MAI THÁI LĨNH
Bài viết sau đây của nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh, bằng những sự kiện được mô tả chi tiết sẽ cho chúng ta thấy rõ lai lịch và “thành tích” của tập đoàn siêu hạng Formosa trước khi đầu tư vào Việt Nam:
– Formosa đã bị tai tiếng rất nhiều vì tội phạm hủy hoại mội trường.
– Ngay ở Đài Loan đã nổ ra những cuộc phản đối Formosa dữ dội, ngoài việc bắt đền tiền đã khởi kiện và yêu cầu đóng cửa.
– Sự phản đối của dân Đài Loan với tập đoàn Formosa không chỉ đơn thuần về kinh tế và môi trường. Về nguồn gốc Formosa thuộc phái thân Hoa lục độc tài cực đoan, đối lập với đảng Dân Tiến Đài Loan có tính chất thân dân chủ, và bảo vệ môi trường, bảo vệ dân sinh.
_____
Ngày 16/6/2016, trong một cuộc họp báo tại Đài Bắc, ba nghị sĩ của Đảng Dân Tiến (hiện đang cầm quyền) đã lên tiếng yêu cầu chính phủ Đài Loan chỉnh đốn hoạt động của các nhà đầu tư ở hải ngoại, vì các cáo buộc cho rằng hàng triệu con cá chết tại Việt Nam là do một nhà máy thép của Tập đoàn Formosa gây ra.
Ba nghị sĩ đó là Tô Trị Phần (Su Chih-fen 蘇治芬)[i], Vưu Mỹ Nữ (Yu Mei-nu 尤美女) và Ngô Côn Dụ (Wu Kun-yu 吳焜裕). =>
Câu hỏi đặt ra là: tại sao các nghị sĩ Đài Loan này lại quan tâm đến các ngư dân Việt Nam? Và tại sao cách đây không lâu, tập đoàn Formosa vẫn hùng hồn tuyên bố chuyện cá chết tại Việt Nam là do “thủy triều đỏ”, không liên quan gì đến nhà máy thép của Formosa Hà Tĩnh, vậy mà từ sau cuộc họp báo đó, Chủ tịch Formosa Hà Tĩnh đã thay đổi thái độ, thừa nhận cá chết là do chính họ?
Hãy thử lý giải hiện tượng này bằng cách tìm hiểu mối liên hệ giữa nhân vật quan trọng nhất trong buổi họp báo (bà Tô Trị Phần) với Tập đoàn Formosa, thông qua một số tài liệu nghiên cứu và tin tức trên báo chí Đài Loan.
Bà Tô Trị Phần là ai?
Bà Tô Trị Phần (Su Chih-fen 蘇治芬) xuất thân từ một gia đình rất nổi tiếng tại Đài Loan, mặc dù ở ngoại quốc người ta ít biết đến. Cha bà là Tô Đông Khải (Su Tung-chi 蘇東啟) – một nhân sĩ nổi tiếng tại huyện Vân Lâm (Yunlin), ở trung-tây đảo Đài Loan. Ông đã từng theo học tại Đại học Meiji (Nhật Bản) và vào đầu thập niên 1960 là nghị viên hội đồng tỉnh Đài Loan. Năm 1960, xảy ra vụ án Lôi Chấn (Lei Chen 雷震). Lôi Chấn nguyên là một trí thức ở đại lục, theo chân quân đội Quốc Dân Đảng (QDĐ) đến Đài Loan sau khi cộng sản chiếm được đại lục. Ông là người sáng lập và phát hành tạp chí Trung Hoa tự do vào năm 1950. Mặc dù là đảng viên QDĐ, cố vấn của Tưởng Giới Thạch, nhưng do lập trường ủng hộ dân chủ của tờ báo, ông đã làm phiền lòng nhà độc tài. Đầu tháng 9 năm 1960, ông bị bắt giam và kết tội phản quốc với bản án 10 năm tù theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Tờ tạp chí cũng bị đóng cửa từ đó.
Một vài trí thức nổi tiếng đã ký kiến nghị yêu cầu chính phủ trả tự do cho Lôi Chấn nhưng không thành công; trong số những người ký kiến nghị có chính trị gia Tô Đông Khải. Một năm sau (1961), hàng trăm nhà hoạt động tại Đài Loan bị bắt, trong đó có ông Tô. Ông bị kết tội âm mưu nổi loạn chống chính quyền và lãnh án tử hình.[ii] Bà vợ của ông là Tô Hồng Nguyệt Kiều (Su Hung Yueh-chiao 蘇洪月嬌) cũng bị bắt, sau đó bị kết án tù chung thân. Mãi đến năm 1976, dưới thời Tưởng Kinh Quốc, sau 15 năm ngồi tù bà Tô Hồng mới được trả tự do. Theo Linda Gail Arrigo, sau khi được ra khỏi tù, bà ứng cử vào hội đồng địa phương và trúng cử. Chính quyền QDĐ tìm cách gây khó dễ, nhưng sau đó không thể loại bỏ bà ra khỏi chức vụ dân cử. [iii] Gia đình họ Tô tại Vân Lâm trở thành một trong những hạt nhân địa phương đầu tiên góp phần quan trọng vào việc hình thành đảng đối lập lớn nhất tại Đài Loan vào năm 1986 – Đảng Dân chủ Tiến bộ, thường gọi tắt là Đảng Dân Tiến (tên trong tiếng Anh làDemocratic Progressive Party, viết tắt là DPP).
Khi cha mẹ bị bắt giam, bà Tô Trị Phần mới lên 8 tuổi. Những nỗi đau mà gia đình bà phải gánh chịu đã thúc đẩy bà tham gia vào hoạt động chính trị. Bà bắt đầu nổi tiếng trên chính trường khi trúng cử chức vụ huyện trưởng Huyện Vân Lâm (Yunlin) vào cuối năm 2005. Vào lúc này, Đảng Dân Tiến đã nắm được chức vụ Tổng thống hơn một nhiệm kỳ và bước vào nhiệm kỳ thứ hai. Đảng Dân Tiến bước vào một giai đoạn khó khăn vì tuy nắm được quyền hành pháp nhưng tại Viện Lập pháp, Quốc Dân Đảng nắm đa số ghế. Trong cuộc bầu cử địa phương năm 2005, QDĐ thắng lớn: QDĐ thắng tại 14/23 thành phố và huyện, trong khi Dân Tiến trước đây nắm được 9 thành phố và huyện, nay chỉ còn nắm được 6 địa phương – trong đó có huyện Vân Lâm và huyện Gia Nghĩa (Chiayi). Huyện trưởng tại hai huyện này là bà Tô Trị Phần và ông Trần Minh Văn (Chen Ming-wen 陳明文).
Vụ án tham nhũng của cựu Tổng thống Trần Thủy Biển và gia đình là sự kiện lớn nhất trong giai đoạn này. Ngày 20/5/2008, chỉ một giờ sau khi rời khỏi chức vụ tổng thống (nghĩa là mất quyền miễn tố), ông Trần Thủy Biển lập tức bị bắt giữ và hạn chế quyền đi lại (lấy cớ là có thể bỏ trốn ra nước ngoài) vì bị cáo buộc các tội tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Vụ án này kéo dài hơn hai năm, đến tận tháng 11 năm 2010, với phán quyết cuối cùng của Tòa án Tối cao: ông Trần Thủy Biển và vợ ông là bà Ngô Thục Trân (Wu Shu-jen 吳淑珍) bị kết án tù (17 năm rưỡi) và phải nộp phạt 154 triệu Đài tệ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đài Loan, một nguyên thủ quốc gia bị án tù.
Ngày 4/11/2008, lợi dụng vụ án tham nhũng của Trần Thủy Biển đang ở thời kỳ cao điểm, cơ quan công tố đã bắt giữ và thẩm vấn bà Tô Trị Phần – huyện trưởng huyện Vân Lâm, vì cho rằng bà đã nhận hối lộ 5 triệu Đài tệ (tương đương 151 ngàn đô-la Mỹ) để thông qua một dự án xây dựng một hố chôn rác (landfill construction project). Việc bắt giữ này đã gây phẫn nộ trong người dân tại địa phương. Các đảng viên Dân Tiến lên án cơ quan công tố vì cho rằng họ chịu sự chỉ đạo từ phía chính phủ (của QDĐ) để nhân cơ hội này bức hại các đảng viên Dân Tiến – nhất là những người có uy tín tại địa phương như bà Tô Trị Phần (huyện trưởng Vân Lâm) và ông Trần Minh Văn – huyện trưởng huyện Gia Nghĩa.
Các công tố viên đòi kết tội bà Tô bằng một bản án 15 năm tù và 8 năm bị tước quyền công dân (có lẽ để bà không thể nào tiếp tục sự nghiệp chính trị), thế nhưng qua hai lần xét xử, tòa án đã tha bổng bà Tô Trị Phần. Vì cơ quan công tố không chịu bỏ cuộc, tiếp tục kháng cáo nên mãi đến giữa tháng 1 năm 2012, Tòa án Tối cao mới ra phán quyết chung thẩm bác bỏ toàn bộ các cáo buộc của phía công tố, trả lại sự trong sạch cho bà Tô. [iv] Điều an ủi đối với bà Tô là trong kỳ bầu cử địa phương năm 2009, bà tiếp tục trúng cử chức vụ huyện trưởng. Và chính trong nhiệm kỳ thứ hai này, bà huyện trưởng Tô Trị Phần đối đầu với tập đoàn hóa dầu “khổng lồ” Formosa.
Để có thể hiểu rõ hơn về một huyện, cũng cần nói thêm đôi điều về cách phân chia hành chính của Đài Loan. Thời gian đầu Đài Loan được chia thành hai tỉnh Đài Loan và Phúc Kiến, nhưng tỉnh Phúc Kiến chỉ bao gồm hai quần đảo Kim Môn và Mã Tổ, còn lại đều thuộc tỉnh Đài Loan. Từ năm 1967 đến nay, có 6 thành phố lần lượt trở thành thành phố đặc biệt (special municipalities, 直轄市 trực hạt thị) trực thuộc trung ương: Đài Bắc (Taipei), Cao Hùng (Kaohsiung), Tân Đài Bắc (New Taipei), Đài Trung (Taichung), Đài Nam (Tainan) và Đào Viên (Taoyuan). Tỉnh Đài Loan chỉ bao gồm 3 thành phố thuộc tỉnh (provincial cities, 市thị) và 11 huyện (counties, 縣 huyện). Vân Lâm là một huyện, đứng đầu là huyện trưởng (magistrate, có khi gọi là commissioner).
Cuộc đối đầu giữa bà huyện trưởng và Tập đoàn Formosa:
Tập đoàn Formosa (tên đầy đủ là Formosa Plastics Group – Tập đoàn Nhựa Formosa, thường viết tắt là FPG) khởi công xây dựng khu công nghiệp Mạch Liêu (Mailiao 麥寮) tại huyện Vân Lâm từ năm 1994, và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1999. Đó là một tổ hợp công nghiệp khổng lồ được xây dựng trên một diện tích khoảng 2.600 hec-ta, với 61 nhà máy (dữ liệu năm 2014). Hạt nhân của khu công nghiệp hóa dầu này là nhà máy naphtha cracker số 6 (sử dụng naphtha để sản xuất ra ethylene – một hóa chất được sử dụng nhiều nhất trong ngành hóa dầu). Gọi là “nhà máy naphtha cracker số 6” nhưng thực chất là ba nhà máy được lần lượt xây dựng, nhà máy thứ ba hoàn thành vào năm 2007. Tổng công suất của cả ba nhà máy là 2,9 triệu tấn ethylene/năm, chiếm 75% sản lượng ethylene của Đài Loan (dữ liệu 2010). Nhà máy naphtha cracker số 6 được các nhà khoa học đánh giá là “tác nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất tại Đài Loan”. Trong bài viết này, tôi tạm gọi nhà máy naphtha cracker là “nhà máy NC”.
Ngày 7 tháng 7 năm 2010, một đám cháy đã xảy ra sau vụ nổ tại một phân xưởng của nhà máy NC nhỏ nhất trong 3 nhà máy NC tại Mạch Liêu (công suất 700 ngàn tấn/năm) khiến cho nhà máy phải ngừng hoạt động. Ba tuần lễ sau đó, ngày 25/7, một đám cháy thứ hai lại xảy ra tại một phân xưởng khác của nhà máy này. Qua ngày hôm sau, đứng ở phía bắc cảng Đài Trung, cách đó hơn 70 km, người ta vẫn còn nhìn thấy cột khói đen của đám cháy.
Thật ra, cháy nổ vẫn xảy ra thường xuyên tại khu công nghiệp hóa dầu Mạch Liêu của Formosa. Chỉ tính riêng trong năm 2009, đã xảy ra tổng cộng 11 vụ cháy nổ tại khu công nghiệp này, khiến cho tin cháy nổ trở thành quen thuộc tựa như tai nạn ô-tô. Nhưng hai vụ cháy nổ lớn liên tiếp xảy ra chỉ trong vòng chưa đầy một tháng đã khiến cư dân trong vùng bàng hoàng. Hàng trăm cư dân tại Mạch Liêu đã tụ tập trước cổng của nhà máy NC, một số đeo mặt nạ có chữ “độc (毒) để phản đối Formosa – thủ phạm gây ra ô nhiễm môi trường.
Đám cháy âm ỉ suốt 36 giờ đã gây thiệt hại cho ngành nuôi trồng thủy sản cũng như nông nghiệp tại địa phương. Tại một nông trại nuôi 300 ngàn con vịt – trong đó có 6 ngàn con vịt con, chỉ trong một đêm gần 2 ngàn con vịt con đã chết. Người ta ngờ rằng nguyên nhân của tình trạng này là do tro than và mưa a-xít mà đám cháy gây ra đã làm ô nhiễm nguồn nước.
Sáng ngày 28/7, bà Thái Anh Văn (Chủ tịch Đảng Dân Tiến) đã đến huyện Vân Lâm để thanh tra sự thiệt hại đối với ngành thủy sản tại đây. Tháp tùng bà có bà huyện trưởng Tô Trị Phần. Các nông dân đã cho bà Thái Anh Văn xem những con nghêu, con sò (clams) đã chết – bị ngả sang màu nâu hay đen, có lẽ do nước bị ô nhiễm. Chủ tịch Thái nói rằng hai tai nạn công nghiệp liên tiếp không chỉ gây ra thiệt hại cho các nhà nuôi trồng thủy sản ở gần nhà máy NC số 6 mà còn gây thiệt hại lớn lao cho môi trường, vượt quá quyền hạn của chính quyền địa phương.[v]
Ngày 29/7, bà Tô Trị Phần (huyện trưởng Vân Lâm) đã đích thân tham gia một cuộc biểu tình phản đối tại Đài Bắc. Cùng với các cư dân địa phương và các chính trị gia, bà quỳ gối trước trụ sở của Viện Hành pháp (tức Chính phủ Đài Loan) để bày tỏ sự phản đối các chính sách của chính quyền trung ương trong lĩnh vực công nghiệp và bảo vệ môi trường. Hành động này đã kích thích sự quan tâm và tranh luận rộng rãi trên toàn quốc. Ngày hôm sau (30/7) Thủ tướng Ngô Đôn Nghĩa (Wu Den-yih 吳敦義) sau khi đích thân đến thị sát tại nhà máy, đã tuyên bố nhà máy bị cháy nổ phải lập tức đóng cửa và chỉ được phép mở lại sau khi chính quyền trung ương đã kiểm tra mức độ an toàn.[vi]
Cơ quan quản lý môi trường của Đài Loan – Cục Bảo vệ Môi trường (Environmental Protection Administration, EPA) đã quyết định phạt Formosa 1 triệu Đài tệ ($NT), tương đương 31.000 đô-la Mỹ (31,000 $US), mức phạt cao nhất theo quy định của luật pháp. Đây là một mức phạt “quá nhẹ” dưới con mắt của các nhà đấu tranh bảo vệ môi trường. Họ cho rằng EPA thực ra chỉ là một cơ quan “đóng dấu” (rubber stamp) thừa hành lệnh của cơ quan hành pháp trung ương – vốn luôn chủ trương “ủng hộ phát triển công nghiệp mà xem nhẹ vấn đề bảo vệ môi trường”.
Ngày 17/8/2010, sau khi các cuộc thương thảo về tiền bồi thường giữa cư dân địa phương và tập đoàn Formosa không đạt được thỏa thuận, hàng ngàn cư dân đã tức giận, kéo nhau chặn tất cả ba con đường chính dẫn đến tổ hợp hóa dầu của Formosa tại Mạch Liêu. Sử dụng còi và loa phóng thanh, đám đông giận dữ đã vây hãm tổ hợp, đòi hỏi tập đoàn phải trả cho cư dân 1,8 tỷ Đài tệ (NT$ 1.8 billion) – tương đương 53 triệu đô-la Mỹ, vì đã làm ô nhiễm khu vực và gây nguy hại đến sức khỏe của họ. Họ cũng yêu cầu công ty hứa di chuyển nhà máy đi chỗ khác trong thập niên này. Gần 1000 cảnh sát và ít nhất ba công tố viên đã được gửi đến hiện trường trong một nỗ lực để giải tỏa đường cho các nhân viên công ty và ngăn ngừa các hoạt động bất hợp pháp. Đã có đụng độ nhẹ giữa hai bên mặc dù không có thương vong. Cảnh sát đã ra lệnh bắt 7 người lãnh đạo cuộc biểu tình, nhưng sau khi thẩm vấn đã phóng thích họ mà không buộc tội hoặc yêu cầu đóng tiền bảo lãnh.
Về phía tập đoàn, đại diện của Formosa nói không thế chấp nhận đòi hỏi của những người biểu tình, và công ty sẽ cung cấp không hơn 500 triệu Đài tệ ($NT) tiền bồi thường. (“Mailiao protestors block access to FPG plant”, Taipei Times Aug 18, 2010).
Vì chưa nguôi cơn giận, sáng hôm sau (18/8), dưới sự lãnh đạo của một “hội tự-cứu”[vii]tại địa phương, những người biểu tình đã ngăn chận một con đường vào khu tổ hợp công nghiệp, gây ra ách tắc trên một quãng đường dài 3km. Cảnh sát đã phải tạo thành một “bức tường người” để mở đường cho khu công nghiệp hóa dầu hoạt động. (“Residents block access to FPG plant for a second day”, Taipei Times Aug 19, 2010).
Theo tài liệu của Yi-En Tso, mãi đến ngày 2/9/2010, các cuộc thương thảo về bồi thường mới đạt được thỏa thuận. Về phía Formosa, tập đoàn đồng ý kiểm tra sức khỏe miễn phí thông qua Bệnh viện Chang Gung – một bệnh viện tư thuộc quyền sở hữu của tập đoàn. Ngoài ra, tập đoàn sẽ trả tiền bồi thường 250 triệu Đài tệ trong năm đầu tiên, và kể từ năm thứ hai mọi cư dân tại Mạch Liêu sẽ được nhận tiền bồi thường hàng năm 7.200 Đài tệ (7,200 NT$).
(Còn tiếp)
_____
[i] Trong sách báo tiếng Anh hiện nay, tên bà Tô Trị Phần được phiên âm là Su Chih-fen, hoặc Su Chih-feng. Tôi dựa vào cách ghi trên chính trang Facebook của bà.
[ii] Hannah Pakula, The Last Empress: Madame Chiang Kai-shek and the Birth of Modern China, Simon and Schuster, 2009, p. 625. Về việc ông Tô Đông Khải có bị hành quyết hay không, Pakula nói “có lẽ” đã bị hành quyết, có tác giả khẳng định “đã hành quyết một năm sau đó”, nhưng lại có tác giả cho rằng đã chuyển thành án tù chung thân.
[iii] Linda Arigo, “Social Origins of Taiwan’s Democratic Movement”, 1981:
[iv] Tương tự là trường hợp của Trần Minh Văn, huyện trưởng huyện Gia Nghĩa (2001-2009). Ông cũng được Tòa án tha bổng. Hiện nay, ông là nghị sĩ của Viện Lập pháp khóa 9, và được coi là một nhân vật lãnh đạo sáng giá của Đảng Dân Tiến.
[v] “Cai Ying-wen Consoled Southern Aquaculture Farmers suffered from the Sixth Naphtha Cracker Plant Fire”, 2010-07-28:
[vi] Yi-En Tso, David A. McEntire, “Emergency Management in Taiwan: Learning from Past and Current Experiences”, In David McEntire (Ed.)Comparative Emergency Management: Understanding Disaster Policies, Organizations, and Initiatives from Around the World, FEMA, DHS, 2011.
[vii] Hội tự cứu (self-help association) là một hình thức của nhóm lợi ích (interest group) tại Đài Loan. Từ thập niên 1980, nông dân thường tập hợp trong các hội tự cứu để hợp sức đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân và gia đình họ.
|
Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016
Bà nghị sĩ và Tập đoàn Formosa
LƯU QUANG VŨ VÀ CÁI NHÌN CUỘC CHIẾN
Phạm Xuân Nguyên
Những câu thơ âm thầm
Muốn nói hết sự thực
Về đất nước của mình(L. Q. V)
Muốn nói hết sự thực
Về đất nước của mình(L. Q. V)
Thơ phản kháng mà mềm như khóc
(Lê Xuân Đố)
(Lê Xuân Đố)

Anh sinh năm 1948, và như mọi thanh niên thế hệ mình, anh nhập ngũ ở độ tuổi hai mươi, khi đất nước có chiến tranh. Thời Vũ nhập ngũ là giữa những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.
Thời đoạn 1968 – 1972 ở Việt Nam là gì? Là chiến tranh. Chiến tranh ở hồi bi kịch nhất và bi tráng nhất. Nhưng Vũ, như các chàng trai cùng thời, khi mới nhập ngũ là vào bộ đội – trường học lớn của cách mạng, là đi đánh Mỹ, là tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của anh khi mới khoác bộ quân phục màu xanh lên mình là mang chở nhận thức và tình cảm chung của thời cuộc hồi đầu.
Thời đoạn 1968 – 1972 ở Việt Nam là gì? Là chiến tranh. Chiến tranh ở hồi bi kịch nhất và bi tráng nhất. Nhưng Vũ, như các chàng trai cùng thời, khi mới nhập ngũ là vào bộ đội – trường học lớn của cách mạng, là đi đánh Mỹ, là tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của anh khi mới khoác bộ quân phục màu xanh lên mình là mang chở nhận thức và tình cảm chung của thời cuộc hồi đầu.
Công sự pháo
Phủ đầy ngụy trang xanh
Trong những chùm cây dại
Có vài cành bưởi cành chanh
Phủ đầy ngụy trang xanh
Trong những chùm cây dại
Có vài cành bưởi cành chanh
Cả quê nhà
Cùng ta chiến đấu
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo
Bồi hồi nghe hưởng bưởi lá chanh
Cùng ta chiến đấu
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo
Bồi hồi nghe hưởng bưởi lá chanh
(Lá bưởi lá chanh, 1965)
Cám ơn thời gian cám ơn hôm nay
Người chiến đấu mang nụ cười đẹp nhất
Ngày ấy ta chưa thấy hết tầm đất nước
Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta
Anh chưa biết yêu em như bây giờ
Người chiến đấu mang nụ cười đẹp nhất
Ngày ấy ta chưa thấy hết tầm đất nước
Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta
Anh chưa biết yêu em như bây giờ
(Ngày ấy…, 1967)
Thơ Tố Hữu ngày ấy từng viết: “Hoan hô anh giải phóng quân! Kính chào anh con người đẹp nhất!”.
Thời cuộc hồi sau khắc nghiệt hơn, tàn nhẫn hơn. Giai đoạn “vào bộ đội” chuyển nhanh sang giai đoạn “đi lính”. Người lính Lưu Quang Vũ trải đời quân ngũ và cuộc chiến đã thấy ra “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều / Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”. Không phải từ những bi kịch đời riêng của Vũ mà anh có cái nhìn sẽ bị coi là “u ám, đen tối” như vậy về đất nước, nhân dân. Đọc hết thơ anh thì thấy có một cái gì đấy từ thẳm sâu trong anh đã khiến anh sớm và nhanh nhìn cuộc đời ở phía “viển vông, cay đắng, u buồn”. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, một người bạn cùng thời Vũ, trong một bài viết có nhắc lại câu thơ như đã thất lạc của Vũ: “tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài”. Cuộc chiến với sự chết chóc đổ vỡ của nó chỉ mài sắc và đào sâu thêm nhiều nữa, mạnh nữa cảm quan ấy trong anh và của anh. Từ đây, với Vũ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã là cuộc chiến tranh Việt Nam mà đối tượng bị tàn phá là đất nước Việt Nam và nạn nhân là con người Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã đi lính và đã bỏ lính. Tôi không muốn nghĩ đó là một hành động đảo ngũ đơn giản. Tôi nghĩ đó là một thái độ phản chiến từ trong tâm thức. Đọc thơ anh thấy khẳng định điều này. Những bài thơ lạc thời cuộc chiến được viết ra để bày tỏ một cách nhìn, một thái độ, biết là không thể đăng được nhưng không thể nào không viết ra, chúng tập hợp thành một di cảo để khi đưa ra dưới ánh mặt trời phát lộ một điều là Lưu Quang Vũ đã thay đổi nhận thức và tình cảm của mình khi đi qua cuộc chiến. Đất nước nhân dân trở thành cảm hứng lớn của thơ Lưu Quang Vũ thời chiến, được anh trình bày dưới cái nhìn thời chiến đầy khắc khoải đau đớn, tuyệt vọng và bi quan. Điều quan trọng đáng nói ở đây là anh viết những điều đó ngay khi đang trong cuộc chiến, và ngay ở tuổi đời rất trẻ.
Anh gọi những người trẻ nối nhau ra trận là “những đứa trẻ buồn ướt lạnh”. Họ đi với tâm trạng “lòng chỉ muốn yêu thương / mà cứ phải suốt đời căm giận”, cho nên “giết xong quân giặc / chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm / chỉ nỗi buồn trĩu nặng / dâng lên như đá trên mồ”. Và trong mắt những đứa trẻ buồn cầm vũ khí giết người ấy kẻ thù hiện ra thế này:
Thời cuộc hồi sau khắc nghiệt hơn, tàn nhẫn hơn. Giai đoạn “vào bộ đội” chuyển nhanh sang giai đoạn “đi lính”. Người lính Lưu Quang Vũ trải đời quân ngũ và cuộc chiến đã thấy ra “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều / Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”. Không phải từ những bi kịch đời riêng của Vũ mà anh có cái nhìn sẽ bị coi là “u ám, đen tối” như vậy về đất nước, nhân dân. Đọc hết thơ anh thì thấy có một cái gì đấy từ thẳm sâu trong anh đã khiến anh sớm và nhanh nhìn cuộc đời ở phía “viển vông, cay đắng, u buồn”. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, một người bạn cùng thời Vũ, trong một bài viết có nhắc lại câu thơ như đã thất lạc của Vũ: “tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài”. Cuộc chiến với sự chết chóc đổ vỡ của nó chỉ mài sắc và đào sâu thêm nhiều nữa, mạnh nữa cảm quan ấy trong anh và của anh. Từ đây, với Vũ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã là cuộc chiến tranh Việt Nam mà đối tượng bị tàn phá là đất nước Việt Nam và nạn nhân là con người Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã đi lính và đã bỏ lính. Tôi không muốn nghĩ đó là một hành động đảo ngũ đơn giản. Tôi nghĩ đó là một thái độ phản chiến từ trong tâm thức. Đọc thơ anh thấy khẳng định điều này. Những bài thơ lạc thời cuộc chiến được viết ra để bày tỏ một cách nhìn, một thái độ, biết là không thể đăng được nhưng không thể nào không viết ra, chúng tập hợp thành một di cảo để khi đưa ra dưới ánh mặt trời phát lộ một điều là Lưu Quang Vũ đã thay đổi nhận thức và tình cảm của mình khi đi qua cuộc chiến. Đất nước nhân dân trở thành cảm hứng lớn của thơ Lưu Quang Vũ thời chiến, được anh trình bày dưới cái nhìn thời chiến đầy khắc khoải đau đớn, tuyệt vọng và bi quan. Điều quan trọng đáng nói ở đây là anh viết những điều đó ngay khi đang trong cuộc chiến, và ngay ở tuổi đời rất trẻ.
Anh gọi những người trẻ nối nhau ra trận là “những đứa trẻ buồn ướt lạnh”. Họ đi với tâm trạng “lòng chỉ muốn yêu thương / mà cứ phải suốt đời căm giận”, cho nên “giết xong quân giặc / chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm / chỉ nỗi buồn trĩu nặng / dâng lên như đá trên mồ”. Và trong mắt những đứa trẻ buồn cầm vũ khí giết người ấy kẻ thù hiện ra thế này:
xác ngụy nằm ruồi muỗi bâu đầy
những đôi mắt bệch màu hoa dại
những gương mặt trẻ măng xanh tái
những bàn tay đen đủi chai dầy
các anh ơi, đừng trách chúng tôi
các bà mạ, tha thứ cho chúng tôi
chúng tôi chẳng thể làm khác được
quả đồi cháy như một phần quả đất
bao đời người ta đã giết nhau
với các anh tôi oán hận gì đâu
nhưng còn có cách nào khác được
những đôi mắt bệch màu hoa dại
những gương mặt trẻ măng xanh tái
những bàn tay đen đủi chai dầy
các anh ơi, đừng trách chúng tôi
các bà mạ, tha thứ cho chúng tôi
chúng tôi chẳng thể làm khác được
quả đồi cháy như một phần quả đất
bao đời người ta đã giết nhau
với các anh tôi oán hận gì đâu
nhưng còn có cách nào khác được
Đó chính là nỗi buồn có thực đau buốt ngực Vũ. Và dù anh có nói theo truyền thông thời cuộc là phải bắn giết nhau thế để “con người được làm con người trở lại” thì thực chất anh đã hiểu khác: “nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy / những tháng năm đã mất / những nhịp cầu gẫy gục / những toa tàu đã sụp đổ tan hoang”. Sau đổ máu, tất cả đã nhuốm máu.
Cùng thời gian Lưu Quang Vũ viết những câu thơ để trong sổ tay này, ở bên kia chiến tuyến có một người lính và một nhà thơ là Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, trong đó có những câu thơ đồng vọng tâm tưởng với Vũ: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi”. Cũng cùng thời gian này, Tố Hữu có tập thơ “Ra trận”: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận / Có Đảng ta đây, có Bác Hồ”.
Từ Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam 1973 đến kết thúc chiến tranh Việt Nam 1975, thơ Lưu Quang Vũ vừa trần trụi hiện thực vừa mong manh dự cảm. “Hòa bình đến mong manh / Nhiều tin đồn mà chẳng có gì ăn”. Trong một bài thơ viết năm 1973 nhan đề “Nơi tận cùng”, Vũ viết:
Cùng thời gian Lưu Quang Vũ viết những câu thơ để trong sổ tay này, ở bên kia chiến tuyến có một người lính và một nhà thơ là Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, trong đó có những câu thơ đồng vọng tâm tưởng với Vũ: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi”. Cũng cùng thời gian này, Tố Hữu có tập thơ “Ra trận”: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận / Có Đảng ta đây, có Bác Hồ”.
Từ Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam 1973 đến kết thúc chiến tranh Việt Nam 1975, thơ Lưu Quang Vũ vừa trần trụi hiện thực vừa mong manh dự cảm. “Hòa bình đến mong manh / Nhiều tin đồn mà chẳng có gì ăn”. Trong một bài thơ viết năm 1973 nhan đề “Nơi tận cùng”, Vũ viết:
Nơi tận cùng mọi con đường
Một chiếc mũ rách
Úp trên nấm mồ sỏi cát
Nơi tận cùng mọi con đường
Pho tượng đá cụt đầu đứng sững
Nơi tận cùng hoàng hôn
Trên vỏ chai trống rỗng
Một chiếc mũ rách
Úp trên nấm mồ sỏi cát
Nơi tận cùng mọi con đường
Pho tượng đá cụt đầu đứng sững
Nơi tận cùng hoàng hôn
Trên vỏ chai trống rỗng
Trước đó, Vũ đã lập hồ sơ mùa hạ 1972, đã dựng một Guernica bằng thơ về Khâm Thiên dưới bom B52. Cái năm 1972 kinh hoàng, một mùa hè đỏ lửa. Bản hồ sơ ngày đó của anh đến hôm nay vẫn còn là một tài liệu lịch sử của tư tưởng và tâm hồn, không chỉ của một con người, một nhà thơ, mà còn của một thời đại, một giống nòi.
những siêu nhân vĩ đại
những tư tưởng lớn lao nghe đến kinh người
những thần tượng tiêu vong những đứa trẻ ra đời
bóng tối nắm tay nhau, tình yêu chưa hợp lại
thế giới lo âu đầy xấu xa phản bội
ngày càng ít những điều đáng để ta tôn trọng
nền văn minh lạ lùng của những trái bom
những đám mây gây mưa những mìn nổ từ trường
dân tộc mấy mươi năm giết và bị giết
mỗi phút sống của tôi đều có người đang chết
những tư tưởng lớn lao nghe đến kinh người
những thần tượng tiêu vong những đứa trẻ ra đời
bóng tối nắm tay nhau, tình yêu chưa hợp lại
thế giới lo âu đầy xấu xa phản bội
ngày càng ít những điều đáng để ta tôn trọng
nền văn minh lạ lùng của những trái bom
những đám mây gây mưa những mìn nổ từ trường
dân tộc mấy mươi năm giết và bị giết
mỗi phút sống của tôi đều có người đang chết
Anh sẽ nói lại những điều này trong phiên tòa anh muốn lập ra để xét xử những kẻ đã gây ra thảm họa Khâm Thiên 1972.
những kẻ nào đã gây ra tội ác
những kẻ nào để tội ác gây ra
những chính khách những nhà thơ
những bộ óc chế súng bom hủy diệt
các tư tưởng cầm quyền các nước
lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời
các ông kêu: vì hạnh phúc con người
nay con người chết đi
cái phúc ấy ai dùng được nữa!
chục chiếc B-52
không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ
không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì
bắt máu vạn dân lành phải đổ
những kẻ nào để tội ác gây ra
những chính khách những nhà thơ
những bộ óc chế súng bom hủy diệt
các tư tưởng cầm quyền các nước
lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời
các ông kêu: vì hạnh phúc con người
nay con người chết đi
cái phúc ấy ai dùng được nữa!
chục chiếc B-52
không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ
không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì
bắt máu vạn dân lành phải đổ
Tôi trích thơ nhiều. Nhưng không có gì hùng hồn và thuyết phục hơn những câu thơ Lưu Quang Vũ tự nói lên những suy tư nhà thơ đã nung nấu dằn vặt từ trong cuộc chiến, nói lên ở thời tuổi trẻ không còn là trẻ nữa khi đã cầm khẩu súng lên tay và bóp cò.
Tất cả nỗi đau đớn của anh cho dân tộc dồn lại trong hai tiếng gọi tên đất nước: Việt Nam! Âm hưởng tiếng gọi này trong thơ Vũ không phải ngợi ca mà là xót xa. Có phải câu thơ anh kết bài thơ “Tiếng Việt” nguyên là “Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình” chứ không phải “thiết tha tình”? Tố Hữu ngợi ca: “Ôi Việt Nam tổ quốc thương yêu / Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều”. Chế Lan Viên ngợi ca: “Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại / Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”. Lưu Quang Vũ thì xót xa: “Nước Việt thân yêu nước Việt của ta / sao người phải chịu nhiều đau đớn thế / thân quằn quại mọi tai ương rách xé”. Anh kêu lên “Việt Nam ơi” với cõi lòng rách nát khi thấy tổ quốc mình bị trở thành miếng mồi cho các thế lực xâu xé, băm vằm. “Tất cả sẽ ra sao / Mảnh đất nghèo máu ứa? / Người sẽ đi đến đâu / Hả Việt Nam khốn khổ? / Đến bao giờ bông lúa / Là tình yêu của Người?”. Những câu hỏi của anh không chỉ đặt ra trong cuộc chiến, khi chúng được đọc hôm nay. Bởi từ tháng 5. 1975 Lưu Quang Vũ đã tỉnh táo, rất tỉnh táo, giữa cơn nồng nàn cảm xúc chứng kiến cuộc chiến cuối cùng cũng đã chấm dứt, dự báo công việc thời hậu chiến: “Sắp tới là những ngày khó nhất”. Khó, vì sau đổ vỡ phải dựng xây, sau ngăn cách phải hàn gắn, và nhất là sau máu đổ không được để nhạt máu, “máu con người không phải thứ bán mua”.
Lưu Quang Vũ nhìn cuộc chiến như vậy là với tất cả tinh thần công dân và thi sĩ. Người công dân trong anh không cho anh lảng tránh sự thật đau thương của đất nước mình. Người thi sĩ trong anh không cho anh viết những câu thơ nhàn nhạt, dửng dưng trước nỗi đau của nhân dân mình. Thơ Vũ nồng nàn, có lúc là nồng nã, nhưng ở những bài thơ viết trực diện cuộc chiến giọng thơ anh đã nhiều khi nấc lên, uất nghẹn và uất hận. Anh có một tâm hồn nhạy cảm và dễ tổn thương, “anh muốn ác mà không sao ác được / cứ yêu thương chờ đợi ích gì không?”. Trong cuộc chiến, hơn một lần, anh thú nhận trong thơ mình bất lực không cách gì che chở, cứu đỡ được cho đất nước, nhân dân trước cơn đổ máu không biết để làm gì. Nhưng anh xác nhận tư cách nhà thơ của mình là người đập cửa, người đi mở những cánh cửa, cho con người đến với/đến bên con người, không hận thù chia cắt.
Người nổi gió. Người đập cửa. Người mở cửa. Đó chính là Lưu Quang Vũ. Sứ mệnh của nhà thơ anh đã xác định cho mình từ những ngày chiến tranh:
Tất cả nỗi đau đớn của anh cho dân tộc dồn lại trong hai tiếng gọi tên đất nước: Việt Nam! Âm hưởng tiếng gọi này trong thơ Vũ không phải ngợi ca mà là xót xa. Có phải câu thơ anh kết bài thơ “Tiếng Việt” nguyên là “Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình” chứ không phải “thiết tha tình”? Tố Hữu ngợi ca: “Ôi Việt Nam tổ quốc thương yêu / Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều”. Chế Lan Viên ngợi ca: “Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại / Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”. Lưu Quang Vũ thì xót xa: “Nước Việt thân yêu nước Việt của ta / sao người phải chịu nhiều đau đớn thế / thân quằn quại mọi tai ương rách xé”. Anh kêu lên “Việt Nam ơi” với cõi lòng rách nát khi thấy tổ quốc mình bị trở thành miếng mồi cho các thế lực xâu xé, băm vằm. “Tất cả sẽ ra sao / Mảnh đất nghèo máu ứa? / Người sẽ đi đến đâu / Hả Việt Nam khốn khổ? / Đến bao giờ bông lúa / Là tình yêu của Người?”. Những câu hỏi của anh không chỉ đặt ra trong cuộc chiến, khi chúng được đọc hôm nay. Bởi từ tháng 5. 1975 Lưu Quang Vũ đã tỉnh táo, rất tỉnh táo, giữa cơn nồng nàn cảm xúc chứng kiến cuộc chiến cuối cùng cũng đã chấm dứt, dự báo công việc thời hậu chiến: “Sắp tới là những ngày khó nhất”. Khó, vì sau đổ vỡ phải dựng xây, sau ngăn cách phải hàn gắn, và nhất là sau máu đổ không được để nhạt máu, “máu con người không phải thứ bán mua”.
Lưu Quang Vũ nhìn cuộc chiến như vậy là với tất cả tinh thần công dân và thi sĩ. Người công dân trong anh không cho anh lảng tránh sự thật đau thương của đất nước mình. Người thi sĩ trong anh không cho anh viết những câu thơ nhàn nhạt, dửng dưng trước nỗi đau của nhân dân mình. Thơ Vũ nồng nàn, có lúc là nồng nã, nhưng ở những bài thơ viết trực diện cuộc chiến giọng thơ anh đã nhiều khi nấc lên, uất nghẹn và uất hận. Anh có một tâm hồn nhạy cảm và dễ tổn thương, “anh muốn ác mà không sao ác được / cứ yêu thương chờ đợi ích gì không?”. Trong cuộc chiến, hơn một lần, anh thú nhận trong thơ mình bất lực không cách gì che chở, cứu đỡ được cho đất nước, nhân dân trước cơn đổ máu không biết để làm gì. Nhưng anh xác nhận tư cách nhà thơ của mình là người đập cửa, người đi mở những cánh cửa, cho con người đến với/đến bên con người, không hận thù chia cắt.
Người nổi gió. Người đập cửa. Người mở cửa. Đó chính là Lưu Quang Vũ. Sứ mệnh của nhà thơ anh đã xác định cho mình từ những ngày chiến tranh:
anh hãy đập vào ngực mình giục giã
hãy nổi gió cho cánh người rộng mở
và mai sau, sẽ có những nhà thơ
đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ
họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa
không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ
bởi vô biên là khát vọng của con người
hãy nổi gió cho cánh người rộng mở
và mai sau, sẽ có những nhà thơ
đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ
họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa
không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ
bởi vô biên là khát vọng của con người
Hai mươi năm sau ngày anh mất ở tuổi bốn mươi, đọc những bài thơ anh viết tuổi hai mươi thấm đầy máu và lửa, tôi gọi Lưu Quang Vũ là nhà thơ nhân dân, nhà thơ yêu nước. Danh hiệu này không dễ gọi cho nhiều nhà thơ.
Hà Nội 15. 8. 2008
Biển Đông 2016 : Nhắc lại việc "Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ khởi kiện TQ"Giao
Giao blog:
Bẵng cái đã hơn 2 năm (tính từ tháng 5/2014).
Mà hình như Việt Nam vẫn đang trong tư thế "chuẩn bị sẵn sàng".
Tư liệu báo chí, từ các nguồn.
---
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Mà hình như Việt Nam vẫn đang trong tư thế "chuẩn bị sẵn sàng".
Tư liệu báo chí, từ các nguồn.
---
TTO - Sáng 24-5, bên hàng lang Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã có cuộc trao đổi với báo chí về tình hình căng thẳng hiện nay ở biển Đông.
Không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông, lệ thuộcPhilippines khẳng định tiếp tục vụ kiện Trung QuốcViệt Nam không dùng biện pháp quân sự, trừ khi phải tự vệ
| “Tôi nghĩ rằng đến lúc Trung Quốc cần có thay đổi trong phân tích tình hình, thế giới sẽ nghĩ như thế nào về một đất nước ứng xử như vậy? Chính Trung Quốc phải suy nghĩ, đừng tự mình làm cho thế giới cô lập”. - Ông Nguyễn Hạnh Phúc - Ảnh: Việt Dũng |
Ông Nguyễn Hạnh Phúc nói:
Như chúng ta đã biết là ngay từ ngày đầu, giờ đầu của kỳ họp lần này, trong phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nêu rõ tình hình ở Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường do các hành động sai trái của phía Trung Quốc.
Quốc hội cũng đã bố trí thời gian để nghe báo cáo của Chính phủ về tình hình, về chủ trương, giải pháp. Sau đó Quốc hội tiến hành thảo luận ở các Đoàn về tình hình hiện nay ở biển Đông và các giải pháp, trên cơ sở đó Quốc hội ra thông cáo lập trường 4 điểm đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chủ trương và giải pháp của Việt Nam.
Đến nay, chúng ta tiếp tục kiên quyết phản đối việc làm sai trái của Trung Quốc, tiếp tục dùng biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế để đấu tranh với Trung Quốc, với tinh thần kiên quyết nhưng cũng hết sức bình tĩnh tuỳ theo mức độ tình hình.
Chúng ta cũng bày tỏ cảm ơn đối với nghị viện, nghị sĩ các nước đã lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, phản đối hành động sai trái của Trung Quốc.
* Để tiếp tục nhận được sự ủng hộ của nghị viện và nghị sĩ các nước trong, Quốc hội có tính đến việc ra văn bản chính thức đưa quan điểm của Quốc hội Việt Nam đến nghị viện các nước?
- Thông cáo của Quốc hội cũng đã bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức, cá nhân, dư luận quốc tế đã đồng tình, ủng hộ Việt Nam.
Chúng ta mong muốn nghị sĩ các nước vì công lý, vì hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới ủng hộ lập trường của Việt Nam và phê phán hành động sai trái của Trung Quốc, có tiếng nói đề nghị Trung Quốc rút ngay giàn khoan Hải Dương 981 và các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển Việt Nam.
* Đã đến lúc chúng ta cần có thêm giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để tăng thêm trọng lượng?
- Chủ trương của của chúng ta là sử dụng các giải pháp hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta đang củng cố hồ sơ làm cơ sở khởi kiện các nội dung có liên quan ra toà án quốc tế, nếu Trung Quốc không có động thái rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam thì ta phải có hành động.
* Như vậy là biện pháp pháp lý đưa ra toà án quốc tế cũng được tính đến?
- Chính phủ đang chuẩn bị các hồ sơ chứng lý để sẵn sàng.
* Cá nhân ông tin tưởng chúng ta sẽ thắng lợi khi sử dụng biện pháp pháp lý?
- Tôi tin vào chính nghĩa của Việt Nam, tin tưởng chúng ta có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý.
* Có thông tin là sẽ có một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang làm việc với phía Trung Quốc?
- Không có thông tin về việc này. Lúc này Quốc hội chúng ta đang tiến hành kỳ họp.
* Thưa ông, trong thảo luận ở các Đoàn đại biểu Quốc hội về tình hình hiện nay ở biển Đông, có nhiều ý kiến đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề này không?
- Việc có nghị quyết hay tuyên bố thì tùy theo tình hình, mức độ. Chúng ta phát huy truyền thống của cha ông trong dựng nước và giữ nước là hết sức kiên quyết bảo vệ chủ quyền và cũng phải khôn khéo.
* Đã có những vị đại biểu Quốc hội đề nghị củng cố thêm tiềm lực quốc phòng?
- Không chỉ lúc này mà thời nào cũng vậy, chúng ta yêu chuộng hoà bình, muốn có hoà bình, ổn định để phát triển đất nước, nhưng khi hoà bình và an ninh bị đe doạ thì chúng ta phải sẵn sàng để tự vệ.
* Mọi sự chịu đựng đều có giới hạn và chúng ra kiên nhẫn đến bao giờ?
- Nếu vì hòa bình, vì độc lập thì phải kiên nhẫn.
* Ông có bình luận gì về phát biểu của Thủ tướng Chính phủ với báo chí quốc tế là không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông?
- Chúng tôi rất đồng tình, phát biểu của Thủ tướng thể hiện quan điểm, lập trường của người đứng đầu Chính phủ. Chúng ta cần nói với thế giới rằng Việt Nam yêu chuộng hoà bình, nhưng chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, chúng ta đã, đang và sẽ có các giải pháp theo đường lối hoà bình và tự vệ.
* Trong chuyến thăm làm việc tại Philippines, Thủ tướng Chính phủ đã có cuộc hội kiến với lãnh đạo Quốc hội nước này, trong đó ông Chủ tịch Hạ viện Philippines cho biết ủng hộ lập trường của Việt Nam và ngay các nghị sĩ gốc Hoa tại Hạ viện Philippines cũng bày tỏ sự phẫn nộ về hành động này của Trung Quốc. Ông có bình luận gì về điều này?
- Như tôi đã nói ở trên là chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức, cá nhân, dư luận quốc tế đã đồng tình, ủng hộ Việt Nam.
Chúng ta yêu chuộng hoà bình, mong muốn có quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam. Tôi cũng nghĩ rằng bà con người Hoa ở Việt Nam là công dân Việt Nam, và ủng hộ chính nghĩa của Việt Nam.
Ngay với những công nhân Trung Quốc sang làm việc ở Việt Nam, nhiều người bày tỏ muốn ở lại Việt Nam để tiếp tục lao động sản xuất.
------------------------------------
Công nghệ công ty làm cá chết ở đầu nguồn sông Đà nhập từ Trung Quốc
Người đưa tin
09.07.2016 | 08:15 AM
Sự việc cá chết hàng loạt tại hai con suối đầu nguồn chảy ra sông Đà được xác định từ Công ty khai thác quặng đồng An Phú có công nghệ nhập từ phía Trung Quốc...
Sự việc cá chết hàng loạt tại hai con suối đầu nguồn chảy ra sông Đà là suối Nhẹm và suối Màn dài hàng gần chục km xảy ra ngày 3/7 và kéo dài đến ngày 4/7 tại huyện Cao Phong, Hòa Bình. Qua kiểm tra từ phía cơ quan chức năng thì phát hiện cá chết bắt nguồn từ gần nguồn nước chảy ra ở rãnh nước của Công ty cổ phần khai thác khoáng sản đồng An Phú (Công ty An Phú) đổ ra suối. Hiện tại công ty này cũng đã ngừng sản xuất để khắc phục, và chờ ý kiến xử lý từ phía các cơ quan chức năng của tỉnh Hòa Bình.
Trao đổi với phóng viên báo Người đưa tin, ông Bùi Ngọc Hòa – Chủ tịch xã Yên Lập cho biết: Công ty này được xây dựng từ đầu năm 2014 và vừa đi vào hoạt động từ tháng 2/2016. Trước kia công ty cũng xin xây dựng trên địa phận xã Yên Lập nhưng người dân và chính quyền đã không chấp thuận vì nghe nói công ty xây dựng theo công nghệ của Trung Quốc.
Sau đó công ty được chuyển lên phía địa phận xã Yên Thượng. Khi xảy ra sự việc thì chúng tôi đã đi kiểm tra và thấy từ khe nước của công ty An Phú chảy ra có hiện tượng cây cỏ chết khô.
Cây cỏ bị chết khô dọc hai bên khe nước chảy ra từ Công ty An Phú
Để tìm hiểu sự việc chúng tôi đã tìm lên khe cạn, nơi có nước chảy từ công ty An Phú ra suối. Tại thời điểm ngày 7/7, chúng tôi ghi nhận được là cây cỏ dọc hai bên khe nước chảy từ Công ty cổ phần khai thác đồng An Phú ra suối bị chết khô rất nhiều. Nước bốc mùi dầu hỏa nồng nặc.
Nước chảy ra từ Công ty An Phú có mùi dầu hỏa nồng nặc
Trong buổi làm việc với phóng viên, ông Trần Trung Chính – Giám đốc Công ty cổ phần khai thác khoáng sản đồng An Phú cho biết: Công ty được chuyển giao công nghệ từ phía Trung Quốc, được các cơ quan chức năng thẩm định và phê duyệt. Theo công nghệ này thì sẽ không có khu xử lý nước thải vì khai thác và sản xuất đồng tuần hoàn, theo chu trình khép kín. Quặng sau khi khai thác sẽ được bơm a xít sunforich để tách đồng. Nước từ bãi quặng sau khi chảy xuống sẽ vào hai bể chứa bên dưới lại được bơm ngược lại để tiếp tục sản xuất.
Vị giám đốc công ty cũng đã nhận trách nhiệm về nguyên nhân cá chết là do nước chảy từ bãi quặng có chứa hóa chất a xít sunfuric ra bên ngoài. Ông Chính cho biết thêm: Do trong lúc khai thác đổ quặng vào bãi chứa, xe chở quặng đã làm vỡ bờ bao quanh bãi chứa quặng. Sự cố này không được phát hiện và khắc phục ngay nên khi mưa lớn, nước đã tràn ra theo bờ bao bị vỡ mang theo a xít. Công ty cũng đã khắc phục sự cố ngay sau đó.
Ông Trần Trung Chính chỉ chỗ bờ bao chứa quặng bị vỡ khiến nước hóa chất theo mưa tràn ra
Ông Nguyễn Trần Anh, PGĐ Sở TN & MT tỉnh Hòa Bình cho biết: Cơ quan chức năng bước đầu làm rõ “thủ phạm” dẫn đến hiện tượng cá chết là do nước từ quá trình sản xuất trong nhà máy của Công ty cổ phần khoáng sản đồng An Phú (đóng trên địa bàn xã Yên Thượng, huyện Cao Phong) tràn ra suối.
Triệu Nhất – Trọng Huệ
Người Trung Quốc công khai giăng băng rôn “lạ” ở Nha Trang
_____
Viết Hảo
Ngoài tình trạng hướng dẫn viên người Trung Quốc hoạt động thuyết minh trái phép, TP Nha Trang còn phát hiện người Trung Quốc “giăng băng rôn” đủ các màu sắc ở một số điểm đến.
Tại cuộc họp sơ kết du lịch 6 tháng đầu năm 2016, sáng 6/7, ông Trần Sơn Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa đã bày tỏ sự gay gắt với lãnh đạo các ngành du lịch, văn hóa, lao động… liên quan đến các bất cập khi khách Trung Quốc đến Nha Trang – Khánh Hòa. Ông Hải đánh giá, trong 6 tháng đầu năm, tình hình du lịch Nha Trang – Khánh Hòa “phức tạp”, số vụ vi phạm của người nước ngoài nhiều, số tiền xử phạt cũng nhiều hơn trước đây.
Kiên quyết xử lý người Trung Quốc giăng băng rôn
Ông Nguyễn Sỹ Khánh, Phó Chủ tịch UBND TP Nha Trang, cho biết, cách đây chưa lâu đã phát hiện tình trạng người Trung Quốc giăng băng rôn và tụ tập đông người ở công viên bờ biển Nha Trang, chùa Long Sơn để chụp hình. “Người Trung Quốc căng băng rôn đủ màu sắc, màu xanh có, màu đỏ có… và khi phát hiện chúng tôi đã tiến hành thu giữ. Mà nếu thu về rồi, kiểm tra nội dung không tốt thì rất nguy hiểm”, ông Khánh lo ngại.
Do bất đồng ngôn ngữ, ông Khánh đề xuất cần có phiên dịch tiếng Trung cùng đi kiểm tra tình trạng người Trung Quốc giăng băng rôn và có chế tài xử lý mạnh hơn ngoài việc thu giữ.
Trước việc HDV người Trung Quốc hoạt động “chui”, ông Khánh cho rằng để ngăn chặn tình trạng này thì mỗi điểm tham quan cần phải bố trí riêng một đội ngũ HDV tiếng Trung người Việt Nam. “Khi các đoàn đưa khách Trung Quốc đến thì không cho HDV đoàn đó vào mà bắt buộc phải chuyển giao đoàn khách cho HDV người Việt Nam tại đó”, ông Khánh kiến nghị.
Ông Lê Văn Hoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao Khánh Hòa, cho biết, đơn vị quản lý 2 di tích tại TP Nha Trang, gồm tháp bà Ponagar Nha Trang và Danh thắng Hòn Chồng. Hiện nay tại 2 di tích nói trên đã bố trí bảng hiệu nghiêm cấm người nước ngoài làm HDV.
Ông Trần Sơn Hải yêu cầu ông Hoa cần bố trí ngay HDV tiếng Trung người Việt tại 2 điểm đang quản lý để thuyết minh cho các đoàn khách Trung Quốc. “Nó nói gì đó ở trên xe ô tô hay nói ở đâu thì mình không biết nhưng vô tham quan thì phải là HDV của mình dẫn đoàn, thuyết minh. Ở Đà Nẵng thì đã bị cái chuyện này rồi, còn ở mình thì chưa nghe nhưng cũng có thể là nó đã nói rồi nhưng mình chưa biết, mình làm như thế là đề phòng, để tránh câu chuyện nó nói A, B, C… gì đó”, ông Hải nhấn mạnh.
Tại Chùa Long Sơn, ông Hải yêu cầu cử 3-4 HDV tiếng Trung người Việt ứng trực, thuyết minh cho khách Trung Quốc. Ngoài ra, ông Hải yêu cầu xử lý mạnh các trường hợp giăng băng rôn theo luật quảng cáo. Theo đó, nếu băng rôn không có tiếng Việt ở trên, tiếng nước ngoài nhỏ hơn (ở dưới) thì xử phạt.
“Khách Bắc Âu thấy khách Trung Quốc là họ không ở”
Theo bà Phan Thanh Trúc, Phó Giám đốc Sở Du lịch, 6 tháng đầu năm nay Khánh Hòa đón hơn 203.000 lượt khách Trung Quốc, tăng gấp 4,5 lần so với cùng kỳ, trong khi thị trường khách truyền thống Châu Âu giảm 28% so với cùng kỳ năm ngoái, Úc giảm 20%, Mỹ giảm 10%… Trước thực trạng này, ông Hải đã đặt câu hỏi là vì sao khi khách Trung Quốc tăng mạnh thì khách Châu Âu lại ra đi, câu chuyện đó có phải là do khách Trung Quốc gây nên hay không?
Trả lời thắc mắc của ông Hải, ông Lâm Duy Anh Cường, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Nha Trang – Khánh Hòa, cho biết, dưới con mắt của dòng khách truyền thống, các nhà lữ hành châu Âu thì Nha Trang như được mặc định là nơi có đông khách Nga, Trung Quốc nên họ không thiết tha. Theo ông Cường, vào thời điểm khách Nga giảm mạnh vào cuối năm ngoái thì các khách sạn ở Nha Trang bán giá dịch vụ, giá phòng ở mức rất thấp cho giới kinh doanh Trung Quốc. “Tôi cho rằng, cần chấn chỉnh thị trường khách Trung Quốc vì giảm giá quá mức và có sự đồng thuận giữa các khách sạn về một mức giá tối thiểu”, ông Cường nhận định.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Nha Trang – Khánh Hòa, cho rằng, việc các đơn vị kinh doanh lữ hành, khách sạn thiếu kinh nghiệm trong việc “chăm sóc” dòng khách châu Âu cũng là nguyên nhân khiến dòng khách này giảm mạnh. Ngoài ra, việc chưa có kinh nghiệm khi đón một lượng lớn khách Trung Quốc đến Nha Trang – Khánh Hòa đã dẫn đến tình trạng đưa đón khách xô bồ, khách sinh hoạt ồn ào.
Lãnh đạo một Sở ở tỉnh Khánh Hòa tham gia cuộc họp cũng cho rằng, từ lâu nay như ăn vào tiềm thức là khách Bắc Âu khi thấy khách Trung Quốc thì họ không ở, bỏ đi nơi khác. “Nếu các đồng chí đến nơi nào mà có khách Trung Quốc thì thấy họ rất ồn ào, sinh hoạt rất lộn xộn và làm mất đi chất lượng dịch vụ ở nơi họ lưu trú”, lãnh đạo này nhấn mạnh.
____
Mời xem thêm: HDV ở Nha Trang: Người Trung Quốc ngang ngược nói “Việt Nam tách ra từ Trung Quốc” (DT). – Hướng dẫn viên Trung Quốc tung hoành ở VN: Mối họa nhãn tiền (NĐT). – Dẹp “loạn” hướng dẫn viên du lịch người nước ngoài(ND).
|
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)