Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Bốn mươi năm thơ Việt hải ngoại

Du Tử Lê

clip_image002[4]
Ảnh: Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê.
Tiểu sử:
Du Tử Lê sinh năm 1942 tại Hà Nam. Năm 1954, theo gia đình di cư vào miền Nam. Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục rồi đại học Văn Khoa Saigon, nguyên sĩ quan QL/VNH cũ. Ông làm việc tại cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm Thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong. Năm 1969, Du Tử Lê theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.
Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 tháng 4-1975. Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.
-Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983 và New York Times, 1994.
- Du Tử Lê là một trong 6 nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ hai mươi, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ tới hôm nay / World Poetry - An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” do nhà W.W. Norton New York, New York ấn hành năm 1998.
(trích nguồn: dutule.com)

Con người có nhiều khả năng hành động hơn khi mối quan hệ với người khác trở nên tốt đẹp, bền vững. Trong một xã hội ngày càng bận rộn, đông đúc, ít người nhận ra, như khi chỉ một mình và trong hoàn cảnh nguy hiểm, đời sống thực ra rất mong manh. Khởi đầu, gắn bó với người mẹ, lớn lên chúng ta xa rời cuống rốn, càng độc lập càng dễ mất dần cảm giác cần đến người khác. Cần thiết và sở hữu: bản chất của tình yêu. Vị tha, đánh mất, chỉ là những khuôn mặt khác.
Thơ tình Du Tử Lê cố gắng nói về điều ấy. Nhưng anh không chỉ viết về sự mất mát, mà còn chúc tụng, bình phẩm, thương tiếc, hồi phục. Sống hai lần cho một tình yêu. Không ai lấy văn chương làm mục đích của kinh nghiệm sống, nhưng có những số phận đặc biệt ở đó dường như mọi diễn tiến của đời sống đều nghiêng một phía, về hướng vecteurcủa sáng tạo. Chữ đẹp và lạ, hình ảnh đặc sắc, nhạc điệu mới hoặc biến đổi, hầu hết trong thể thơ quen thuộc bảy chữ hay lục bát. Vì vậy thơ Du Tử Lê phổ biến. Nhiều tuyển tập thơ Anh ngữ có mặt anh. Thơ tình mà đầy lòng trắc ẩn, bạn bè, chiếu rọi ánh sáng vào giấc mơ, vào thân xác, vào nhục cảm. Đôi khi tình yêu nam nữ vượt qua chính nó, trở thành câu chuyện về đất nước. Quả thật anh viết nhiều đề tài, chiến tranh, sự khó nghèo, quê hương, bạn hữu, thậm chí những đề tài thân mật và ít gặp trong thơ Việt như gia đình, con cái, chi tiết lặt vặt. Vì sống là nhớ lại. Một người biến mất khỏi trí nhớ của một người khác, tức là đã chết.
Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
Một đất nước như một giấc mơ đã thất bại.
Là một trong những nhà thơ lưu vong quan trọng nhất, bao giờ anh cũng tìm cách ra khỏi mình. Du Tử Lê say mê ngôn ngữ, say mê đời sống theo nghĩa sáng tạo, tái tạo và phá hủy của nó. Giữ một lập trường riêng biệt, anh tìm cách xuyên qua các ranh giới và các định nghĩa, không mệt mỏi đi tìm sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thoát khỏi cái bóng của quá khứ chiến tranh máu lệ. Nhiều người làm thơ, càng viết càng yếu đi, tự lặp lại mình, nhưng giai đoạn sau 1975 ở hải ngoại, Du Tử Lê đi lên so với trước đó, bên kia mép rìa của trường thẩm mỹ cũ, và sự vận động này giữ nguyên tốc độ, ít nhất cho đến khi sức khỏe anh có vấn đề. Sau đó, sau một sự dừng lại ngắn, và sau những bài thơ tự lặp lại mình, anh tiếp tục viết, bền bỉ, mặc dù không còn tạo ra các bước ngoặt như ở giai đoạn cao nhất của thơ Du Tử Lê, khoảng những năm 80, 90. Lúc đó, thơ anh đạt đến tài hoa ngôn ngữ: nhiều đoạn, nhiều câu trở thành thí dụ mới, trong khi gắn bó với truyền thống vẫn biến đổi không ngớt. Về mặt thể loại, anh đóng góp cho thể lục bát, năm chữ, bảy chữ, tự do. Nhiều người nói về cách tân của anh, những xuống dòng, những ngắt nhịp, các dấu chấm, dấu phẩy, dấu gạch chéo. Điều ấy sẽ còn gây tranh cãi, và một số thể nghiệm của anh có thể sẽ không thành công, nhưng chắc chắn có một số khác đang được chấp nhận và kế tục, gần như trở thành chuẩn tắc mới của tiếng Việt. Khó có một nhà thơ cùng thời nào khác có những câu thơ được nhiều người nhớ tới, không phải chỉ vì các ca khúc mà chúng tựa vào, mà còn vì sự chia sẻ đối với lòng hoài niệm, đối với số phận dân tộc và sự kháng cự số phận ấy, chất trầm cảm và bi tráng của tình yêu, trong vẻ đẹp của một thứ tiếng nói, ngày ấy có lẽ tưởng sẽ mất, nhưng đã, sẽ không bao giờ mất.
Văn Việt trân trọng giới thiệu.

ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀI GÒN
gửi Trần Cao Lĩnh

đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
tìm tôi đèn thắp hai hàng
lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây
ngỡ hồn tu xứ mưa bay
tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
đêm về theo bánh xe qua
nhớ tôi Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào ?
1978


CHẲNG CHIẾN CHINH MÀ CŨNG LẺ ĐÔI

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Chim về góc biển . Bóng ra khơi
Lòng tôi lũng thấp . Tâm hiu quạnh
Chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai
Em đi để lại hồn thơ dại
Tôi vó câu buồn sâu sớm mai

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Em còn gương lược dấu đường ngôi
Nằm mơ thấy tóc thơm vai hẹn
Và khoảng trời xanh đến rợn người

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Bàn tay dư mấy ngón chia phôi
(Tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn)
Và những tàn phai đầy tuổi tôi

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Như trời nhớ đất (rất xa xôi)
Nắng mưa nhớ mãi hàng hiên đợi
Thư nhớ hồi âm - Lệ nhớ môi

Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác với đời sau
Đôi khi nghe ấm trên da thịt
Như thể ai đi mới trở về


CHÂN DUNG

tôi ngồi trong nỗi tôi riêng
bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần thiết gương người
tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy suốt cơn mưa
ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về

tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn sóng lao xao
biển muôn năm gọi tôi nào có vui
người về có nén hương, thôi
cắm lên phần mộ hồn tôi úa vàng

tôi-ngồi-trong-cõi-nhân-gian


NHÌN NHAU CHỢT THẤY RA SÔNG NÚI
*gửi đào chí hồng, nguyễn quang minh, nguyễn ngọc chấn, ngọc hoài phương, trương trọng giác, nguyễn kim tiền, lê ngọc ngoạn, đào quý châu, phạm duy ánh và CVA 1956-1956 và các bạn diện H.O.
ba mươi năm lẻ ai ngờ được
tao với bay, giờ gặp tại đây
chiến tranh đã dứt nhưng thương tích
vẫn ở cùng tao, ở với bay

bay đã kinh qua địa ngục đời
từng nhìn binh biến giống trò vui
chiến xa, đại bác bay chơi nổi
bom ném ngang trời cũng được thôi

trận mạc ngày xưa còn chẳn ngán
nhằm nhò chi ít vỉ bia "cua"
cười khan những buổi đi "chà láng"
mà lại buồn so diện H. O.

nốc rượu nguyên đêm chờ được xỉn
ôi mái trường rêu: Chu Văn An
nhiều thằng "thăng" lúc còn hôi sữa
dăm tên đầu bạc kể hung hăng

đạn bom ngốn mất thời trai trẻ
cải tạo khơi khơi năm mười niên
ra tù mất vợ, con quay mặt
cười gượng ra điều ta vẫn ... ngon

trong mắt bay nay vàng kỷ niệm
tao đầy gân máu nhớ quê hương
đêm đêm ác mộng còn truy kích
lạnh cẳng tao hầm nhất biển Đông

tụi bay muốn sống? --Quên cho lẹ!
mũ đỏ, đen gì ... cũng đã xong
tao cam phận kiếm tô canh cặn
bay rồi cũng thế! Liệu nghe con

Xa trường mất xác giờ đâu khác?
xương bỏ quê người, cỏ cũng chê
chắc chi đã được như Tư Cóc
chết giữa quê hương, đắp mảnh cờ

Minh dê, Hồnng Trố tao mừng lắm
những tưởng không còn gặp tụi bay
đêm qua uống rượu con nhà Kiểm
thương bạn, tao thèm được khóc ngay

nhìn nhau chợt thấy ra sông núi
có chút gì nghe rất thốn đau
hẹn bay về chết trong tay mẹ
tổ quốc nghìn năm bỏ được sao?

4-1991


THƠ VIẾT KHI CON QUA ĐỜI

Bây giờ mười lăm ngày sau khi em đã sinh
 mười lăm ngày sau khi con đầu lòng của chúng ta đã chết
 bây giờ lúc em đã bắt đầu bình phục
 anh muốn nói với em
 thôi đừng khóc
đừng tủi thân
đừng oán hờn số phận
 mà hãy mừng
 phải hãy mừng cho con ta
đã may mắn không phải làm người
 như anh và như em
 hãy mừng cho con ta
 không phải sống nhục nhằn khốn quẫn như ta
 giữa quê-hương-mình-xa-lạ

Bây giờ bảy ngày sau khi anh đem em ra khỏi nhà thương
 (trên băng sau của chiếc tắc-xi cùng với áo quần, đồ dơ, và nước mắt)
 bây giờ, bảy ngày, anh đã không phải nuôi em trong nhà thương
 bảy ngày qua anh không còn ngồi trên băng ghế đá của bệnh viện
 (cái băng ghế cách đây bốn năm, anh đã ngồi trông chờ em vào thăm nuôi một người chị nằm bệnh
 trong mắt nhìn canh chừng với đầy ác cảm của những người thân gia đình em)
 anh muốn nói
 anh không thích đóng vai một người cha bạc phước
 con qua đời ngay lúc mới sinh ra
 nhưng anh không thích mình trở thành một người cha bất lực
 nhìn con mình lớn lên
 trở thành một thứ đồ chơi
 trong chiến tranh
 như anh
 một thứ đồ chơi
 chưa bể

Bây giờ những cơn đau bụng của em đã bắt đầu nguôi
 những chén cơm em ăn đã không còn hòa cũng nước mắt
 anh muốn nói với em
 mười lăm ngày sau khi con đầu lòng của chúng ta đã chết
 thôi em đừng có thai
 ít ra trong lúc này
 bởi anh không muốn
 chiến tranh sẽ cướp mất con ta
 ngay khi nó còn ở trong bụng mẹ
em dấu yêu – em đẫm lệ
trước cơn đau của em
 những danh từ: tự do dân chủ
những chánh nghĩa quốc gia
 những lý tưởng, những nhân danh
 với anh
 không quý bằng
 một manh giấy báo để lót

Em dấu yêu
 em hãy gượng cười
 vì đời sống chúng ta
 còn trăm ngàn đớn đau hơn thế


TÔI THẤY DÒNG SÔNG TRONG MẮT EM

tôi thấy dòng sông trong mắt em
buổi trưa tìm thấy nắng soi gương. 
sớm mai tìm thấy hàng cây. gió
buổi tối tìm…tôi trong bóng đêm.

tôi thấy dòng sông trong mắt em
nỗi buồn tìm lại mùi hơi. quen
nhớ nhung neo dưới cành hoa khế
hương tóc thẹn lâu… bàn tay xin. 

tôi thấy dòng sông trong mắt em
thanh xuân thất lạc ngọn sầu đông.
mà môi vẫn đỏ mùa ve. cũ.
ký ức ngân từ tôi. hồi chuông.  

tôi thấy dòng sông trong mắt em
quê người in vách bóng chim. câm. 
đèn hoa trôi giữa đôi vai Huế
cùng với tình-yêu-tôi-xốn-xang.

tôi thấy dòng sông trong mắt em.
con đường treo ngược tháng. năm. đen.
dòng sông đáy mắt, xanh chua xót:
- giục giã tàn phai sớm tận cùng.   


AI NHỚ NGÀN NĂM MỘT NGÓN TAY
gửi Nam Hải

tháng tư tôi đến rừng chưa khóc
mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
có môi chưa nói lời gian dối
và mắt chưa buồn như mộ bia
tháng tư nao nức chiều quên tắt
chim bảo cây, cành hãy lắng nghe
bước chân ai dưới tàng phong úa
mà tiếng giầy rơi như suối reo
tháng tư khao khát, đêm vô tận
tôi với người riêng một góc trời
làm sao em biết trăng không lạnh
và cánh chim nào không bỏ tôi?
tháng tư hư ảo người đâu biết
cảnh tượng hồn tôi: một khán đài
với bao chiêng, trống, bao cờ xí
tôi đón em về tự biển khơi
tháng tư xe ngựa về ngang phố
đôi mắt nào treo mỗi góc đường
đêm ai tóc phủ mềm nhung lụa
tôi với người chung một bến sông
tháng tư nắng ủ hoa công chúa
riêng đóa hoàng lan trong mắt tôi
làm sao em biết khi xa bạn
tôi cũng như chiều: tôi mồ côi?
tháng tư chăn, gối nồng son, phấn
đêm với ngày trong một tấm gương
thịt xương đã trộn, như sông núi
tôi với người, ai mang vết thương?
tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
mắt ai rồi sẽ như bia mộ
ngựa có về qua cũng thiếu đôi!
tháng tư người nhắc làm chi nữa
cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
trống, chiêng, cờ xí như cơn mộng
mưa đã chờ tôi. mưa... đã... mưa
mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây?
góc phố đèn treo đôi mắt bão
ai nhớ ngàn năm một ngón tay?
New Orleans 1-5-84


KHÚC HẠNH TUYỀN, NÚI SÔNG

chẻ đôi sông núi: đêm bưng mặt
mưa quấn khăn vào sâu ấu thơ
chẻ đôi thân thế mù tăm tích
ta nghĩa trang nào? chôn cất nhau?

chẻ đôi tâm thất kênh, mương cạn
hương tóc truy tầm vai thất tung
tưởng ai oan khuất vừa quay gót
xương, thịt, đời sau, máu rất buồn

chẻ đôi con gió: cây ly biệt
tim chấn thương cùng môi tháng, năm
phạt ngang ký ức rừng thao thiết
dòng suối trăm năm bỗng mất nguồn.

1993

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc thành bài hát Dòng suối trăm năm.


KẺ TỪ PHƯƠNG ĐÔNG QUA
Và HT, Nguyễn Ngọc Bảo
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà đầu đầy dấu đạn?
- tôi từ phương đông qua
lửa cháy hừng bốn phía
rừng đã thành tro than
biển cũng trào máu mặn
đạn bắn rền đông tây
tôi tình cờ sống sót.
- ngài giúp được tôi chăng?
sống còn một tổ quốc.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà lưng đầy vết chém?
- tôi từ phương đông qua
nơi núi thành bình địa
sông lấp bằng xác người
dao chém loạn bắc nam
tôi không ngờ thoát hiểm.
-ngài giúp được tôi chăng?
buồn vui một đất nước.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà mắt đầy bóng tối?
- tôi từ phương đông qua
mẹ tôi trong chợ loạn
con tôi trên phố đông
vợ tôi trong góc bếp
chết không ngờ một đêm ùn ùn quỷ dậy...
- ngài giúp được tôi chăng?
bình an một mái ấm.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà xác, hồn thất lạc?
- tôi từ phương đông qua
hồn không còn cõi trú
xác không còn mái che
quỷ sa tăng một hôm trùng trùng vây khổn.
- ngài giúp được tôi chăng?
triệu hồn cần cứu rỗi.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
chọn chỗ ngồi cô quạnh ?
- tôi từ phương đông qua
vai không đeo hành lý
đường đi không bạn bè
khóc không người chia sẻ
sống không còn mai sau.
- ngài giúp được tôi chăng?
một ngày mâm rượu cũ.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà tim bầm máu đọng?
- tôi từ phương đông qua
cõi trần gian quỷ ám
bầy thú đội lốt người
bước chân là súng đạn
tay nắm là dao đâm
óc rỉ hoen sắt thép
miệng thở mùi máu tanh
giết bao đời thơ dại
- ngài giúp được tôi chăng?
một vườn xanh hoa cỏ.
một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi:
- ngươi từ đâu đến đây
mà nguyện cầu ánh sáng?
- tôi từ phương đông qua
cõi đêm-ngày: bóng tối
quỷ dữ nuốt mặt trời
bụng trương phình giáo mác.
- ngài giúp được tôi chăng?
một người còn muốn sống.

KHI TÔI CHẾT HÃY ĐEM TÔI RA BIỂN

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Đời lưu vong không cả một ngôi mồ
Vùi đất lạ thịt xương e khó rã
Hồn không đi sao trở lại quê nhà
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
Bên kia biển là quê hương tôi đó
Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Cho tôi về gặp lại các con tôi
Cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
Từ những mắt đã buồn hơn bóng tối
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
Ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(Bài hát giờ cũng như một hồn ma)


KHÚC THÁNG CHÍN

này tháng chín, mùa thu về rất sẽ
em biết không? tôi kẻ đứng bên đường
hồn tháng chạp, cuối đời khua tiếng gậy
em từ tâm có đủ lượng bao dung?

này tháng chín, mùa thu về như thể
giữa đêm qua, có kẻ lén vào
vườn hạnh phúc một người đang tập nói
chàng phục sinh như một giấc mơ

này tháng chín, mùa thu hồng, lối biếc
mưa ở đâu? ướt trí nhớ ai?
chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn
em bên này có lạnh đôi bàn tay?

này tháng chín, mùa thu về rất mới
bởi hôm qua có kẻ mới qua đời
hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
em xạ hương từ quá khứ tôi

này tháng chín, này em, này tháng chín
em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường
hồn hải điểu có bao giờ quy thuận
bỗng bình minh như một cửa gương

này tháng chín, lược đời tôi, hãy chải
và cho tôi sợi tóc cuối chân ngày
đêm tháng chạp tôi sẽ ngồi nối lại
những con đường (những sợi tóc rơi)

những con đường mãi mãi chả ai thôi
quên nhắc đến bởi chính hồn em đó
này tháng chín, nghe không lời nói nhỏ:
“hoàng hôn em, tôi gửi một que...diêm”.
(1984)


TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI

hỏi Chúa đi rồi em sẽ hay
tôi buồn như phố cũ như tay
bàn chân từng ngón ngưng không thở
lạc mất đường đi. tạnh dấu bày

hỏi nắng đi rồi em sẽ hay
tôi gầy như lá nhẹ như mây
gió khuya thổi rớt ngàn tâm sự
thiên đàng tôi là người hay ai?

hỏi gió đi rồi em sẽ hay
cảnh tượng tôi un khói. bụi đầy
ai không ném đá tôi nào biết
riêng người vẫn bay trên ngọn cây

hỏi tóc đi! sông những buồn vui
như tôi qua gần hết cuộc đời
trí khô não kiệt. nghe từ đất
tiếng gọi trời xa. thánh nữ ơi

hỏi mắt đi sẽ thấy rừng cao
biển sâu dưới thấp. đêm quê nhà
con đường núi Sọ, không ai đợi
tôi hỏi tôi: này, đang ở đâu?

hỏi môi đi! môi còn muối mặn
xát ướp lòng tôi thì đã sao?
chỉ e chẳng kịp cho đời khác
cửa mở nhưng tôi chẳng thể về

hỏi tim đi! tim nói lời gì?
máu còn quy ẩn có đôi khi
chỉ cho em biết hồn tôi khuất
sau những hàng cây đã luống thì

hỏi Chúa đi! ngài sẽ trả lời
trong tay thánh nữ có đời tôi.


BÀI MÔI NGƯỜI CŨNG NHƯ MỘT ... GIỎ HOA

ta sớm biết vườn địa đàng tuổi nhỏ
giữa sân trường: - kỷ niệm lén... soi gương/
người xuất hiện / dậy tôi bài học mới
bài: bâng khuâng cũng mang theo mùi hương

ta sớm biết những hành lang rất cũ
mà chân ai như mới chạm lần đầu
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: đợi chờ dài như một trận... đau

ta sớm biết có nỗi buồn đến... ngọt
như những ngày nắng ấm rất... căm căm
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: yêu người như yêu cây cà-rem

ta sớm biết tâm hồn như cửa biển
sóng quanh năm nở bọt gọi, mời
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: dã tràng giống... ai mà hổ ngươi?

ta sớm biết đôi khi mình cũng... điệu
(một chút thôi! ai nỡ quở bao giờ)
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: hân hoan đỏ... mặt theo quả... dâu

ta sớm biết đường xa mà rất ngắn
mỗi khi niềm hớn hở dắt... ta đi
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: ngập ngừng nhón gót lúc... chia ly

ta sớm biết đôi mắt còn biết... nhớ
buổi chiều ưa treo nắng, gió trên cây
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: đêm về nghe hồn... bơi trên tay

ta sớm biết những con đường rất ngắn
giấc mơ dài mang tưởng tượng đi xa
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: môi người cũng như một giỏ... hoa

ta sớm biết thời gian như thước... gẫy
kẻ sao ngay đường thẳng đến... êm đềm
người xuất hiện dậy tôi bài học mới
bài: thấy mình như vật người bỏ,... quên!?!


BÀI NHÂN GIAN THỨ NHẤT

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
đôi mắt người hồ như biển đông
có mưa-tôi-cũ về ngang đó
tự buổi thiên đàng chưa lập xong

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
mái tóc người hồ như rừng cây
có mấy che lối về cho lá
và những con đường thật riêng tây

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như vết thương
có đêm ngó xuống bàn tay lạnh
và chỗ em ngồi đã bỏ không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tấm gương
thấy tôi thắt cổ trên cành tuyết,
và bóng đo dài nỗi tủi thân

Ở chỗ nhân giang không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
có bông hoa đỏ chiều tâm khúc
tôi thấy từ em một quê hương

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tiếng chim
theo cơn bão rớt về ngang phố
tôi học từ em: niềm lãng quên

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như ấu thơ
đêm đêm khóc vụng cùng chăn gối
và buồn thấy như mẹ ở xa

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi biết người mang một nỗi buồn
biết ta cuối kiếp tim còn lạnh
cùng nỗi sầu bay đâu hư không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi xin người sớm phục sinh tôi


NGƯỜI NHÓN GÓT: THẢ VẦNG TRĂNG THỨ NHẤT

chào tinh khiết! - Giữa chiều/ tôi/ xế bóng
như tấm lòng thao thiết cũng gieo neo .
người nhón gót: nghe mưa về đáy vực
buồn tôi sâu, hút, tựa nhớ, thương, nào .

chào thơ ấu! - Chông chênh sầu, nẫu, đỏ
bước lầm than trong ngày, tháng tôi, vơi
người nhón gót: thả vầng trăng thứ nhất
trên tay tôi / cổ tích: mắt, môi người

chào định mệnh! ... Gõ cửa /tôi/, cuối kiếp
trái tim người: lưu lượng biển, bao dung .
người nhón gót: gửi điều chưa nói hết
lên vai tôi . Mùi tóc mẹ ân cần.

chào Quán Thế (riêng tôi)! - Rừng chánh niệm
cây từ bi từng ngọn. Lá trăm năm
người nhón gót: cúi nhìn nhân thế, gió
thấy tôi không ? ... Ti nghiệp một linh hồn?

chào kỷ niệm! - Mai này, tôi sẽ chết
những con chim trả tiếp nợ cho đời .
sóng ở lại, trả thêm người tiếng hát,
(riêng đêm còn giữ mãi dấu môi tôi .)
lá gìn giữ mối tình tôi đã gửi .
cây nâng niu thống khổ (buổi xa người .)

người nhón gót: nghe chuyện tình ai đó...
nghìn năm sau: cổ tích kể tên ....nàng .

(Nov.01)


MẸ VỀ BIỂN ĐÔNG
(trường khúc, trích đoạn)

tôi tìm ra nhà quàn dễ dàng hơn mình tưởng
anh chị, các cháu và đứa con trai tôi vật mình trên tiếng chuông

thầy Mãn Giác, thầy Pháp Thuận mặc đạo tràng
những miếng vá vuông nối nhau chảy xuống
dường tôi bị băm vằm bởi tiếng kinh
Vãng sinh
tôi khóc.
từ 1950, lần thứ hai tôi mặc áo xô
(mớ áo tang mượn từ chùa Trúc Lâm (?)
những ai trước tôi đã mặc)
có người nhắc nhở tôi đi tìm ông giám đốc nhà quàn
để khiêng xác mẹ tôi từ giường lăn, thả vào áo quan
bằng hữu nêm cứng căn phòng
tràn ngoài hành lang
(có người từng đến thăm mẹ tôi cách đây hơn hai năm
khi bà mới bay qua Thái Bình Dương, tới phi trường Los Angeles
có người chưa hề biết mặt ngang mũi dọc của bà)
tôi nắm tay đôi người
muốn quỳ, lạy họ

trời đất lạ nỗi sầu tôi đóng váng
mặt hồ kia hắt lại điêu tàn
mảnh đất cũ không cùng tôi bầu bạn
thì linh hồn rồi cũng đến hoang mang.

tôi tìm ra nhà quàn dễ dàng hơn mình tưởng
anh chị, cháu và con tôi ra về,
đem theo họ những miếng da mặt sưng, mọng nước
tôi ngồi lại trong căn phòng tối
mưa tầm tã. Gió đánh những cành phong nghiêng, lật
lá lạt xạt bước chân trốn chạy
người trực nhà quàn có làn da mét, mét
da người chết
đôi mắt cạn thần
nụ cười trắng nhờn
anh thò đầu vào phòng hỏi tôi cần nước nóng?
nổi gai ốc, tôi liếc nhìn qua phía mẹ mình
bà ngậm miệng. Không cười. Không cử động
bà buồn?
tựa khi chết, mẹ tôi vẫn còn khư khư giữ lại nhiều điều làm vốn
mưa xầm xập
vài người Mỹ thập thò hỏi xác
tôi nói còn hai nữa. Một trong nhà quàn và một ở Chapel
họ đi ngay. Sợ tôi vồ, chụp?
mưa làm căn phòng đẫm tử khí đã lạnh, thêm buốt
chín giờ tối. Tôi bước ra. Mưa nhẹ hạt, bóng tối, vòi nước trong
bồn
vẫn phun không mệt mỏi những lượng nước cố định
trên mặt hồ, hàng trăm ngàn con tôm riu nhẩy lên
nhẩy lên, nhẩy lên
biến mất
biến mất
tội nghiệp mẹ tôi lúc chết vẫn còn phải nằm lại một mình.
vĩnh viễn một mình
tôi tự hỏi anh Uyển, chị Trang hay Thầy tôi ở Việt Nam
có qua đón lấy linh hồn bà?

một linh hồn gần thế kỷ long đong
ngay lúc sống đã tựa như thiên cổ
tôi ở cùng tháng một mưa, giông
bàn tay nhỏ chơ vơ khoắng, khua thời bú sữa

tôi tìm ra nhà quàn dễ dàng hơn mình tưởng
sớm mai, hàng quán chưa mở cửa
tôi thèm ly cà phê, lời chào hỏi
khu nhà trắng nhớp sương
ngồi nơi băng ghế sắt đặt cạnh hồ nước
với cuốn truyện chưởng Kim Dung tới hồi khốc liệt
tôi tự hỏi, cuối cùng liệu họ có chết?
như mẹ tôi, dù gần một thế kỷ
cuối cùng, cũng chết
chưa bao giờ tôi thấy, tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến
như thế,
thầy Mãn Giác nói, chết là về nhà
ông quên chỉ, ngôi nhà nào đây?
trên mặt đất hay sâu lòng địa ngục?
tôi muốn tin mẹ tôi đã lên cõi niết bàn
chí ít cũng trở về biển Đông
nơi đó bà đã ra đi
không lẽ kẻ lìa đời
nhục nhằn
từ mở mắt
lại không thể trở về
nơi tự đó, sinh ra
cháu tôi bảo cách gì thì mẹ tôi cũng phải xuống âm ti
cho Diêm Vương luận tội
một người đàn bà suốt đời chỉ thờ chồng, nuôi con
miếng ngon không ăn
vải đẹp không mặc
mà vẫn phải xuống âm ti cho quỷ thần tra khảo?
thì biết ai lên Niết Bàn
ai về biển Đông?
hay cõi âm
cũng phe đảng
cũng kỳ thị
cũng quyền thế, mua chuộc... chẳng kém dương gian?

buổi sáng lạnh. Người Mễ quét sân
chăm chú nhìn ống hút lá
máy rổn rảng khua
tiếng khua khô đập đều vách óc
tôi nhẩm đếm những đứa con có mặt. Những đứa mất tăm
những đứa không được thông báo bà chúng chết
tôi chợt hiểu thì ra
con người hơn xa loài thú
ở chỗ có thể biến cả xác chết, thành vũ khí trả thù,
tấn công người ở lại

em đã chẳng là tôi, chung một gốc
khóc hay cười, đều xiết chảy băng, băng
vai tôi gọi, tóc kia nào thức dậy
chân ta đi, sông nhức quặn bao tầng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện phình phường của đất nước không phình phường, có chi lạ hè?



Hai tuần liên tục, mình đi Bình Định và đi Đắk Lak. Gặp nhiều nông dân nghèo, ai cũng hỏi: "Ông gốc Phú Yên mà, chắc biết Võ An Đôn. Gã luật sư ấy toàn làm những việc gai góc, chắc đời sống kinh tế cũng... chật vật?".
Mình bảo: "Võ An Đôn cũng bám lấy bờ tre ruộng lúa như các anh chị. Nguồn thu đáng kể nhất của Võ An Đôn là hai con bò trong cái chuồng bé xíu!".
Nhiều người hơi hoài nghi: "Mặt mũi luật sư sáng sủa thế kia mà. Làm nông dân thế nào được!".
Thì đây, nói có sách mách có chứng, một ngày bình thường của Võ An Đôn: uống trà, chém gió và... nuôi bò
!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phỏng vấn Nhà Nghiên cứu phê bình Đoàn Cầm Thi


Hà Thuỷ Nguyên thực hiện
Tran Dan và Thi & Thuan
1. Vì sao cuốn sách phê bình đầu tay của chị đã chọn “Cái Tôi” làm chủ đề? Đó là định hướng của chị ngay từ khi bắt đầu công việc phê bình hay chỉ từ khi tập họp các bài đã viết để in thành sách?
Đây không phải là cuốn phê bình đầu tay của tôi. Trước đó, tôi đã xuất bản nhiều công trình, ví dụ Écrire le Vietnam contemporain. Guerre, corps, littérature (NXB Presses de l’Université Paris Sorbonne, 2010), hay Au-rez-de chaussée du paradis. Récits vietnamiens 1991-2003 (NXB Philippe Picquier, 2005), hay Poétique de la mobilité (NXB Rodopi, Amsterdam 2000). Nói chính xác thì công việc nghiên cứu của tôi diễn ra bằng tiếng Pháp và đây là lần đầu tiên một cuốn sách phê bình của tôi in ở Việt Nam.
Còn chủ đề « Tôi », thì đó là một cái duyên dài, bắt đầu từ luận án tiến sĩ của tôi ở ĐH Paris 7 về tự truyện của George Sand, bảo vệ năm 1997.
2.    Như chị đã phân tích ở phần đầu của cuốn sách, cái “Tôi” đã từng bị gián đoạn cuộc hành trình, và chỉ bắt đầu lại sau thời Đổi Mới. Vậy có thể coi từ giai đoạn Đổi Mới đến nay là một quá trình Phục Hưng của cái “Tôi”?
Đúng thế, cái Tôi đang trở thành tìm kiếm lớn của văn học Việt Nam. Có phục nhưng cũng có hưng, bởi cái Tôi thể hiện trong các tác phẩm ngày hôm nay khác với cái Tôi của Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách, 1925), Những ngày thơ ấu (1937) của Nguyên Hồng, Cỏ dại của Tô Hoài (1944) rất nhiều. Bạn thử đọc Song Song (2008) của Vũ Đình Giang mà xem. Các nhân vật của Vũ Đình Giang đều không có căn cước, chỉ tồn tại dưới các mã số : G.g, H, Kan. Dường như họ nghi ngờ ngay cả sự tồn tại của chính mình : “Bởi tôi thuộc về những vùng tăm tối”, như lời tuyên bố của nhân vật G.g. Cái Tôi của Vũ Đình Giang không đấu tranh chống sự kìm kẹp của gia đình và xã hội. Thế giới của Song Song trừu tượng và duy mỹ. Có lẽ cái Tôi trong nghĩa “chủ thể sáng tạo” mới là quan tâm chính của tác giả. Vì vậy, G.g vừa là Giang vừa không là Giang. Hay nói đúng hơn, G.g là hình hài nghệ thuật, là cách điệu, là ảo ảnh, của Giang ?
Tuy nhiên, gián đoạn là so với văn học miền Bắc thôi. Chứ văn học miền Nam những năm chiến tranh có những gặp gỡ và khám phá vô cùng sôi động. Có lẽ những ấn bản trước 1975 đã tạo nên cơ sở vững chắc cho nhà văn hậu chiến.
Mặt khác, bên cạnh các tác phẩm nổi bật của thế hệ Đổi Mới, phải kể đến những mạch ngầm của văn học miền Bắc trong thời kỳ hiện thực xã hội chủ nghĩa độc tôn. Tôi thường nghĩ đến Đặng Đình Hưng, Trần Dần, Lê Đạt. Tác phẩm của họ gần đây mới được khám phá, và cũng chỉ là một phần của tảng băng chìm. Nhưng ngay từ những năm 1960-1970, Trần Dần đã có những thí nghiệm bất ngờ về cái Tôi trong thơ và văn xuôi. Những ngã tư và những cột đèn được xây dựng trong một cấu trúc lạ: hai cuốn nhật ký lồng vào nhau để những cái Tôi mặc sức tung hoành. Trần Dần cho nhân vật mơ có “một nghìn căn cước”. Anh ta tự tách làm ba trong nhật ký của mình : "Song tôi im lặng. Sọ tôi cũng im lặng. Cái bóng tôi trong gương cũng im lặng". Đoạn văn sau là một sáng tạo ngoạn mục “lý lịch” của nhân vật : "Tôi đi lại trong buồng, mỗi lần đi qua gương, lại nhìn mặt tôi, một cái. Mỗi lần đi qua gương, tôi lại chửi, một câu. Tôi thằng sắp chết. Tôi thằng nhọ, thằng dằn di. Tôi thằng bị phạt, phải làm kiểm điểm. Tôi thằng câu nhái. Tôi thằng iêu ảnh truồng. Tôi thằng nghiện trinh thám. Tôi đứng lại trước gương, tôi nhìn vào mặt, thằng trong gương. Trước mặt tôi, là thằng vợ bỏ. Thằng một nghìn căn cước". Trần Dần cũng cho nhân vật, trong muôn vàn tuyệt vọng, một giấc mơ hóa thân vô cùng hài hước: "Tôi đi lại trong buồng, tự nhủ kiếp sau, có lộn về Hà Nội, tôi sẽ làm cán bộ, để iêu quí, toàn bộ nhân loại…".
Có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại cho đến những năm 2000 mới chính thức được khai sinh ở Việt Nam, nhưng từ thập kỷ 1960, trong câm lặng, Trần Dần đã ươm những cái mầm cho tương lai.
3.    Tiêu chí nào để chị chọn lựa các đại diện của nền văn học Việt Nam sau Đổi Mới đến nay để đưa vào sách?
Tôi không chọn tác giả mà chọn văn bản. Cuốn sách này quan tâm đến những tác phẩm văn xuôi khảo sát cái Tôi quyết liệt nhất. Đương nhiên, lựa chọn nào cũng mang tính chủ quan và khó lòng đầy đủ. Nhưng như đã viết trong Lời Tựa, tôi coi công trình này là một lời mở hơn là một tổng kết.
4.    Theo chị, từng chặng đường của cái “Tôi” ở Việt Nam sau Đổi Mới chịu ảnh hưởng như thế nào của văn học thế giới? Sự ảnh hưởng này có cấp độ như thế nào?
Có những tác phẩm ảnh hưởng trực tiếp, như Thiên sứ (1988) của Phạm Thị Hoài, mang âm vang của Cái trống, tiểu thuyết củaGünter Grass, mà chính tác giả thừa nhận. Cũng có thể nghe thấy những tiếng vọng của Kafka mà Phạm Thị Hoài là một trong những người dịch và giới thiệu đầu tiên ở Việt Nam. Còn Chinatown và T mất tích của Thuận mang những dấu ấn nhất định của tiểu thuyết Pháp đương đại.
Có những tác phẩm ành hưởng gián tiếp. Đôi lần tôi tự hỏi trước khi viết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã đọc những gì ở bên ngoài ? Nhưng rồi lại tự bảo : điều đó cũng không quan trọng lắm. Không ai viết từ con số không. Người ta chỉ viết sau khi đọc rất nhiều.
Nhưng đây là điểm có lẽ thú vị nhất trong những thử nghiệm gần đây về cái Tôi : đã xuất hiện trong văn học Việt ảnh hưởng của những thể loại nghệ thuật phi ngôn ngữ. Tiểu thuyết Ngựa thép của Phan Hồn Nhiên làm tôi liên tưởng đến hội họa và đồ họa thế giới. Ngựa Thép có cấu trúc theo kiểu "bộ ba" như trong một số tác phẩm của Bosch hay Bacon, với 3 câu chuyện độc lập, chỉ liên quan với nhau qua hình ảnh những con ngựa, như một mô-típ chính. Và những con ngựa đó không có vai trò gì khác ngoài đánh thức cảm xúc mỹ học trong tâm hồn người đọc. Dường như với Phan Hồn Nhiên và một số nhà văn cùng thời với cô, tôi lại nghĩ đến Vũ Đình Giang, tiểu thuyết là là nơi tác giả cùng độc giả hướng đến cái đẹp, hơn là công cụ để bày tỏ quan điểm hay phản ánh thực tại. Ngay cái tựa « Ngựa thép » gợi cho ta một đường nét (vóc dáng uyển chuyển hài hòa của loài ngựa), màu sắc hay cảm giác (những mảng màu trong hội họa hay chất liệu hợp kim trong điêu khắc), và trên hết một ước mơ nghệ thuật (cô đơn, khát vọng, tự do). Rõ ràng ảnh hưởng phi ngôn nhữ này đã mang lại nhiều độc đáo và mới mẻ cho tìm kiếm văn chương của Phan Hồn Nhiên
Nhưng phải mở ngoặc để nói rằng hai chữ “ảnh hưởng” ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng và tích cực. Ảnh hưởng không có nghĩa là bắt chước, mà là tiếp thu những cái hay của bên ngoài để sáng tạo. Đọc những tác phẩm kể trên, không ai có thể phủ nhận phần khai phá của các tác giả Việt. Tương tự, Nguyễn Du chỉ viết Truyện Kiều sau khi đọc Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Nhưng “phóng tác” đã vượt rất xa “nguyên tác”.
Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng trong văn học, không có nghĩa là chụp mũ chê bai để thực ra là che giấu một thái độ mặc cảm. Ngược lại, nên tìm hiểu xem nhà văn Việt đã phá đổ thần tượng như thế nào. Đây là Thuận viết trong “Lời phi lộ” cho T mất tích:“Dù sao thì hắn cũng không bảo hắn vẫn yêu tôi như trước, hắn không thể ngừng yêu tôi, hắn sẽ yêu tôi cho tới khi chết. « Người tình » tôi đọc đi đọc lại, nhưng cái câu kết thúc này chưa bao giờ tôi dám nhìn lần thứ hai. Cái câu kết thúc này, không cần Duras thì văn chương Việt cũng đẫm nước mắt rồi”.
5.    Chị có theo dõi các nhà văn 8X và 9X hiện nay không? Chị thấy cái “Tôi” biểu hiện trong văn của học như thế nào?
Tôi có theo dõi và luôn kỳ vọng ở thế hệ trẻ. Hiện nay thì chưa thấy gì nổi bật lắm ở các nhà văn 8X và 9X, nhưng điều đó không có nghĩa là không có những tác phẩm đang nảy mầm trong bóng tối.
6.    Nếu cứ đi tiếp hành trình của cái “Tôi”, chị dự đoán cái “Tôi” ấy sẽ phát triển đến đâu?
Tôi không phải là thầy bói, nên không có những dự đoán cụ thể. Tôi chỉ nghĩ cái Tôi sẽ tiếp tục là chủ đề lớn của văn học tương lai.
7.    Cái “Tôi” của nhà văn, nhà thơ rất dễ nhận thấy, nhưng cái “Tôi” của nhà phê bình sẽ nằm ở đâu?
Nhà phê bình cũng cần có cái Tôi. Chỉ có điều, mỗi nhà phê bình quan niệm về cái Tôi của mình một cách khác nhau. Nhiều người cho đó là cái Tôi cầm cân nảy mực. Với tôi, nhà phê bình phải có cái Tôi sáng tạo. Cái Tôi đó mang tính chuyên môn nhất và cá nhân nhất, độc đáo nhất. Đôi khi cực đoan nhất, tức là đi đến tận cùng luận đề và logique của mình. Vì không thích sự nửa vời, nên cái Tôi đó thường cuốn hết sinh lực của tôi.
Thực ra có 2 loại phê bình. Cách thứ nhất đóng đinh tác phẩm vào những định kiến : Trần Dần thì “chống đối” nên xếp vào nhóm “văn học chống đối”, Nguyễn Bình Phương thì “ma tà khó hiểu” nên xếp vào nhóm “văn học huyền ảo”. Sau đó thêm mắm thêm muối tây tàu một tí, thành ra bài phê bình. Cách đọc này chỉ làm nghèo nàn tác phẩm, vì nó quên rằng Trần Dần không chỉ tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, mà trên hết là một nhà văn cách tân quyết liệt, bạo liệt. Bạn thử đọc đoạn văn này của Sổ bụi mà xem :"Họ hôm nay chơi tôi 1 lít đắng. 7 kilô cay. 10 mặt trời rù. 100 hành tinh chết. tôi không trả thù lại họ 1 câu thơ?" Tương tự, văn chương của Nguyễn Bình Phương không chỉ “ma tà” mà mô tả hiện thực của ngày hôm nay một cách trần trụi và cộc cằn, và đặc biệt đầy chất thơ.
Cách phê bình thứ hai, ngược lại, quên đi các định kiến và chỉ đọc văn bản. Trong văn bản và liên văn bản. Bắt đầu bằng con chữ để vượt lên con chữ. Cách đọc này công phu hơn và mạo hiểm hơn, nhưng nó làm giàu thêm cho tác phẩm bằng cách mở ra những cánh cửa mới. “Cánh cửa” hay “cửa số” nói theo kiểu “càng nhiều cửa sổ càng sang” của Nguyễn Bảo Sinh cũng vui.
Cách đây hơn mười năm, Nguyễn Thanh Sơn có một cuốn phê bình rất mới, với một cái tựa thật ấn tượng : “Phê bình văn học của tôi”. Như vậy là Nguyễn Thanh Sơn đã trả lời cho câu hỏi của bạn rồi đấy.
8. Theo chủ quan, chị thấy cuốn “Đọc “Tôi” bên bến lạ” có những nét gì mới/khác các tác phẩm phê bình đã xuất hiện trước nó?
Tôi có nhiều cái may. Được theo học ngành mình yêu thích là văn chương Pháp từ khi còn rất trẻ. Được đào tạo một cách bài bản, nếu không nói là khoa cử và hàn lâm, ở một nơi danh tiếng là khoa văn học Pháp của Đại học Paris 7. Xin được mở ngoặc để thêm là khoa đã được thành lập sau 1968 với các đại diện của trường phái Phê Bình Mới, để đối đầu với nhóm Phê Bình Cũ của Đại học Sorbonne. Trong gần 10 năm, chúng tôi được học nhiều lý thuyết tiếp cận văn bản : thi pháp học, cấu trúc học, phân tâm học, xã hội học, ngôn ngữ học, vân vân.
Tôi rất ấn tượng với một khóa học về phương pháp thống kê. Ví dụ, chúng tôi đã tổng kết rằng trong tiểu thuyết Pháp, câu văn dài nhất thuộc về Proust và ngắn nhất thuộc về Duras. Flaubert và Balzac đứng chênh vênh ở giữa. Hơn thế nữa, Duras thường thích những từ rất ngắn, chỉ 1 và 2 âm, hãn hữu mới 3 âm. Chúng tôi cũng thử nghiên cứu cấu trúc câu của Duras như người ta làm với thơ, tức là khảo sát về âm nhạc, vần, điệu. Cách Duras lật ngược vị trí của chủ ngữ và động từ cũng được coi là một trong những đặc sản của bà. Chúng tôi cũng thử tính xem những từ nào thường được Balzac sử dụng và kết quả thật bất ngờ : một trong những từ đó là “mélancolie” (có nghĩa là “buồn vấn vương”, “u hoài”), khám phá này khẳng định tính phức tạp của Tấn trò đời, thường được coi là mô tả hiện thực một cách chính xác, trong sáng. Đương nhiên, những kết quả thống kê này cần được bổ xung bằng các phương pháp tiếp cận khác, nhưng cách đọc như vậy thật thú vị. Cuối khóa học, giáo sư đề nghị chúng tôi bắt chước văn phong các thần tượng của mình. Duras và Proust được nhái nhiều nhất và thành công nhất. Những kinh nghiệm này đã giúp tôi rất nhiều khi dịch Nỗi đau của Duras ra tiếng Việt.
Chúng tôi cũng được nghiên cứu các trường phái, tác phẩm và tác giả một cách rộng nhất, trước khi đi vào chuyên môn, để có một cái nhìn sâu và đa diện về vấn đề của mình. Khi làm luận án tiến sĩ, tôi chọn tự truyện của George Sand, nhưng trong hành trang của mình, tôi đã có Proust, Flaubert, Balzac, Rimbaud, Baudelaire, Robbe-Grillet,…
Một cái may nữa : sau khi học xong, tôi được sống và hành nghề với cái mình đã chọn. Vì thế, phê bình với tôi hôm nay, là một đam mê và một chuyên môn. Nói một cách giản dị và để trở lại với câu hỏi bạn đặt ở trên về cái Tôi của nhà phê bình, thì ở trong vị trí này tôi được là tôi. Nó là cái Tôi của tôi trong xã hội, trong công việc kiếm sống hàng ngày và trong tâm tưởng. Với nó, tôi không phải phân thân như “hồn Trương Ba, da hàng thịt”.
Một cái may nữa, từ khi chuyển sang văn học Việt Nam, tôi quan tâm đến các tác phẩm Việt ở 3 vị trí : nghiên cứu, giảng dạy và dịch thuật. Trong cuốn sách này, nhiều tác phẩm và tác giả được tôi tiếp cận trong tư thế đó. Chẳng hạn, tôi vừa dịch, vừa lên lớp, vừa viết phê bình, tham gia hội thảo, về các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Vệt Hà, Thuận, Đỗ Kh, Phan Hồn Nhiên, Trần Dần, Trần Vũ,… Các tác giả khác như Phong Điệp, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp,… đều nằm trong chương trình cho sinh viên từ năm thứ 3 đến sau đại học. Học Viện Inalco nơi tôi làm việc, lại một lần nữa mở ra cho tôi những cánh cửa bất ngờ. Là mô hình duy nhất trên toàn cầu, Inalco được quan niệm như một labo khổng lồ nghiên cứu 96 ngôn ngữ và văn minh thế giới. Các văn chương thường xuyên gặp gỡ và cọ sát, làm động lực cho những tìm kiếm, tranh luận và hân hoan mới.
Và đây là một cái may cuối cùng. Sang đây ngót nghét 30 năm, tôi vẫn giữ một thứ tiếng Việt trong sáng và thường xuyên được trao đổi với những người cầm bút Việt, trong nước cũng như hải ngoại.
Đó là những khởi điểm và hành trình của cuốn sách. Còn kết quả như thế nào ? câu trả lời xin giành cho độc giả. Tôi không thể vừa là quan tòa vừa là bị cáo. Hay nói vui theo mùa Euro, tôi không muốn vừa đá bóng vừa thổi còi.
Ảnh: Đoàn Cầm Thi với Trần Dần (bên trái) và Thuận (bên phải)
Phần nhận xét hiển thị trên trang