campuchia”, “âm mưu ép Campuchia vào liên bang Đông Dương do Việt Nam khống chế”, ráo riết hô hào chiến tranh chống Việt Nam. Chúng đã phá hoại cuộc đàm phám giữa hai nước nhằm giải quyết vấn đề biên giới để có cớ duy trì một tình hình ngày càng căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia. Ngay từ tháng 4 năm 1975, chúng đã đưa quân lấn chiếm, bắn phá nhiều điểm trên lãnh thổ Việt Nam và từ đó ngày càng gây thêm nhiều vụ xung đột ở biên giới, đột kích nhiều đồn biên phòng, làng xóm Việt Nam, làm cho tình hình biên giới không ổn định, ngăn cản nhân dân Việt nam khôi phục và xây dựng kinh tế. Từ những cuộc khiêu khích vũ trang, chúng tiến đến gây ra một cuộc chiến tranh biên giới chống nước Việt Nam từ tháng 4 năm 1977 suốt dọc hơn 1.000 km với những cuộc tiến công qui mô, huy động hàng vạn bộ binh có xe tăng, trọng pháo yểm trợ, có khi vào sâu lãnh thổ Việt Nam hơn 30 km, giết hại dã ma dân thường, tàn phá nhà cửa, hoa màu, gây nên biết bao tội ác không thể dung thứ được.
Chỉ thị của Kiều Ủy trung ương Trung Quốc về công tác đối với người Hoa ở Việt Nam năm 1996.
Có đoạn viết :
‘….. Phải lấy tư tưởng Mao Trạch Đông giáo dục Hoa kiều ở Việt Nam.
Báo Tân Việt Hoa phải trở thành trận địa tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông.
Hoa kiều nhất định phải có “chủ nghĩa nước lớn”. Các đồng chí phải chủ động quan hệ chặt chẽ với đại sứ quán để đại sứ quán giúp đỡ được tốt hơn”.
2. Dùng vấn đề người Hoa để chống đối Việt Nam từ bên trong
Ở Việt Nam có khoảng 1 triệu 20 vạn người Hoa sinh sống; gần một triệu người ở miền Nam và trên 20 vạn người ở miền Bắc, năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cọng Sản Trung Quốc đã thỏa thuận là người Hoa ở miền Bắc là do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo và dần dần chuyển thành công dân Việt Nam. Trong 20 năm qua, người Hoa ở miền bắc được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ như công dân Việt Nam. Còn người Hoa ở miền nam, từ năm 1956 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, đã vào quốc tịch Việt Nam để được hưởng nhiều điều kiện dễ dàng trong việc làm ăn sinh sống.
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền nam, Chính phủ và nhân dân Việt Nam tiếp tục nghiêm chỉnh thực hiện sự thỏa thuận năm 1955 giữa hai đảng về người Hoa ở miền bắc, đồng thời tôn trọng thực tế lịch sử về người Việt gốc Hoa ở miền nam, coi người Hoa ở cả hai miền là một bộ phận trong cộng đồng trong dân tộc Việt Nam. Số ít người mang căn cước Đài Loan, Hồng Kông hoặc quốc tịch nước khác và số Hoa kiều bị bọn Pôn Pốt – Lêng xa ry xua đuổi và tỵ nạn ở miền nam Việt nam thì được coi là ngoại kiều.
Ngược lại, những người cầm quyền Trung Quốc xuyên tạc sự thỏa thuận năm 1955 giữa hai đảng, phủ nhận thực tế lịch sử về những người Việt gốc Hoa ờ miền nam Việt Nam, coi tất cả kiều dân ở hai miền là kiều dân Trung Quốc để đòi quyền lãnh đạo những người ấy. Trên thực tế, họ lập các tổ chức phản động và mạng lưới gián điệp người Hoa trên đất Việt Nam. Các tổ chức gọi là “Hoa kiều hòa bình liên hiệp hội”, “Hoa kiều tiến bộ”, “Hoa kiều cứu vong hội”, “Đoàn thanh niên chủ nghĩa Mac – Lenin”, “Hội học sinh Hoa kiều yêu nước”, “Mặt trận thống nhất Hoa kiều”..,v.v.. do Bắc Kinh thành lập và chỉ huy, đã hoạt động chống lại các chính sách của chính quyền, chống lệnh đăng ký nghĩa vụ quân sự, chống việc đi xây dựng vùng kinh tế mới, kích động tâm lý huyết thống trong người Việt gốc Hoa, khơi lên phong trào đòi trở lại quốc tịch Trung Quốc. Họ in tiền giả, đầu cơ tích trữ, nâng giá hàng nhằm phá kế hoạch ổn định và phát triển kinh tế của các cơ quan Nhà nước ở miền Nam Việt Nam, Với những thủ đoạn đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã gây thêm khó khăn cho nhân dân miền Nam Việt Nam vốn đã gặp biết bao khó khăn do 30 năm chiến tranh của đế quốc để lại, khiến cho nhiều người về sau bỏ nước ra đi tìm một nơi mà họ cho là dễ làm ăn hơn. Bắc Kinh đã dùng người Hoa làm công cụ gây rối loạn về chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam như họ đã làm ở một số nước Đông Nam châu Á và Nam Á.
3. Dùng vấn đề viện trợ để nâng thêm sức ép
Năm 1973. những người lãnh đạo Trung Quốc đã long trọng hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam ít nhất trong 5 năm liền ở mức kim ngạch năm 1973.
Năm 1975, khi chào mừng nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc cũng nói “sẽ tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa nhằm củng cố thành quả thắng lợi, thống nhất và xây dựng Tổ Quốc của nhân dân Việt nam”. Thật ra đây chỉ là lời tuyên bố giả dối để che dấu sự hằn học của họ đối với sự thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam đang làm nức lòng tất cả những lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới, che giấu những kế hoạch đen tối của họ nhằm chống lại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Trên thực tế, họ không ủng hộ nhân dân Việt Nam xây dựng lại đất nước trong giai đoạn mới.
Nếu những năm 1960 -1970, những người lãnh đạo Trung Quốc giảm viện trợ đối với Việt Nam vì họ không tán thành Việt Nam thương lượng với Mỹ để kéo Mỹ xuống thang chiến tranh, và nếu những năm 1971 -1972 họ tăng viện trợ đối với Việt Nam cao nhất so với các năm trước, vì họ muốn lợi dụng vấn đề Việt Nam để thương lượng với Mỹ, thì đến năm 1975, vì bị thất bại ở miền Nam Việt Nam, họ lại dùng viện trợ để gây sức ép đối với Việt Nam. Họ khước từ những yêu cầu viện trợ mới của Việt Nam. Về phần viện trợ cũ đã thỏa thuận từ trong chiến tranh và chưa giao hết, họ vin cớ này cớ khác để dây dưa, trong đó có những công trình đang làm dở, có những công trình rất quan trọng đối với công cuộc hòa bình xây dựng đất nước Việt nam. Rõ ràng viện trợ của những người lãnh đạo Trung Quốc không phải là “vô tư” như họ thường khoe khoang, mà chỉ là công cụ của chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn, Viện trợ của Bắc Kinh chỉ là “cái gậy và củ cà rốt”..
Những thủ đoạn nói trên của Bắc Kinh nhằm chống Việt Nam là những đòn thâm độc, quyết liệt, nhưng đều đã thất bại: bộ mặt phát xít diệt chủng của Pôn Pốt – lêng xa ry bị nhân dân Campuchia và cả của loài người tiến bộ lên án; kế hoạch dùng người Hoa phá Việt Nam từ bên trong bị phá sản; mưu đồ gây sức ép bằng viện trợ và các thủ đoạn khác không lay chuyển được đường lối độc lập, tự chủ của Việt Nam, không khuất phục được nhân dân Việt Nam.
III. ĐIÊN CUỒNG CHỐNG VIỆT NAM MỘT CÁCH CÔNG KHAI
Giấu mặt chống Việt Nam không đạt kết quả mong muốn, những người cầm quyền Trung Quốc quay ra công khai chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn, kể cả bằng đe dọa vũ lực và dùng vũ lực.
1. Cái gọi là vấn đề “nạn kiều”
Đầu năm 1978, những người cầm quyền Trung Quốc dựng lên cái gọi là vấn đề “nạn kiều” để mở đầu một chiến dịch quy mô, công khai chống Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Sự thật là chính các tổ chức bí mật người Hoa, mạng lưới gián điệp của sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội được sự chỉ đạo hàng ngày, hàng giờ của bộ máy tuyên truyền Bắc Kinh, bằng những sự bịa đặt trắng trợn, những luận điệu vu cáo Việt Nam “xua đuổi, bài xích, khủng bố người Hoa”, bằng những thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc, dụ dỗ, dọa nạt, đã gây nên trong quần chúng người Hoa đang làm ăn yên ổn ở Việt Nam một tâm trạng hoang mang, lo sợ chiến tranh sắp nổ ra, một tâm lý nghi ngờ, thậm chí thù ghét người Việt Nam, khiến họ ồ ạt kéo đi Trung Quốc. Bọn tay chân của Trung Quốc tổ chức cho những người đó vượt biên giới trái phép rồi lại chặn họ lại, gây ra ùn tắc ở biên giới Việt – Trung để dễ bề kích động họ chống lại và hành hung những nhà chức trách Việt Nam ở địa phương, Lúc dòng người Hoa ùn ùn kéo đi Trung Quốc, Bắc Kinh lại trắng trợn đưa hai tàu sang Việt Nam đón “nạn kiều”, mặc dầu họ không nêu trước vấn đề đó với Chính phủ Việt Nam. Chỉ trong mấy tháng đầu, 17 vạn người Hoa đã rời Việt Nam đi Trung Quốc. Cái gọi là vấn đề “nạn kiều” chỉ là một sự cưỡng bức người Hoa ở Việt Nam ồ ạt di cư đi Trung Quốc mà thủ phạm chính là tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh, một sự lừa gạt và một sự phản bội của họ nhằm gây xáo trộn về chính trị, xã hội, kinh tế ở Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, đồng thời kích động dư luận Trung Quốc, chuẩn bị sẵn sàng “đạo quân thứ năm” cho việc tiến hành xâm lược Việt Nam trong bước sau.

Một thư của sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội xúi giục người Hoa ở Đà nẵng chống Việt Nam, tịch thu được của can phạm Hàng Phú Quang bị bắt tháng 7 năm 1978.
Dòng chữ đầu của góc bên phải là “Thư của sứ quán”. Trích một số đoạn:
1. Toàn thể Hoa kiều tại miền Trung, Nam, Bắc Việt Nam phải đoàn kết, nhất trí để đối phó với hoàn cảnh ác liệt.
2. Phải chú ý theo dõi chỉ thị qua Đài phát thanh của Tổ quốc.
3. Hoa kiều về nước thì phải đợi chỉ thị, chờ nhân viên ngoại giao đến có chỉ thị rõ ràng để lo liệu. Sau đó tuần tự lên tàu về nước.
4. Không nghe chính quyền địa phương lừa gạt ghi là người Việt gốc Hoa làm thủ tục xuất cảnh về Trung Quốc. Vì như vậy thì sẽ bị tổn thất nặng nề về động sản và bất động sản của tư nhân*. Phải chờ nhân viên ngoại giao của ta chỉ dẫn cách điền vào đơn (hai bên chính phủ đã bàn) để tài sản công tư khỏi bị tổn thất.
5. Đề phòng số phần tử xấu tung tin đồn ly gián làm dao động ý chí của Hoa kiều.
Vốn là người làm ăn sinh sống lâu đời ở Việt Nam, thông thạo địa hình, phong tục, tập quán, có nhiều cơ sở quen thuộc cũ, có nhiều khả năng nắm được nhiều tin tức, tình hình, những người Hoa ở Việt Nam đi Trung Quốc đã được bọn bành trướng Bắc Kinh chọn lựa để đưa vào những “sư đoàn sơn cước” chuyên đánh rừng núi, thọc sâu vào hậu phương, hoặc những đơn vị đi trước mở đường, hoặc những đơn vị thám báo, dẫn đường, bắt cóc, ám sát, phá hoại cầu cống, kho tàng của Việt Nam. Nhiều tên trong bọn chúng đã bị bắt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 17 tháng 2 năm 1979.
Trước quyết tâm của nhân dân Việt Nam giữ vững chủ quyền của mình, những người cầm quyền Bắc Kinh buộc phải rút lui hai chiếc tàu đi đón “nạn kiều” về nước, ngồi vào đám phán với phía Việt Nam về việc giải quyết vấn đề người Hoa. Nhưng trong đàm phán, họ vẫn giữ thái độ nước lớn, ngang ngược áp đặt quan điểm vô lý của họ, bất chấp chủ quyền của nước Cọng hòa xả hội chủ nghĩa Việt Nam và luật pháp quốc tế. Chính họ đã cố tình phá hoại cuộc đàm phán đó để tiếp tục dùng vấn đề người Hoa chống Việt Nam.
2. Cắt viện trợ, rút chuyên gia
Trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh ráo riết dụ dỗ, cưỡng ép người Hoa ở Việt Nam đi Trung Quốc, họ dùng cái gậy “viện trợ” để đồng thời đánh Việt Nam về kinh tế. Chỉ trong hơn một tháng, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế, họ đơn phương tuyên bố chấm dứt toàn bộ viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam, gọi về nước tất cả các chuyên gia và cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang công tác ở Việt Nam. Đây là một đòn cực kỳ thâm độc, đưa ra đúng lúc nhân dân Việt Nam đang phải hàn gắn những vết thương chiến tranh, đồng thời vừa phải đối phó với cuộc chiến tranh biên giới ở phía tây nam, khắc phục những khó khăn kinh tế do việc gần 20 vạn người Hoa đột nhiên bỏ ruộng đồng, nhà máy đi Trung Quốc, vừa phải đối phó với những thiệt hại nghiêm trọng do những trận bão, lụt nặng nề nhất ở Việt Nam trong hàng trăm năm qua gây ra.
Đi đôi với việc cắt viện trợ, rút chuyên gia, tạp đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc còn ngang nhiên vận động các nước, các tổ chức quốc tế ngưng viện trợ cho công cuộc xây dựng lại Việt Nam. Lòng dạ họ xấu xa, thâm độc đến thế là cùng!
Họ đẩy mạnh việc vu cáo Việt Nam để vừa che đậy ý đồ bành trướng của họ ở Đông nam châu Á, vừa cản trở quan hệ bình thường giữa Việt Nam và các nước thuộc tổ chức ASEAN, kêu gọi các nước đó lập “mặt trân chung với Trung Quốc” chống Việt Nam. Với cuộc vận động đó, họ hy vọng trên thực tế sẽ thực hiện được chính sách bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, tiến công về quân sự, như bọn đế quốc và thực dân vẫn làm bấy lâu nay với một số nước. Đây là một hành động thô bạo không những xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam, mà còn can thiệp vào công việc của các nước khác và các tổ chức quốc tế.
3. Duy trì tình hình căng thẳng ờ biên giới Việt Nam
Song song với việc hoạt động phá hoại kinh tế, chính trị, những người cầm quyền Trung Quốc ráo riết tăng cường sức ép quân sự đối với nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ mọi phía.
Ở phía bắc, họ đưa quân ra vùng biên giới Việt – Trung, tăng cường những vụ khiêu khích vũ trang lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tạo nên tình hình thường xuyên căng thẳng ở vùng biên giới. Nếu số vụ khiêu khích lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam của họ năm 1975 là 234 vụ, gấp rưỡi năm 1974, thì năm 1978 tăng vọt lên 2.175 vụ, gấp mười lần.
Ở phía tây nam, theo mệnh lệnh của Bắc Kinh, bè lũ diệt chủng Pôn Pốt-lêng xa ry khước từ các đề nghị của Việt Nam về việc hai bên thành lập một khu phi quân sự ở vùng biên giới, ca1chly quân độ của mình và ký một hiệp ước hữu nghị không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, để kiếm cớ duy trì cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam, đồng thời chuẩn bị những cuộc phiêu lưu quân sự qui mô lớn sau này.
Ở phía tây, những người cầm quyền Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, ngày càng tăng cường gây sức ép đối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân dân Lào, một nước nhỏ hơn Trung Quốc luôn luôn theo đuổi theo chính sách hòa bình, hữu nghị cới các nước láng giềng. Họ nuôi dưỡng bọn tàn quân của lực lượng đặc biệt Mèo do CIA tổ chức và chỉ huy trước đây, thông qua đạo quân làm đường của họ để tìm cách can thiệp sâu vào các tỉnh Bắc Lào, vu cáo Việt Nam “thôn tính” Lào, chia rẽ Lào với Việt Nam, đưa nhiều sư đoàn quân áp sát biên giới Lào – Trung. Mục tiêu của họ là để tăng thêm sự uy hiếp Việt Nam về quân sự từ phía tây, đồng thời làm suy yếu và khống chế từng bước Lào.
4. Tấn công Việt Nam từ hai hướng
Những mưu đồ trên đây rất thâm độc và có thể gây khó khăn cho nhân dân Việt Nam, nhưng đều đã thất bại, cho nên cuối năm 1978 và đầu năm 1979, những người vầm quyền Trung Quốc phải tính đến việc tấn công quân sự nước chxh từ hai hướng.
Ở phía tây nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh, sau khi tập trung 19 sư đoàn bộ binh (trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh) đếnsát biên giới Việt Nam, ngày 22 tháng 12 nă, 1978, bè lũ Pôn pốt – lêng xa ry đã xử dụng những sư đoàn tinh nhuệ nhất của chúng, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh (cách Sài gòn 100 km, với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm yếu Việt Nam để quân Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía bắc.
Thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, nhân dân Việt Nam đã làm thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự đó. Đồng thời, quân và dân Campuchia dưới sự lãnh đạo của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, được sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam, đã vươn lên đập tan chế độ diệt chủng tàn bạo Pôn pốt – lêng xa ry và cái gọi là “chính phủ Campuchia dân chủ”, và ngày 10 tháng 1 năm 1979 lập nên chế độ Cọng hòa nhân dân Campuchia, thật sự đại diện cho nhân dân Campuchia.
Ở phía bắc, những người cầm quyền Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân, gồm nhiều quân đoàn và sư đoàn độc lập, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, điên cuồng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1000 km. Quân của bọn phản động Trung Quốc đi đến đâu là tàn sát dân thường, kể cả phụ nữ, trẻ sơ sinh, phá hủy triệt để các bản làng, chùa chiền, nhà thờ, trường học, vườn trẻ, bệnh viện, nông trường, lâm trường v.v.. Chúng đã hành động với sự man rợ của một đạo quân ăn cướp thời trung cổ kết hợp với những thủ đoạn tinh vi của các đội quân xâm lược của đế quốc ngày nay.
Để lừa gạt dư luận Trung Quốc và dư luận thế giới, những người cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố rằng đấy chỉ là một cuộc “phản kích để tự vệ” bằng những đơn vị biên phòng. Sự thật đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, có chuẩn bị kỹ càng về các mặt, từ việc xây dựng những công trình quân sự, đường sá, hầm hào, sân bay dọc biên giới Việt – Trung đến việc vu cáo Việt Nam, phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung , kích động tư tưởng đại dân tộc trong nhân dân Trung Quốc hòng biện bach và che dấu hành động xâm lược của họ. Về mặt đối ngoại, họ cũng chuẩn bị chu đáo, đặc biệt là họ đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược sau khi Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ và Nhật Bản về, thực tế là sau khi tranh thủ được sự đồng tình của Mỹ và Nhật. Mục tiêu đầy tham vọng của họ là: tiêu diệt một bộ phận lực lượng vũ trang của Việt Nam, phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế, chiếm đất đai của Việt Nam, kích động bạo loạn.
Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà những người cầm quyền Trung Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá trình hành động tội ác chống độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm yếu, thôn tính và khuất phục Việt Nam. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới lên án và một bộ phân nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979 họ đã buộc phải tuyên bố rút quân, và sau đó đã phải nhận ngồi đàm phán với phía Việt Nam.
5. Tiếp tục chống Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn
Những người cầm quyền Trung Quốc đã tuyên bố rút quân về bên kia biên giới, nhưng thực tế cho đến nay quân của họ tiếp tục chiếm đóng hơn mười điểm trên lãnh thổ Việt Nam, xây dựng thêm công sự ở các nơi đó, vi phạm trắng trợn đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đã thỏa thuận tôn trọng.
Suốt dọc biên giới Việt – Trung, họ tiếp tục bố trí nhiều quân đoàn có pháo binh và thiết giáp yểm trợ, tăng cường các phương tiện chiến tranh, ra sức xây dựng các công trình quân sự, thường xuyên diễn tập quân sự, tung các đội thám báo, biệt kích xâm nhập nhiều khu vực của Việt Nam. Không ngày nào họ không gây ra những vụ khiêu khích vũ trang, nổ súng, gài mìn, bắn giết nhân dân địa phương. Có nơi, họ cho bắn súng cối hạng nặng suốt ngày, có nơi họ cho một tiểu đoàn quân chính qui tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam hơn 4 km, bắn giết dân thường, đốt phá nhà cửa và phá hoại hoa màu. Có nơi từng tốp máy bay Trung Quốc bay sâu vào vùng trời Việt Nam từ 8 đến 10 km. Họ bí mật đẩy trở lại Việt Nam những người Hoa đã bị họ cưỡng bức di cư sang Trung Quốc. Những hành động có tính toán đó cùng với những thủ đoạn khác của họ nhằm duy trì tình hình căng thẳng ở vùng biên giới, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tiếp tục uy hiếp an ninh của nước Việt Nam. Những người cầm quyền Trung Quốc còn nhiều lần đe dọa “cho Việt Nam một bài học thứ hai”, thậm chí “nhiều bài học nữa”. Trên danh nghĩa nào, và dựa vào luật pháp nào mà những người cầm quyền Bắc Kinh có quyền cho Việt Nam và dạy Việt Nam bài học? Việt Nam và Trung Quốc là những nước độc lập, có chủ quyền. Hiến chương Liên hiệp quốc, công pháp quốc tế cũng như tập quán quốc tế tuyệt đối không cho phép Trung Quốc làm bất cứ điều gì phương hại đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như của bất kỳ nước nào khác. Phải chăng vì Trung Quốc nước rộng, người đông mà bọn bành trướng Trung Quốc tự cho phép làm ra luật, đe dọa, khuất phục các mước nhỏ hơn, ít người hơn?
Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam để bàn những biện pháp cấp bách bảo đảm hòa bình và an ninh ở vùng biên giới và các vấn đề thuộc quan hệ giữa hai nước. Nhưng ở vòng một tiến hành ở Hà Nội, cũng như vòng hai tiến hành tại Bắc Kinh, phía Trung Quốc vẫn lẫn tránh những đề nghị hợp lý hợp tình của phía Việt Nam, từ chối bản đề nghị của phía Việt Nam về những biện pháp cấp bách nhằm chấm dứt các hoạt động khiêu khích vũ trang và đảm bảo hòa bình, ổn định ở vùng biên giới hai nước, tiền đề cấp thiết cho việc tiếp tục giải quyết các vấn đề khác thuộc quan hệ giữa hai nước. Mặt khác, họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ cũa mình đối với các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác. Đây là thái độ bá quyền nước lớn: họ đến đàm phán không phải vì bàn bạc một cách bình đẳng và xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp, mà buộc phải đối phương phải chấp nhận lập trường của mình. Việc những người cầm quyền Trung Quốc đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Lào, thậm chí nêu ra “nguyên tắc chống bá quyền” chẳng qua là để che giấu việc họ đưa quân xâm lược Việt Nam, uy hiếp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và can thiệp vào công việc nội bộ của nước Cộng hòa Campuchia, che giấu bộ mặt bá quyền bỉ ổi của họ nhằm thôn tính ba nước Đông Dương, dùng Đông Dương làm bàn đạp bành trướng xuống Đông nam châu Á.
Gần đây, những người cầm quyền Trung Quốc giương cao chiêu bài “nhân quyền” của tổng thống Mỹ Carter, lợi dụng vấn đề người Việt Nam đi ra nước ngoài làm một vũ khí mới để chống Việt Nam. Những người Việt Nam đi ra nước ngoài phần lớn là những nhà buôn giàu có và những sĩ quan trước đây sống nhờ Mỹ và chế độ bù nhìn Saigon, những người Hoa do Bắc Kinh dụ dỗ, cưỡng ép ra đi; một số là những người trước đây sống trong xã hội tiêu thụ kiểu Mỹ và nay không chịu nổi những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và sự phá hoại của bọn bành trướng Bắc Kinh gây ra.
Chính phủ Việt Nam vốn có chính sách nhân đạo, tôn trọng nhân quyền, không những đối xử nhân đạo vớn những người Việt Nam đã hợp tác với kẻ thù trong thời gian chiến tranh, mà còn khoan hồng cả đối với những binh sĩ của các đội quân xâm lược bị bắt trong 30 năm qua. Chính phủ Việt Nam hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của vấn đề những người Việt Nam đi ra nước ngoài, đồng thời rất thông cảm các khó khăn của các nước láng giềng trước dòng người di cư đó. Chính vì thế, từ tháng 1 năm 1979, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố cho phép những người có nguyện vọng ra nước ngoài để sum họp gia đình hoặc làm ăn sinh sống được xuất cảnh Một cách hợp pháp sau khi đã làm đầy đủ các thủ tục cần thiết. Mặt khác, các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đã cùng cơ quan Cao ủy Liên hiệp quốc về vấn đề người tỵ nạn thỏa thuận một chương trình 7 điểm được công bố Ngày 30 tháng 5 năm 1979, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho những người nói trên ra đi một cách có trật tự và an toàn, đồng thời làm giảm bớt khó khăn cho các nước Đông nam châu Á.
Song Bắc Kinh và Washington đều huy động bộ máy tuyên truyền khổng lồ và mọi phương tiện chính trị, kinh tế, tài chính của họ, lợi dụng khía cạnh nhân đạo của vấn đề, sử dụng mọi thủ đoạn gian dối, xuyên tạc, kích động để bóp mép sự thật về vấn đề những người Việt Nam đi ra nước ngoài, phát động một chiến dịch qui mô và cực kỳ ghê tởm chống Việt Nam.
Nhưng thủ phạm đích thực của dòng người “di tản” là ai?
Người ta chưa quên rằng Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược có tính chất hủy diệt chống Việt Nam. Và khi phải rút đội quân viễn chinh của họ, họ để lại ở miền Nam Việt Nam một đất nước tàn phá, một nền kinh tế tê liệt, với trên 3 triệu người thất nghiệp, trên một triệu người bị tàn phế. 80 vạn trẻ em mồ côi, trên 60 vạn gái điếm, trên 1 triệu thanh niên nghiện ma túy. v.v..
Còn những người cầm quyền Bắc Kinh thì sao? Chính họ đã trắng trợn gây ra cái gọi là “nạn kiều”, cưỡng ép, dụ dỗ người Hoa bỏ nhà bỏ cửa, ruộng đồng, nhà máy để đi Trung Quốc, dùng những tổ chức của Cục tình báo Hoa Nam để quấy rối về chính trị, đầu cơ, tích trữ, nâng giá hàng, in bạc giả, nhằm phá hoại nền kinh tế của Việt Nam, chồng chất thêm khó khăn cho người dân miền Nam Việt Nam. Trong lúc các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đang cùng Cơ quan Cao ủy Liên hiệp quốc về vấn đề người tỵ nạn tỏ chức việc ra đi có trật tự và an toàn, những người cầm quyền Bắc Kinh cho tai sai tổ chức việc ra đi bất hợp pháp, để kêu la rằng Việt Nam “xuất cảng nạn dân”, mặc dầu chính họ cho hàng ngàn người Trung Quốc hàng ngày sang Hong kong để từ đó đi các nước Đông nam châu Á, và hoàn toàn không đếm xỉa đến số phận 26.000 Hoa kiều bị bọn Pôn Pốt – lêng-xa-ry trục xuất khỏi Campuchia. Rất tiếc rằng có những chính phủ, tổ chức vì không hiểu sự thật ở Việt Nam, hoặc vì muốn lấy lòng những người cầm quyền Trung Quốc để buôn bán làm ăn, đã phụ họa với chiến dịch kích động và vu cáo của Bắc Kinh !
Chính những kẻ cướp lại đang la làng, những kẻ chà đạp lên nhân quyền và luật pháp quốc tế lại đang giương cao chiêu bài “nhân đạo” để thực hiện mục đích chính trị đen tối của họ. Mục đích của Bắc Kinh là xóa nhòa những tội ác tày trời của họ ở Campuchia và trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, che đậy việc họ kích động người Hoa ở Việt Nam ra đi và “xuất cảng” hàng chục vạn người Trung Quốc ra nước ngoài, gây khó khăn cho các nước ASEAN, chia rẽ các nước ASEAN với Việt Nam, đánh lạc hướng về nguy cơ của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc và vai trò của “đạo quân thứ năm” người Hoa ở Đông nam châu Á.
Nhưng đối với những người có lương tri, sự thật vẫn là sự thật. Hiện nay, ngày càng có nhiều người thấy được thủ đoạn bẩn thỉu của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh, tỏ ra thông cảm với những khó khăn và hoan nghênh lập trường đúng đắn của nước Cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các thế lực đế quốc và phản động, chủ yếu là Washington và Bắc Kinh, đã thất bại trong âm mưu biến Hội nghị quốc tế ở Geneve tháng 7 vừa qua về vấn đề người Đông dương đi ra nước ngoài thành một diễn đàn để vu cáo chống Việt Nam. Những đề nghị của Đoàn đại biểu Chính phủ Cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tỏ rõ thái độ xây dựng và hợp tác trong việc giải quyết vấn đề những người di cư, đã được sự đồng tình rộng rãi của đại biểu nhiều nước tôn trọng sự thật và công lý, và đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị là đặt được nền tảng của một giãi pháp cho vấn đề như ông Tổng thư ký Liên hợp quốc K.Van hem đã kết luận. Nhưng thực tế còn nhiều khó khăn và phức tạp do những hoạt động phá hoại của các thế lực đế quốc và phản động, trước hết là của Washington và Bắc Kinh. Hiện nay, trong lúc Bắc Kinh lớn tiếng đe dọa chiến tranh, trắng trợn đòi “chủ quyền” đối với hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa, đế quốc Mỹ đưa hạm đội 7 vào hoạt động ngoài khơi Việt Nam không những để khuyến khích những người ra đi bất hợp pháp, mà còn để phối hợp với Bắc Kinh trong những âm mưu đen tối của họ ở khu vực biển Đông và Đông nam châu Á.
Trong 5 năm qua, bằng những thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao trực tiếp và gián tiếp, tinh vi và trắng trợn, giấu mặt và công khai, những người cầm quyền Trung Quốc đã không ngừng phá hoại công cuộc xây dựng của nước Cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ càng thất bại thì càng điên cuồng chống Việt Nam hòng khuất phục nhân dân Việt Nam.
Đây là sự phản bội thứ ba của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
Nhà Xuất Bản Sự Thật Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua là một văn kiện quan trọng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã…
NGHIENCUULICHSU.COM
Phần nhận xét hiển thị trên trang