Joseptuat
Tiếp nối bài viết “Tại sao lại phải rời bỏ quê hương của mình để ‘tha hương cầu thực’ một cách khổ sở như vậy?” Hôm nay, tôi xin mạn phép tóm tắt lại quá trình của một lao động Việt muốn đi xuất khẩu lao động bên các nước tư bản. Với những nguồn tin đáng tin cậy, và từng có thời gian tiếp xúc lâu dài với một bộ phận những người Việt đã và đang làm việc tại nước ngoài theo con đường ‘xuất khẩu lao động’, tôi sẽ cố viết thật khách quan và trung thực như những gì đang xảy ra với hy vọng gửi đến cho những ai chưa hiểu rõ về vấn đề này có một cái nhìn chân thật nhất.
Các giấy tờ Pháp Lý
Bất kỳ ai muốn đi lao động nước ngoài đều phải qua giai đoạn này. Ngoài những giấy tờ cần thiết để có thể xuất cảnh như hộ chiếu, visa thì một bộ hồ sơ gồm nhân thân của người lao động do địa phương xác nhận, giấy chứng nhận không tiền án tiền sự do công an tỉnh hay thành phố cấp là điều không thể thiếu. Câu chuyện của những cái hộ chiếu, visa, giấy chứng nhận từ chính quyền đến công an là cả một câu chuyện dài của những chiếc phong bì, những tay môi giới.
Muốn được chính quyền địa phương chứng nhận các giấy tờ, người đi xuất khẩu lao động cần phải đóng các tiền thuế phí chưa hoàn thành từ trước tới nay. Đó là cách chính quyền thu thuế từ người dân. Đương nhiên, ngoài tiền lệ phí bắt buộc phải đóng cho các giấy tờ theo quy định, người làm các thủ tục giấy tờ xuất nhập cảnh muốn thuận lợi, còn phải có một khoản phí khác ngoài tiền thu đã được niêm yết giá. Nó được gọi những cái tên như: tiền cafe, tiền bồi dưỡng, tiền lót đường. Khi hoàn thành các giấy tờ cần thiết để được xuất khẩu, người lao động đến giai đoạn chính của công đoạn đi làm thuê xứ người tại các cty xuất khẩu lao động.
Đường dây môi giới của các trung tâm XKLĐ
“Cò” hay “môi giới” là tên gọi dành cho những người không thuộc nhân viên chính thức của các cty xkld, nhưng họ lại có mối liên hệ rất mật thiết trong đường dây tuyển người của các cty này.
Đường dây môi giới được chia làm hai cấp. Một là môi giới phụ vì họ không trực tiếp làm việc với các cty xkld. Họ chuyên kiếm người và giới thiệu cho môi giới chính.
Hai là môi giới chính, họ là những người liên hệ trực tiếp với các cty xkld, họ không thông qua bất kỳ một môi giới nào. Họ kiếm người và đưa thẳng ra các cty xkld.
Tiền chi phí của các lao động thường cao ngất ngưỡng so với quy định một phần là do phải trả cho các tay môi giới này. Theo nguồn tin từ các lao động đi làm ở Đài Loan: môi giới phụ sẽ nhận được số tiền từ 100-150 USD nếu lao động họ giới thiệu qua được nước ngoài làm việc, đương nhiên là nhận tiền từ môi giới chính. Còn môi giới chính, sẽ nhận được 1.000 USD nếu lao động của người này qua được nước ngoài làm việc, do TTXKLĐ trực tiếp trả. Đó là tiền chi phí dành cho các môi giới trong đường dây xuất khẩu qua Đài Loan với chi phí mà lao động phải trả từ 5.000-6.000 USD. Chắc chắn tiền chi phí phải trả cho các môi giới trong đường dây đưa người đi Hàn Quốc, Nhật Bản phải cao gấp hai, gấp ba lần, vì chi phí để được đi qua HQ, NB mà người lao động phải trả rất cao, thường dao động khoảng từ 10.000-15.000 USD.
Vậy câu hỏi đặt ra là: tại sao các lao động không trực tiếp đến thắng các cty xkld để đăng ký xuất khẩu, mà phải qua các môi giới?
Muốn đi xkld thuận lợi thì cần phải qua môi giới, còn nếu trực tiếp đến các cty thì họ cũng sẽ phân các lao động đó cho các môi giới ở trong đường dây của các cty. Đường nào lao động cũng phải có môi giới. Vậy
tại sao môi giới lại cần thiết như vậy?
Như đã nói môi giới là những người không thuộc biên chế của cty xkld, vì thế nếu có chuyện gì liên quan đến vấn đề pháp lý các cty xkld dễ dàng phủ nhận. Thứ hai, các môi giới là những người làm việc trực tiếp với lao động về tiền bạc, và họ có một nguyên tắc là không ký giấy tờ khi nhận tiền. Đây là đường dây lách luật, cũng như bóc lột, và khéo léo khá tinh vi từ môi giới đến cty xkld.
Sinh hoạt của các lao động ở các TTXKLĐ
Khi lao động đến các cty xkld, việc đầu tiên họ cần làm là đóng tiền học phí và tiền ăn nghỉ cho trung tâm, nếu lao động muốn ngủ lại trung tâm trong thời gian học tập và tuyển việc.
Một cty xkld có ít nhất từ hai trung tâm dạy và tuyển người, và ở mỗi trung tâm xkld thường có ít nhất ba lớp học cho ba đối tượng xuất khẩu: Đài, Hàn và Nhật. Số lượng lao động tập trung ở các trung tâm này luôn dao động từ 40-50 người. Phòng học rộng khoảng 35 m2, và cũng là phòng ngủ, mỗi phòng chen chúc không giới 15 người với cảnh nằm chen chúc chẳng khác nào cảnh sống tỵ nạn. Đóng tiền phòng hàng tháng cho trung tâm nhưng chỗ nghỉ ngơi và sinh hoạt thì tệ chẳng khác nào cái lò gạch của Chí Phèo.
Câu chuyện đơn hàng và tiền chi phí
Theo như tôi được biết các cty môi giới ở Việt Nam luôn cung cấp thiếu, hoặc sai về tình trạng làm ăn của các công cty tuyển người ở nước ngoài. Có nhiều trường hợp ở Việt Nam, cty mối giới bảo lao động qua làm điện tử nhưng khi tới nơi thì lại đi làm hàn xì. Hay bảo đi làm giày dép nhưng lại đi làm công xưởng cắt kiếng, vân vân. Và nữa, các thông tin về độ nguy hiểm, độc hại, cũng như tình trạng làm ăn kém cỏi của các công xưởng ở nước ngoài luôn bị các cty mối giới giấu diếm, và nói ngược. Họ luôn bảo cty bên ấy làm ăn được, phúc lợi tốt, rồi đưa ra vài ba ví dụ về người này người nọ để lừa lao động. Điều họ cần là móc càng nhiều tiền của lao động càng tốt. Hơn nữa họ luôn hét giá thật cao nếu công xưởng ở nước ngoài làm ăn nên và phúc lợi tốt.
Khi lao động đã trúng đơn hàng, họ sẽ phải đi khám sức khoẻ. Câu chuyện đi khám sức khoẻ của lao động cũng có nhiều chuyện để nói. Tiền khám sức khoẻ cũng bị đôn lên khá cao so với quy định, vì phải qua môi giới.
Các lao động nữ khi chụp x-quang, có nhiều trường hợp phải cởi hết áo, không như bên này họ có một chiếc áo chuyên biệt dành cho chị em phụ nữ.
Khi đã trúng đơn hàng, các lao động phải ký hai loại giấy tờ cần thiết. Một là giấy tờ xác nhận không trốn ra ngoài, nếu trốn ra ngoài sẽ bị phạt từ 80-100 triệu đồng. Tại sao lao động phải ký loại giấy tờ này? Tình trạng các lao động Việt khi qua bên Đài, Nhật, Hàn làm việc một thời gian thì thường hay ở lại đó luôn một cách bất hợp pháp. Lý do vì sao họ không muốn về Việt Nam và trốn lại đó làm việc thì xin đọc bài “tại sao lại rời bỏ quê hương..” trên, để hiểu rõ hơn. Vấn đề là các lao động hầu như bị ràng buộc rất lớn vào công việc bên nước ngoài, cho dù tình trạng làm ăn của các cty bên đó như thế nào? Và chế độ phúc lợi làm sao?
Hai là ký xác nhận cty xkld chỉ thu của lao động số tiền đúng như pháp luật quy định. Chẳng hạn, đối với một lao động đi làm việc Đài Loan, chi phí được cho phép thu dao động từ 4.000-4.500 usd, nhưng thực tế các cty xkld thu từ 5.500-6.000 usd.
So với các nước trong khu vực mức thu phí xuất khẩu lao động của Việt Nam là quá cao so với Philippines, Thái Lan, Indonesia. Theo các lao động làm việc ở Đài Loan, các lao động của những nước trên khi qua Đài, Hàn hay Nhật làm việc mức chi phí từ 2.000-3.000 usd. Những lao động Philippines, Indonesia, Thái Lan họ bảo số tiền họ đóng cho các trung tâm xkld phần lớn là tiền vé chi phí máy bay. Xét trên khia cạnh này, các lao động Việt Nam bị bóc lột từ hai đường dây. Một từ chính quyền, hai từ đường dây tuyển người của các cty xkld. Bởi tiền vé may bay (khứ hồi) của lao động đi qua Hàn, Nhật, Đài không bao giờ vượt quá 2.000 usd. Số tiền chi phí bỏ ra của các lao động Việt Nam là một trong những nguyên nhân khiến con đường xkld không phải là một con đường làm giàu, thực tế nó còn là nguyên nhân chính khiến không ít lao động phải ở lại làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài.
Đối với các lao động đi xkld Việt Nam mà nói, tất cả những chi phí họ phải trả đều phải vay mượn từ bên ngoài. Một số ít vay mượn từ người thân, phần lớn còn lại đều phải cầm sổ đỏ, hoặc vay từ các tay nợ nóng. Bởi tình trạng vay mượn từ người khác, ngân hàng hay chủ nợ nóng nên các lao động Việt Nam chỉ còn một đường là chấp nhận bị bóc lột để ít ra có thể kiếm đủ tiền trả nợ ở nhà. Có không ít trường hợp làm hết ba năm hợp đồng chỉ đủ để trả nợ cho ngân hàng.
Tất cả những gì được viết ra đây không đúng 100% thì cũng chính xác 99%. Bài viết chỉ hy vọng giúp một tiếng nói vào vấn nạn bất công mà các lao động xkld đang phải gánh chịu, hy vọng sẽ có nhiều tiếng nói hơn từ dư luận để làm thị trường tuyển dụng lao động đi làm việc nước ngoài ở Việt Nam công bằng và trong sạch hơn.
Thân.
Joseptuat |
Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016
Hành trình của một lao động sang nước ngoài làm việc?
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Cũng như không ai giấu diếm sự tham gia của các quân nhân chúng ta (Liên Xô) trong các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.
Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính vì vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đã sử dụng S-75.
Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lãnh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 Quân khu phòng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đã bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.
Phi công Mỹ lắp vũ khí cho máy bay lên thẳng UH-1 chuẩn bị đánh nhau với các du kích Việt Cộng tại tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, 18/3/1963 . (Ảnh: Horst Faas/AP)
Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế Xô Viết và Mỹ.
Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.
Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:
15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.
Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).
Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.
Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.
Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).
Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.
Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.
Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.
Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.
Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.

Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài gòn và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)
Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.
Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.
Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.
Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.
Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội.
Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.
Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.
Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.
Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.
Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.
Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).
Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.
Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế Xô Viết và Mỹ.
Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.
Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:
15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.
Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).
Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.
Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.
Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).
Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.
Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.
Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.
Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.
Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.
Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài gòn và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)
Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.
Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.
Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.
Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.
Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội.
Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.
Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.
Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.
Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.
Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.
Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).
Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh:AP)
Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xã hội của nước mình chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).
Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ thì đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh phòng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).
Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác thì họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).
Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đã tiến hành các đợt đột kích sang lãnh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đã thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.
Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đã tấn công Nam Việt Nam.
Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển hình giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).
Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đã đạt những điều mình muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) rút người Mỹ cũng đã đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đã chiến thắng để giữ thể diện.
Trong chiến dịch này Mỹ đã ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công trình. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-2 1 những đã hạ 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.
Các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 đã bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa phòng không S-75). Có lẽ vì thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.
Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lý cực mạnh.
Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ.
Quân đội Nam Việt Nam về mặt hình thức đã là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu thì Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đã không còn ý nghĩa gì nữa.
Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đã được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài gòn có khi còn hiểu rõ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài Gòn hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ còn chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lý tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.
Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lãnh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).
Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài Gòn cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. Vì thế họ đã tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài Gòn), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.
Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài Gòn –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài Gòn. Cuộc “di tản” các lực lượng này đã nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.
Nắm được thời cơ, Hà Nội không còn một chút do dự gì nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này thì không ai và không cái gì có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài Gòn.
Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả địa chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự (thế giới-ND) thì cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì hình thái chiến tranh cổ điển này càng lùi sâu vào quá khứ. Thay thế hình thái chiến tranh này (chiến tranh cổ điển-ND) là cuộc chiến tranh công nghệ cao và phương án đáp trả phi đối xứng đối với nó (công nghệ cao-ND) là các cuộc chiến tranh nổi dậy (du kích-khủng bố).
Ngoài ra, chiến tranh thông tin ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đôi khi còn thay thế hoàn toàn các hình thái chiến tranh khác.
Theo Lê Hùng (lược dịch)
Đất Việt
Tướng Lê Văn Cương: Không nước nào kìm hãm Việt Nam như Trung Quốc
Tướng Lê Văn Cương
Lê Thọ Bình - Phạm Đức Bảo
VietTimes
Thứ Tư, ngày 20/4/2016 - 08:10
“Vẫn còn một bộ phận không nhỏ, kể cả một số quan chức các cấp vẫn lo sợ Trung Quốc. Khi nào mà vẫn còn tư tưởng sợ Trung Quốc thì không thể bảo vệ được đất nước và đất nước cũng không thể phát triển được”, Tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an nói.
“Vẫn còn một bộ phận không nhỏ, kể cả một số quan chức các cấp vẫn lo sợ Trung Quốc. Khi nào mà vẫn còn tư tưởng sợ Trung Quốc thì không thể bảo vệ được đất nước và đất nước cũng không thể phát triển được”, Tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an nói.
Không có nước nào kìm hãm Việt Nam như Trung Quốc
Thưa ông, việc Trung Quốc đang từng bước khống chế biển Đông, xâm phạm một cách trắng trợn lãnh thổ Việt Nam. Nếu xét về mức độ “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng” và “đặc biệt nghiêm trọng” thì hành động của Trung Quốc hiện đang ở cấp độ nào?
- Trước hết chúng ta phải nói về nhận thức về tầm quan trọng của biển Đông đối với an ninh và phát triển của Việt Nam, rồi sau đó sẽ thấy việc Trung quốc đang làm ở biển Đông thuộc cấp độ nguy hiểm nào.
Có thể nói, suốt thời kỳ thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và giải phóng đất nước năm 1945-1975 chúng ta tập trung vào giành độc lập dân tộc. Các trận chiến chủ yếu trên đất liền, trên biển cũng có, nhưng không lớn. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam rồi, biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa trở thành vấn đề đặc biệt quan trong đối với an ninh và phát triển của Việt Nam. Từ trước đến nay phần lớn chúng ta nhìn biển Đông dưới góc độ kinh tế.
Như vậy là chưa trúng và chưa đúng. Biển Đông là hội tụ hai vấn đề quan trọng bậc nhất của Việt Nam là an ninh và kinh tế. Đúng hơn là an ninh và phát triển. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng ở chỗ: Thứ nhất, đó là lối ra của Việt Nam. Năm 1956, Bác Hồ đã nói: “Đất liền là nhà, biển là cửa”. Nếu cái cửa này mà bị bên ngoài người ta chặn lại không ra được thì làm sao mà phát triển được. Tuy nhiên, tôi có cảm giác rằng có không ít người trong chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vấn đề này.
Đáng ra, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) chúng ta phải định rõ chuyện này. Muộn nhất nữa thì đến khi Trung Quốc đánh chiếm Trường Sa 14/3/ 1988 chúng ta cũng phải có một chiến lược về biển. Tuy vậy phải 20 năm sau, năm 2008, chúng ta mới có chiến lược về biển. Điều mà tôi muốn nhấn mạnh là những người có trách nhiệm với đất nước, với dân tộc phải có một nhận thức đầy đủ, đúng đắn hơn về vai trò và vị trí của biển Đông đối với an ninh và phát triển của Việt Nam.
Đấy là về nhận thức, còn việc làm của Trung Quốc về cấp độ nguy hiểm thì đang ở mức nào, thưa ông?
- Việc làm của Trung Quốc trên biển Đông hiện nay là vấn đề hệ trọng bậc nhất đối với an ninh của Việt Nam. Xét cho cùng thì không có gì hệ trọng hơn thế. Có không ít người thường xuyên nói nguy cơ chính là “diễn biến hòa bình”. Thì đúng rồi, bản chất của Mỹ là “dị ứng” với cộng sản. Nhưng chỉ nói như vậy là không đầy đủ. Mỹ không chỉ tìm cách lật đổ cộng sản, mà tất cả những chế độ mà Mỹ cho là độc tài, không minh bạch, không rõ ràng, không dân chủ Mỹ đều ghét.
Tuy nhiên, nguy cơ này chưa nguy hại trực tiếp bằng việc Trung Quốc đe dọa trên biển Đông. Mỹ chưa làm gì để kìm hãm sự phát triển của Việt Nam cả. Còn Trung Quốc, từ nhiều hướng, bằng mọi cách, bằng mọi thủ đoạn, trên nhiều phương diện, đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, kìm hãm cả về chính trị, cả về kinh tế, cả về ngoại giao và cả về an ninh, quốc phòng.
Tôi đố các anh thấy trên thế giới này có nước nào lại cố tình kìm hãm sự phát triển của Việt Nam như Trung Quốc không? Không có nước nào cả! Không có một nước nào kìm hãm Việt Nam như Trung Quốc. Mà chặn biển Đông chính là chặn con đường phát triển của Việt Nam. Người Việt Nam phải nhận thức ra điều này.
Gạt bỏ tâm lý sợ Trung Quốc
Trên thực tế thì Trung Quốc là một nước lớn trong khu vực, vì vậy tâm lý lo sợ Trung Quốc cũng là một thực tế dễ hiểu. Ông suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?
-Trung Quốc lớn, nhiều người, nhiều của, nhiều súng đạn…Nhưng không có nghĩa là nước mạnh. Hơn nữa, trên biển Đông Trung Quốc đang thể hiện họ yếu thế nhất. Họ không có cơ sở pháp lý nào cả. Hội nghị G8, tháng 8/2015 ở Đức, trong tuyên bố chung lần đầu tiên có một phần, tuy không nhắc đích danh Trung Quốc, yêu cầu phải có trách nhiệm xử lý các vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, không được gấy hấn, không được thay đổi hiện trạng.
Nhưng đến ngày 11/4/2016 mới đây, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao 7 nước công nghiệp phát triển, có đại diện Liên minh châu Âu tham dự, đã ra một tuyên bố về an ninh hàng hải, nêu rõ: “Chúng tôi cực lực phản đối mọi hành động gây hấn, cưỡng bức, đe dọa, thay đổi hiện trạng trên biển Đông. Chúng tôi yêu cầu các bên tranh chấp có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế”. Mặc dù tuyên bố này cũng không có một từ nào nói về Trung Quốc cả, nhưng ai theo dõi tình hình chả biết là Trung Quốc. Cộng đồng quốc tế đã nhận thức rất rõ về mối đe dọa của Trung Quốc ở biển Đông.
Tôi nghĩ người Việt Nam đừng sợ Trung Quốc. Tồn tại trên đất nước Việt Nam này vẫn có một bộ phận không nhỏ, kể cả một bộ phận quan chức các cấp, vẫn sợ Trung Quốc. Khi nào mà vẫn còn tư tưởng sợ Trung Quốc thì không thể bảo vệ được đất nước. Đất nước không thể phát triển được. Họ mạnh hơn Việt Nam, nhưng trên biển Đông họ thua Việt Nam về cơ sở pháp lý, thua về đạo lý. Hành động vũ phu, chèn ép, cưỡng bức bằng vũ lực, như vậy là không thể chấp nhận được. Cái thua của Trung Quốc nữa là cộng đồng quốc tế luôn đứng về phía Việt Nam.
Thưa ông, có một thực tế là, lâu nay báo chí Việt Nam, người dân Việt Nam phần lớn biết được những việc cụ thể mà Trung Quốc đang làm trên biển Đông lại là từ… báo chí nước ngoài. Tại sao không có một cấp có thẩm quyền nào của chúng ta cung cấp đầy đủ thông tin cho người dân như quy định? Do chúng ta không nắm bắt được hay còn vì một lý do nào khác nữa?
- Một mặt là chúng ta không có thông tin kịp thời, nhưng chủ yếu là chúng ta biết nhưng dường như không dám nói ra. Nói ra, nhiều khi cứ sợ mấy thứ luẩn quẩn đại loại như: vướng vào chuyện kích động “chủ nghĩa dân tộc” bài Trung Quốc; ám ảnh bởi 16 chữ vàng như cái “vòng kim cô”, trong khi phía Trung Quốc chả coi chuyện này là gì cả. Vẫn là thế. Thực chất là thế. Điều 70 của Hiến pháp nói rằng công dân có quyền được thông tin. Nhà nước có trách nhiệm thông báo kịp thời: Tại giờ ấy, ngày ấy, tháng ấy, tại tọa độ ấy, Trung Quốc đã hành động thế này thế kia. Người dân phải được biết, hệ thống truyền thông phải thông báo kịp thời để người dân được biết. Điều này hoàn toàn khác, không phải là kích động chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc. Người dân cần phải được biết an nguy của dân tộc ở đâu. Nếu không làm chuyện này thì trách nhiệm thuộc về các cấp có thẩm quyền.
Không ai làm thay được chúng ta
Nhiều người chúng ta đang có tâm lý mong chờ Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ… tham gia sâu hơn, mạnh hơn vào việc ngăn chặn Trung Quốc bành trướng trên biển Đông. Tại sao chúng ta không ra hẳn một nghị quyết về biển Đông thay vì ra “nghị quyết” hoan nghênh Quốc hội Mỹ ra nghị quyết về tình hình biển Đông?
- Không ai làm thay được chúng ta cả. Nếu mà chọn một dân tộc lớn tốt với Việt Nam thì không ai bằng Liên Xô trước đây và Ấn Độ cả. Gần 70 năm, từ khi cách mạng thành công, Ấn Độ thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên, lúc thì đảng này cầm quyền, lúc đảng kia cầm quyền, nhưng tình cảm với Việt Nam thì luôn sâu đậm. Nhưng mà họ ở xa và tiềm lực của họ cũng có hạn, nên không thể giúp đỡ chúng ta như mong muốn. Người Nga cũng vậy. Rất tốt. Nhưng khi Trung Quốc đánh chiếm 7 đảo chìm ở Trường Sa ngày 14/3/1988 thì Hạm đội của Nga ở Cam Ranh có hành động gì đâu.
Một ông Thủ tướng Anh cuối thế kỷ 19 nói rằng, không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn. Điều này đúng với 5.000 năm trước và sẽ còn đúng với 5.000 năm tới. Nga không hành động gì cả vì lợi ích. Đừng có mơ hồ. Trung Quốc có làm gì đi chăng nữa thì các nước mạnh lắm cũng chỉ tuyên bố bằng mồm thôi. Tuy nhiên, điều quan trọng mà tôi muốn nói ở đây là, các nước họ ủng hộ Việt Nam đến đâu là do mình có làm được gì mà trong đó có lợi ích của họ không. Việc của mình mà mình còn không làm thì ai làm.
Tại sao khi ta chống Pháp, cả thế giới người ta ủng hộ chúng ta? Xin thưa là vì chúng ta “nai lưng”, đổ xương máu ra chiến đấu chống thưc dân để giành tự do và độc lập. Bao nhiêu năm chống Mỹ cả thế giới đứng quanh Việt Nam là vì mình chống xâm lược. Còn bây giờ mình mà không chống sự bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông thì ai ủng hộ. Bây giờ tôi chỉ nói đơn giản chuyện thế này thôi. “Gã hàng xóm” đẩy cửa vào đập phá nhà “anh”, người dân xung quanh đến giúp, “anh” lại bảo: “Không có chuyện gì đâu. Bạn bè chưa hiểu nhau ấy mà”. Thế thì ai còn có thể giúp “anh” được nữa. “Anh” phải lên tiếng phản đối với tổ trưởng dân phố thì bạn bè, bà con hàng xóm người ta mới đến giúp “anh” chứ. Nó đến nó đập nhà phá phách thế mà “anh” lại bảo không có chuyện gì cả thì thôi chứ còn gì nữa.
Vừa qua cộng đồng quốc tế cũng phản ứng khá mạnh mẽ về hành động ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc trên biển Đông, nhưng Trung Quốc vẫn ngang nhiên thực hiện ý đồ khống chế biển Đông. Đâu là nguyên nhân, thưa ông?
- Có hai nguyên nhân. Thứ nhất là, chính sách khống chế biển Đông của Trung Quốc là nhất quán và không bao giờ thay đổi. Hai là, phản ứng của Việt Nam và cộng đồng quốc tế chưa đủ sức răn đe Trung Quốc. Họ thấy như vậy nên họ càng lấn tới. Chứ nếu Việt Nam và cộng đổng quốc tế phản ứng mạnh mẽ hơn, tẩy chay Trung Quốc thì chắc chắn một năm sau mưu đồ của Trung Quốc sẽ sụp đổ. Như vậy, muốn hay không muốn họ cũng phải dừng lại. Phản ứng của Việt Nam chưa đủ mạnh, phản ứng của cộng đồng quốc tế chưa đủ mạnh, chưa buộc Trung Quốc phải trả giá.
Tôi nhắc lại một câu nói nổi tiếng của Napoleon đại ý rằng, thế giới phải chịu sự tàn phá khủng khiếp chính là do những người tốt không chịu hành động, chứ không phải do kẻ xấu gây ra. Trong trường hợp biển Đông hoàn toàn đúng. Nếu 90 triệu người Việt Nam, 8 tỷ người trên hành tinh nhất tề phản đối thì Trung Quốc không dám làm càn.
Thưa ông, có ý cho rằng, muốn bảo vệ đất nước, muốn đất nước phát triển thì đã đến lúc phải nhận thức được ai là bạn, ai là thù. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?
- Tư duy nước này là bạn, nước kia là kẻ thù là sai với Nghị quyết của Đảng. Chính một số cán bộ, thậm chí cán bộ có trọng trách, đã diễn giải sai Nghị quyết, làm mất phương hướng đấu tranh. Tôi là một trong những người tham gia viết Nghị quyết về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới năm 2003. 10 năm sau, năm 2013, chúng ta có Nghị quyết bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Nhưng có một luận điểm mà Nghị quyết năm 2013 không thay đổi so với năm 2003. Đó là ta không xác định ai là kẻ thù cả. Nghị quyết của Đảng nói thế này: Những ai ủng hộ sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ủng hộ đường lối đổi mới của Việt nam thì đó là đối tác của chúng ta.
Bất cứ những ai xâm phạm đường lối đổi mới, phát triển theo định hướng XHCN; bất kể những ai mà xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam thì đấy đều là đối tượng đấu tranh. Vì thế nghị quyết mới nói trong đối tượng có đối tác. Trong đối tác có đối tượng. Ví dụ Mỹ là đối tác kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ quan trọng nhất, nhưng nếu họ lại tìm mọi cách để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng thì về mặt này họ lại là đối tượng để đấu tranh. Ngược lại, Trung Quốc là nước láng giềng, họ là đối tác về kinh tế, nhưng họ lại xâm phạm chủ quyền của ta ở biển Đông nên họ là đối tượng đấu tranh trong lĩnh vực này. Nghị quyết nói rõ ràng mạch lạc thế cơ mà. Chứ còn ai nói rằng Mỹ là kẻ thù vĩnh viễn, Trung Quốc là bạn vĩnh viễn thì đấy là ngụy biện, xuyên tạc Nghị quyết của Đảng và phản bội lại lợi ích dân tộc.
Trung Quốc sắp khống chế toàn bộ Biển Đông
Trung Quốc cứ ngày càng lấn tới, nếu chúng ta cũng cứng rắn chống lại thì điều tồi tệ nhất là sẽ dẫn tới chiến tranh. Liệu điều xấu nhất ấy có xảy ra không, theo ông?
- Theo tôi thì Trung Quốc chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh. Mà họ cũng chẳng dại gì lại đi phát động chiến tranh cả. Họ đang áp dụng chiến lược của Quản Trọng (một chiến lược gia tài ba thời Xuân Thu, 685 TCN- NV) “Không đánh mà vẫn thắng”.
Vậy, theo ông thì Trung Quốc sẽ hành động như thế nào trong thời gian tới?
- Nếu chúng ta không có những hành động mạnh, quyết liệt thì chỉ trong vòng 15 tháng nữa (đến nửa đầu năm 2017) Trung Quốc sẽ khống chế toàn bộ biển Đông. 15 tháng còn lại kể từ tháng 4 năm 2016 này, Trung Quốc sẽ hoàn thiện tất cả các căn cứ quân sự ở biển Đông, đưa máy bay ném bom chiến lược H-6, H-6K xuống sân bay đá Chữ Thập, đưa máy bay tiêm kích J-10, J-11 xuống sân bay Gạc Ma, lắp thêm hàng chục ra đa tần số cao phục vụ quân sự ở các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa; đưa thêm các tên lửa hành trình YJ-62 chống hạm, đưa một loại tên lửa đạn đạo tầm bắn 1.400km đến Phú Lâm và các đảo khác nữa. Coi như họ hoàn thiện hệ thống quân sự trên biển Đông và khống chế hoàn toàn biển Đông.
Chẳng lẽ chúng ta chấp nhận điều ấy?
-Nếu ta cứ ngồi yên như hiện nay thì họ sẽ làm như vậy.
Trước tình thế như vậy, là người có nhiều năm nghiên cứu về tình hình biển Đông, theo ông Việt Nam cần phải làm gì?
- Trung Quốc trắng trợn thay đổi hiện trạng như vậy trên biển Đông mà ta phản ứng của chúng ta mới chỉ ở mức Người phát ngôn Bộ Ngoại giao thì không được. Phải là ở cấp cao nhất. Phải là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao gửi công hàm cho Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc. Phải là Thủ tướng Chính phủ gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc. Phải là Chủ tịch nước, Tổng Bí thư gửi cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc công hàm phản đối chuyện này, nhắc lại với họ rằng, Việt Nam rất quý trọng quan hệ Việt- Trung, nhưng những việc làm của Trung Quốc trên biển Đông đã đi ngược lại hệ thống luật pháp quốc tế, đi ngược lại 7 lần Lãnh đạo Trung Quốc cam kết với Việt Nam. Ông Hồ Cẩm Đào, ông Ôn Gia Bảo: 3 lần hứa với Việt Nam. Ông Tập Cận Bình: 3 lần hứa với Việt Nam. Ông Lý Khắc Cường một lần hứa với Việt Nam. 7 lần hứa, nhưng không thực hiện. Sau đó thông báo kịp thời thực trạng biển Đông cho người dân biết.
Còn người dân có được quyền phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc bằng các hình thức như biểu tình chẳng hạn?
- Quan điểm của tôi là cho phép người dân biểu tình trong trật tự luật pháp. Ở nông thôn, ở thành phố người dân được biểu tình. Hàng ngàn người xuống đường không ảnh hưởng đến các hoạt động của xã hội, chỉ hô vang các khẩu hiệu: “Trưởng Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam!”, “Phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm chiếm trái phép lãnh thổ Việt nam!”. Hô khẩu hiệu rền vang từ núi rừng, nông thôn đến thành phố phản đối Trung Quốc quân sự hóa biển Đông, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.
Tuy nhiên không cho phép ai kích động người dân chống Trung Quốc một cách cực đoan. Chúng ta phải phân biệt 1 tỷ 300 triệu người Trung Quốc với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Người dân Trung Quốc họ cũng nhân hậu lắm, hòa hiếu như người Việt Nam thôi, chứ đừng có “vơ đũa cả nắm”. Tại sao chúng ta lại không hoan nghênh những người dân Trung Quốc ủng hộ Việt Nam? Đi biểu tình một cách văn minh, không ảnh hưởng đến trật tự giao thông, không đụng chạm đến sứ quán và các cơ quan đại diện, văn phòng, doanh nghiệp của Trung Quốc.
Xin cám ơn ông!
Nước ta có mấy ngàn năm văn hiến?
Hỏi: Thường nghe nói Việt Nam có 4.000 năm lịch sử/văn hiến. Xin hỏi có đúng là 4.000 năm hay không?
ÚT NÂU (Cao Lãnh, Đồng Tháp)
NGHÊ DŨ LAN: Vào thế kỷ 15, khi viết Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi (1380–1442) chỉ nói: “Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thật vi văn hiến chi bang”. (Ngô Tất Tố dịch: Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu). Rõ ràng Nguyễn Trãi không xác định nước Nam có mấy ngàn năm văn hiến.
Cũng thế kỷ 15, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, (ĐVSK/NK) quyển III, sử gia Ngô Sĩ Liên (NSL) viết: “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương”. Như thế NSL xác định VN có văn hiến kể từ thế kỷ 2 Công nguyên (CN), suy ra (theo NSL) tính đến thế kỷ 21 VN vẫn chưa tròn 2.000 năm văn hiến!
Vậy, từ đâu ra con số tròn trịa 4.000 năm?
Con số 4.000 dường như được nói tới khá phổ biến từ nửa đầu thế kỷ 20. Bấy giờ có người đã lấy khoảng 2.000 năm CN để cộng với khoảng 2.600 năm TCN (thuộc thời đại Hùng Vương) rồi “làm tròn” con số xuống còn chẵn… 4.000.
Con số 2.600 này ở đâu ra? Họ căn cứ theo cách tính của sử thần NSL đời Lê. Trong ĐVSK/NK, quyển I, NSL viết: “Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương, ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN]”. Theo bản dịch của Viện KHXH VN (1985-1992), bản in NXB KHXH (Hà Nội 1993).
Có người “tỉ mỉ”, thử lấy 2.622 năm chia đều cho 18 đời Hùng Vương thì thấy mỗi đời trị vì tới 145 năm rưỡi. Con số ấy không có sức thuyết phục!
Hiện nay, khoa khảo cổ học đã xác định lịch sử văn hóa văn minh Việt Nam mở đầu với thời cổ đại là thời đại Hùng Vương, cũng gọi là thời đại văn hóa Đông Sơn (di tích Đông Sơn nằm bên bờ sông Mã, Thanh Hóa), văn minh sông Hồng, văn minh Việt cổ (khoảng từ thế kỷ 7 TCN tới thế kỷ 1 CN). Như thế, phải chăng bề dày văn hiến của VN tính tới nay vẫn chưa tròn 3.000 năm?
Gần đây một số tác giả tỏ ra dè dặt hơn, thí dụ chỉ nói “VN, ngàn năm văn hiến” hay “Thăng Long, nghìn xưa văn hiến”. Ta hiểu ngầm là hàng ngàn năm, nhiều ngàn năm, chứ không khẳng định con số cụ thể.
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016
Mỹ không nhường Trung Quốc
Ngày 12-4, Đại sứ Philippines tại Mỹ Jose Cuisia cảnh báo, mọi động thái của Trung Quốc nhằm biến bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham đang tranh chấp thành đảo nhân tạo sẽ làm leo thang các vụ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, đồng thời yêu cầu Washington thuyết phục Bắc Kinh không thực hiện bước đi “khiêu khích nghiêm trọng” này.
>> Hạm đội Trung Quốc tập trận ở Biển Đông
>> Thế trận mới Mỹ -Trung ở biển Đông
Tờ Asahi Shimbun cũng dẫn lời Đại sứ Jose Cuisia cho biết, năm 2016 Philippines nhận 75 triệu USD viện trợ quân sự của Mỹ, trong khi con số này năm 2015 là 50 triệu USD. Và 2016 sẽ là năm Manila nhận được viện trợ quân sự nhiều nhất từ Washington sau khi quân đội Mỹ quay trở lại Philippines.
Đại sứ Jose Cuisia còn cho biết thêm, Manila đang đàm phán với Washington về việc tiếp nhận tàu hộ tống lớp Hamilton thứ 4 để tăng cường năng lực tuần tra trên biển. Trước đó, tờ Sun Star từng dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter cho biết, Mỹ sẽ dành cho Philippines 40 triệu USD viện trợ quân sự, tăng cường chia sẻ tình báo, giám sát và tuần tra, và sự viện trợ này sẽ giúp cho Mỹ - Philippines nâng cấp lên “một cấp độ mới”.
Trong khi đó, một quan chức ngoại giao cấp cao của Philippines cho biết, Washington sẽ cấp cho Manila khoản viện trợ quân sự trị giá hơn 120 triệu USD, mức cao nhất trong khoảng 15 năm qua.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Jacob J. Lew
Giới chức quốc phòng Mỹ cũng đang theo dõi sát số tàu Trung Quốc đang xuất hiện gần bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham bởi ông Ashton Carter sẽ tới Philippines vào cuối tuần này để thảo luận về các mối đe dọa trong khu vực.
Ngày 11-4, tờ The Philippine Star cho biết, một tàu tuần duyên Trung Quốc đã áp sát và người trên tàu chĩa súng đe dọa ngư dân Renato Etac đang trên tàu cá của mình, buộc ông rời khỏi ngư trường quanh bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham. Việc lực lượng tuần duyên Trung Quốc chĩa súng đe dọa, xua đuổi ngư dân khỏi ngư trường truyền thống ở bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham vừa trở thành tâm điểm của giới truyền thông Philippines. Theo thống kê, hiện có hơn 300 tàu cá Trung Quốc hoạt động tại ngư trường quanh bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham.
Cũng trong ngày 11-4, tờ Thời báo Hoàn cầu đưa tin, sau chuyến thăm Ấn Độ, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter sẽ tới Philippines, để hội kiến với Tổng thống Benigno Aquino, hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Gazmin, thăm căn cứ huấn luyện Magsaysay của lục quân Philippines và căn cứ không quân Antonio Bautista.
Và trong thời gian thăm Manila, ông Ashton Carter sẽ quan sát cuộc tập trận chung Balikatan 2016 giữa Mỹ và Philippines đang tiến hành ở Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ quan sát cuộc tập trận này và ông chủ Lầu Năm Góc sẽ khẳng định vị thế “trung tâm” và “làm mẫu” của Philippines trong chiến lược tái cân bằng của Washington tại Châu Á - Thái Bình Dương.
Từ tháng 1-2016, ông Ashton Carter đã gọi Philippines là “bộ phận trung tâm” của chiến lược tái cân bằng Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ. Cùng ngày 11-4, tờ Deutsche Welle cho biết, khi phát biểu tại Hiệp hội quan hệ ngoại giao Mỹ, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew đã kêu gọi tiếp tục duy trì vị thế lãnh đạo của Washington trong nền kinh tế thế giới, không thể nhường vị trí này cho Trung Quốc.
Theo giới truyền thông, ngay những ngày đầu tiên của cuộc tập trận chung Balikatan 2016 ở Philippines, Mỹ đã sử dụng hệ thống tên lửa cơ động cao M142/High Mobility Artillery Rocket System (HIMARS) phóng 6 quả đạn tên lửa, với tầm bắn có thể vươn đến mọi đảo và bãi đá trên Biển Đông. Hệ thống tên lửa này có thể phát hiện, khóa mục tiêu trong vòng 16 giây.
Tờ Defend News dẫn lời học giả Richard Heydarian, Giáo sư khoa học chính trị thuộc Đại học De La Salle ở Manila cho rằng, cuộc tập trận Mỹ - Philippines nhằm gửi đi tín hiệu sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc nếu cần.
Trước đó, Giáo sư Richard Javad Heydarian còn cảnh báo, Philippines có nguy cơ thua trong vụ kiện “đường lưỡi bò”, nếu Đài Loan thuyết phục được Tòa Trọng tài Thường trực tại The Hague, Hà Lan (PCA) rằng, đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam là một hòn đảo, chứ không phải là một bãi đá. Chính vì điều này nên Đài Loan đã xây trái phép một bệnh viện gồm 10 giường, một trạm hải đăng và trạm hỗ trợ chế biến cá ở đảo Ba Bình. Học giả Ian Storey thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á coi lập trường về đảo Ba Bình là cách lãnh đạo Đài Loan tiếp tay cho nỗ lực bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.
Bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham
Tiến sĩ Gregory Poling, Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á và tiến sĩ Zack Cooper, thành viên Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược quốc tế (CSIS), vừa mới có bài bình luận trên cổng thông tin điện tử của CSIS về khả năng diễn biến trên Biển Đông sau phán quyết của PCA. Cả 2 tiến sĩ kể trên đều tin rằng, nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ thua kiện trong một số nội dung mà Manila khởi kiện xung quanh “đường lưỡi bò”. Nếu PCA ra phán quyết bất lợi cho Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ không tuân thủ và sẽ có động thái nhằm leo thang căng thẳng trên Biển Đông.
Thứ nhất, áp đặt một lệnh phong tỏa quân đội Philippines tiếp tế cho lực lượng đồn trú ở bãi Cỏ Mây, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Thứ hai, sẽ triển khai bất hợp pháp các loại vũ khí hiện đại tới một số đảo nhân tạo xây dựng trái phép ở Trường Sa. Thứ ba, đơn phương áp đặt Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông. Thứ tư, tiến hành bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham (chiếm quyền kiểm soát từ tháng 4-2012).
Và điều này từng được Đô đốc John Richardson, Tham mưu trưởng hải quân Mỹ cảnh báo. Theo giới quân sự, bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham nằm cách đảo Luzon 120 hải lý, cách thủ đô Manila 185 hải lý, cách quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên 250 hải lý. Nếu Bắc Kinh xây dựng được một tiền đồn quân sự vững chắc ở đây, quân đội Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện bất hợp pháp gần như trên khắp Biển Đông.
Tờ Thời báo Tự do Đài Loan dẫn thông tin từ Phủ Tổng thống Philippines cho biết, Tổng thống Benigno Aquino đã thành lập “Tiểu ban công tác đặc biệt toàn quốc biển Tây Philippines”, để thống nhất quản lý các vấn đề liên quan đến Biển Đông.
Tiểu ban công tác này do Cố vấn An ninh quốc gia Philippines Cesar Garcia làm Chủ tịch. Thành viên của tiểu ban này gồm quan chức cấp Thứ trưởng của gần 20 cơ quan chính phủ, nhằm thống nhất hành động trong vấn đề Biển Đông.
Trước đó, Tổng thống Benigno Aquino đã bổ nhiệm ông Jose Almendras làm Ngoại trưởng, thay thế ông Albert del Rosario, người được coi là "kiến trúc sư" của vụ kiện “đường lưỡi bò”
Theo Tuấn Quỳnh
Cơ khổ!
Nhà sử học, GS Lê Văn Lan tâm tư rằng, 10/3 không phải là ngày gốc giỗ Tổ Hùng Vương, không đáng để xảy ra cảnh xô đẩy nhau, khổ ải đến thế.
Biển người chen lấn, xô đẩy đến ngạt thở, khiến nhiều trẻ em và người già ngất xỉu ở lễ hội đền Hùng vừa qua đã tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề cần suy ngẫm về văn hóa lễ hội của người Việt.
PV đã có cuộc trao đổi với GS Lê Văn Lan nhìn nhận về câu chuyện này.
- Thưa Giáo sư, ngày càng nhiều người dân Việt Nam hành hương về đền Hùng nhân ngày giỗ Tổ. Đây là nét đẹp văn hóa tâm linh đáng quý nhưng nhìn vào cảnh tượng hàng triệu người xô đẩy chen lấn nhau,người già, trẻ nhỏ ngất xỉu, lực lượng công an phải vào giải cứu, Giáo sư có suy ngẫm thế nào về những vấn đề xảy ra như vậy tại lễ hội đền Hùng?
Tôi cho rằng, sở dĩ lễ hội đền Hùng năm nay đặc biệt hơn năm khác là đông quá thể, quá mức.
| Công an phải giải cứu trẻ nhỏ thoát khỏi biển người đi lễ đền Hùng (ảnh: theo Trần Thường/VietNamNet) |
Mấy chục năm trước, khi tôi còn là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học về khu di tích này, cũng đã có tình trạng này rồi. Nhưng khi đó, quy mô, sự đông đúc theo công bố lúc đó chỉ từ ba chục vạn đến năm chục vạn người thôi. Bây giờ, quy mô lên tới con số hàng triệu thì khủng khiếp quá. Sự khủng khiếp này, trước tiên là do ý thức hội của những người đi hội bây giờ.
Tôi nhớ đến bản sắc chỉ của vua Quang Trung ngày 16/2 năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung đã gửi sắc chỉ này về cho chính làng Hy Cương (Xã Hy Cương, Tp Việt Trì, Phú Thọ) ở dưới chân núi và dặn dò, hãy tổ chức lễ hội sao cho cẩn trọng. Đồng thời, việc tổ chức lễ hội phải nhằm đến mục đích "Giữ cho mạch nước vững bền, sông núi dài lâu". Đấy là ý nghĩa của việc làm lễ hội, đi lễ hội, hưởng thụ lễ hội ở đền Hùng.
Tiếc rằng, chúng ta chưa làm cho mọi người đi lễ hội bây giờ thấm nhuần được ý thức hội khi đi đền Hùng là như thế. Cho nên, xen nhau, xô nhau, đẩy nhau, thậm chí có thể may quá mà chưa chết ngạt! Đường "choa", "choa" cứ đi và làm nên ý thức hội rất đáng quan ngại.
- Rõ ràng, những khu di tích văn hóa lịch sử như đền Hùng dù có mở rộng đến đâu cũng không thể đáp ứng một lúc tới 5-7 triệu lượt người đến lễ một lúc. Số người đi lễ có thể còn tăng lên hàng triệu nữa vào những mùa lễ sau. Giáo sư có cho rằng, cứ phải đến tận nơi mới thể hiện được lòng biết ơn, sự thành kính với tổ tiên và được phù hộ độ trì, còn chiêm bái từ xa thì không thể hiện được, không linh?
Chắc chắn, chúng ta sẽ phải có những biện pháp như giãn lễ hội ra. Không cứ phải đến đền Hùng mới trải lòng được với tổ tiên.
Bây giờ, đã có kế hoạch do Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch thực hiện là giãn cả những việc thờ cùng, đi lễ đền Hùng ra nhiều địa phương trên cả nước. Từ chỗ chỉ có một đền Hùng, bây giờ, chúng ta có hàng trăm nơi để đến ngày 10/3, mọi người giãn ra, có thể đến đó hành hương, gửi tấm lòng của mình cho tổ tiên, cho vận nước, cho quốc gia, cho dân tộc.
| |||||||||||
Sự thực lịch sử như tấm bia ở trên đền Thượng ghi "Hùng Vương từ khảo", nói rất rõ, xưa kia, lễ hội đền Hùng mở vào mùa thu. Mùa thu mới là thời điểm, thời gian mở lễ hội gốc của văn hoá Việt.
"Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3", ai cũng nói là câu này có từ ngàn xưa. Nhưng không phải vậy, chắc chắn là nó chưa có đầy 100 năm. Và ngày mùng 10 bây giờ rất linh thiêng, cả nước được nghỉ, là ngày Quốc lễ. Nhưng thực ra, nó chỉ bắt đầu có từ năm 1917 thôi.
Cho nên, nếu chúng ta làm rõ được cho đồng bào chúng ta biết, ngày 10 là một thứ thời gian tình cờ táp vào đó thôi, không đáng để mà xô nhau, chịu tại nạn, khổ ải đến mức quá đông đúng như thế này.
Video: Chen lấn kinh hoàng tại lễ hội Đền Hùng
- Sự chia sẻ của Giáo sư rất đúng, nhưng những người dân làm sao nghe và hiểu được, bởi một bài báo không đủ, 100 bài báo cũng không đủ. Câu chuyện này có lẽ không phải chỉ nằm ở vai trò của mỗi tỉnh Phú Thọ mà còn là vai trò của các bộ. Giáo sư nghĩ sao về trách nhiệm của cá cBộ, ví dụ như Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch trong việc tổ chức một lễ hội như lễ hội đền Hùng cho văn minh, an toàn, thuận tiện cho những người hành hương?Không thể cứ để nguyên cho làng Hy Cương, thôn Cổ Tích ở đó lo liệu lễ hội nữa. Nhưng bây giờ, việc lo liệu lễ hội đó, các bộ, ban, ngành cũng đã có làm rồi, rất có ý thức, đã tận tuỵ nhưng lực bất tòng tâm.
Vấn đề cơ bản là vấn đề tuyên truyền, huấn luyện. Tất cả tập trung lại, giới thiệu thành một phong trào, làm cho mọi người quán triệt càng sâu sắc, càng đúng đắn, càng tốt về ý thực hội. Một khi ý thức hội ở đây được thấm nhuần, được xác định cho rõ ràng thì người ta, từ quần áo, thái độ, cử chỉ đến việc tổ chức đám đông sẽ thành kính, thiêng liêng và trật tự.
Xin cảm ơn sự chia sẻ bổ ích và những kiến nghị đầy tâm huyết của Giáo sư!
Người Mỹ 'phải nhìn khác về chiến tranh VN'
>> Sài Gòn, ngày 29 tháng Tư
>> 'VN cái gì cũng muốn nhất nhưng toàn làm ngược'
Lê Quỳnh
>> 'VN cái gì cũng muốn nhất nhưng toàn làm ngược'
Lê Quỳnh
BBC - Sự kiện tác giả người Mỹ gốc Việt chiến thắng hạng mục Tiểu thuyết của giải thưởng danh giá Pulitzer 2016 đã đem lại niềm tự hào cho cộng đồng người Việt trong ngoài nước.
Những người đã đọc tiểu thuyết The Sympathizer của ông Viet Thanh Nguyen (Nguyễn Thanh Việt) nhận định đây là khoảnh khắc bước ngoặt trong văn chương Mỹ, hứa hẹn góc nhìn của người Việt về Chiến tranh Việt Nam sẽ nổi bật hơn trong dòng chính của phương Tây.
Nhưng chưa rõ liệu tiểu thuyết sẽ có thể được dịch và in chính thức ở Việt Nam hay không.
Tiểu thuyết đầu tay The Sympathizer của ông Viet Thanh Nguyen, đang dạy ngành Nghiên cứu Hoa Kỳ và Sắc tộc ở Đại học Nam California, đã được giải Pulitzer hạng mục tiểu thuyết.
Nói với BBC, nhà văn người Mỹ gốc Việt Vu Tran, dạy văn học ở Đại học Chicago, nhận xét đây là “giây phút bước ngoặt cho văn học Mỹ”.
“Hy vọng độc giả ở Mỹ và nước ngoài giờ đây sẽ có cái nhìn sâu sắc, rộng lớn hơn về giai đoạn lịch sử chung này, khi đọc cuốn The Sympathizer, và các tác phẩm của nhiều tác giả người Việt khác.”
Ông Vu Tran, sinh năm 1975 tại Sài Gòn và cùng gia đình sang Mỹ năm 1980, có tiểu thuyết đầu tay Dragonfish.
Hai tác phẩm đầu tay của Viet Thanh Nguyen và Vu Tran có điểm chung là cùng đánh giá di sản Chiến tranh Việt Nam, cùng lọt vào danh sách bình chọn 2015 của báo New York Times.
Ông Vu Tran đánh giá tác giả Viet Thanh Nguyen “đã tạo ra bước ngoặt để người Việt Nam và người Mỹ gốc Việt có thể chủ động hơn trong việc kể về cuộc xung đột này”.
'Tiên phong'
Trong khi đó, nhà văn Nguyễn Quí Đức, đã nhiều năm sống ở Mỹ trước khi về Hà Nội, nói ông Viet Thanh Nguyen là một trong những người “tiên phong”.
Ông Viet đã “thúc đẩy người Việt hải ngoại viết lại các câu chuyện của mình, và cuốn sách này là một tác phẩm quan trọng giúp giải thích tâm lý nhiều người trong cuộc chiến”.
Trong các phỏng vấn với truyền thông Mỹ, ông Viet Thanh Nguyen cho biết ông bắt đầu viết văn từ khi còn là sinh viên nhưng rồi dừng lại để học lấy bằng tiến sĩ và đi dạy.
Sau khi đã ổn định công tác nghiên cứu ở đại học, ông quay lại đam mê văn chương.
Ông đưa cho người môi giới một tuyển tập truyện ngắn, nhưng được khuyên phải viết tiểu thuyết nếu muốn bán được sách.
Tiểu thuyết The Sympathizer được ông viết suốt hai năm, được nhà xuất bản Grove/Atlantic mua vào cuối năm 2013.
Trên trang web của mình, ông Viet Thanh Nguyen cho biết: “Khi tôi lớn, tôi đọc sách, xem phim về Chiến tranh Việt Nam của Mỹ, nhưng rất ít điều nói về người Việt, họ được mô tả theo lối mòn, làm nền cho người hùng Mỹ.”
The Sympathizer viết về cộng đồng người Việt tỵ nạn thời hậu chiến, với một nửa câu chuyện diễn ra trên đất Mỹ và nửa kia bên Đông Nam Á.
Ông Vũ-Đức Vượng, một nhà báo tại Mỹ, nhận xét: “The Sympathizer khẳng định lại chỗ đứng của những người một thời tất tả chạy trốn đến khi tìm được chỗ đứng –dù là còn mong manh và chưa thoát khỏi vòng kim cô của cuộc chiến-- trong một xã hội đa dạng, Tây phương và khá dân chủ.”
Nhà văn Aimee Phan, tác giả cuốn The Reeducation of Cherry Truong, cũng khen ngợi với BBC rằng tác phẩm là “cách trả lời thông minh, mạch lạc và đôi khi gay gắt trước những quan điểm và phê bình về Chiến tranh Việt Nam”.
“Cuốn sách nêu bật vai trò và trải nghiệm phức tạp của người Việt, vốn thường bị mô tả theo mô hình rập khuôn, hay đóng vai phụ trong các câu chuyện, đặc biệt tại Mỹ.”
Được in ở Việt Nam?
Nhiều tờ báo ở Việt Nam đã nhanh chóng đưa tin về sự kiện.
Tuy vậy, với nội dung về một điệp viên cộng sản được cài vào hàng ngũ Việt Nam Cộng Hòa và sau đó sang Mỹ để theo dõi một nhóm “phản động”, chưa rõ tác phẩm có thể được in tại Việt Nam hay không.
Ông Vũ-Đức Vượng nói: “Việc dịch cuốn tiểu thuyết này sang tiếng Việt, tuy không khó nhưng để được phát hành chính thức tại Việt Nam cho người Việt đọc, tôi e là còn khó khả thi trong lúc này.”
“Nhìn vào chi tiết thì nội dung có những điểm mà chính quyền trong nước hiện thời khó có thể chấp nhận; còn nhìn vào chỗ đứng của The Sympathizer trên văn đàn thế giới thì tôi nghĩ không khí văn hóa cũng như chính trị trong nước chưa cởi mở đủ để rộng tay đón tác phẩm này.”
Ông Vượng nói: “Có thể là tôi chẩn đoán sai về tình hình trong nước, nhưng nếu tôi sai thì cũng là một điều đáng mừng cho dân tộc mình.”
Nhận xét chung về ảnh hưởng của The Sympathizer, nhà văn Aimee Phan nói: “Tiểu thuyết này có thể mở lại một cuộc đối thoại lớn hơn về dư âm cuộc chiến. Thực sự, góc nhìn của người Việt xứng đáng được phân tích.”
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)