Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

Hội đồng khoa học hẹn cuối tháng 7 công bố "khi nào biển an toàn"


Ảnh: VNExpress
Hội đồng khoa học quốc gia tìm nguyên nhân cá chết hàng loạt ở miền Trung vừa cho biết đến khoảng cuối tháng 7, họ sẽ công bố kết quả các cuộc khảo sát và đo đạc, để trả lời "khi nào biển an toàn", sau thảm họa ô nhiễm môi trường gây ra do hoạt động xả thải của nhà máy thép của Formosa Hà Tĩnh.
Báo mạng VnExpress hôm nay (6 tháng 7) dẫn lời Tiến Sĩ Vũ Đức Lợi, phó chủ tịch hội đồng, cho biết các nhóm khoa học vẫn đang tiếp tục khảo sát và đo đạc các mặt cắt ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung, gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, để theo dõi sự hấp thụ và biến thiên của các độc tố. Ông Lợi cho biết, để xác định hàm lượng độc tố phenol hay cyanure còn tồn bao nhiêu, phân hủy ra sao và chuyển hóa thành chất gì, các nhà nghiên cứu đã lặn xuống biển để thực hiện khảo sát và lẫy mẫu trầm tích. Cho đến nay nhóm nghiên cứu đã đo đạc 13 mặt cắt của các mẫu vật thu thập từ các vùng biển vào những thời điểm khác nhau.
Tiến Sĩ Lợi cho biết các dữ liệu đang được phân tích trong phòng thí nghiệm và đến khoảng cuối tháng 7, hội đồng sẽ công bố kết quả và đây sẽ là cơ sở để các nhà khoa học và các nhà quản trị xác định "khi nào biển an toàn" cũng như đề ra các phương án phục hồi môi trường biển.
Không rõ các hoạt động khảo sát này bắt đầu từ trước hay sau khi công ty Formosa nhận lỗi gây ra thảm họa ô nhiễm môi trường. 
Huy Lam 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

Vì sao cá vui, cá chết…


Truyện

Ngô Khắc Tài

Ngàn năm trước thầy trò Trang Tử dắt tay ra bờ biển dạo chơi. Trong lúc Trang Tử ngửa đầu lên nhìn bầu trời, nhìn theo đàn chim sẻ đôi cánh nhỏ mong manh mà muốn bằng chim bằng có đôi cánh lớn bay cao nên từng con lần lượt bay lên rồi rớt xuống. Trong lúc thầy nhìn trời, anh học trò lại nhìn xuống mặt biển, lúc này nước xanh ve từng đàn cá tung tăng bay lượn.
- Ơ, cá vui…
Anh kêu lên. Trang Tử đang nhìn chim ngẫm nghĩ sự đời, nghe tiếng học trò quay đầu lại nhìn rồi hỏi:
- Sao con biết cá vui?
Anh học trò lúng túng chẳng trả lời được và cũng không ai trả lời được câu hỏi như câu đố treo trên đầu người lơ lửng suốt ngàn năm…
Cho đến một ngày bờ biển tràn ngập những con cá chết… Cả vùng đất trở nên hôi thúi, dân bỏ ghe thuyền đi biển lên bờ rồi lần lượt ra đi. Lúc này người sực nhớ đến câu nói của thầy Trang: Vì sao con cá vui là tiên tri cho cái ngày - Vì sao cá chết.
Vì sao con cá vui - Vì sao con cá chết.
Vì người không phải là cá. Từ lâu lấy cá làm thức ăn nhưng người lại là kẻ xa lạ đứng ở ngoài sự vật. Thay vì tâm vật là một sự sống đồng nhất thể, người lại đi chia hai.
Chẳng những không là cá, những sự vật có vần a như đá, lá, má, ô bà má… người vẫn đứng ngoài. Thương nhau mà bằng mười phụ nhau.
Không nghe đá kêu “ngàn năm sỏi đá vẫn còn có nhau”. Không thấy từng chiếc lá non mọc ra, mà theo ngẩn ngơ mùa lá rụng trong vườn, không nghe cây nó chê anh đã già. Vì không là má nên tâm hồn người hạn hẹp không như lòng mẹ, con không khóc nhưng mẹ ở xa biết đã tới giờ cho con bú mẹ cũng tất cả chạy về. Tội cho ô bà má từ xa lặn lội đến thăm người, người hờ hững không chào đón, lúc ra về còn theo trách móc.
Vì sao con cá chết. Vì sao con cá chết. Người không trả lời được.
Riêng anh học trò của Trang Tử sau đó chết, ngàn năm sau đầu thai làm gã ăn mày. Anh mang bị gậy thui thủi đi khắp ngả đường, miệng cứ cầu xin.
- Con cá nó sống vì nước… Con sống nhờ vào lòng tốt của ông bà…
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Z30


Bùi Hoàng Tám

12/11/2008

25 năm (1983 - 2008) đã trôi qua kể từ ngày xảy ra sự kiện Z30 bi thảm. Một phần tư thế kỉ không phải thời gian dài song cũng không phải ngắn. Nó là khoảng cách đủ để lùi lại nhìn nhận đánh giá sự việc một cách chân xác khách quan. Trở lại vụ Z30 chúng tôi muốn nhìn lại sự ấu trĩ của một thời chưa xa để càng hiểu thêm giá trị to lớn của đổi mới và cùng nhau rút ra những bài học cho hôm nay và cho cả tương lai. Đây cũng là những thời khắc lịch sử của trước đêm dài đổi mới. Vì vậy cùng với sự dày đặc của màn đêm đã thấy đâu đó xuất hiện những nhân tố mới với lối tư duy mới. Chính những khoảng sáng le lói đó là nền tảng cho công cuộc đổi mới và chính những nhân tố này sau đó trở thành một trong số những hạt nhân quan trọng của công cuộc đổi mới. Và một trong số những người đó là Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An khi đó là Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam Ninh. 

Vào một ngày giữa năm 2006 Chủ tịch Nguyễn Văn An cho gọi tôi đến Văn phòng Quốc hội - 37 Hùng Vương. Việc được gặp ông khiến tôi hồi hộp dù rằng là một nhà báo tôi đã từng gặp khá nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Nhà nước Chính phủ hay Quốc hội. Nhưng với ông An không hiểu sao tôi lại có cái e dè đó. Có lẽ tôi ngại vì ông vốn là người làm công tác tổ chức Đảng lâu năm nói năng luôn nghiêm túc và rất cẩn trọng. Còn tôi cái máu văn nghệ sỹ nửa mùa hay khoa môi múa mép nên sợ có lỡ lời thất thố mà e ngại chăng ? Thế nhưng chỉ sau mấy tiếng gõ nhè nhẹ đã thấy ông hiện ra ngay sau cánh cửa. Nụ cười hào sảng cái nắm tay ấm và chặt của ông đã khiến sự e dè của tôi như bay biến. Câu chuyện bỗng trở nên gần gũi chân tình và nhiều chia sẻ. Nó có gì đó tờ tợ như câu chuyện của một thủ trưởng với một nhân viên cũ lâu ngày gặp lại dù tôi chỉ mới lần đầu được trực tiếp gặp ông nghe ông nói chuyện. Và hôm đó ông đã kể cho tôi khá tường tận về lý do vì sao khi còn làm Bí thư tỉnh uỷ ông đã không đồng ý cho tỉnh Hà Nam Ninh thực hiện Chỉ thị Z30. 

Năm 1982 Nguyễn Văn An khi đó mới 45 tuổi được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và nhận nhiệm vụ Bí thư tỉnh uỷ Hà Nam Ninh. Ngày đó Hà Nam Ninh là một tỉnh rộng gồm các tỉnh Nam Định Hà Nam Ninh Bình sáp nhập lại (giờ thì lại chia ra tỉnh nào về tỉnh đó) nên đất rộng dân số rất đông. Vào thời điểm những năm đầu thập niên tám mươi do chính sách cấm vận của Mỹ cùng với những chính sách kinh tế non kém ấu trĩ sai lầm... đã khiến đời sống nhân dân cả nước vô cùng khó khăn. Ngân sách kiệt quệ. Lạm phát luôn ở mức phi mã không phải hai mà ba con số/năm. Tiếng là thành phố công nghiệp nhưng đa số người dân Nam Định sống dựa vào nghề nông. Nhà máy dệt Nam Định niềm tự hào của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa khi đó máy móc thì cổ lỗ dây chuyền lạc hậu và thiếu nguyên liệu trầm trọng. Hàng ngàn cán bộ công nhân của tất cả các phân xưởng đều nằm trong tình trạng thất nghiệp triền miên. Công nghiệp thì đổ vỡ. Thương mại thì lưu thông trì trệ luôn tạo ra sự độc quyền đặc lợi cho một số người và nạn ngăn sông cấm chợ ở hầu hết các địa phương. Nông nghiệp thì thất bát. Cơ chế hợp tác xã đánh kẻng chấm công trở thành một gánh nặng đè lên vai người nông dân. Năng suất lúa suy giảm ruộng đất bị bỏ hoang. Các chương trình đánh bắt cá ven biển èo uột và thường xuyên thất bại. Sở hữu hàng ngàn km bờ biển nhưng cả nước thiếu từ hạt muối thiếu đi... Đời sống nhân dân đói khổ mấp mé cảnh lầm than. 

Vốn là kỹ sư công nghiệp nhưng với tư duy sắc sảo của mình Nguyễn Văn An hiểu rằng bây giờ không phải là lúc ngồi đó mà vạch ra những ý tưởng viển vông trên mây dưới gió với nhà máy to công trường lớn mà con đường thoát đói nghèo cho mảnh đất này là phải ngay lập tức chỉnh đốn nông nghiệp. Vì vậy nhiều chính sách "cởi trói" cho nông dân đã được tỉnh "vụng trộm" ban hành nên đời sống nhân dân trng tỉnh tuy vẫn còn nhiều khó khăn nhưng đang từng bước được cải thiện. 

Giữa lúc công việc bước đầu có chiều thuận lợi thì một buổi chiều Nguyễn Văn An nhận được công văn từ Công an Thành phố Nam Định gửi sang trình Bí thư Tỉnh uỷ duyệt phương án kiểm tra hành chính và tịch thu tài sản bất minh. Kèm theo đề nghị Tỉnh uỷ đồng ý cho ban hành quyết định tịch thu tài sản là một bản danh sách gồm hơn 200 gia đình nằm trong diện phải thi hành quyết định này. Tiêu chí để lập danh sách là những đối tượng có nhà từ hai tầng trở lên và được xếp thứ tự ABC. Mới nhìn qua bản danh sách Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Văn An đã không khỏi giật mình. Ông tự hỏi: Sao lại có chuyện vô lý thế này? Để có tiền xây căn nhà tránh mưa tránh nắng người dân phải trả bằng biết bao mồ hôi công sức với khoảng thời gian nhiều khi đằng đẵng cả chục năm trời. Thế mà giờ đây lại có lệnh tịch thu tài sản của họ là cớ làm sao? Để kiểm chứng lại những suy nghĩ của mình ông An đã yêu cầu văn phòng lục tài liệu để tìm xem từ trước đến nay có văn bản pháp luật nào quy định về việc này hay không nhưng tuyệt nhiên không thấy có. Ông An gọi điện sang ông giám đốc Công an Thành phố: 

- Tôi dã tìm hiểu rất kỹ và được biết từ trước đến nay Đảng và Chính phủ chưa bao giờ có chỉ thị dạng như thế này. Như vậy nghĩa là Bộ Chính trị không chỉ đạo và Chính phủ cũng không chỉ đạo. Bên các anh lấy văn bản này ở đâu ra vậy? 

- Dạ cái này do cấp trên chỉ đạo ạ - Ông giám đốc Công an Thành phố trả lời. 

- Cấp trên là cấp nào? Cụ thể là ai chứ? Mà sao không đưa ra bàn ở cấp uỷ? 

- Báo cáo anh đây là chỉ thị vào hàng tuyệt mật của Trung ương nên không thể dưa ra bàn ở cấp uỷ được. Vả lại Hà Nội và một số địa phương đã cho triển khai rồi ạ. 

Ngẫm nghĩ một lát ông An nói: 

- Để tôi trực tiếp lên Hà Nội xem xét tình hình và tìm hiểu cụ thể. Từ giờ đến khi tôi về các anh phải "án binh bất động" đợi lệnh của tôi - Ông An chỉ đạo. 

Suốt đêm đó Nguyễn Văn An không tài nào chợp được mắt. Tính đi tính lại nghĩ tới nghĩ lui nhưng ông vẫn không hiểu vì sao lại có cái chỉ thị miệng kỳ quái này. Tờ mờ sáng hôm sau ông An gọi cho lái xe đến đón. Để kiểm chứng cảm xúc của mình trước khi lên đường đi Hà Nội ông yêu cầu lái xe chạy một vòng quanh thành phố Nam Định. Ngắm những dãy nhà lúp xúp chen chúc nhau ở các khu phố Trần Hưng Đạo Hàng Đồng Hàng Thiếc Hàn Thuyên Cổng Hậu... ông không khỏi chạnh lòng. Trưởng thành từ một công nhân điện lăn lộn cùng cơ sở gắn bó với đồng ruộng nhiều năm rồi mới trở thành người lãnh đạo cao nhất của một tỉnh ông quá hiểu sự vất vả gian nan của người dân quê hương ông. Những con người cần kiệm và thông minh nhưng vẫn đang phải sống vật lộn cùng nghèo khổ. Thế mà giờ đây ông đang phải đối mặt với một việc cực kỳ gian nan: Ký lệnh đồng ý để các cơ quan công quyền tịch thu tài sản của họ mà không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để cớ thể khẳng định đó là tài sản bất minh. Ông chợt rùng mình khi nghĩ đến bản danh sách hơn 200 hộ nằm trong diện này rồi sẽ ra sao khi bị tịch thu nhà cửa tài sản. 

Khi chiếc ô tô chở ông đến Hà Nội trời chưa sáng rõ mặt người các công sở cửa còn đóng im ỉm. Lân la các khu phố ông được biết Hà Nội đã triển khai Chỉ thị này từ mấy hôm nay và tình hình rất xấu. Ông còn nghe nói có gia đình cả nhà thắt khăn tang bị tống lên xe kêu khóc ầm ĩ. Khi ông về đến Văn phòng Trung ương cũng là lúc các phòng ban đã bắt đầu làm việc. Ông định vào thẳng Văn phòng Trung ương Đảng để hỏi cho ra nhẽ nhưng lại thôi vì nghĩ mình là cán bộ trẻ mới nhậm chức chưa lâu nên cũng có phần rụt rè e ngại. Đi dò hỏi các phòng ban người thì bảo nên làm người lại bảo không chẳng ai có ý kiến gì khẳng định toàn mập mờ rất khó hiểu. Lang thang tìm hiểu tình hình thấy không kết quả ông cho xe về Nam Định. 

Con đường từ Hà Nội về Nam Định hôm ấy bỗng trở nên dài dằng dặc bởi trong tâm trí Nguyễn Văn An đang rất hoang mang không biết xử trí thế nào cho phải. Nếu không ký quyết định triển khai thì biết đâu lại làm trái ý chỉ đạo của trên mà ký thì không có cơ sở pháp luật. Đã không ít lần ông tự nhủ các nơi đã làm rồi hay là mình cũng triển khai cho xong. Thế nhưng lần nào cũng vậy cứ nghĩ đến đấy là hình ảnh người dân lam lũ lại hiện lên trong tâm trí ông. Đang lúc bối rối một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu Nguyễn Văn An: Gặp ông Thành (Đoàn Duy Thành - Bí thư Thành ủy Hải Phòng) để tham khảo ý kiến. Nếu bên ông Thành triển khai thì sẽ liệu mà nếu ông ấy chưa làm thì mình cũng không nên vội. 

Đối với Đoàn Duy Thành Nguyễn Văn An có tình cảm rất riêng biệt. Tuy cùng là Bí thư cùng Uỷ viên Trung ương Đảng nhưng ông Thành lớn tuổi thuộc thế hệ đàn anh tham gia cách mạng trước lại là người có trình độ nên ông An có phần kính trọng và ngưỡng mộ. Mỗi khi có việc gì hệ trọng ông An thường trao đổi bàn bạc với ông Thành và ngược lại không ít lần gặp vấn đề nan giải hoặc khó đưa ra quyết định ông Thành vẫn thường tham khảo ý kiến của ông An. Nghĩ vậy nên ngay sáng hôm sau khi từ Hà Nội về Nam Định ông An gọi ông Thuật - Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh cùng đi ra Hải Phòng để gặp ông Thành bàn bạc. 

- Có lẽ cùng suy nghĩ nên khi tôi đến Hải Phòng đã thấy ông Thành chờ sẵn - Ông An kể với tôi tại nhà ông ở số 02 Nguyễn Bỉnh Khiêm Hà Nội - Thế là hai bên tiến hành trao đổi công việc ngay. Tôi hỏi vì sao Hải Phòng chưa thấy triển khai Chỉ thị Z30 ông Thành có nói rằng Hải Phòng chưa làm bởi còn đang chờ chỉ thị chính thức của Ban bí thư hoặc của bên Chính phủ. Rồi ông ấy phân tích về mặt pháp lý thì từ trước đến nay không có bất cứ văn bản pháp luật nào quy định tịch thu tài sản bằng quyết định hành chính cả. Còn về tình cuộc sống của nhân dân hiện nay còn rất nhiều khó khăn thậm chí là khổ cực. Việc tích cóp được chút tiền làm nhà làm cửa không dễ dàng gì. Nay tịch thu thì người dân ở vào đâu? Rồi ông ấy hạ giọng nói là chủ nghĩa xã hội tươi đẹp nhưng người dân không có nhà ở thì sao gọi là tươi đẹp được?... Vì cũng có suy nghĩ giống như ông Thành nên chúng tôi nhanh chóng đi đến nhất trí là phải chờ chỉ đạo chính thức bằng văn bản của Trung ương chứ không thể chỉ đạo miệng. Tôi cám ơn ông Thành đã giúp chúng tôi vững tâm. 

- Nghe nói ngay khi đó bác đã cho đốt các quyết định về tịch thu nhà những gia đình thuộc diện bị tịch thu tài sản? Tôi hỏi. 

- Chuyện ấy là có thật. Tôi cho đốt vì không muốn nghĩ ngợi gì về nó nữa. 

- Còn chuyện tháng 6 năm đó (6/1983) ông Thành đem việc này ra phát biểu tại một kỳ họp của Trung ương? 

- Tháng mấy thì tôi không nhớ rõ chỉ nhớ khoảng giữa năm gì đó Trung ương tổ chức hội nghị. Lần ấy ông Thành đã nói liền 2 tiếng đồng hồ về những sai lầm của Chỉ thị Z30. Ông ấy cho rằng Chỉ thị Z30 là sai lầm là trái pháp luật và phi đạo lý. Việc vô cớ tịch thu nhà cửa của người dân khi họ không vi phạm pháp luật không bị pháp luật xử mà chỉ bằng một quyết định của chính quyền là xông vào đuổi người ta ra đường là vô lý. Ông ấy nói găng rất găng về những điều chúng tôi đã bàn với nhau từ trước. Thấy ông ấy càng phát biểu càng hăng tôi cũng thoáng lo lo. Nhất là những lúc ông ấy thống thiết nói rằng đã trực tiếp xem tịch thu 3 căn nhà ở Hà Nội. Ông ấy tả thảm thiết lắm. Khi đội công tác đẩy họ lên xe chở đi họ kêu khóc họ đội khăn tang. Rồi ông ấy đặt câu hỏi: Chúng ta làm cách mạng để làm gì? Người Cộng sản là phải hy sinh suốt đời vì nhân dân đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Những việc chúng ta làm như thế này là trái đạo lý là vi phạm pháp luật. Ông ấy còn kể thời ông ấy làm Bí thư Quận uỷ Ngô Quyền đã nói với người dân rằng khi kháng chiến thắng lợi bà con sẽ hết cảnh nghèo khổ không còn phải chui rúc trong cái nhà tranh vách đất dột nát quanh năm mà sẽ ở nhà xây to đẹp họ đã vỗ tay hoan hô không ngớt mà giờ đây hơn 30 năm sau khi thắng Pháp chúng ta không có tiền xây nhà cho dân nay dân xây ta lại tịch thu thử hỏi còn đâu là đạo lý... - Ông An chợt ngừng kể đôi mắt dõi ra ngoài cửa sổ nơi có cây mít già đang mùa bói quả. Tôi hiểu rằng ông đang xúc động mạnh. Chờ cho ông nguôi ngoai cảm xúc tôi hỏi: 

- Khi ông Thành nói thế bác có lo không ? 

- Lo chứ. Chuyện này hệ trọng lắm chỉ cần sơ xảy là hỏng cả một sự nghiệp chứ không đùa nên tôi luôn liếc nhìn sang chỗ Tổng bí thư Lê Duẩn và Phó Thủ tướng Phạm Hùng thấy cả hai ông đều nghe rất chăm chú và có chiều đăm chiêu lắm. Nhất là đến đoạn ông Thành yêu cầu khi nào có ý kiến chính thức của Bộ Chính trị Ban bí thư và Thủ tướng Chính phủ sẽ thi hành nghiêm túc còn điện thoại nhắc nhở "theo Hà Nội mà làm" để có phong trào thì ông ấy không làm và xin chịu trách nhiệm trước Đảng trước nhân dân tôi thấy Phó Thủ tướng Phạm Hùng hườm hườm vài cái cười rồi nói: "Sáng tạo rất sáng tạo. Tôi ủng hộ ý kiến của anh Thành". Mấy phút im lặng nặng nề trôi qua. Rồi Tổng Bí thư Lê Duẩn đứng dậy hỏi có ý kiến nào phân tích đạo lý hơn thì phát biểu chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm và không ngờ việc làm của mình những ngày qua lại được lãnh đạo và nhiều đồng chí rong trung ương ủng hộ mạnh mẽ thế.

Nỗi ám ảnh sau hơn một phần tư thế kỉ 

Cách đây ít lâu ông An gọi tôi bảo: 

- Cái chuyện Z30 tôi kể với cậu ấy nhắc lại không chỉ để làm một bài học kinh nghiệm mà còn khẳng định thành tựu của đổi mới. Hơn hai mươi lăm năm qua chúng ta đã đi một quãng đường dài rất dài đặc biệt là tinh thần thượng tôn pháp luật. Bây giờ muốn tịch thu của người dân dù chỉ bao diêm cũng phải có toà án. Thế mà ngày ấy tịch thu cả một gia sản của người ta mà chỉ thông qua kiểm tra hành chính. Không hiểu ngày ấy vì sao họ cứ nói mập mờ cái này bí mật không phổ biến rộng cứ triển khai theo ý của trên... Sau này tôi được biết thì hình như ông Bộ trưởng Nội vụ (Bộ Công an) khi đó cũng không biết gì về vụ việc này. 

- Có người đánh giá Z30 ghê gớm chẳng khác gì hồi Cải cách ruộng đất. Quan điểm của bác thế nào? Tôi hỏi. 

- Phạm vi của nó hẹp hơn nhiều nhưng với những người liên quan trực tiếp thì hậu quả chẳng khác là mấy. Cũng may chứ nếu ngày đó Hải Phòng và Nam Định cùng làm rồi sẽ lan ra cả nước thì sự thể không biết sẽ ra sao. Mãi gần đây khi tôi lên làm Quốc hội cái Z30 nó vẫn còn dư âm nặng nề lắm người dân còn kêu ca oán thán lắm. Cũng may chứ nếu thực hiện tôi sẽ ân hận suốt đời! 

- Nhưng họ (những người trong danh sách bị tịch thu nhà cửa tài sản) có giầu thật không?

- Có giàu có gì đâu? Cả thành phố Nam Định ngày đó cũng nghèo lắm của cải có được là bao nhiêu. Những cái nhà đó so với bây giờ nó như cái chuồng chim thôi. Gìờ thì họ đã tự dỡ bỏ gần hết để xây nhà mới to hơn đẹp hơn rồi. Tôi vẫn nhớ những cái nhà trong danh sách ấy nó bé tí tẹo ấy mà. 

- Nhưng lỡ trong số những người được coi là giầu có thời đó có những người là do bất minh? Tôi hỏi. 

- Về tài sản có bất minh hay không thì anh phải điều tra để chứng minh mà chưa chứng minh hoặc không chứng minh được thì không thể kết luận. Với góc độ luật pháp anh chỉ được suy diễn theo hướng gỡ tội chứ không được suy diễn theo hướng kết tội. Một vụ án tham nhũng cũng vậy. Anh phải chứng minh được người ta tham nhũng chứ không được phép bắt người ta phải chứng minh nguồn gốc tài sản của mình. Hai cái đó khác nhau lắm. Bây giờ vẫn còn không ít người có lối suy diễn theo kiểu kết tội. Có cả vị là cán bọ lãnh đạo gần đây cũng mắc lỗi này. Pháp luật là chứng cứ chứ không phải tin hay không tin. Cái lối quy chụp ấy... Ông An chợt ngừng lại. 

- Nghe nói ngày ấy bác cũng bị quy chụp là hữu khuynh? 

- Có chuyện đó đấy. Một số cán bộ lão thành lên án tôi là hữu khuynh. Nguy hại nhất là có người coi Chỉ thị Z30 như là biện pháp trong đấu tranh giai cấp chống bọn tham nhũng. Mà chống tham nhũng cũng phải dựa trên luật pháp chứ. Có ở nơi nào mà kiểm tra hành chính lại tịch thu tài sản đâu? Ông giám đốc Công an khi ấy là người tốt tốt cả với cá nhân tôi. Nhưng dù sao ông ấy cũng không phải là cấp trên của tôi. Tôi là Bí thư tỉnh uỷ là Uỷ viên Trung ương mà Bộ Chính trị không chỉ đạo Thủ tướng không chỉ đạo thì làm sao tôi nghe ông ta được. 

- Giả sử như có sự chỉ đạo của trên bác có làm không?

- Nếu trên đã quyết đương nhiên tôi phải chấp hành. Đó là một nguyên tắc. Nguyên tắc chấp hành pháp luật nguyên tắc cấp dưới phải chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Nhưng ngược lại tôi sẽ có ý kiến phản hồi đồng ý thì nói rõ vì sao không đồng ý cũng nói rõ là vì sao. Mỗi khi nhận chỉ thị tôi đều có ý kiến cái đó có phù hợp với địa phương hay không phù hợp với luật pháp hay không? Trước khi thực hiện bát cứ việc gì tôi luôn túc trực ý thức như vậy. Cấp trên ra lệnh anh không làm không được. Nhưng làm mà thiếu trách nhiệm cũng không được. Anh phải có trách nhiệm với trên và cả với dân. Tôi nghĩ nên xây dựng một nếp công vụ như thế. Tôi không thích những người không thể hiện thái độ. Phải có chính kiến rõ ràng và thể hiện chính kiến một cách xây dựng. Cán bộ không phải là cái máy chỉ biết thực thi. 

Rồi ông kể cho tôi chuyện lần sang thăm nước Cộng hòa Phấp lần đầu tiên ông đã đến sông Sen để tận mắt được nhìn nơi thanh tra Zave (một nhân vật trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của Vichto Huygô) trẫm mình vì không chứng minh được Giăngvanzăng là người ăn cắp. 

Câu chuyện về Z30 khép lại như một chuyện cổ tích có hậu và cũng để lại một bài học xương máu tuy giản dị nhưng lại hệ trọng và cũng rất thời sự: Mọi người phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Một chân lý giản dị nhường ấy nhưng không phải bao giờ và lúc nào chúng ta cũng thực hiện được. Không hiểu sao mỗi lần đi tàu từ Nam ra Bắc hay ngược lại tôi cứ băn khoăn tự hỏi nếu ngày đó không có những người như ông An ông Thành và cả sự sáng suốt của cố Phó Thủ tướng Phạm Hùng đặc biệt là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã kịp thời ngăn chặn thì không hiểu sự thể sẽ đi đến đâu? Và sâu xa hơn công cuộc Đổi mới sẽ như thế nào nếu "cơn bão Z30" không bị ngăn chặn kịp thời?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Thơ ông như cái tự do!”



Truyện ngắn

Bảy giờ sáng, hắn đẩy chiếc xe ra cổng, nói với con gái: “Ba đến cơ quan, trưa chắc không về”. Mụ vợ ngồi bên trong ngứa miệng, cái giọng Bắc phaNam the thé: “Cơ quan cơ à, ông có cơ quan thế tiền lương ông đâu?”.
Nghe giọng kiếm chuyện của vợ hắn nín thinh. Tiếng đứa con gái “Mẹ, đừng nói mà mẹ”!
Hắn nổ máy xe, nghe tiếng nói thầm trong người cất lên: “Vợ mày nói đúng, hehehe, vợ mày nói đúng”.
Hắn rồ ga, cố nén tiếng nói thầm xuống khi chạy vào dòng người. Và hắn chạy đến trước cổng Hội văn nghệ mà hắn gọi là “cơ quan”. Thì đúng là cơ quan, vì hắn là hội viên trong cả ngàn hội viên, nhưng như mụ vợ nói “Cơ quan, thế tiền lương ông đâu?”.
Hắn nhìn thấy tại quán cà phê trước cơ quan, đã có nhiều nhà văn, thi sĩ như hắn. Tiếng nói thầm lại cất lên: “Mẹ, bọn làm biếng chớ nhà cửa gì”
Hắn vào, kêu ly cà phê đen. Có tiếng gọi tên hắn. Giọng nữ. Hắn nhìn vào bàn bên trong. À, nữ nhà văn H., cô vừa in cuốn tiểu thuyết. Nhà văn H. bước qua chỗ hắn, tay cầm cuốn sách, miệng nói:”Tăng anh cuốn tiểu thuyết mới nhất của H., nó là tâm huyết đời em đó”. Hắn nhìn H., cô đã gần năm mươi, phấn son hơi quá, áo rộng cổ phơi bộ ngực đồ sộ. Hắn liếc bộ ngực. Tiếng nói thầm vang lên “Vú bơm á”, hắn cố nén, cám ơn nữ nhà văn. Cô này nghe nói kinh doanh nhà hàng, đại loại vậy. Nhà văn H. nói “Anh đọc và viết cho em vài lời nghen” “Ồ, tất nhiên, sách ai tặng anh cũng đọc kỹ” – Tiếng nói thầm “Dóc quá mày, mày có coi con mẹ này là nhà văn đâu”. Hắn cố tập trung vào ly cà phê khi nữ nhà văn rời đi.

Ở bàn trong góc quán, tay phó nháy kiêm phó sếp đang thì thầm với một em mới toanh, mặt mũi xinh xắn, có vẻ còn là sinh viên. “Nó là thằng chó dái đó cháu ơi, coi chừng nó đưa qua khách sạn của thằng P.”. Hắn nghe tiếng nói thầm chọc vào tai mình.

Vài chục phút sau, Hội quán bắt đầu đông nghẹt văn nhân thi sĩ. Hắn đốt thuốc, nghe tiếng nói thầm “Bọn làm biếng, bọn hư đốn”…
Gần trưa thì cả bọn rủ nhau góp tiền đi nhậu. Điểm hẹn là một quán bình dân. Tiếng nói thầm vang trong tai khi hắn chạy xe đến quán “Mày là đồ vô dụng, mày về giúp vợ chở hàng đi”. Nhưng hắn phớt lờ, chạy đến quán nhậu.

***


Hắn tỉnh lại và biết ngay đang ở trong bệnh viện. Hình như trong một phòng dịch vụ. Chất cồn trong người đã tan hết. Hắn thấy tỉnh táo lạ thường, thậm chí thấy khỏe. Hắn chống tay ngồi dậy. Trong ánh đèn sáng hắn nhìn thấy mình nằm chung trong một phòng có 6 giường, khá sạch sẽ. Cô con gái nằm ngủ ngon lành trên cái sô pha giành cho người nuôi bệnh. Hắn đưa tay sờ đầu vì thấy cồm cộm. Đầu hắn đang quấn băng. Rồi hắn nhớ lại rõ mồn một…
Hắn nhớ khi cả bọn kéo vào quán nhậu đang vừa uống vừa nói xàm thì tay P. bước vào. Tay này xưa kia là một người kinh doanh bất động sản và khá giàu có, nhưng lại thích làm nhà thơ. Giờ thì P. kinh doanh khách sạn và càng giàu hơn lại vừa đoạt giải thơ cấp thành phố nên sướng lắm. Bất kỳ lúc nào cũng P. có thể đãi văn nghệ sĩ thành phố như hắn nhậu.
Vừa bước vào, tay P. đã la lên: “Tui đãi hết chầu này, sẵn tặng thơ cho mấy ông luôn”. Ngay sau đó, một đệ tử của P. khệ nệ mang vào một thùng các tông lớn. P. ngồi vào cái ghế anh tiếp viên vừa mang đến, mở bút ra và cứ theo thứ tự từ trái sang, ký tặng tất cả, ngay cả người không quen. Tập thơ dày cộp, nghe nói in hết 50 triệu. Ký xong, P. bảo anh tiếp viên: “Đem chú 2 thùng Ken, cứ hết mang thêm, đem cái menu ra đây luôn”. P. ngồi đối diện hắn, giờ đứng lên nâng ly bia sủi bọt: “Dô đi các bạn hiền, chúc mừng nhà thơ P. đoạt giải”.
Bia chảy ào ào, ly cụng côm cốp. Văn nhân thi sĩ nốc bia như bò uống nước. P cụng ly hắn, la to “Trăm phần trăm”, “Dô, dô, chúc mừng!”. Tửu lượng hắn đã bão hòa. Hắn cảm thấy không vui. Ngay lúc đó P. kề sát mặt hắn, trong tiếng ồn ào của bàn nhậu hỏi to: “Ông thấy thơ tui hay không?”
Tiếng nói thầm trong người hắn vang lên, nhưng hắn cố kìm nén, lảm nhảm: “Được lắm, có mấy bài đặc sắc”.
P. đang phấn khích, lôi cổ áo hắn: “Được lắm là sao? Đoạt giải thành phố mà. Ông thấy thơ tui hay không?”.
Men bia đã đánh gục con người hắn, hắn mặc kệ cho tiếng nói thầm, và hắn gào lên, ngay mặt P.: “Thơ ông như cái tự do!”
“Đ.M. Cái gì? Ông nói thơ tui như cái gì?”
“Tao nói nè: Thơ mày như con cặc!”
Như trong một đoạn phim quay chậm, hắn nhìn thấy nhà thơ kiêm kinh doanh khách sạn theo giờ chụp cổ chai bia, vung lên, nhằm thẳng vào trán hắn!


2. 2016
Nguyễn Đình Bổn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Nụ hôn Trump-Putin" có ý nghĩa gì?


Kelly Grovier

BBC - Bức tranh vẽ cảnh Donald Trump và Vladimir Putin hôn nhau do một họa sĩ đường phố ở Lithuania tưởng tượng và vẽ ra hồi trung tuần tháng Năm 2016.

Những tấm ảnh chụp lại bức tranh vẽ cảnh khóa môi của Tổng thống Nga và ứng viên cho vị trí đại diện Đảng Cộng hoà trong cuộc đua vào Nhà Trắng đã nhanh chóng lan truyền rộng rãi chỉ vài ngày sau đó.

Bức tranh lớn được vẽ phủ hết chiều dài lưng tường một nhà hàng thịt nướng ở thủ đô Vilnius của quốc gia vùng Baltic.

Thoạt nhìn, nó chế nhạo mối quan hệ ngưỡng mộ đáng ngờ giữa Tổng thống Putin và tỷ phú Donald Trump sau khi cả hai đưa ra những lời tán tụng lẫn nhau suốt mấy tháng qua.

Lấy cảm hứng từ việc ông Putin ca ngợi ông Trump là người "thông minh và tài hoa", rồi việc ông Trump đáp lễ với nhận xét ông Putin là "một nhà lãnh đạo khác biệt, khác hẳn với những gì chúng ta có ở quốc gia này", bức tranh đã phóng đại mối quan tâm và sự đam mê giống nhau của hai người và diễn đạt nó bằng một hành động thân mật quá mức.

Liệu có phải vậy không?

Sau khi vượt qua được cú sốc ban đầu khi ngắm nụ hôn căng thẳng giữa hai người đàn ông đầy nam tính vốn đều từng sống qua thời Chiến Tranh lạnh, nếu nhìn kỹ bức tranh ta sẽ thấy nó thể hiện một góc nhìn bình luận chính trị tinh tế, và điều đó sẽ khiến ta giảm đi cảm xúc ban đầu.

Rất nhiều người đã bình luận về bức tranh do họa sĩ Mindaugas Bonanu người Lithuania vẽ.

Người ta lưu ý sự giống nhau giữa nó với bức tranh nổi tiếng của họa sĩ người Nga Dmitri Vrubel, được vẽ hồi năm 1990 trên một mảng của Bức tường Berlin: Nhà lãnh đạo Đông Đức Erich Honecker hôn lãnh tụ Xô-viết Leonid Brezhnev.

Tuy nhiên, tác phẩm của Vrubel dựa trên một bức ảnh có thật với cảnh Brezhnev và Honecker ôm nhau vào năm 1979, còn bức tranh mới của họa sĩ Lithuania vẽ ông Putin và ông Trump là một tác phẩm tưởng tượng nổi loạn, trong đó tình anh em thân thiết trên bức vẽ ở Bức tường Berlin đã được giảm nhẹ đi một cách vô cùng thông minh.

Không giống với sự âu yếm và thư giãn trông rất thật của Brezhnev và Honeck, nụ hôn của Putin và Trump nhuốm màu hồ nghi khi cả hai người đàn ông đều mở to mắt.

Rốt cuộc thì dù Putin và Trump có luôn miệng ca ngợi nhau, sự hòa hợp chính trị thực sự giữa họ vẫn còn là chuyện trong tương lai.

Thực sự thì sự khác biệt to lớn đó giữa hai bức tranh vẽ có chung chất liệu thể hiện và chung kích cỡ khiến người ta băn khoăn là liệu có thích hợp hơn hay không nếu ta đem so sánh tính nghệ thuật giữa bức tranh vẽ Trump và Putin với tác phẩm điêu khắc lập thể có tên Nụ Hôn của họa sỹ người Romania Constantin Brancusi từ năm 1912, thay vì so với bức tranh trên Bức tường Berlin.

Hai cái đầu khóa chặt nhau, hai đôi mắt mở rộng, nhìn không chớp mơ hồ trong tác phẩm của Brancusi, giống như Trump và Putin trong bức tranh tường ở Lithuania, thể hiện độ gắn bó trong một sự ràng buộc nguyên sơ và không lay chuyển, nơi mà sự ấm áp và sự hồ nghi, tình yêu và sự ngờ vực hòa trộn vào nhau không thể tách rời.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ “4 tốt” đến “4 không” (tốt ), sự dối trá không còn giới hạn


Bùi Hoàng Tám 

(Dân trí) - Khi ông Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì đến Việt Nam, có lẽ người lạc quan nhất cũng không hi vọng Trung Quốc sẽ có cách hành xử đúng lý, đúng tình, tôn trọng luật pháp quốc tế mà cụ thể là rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam.

Song cũng không ai có thể ngờ sau đó, báo chí Trung Quốc đã tráo trở xuyên tạc về thông tin cuộc gặp của hai bên mà điển hình là Tân Hoa xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu “4 không” phi lý đối với Việt Nam.

Đó là:

Một là không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông).

Hai là không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế vàȠdư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa).

Ba là không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải.

Bốn là không được phá bỏ mối quan hệ Việt-Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ.

Đây ɬà sự xuyên tạc trắng trợn bởi thứ nhất, không ai đánh giá thấp “năng lực và quyết tâm” của Trung Quốc, song không phải là để “bảo vệ chủ quyền” các đảo ở Biển Đông mà là “tranh cướp chủ quyền” vì mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định Biển Đông chưa bao gɩờ thuộc về Trung Quốc.

Thứ hai, Việt Nam không “tự nhận tư liệu lịch sử”. Chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật khách quan của lịch sử và dư luận quốc tế cũng không “ngây thơ” đến mức “hiểu lầm” sự thật này.

Thứ ba, Việt Nam không “lôi kéo” quốc gia nào mà tiếng nói của cộng đồng quốc tế bảo vệ Việt Nam là sự lên tiếng của chân lý, là sự phản kháng với thói “cậy lớn bắt nạt bé” của Trung Quốc.

Nói một cách khác, chính hành động coi thường đạo Ȋlý, bất chấp luật pháp quốc tế đã khiến các quốc gia gắn kết lại với nhau.

Thứ tư, có lẽ không cần phải phân tích nhiều để thấy Việt Nam luôn khát khao, mong muốn có mối quan hệ láng giềng tốt đẹp với Trung Quốc trên tinh thần độc lập dân tộc,Ƞtoàn vẹn lãnh thổ để cùng nhau phát triển.

Không bất cứ một người Việt Nam nào lại muốn “phá bỏ mối quan hệ Việt - Trung” nếu như nó không “mơ hồ”, “viển vông” và đặc biệt là vi phạm tinh thần độc lập và vẹn toàn lãnh thổ.

Trên thựɣ tế, các hành động cướp biển, khủng bố, thực dân… trên Biển Đông mà Trung Quốc đang làm đối với Việt Nam, Nhật Bản và Philippines là những hành vi bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của láng giềng, xâm phạm nghiêm trọng hòa bình, an ninh, ổn định khu vực.

Những tuyên bố về “4 không” của Trung Quốc hôm nay chính là bằng chứng chống lại tinh thần “bốn tốt” do chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây đề xuất.

Cũng cần nhắc lại rằng 40 năm qua, Trung Quốc đã có 4 lần “tốt” với Việt Nam.

Một “tốt” là năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ɉai “tốt” là năm 1979, Trung Quốc đem quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.

Ba “tốt” là năm 1988, Trung Quốc một lần nữa lại dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Và điều “tốt” thứ tư là ɮăm nay (2014), Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép Hải Dương - 981 trên phần biển của Việt Nam.

Các bài học lịch sử và thực tế cho thấy với Trung Quốc, không bao giờ được cả tin, mơ hồ để rồi nhận lại sự “viển vông” mà hãy nhìn vào những hànhȠđộng của họ để hành xử cho hợp lý.

Từ “4 tốt” đến “4 không”, sự dối trá đã không còn giới hạn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đổi tên quy hoạch sông Hồng: Những điều còn giấu kín


Châu An 

























Đất Việt - "Theo tôi cần có một Ủy ban quốc gia về sông Hồng để quyết định những vấn đề có tính chất an ninh về nguồn nước".

Đổi tên quy hoạch sông Hồng

Bộ TN&MT ra thông báo cho biết Bộ trưởng Trần Hồng Hà ký văn bản kiến nghị Thủ tướng cho phép điều chỉnh tên Quy hoạch tổng thể khai thác sông Hồng thành Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng - Thái Bình.

Đồng thời, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng vừa ký ban hành quyết định thành lập Hội đồng thẩm định đề cương đồ án “Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng-Thái Bình” nhằm đưa ra những đánh giá tổng thể về hiện trạng dòng chảy, để khai thác tài nguyên nước sông Hồng.

Trước thông tin trên, trao đổi với Đất Việt, ngày 24/5, về vấn đề trên, GS.TS Vũ Trọng Hồng - nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết: "Đối với nội dung của quy hoạch tổng thể khai thác sông Hồng, chủ yếu nhằm vào sự cân đối giữa nguồn nước sông Hồng có được và những nhu cầu sử dụng nước sông Hồng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, còn nội dung quy hoạch tài nguyên nước, thực chất chỉ là đánh giá tiềm năng về tài nguyên này.

Khái niệm về tài nguyên nước và nước, có sự phân biệt rõ rệt. Bởi lẽ, tài nguyên là do nhà nước sở hữu, còn nói đến nước là quyền sử dụng của mọi hoạt động của xã hội. Chính vì vậy, hai quy hoạch này nhằm hai mục tiêu khác nhau, không thể đổi tên được”.

Nói đến quy hoạch tổng thể khai thác sông Hồng, trước tiên, theo ông Hồng, phải xét việc sử dụng nước của sông Hồng sẽ được ưu tiên thứ tự như thế nào?. Rõ ràng, ưu tiên số 1 phải là nước sinh hoạt cho con người, rồi nước cho sản xuất lương thực.

"Tại sao tôi nhấn mạnh nước cho lương thực, chúng ta nhớ rằng cả đất nước có 2 Đồng bằng lớn nhất để sản xuất lương thực là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.

Qua việc hạn hán, xâm nhập mặn vừa qua thì việc cung cấp nước cho Đồng bằng sông Cửu Long đã đi vào đường cùng, dẫn đến việc phải gửi công hàm đề nghị Trung Quốc giúp đỡ bằng việc xả nước từ đập Cảnh Hồng. Song dung tích hồ đập Cảnh Hồng chỉ có trên 200 triệu mét khối nước mà nhiệm vụ chủ yếu là phát điện, nên lượng nước giúp chúng ta không được bao nhiêu.

Bây giờ đối với Đồng bằng sông Hồng, nếu không có nước để sản xuất lương thực, thì hàng chục triệu người dân sống bằng gì? Người Việt Nam chúng ta đã có hàng nghìn năm sống bằng hạt gạo do lúa nước sinh ra.

Liệu do thiếu nước, phải chuyển sang sống bằng ngô, khoai, sắn...có được không?. Lúc đó xã hội sẽ mất an ninh nước, mất an ninh lương thực. Lúc đó an ninh năng lượng sẽ không còn ý nghĩa gì nữa?

Tiếp theo nhu cầu nước cho phát điện, nuôi cá, cho công nghiệp, cho các khu đô thị, cho giao thông thuỷ, du lịch, nước để đảm bảo môi trường, nước để đẩy mặn...Như vậy, nói đến khai thác tổng thể sông Hồng, có nghĩa liên quan đến các nhu cầu dùng nước của cả xã hội, liên quan đến các bộ ngành chức năng, các địa phương và cả người dân.

Tầm ảnh hưởng của nó mang ý nghĩa quốc gia, không một Bộ nào có thể giải quyết được. Chỉ đơn cử trường hợp Bộ Y tế kêu cứu nước cho các bệnh viện, để bệnh nhân có đủ nước, để các ca mổ, ca đỡ đẻ không bị dừng nửa chừng, như các báo phản ảnh trong những mùa nắng nóng. Vậy ưu tiên này được xếp hạng thứ bao nhiêu?.

Tuy chỉ là yêu cầu của một Bộ chuyên ngành, song lại ảnh hưởng thiết thân đến cuộc sống người dân, cũng như tâm lý của toàn xã hội. Chắc rằng những cơ quan có chức năng quản lý nước sẽ không nghĩ đến ảnh hưởng này, mà chỉ cấp quốc gia mới quyết định được", ông Hồng nhấn mạnh.

Cần sự phối hợp chặt chẽ từ các Bộ, ngành, địa phương

Đối với dự án giao thông thuỷ xuyên Á chưa được Thủ tướng xem xét, ông Hồng cũng chỉ rõ, trong đó có một lý do là tờ trình do Bộ KH&ĐT lại ghi “mục tiêu đáp ứng giao thông thuỷ là số 1”. Vậy những mục tiêu khác liên quan đến sự sống của 20 triệu người dân vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ xếp thứ tự như thế nào?.

Còn nói đến quy hoạch tài nguyên nước, chỉ là cụ thể hoá những điều nằm trong Luật tài nguyên nước và trong Luật của các tài nguyên khác, nghĩa là đánh giá tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây là nhiệm vụ chính của Bộ TN&MT. Vậy nội dung quy hoạch tổng thể khai thác sông Hồng sẽ có tầm quan trọng như thế nào?.

Ông Hồng phân tích: "Trước tiên, chúng ta phải hiểu rằng, để lập được quy hoạch này, không chỉ đơn giản là đánh giá theo nghĩa tài nguyên, mà yêu cầu phải tính toán và kiểm tra được lượng nước hàng năm có được của vùng đồng bằng sông Hồng.

Đó không chỉ là lượng dòng chảy trên sông Hồng và các nhánh sông vào chảy vào vùng đồng bằng, mà còn có lượng nước mưa thấm qua đất bổ sung cho tầng nước ngầm, lượng nước mưa chảy trên mặt đất, tập trung vào các hồ ao, lượng nước bốc hơi, lượng nước sử dụng của toàn vùng, và lượng nước trôi ra biển.

Nói một cách khác, chúng ta có thể nắm được thực trạng lượng nước do thiên nhiên cung cấp và lượng nước đã sử dụng, đã trừ đi lượng nước tổn thất trong quá trình luân chuyển.

Như vậy, đó là sự cân bằng nước trên phạm vi rộng lớn của một vùng. Dựa vào dự báo này, chúng ta mới có thể đưa ra những quyết định cho phép sử dụng lượng nước trên toàn vùng ở mức độ nào.

Việc làm này, đúng với chức năng của Bộ TN&MT, mà trong luật Tài nguyên nước đưa ra. Ngày nay với những công nghệ hiện đại, cho phép ta thực hiện được. Ví dụ công nghệ viễn thám để dự báo mực nước trên các dòng sông theo thời gian và không gian hiện nay đã trở thành hiện thực.

Tiếp theo, các Bộ ngành có hệ thống công trình lấy nước nước để phục vụ cho nhu cầu theo chức năng, như sản xuất nông nghiệp và đời sống cho nông thôn (Nông nghiệp và Phát triển Nông), thuỷ điện (Công Thương), nước sinh hoạt cho các khu đô thị (Xây dựng), vận tải trên các dòng sông ( Giao thông vận tải)...sẽ căn cứ vào những mực nước trên các sông, trữ lượng và chiều sâu nước ngầm, lượng nước mưa ...do Bộ TN&MT cung cấp, để xây dựng kế hoạch sử dụng nước cho ngành mình, thông qua những hệ thống công trình sẵn có.

Về phía nhà nước có thể kiểm soát việc sử dụng nước trên toàn vùng sông Hồng, phê duyệt những kế hoạch sử dụng nước, chẳng hạn như dự án giao thông thuỷ xuyên Á trên, sẽ ảnh hưởng đến việc dùng nước chung cho cả vùng như thế nào.

Mặt khác, nhà nước sẽ điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với nguồn nước có sẵn trong tay. Thông báo hạn mức sử dụng nước khi dự báo quỹ dự trữ nước đã ở ngưỡng dưới, theo thời gian và không gian, trong toàn vùng, để điều tiết mọi hoạt động xã hội có sử dụng nước, tương tự như dự báo về nguồn điện năng mà chúng ta đang làm".

Riêng với các địa phương trong khu vực, vị chuyên gia này cho rằng, phải dựa vào dự báo về quỹ nước hàng năm trên các nguồn nước đi qua địa phương sẽ khống việc sử dụng nước, và điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi địa phương minh.

Ngày nay, có nước trên thế giới đã kiểm soát được quỹ nước này. Ví dụ, ở nước Mỹ, có thể đưa ra thông báo về quỹ nước để người dân hạn chế sử dụng.

Bằng sự phối hợp chặt chẽ nhiều Bộ, ngành, dưới sự lãnh đạo của chính phủ, chúng ta hy vọng quy hoạch này sẽ thành hiện thực, làm cơ sở để loại bỏ những dự án, mang nặng ý tưởng “ước mong” mà không có tính khả thi.

Ông Hồng nhấn mạnh: "Tôi thiết nghĩ, liên quan đến sông Hồng tức là liên quan đến sự sống còn của cả một vùng đồng bằng, do vậy, cần có một Ủy ban cấp quốc gia về sông Hồng để quyết định những vấn đề có tính chất an ninh về nguồn nước và có sự thẩm định của Quốc hội”.
Phần nhận xét hiển thị trên trang