Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

..nếu tái diễn sẽ kiên quyết đóng cửa?

Thủ tướng: Đóng cửa Formosa nếu tái phạm

Báo Tiền Phong

06:45 ngày 02 tháng 07 năm 2016
FORMOSA đã tái phạm:
Chấn động: Formosa chôn chất thải ở trang trại của GĐ môi trường 
 .
TP - Phát biểu tại phiên họp thường kỳ Chính phủ ngày 1/7, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, yêu cầu quan trọng nhất là Công ty Formosa phải cam kết không tái diễn hành vi vi phạm, nếu tái diễn sẽ kiên quyết đóng cửa.

Thủ tướng: Đóng cửa Formosa nếu tái phạm
Toàn cảnh khu công nghiệp Formosa hướng ra biển. Ảnh: Minh Thùy. 

Bên cạnh đó, khi phát triển kinh tế phải chú ý đến môi trường, không phải vì kinh tế, vì thu hút đầu tư mà bỏ qua môi trường, nhất là môi trường sống của người dân. 

Vụ Formosa: Không chỉ là luật pháp 

Liên quan đến việc xử lý môi trường ở khu vực bị ảnh hưởng bởi Formosa, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế  Nguyễn Văn Cao cho biết, ngư dân đánh bắt gần bờ, thường nằm các xã ven biển do không có đất, không chuyển sang các hình thức sản xuất nông nghiệp khác. Vì vậy đề nghị Chính phủ có chính sách cho chuyển đổi sang đóng tàu để đánh bắt xa bờ hoặc tăng cường xuất khẩu lao động, tháo gỡ một phần khó khăn cho họ.

Ngoài ngư dân, theo ông Cao, các cơ sở du lịch cũng ảnh hưởng lớn, đặc biệt nhiều nhà đầu tư mới xây dựng xong khách sạn, resort nhưng khách du lịch “sợ” không đến. Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đề nghị có chính sách tín dụng, giảm thuế giúp các nhà đầu tư vượt qua khó khăn, bởi nhiều cơ sở du lịch khách đăng ký nhưng đã hủy hết từ lúc đó đến hết năm…

Cùng đề cập đến vụ việc cá chết hàng loạt ở miền Trung vừa qua,  Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, nguyên nhân sâu xa của vụ việc xuất phát từ đạo đức, văn hóa doanh nghiệp. “Nguyên nhân sâu xa không phải là luật pháp.

 Luật pháp là một phần, nhưng nếu như có văn hóa doanh nghiệp và đạo đức doanh nhân, chắc chắn chúng ta sẽ lường trước được mọi vấn đề, sẽ không xảy ra như vụ Formosa vừa qua. Chính văn hóa mới là nền tảng cao nhất, xây dựng chuẩn mực ứng xử của xã hội, rồi mới đến pháp luật”, Bộ trưởng Thiện bình luận, đồng thời đề nghị đặt vấn đề phát triển văn hóa ngang hàng với phát triển kinh tế.

Theo Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, sau nhiều nỗ lực, Chính phủ đã công bố nguyên nhân, trách nhiệm bồi thường của Formosa… Nghĩa là, chúng ta đã phát đi tín hiệu với trong nước và nước ngoài rằng, phải thực sự coi trọng lợi ích của nhân dân, vừa kinh doanh nhưng vừa phải đảm bảo yếu tố môi trường. “Tôi tin rằng, sắp tới các địa phương, các bộ, ngành, nhất là Bộ TN&MT sẽ giúp chúng ta duy trì ý thức trách nhiệm và trật tự trong việc đảm bảo môi trường”, ông Nhân bày tỏ.

Về kế hoạch hỗ trợ cụ thể, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định, trong hai tuần tới sẽ hoàn thiện phương án hỗ trợ ngư dân để trình Chính phủ quyết định. Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đề nghị, việc bồi thường cho người dân phải đúng, chính xác, không để xảy ra thất thoát, tiêu cực.

 Theo ông Bình, việc hỗ trợ cho ngư dân phải được tiến hành bằng vốn vay ưu đãi, tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi bám biển. Qua vụ việc Formosa, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho rằng, cần phải rút kinh nghiệm, rà soát lại các cơ sở có ô nhiễm để chấn chỉnh, phòng ngừa. Việc phê duyệt các dự án đầu tư sau này phải đảm bảo phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

Không vì kinh tế mà bỏ qua môi trường

Đề cập việc công bố kết luận về nguyên nhân cá chết bất thường dọc biển miền Trung do Văn phòng Chính phủ vừa tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, chúng ta đấu tranh có bài bản, khoa học, đảm bảo chứng lý nên Formosa đã phải nhận trách nhiệm và chấp nhận bồi thường.

 “Thật sự là chúng tôi đã phải tính toán quá trời đi. Kết quả đạt được là từ thái độ bình tĩnh, phương pháp tiến hành khoa học, khách quan, cẩn trọng của các cấp lãnh đạo và các nhà khoa học nói chung. Tôi đánh giá cao sự cố gắng nỗ lực của rất nhiều bộ, ngành, cơ quan chức năng”, Thủ tướng nói.

Về việc sử dụng khoản tiền 500 triệu USD (tương đương 11.500 tỷ đồng) phía Formosa đã cam kết đền bù thiệt hại do gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng tại miền Trung, Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT dự thảo chủ trương chính sách để cùng Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ TN&MT để giải quyết, sử dụng cho các mục đích khác nhau.

 Thủ tướng cũng lưu ý chú trọng hỗ trợ theo hướng đầu tư cho chương trình đánh bắt xa bờ để mang lại hiệu quả dài lâu, bền vững hơn. Có thể dùng khoản tiền này để giúp hạ lãi suất cho vay với người dân đầu tư tàu để đánh bắt xa bờ chỉ còn 1-1,5%. Thứ hai, phân về Quỹ hỗ trợ môi trường để khôi phục môi trường biển đã bị xâm hại. Đồng thời, tính toán một phần để hỗ trợ trực tiếp cho những người dân bị thiệt hại qua sự cố.

“Cần tính sao để số tiền 11.500 tỷ đồng Formosa bồi thường cho Việt Nam được sử dụng, đạt hiệu quả tốt nhất”, Thủ tướng nói và yêu cầu các cơ quan tập hợp báo cáo gửi Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch sử dụng tiền đền bù để trình lên Chính phủ sớm nhất. 

Cuối phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Chính phủ và các địa phương phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân, tạo điều kiện môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn. Cùng với đó, cần hạn chế tối đa, tiến tới xóa bỏ cơ chế xin cho, không đùn đẩy trách nhiệm, chống lợi ích cục bộ và lợi ích nhóm… Đó chính là bản chất của Chính phủ kiến tạo mà chúng ta cần hướng tới.
Văn Kiên - Luân Dũng
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

tàu ngầm hạt nhân Ohio đến Philippines

Lê Dũng
Mỹ vừa điều một tàu ngầm hạt nhân Ohio đến Philippines nhằm gửi một thông điệp mạnh mẽ tới Trung Quốc. Mỗi tàu ngầm hạt nhân Ohio mang một lượng vũ khí có sức công phá bằng tất cả số bom đạn trong thế chiến thứ hai, đủ sức hủy diệt hoàn toàn một lục địa.
ảnh minh họa
ảnh minh họa
Trước đó vào năm 2012, khi cuộc tranh chấp bãi cạn Scarborough trên Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines diễn biến căng thẳng, Mỹ đã điều động một tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Ohio cập cảng Philippines. Động thái có tính bênh vực này khiến báo chí Trung Quốc la lối om sòm và rõ ràng ’thần kinh’ của đại lục cũng căng lên như dây đàn. Tại sao vậy?
Tàu ngầm hạt nhân chiến lược Ohio của hải quân Mỹ (class Ohio SSBN / SSGN) – Là loạt 18 tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Mỹ thế hệ thứ III, được biên chế vào lực lượng hải quân Mỹ trong những năm 1981-1997.
Từ năm 2002, tàu ngầm hạt nhân Ohio là lớp tàu duy nhất mang tên lửa đạn đạo tầm xa phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Mỗi tàu ngầm Ohio được trang bị 24 tên lửa đạn đạo “Trident”.
Loạt tầu ngầm hạt nhân đầu tiên lớp Ohio bao gồm 8 chiếc được trang bị tên lửa Trident I C-4 và đóng quân tại căn cứ hải quân (HMB), Kitsap, bang Washington, trên bờ biển Thái Bình Dương của Mỹ. Loạt tầu ngầm thứ hai, 10 chiếc tàu còn lại, được trang bị tên lửa Trident II D-5 đóng quân tại căn cứ hải quân tại Kings Bay, bang Georgia. Năm 2003, để thực hiện hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược. Hải quân Mỹ đã tiến hành chương trình chuyển đổi bốn tàu ngầm đầu tiên của dự án Ohio sang thành phương tiện mang tên lửa hành trình Tomahawk, chương trình kết thúc vào năm 2008. Mỗi tàu Ohio chuyển đổi mang 154 tên lửa hành trình Tomahawk tầm bắn 2.500 km.
Bốn tàu còn lại của loạt tàu đầu tiên được thay thế bằng tên lửa “Trident-2″, tất cả các tên lửa “Trident-1″ đã được tháo gỡ và ngừng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Theo yêu cầu cắt giảm số lượng tàu mang tên lửa trên Thái Bình Dương, một phần tàu ngầm hạt nhân lớp Ohio đã được chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Các tàu ngầm lớp “Ohio” hình thành đơn vị chủ lực của lực lượng tấn công hạt nhân chiến lược Mỹ và thường xuyên thực hiện tuần tra sẵn sàng chiến đấu, thời gian các tàu ngầm hạt nhân Ohio có mặt trên biển chiếm 60% tổng thời gian hoạt động.
Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon ngày 15.10.1973 đã ký bản ngân sách tài chính năm 1974, trong bản dự toán ngân sách này có một khoản dành cho chế tạo chiếc tàu ngầm hạt nhân mang hệ thống tên lửa chiến lược Trident. Ngày 25.07.1974. Hải quân Mỹ đã ký Hợp đồng với công ty General Dynamics nhằm chế tạo trên xưởng đóng tàu của Electric Boat chiếc SSBN đầu tiên, mang tên Bang Ohio.
Trong năm 1974 Hải quân Mỹ đã có chương trình đóng 10 chiếc tàu lớp Ohio. Đến năm 1981 chương trình được điều chỉnh tăng lên đến 15 chiếc, và tiếp tục tăng đến 20 chiếc tàu ngầm vào năm 1985. Đến năm 1989, hải quân Mỹ dự định sẽ đóng 21 chiếc tàu ngầm hạt nhân Ohio, kế hoạch sẽ đặt hàng đến 24 chiếc SSBN. Nhưng vào năm 1991, Thượng viện đã giới hạn chương trình chỉ được đóng có 18 chiếc tàu ngầm Ohio.
Cơ sở căn bản cho việc giới hạn này là hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược START và đề nghị của chính quyền G. Bush Tất cả 18 chiếc tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Ohio được đóng tại xưởng đóng tầu Electric Boat thuộc hãng General Dynamics tính từ năm 1976 đến năm 1997. 8 chiếc đầu tiên được trang bị hệ thống tên lửa Trident I C-4. Sau này 4 chiếc được thay thế bằng tên lửa Tomahawk và tất cả các tàu ngầm còn lại đều mang tên lửa Trident II D-5.
Bên trong con tàu tỷ đô
Tàu ngầm Ohio là một kỳ quan công nghệ hết sức phức tạp gồm 1. Anten cầu của đài sonar; 2. Bồn nước dằn tầu chính; 3. Buồng công tác máy tính trung tâm; 4. Phòng công tác truyền thông tin liên lạc radio; 5. Vị trí công tác của trắc thủ sonar; 6. Trung tâm điều khiển; 7. Trung tâm điều hướng, hoa tiêu và dẫn đường; 8. Vị trí điều khiển phóng tên lửa; 9. Khoang máy động lực ; 10. Khoang lò phàn ứng hạt nhân; 11. Khoang các thiết bị phụ trợ № 1; 12. Đường thuát của thủy thủ đoàn; 13. Khoang các thiết bị phụ trợ № 2; 14. Khoang ống phóng ngư lôi; 15. Khu nghỉ của thủy thủ ; 16. Khu nghỉ của sĩ quan; 17. Khoang tên lửa.
Thân vỏ tàu được cấu tạo vững chắc, chịu được áp lực lớn của nước và chia thành 4 khoang và một vùng kín, được ngăn cách bằng vách ngăn không thấm nước.
Khoang thứ nhất (khoang mũi tàu): Trong khoang được bố trí bốn sàn công tác cho của ba khu vực làm việc có yêu cầu nhiệm vụ khác nhau: Khu vực Tác chiến: Trung tâm điều hành tác chiến, Phòng công tác điều khiển phóng tên lửa, Phòng công tác điều hướng và hoa tiêu dẫn đường, Khoang ống phóng ngư lôi – thủy lôi, Gian công tác truyền thông radio, Khoang trạm sonar thủy âm.
Trung tâm điều khiển tàu ngầm Ohio.
Khu vực Đảm bảo kỹ thuật: Tổ hợp máy tính trên boong, Hệ thống quạt thông gió, Phòng chứa điều hòa không khí và các trang thiết bị phụ trợ, Buồng máy bơm, Buồng chứa bình ac quy.  Khu vực sinh hoạt thường xuyên:
Bao gồm Khu phòng riêng của sĩ quan,  Phòng nghỉ ngơi sinh hoạt, buffet, Bếp trên tàu, Phòng ăn của thủy thủ đoàn,
Cabin sinh hoạt của sĩ quan và quản trị trưởng, Phòng y tế, Các phòng học chuyên dụng, Phòng trang thiết bị cứu hộ tập thể sử dụng (nằm giữa trung tâm điều hành và trạm sonar – thủy âm).
Khoang thứ 2 (khoang tên lửa). Đây là khoang có 4 sàn công tác và chiếm 1/3 không gian thân tàu được gia cố vững chắc. Trong khoang có: 24 ống phòng tên lửa được lắp đặt xuốt chiều cao của thân tàu đi qua cả 4 tầng công tác; Các trang thiết bị phóng tên lửa và hệ thống kiểm tra – kiểm soát phóng đạn; Phòng học chuyên dụng; Phòng ngủ cho kíp trắc thủ tổ hợp tên lửa.
Khoang tên lửa từ phía bên ngoài.
Khoang tên lửa Tomahawk chuyển đổi.
Khoang đặc dụng (kỹ thuật máy) Bảng điện phân phối; Thiết bị lọc và làm sạch không khí; Bơm nước và bơm thay đổi góc mũi và đuôi tầu (khi lặn – nổi); Khoang thứ 3 (Lò phản ứng hạt nhân).
Chiều dài của khoang khoảng 10 m, được lắp đặt các thiết bị bao gồm: Lò phản ứng hạt nhân; 2 máy phát điện hơi nước; 2 máy bơm lưu chuyển chất lỏng làm mát (nước); Máy nén tạo áp lực; Thiết bị kiểm soát và điều khiển các hoạt động của lò phản ứng hạt nhân. Khoang thứ tư là khoang động cơ tuabin.
Tàu ngầm Ohio có cấu trúc hình dáng tương đối phức tạp: Thân vỏ tàu ngầm được thiết kế vững chắc theo hình trụ tròn với hai phần đầu và cuối được kết nối liền mạch với hình nón và phần cuối là bán cầu lồi theo hình dáng thủy động học, phía trong gắn các bồn nước dằn tầu,khoang bán cầu lắp đặt anten sonar thủy âm và trục quay chân vịt. Phía trong của thân vỏ tàu có cấu tạo vững chắc được bao phủ bằng một lớp vật liệu cách nhiệt, cách âm nhẹ, bao bọc và ngăn cách tất cả các khoang trong thân tàu như khoang chứa các ống phóng tên lửa, khoang trang thiết bị động lực đuôi tầu cùng với hệ thống radar anten thủy âm kéo theo đuôi tàu ở phía sau. Với một diện tích không lớn của phía trong thân tàu, tàu ngầm có thể coi là tàu có một khoang chính thông suốt.
Phương pháp thiết kế thân tàu như vậy, theo các chuyên gia đã giảm tối thiểu khả năng tạo tiếng ồn động thủy âm, đạt được tốc độ cơ động dưới ngầm cao nhất với tiếng ồm thấp nhất nếu so sánh cùng với các loại tầu ngầm có hai khoang chính. Các tấm vách ngăn cứng và chịu lực sẽ chia tầu thành các khoang thứ cấp, mỗi khoang thứ cấp sẽ chia khoang tàu ra làm nhiều sàn công tác. Phần mũi tầu, phần khoang tên lửa và phần khoang đuôi tàu có các nắp cửa đóng mở để cung cấp hàng, cơ sở vật chất, đạn tên lửa và ngư lôi. Phần boong thượng được dịch chuyển lên phía trên mũi tàu, hai bên phía trên của boong thượng được lắp các cánh ổn định dạng cánh máy bay khí động học có hệ thống điều khiển để lái tàu, các cánh ổn định phía đuôi được thiết kế dạng chữ thập, trên các cánh đôi ổn định tàu nằm ngang có lắp các bánh lái điều khiển chuck – rods thẳng đứng.
Vỏ tàu được thiết kế có độ bền vững cao, được hàn từ các bộ phận (vỏ) định dạng hình trụ, hình nón và hình elip bằng thép có độ dày 75 mm. Vật liệu chính – thép cường lực mác HY-80/100 cho phép chịu được lực nén giao động trong khoảng từ 56-84 kgf / mm. Để tăng sức chịu lực nén của vỏ tầu đã gắn kết thêm các khung chịu lực hình khuyên nhau dọc theo chiều dài của thân tầu. Vỏ tầu được phủ lớp vật liệu chống ăn mòn từ nước biển.
Tổ hợp hệ thống động lực trạm nguồn của tàu ngầm Ohio bao gồm hai tổ hợp chính và tổ hợp phụ trợ. Các hệ thống máy và các bộ phận động lực được bố trí trong khoang số 5 và số 6.
Trong tổ hợp hệ thống động lực trạm nguồn bao gồm có: Lò phản ứng hạt nhân; Hai máy bơm đối lưu tuần hoàn; Máy nén tăng áp; Hai máy phát điện hơi nước, Hệ thống bảo vệ sinh học chống nhiễm xạ; Hai máy phát điện tur-bin; Hai bộ phận khí nén tua – bin hơi nước; Động cơ điện quay chân vịt tàu; Trang thiết bị điều khiển và kiểm soát các hoạt động của động lực trạm nguồn.
Lò phản ứng hạt nhân.
Lò phản ứng hạt nhân – Là loại lò phản ứng 2 vòng đối ngẫu nước áp lực (PWR) loại S8G được phát triển bởi công ty General Electric, cấu tạo của lò phản ứng ba gồm các bộ phận tiêu chuẩn cho các loại của các lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ – áp lực: Vỏ – thân lò phản ứng, vùng phản ứng hạt nhân trung tâm, các tấm phản xạ neutron, thanh điều khiển. Chất lỏng dẫn nhiệt – làm mát và làm chậm các phản ứng dây truyền – là nước tinh khiết (qua hai lần chưng cất). Các thông số của vòng luân chuyển chính: Áp suất trung bình – 140 kgf / cm ² (14 MPa), nhiệt độ – 300-320 ° C. Lò phản ứng được bao quanh bởi một lớp tấm chắn chống phóng xạ, được thiết kế để bảo vệ thủy thủ đoàn chống lại bức xạ ion hóa và các vật liệu tổng hợp hình thành có khối lượng nguyên tử lớn. Đường kính của khoang lò phản ứng là 12,8 m, chiều dài lò phản ứng – 16,8 m, trọng lượng – 2750 tấn.
Vùng phản ứng hạt nhân chứa nhiên liệu hạt nhân – đồng vị Uranium 235 đã được làm giàu ở mức độ cao, Khối lượng nhiên liệu hạt nhân cho phép 100.000 giờ hoạt động liên tục, tương đương với khoảng 9 -11 năm khai thác sử dụng liên tục lò phản ứng hạt nhân với công suất cao nhất, tàu ngầm có thể cơ động trên khoảng 280 ngàn dặm với tốc độ cao, ở tốc độ tiết kiệm – 800.000 dặm (đối với tầu ngâm SSBN lớp “Lafayette” tương đương với 5 năm bơi liên tục với tốc độ tiết kiệm (trung bình) trên đoạn đường dài 345.000 dặm).
Hệ thống động lực trạm nguồn tuabin hơi nước bao gồm hai động cơ tua-bin hơi với công suất 30.000 mã lực. Bao gồm có: Hộp số giảm tốc, bình ngưng làm mát, bơm tuần hoàn và các đường ống hơi nước. Hai tổ hợp máy tuabin hơi nước hoạt động trên một trục van, động cơ tua bin tốc độ cao truyền hộp số được giảm xuống còn 100 vòng / phút và thông qua khớp nối li hợp truyền tới trục chân vịt, quay bánh trục chân vịt bảy cánh có cấu tạo hình lưỡi liềm với đường kính 8 m với tốc độ giảm của vòng quay (cấu trúc thiết kế như vậy có thể giảm tối thiểu tiếng ồn thủy âm khi tầu đang chạy với tốc độ tuần kiểm sẵn sàng chiến đấu).
Hai máy phát điện đa cực tuabin tốc độ thấp có công suất 4.000 kW trên mỗi máy, cung cấp nguồn điện với điện áp 450 V và tần số 60 Hz, nguồn điện này thông qua thiết bị nắn dòng chuyển đổi điện xoay chiều thành điện một chiều cung cấp cho động cơ điện quay bánh trục chân vịt (trong trường hợp này, các tổ máy tuabin hơi nước không trực tiếp cung cấp động lực quay trục chân vịt).
Khi phát triển hệ thống động lực trạm nguồn đã áp dụng một số giải pháp để đảm bảo duy trì tiếng ồn thấp nhất ở tốc độ thấp và trung bình. Hệ thống động lực của tàu ngầm có chế độ đặc biệt tiếng ồn thấp do sự tuần hoàn tự nhiên nước hấp thụ nhiệt – làm mát ở vòng tuần hoàn chính trong đó vẫn duy trì tối đa công suất của lò phản ứng, chế độ sử dụng sự tuần hoàn tự nhiên này là chế độ cơ bản trong cơ động tuần tra chiến đấu. Trong chế độ hoạt động thông thường, nhiệt năng từ lò phản ứng được truyền đến các tổ hợp khí nén hơi nước, hơi nước được đẩy vào các cánh quạt tua-bin, làm quay các cánh quạt và quay trục chính, động lực trục chính thông qua hộp giảm tốc truyền đến trục chân vịt và quay chân vịt. Trong chế độ hoạt động tiếng ồn thấp sơ đồ phức tạp hơn – hơi nước từ tổ hợp khí nén hơi nước được truyền vào trạm máy phát điện tua – bin hơi nước, cung cấp điện cho động cơ điện dẫn động quay trục chân vịt.
Trong trường hợp này đã khóa lại các bộ phận, các trang thiết bị gây tiếng ồn – các máy bơm tuần hoàn của các động cơ tua –bin khí hơi nước và lò phản ứng hạt nhân, nhưng làm giảm công suất của lò phản ứng hạt nhân và tổ hợp khí nén – hơi nước. Chân vịt được quay bằng động lực của động cơ điện, và động cơ điện tiêu hao điện năng từ các trạm máy phát điện tua bin hơi nước. Do đó có thể loại trừ cả tiếng ồn phát sinh từ bộ giảm tốc, truyền động lực từ động cơ tua bin khí hơi nước ra trục chân vịt trong chế độ chạy hết công suất.
Giải pháp thiết kế Lò phản ứng hạt nhân đã được áp dụng trên tầu ngâm nguyên tử USS Narwhal (SSN 671) với công suất nhỏ hơn hai lần S5G. Các nhà thiết kế cũng tiến hành các nghiên cứu thử nghiệm khả năng tuần hoàn tự nhiên của nước dẫn nhiệt – làm mát trên lò phản ứng loại S6G, được lắp đặt trên tầu ngâm đa chức năng đa nhiệm “Los Angeles”
So với các tàu ngầm khác, lớp tàu ngầm Ohio có những đặc điểm thiết kế riêng biệt, đó là thân vỏ tầu được gắn kết thành một khoang chung đối xứng trục tâm, một đường trục truyền động lực, các bộ phận khác nhau được kết nối và bộ phận cách ly trục quay chân vịt, cách ly các đường ống dẫn, rất nhiều các hệ thống giảm xóc và lớp vật liệu cách âm phía bên trong khoang tầu, trong thiết kế hệ thống động lực thân tầu đã đưa chế độ giảm tiếng ồn vào các thiết bị, loại bỏ hoạt động của các máy bơm tuần hoàn , nghiên cứu chế tạo và đưa vào sử dụng chân vịt tốc độ thấp có cấu trúc đặc biệt. Với thiết kế cánh chân vịt kiểu mới đã giảm độ ồn xuống nếu so với các tàu ngầm SSBN lớp “Lafayette” 134-102 dB.
Hệ thống động lực phụ trợ là trạm nguồn diesel công suất 1400 kW và động cơ điện công suất 325 mã lực được chế tạo bởi công ty “Magnatek”. Trạm nguồn diesel được sử dụng như thiết bị dẫn của hệ thống điều khiển lái tầu bằng điện hoặc trong trường hợp sự cố đối với động lực trạm nguồn chính. Hệ thống động lực được cất trong khoang kín của tàu và trong trường hợp cần sử dụng sẽ đẩy ra. Hệ thống nằm trên giá di chuyển và có thể quay 360o trên mặt phẳng ngang.
Theo các thông số kỹ thuật, tàu có thể cơ động dưới nước với tốc độ khoảng hơn 20 knots. Thực tế tàu ngầm Ohio có khả năng tăng tốc đến 25 knots
Một tàu Ohio có thể hủy diệt cả lục địa
Vũ khí chủ yếu của tàu ngầm lớp Ohio là tên lửa đạn đạo, được bố trí trong 24 hầm phóng thẳng đứng, phân ra thành hai hàng dọc theo thân tầu, ngăn cách nhau bằng các vách ngăn trượt. Các tàu đầu tiên được trang bị tên lửa đạn đạo Trident I С-4, trên cơ sở các tên lửa này đã chế tạo 8 chiếc Ohio đầu tiên, (SSBN-726 — SSBN-733), đôi khi còn được gọi là nhóm tàu ngầm thứ 1. Các tàu còn lại được trang bị tên lửa đạn đạo hiện đại hơn lớp Trident II D-5. Vào năm 2003 theo các điều khoản của Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, số lượng tàu mang tên lửa đạn đạo giảm xuống còn 14, bốn chiếc tàu thuộc nhóm 1 (SSBN-726 — SSBN-729) được chuyển loại sang mang tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk. Các tàu còn lại thuộc nhóm 1 được lắp đặt tên lửa Trident II D-5.
Trên các tàu tên lửa Trident I, lắp đặt hệ thống niêm cất và phóng tên lửa Mk35 mod 0, các tàu còn lại với tổ hợp Trident II — Mk35 mod 1. Hệ thống lưu giữ và phóng tên lửa bao gồm các hầm phóng, hệ thống thứ cấp đẩy tên lửa SLBM, hệ thống thứ cấp kiểm soát, điều khiển phóng đạn cũng như các thiết bị nạp cho tên lửa. Hầm phóng đạn là một ống ca hình trụ bằng thép, được gắn chặt với thân của SSBN. Cùng với yêu cầu khả năng lắp đặt các hệ thống tên lửa Trident II , hầm phóng tên lửa trên tàu có kích thước lớn hơn so với các tàu ngầm lớp “Lafayette”, (đường kích ống phóng là 2,4m, chiều cao là 14,8m). Hầm phóng có nắp đậy bằng hệ thống thủy lực. Nắp đậy có nhiệm vụ bịt kín, không để lọt nước hoặc không khí vào hầm phóng tên lửa. Nắp đậy cũng được chế tạo để chịu lực nén tương tự như thân tàu. Trên nắp có 4 cửa nhỏ để kiểm soát sự vận hành cũng như kiểm tra bên trong của hầm phóng tên lửa. Hệ thống cơ khí đặc biệt có nhiệm vụ khóa nắm hầm bảo vệ và chống các xâm nhập trái phép vào hầm phóng, điều khiển đóng mở cửa hầm phóng với những yêu cầu về quyền truy cập mở cửa hầm phóng đạn.
Trong hầm phóng lắp đặt ca (hình trụ tròn) phóng đạn và thiết bị cung cấp hỗn hợp khí gas – hơi nước. Ống phóng đạn được đậy kín bằng lớn màng chắn nước dày, ngăn chặn khả năng lọt nước biển vào hầm phóng khi mở nắp đậy – cửa phóng tên lửa. Lớp màng bảo vệ có hình vòm và được chế tạo từ nhựa phenolic hoặc amiăng cường lực. Khi phóng tên lửa, nhờ có các quả đạn hình cầu nạp chất nổ thường được lắp ở phía trong lớp màng phát nổ, xé rách tấm màng ở giữa và một số cạnh tấm màn chắn nước. Hầm phóng có các đầu giắc cắm kiểu mới, cho phép kết nối hầm phóng, tên lửa với các thiết bị điểu khiển phóng đạn, giắc cắm này sẽ tự động tuột ra vào thời điểm phóng đạn.
Trên tàu ngầm Ohio lắp hệ thống điều khiển phóng đạn loại Mk 98, hệ thống điều khiển chuẩn bị cho tất cả các tên lửa chuyển trạng thái từ thường xuyên lên tăng cường trong vòng 15 phút. Trong thời gian trước khi phóng tên lửa, hệ thống điều khiển bắn sẽ tiền hành các tính toán về tầm bắn, nạp thông tin vào bộ nhớ máy tính tên lửa, tiến hành các hoạt động chuẩn bị phóng đạn, kiểm tra đạn trước khi phóng sẵn sàng tiến hành phóng tên lửa, Trong hệ thống điều khiển phóng tên lửa có máy tính đường đạn Mk 98, tổ hợp máy tính này có khả năng trước thời điểm chuẩn bị phóng nạp thông tin mục tiêu cho tất cả các tên lửa trong cùng một lúc.
Trước khi phóng tên lửa, trong hầm tàu được tăng cường áp lực khí nén. Trong mỗi hầm phóng để tạo ra hỗn hợp khí nén đã được lắp đặt bình bột tạo áp lực (PAD). Khí gas, thoát ra từ bình PAD, đi qua thùng chứa nước, một phần đã được làm nguội và tràn vào phía dưới của cốc phóng đạn hình trụ, đẩy tên lửa phóng lên với gia tốc khoảng 10g. Tên lửa bị đẩy ra khỏi hầm phóng với vận tốc 50m/s. Khi tên lửa chi chuyển lên phía trên sẽ xé tan lớp màn chắn bảo vệ, và nước tràn vào hầm phóng. Cửa phóng tên lửa của hầm phóng tự động đóng lại sau khi tên lửa thoát ra, nước từ hầm phóng được máy bơm hút vào các bể dự bị đặc biệt. Để giữ được thăng bằng và độ sâu của tàu khi phóng tên lửa hệ thống ổn định thân tầu sử dụng tổ hợp con quay hồi chuyển để điều khiển các cánh ổn định đồng thời điều tiết lượng nước trong các bồn nước dằn tầu.
Tên lửa đạn đạo được phóng liên tục với giãn cách từ 15 – 20 s ở độ sâu đến 30m, tốc độ hải trình là 5 knots và biển động đến cấp 6. Tất cả các tên lửa đều có thể phóng trong cùng một loạt có giãn cách (thử nghiệm chưa bao giờ thực hiện phóng hết tất cả cơ số đạn mà thường chỉ thử nghiệm theo phương pháp ngẫu nhiên lựa chọn). Trong nước tên lửa di chuyển không điều khiển, khi tên lửa thoát ra khỏi mặt nước, theo tín hiệu nhận được của sensor cảm biến gia tốc sẽ khởi động động cơ đẩy tầng thứ nhất. Theo chế độ tiêu chuẩn sẽ khởi động động cơ trên độ cao so với mặt nước biển là 10 – 30 m.
Độ chính xác của định vị vị trí tàu ngầm xác định bởi các thống số của hệ thống điều hướng – hoa tiêu dẫn đường từ hệ thông định vị vệ tinh Loran-C and NAVSTAR. Khai thác sử dụng các hệ thống này kết hợp với việc đưa vào sử dụng hệ thống ổn định ESGN con quay hồi chuyển với mô tơ điện treo tự do đã nâng khả năng xác định chính xác tọa độ vị trí của tàu lên từ 4 -6 lần so với các tàu ngầm thế hệ trước.
Tên lửa Trident II D-5 có thể được lắp đặt hai loại đầu đạn hạt nhân — W76 đương lượng nổ 100 kt và W88 đương lượng nổ 475 kt. Trong trường hợp tải trọng cao nhất tên lửa đạn đạo có thể mang tới 8 đầu đạn thứ cấp W88 hoặc 14 đầu đạn W76 trên tầm xa hỏa lực là 7360. Sử dụng các thiết bị định vị hàng không đồng bộ với việc nâng cao hiệu quả của các thiết bị dẫn đường đã giảm độ sai lệch so với trung tâm mục tiêu của W88 КВО còn 90—120 м. Để tiêu diệt các hầm phóng tên lửa của đối phương, các trắc thủ tên lửa tàu ngầm sử dụng phương pháp xác định tọa độ “2 trong 1” nhằm vào một mục tiêu hầm phóng tên lửa là 2 đầu đạn từ 2 tên lửa Trident II khác nhau. Xác suất trúng mục tiêu đạt đến 0,95. Các đầu đạn thứ cấp W88 được chế tạo là 400 đơn vị. Do đó đại đa số các tên lửa được lắp đặt các đầu đạn W76. Trong trường hợp sử dụng các đầu đạn thứ cấp có đương lượng nổ thấp hơn, xác suất tiêu diệt mục tiêu hầm phóng tên lửa đạt đến 0,84.
Lượng tên lửa tàu Ohio mang theo được đánh giá có sức mạnh bằng tất cả số bom đạn được các phe sử dụng trong đại chiến thế giới thứ hai. Chỉ cần một tàu Ohio khai hỏa vũ khí hạt nhân cũng dư sức hủy diệt toàn bộ một lục địa.
Tại thời điểm hiện này, theo các điều khoản của Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược START trên mỗi tên lửa chỉ được mang không quá 8 đầu đạn thứ cấp. Để đạt được tầm bắn xa nhất trên mỗi tên lửa được lắp 6 đầu đạn W88 hoặc 8 đầu đạn W76. Chính vì vậy vào năm 2007 số lượng đầu đạn thứ cấp được lắp trên các tên lửa đạn đạo là 404 đơn vị W88 và 1712 đầu đạn W760. Theo thông báo của Chuẩn đô đốc Hải quân Raymond G. Jones các đầu đạn W88 chỉ được lắp trên 4 tàu ngầm nhóm hai của lớp Ohio.
Mỗi chiếc tàu ngầm Ohio trong số 4 tàu nhóm 1 được lắp 154 tên lửa hành trình Tomahawk 22 trong số 24 hầm phóng được thiết kế lại để lắp các ống phóng đạn thẳng đứng của tên lửa hành trình. Mỗi hầm phóng tên lửa được thiết kế lại và lắp đến 7 ống phóng tên lửa hành trình thẳng đứng. Hai hầm phóng gần với boong thượng được lắp hệ thống khoang đóng mở tự động ngầm. Trong các khoang này được lắp tàu ngầm mini ASDS ( Advanced SEAL Delivery System) hoặc các module thiết bị lặn DDS ( Dry Deck Shelter) để đưa lực lượng đặc biệt ra khỏi tàu ngầm hoặc quay về tàu, khi tàu đang ở trạng thái lặn ngầm.
Các khí tài này có thể được lắp đồng thời 2 chiếc, hoặc mỗi loại một chiếc, số lượng không quá 2. Khi lắp và khai thác sử dụng các thiết bị này, thông thường sẽ phải khóa một phần các hầm phóng tên lửa, đối với tàu ngầm mini, số lượng hầm phóng bị khóa là 3, đối với module khí tài lặn ngầm DDS ngắn hơn, hai hầm phóng đạn sẽ bị khóa. Tàu ngầm Ohio có thể mang bổ xủng thêm 66 quân nhân thực hiện nhiệm vụ đặc biệt dưới nước của Lực lượng SEAL hoặc lính thủy đánh bộ. Trong các chiến dịch ngắn ngày, thời gian cơ động ngầm không quá dài, có thể tăng cường đến 102 người.
Ngư – thủy lôi
Tất cả các tàu ngầm đều được lắp đặt 4 ống phóng ngư lôi tự bảo vệ. Các ống phóng ngư lôi nằm ở phần mũi tàu với một góc nghiêng nhỏ so với mặt phẳng đường kính của tàu. Trong biên chế, cơ số ngư lôi là 8 đạn Mk-48, được sử dụng để chống tàu ngầm và tàu nổi.
Đài sonar trên tàu ngầm Ohio.  
Trong quá trình đóng tàu ngầm lớp Ohio, đã lắp đặt đài radar trinh sát thủy siêu âm AN/BQQ-6, một biến thể nâng cấp hiện đại của sonar AN/BQQ-5 được lắp đặt trong tàu ngầm đa mục đích. Trong các tàu ngầm, đài sonar hoạt động chủ yếu ở chế độ thụ động – thu các tín hiệu thủy siêu âm. Trong tổ hợp đài AN/BQQ-6 đã được lắp đặt một loạt các đài sonar thứ cấp khác. Cơ sở căn bản của tổ hợp là đài sonar 2 chế độ chủ động và thụ động AN/BQS-13 nhưng có những hạn chế nhất định ở chế độ phát chủ động nếu so sánh với đài sonar AN/BQQ-5. Đài sonar có một anten hình cầu đường kính 4,6 m, được tạo thành bởi 944 hydrophone. Anten thu thụ động AN/BQR-23 là một khối bảo giác bao gjoomf có 104 hydrophones, bao bọc phía bên ngoài của chụp elip mũi tầu. Anten thu thụ động của đài sonar AN/BQR-15 là một an ten kéo theo tầu TB-29 có chiều dài là 47,7 m trên một đoạn cáp dài 670 m.
Các tín hiệu thu được từ đài sonar được xử lý bằng máy tính sonar công suất lớn AN/BQR-23. Khi cơ động hành quân anten được xếp gọn trên thân tầu phía trên về bên trái. Để thực hiện các nhiệu vụ hoa tiêu điều hướng và dẫn đường cho hải trình sử dụng đài sonar chủ động AN/BQR-19. Trong các tình huống địa hình phức tạp như bơi ngầm dưới nước và các hoạt động chống mìn sử dụng anten chủ động tầm gần AN/BQS-15. Khi bơi trên mặt nước biển tàu ngầm Ohio sử dụng radar AN/BPS-15A (trên tàu ngầm SSBN 741—743 lắp đặt (AN/BPS-16).
Trong quá trình hiện đại hóa theo chương trình A-RCI (Acoustic Rapid COTS Insertion) tất cả các đài sonar của tàu ngầm Mỹ, bao gồm cả AN/BQQ-6 được hiện đại hóa theo phương án AN/BQQ-10. Từ 4 đài sonar riêng biệt đã sử dụng một đài chung COTS (commercial-off-the-shelf) với cấu hình thiết kế mở cho phép dễ dàng nâng cấp bằng các module. Hệ thống cũng cosnhuwngx khả năng như lập bản đồ bằng các tín hiệu thủy siêu âm (PUMA — Precision Underwater Mapping and Navigation), cho phép định dạng bản đồ thủy văn có khả năng xác định cao, khả năng xác định được cả những vật thể nhỏ như các loại thủy lôi, mìn đáy, đồng thời có khả năng hoạt động dạng Net, trao đổi thông tin với các hạm tàu khác. Tiến trình hiện đại hóa lần đầu tiên đã được thực hiện đối với tàu ngầm Alaska vào mùa thu năm 2000.
Để phát hiện khả năng bị chiếu xạ bằng sóng siêu âm sử dụng đài AN/WLR-10. Đồng thời đồng bộ với hoạt động trên tàu là đài trinh sát sonar AN/WLR-8(V)5 trên mặt biển cảnh báo sớm về hiện tượng chiếu xạ radar hoạt động ở dải tần số 0,5—18 GHz. SSBN được bố trí 8 ống phóng đạn gây nhiễu loại Mk2 nhằm chống bức xạ siêu âm và đài gây nhiễu và tác chiến điện tử sonar AN/WLY-1. Đài hoạt động tự động tìm kiếm xác định chủng loại ngư lôi tấn công đồng thời xác định loại tín hiệu gây nhiễu thủy siêu âm để phá hủy ngư lôi hoặc đánh lạc hướng. Tàu ngầm còn được trang bị đạn giả định dạng tàu ngầm Mk70 MOSS (Mobile Submarine Simulator), được phóng ra từ ống phóng ngư lôi. Hiện nay, các loại đạn giả mô phỏng tàu ngầm được đưa lên lưu kho trên bờ trong thời gian vô hạn định.
Tàu ngầm lớp Ohio được trang bị kính tiềm vọng loại Kollmorgen Type 152 và Type 82.
’Kẻ hủy diệt’ lang thang trên đại dương
Để phục vụ cho các tàu ngầm Ohio, đã hiện đại hóa hai căn cứ hải quân – một ở bờ biển Thái Bình Dương (căn cứ hải quân Bangor, bang Washington) và một trên Đại Tây Dương (căn cứ hải quân tại vịnh Kings, Bang Georgia). Mỗi cơ sở được thiết kế để cung cấp dịch vụ cho 10 tàu ngầm. Trên các căn cứ được xây dựng và lắp đặt trang thiết bị để tiếp nhận, cung cấp vũ khí, đạn, dịch vụ kỹ thuật bảo trì, bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ các tàu ngầm. Đồng thời cũng xây dựng doanh trại cho các thủy thủ đoàn nghĩ ngơi và học tập.
Trên mỗi căn cứ đều có các trung tâm huấn luyện để tập huấn kỹ chiến thuật các thủy thủ đoàn. Trung tâm có thể tiếp nhận và huấn luyện trong năm đến 25.000 quân nhân. Các mô hình học cụ mô phỏng cho phép thủy thủ đoàn học điều khiển tàu ngầm trong mọi điều kiện thời tiết, môi trường và địa hình thủy văn, bảo gồm cả các tình huống phóng tên lửa và ngư lôi. Huấn luyện sĩ quan hải quân được thực hiện trên thành phố Groton.
Từ năm 1997 tàu ngầm Ohio là loại tàu ngầm duy nhất của Hải quân Mỹ mang tên lửa đạn đạo cấp chiến lược còn nằm trong biên chế sẵn sàng chiến đấu. Tất cả các tàu ngầm khác loại đều được đưa ra khỏi biên chế sẵn sàng chiến đấu của lực lượng Hải quân. Cũng năm 1997, Hải quân Mỹ tiếp nhận chiếc tàu ngầm lớp Ohio cuối cùng được chế tạo — USS Louisiana (SSBN-743).
Với số lượng hiện có là 18 tàu ngầm Ohio, SSBN tiến hành từ 3 -4 chuyến hải tuần trong một năm, chiếm 50 – 60% thời gian ngoài biển lớn theo thống kê số liệu năm 2008. Cũng trong năm 2008 , các tàu ngầm đã thực hiện 31 chuyến hải tuần với thời gian mỗi chuyến là 60 – 90 ngày dưới biển. Nằm trong bộ ba răn đe hạt nhân, để tránh không bị phát hiện, trừ số ít người liên quan, không ai biết các tàu ngầm hạt nhân Ohio đang lang thang ở đâu trên đại dương và chúng có thể nhận lệnh tấn công bất cứ lúc nào nếu Mỹ cảm thấy bị đe dọa.
Nguồn: 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mấy lời tâm sự

 

Dạ Ngân
ngan-1345565863_480x0 (1)
Năm 1987, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Chỉ thấy mừng duy nhất một điều: nhà văn tỉnh lẻ, từ giờ mấy ông Tuyên giáo tỉnh muốn ăn hiếp hay chụp mũ dù sao cũng có hội đoàn và đồng nghiệp bênh.
Năm 1989 lần đầu đi dự Đại hội Nhà văn Việt Nam. Một may mắn trọn vẹn. Mười ngày “rung chuyển thế giới” theo cách nói của ông Trần Trọng Tân khi ấy. Mười ngày làm nên lịch sử. “Phe vui tươi” cảm thấy sức nặng của nhà văn với bản lề thời đại, “phái hầm hầm” thì lui vào phòng ngự để tìm cách phản công. Mười ngày hai bên cấp tiến và xu phụ vật nhau sôi động như nghị viện. Và rồi, chính số nhà văn “vui là chính” đã làm lệch cán cân. Đại hội kết thúc trong “vui là chính” như mong muốn của những ai bỏ tiền ra cho nó.
Hậu Đại hội IV ám như có ma. Những ai tham luận gay gắt, những ai vỗ tay và đứng lên ngồi xuống tán thưởng với Tâm thư của nhà văn Trần Độ gửi đại hội đều bị làm phiền. Dư luận rót từ thủ đô xuống tận địa phương, Dương Thu Hương là con đàn bà thế nọ thế kia, Trần Độ là tay chân của Trần Xuân Bách. Bỗng tới tai gia tộc: Dạ Ngân là nhân vật phò đa nguyên! Thế là trong một bữa cơm đích thân một vị tướng Quân khu 9 đặc cách nhà văn nữ trẻ, ông không nói chính trị, chỉ đến khi tiễn nhà văn ra cổng, ông mới thân tình: “Ê cháu, đời sống có gì khó khăn nói mấy chú giúp chớ đừng có đa nguyên nghen!”.
Đại hội lần thứ V vào 1993 (tháng mấy không nhớ nữa), mờ nhạt như lãnh đạo mong muốn. Cũng là năm từ giã tỉnh lẻ để ra với thủ đô ngàn năm. Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, năm 1998 được Tổng thư ký Nguyễn Khoa Điềm nhận về Hội Nhà văn, trong lúc chưa được ấn vào đâu thì nhà văn Anh Đức đánh tiếng với nhà thơ Hữu Thỉnh: “Có cô đó ngồi ở văn phòng tôi không ra họp đâu đấy!”. Bị thù chắc vì lỡ thân với Nguyễn Quang Sáng và không chịu làm thân với Anh Đức chăng? Thật là rùng rợn bởi những người từng được cho là “tinh hoa” của văn đàn!
Cái ơn việc làm của Tổng thư ký Nguyễn Khoa Điềm lấn cấn mãi trong lòng khi chính nhà thơ này lúc làm Trưởng Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương đã đối xử với Chuyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn ra sao ai cũng biết. Một con người khác bên trong mình bắt đầu hình thành, có lẽ từ đó. Im lặng, chọn cách im lặng vì cái này và cái kia cứ xoắn vào nhau như dây xích, không tháo ra được.
Đại hội VI cuối xuân năm 2000 đã phải nhóm họp những tiểu đại hội để gạch tên nhau. Khi ấy đã về làm ở báo Văn Nghệ, dưới trướng của sếp Hữu Thỉnh. Đám cưới con trai diễn ra cũng trong dịp ấy. Cầm lá đơn xin vắng, sếp Thỉnh hỏi ngay: “Đám cưới con quan trọng hay Đại hội Nhà văn quan trọng?”. Có thể nào buột ra một câu hỏi ấy cho một người mẹ luôn phải cách xa con mình gần 2000 cây số? Dĩ nhiên lần ấy ban tổ chức tiểu đại hội không đưa đơn báo vắng, coi như đương sự tự ý vắng mặt và có lẽ, cũng để cho danh sách được bầu gọn đi để các nhà văn gạch tên nhau cho nhanh.
Vì làm ở báo Văn Nghệ nên cưới cho con xong, ra đúng vào lúc đại hội khai mạc, được sếp cử đi viết bài. Bạn bè miền Tây, bạn bè Sài Gòn, bạn bè khắp nơi thấy đeo biển “phục vụ” chứ không được đeo biển đại biểu không khỏi ái ngại: Bà này tư cách có vấn đề gì mà không được bầu đi dự đại hội vậy ta? Con người im lặng lại nhắc, nói gì, không nên nói gì cả, đồng nghiệp mà nhìn vào biển đại biểu chính thức hay không là chính thức để đánh giá nhau thì mình lên tiếng làm gì.
Tháng 8 năm ấy, cái năm 2000 nóng rẫy ấy, nhà văn Trần Độ qua đời. Sếp Thỉnh nhăn nhó bảo Khổ quá khổ quá, cứ phải xin ý kiến cấp trên mãi về việc cáo phó ông Độ trên báo Văn Nghệ. Một người như nhà văn Trần Độ mà không có được “một bao diêm” cáo phó trên tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam ư? Thật không tin vào mắt mình, quả đúng như thế, không có dòng nào về cái chết của một người như Tướng Trần Độ cả.
Lòng hội viên xa dần. Có người xa sớm hơn. Và có những người chập chờn với ân tình và lên tiếng. Im lặng là hèn nhưng im lặng cũng là thượng sách. Đại hội VII năm 2005, Hồ Anh Thái và Phan Thị Vàng Anh là hai gương mặt để các hội viên không “vui là chính” kỳ vọng. Nhưng đâu chừng hơn nửa nhiệm kỳ thì hai vị ấy “cáo quan”, cũng coi im lặng là thượng sách.
Từ Đại hội 2010 đã không còn xem Hội là Hội nghề nghiệp nữa. Mặc hết. Ai là “thùng phiếu di động”, mặc! Nhiều hội viên “nghĩ vậy mà không phải vậy” cũng chọn im lặng là thượng sách, ở cái xó Việt Nam này phương châm ấy có nghĩa là tồn tại và cũng là sống sót. Đại hội không “vui là chính” sao được khi cấp trên đã nặn ra được một con người ở đâu và với ai cũng “tuyệt vời, tuyệt vời”. Thật tuyệt vời khi hội chính trị nghề nghiệp của nhà văn được dẫn dắt bằng một mánh khóe bình dân như vậy.
Cũng đã không bao giờ hồi đáp với những công văn từ Hội kiểu tự kê khai để xét giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước. Lần trước 2010 và lần mới đây. Ai điện thoại xin phiếu thì lập tức phải nghe: Đồng nghiệp ơi, đừng bao giờ xin phiếu nhà này, nhá! Không gì có thể làm ấm lên quan hệ của mình và cái Hội nhiều ân oán với những nhà văn và những tác phẩm khi có sóng gió. Có còn là Hội nghề nghiệp không hay đã hoàn toàn biến thành Hội Vui Là Chính rồi?
Nợ dân và nợ nước. Các nhà văn nghiêm khắc với chính mình muốn một Hội ái hữu thực sự, là nơi đỡ đầu cho văn chương đích thực và cũng là nơi chốn đi về của những nhà văn trong nước và hải ngoại. Đúng là độc lập và ái hữu, những người làm việc không công và những đồng nhỏ đóng góp từ tiền túi của chính mình. Vui một cách sâu sắc và cảm thấy sự sang trọng trong lẽ sống và lẽ viết của hội đoàn mà ai là thành viên đều mơ một ngày sẽ được Nhà nước cho phép ra đời.
Nhưng sóng to và gió cả ngày một lớn. Năm ba người với những lý do khác nhau rút lui khỏi Ban vận động thành lập Văn Đoàn. Có người tuyên bố và có người chọn cách nhẹ nhàng, im lặng. Mình tuân thủ triết lý không tuyên bố. Nhiều câu hỏi, dĩ nhiên. Chỉ chia sẻ với những ai thân tình, rằng có vào thì ắt có ra, rằng đơn giản như đang giỡn thói thường của cái xứ tao tác này, rằng trong nhà hai người thì nên chỉ có một người đạp sóng, và rằng… điều này thật sâu xa, rằng có khi chỉ vì nước mắt của đứa con: Đời tư mẹ làm con khổ, đừng làm tương lai con chật vật mẹ ơi!
Tương lai của những đứa con thế hệ sau 1975 đó ư? Chao ơi, đang nghĩ và sẽ còn nghĩ mãi. Nhà văn lầm lũi bước và ngày mỗi ngạc nhiên sao đờm bãi nhiều hơn, rác rưởi tanh tưởi hơn và con người khủng bố nhau bằng dao, bằng xăng, bằng búa, bằng dây thừng nhiều hơn, mỗi ngày? Hội viên Hội Nhà văn có thể chỉ là một chiếc áo, cởi ra khó gì nhưng cả cuộc đời ta, tim óc ta là một quá khứ nặng như đá tảng.
Chắc gì cái chết đã giải thoát được gánh nặng này. Mỗi ngày, nuốt nước mắt vào trong và cân nhắc, lựa chọn. Cả đời rồi cứ phải cân nhắc và lựa chọn. Nhưng không người mẹ nào cầm lòng được khi con mình khóc dù đứa con ấy không còn trẻ nữa.
Chúng ta đã làm gì chính ta và con cái ta và đất nước này?
Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Quả bom" ngân hàng của Trung Quốc sắp nổ


Đức Long

Bass, người đã tiên đoán chính xác và gặt hái lợi nhuận từ cuộc khủng hoảng năm 2008, cho rằng cuối cùng Trung Quốc sẽ phải phá giá nhân dân tệ để tháo ngòi cho quả bom này.

Kyle Bass - sáng lập viên của Hayman Capital

Nhà quản lý quỹ phòng hộ J. Kyle Bass, sáng lập viên của Hayman Capital có trụ sở ở Dallas (Mỹ) đã cảnh báo rằng có một “quả bom hẹn giờ” trong hệ thống ngân hàng của Trung Quốc.

Trong 10 năm qua, tài sản của hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã tăng trưởng từ gần 3 nghìn tỷ USD lên 34 nghìn tỷ USD, tương đương với 340% GDP Trung Quốc. Để so sánh, hệ thống ngân hàng của Mỹ có số tài sản khoảng 16,5 nghìn tỷ USD vào trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, tương đương với 100% GDP của Mỹ.

“Tín dụng chưa bao giờ tăng trưởng nhanh và nhiều như thế ở Trung Quốc trong 10 năm qua,” Brass viết trong một bức thư gửi các nhà đầu tư vào ngày 10/2.

Chưa có tiền lệ

"Không một hệ thống tín dụng nào trong lịch sử có tốc độ tăng trưởng như vậy. Điều này là chưa có tiền lệ,” ông nói.
Bass cho biết các ngân hàng Trung Quốc đã sử dụng sản phẩm quản lý tài sản (WMP) để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và lách các giới hạn cho vay. Các ngân hàng Trung Quốc chỉ được phép cho vay tối đa 75% giá trị các khoản tiền gửi.

Standard & Poor’s nhận định sự phụ thuộc ngày càng lớn vào WMP để quản lý tỷ lệ vốn quy định có thể làm suy yếu vốn hóa thực sự của ngân hàng. Đó là vì các khoản mục ngoài bảng cân đối thường được đưa trở lại bảng cân đối khi các ngân hàng không có được lợi nhuận như cam kết. Một sản phầm tài sản như vậy là Quyền Thụ hưởng Tín thác (TBR).

Mặc dù cách lách luật công khai thường thấy là sử dụng WMP – được lập ra để né trần lãi suất tiền gửi và giới hạn tỷ lệ dư nợ/tiền gửi, phương pháp tinh vi nhất là sử dụng TBR. Chính những TBR này là “quả bom hẹn giờ” khi TBR đang được dùng để giấu các khoản nợ xấu và hành vi này đã qua mặt được các nhà quản lý ngân hàng.

Bass giải thích cách TBR hoạt động như sau:

Khi dư nợ không được thanh toán, các ngân hàng Trung Quốc thường đẩy chúng ra khỏi bảng cân đối. Các khoản cho vay không hoạt động này sẽ được chuyển nhượng cho một “Công ty Tín thác” trong khi ngân hàng tiếp tục là “người bảo lãnh” (tức là ngân hàng vẫn giữ mọi rủi ro tín dụng). Đổi lại, ngân hàng sẽ ghi “tài sản” này là Biên lai Thụ hưởng Tín thác hay TBR.

Điều này có ý nghĩa thế nào với các ngân hàng Trung Quốc? Câu trả lời là vốn của các ngân hàng Trung Quốc được thổi phồng lên quá mức do TBR cần ít vốn đảm bảo hơn ở thời điểm phát hành. Điều tệ hại hơn là TBR là một trong những quả bom hẹn giờ lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc vì chúng được sử dụng để dấu các khoản nợ xấu.

WMP, TBR, và hơn 8000 công ty bảo lãnh tín dụng đã cùng tạo nên hệ thống ngân hàng ngầm của Trung Quốc. Hệ thống này đã tăng trưởng 600% chỉ trong 3 năm qua. Đây là nơi phát sinh những vấn đề tín dụng đầu tiên qua mắt được các nhà quản lý.

Bass, người đã tiên đoán chính xác và gặt hái lợi nhuận từ cuộc khủng hoảng năm 2008, cho rằng cuối cùng Trung Quốc sẽ phải phá giá đồng tiền để tháo ngòi cho quả bom này. Bass là một trong vài nhà quản lý quỹ phòng hộ đang bán khống nhân dân tệ. Phần lớn ngân sách bây giờ của Hayman Capital được dùng để bán khống nhân dân tệ.

Chính phủ Trung Quốc có đủ năng lực và quyết tâm để ngăn chặn sự sụp đổ hệ thống ngân hàng. Trung Quốc sẽ cứu các ngân hàng của mình và đồng nhân dân tệ sẽ là van xả cho nồi áp suất sắp nổ. Đó là điều mà mọi chính phủ sẽ làm nếu ở trong hoàng cảnh tương tự. Trung Quốc cần dừng nghe những chuyên gia kinh tế và bắt đầu nghĩ cách để tự cứu mình khỏi thảm họa sắp đến trong hệ thống ngân hàng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo chí Israel: Thổ Nhĩ Kì, xe tăng đã thua mạng xã hội


Phạm Nguyên Trường dịch

Trang Haaretz

Thổ Nhĩ Kì: Mạng xã hội đã thắng

Binh lính đã cố gắng hành động theo đúng các nguyên tắc căn bản của đảo chính quân sự, nhưng đã bị thua công nghệ mới, nhà báo Peper viết trên trang Haaretz như thế. Nguyên tắc đầu tiên của đảo chính quân sự là chiếm đài phát thanh và truyền hình, và những kẻ làm loạn ở Thổ Nhĩ Kì đã làm đúng như thế. Ngay sau khi nổi loạn ở Ankara, họ đã đột nhập vào các trung tâm truyền hình và phát thanh quốc gia và buộc các nhà báo ở đây truyền đi tin tức nói rằng họ đã bắt giam chính phủ của tổng thống Erdoğan. Nhưng lúc đó, vị tổng thống này đang ở khu nghỉ mát Marmaris. Và những kẻ phản loạn đã tính sai: họ không ngăn chặn được thông tin liên lạc của ông này. Vừa lên máy bay trở về Istanbul, ông liền lên tiếng kêu gọi nhân dân xuống đường, chiếm các quảng trường chính và đuổi binh lính ra khỏi các sân bay. Chẳng bao lâu sau, những đám đông ủng hộ Erdoğan cũng như các đơn vị quân đội và cảnh sát trung thành với chính phủ đã xuất hiện trên các đường phố Instanbul và các thành phố khác. “Chắc chắn là lời hiệu triệu của Erdoğan, được truyền trên mạng xã hội, cũng như nhờ các phương tiện truyền tin mới khác đã có vai trò nhất định trong việc đập tan cuộc đảo chính. Nhưng, nực cười là, tổng thống Thổ Nhĩ Kì, trong giai đoạn diễn ra những cuộc biểu tình chống chính phủ năm 2013, đã từng phê phán gay gắt Internet và mạng xã hội và đe dọa không cho người dân tiếp cận với Internet và mạng xã hội nữa; nhưng nay, trong khi không thể liên lạc được với các cơ quan quyền lực, ông buộc phải sử dụng những phương tiện này”, Peper viết. Mạng xã hội, cùng với loa phát thanh trong các nhà thờ Hồi giáo đã giúp đưa hàng ngàn người dân tiến ra đường phố. Bằng kinh nghiệm của mình, Erdoğan tin tưởng rằng có thể sử dụng những phương tiện mà có thời ông từng lên án là loan truyền tin tức với mục tiêu chống lại Thổ Nhĩ Kì. Hiện vẫn chưa rõ, sau những sự kiện vừa rồi, tổng thống có thay đổi thái độ đối với mạng xã hội hay không; hay ngược lại, ông sẽ tìm cách vô hiệu hóa triệt để những phương tiện này.

Trang Ynet

Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan

Trang mạng Ynet nhận xét rằng tổng thống Thổ Nhĩ Kì, Recep Tayyip Erdoğan, lên án Fethullah Gulen, lãnh tụ tinh thần của tổ chức Hizmet - trước đây từng là chiến hữu của Erdoğan trong cuộc chiến đấu chống lại ảnh hưởng của quân đội đối với nền chính trị Thổ Nhĩ Kì - vì cho rằng ông này là người tổ chức cuộc đảo chính. Gulen tuyên truyền cho phiên bản Hồi giáo tương đối ôn hòa, với tinh thần bao dung và đối thoại giữa các tôn giáo, và nhiều người cho rằng quan điểm của ông ta về những vấn đề như uống rượu hay phá thai còn nhẹ nhàng hơn quan điểm của Erdoğan. Nhưng, nhiều chuyên gia lại cho rằng đấy chỉ là mặt nạ, trên thực tế, Gulen chỉ muốn giành chính quyền và sau đó sẽ biến Thổ Nhĩ Kì thành nhà nước Hồi giáo chính hiệu. Gulen sống lưu vong ỏ Mỹ từ năm 1999, được bảo vệ rất nghiêm ngặt và tuy ở xa, nhưng vẫn tiếp tục can thiệt một cách tích cực vào các sự kiện ở Thổ Nhĩ Kì. Từ năm 2014, Erdoğan đã lên án những người ủng hộ Gulen là có những hoạt động chống chính phủ và thành lập chính phủ “song hành” với chính phủ hiện thời. Theo Erdoğan, chính những người ủng hộ Gulen đã kích động vụ bê bối lớn về tham nhũng và định dùng cảnh sát để lật đổ chính phủ. Lãnh tụ phong trào Hizmet kiên quyết bác bỏ những lời lên án này. Gulen tuyên bố rằng lên án ông về việc chuẩn bị cuộc đảo chính quân sự là thóa mạ người đã chịu nhiều đau khổ vì bị quân đội đàn áp.

Trang Maariv

Nhân dân Thổ Nhĩ Kì đã làm được điều mà lực lượng cảnh sát không thể làm – và đã chặn đứng được cuộc đảo chính quân sự, Asaf Nahum viết trên trang Maasiv như thế. Nhà báo này cũng nhận xét rằng mặc, dù lực lượng bạo loạn đã chiếm được trung tâm phát thanh và truyền hình ở Ankara, nhưng Erdoğan đã lên sóng và kêu gọi nhân dân không để xảy ra vụ lật đổ chính phủ dân chủ. Nhờ có lời kêu gọi của Erdoğan và của nhà thờ Hồi giáo mà những người phản đối vụ đảo chính quân sự đã bước ra đường phố và kiên quyết chống lại cuộc bạo loạn. Họ đã buộc quân lính rút ra khỏi sân bay Atatürk và quảng trường Taksim ở Instanbul, đụng độ giữa quân phiến loạn và những người ủng hộ chính phủ đã diễn ra ở hai khu vực này. Sau khi dẹp được bạo loạn, Erdoğan đã lên tiếng cảm ơn sự ủng hộ của nhân dân và nói rằng khi nhân dân sẵn sàng chiến đấu với quân thù thì ông sẽ không đầu hàng, và ông cũng lên án Fethullah Gulen vì cho rằng ông này là người tổ chức cuộc bạo loạn vừa qua.

Dịch qua bản tiếng Nga tại địa chỉ: http://inosmi.ru/overview/20160716/237219635.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÂY GIỜ, CHỦ TỊCH, BÍ THƯ TỈNH CŨNG KHÔNG GỌI ĐƯỢC VÕ KIM CỰ


Võ Kim Cự - nguyên Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh.

Phong Dương

Ông Cự ơi. Ông Cự ơi.
+Một lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh cho PV Tiền Phong biết, giờ Bí thư hay Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh gọi, ông Cự cũng không nghe máy!
+Ông Cự “đay nghiến” về những nội dung phản ánh trên Tiền Phong. Ông nói liền một mạch hơn 1 giờ đồng hồ mà không cho một đại diện sở, ban, ngành nào của Hà Tĩnh lên tiếng.

Formosa và 3 lần 'đụng' ông Võ Kim Cự

Phong Cầm
Tiền Phong
06:23 ngày 18 tháng 07 năm 2016 

TP - Sau những sự cố môi trường liên tục liên quan Formosa, nhiều người nghĩ ngay đến vai trò của ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Vắng bóng sau sự cố

Từ tháng 4/2016, khi cá bắt đầu chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung, người được báo chí săn đón là ông Võ Kim Cự. Dù PV nhiều lần liên lạc chỉ  một lần ông bắt máy. PV Tiền Phong ngỏ ý muốn gặp, trao đổi về những vấn đề liên quan Formosa, ông lập tức từ chối, nói “thông cảm” rồi cúp máy. Một lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh cho PV Tiền Phong biết, giờ Bí thư hay Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh gọi, ông Cự cũng không nghe máy! 


Liên quan dự án Formosa, kể từ năm 2008, khi tập đoàn của Đài Loan đổ bộ vào Kỳ Anh, Tiền Phong đăng nhiều bài điều tra, cảnh báo về những vấn đề nổi cộm liên quan Formosa (từ chính sách ưu đãi, các yêu sách vô lý, năng lực tài chính, đền bù, giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư,...). Dù rất khó tiếp cận, nhưng PV Tiền Phong vẫn “đụng” ông Cự 3 lần.

Lần đầu, vào năm 2008, khi ông còn là Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng. Gặp tại trụ sở Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ KH-ĐT) ở đường Hoàng Diệu, Hà Nội. Chỉ chào nhau trong chốc lát, nhưng tôi biết ông đến để hỏi về các thủ tục khi muốn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Formosa (sở dĩ tôi biết được thông tin này vì lúc đó vừa làm việc với ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Đầu tư nước ngoài về Formosa). 
.

Hàng ngàn hộ dân 5 xã thuộc huyện Kỳ Anh cũ phải hy sinh đất đai, nhà cửa để nhường đất cho Formosa (Trong ảnh: Nhà dân bị san phẳng, ảnh chụp năm 2010). Ảnh: Phong Cầm.  
Hàng ngàn hộ dân 5 xã thuộc huyện Kỳ Anh cũ phải hy sinh đất đai, nhà cửa để nhường đất cho Formosa (Trong ảnh: Nhà dân bị san phẳng, ảnh chụp năm 2010). 

Lần thứ 2 tôi gặp ông là tháng 8/2010. Sau khi không thể liên lạc phỏng vấn về những vấn đề nổi cộm mà Tiền Phong đã có loạt bài phản ánh về Fomosa, PV Tiền Phong đành lên chờ ngay cửa phòng làm việc của ông Cự tại trụ sở UBND tỉnh Hà Tĩnh. Sáng đó, sau khi được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, ông trở về phòng làm việc với vẻ mặt hớn hở.
 

Gặp PV Tiền Phong, ông nói: “Các cậu gọi nhiều quá. Không biết tôi đang bận à. Thôi gặp 5 phút nhé!”. Chúng tôi bước vào phòng, chưa kịp đặt vấn đề, ông nói liền tù tì một mạch về Formosa. Câu chuyện giữa PV và ông Cự kéo dài tới 2 tiếng đồng hồ.  Sau đó Tiền Phong có bài phỏng vấn ông Võ Kim Cự: “Nếu trục trặc, mất luôn môi trường đầu tư” 



Formosa và 3 lần 'đụng' ông Võ Kim Cự - ảnh 1  
PV Tiền Phong (đội mũ) được lãnh đạo sở ban ngành Hà Tĩnh dẫn đi kiểm tra tại dự án Formosa (Trong ảnh: Người mặc áo trắng bên phải là ông Hồ Anh Tuấn - Trưởng Ban 
quản lý Khu kinh tế Hà Tĩnh). Ảnh: Công Hùng.
.


Lần gặp thứ 3, tháng 5/2014. Có lẽ đây là lần gặp đầy cảm xúc của ông Cự. Ông liên tục phản ứng các nội dung trong loạt bài viết về Formosa. Buổi sáng, ông cử đại diện các sở, ban ngành của tỉnh dẫn đoàn công tác báo Tiền Phong đi khảo sát ở Formosa và các xã lân cận Khu kinh tế Vũng Áng. Buổi chiều, ông bố trí đầy đủ đại diện lãnh đạo các sở ban ngành Hà Tĩnh (phó bí thư Tỉnh ủy, các phó chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo Ban Tuyên giáo, lãnh đạo Sở Công an, TT-TT, TN&MT, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh...) làm việc với đoàn công tác báo Tiền Phong. 


Tại buổi làm việc, ông Cự “đay nghiến” về những nội dung phản ánh trên Tiền Phong. Ông nói liền một mạch hơn 1 giờ đồng hồ mà không cho một đại diện sở, ban, ngành nào của Hà Tĩnh lên tiếng.


Vì sao chọn Formosa? 


Thực tế, trước khi Formosa vào Khu Kinh tế Vũng Áng làm nhà máy và cảng biển, trước đó, Tata - một tập đoàn có kinh nghiệm sản xuất thép hơn 100 năm của Ấn Độ đã quyết tâm đầu tư vào Vũng Áng. Nhưng sau đó, chính ông Võ Kim Cự đã chọn Formosa và ký cấp phép cho Formosa đầu tư thời hạn tới 70 năm (sau này, Thanh tra Chính phủ cho rằng, việc cấp phép này trái với quy định của pháp luật). Lúc đó, trả lời phỏng vấn của PV Tiền Phong, ông Cự khẳng định: “Đúng là Tata vào trước... Đáng ra, Tata phải được ưu tiên nhưng do họ triển khai quá chậm nên Formosa đã chớp lấy cơ hội!”. 


Thực tế, từ ngày Formosa vào Kỳ Anh đến nay, đã có biết bao hệ luỵ. Bên cạnh một nhà máy sừng sững và phần nào đó có sự thay da đổi thịt ở 5 xã thuộc huyện Kỳ Anh cũ (nay là TX Kỳ Anh) thì kèm theo đó là cả tá hệ luỵ mà không một khoản tiền nào bù đắp nổi. Người dân sau khi nhường đất cho Formosa, di dời lên chỗ ở mới, gặp nhiều khó khăn. Tiền đền bù, người dân cho xây nhà mới, rồi mua sắm phương tiện, đồ dùng... Công việc của đa số người dân luôn bấp bênh, trong khi việc chuyển đổi nghề rất chậm. May chăng, người dân ở 5 xã (nay là phường) dọc quốc lộ 1A có thể làm thêm các nghề dịch vụ. Nhưng dịch vụ phát triển, cũng là lúc kéo theo hàng loạt tệ nạn xã hội. 


Theo nhiều người, tình hình tại các phường thuộc thị xã Kỳ Anh nơi tiếp giáp với Formosa giờ rất phức tạp. Các tệ nạn như ma tuý, mại dâm, bảo kê... đã được các cơ quan chức năng ở đây cảnh báo nhiều lần. Từ khi lộ chuyện Formosa xả thải trộm khiến cá chết hàng loạt, mọi hoạt động của người dân tại Kỳ Anh bị đảo lộn. Ngư dân ngại không ra khơi đánh cá. Buôn bán cầm chừng. Cửa hàng ăn uống héo hon. Vào mùa hè, trước đây du khách thường tấp nập, nay biển vắng hoe. 


Đỉnh điểm, Formosa lại tiếp tục đổ bùn thải gây ô nhiễm môi trường tại thị xã Kỳ Anh và Cẩm Xuyên (đang có thông tin Formosa ký kết đổ chất thải với một doanh nghiệp tại Phú Thọ) càng khiến người dân cả nước bức xúc. Hành vi thiếu tôn trọng pháp luật về môi trường của Formosa ngày càng rõ khiến dư luận đặt câu hỏi: Khi cấp phép cho Formosa, ông Võ Kim Cự và các bộ ngành liên quan đã tính đến phương án xử lý chất thải cho Formosa trong suốt 70 năm hay chưa? 


Đã đến lúc, các cơ quan chức năng cần phải làm rõ trách nhiệm của những người có liên quan Formosa, đặc biệt là những người trực tiếp cấp phép cho Formosa.


----------------------

Nhà báo Phong Dương viết trên FB:
Phần nhận xét hiển thị trên trang