Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Ý KIẾN CỦA GS VÕ TÒNG XUÂN VỀ HIỆN TRẠNG NGẬP MẶN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, _____________________________________________________________


Xin đừng quá bi quan trước hiện tượng lúa bị chết mặn như báo chí đã loan tin. Họ không loan tin về các nông dân nhờ có nước mặn mà nuôi tôm rất thành công (giá trị gấp 3-4 lần lúa), và họ không hề lên tiến dùm những nông dân nuôi tôm bị chết vì thiếu nước mặn do địa phương ngăn mặn để cứu lúa, nhưng lúa không đủ nước ngọt nên lúa cũng thiệt hại theo tôm.
Đây là lỗi của Bộ Nông nghiệp và chánh quyền các tỉnh có bờ biển tiếp giáp, chỉ biết trồng lúa-lúa-lúa bất chấp thiên nhiên không cho phép, họ tốn hàng chục ngàn tỉ đồng để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau, nhưng kết quả là nước ngọt vẫn không đủ cho ngọt hóa. Chỉ mấy ông làm thủy lợi mới hưởng lợi vì có ximăng, sắt thép, bê tông để xơi.
Chúng ta đều thấy rằng thời kỳ cả nước ai ai cũng lo cho an ninh lương thực đã qua rồi vì nay ta sản xuất dư thừa để xuất khẩu 7-8 triệu tấn/năm với giá bèo như vậy. Nông dân trồng lúa của ta đã 40 năm rồi mà vẫn là những người nghèo, họ bị hô hào phải trồng lúa thật nhiều (để cho người ta được thăng quan tiến chức). Đã đến lúc cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương và các phương tiện truyền thông do Ban Tuyên Giáo chỉ đạo phải đổi mới tư duy làm kinh tế, chọn lựa hướng sản xuất và tìm đầu ra cho các hướng đó thế nào để có giá trị cao hơn mà không tiêu xài quá nhiều nước ngọt - tài nguyên thiên nhiên không tái tạo.
Tư duy về nước mặn là kẻ thù, phải ngăn mặn, không còn hợp thời này nữa. Phải coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với tôm, cua... một cách bền vững hài hòa thiên nhiên. Những vùng theo hệ thống lúa-tôm của Sóc Trăng hiện nay được giàu có nhờ trồng lúa rất thành công trong mùa mưa và sau khi dứt mưa thì cũng vừa gặt lúa xong, liền cho nước mặn vào nuôi tôm. Đến mùa mưa tới, nông dân trở lại trồng lúa.
Chúng ta hãy thay đổi tư duy, không buộc nông dân trồng lúa quá nhiều để cho quan lên chức và nuôi dân các nước khác có ăn để họ làm giàu nhờ sản xuất các sản phẩm giá trị hơn lúa.
GS.TS Võ Tòng Xuân gửi trực tiếp qua e-mail
Sài Gòn 8/3/2016
Prof. Dr. Vo-Tong Xuan
Rector Emeritus, An Giang University
Rector, Nam Can Tho University

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Các bác lại nhầm rồi, "Sáng tạo theo tinh thần hũ nút" chả thằng đệch nào sướng cả!

Cái sướng của các nhà văn
Vũ Hà Văn - Mình nghe một nhà văn rất nổi tiếng than thở: Gửi bản thảo đi cả năm, bây giờ họ lại bắt kiểm duyệt mấy chỗ, chán quá, chẳng muốn in nữa.
Văn sĩ thức khuya dậy sớm, lao tâm khổ tứ, trà thuốc tốn kém, quát tháo vợ (chồng) con, mới nghĩ ra được câu đắc ý, nay lại bị cắt xoẹt cái, ai mà không tức. Xét cho kỹ, thì kiểm duyệt bây giờ cũng đỡ hơn cách đây 30 năm, nhiều khi bản thảo chưa kịp gửi đi toà soạn, cán bộ ban văn hoá tư tưởng đã qua chơi, nhân tiện nhờ nhà thơ giải nghĩa cho mấy chữ. Các bài cần giải thích, thường là từ từ xếp lại, cho vào ngăn kéo, để độ chục năm sau đăng vẫn kịp, hay như mới.

Để an ủi bạn văn sĩ, mình nói rằng là với cái sự xuất bản, khổ nhất vẫn là các nhà toán học. Cũng chẳng biết là than thở rằng mình khổ hơn bạn có phải là phương pháp an ủi hiệu quả không, nhưng các nhà toán học khổ như bò thì là điều chắc chắn. Cũng thức khuya dậy sớm như ai, nhưng viết ra đọc trong nhà ngoài ngõ không ai thèm hiểu. Và tới khi gửi đi, thì cái đau đầu nó mới bắt đầu.

Phàm là bản thảo tới tòa soạn, nó sẽ nằm yên đó chừng vài ba tháng, vì ông thư ký tòa soạn vô cùng bận. Cái này dĩ nhiên, phải thông cảm, vì tất cả những người làm editor cho các báo toán học, hay khoa học nói chung, đều là tự nguyện, làm ngoài giờ giảng dạy nghiên cứu bình thường của họ. Tất nhiên ở đây mình muốn nói tới các tạp chí tương đối uy tín. Ngoài ra tất nhiên có rất nhiều tạp chí sẽ in bài của bạn trong vòng hai tuần, hoặc ba nếu thay cho bản thảo, bạn gửi nhầm giấy hóa đơn thanh toán tiền nước.

Sau mấy tháng bình yên ấy, bài của bạn sẽ được gửi đến các phản biện, chừng 2-4 người. Các anh phản biện cũng không công nốt, nên các anh có nhận đọc hay không tùy thuộc vào trạng thái tâm lý trong ngày. Chẳng hạn nếu sáng bị vợ mắng vì đánh đổ sữa ra bàn thì quên ngay chuyện ấy đi, nhanh và luôn. Mà bình thường các anh bị mắng với xác suất khá cao, nên tìm ra được 2-4 anh dễ tính, khéo cũng mất vài tháng nữa.

Phản biện nhận rồi, công trình mồ hôi nước mắt của bạn sẽ được lên list “những việc cần làm ngay” của anh ấy, xếp hạng quãng từ 85 đến 125. Tất nhiên, như tất cả chúng ta, anh chẳng bao giờ sờ đến việc nào có hai chữ số cả.

Thế nhưng rồi công trình của bạn, nhờ một phép màu nào đó, vẫn được đọc. Có thể phản biện khoái chí vì thấy công trình của bản thân xuất hiện trong bài báo, có thể một ngày đẹp trời anh quyết định chơi đem lại niềm vui cho nhân loại bằng một cống hiến mang tính ngẫu nhiên. Hoặc đơn giản là anh đã rất rất chán cái thư thứ 22 của toà soạn gửi đến hỏi khi nào quí giáo sư có thể cho ý kiến về công trình X.

Nếu may mắn, sau chín tháng đến một năm, bạn sẽ nhận được phản hồi từ tòa soạn, với các ý kiến của phản biện. Các ý kiến này có thể rất vắn tắt (phản ảnh đúng tâm trạng của phản biện trong ngày) như:

“The author may want to prove a different theorem, and correctly !”

cho đến những ý kiến mang tính kỹ thuật

“I think the lemma used in page 25 was first proved by my student”

“The two epsilons in the last paragraph of page 34 seem to be two different quantities”

“If I were the author, I would keep the references and rewrite the rest of the paper”

“I would try to avoid the using the word “very” very often”…

Tóm lại sẽ có hai trường hợp. Thứ nhất là bạn sẽ nhận được một bức thư với những lời lẽ ngọt ngào âu yếm từ tòa soạn, nói rằng báo của họ quá nhiều ấn bản rồi, không thể in nổi cái bản thảo của bạn, mặc dầu nó rất có giá trị. Trong trường hợp này, bạn chỉ cần đơn giản mua một quyển lịch cho năm mới, và bắt đầu lại cái quá trình bản thảo với một tòa soạn khác.

Trường hợp thứ hai khá hơn. Tòa soạn thông báo họ có thể đăng bài của bạn, nếu bạn đồng ý sửa chữa bài theo ý của các phản biện đáng kính, chẳng hạn các ý kiến trên.

Tất nhiên là sau một năm, bạn đã gần quên béng những chi tiết của cái bài báo quái quỉ đó rồi, và có trời biết được tại sao hai cái epsilon ở trang 34 nó lại phải khác nhau. Vậy nên bạn sẽ ngồi thêm một tháng nữa, tốn vô số trà thuốc, để đọc hiểu công trình của chính mình và thỏa mãn ý kiến của các phản biện, như đã nhấn mạnh, rất là đáng kính.

Giả sử bạn đã qua được bước đường đau khổ này, và các phản biện hạnh phúc vì những ý kiến quí báu của họ được tôn trọng, bài của bạn sẽ được chuyển sang khâu in ấn. Bạn sẽ xoa tay, mỉm cười hạnh phúc, tưởng tượng cầm trên tay quyển tạp chí mới in thơm màu mực, với tên bạn ở trang đầu….

Ha ha, bạn cứ mơ đi nhé! Phần lớn các tạp chí tương đối tốt bị chậm từ một đến ha năm. Nghĩa là số bài họ có trong tay trước bài của bạn đủ in cho một đến hai năm nữa. Nụ cười hạnh phúc của bạn cũng sẽ đến, nhưng nó sẽ đến muộn hai năm, trong thời gian đó con bạn sẽ cần mua một đống giấy mới.

Nụ cười hạnh phúc hiếm hoi đến sau 2-3 năm chờ đợi là sự mở đầu cho cái khổ sở thực sự của bạn. Vì người ta bảo: bài in ra có lẽ cần có người đọc, người dùng! Cũng như phim làm ra phải có người xem. Vô lý!! Về cái đòi hỏi rất quá đáng này, mình rất muốn chia sẻ sự cảm thông với một số đạo diễn điện ảnh.

Các nhà toán học, để cho cuộc sống của mình (hay của đồng nghiêp đáng kính phòng bên cạnh) thú vị hơn, thống kê rất chặt số trích dẫn của các bài báo (số lần bài báo được nhắc hay dùng tới trong một bài báo khác). Công bằng mà nói, trích dẫn nhiều chưa chắc bài báo đã hay. Nhưng mà không có trích dẫn, thì e hèm, có thể chắc chắn là nó tương đối dở. Cái trò này mới hiểm, vì bụp một cái, một số cây đa cây đề tự nhiên tán lá lại bớt sum suê.

Cho nên mình thấy các nhà văn vô cùng là sung sướng!


http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=111&CategoryID=2&News=9481
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ba giải pháp của Việt Nam ở Biển Đông

Các hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông gần đây cho thấy tham vọng của Bắc Kinh trong việc độc chiếm vùng biển này. Chiến lược chiếm hữu dần dần Biển Đông này đang gây quan ngại nghiêm trọng không chỉ đối với các nước trong khu vực.

Chúng tôi nói chuyện với ông Jean-Vincent Brisset, chuyên gia từ Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp:
Ông nghĩ sao về việc Trung quốc đang cố gắng cải tạo các bãi đá chìm thành đảo nhân tạo và bồi đắp các đảo nhỏ thành lớn hơn?
Ông Brisset: Luật Biển không thừa nhận những gì được xây dựng trên những thực thể không được coi là hòn đảo. Vì vậy, trên quan điểm về chủ quyền, thì xây dựng trên những hòn đảo này cũng không làm tăng thêm cơ sở cho các đòi hỏi về chủ quyền, theo quy định quốc tế.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc xây cất thêm đó cho phép họ tăng khả năng quân sự, tăng quyền lợi kinh tế (trong các vùng biển xung quanh).
Tôi nghĩ rằng Luật Biển khá rõ ràng: sở hữu một thực thể không phải là một hòn đảo theo định nghĩa của Luật Biển, tức là không có cư dân, và không có tài nguyên riêng (đủ cho cư dân trên đảo đó sống được), thì không có giá trị đòi chủ quyền vùng lãnh hải bao quanh. Vì vậy, việc tạo ra chủ quyền lãnh hải xung quanh các "hòn đảo" này, bất kể diện tích là to hay nhỏ, là không đúng với những gì được quốc tế chấp nhận.
Dưới góc độ quân sự thì việc chiếm hữu các vị trí này có giá trị thế nào?
Image copyrightIEAS
Ông Brisset: Về mặt quân sự, các "hòn đảo" chỉ có thể được coi như một cứ điểm nhỏ không mấy quan trọng. Lợi ích của nó chủ yếu là về kinh tế, đặc biệt cho ngư dân. Nhưng nếu diện tích vượt quá một ngưỡng nhất định, máy bay chiến đấu có thể hạ cánh được, có thể triển khai trên đó vũ khí hạng nặng, có cảng biển lớn đến mức tàu chiến có thể ghé vào lấy đồ tiếp tế... thì lại là chuyện khác.
Nguy cơ lúc đó sẽ là từ sở hữu về kinh tế, rồi sẽ mở rộng dần sang sở hữu lãnh thổ và chủ quyền. Và hành động đó tạo căng thẳng với các nước trong khu vực.
Các nước khác cũng đã mở rộng đảo nhỏ. Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Philippines đã mở rộng một số đảo, nhưng ở một quy mô khác, và họ không đòi chủ quyền biển xung quanh các đảo đó.
Trung Quốc cũng đang phải trả giá cho hành động của mình. Chiếm thêm được biển, giành được ưu thế về quân sự, nhưng cũng mất đi uy tín, trở nên không đáng tin cậy đối với các nước trong khu vực. Ông có nghĩ là cái giá đó là đắt hay không ?
Ông Brisset: Tôi nghĩ rằng hệ thống mà Trung Quốc đang dựa vào là tìm cách giành chiến thắng một cách âm thầm lặng lẽ trong các cuộc đàm phán, đồng thời dựa cả vào cán cân về quyền lực trong các mối quan hệ song phương. Trung Quốc đã rất thành công khi dùng vũ lực hồi năm 1974 trên các quần đảo Hoàng Sa, và bây giờ vẫn chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, trong lúc thế giới đều không để ý đến [những gì đã xảy ra ở đó].
Giờ đây Trung Quốc muốn mở rộng lãnh hải một chút nữa, theo cùng một cách như Trung Quốc vẫn làm, đó là chỉ nói chuyện song phương, đồng thời tuyên bố chủ quyền một số hải đảo của Việt Nam, Philipines, Malaysia...
Trung Quốc tăng hiện diện trên những hòn đảo, và sẽ dần áp đặt sự có mặt bằng cách xây dựng thêm và tăng chủ quyền thực tế. Tại thời điểm này, cách làm của Trung Quốc đang có kết quả. Trung Quốc đã tạo ra một cơ cấu hành chính hoàn toàn không được công nhận quốc tế, nhưng cơ cấu hành chính này vẫn tồn tại, về hành chính, về quân sự, về chính trị, và được gọi là Tam Sa.
Như vậy các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines có thể làm gì? Quốc tế hoá sự việc phải chăng là cách thức duy nhất khả dĩ?
Ông Brisset: Philippines đã chọn cách quốc tế hóa, kiện ra Tòa án quốc tế. Tôi nghĩ rằng đây là một cách tiếp cận khá thú vị. Bởi vì nếu chúng ta phân tích một cách đơn giản, thì Philippines có quyền hợp pháp để làm việc đó.
Bây giờ, vấn đề là đã có quyền hợp pháp rồi, nhưng ngoài ra còn phải có thực lực nữa. Đó là vấn đề khó. Một mặt, mặc dù có một số kiến nghị là nên đi theo cách này, tức kiện ra toà quốc tế, Việt Nam vẫn không làm theo, không dùng tới công cụ pháp lý hợp pháp để giải quyết tranh chấp.
Điều này thật đáng tiếc, bởi vì Việt Nam, trên bình diện pháp luật và trên bình diện chiếm hữu thực tế một số đảo Trường Sa, có những lập luận vững chắc hơn, hơn cả lập luận của Philippines, về chủ quyền của mình do người Pháp chuyển giao lại. Bởi vì trong các tài liệu chính thức được công nhận, thì quốc gia có chủ quyền các hòn đảo này vào thời điểm năm 1933, là Pháp.
Image copyrightReuters
Image captionHoa Kỳ muốn thực hiện tự do hàng hải ở Biển Đông
Sau khi Pháp chuyển giao chủ quyền, đặc biệt là sau Hiệp định Geneva năm 1954, cho các nước Đông Dương, thì cho đến nay, mọi việc kém rõ ràng hơn, nhưng chủ quyền được chuyển giao đó vẫn có giá trị tồn tại. Các tranh chấp về mặt pháp lý có thể dùng pháp luật để giải quyết. Nhưng điều không may là chính quyền Việt Nam đã không chọn cách đưa ra tòa án quốc tế, là thực thể có nhiều tự do phát biểu hơn đối với Trung Quốc.
Ông có cho là nếu Việt Nam và Philippines cùng phối hợp trên mặt trận pháp lý thì sẽ có hiệu quả hơn không?
Ông Brisset: Việt Nam và Philippines kiện chung thì không nên. Vì nguyên nhân của hai nước là không như nhau, bởi vì các đảo mà mỗi nước tranh chấp không giống nhau. Vì vậy, Việt Nam và Philippines nên làm một cái gì đó, nhưng độc lập với nhau.
Philippines đã kiện, theo ý kiến của tôi, Việt Nam cũng nên thực hiện một cách tiếp cận tương tự. Tòa án sau đó có thể sẽ ít nhiều gắn hai vụ kiện với nhau. Vấn đề hiện nay là Việt Nam, theo tôi biết, vẫn không chọn cách tiếp cận tự nguyện và chủ động này để đạt được một mục tiêu cao hơn.
Nhưng nếu Trung Quốc tiếp tục từ chối không tham gia phiên toà tại La Haye?
Ông Brisset: Trung Quốc không tham gia vụ kiện, bởi vì hiện nay chỉ có một đối thủ duy nhất tại tòa án quốc tế. Nếu có hai đối thủ, 3, 4 nước cùng kiện, Trung quốc sẽ ngày càng phải đối mặt với thực tế, bất chấp ý chí riêng của mình.
Nếu một sự kết hợp giữa Việt Nam và Philippines, sau đó có thêm Malaysia, Đài Loan, thì quốc tế sẽ quan tâm hơn nhiều tới khu vực này, đặc biệt là quan tâm tới những đối với vận tải quốc tế. Chúng ta không quên rằng 40% của vận tải biển của toàn thế giới đi qua khu vực này.
Sự hiện hiện gần đây của Mỹ trong khu vực có ảnh hưởng gì tới tình hình?
Ông Brisset: Sự hiện diện của Mỹ là đi theo chính sách của Mỹ, sự hiện diện đó không trái với luật pháp quốc tế, không trái với luật pháp quốc tế trong tất cả các vùng biển của thế giới. Người Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông. Người Mỹ quan niệm sự tự do hàng hải cũng giống như quyền tự do hàng không ở một số khu vực mà Bắc Kinh đơn phương tuyên bố cách đây không lâu tại Biển Đông.
Image copyrightReuters
Image captionHải quân Trung Quốc tăng cường hiện diện
Trung Quốc coi đó là một sự khiêu khích. Nhưng Hoa Kỳ đã vận dụng đúng luật pháp quốc tế. Trung Quốc có thể dám tấn công một tàu Việt Nam hay tàu Philippines, nhưng không bao giờ dám tấn công một tàu của Mỹ.
Theo ông thì các nước như Việt Nam và Philippines không có nhiều lựa chọn. Lúc này hai nước có thể dựa vào sự hiện diện của Mỹ, dựa vào cơ sở pháp lý, ngoài ra còn có những chỗ dựa nào khác?
Ông Brisset: Có ba cơ sở để đấu tranh với Trung Quốc. Về mặt quân sự, là dựa vào hợp tác vùng hay hợp tác với Mỹ. Thứ hai là cơ sở pháp lý, mà tới nay mới chỉ có duy nhất Philippines chọn.
Và cuối cùng là truyền thông. Nhưng, cả Philippines, Malaysia hay Việt Nam đều ít dùng tới sức mạnh của truyền thông. Đó là một điều đáng ngạc nhiên, bởi vì tôi nghĩ rằng khá dễ dàng khi tăng cường truyền thông về vấn đề này. Tôi thấy hiện nay, Đài Loan đã tham gia một phần, với quan điểm còn tương đối trung dung. Nhưng Đài Loan truyền thông rất nhiều (về vấn đề này), và làm truyền thông thực ra là cách dễ dàng nhất. Tôi ngạc nhiên là cả Philippines và đặc biệt là Việt Nam đã không quan tâm đến vũ khí truyền thông.
Ông có ngạc nhiên khi thấy nhóm nước Asean phản ứng yếu ớt đến thế không?
Ông Brisset: Đã nhiều năm nay các cuộc họp quan trọng của Asean đều cho thấy một nước nào đó, thông thường là Việt Nam, cố gắng định hướng về một tuyên bố chung về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Quy tắc ứng xử này, về kỹ thuật đã sẵn sàng.
Thế nhưng rõ ràng Trung Quốc đang gián tiếp cản trở nỗ lực đạt Quy tắc ứng xử bằng cách, có thể nói trắng ra, là bỏ tiền ra mua một số quốc gia. Điều này đặc biệt rõ khi ghế chủ tịch luân phiên của Asean được trao cho Campuchia. Chính phủ Campuchia đã ngăn công bố Asean ra tuyên bố chung về Biển Đông.
Theo như lời ông thì một nước như Việt Nam không có nhiều giải pháp, và phạm vi hành động khá là hạn hẹp?
Ông Brisset: Phạm vi phản ứng của Việt Nam là rất hạn chế. Chừng nào Việt Nam không quốc tế hóa vấn đề thông qua tòa án, thông qua truyền thông, chừng nào Việt Nam vẫn hy vọng đàm phán song phương với Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ thua.
Ông Jean-Vincent Brisset là cựu chuẩn tướng quân đội Pháp. Ông nghiên cứu Trung Quốc và châu Á trong một thời gian dài. Sau khi rời quân đội năm 2001, ông chuyên sâu về các chủ đề quan hệ quốc tế và quân sự. Hiện ông là Giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp.
B
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghĩ vặt:



1. Nghe ông tướng công an ở Sài Gòn nói mới biết là công an không được trinh sát, điều tra các bố Đảng viên. Ôi giời mình sống từng này tuổi giờ mới biết điều này. Thảo nào nhiều người thích vào Đảng, và mình thì... chưa bị điều tra...
2. Ông bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá chỉ chịu khó gặp dân một buổi sáng đã giải toả được cả chục ngày biểu tình vạ vật rồi khởi tố khởi tiếc. Thế sao không gặp ngay nhỉ? cả 2 ông to nhất tỉnh cả chục ngày chả thấy đâu để dân nói các ông trốn.
3. làm văn chương nghệ thuật là phải chấp nhận hy sinh, đừng kiếm chác gì vào đấy, và ai thế nào mọi người biết hết, không giấu được đâu, dù anh suốt ngày phùng mang nói về liêm khiết, trong sạch..Là mình chua xót nghĩ về việc ông chủ tịch hội VHNT Bình Thuận bị khởi tố hôm qua. Như thế trong lịch sử các hội vhnt đã có 2 ông chủ tịch bị khởi tố.
 Ăn bẩn, dẫu ít, nên nó lại càng bẩn, huhu...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hổng biết có đúng vậy không ta???

Các chỉ số đo độ dân chủ
BY NTZUNG, ON MARCH 7TH, 2016
Trong thế giới ngày nay, người ta đã tạo ra rất nhiều thước đo để đánh giá chất lượng của mọi thứ, từ hạt gạo, chiếc xe, công trình khoa học, cho đến các chế độ chính trị. Không phải bất cứ nước nào tự nhận là dân chủ (ví dụ như Bắc Hàn) thì người ta tin rằng nó là nươc dân chủ, mà có các thước đo được các nhà nghiên cứu xây dựng trong nhiều năm qua nhằm đánh giá một cách khách quan độ dân chủ của từng nước. 
Trong đó phổ biến nhất có lẽ là Polity. Thước đo Polity được giáo sư Ted Robert Gurr lập ra tù cuối những năm 60, sau đó được các học trò và đồng nghiệp tiếp tục phát triển (hiện tại là phiên bản thứ 4, Polity IV). Nó được các nhà nghiên cứu chính trị dùng làm chuẩn, và được các tổ chức trên thế giới, trong đó có Cộng Đồng Châu Âu (xem: http://www.edac.eu/indicators_desc.cfm?v_id=63), sử dụng.

Polity IV đánh giá mức độ dân chủ hay độc tài toàn trị ở các nước theo thang điểm từ -10 đến 10. Các biểu hiện chứng tỏ hướng dân chủ thì được tính điểm dương, chia ra theo các mục sau:

- Tính cạnh tranh của việc tham dự vào chính quyền (competitiveness of political participation – có bầu cử tự do và cạnh tranh thật sự trong các cuộc bầu cử) : từ +1 đến +3 điểm

- Tính cạnh tranh của việc tuyển executive (quan chức hành pháp): từ +1 đến +2 điểm

- Tính mở của việc tuyển executive (ai cũng có quyền ứng cử như nhau, được hay không do lá phiếu quyết định): +1 điểm

- Các hạn chế quyền lực đối với chief executive (người nắm quyền tối cao): từ +1 đến +4 điểm

Các biểu hiện chứng tỏ hướng độc tài, ngược lại với các điểm trên, thì tính điểm âm.

Các nước đạt từ 6 điểm trở lên thì được coi là dân chủ, từ 0 đến 5 điểm được gọi là “open anocracy” (hơi dân chủ), từ -5 đến -1 được gọi là “closed anocracy” (hơi độc tài), còn từ -6 điểm trở xuống thì được coi là nước độc tài (autocracy).



(Hình trên lấy từ: http://www.hks.harvard.edu/fs/pnorris/DPI403%20Fall09/DPI403_Powerpoint_Slides_Fall2010/8%20DPI403%20Measuring%20democracy.pdf)

Polity có cơ sở dữ liệu lớn, với số liệu đánh giá về các nước trên thế giới từ năm 1800 cho đến nay, đồng thời có hưỡng dẫn chi tiết cách tính điểm. Theo thống kê của Polity, thế giới trong hai thế kỷ qua đã trải qua một quá trình dân chủ hóa rất rõ ràng: Điểm trung bình trên thế giới có xu hướng tăng dần (trừ những giai đoạn chiến tranh khiến điểm thụt lùi rõ rệt), từ -7 (theo thang điểm từ -10 đến +10) vào năm 1800 (tức là hầu như toàn thế giới sống trong các chế độ độc tài, toàn trị) lên đến thành gân +4 ngày nay (tức là thế giới đã tương đối dân chủ). Nếu như vào năm 1800 không có nước nào trên thế giới đạt điểm 8 trở lên, thì ngày nay đã có khoảng 60 nước đạt mức này.


(Hình trên lấy từ wikipedia)

Đây là điểm số Polity IV của Việt Nam và một vài nước khác, theo số liệu mới nhất (nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Polity_data_series)

Afganistan: 1 – 2 = -1 điểm (tức là 1 điểm theo hướng democracy, -2 theo hướng autocracy, tổng cộng là -1 điểm)
Brazil: 8 – 0 = 8
Cambodia: 3 – 1 = 2
China: 0 – 7 = -7
England: 10 – 0 = 10
France: 9 – 0 = 9
Israel: 10 – 0 = 10
Laos: 0 – 7 = -7
Malaysia: 6 – 1 = 5
Myanmar: 0 – 3 = -3
North Korea: 0 – 10 = -10
Philippines: 8 – 0 = 8
Poland: 10 – 0 = 10
Russia: 5 – 1 = 4
Saudi Arabia: 0 – 10 = -10
Singapore: 2 – 4 = -2
South Korea: 8 – 0 = 8
Thailand: 0 – 3 = -3
Uzbekistan: 0 – 9 = -9
Vietnam: 0 – 7 = -7

Như vậy, theo Polity IV, Việt Nam được 0 điểm về dân chủ, -7 điểm về phản dân chủ, ngang hàng với Trung Quốc và Lào, thua các nước khác trong khối ASEAN (Myanmar -3, Thailand -3, Cambodia +2, Philippnes +8, v.v.). Đứng bét bảng, hoàn toàn độc tài, với điểm thấp tuyệt đối -10, là Bắc Triều Tiên và một số nước Ả Rập như là Saudi Arabia.

Bên cạnh Polity IV, còn có một chỉ số đánh giá độ dân chủ rất thông dụng khác, là chỉ số của Freedom House, với các số liệu có từ 1972. Freedom House (freedomhouse.org) là một tổ chức phi chính phủ được lập ra từ năm 1942, với trụ sở ở Washington DC. Chỉ số của Freedom House dựa trên mô hình của Dahl (Robert Dahl, 1956: A Preface to Democratic Theory) , và đánh giá mức độ dân chủ thông qua các quyền chính trị (political rights) của người dân, thể hiện qua 7 điểm sau:

1) Elected officials (Chính quyền do dân lập ra qua bầu cử)
2) Free and fair elections (Các cuộc bầu cử là tự do và bình đẳng)
3) Inclusive suffrage (Quyền bầu cử cho tất cả mọi người)
4) The right to run for office (quyền ứng cử)
5) Freedom of expression (tự do ngôn luận)
6) Alternative information (thông tin đa chiều)
7) Associational autonumy (tính độc lập của các tổ chức xã hội)

Bẩy điểm trên dựa vào sơ đồ logic sau đây của Dahl về một nền dân chủ tự do (nguồn: như hình đầu tiên)



(Theo sơ đồ trên, trong một nền dân chủ tự do, người dân phải có được cả hai chức năng: tham dự vào chính quyền (participation), và sbất đồng chính kiến (contestation). Trong contestation có quyền lập đảng phái, tự do báo chí, và sự độc lập của các tổ chức xã hội).

Thang điểm của Freedom House là thang điểm ngược: điểm càng cao thì càng ít dân chủ. Thấp nhất là 1 điểm (các nước hoàn toàn tự do chính trị) và cao nhất là 7 điểm (hoàn toàn thiếu tự do chính trị). Theo thang điểm đó, Việt Nam được 7 điểm. Sau đây là bản đồ về độ tự do chính trị của các nước, theo số liệu 2015 của Freedom House (nguồn: https://freedomhouse.org/sites/default/files/FITW_World_Map_24x16_fa_GF2015.jpg):



Tuy cách xây dựng hai chỉ số Polity IV và Freedom House có khác nhau, nhưng hai chỉ số này có độ tương quan (correlation) rất lớn, trên 0.9, có nghĩa là chúng hầu như cho cùng một đánh giá về mức độ dân chủ hay thiếu dân chủ ở các nước. Ngoài hai chỉ số này, còn có những chỉ số khác, ví dụ như là:

- Chỉ số Vanhanen về độ dân chủ hóa (xem: https://www.prio.org/Data/Governance/Vanhanens-index-of-democracy/)

- Chỉ số DD (dân chủ-độc tài) của các chế độ (của Przeworski, Cheibub, v.v., sử dụng định nghĩa “minimalist” về dân chủ, xem https://en.wikipedia.org/wiki/DD_index)

Về cơ bản, các chỉ số này đều cho các kết quả tương tự như nhau, tức là chúng có hệ số tương quan rất lớn với nhau.



(Hình: phân loại DD về các chế độ chính trị trên thế giới, 2008. Lấy từ wikipedia)

Một số tài liệu tham khảo khác:

Monty G. Marshall, and Keith Jaggers. 2006. Polity IV Project: Political Regime Characteristics and Transitions, 1800‐2006: Dataset Users’ Manual. Maryland: University of Maryland. http://www.cidcm.umd.edu/polity/

http://www3.nd.edu/~mcoppedg/crd/PolityIVUsersManualv2002.pdf

http://www.systemicpeace.org/polity/polity4.htm

nguồn: http://zung.zetamu.net/2016/03/cac-thuoc-do-dan-chu/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái DŨNG của người viết Sử


Lời bàn: Ngày nay nếu có thể bịa đặt, xuyên tạc sự thật để làm vừa lòng bề trên hoặc chụp mũ, vu cáo cho hấp dẫn để lôi cuốn độc giả ngu dốt trên báo lá cải kiếm chút lợi thì cũng chẳng thiếu gì người sẵn sàng bán lương tâm. Ôi, “Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ?” (Thơ Vũ Đình Liên)
Sử Thánh Tư Mã Thiên. Nguồn: Petrotimes
Vào thời Xuân Thu, sau khi tướng quốc nước Tề là Thôi Trữ giết vua Tề là Trang Công để thâu tóm quyền lực, bèn gọi quan Thái sử Bá đến ra lệnh:
– “Ông phải viết rằng Tiên Vương chết vì bị bệnh nặng.
Thái sử Bá nói:
– Lịch sử không thể ghi chép hồ đồ. Viết theo sự thật là bổn phận của Thái sử.

Thôi Trữ không ngờ Thái sử Bá dám chống lệnh, nổi giận:

– Ông định viết thế nào?

Thái sử Bá đáp:

– Tôi viết xong rồi, ông sẽ biết ngay thôi.

Thôi Trữ cầm lên đọc thấy rõ:

– Hạ ngũ nguyệt Thôi Trữ thích quân (nghĩa là vào tháng 5 mùa hạ, Thôi Trữ giết vua).

Thôi Trữ nói:

– Ông phải viết khác đi, nếu không ta giết ông.

Thái sử Bá lắc đầu:

– Giết thì giết, tôi không thể viết khác.

Thôi Trữ liền chém đầu Thái sử Bá.

Thái sử Trọng là em trai Thái sử Bá, nghe tin anh bị giết liền đến thay chức vụ của anh. Thôi Trữ kinh ngạc vì thấy Trọng vẫn viết đúng như anh trai mình, liền rít lên:

– Ông không biết Thái sử Bá đã bị chém hay sao?

Trọng đáp:

– Thái sử chỉ sợ viết không trung thực chứ không sợ chết.

Thôi Trữ lại chém Thái sử Trọng.

Thái sử Thúc, em trai Thái sử Bá và Thái sử Trọng được vào thay. Ông cũng chép đúng như hai anh của mình và lại bị chém. Thái sử Quý, em út của ba Thái sử trên vào thay, vẫn viết: “Hạ ngũ nguyệt Thôi Trữ thích quân”. Viết xong ông nói với Thôi Trữ:

– Ông càng giết người thì càng chứng tỏ sự tàn bạo. Nếu tôi không viết thì người khác sẽ viết và thiên hạ cũng biết. Ông có thể giết chết Thái sử nhưng không thể giết chết được sự thật.

Thôi Trữ nghe xong lắc đầu, thở dài, không dám giết tiếp.

Được Thôi Trữ tha mạng, Thái sử Quý cầm cái thẻ trên viết việc Thôi Trữ giết vua đi ra, sắp đến cửa sử quán, lại gặp Nam Sử Thị. Thái sử Quý hỏi đi đâu, Nam Sử Thị nói:

– Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày Ất Hợi, tháng 5, mùa Hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ đến để chép .

Quý đưa cái thẻ của mình đã chép cho Nam Sử Thị xem . Nam Sử Thị mới cáo từ mà về .

(Theo Sử Ký Tư Mã Thiên)

https://phuongkhanhdo.wordpress.com/2013/08/07/cai-dung-cua-nguoi-viet-su/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÔ BA TÍ



       Truyện ngắn của HG
Tháng giêng là “tháng ăn chơi”. Ở Đâu không nói, chứ ở làng Tắc này, Khượm thấy hoàn toàn không phải như vậy.
Mới ra đến mồng bốn, mồng năm tết đã có người ra đồng. Người ta vội vội vàng vàng như sợ nếu không gấp ngay thì chả bao giờ được làm cái công việc ngàn đời đã nên “nghiệp” của đời người nữa.
Khác với mọi nơi, người ta vẫn thong thả đi hội, thăm chùa, lễ đền có khi kéo dài sang đến tháng ba âm lịch.
Đất bãi soi nổi giữa sông không làm sớm cho kịp vụ, đến lúc ngô chín, được thu trúng vào vụ nước là coi như bỏ. Nếu có kịp thu cũng vất vả trăm bề. Vác tải ngô nặng vãi tinh thần từ giữa  bãi xuống thuyền, lại phải bơi thuyền, bơi mảng qua con ngòi nước sâu. Lại.. vác cái bao “tinh thần khốn khổ” ( cách gọi của dân làng ) lên từ bờ ngòi ngược dốc, lên bờ. Xong vụ thu hoạch, người nào người đấy hốc hác, bơ phờ như vừa qua đận sốt rét rừng! Như vừa trải qua trận dịch..
Từ ngày có đập thủy điện ở phía thượng lưu cái nạn nước nôi mới dứt hẳn. Nhưng, bao nhiêu năm chịu mãi quen rồi, giờ không có nước ngập nữa, người ta vẫn quen thói canh tác ngày nào..
Cũng có cái lợi mỗi năm thêm một vụ, nên người làng vẫn giữ thói quen cũ.
Tết xong là hối hả cày bừa, gieo cấy để chuyển sang làm việc khác.
Những anh nhà ít đất, qua tết lại khăn gói gió đưa, đi làm ăn xa. Đủ cả mọi nghề. Người thì vào Đắc Nông thuê đất làm khoai, anh vác thước, mang dao bay đi làm thợ hồ. Người đi buôn đường dài, vào nam ra bắc, sang cả bên Tàu, làm đủ thứ công việc. Ai thuê gì làm nấy, phần nhiều công việc nặng nhọc, bẩn tưởi người sở tại không muốn làm, vẫn OK, miễn là có tiền.
Thời buổi khó khăn, có cơ hội kiếm được đồng tiền, không ai nề hà.
Một làng có hơn trăm nóc nhà, vậy mà đi đâu trong nam, ngoài bắc tỉnh nào cũng gặp.
Khượm nghĩ.. có khi sang tận Hoa Kỳ, sang Úc đại lợi cũng vẫn có thể gặp được “những người con yêu dấu” của làng này!
Chỉ riêng mấy anh, mấy chị có nghề riêng, bám ven đường quốc lộ phía bên kia làng này là trụ được ở nhà.
Nhà thằng Côn là một trong các trường hợp như vậy.
Thằng này môi trễ, mắt lồi, bản tính nhút nhát giống như mẹ nó ngày xưa, lúc “Cô Ba Tí” còn sinh thời. Nó tốt tính, ai nói gì cũng ư hữ, không thấy cãi, nhưng hay bị động bạn bè.
Suốt ngày xưởng cửa kính khung nhôm của nó đập choang choang, máy cắt sắt chạy è è đinh tai nhức óc. Tối đến đám bạn vô công rồi nghề kéo đến tụ tập, hát hỏng . Ca nhạc gì quanh đi quẩn lại chỉ có mấy bài, vừa khê vừa nồng, lúc nhẽo nhẹt như khoai nát, lúc cứng còng như sắn khô.. mà cả bọn cứ tưởng là hay.
Khượm là thiếu tá, sĩ quan về hưu mới về làng hôm trước tết, chưa quen bầu không khí ở đây. Nhà anh ở đối diện với nhà nó. Thấy nhóm thằng Côn vô lối quá, anh xem ra không bằng lòng.
Anh định sang nhà nó mắng cho thằng Côn mấy mắng. Hát gì thì hát phải có sự tôn trọng chung. Các nhà xung quanh nói chuyện với nhau át hết cả tiếng, ti vi xem không nghe thấy gì là hát kiểu gì?
 Vợ anh bảo: “Nó hát chán mỏi mồm khác tự  thôi, nói làm gì? Bọn trẻ bây giờ đâu có như ngày xưa? Có đứa gặp người già cứ chống mắt lên, không thèm chào. Anh mà nói nó lại càng trêu ngươi, phí lời!”. Khượm nghe vợ nói vậy mới thôi. Anh bỏ ra đầu làng cho yên tĩnh. Nhưng chơi đâu bây giờ? Khó chọn quá!

Làng Tắc này chín người mười tỉnh, văn hóa làng chả giống làng nào. Vợ anh người làng này, Khượm theo vợ về đây, anh thấy nó khác xa với làng anh ở đường xuôi/ Làng xóm gì mà quê chẳng ra quê, tỉnh không ra tỉnh? Ngày tết láng giềng chẳng ai đến nhà ai, khách quanh quẩn toàn con cháu nhà, không thì người quen từ xa đến.
Láng giềng suốt mấy ngày tết không lai vãng nhà nhau. Khỏi tết xong mới đến nhà hỏi mượn cái này, nhờ cái kia, cứ làm như thân thiết lắm.
Có cái gì không ổn trong văn hóa sống ở làng này, chả trách gọi là “làng Tắc” là phải!
Cái gì cũng bí rị, không thông, chả thoáng tẹo nào!
Thực ra, Khượm không biết lai lịch của cái tên gọi là “Tắc” của làng này.
“Tắc” là tên gọi con gà lạc mẹ. Khi ông Khanh móm, người đầu tiên đến ở làng này lúc ấy, nơi đây còn hoang vắng. Ông bắt gặp chú gà con bị lạc trong bụi rậm nên gọi luôn chỗ ở của mình là “chòm Gà tắc”.
Dần dà đông người lên, mới thành làng như bây giờ. Riêng chuyện về con gà tắc ấy có rất nhiều giai thoại. Có thể nó là con gà quạ tha đánh rơi xuống, cũng có thể nó tự sinh ra từ những bụi lau rậm rạp ven sông, hoặc nở ra từ trứng bìm bịp, cuông cuốc mà thành..
Nhưng đó là đề tài của câu chuyện khác, chưa kể ở đây..
**
Một hôm sau rằm tháng giệng Thanh sứt sang nhà tôi chơi. Ngồi vãn một lúc, tự dưng hắn hỏi:
- Chú Khượm, có biết vì sao Hạnh dấm không chịu lấy vợ nữa không? Từ ngày vợ chết đã cả chục năm, ai giới thiệu, manh mối kiểu gì, chỗ nào cũng lắc đầu quầy quậy. Cứ như người ta sắp đeo vào cổ cục cối đá không bằng, lạ lắm..
- Bác hởi giữa giời như thế nhà em chịu. Vợ ai chả muốn có? Đàn ông đến tuổi ai muốn ở một mình? Nhu cầu này nọ, em không nói, nhưng đã là gia đình, phải có vợ có chồng nó nên gia thất. Rồi ai chợ búa, cơm nước? Sinh hoạt nhiều cái bất tiện lắm.. Chắc cái nhà bác ấy có uẩn khúc làm sao mới sợ lấy vợ ấy chứ?
- Chú nói cũng phải! Cái đó vừa là bổn phận, vừa là quyền lợi, làm người ai cũng phải qua, phải có. Chỉ có thế nào mới..
Tự dưng hắn thấp giọng thì thầm:
- Chính cái sự này làm tôi suy nghĩ mãi, không tiện nói ra cùng ai.. Cái thằng kia liệu có phải con mình không, tôi vẫn hồ nghi. Nó thì chắc chắn không biết. Ai lại nói cho nó chuyện ấy bao giờ? Mẹ nó chắc còn sống chắc cũng không dám hé miệng. Ở gần nhau cái sự con hoang thời nay chả hiếm, nó không biết, không tôn trọng cũng được. Nhưng đằng này nó như thể trêu ngươi, nghĩ hận lắm..
- Chuyện bác Hạnh không chịu lấy vợ thì liên quan gì đến chuyện này?
- Sao lại không liên quan? Tôi cam đoan với chú lão ấy thuộc dạng vô sinh, ba đứa con trong đấy có thằng Côn đều không phải con của lão. Đứa nào tôi không biết chứ thằng Côn đích thự là con tôi. Bây giờ mà lão lấy vợ nữa, chuyện sẽ lộ ra. Chả có chuyện gì bưng bít mãi được. Không phải ai cũng cư xử được như cô Ba Tí. Đắng cay ngậm cả trong lòng, người ngoài không ai biết cô ấy bất hạnh đến thế nào..Hồi ấy chú chưa về đây, có kể chú cũng chẳng tin..Nếu phải cô khác có ông chồng “bất lực” chả nhảy cỡn lên, phá cày, phá vạy ra à?
Cô Ba Tí thì tôi biết. Đó là người đàn bà dáng mạo đàn ông, chả có vẻ gì lẳng lơ nhăng nhít, làm gì có chuyện như hắn nói? Bà ấy lại mất cách đây khá lâu. Trong làng nhớn bé chưa thấy ai nói gì về tính giăng hoa thiếu đứng đắn của bà.

Đành rằng cái thời tôi đang sống có nhiều sự lạ, nhiều bí ẩn chưa có lời giải. Thậm chí nhiều ngừơi xuất sinh từ nguồn gốc hoang đàng, con hoang con hủy vẫn thành công trong đời. Người ta bảo những đứa con như thế sinh ra tính nết ranh quái, tinh ma, nhiều thủ đoạn hơn người thường. Có kẻ về sau còn ngất ngưởng ngôi cao, hơn mọi chúng sinh..
Nhưng đấy là chuyện ngoài xã hội, ngoài đời chứ không ở làng. Một làng mà tính đố kị, ghen ghét vào hàng nhất nước. Người ta hay để ý, canh chừng nhau từ chuyện tỷ tì ti. Không có gì có thể giấu người làng được. Chính cái “đức tính” ấy mà “mở cửa”, “đổi mới” bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa mở mắt ra được, vẫn nghèo, vẫn trì trệ chả khác xưa là mấy.
Một làng như thế, đến con bê con, con muỗi què vào ngày nào, tháng nào cả làng còn biết, huống hồ chuyện ghê gớm, Thanh sứt nói mà lại không ai biết gì?
***
Bảo rằng Khượm không biết cô Ba Tí từ độ trước là không đúng, dù điều này Khượm chưa hề nói với ai. Đó là hồi anh có chân trong ban chỉ huy quân sự tỉnh H, phụ trách khối “quân sự địa phương”, chuyên trách  dân quân tự vệ và dân công phục vụ hỏa tuyến. Sau này nhiều người chỉ biết cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc diễn ra và kết thúc thời gian rất ngắn. Thậm chí có người còn chưa biết thực sự nó xảy ra khốc liệt như thế nào? Nó kéo dài, dai dẳng cả chục năm trời, hy sinh mất, mát hơn cả cuộc kháng chiếng chống Pháp, được mệnh danh là cuộc kháng chiến “trường kỳ”, có sự đóng góp công sức máu xương của đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Làng La Tinh quê anh, một làng “không xa kinh kỳ sáng chói” cũng có không ít người có mặt, tham gia cuộc chiến giữ biên cương. Ngoài các chiến binh gian khổ giữ chốt, anh còn biết thêm nhiều con trai, con gái quê mình cũng có mặt phía trước và cả phía sau, sát nách tuyến lửa.
Cô Ba Tí, Khượm gặp và biết trong dịp đó, một lần xuống phòng tuyến Bắc Mê Khượm được giáp mặt lần đầu.  Cô Ba Tí chả có gì nổi bật so với đám chị em, Khượm để ý vì khía cạnh khác. Chị có chân trong đội dân công hỏa tuyến lúc bấy giờ. Công việc hàng ngày là vừa mở thêm con đường chiến lược chuẩn bị kháng chiến lâu dài, nếu tình hình ngày càng xấu đi. Trong đội có người nói chị quá lứa nhỡ thì, tuy không ở diện đi theo chỉ tiêu bắt buộc của địa phương, chị tự nguyện làm đơn xin đi. Khượm thấy trước mặt mình là người phụ nữ đã cứng tuổi, vẻ ngoài khô khan, ít nữ tính. Nhưng giọng nói riêng biệt của làng La Tinh thì không trộn lẫn vào đâu được.
Bẵng đi một thời gian, Khượm không có điều kiện gặp lại. Có lúc nhớ câu chuyện làng, điều hiếm hoi xảy ra trong tâm trí anh thời tao loạn, Khượm có thoáng nhớ đến chị. Một phần chị cũng như bao người làng gặp nhau nơi  xa quê thời chiến tranh, không có ấn tượng, hay kỷ niệm gì đặc biệt.
Anh cũng không ngờ sau này chị cũng lại về cùng sống nơi quê hương mới sau này của mình.
 Lúc Khượm ra quân về quê vợ ở T, Chị Ba Tí đã lấy chồng, ở cùng làng như bây giờ.
Con gái làng anh giỏi bán buôn, đến nơi nào thích ứng cũng rất nhanh, cô Ba Tí cũng vậy. Hàng ngày cô cùng anh chồng vào các làng người thiểu số mua nông sản, thuê thuyền máy chở về xuôi bán cho các chủ hàng từ dưới xuối lên đón mua về. Khi thì ngô, khi thì đỗ.. Khi ngược thì mùa nào thức ấy, lại mua các hàng nhu yếu phẩm ngược lên bán cho đồng bào.
Nói là thiểu số, nhưng người dân tộc ở đây lại là số đông, đáng ra phải gọi là “đa số” ở chỗ này. Cô Ba tí là một thương lái có tín nhiệm với họ. Giá cả lên xuống đã có thị trường, nhiều người vẫn thích bán mua với cô ba có tiếng là ngay thẳng. Không ai nói cô “kẹo cân”, hay dìm giá nâng giá bao giờ. Cô học nhập tâm tiếng Thổ tiếng Mán rất nhanh, vì thế rất dễ giao dịch không ú ớ như thương lái vùng xuôi lên đây buôn bán.
Anh Hạnh dấm, chồng cô kẽo kẹt cái xe trâu đi sau vợ một quãng.
Cuộc tình của họ thật đơn giản.  Không thơ mộng như người ta hay ví von khi viết về chuyện này.
Họ gặp nhau thời cùng làm dân công, hết đợt là đưa nhau về làng.
Thực là ông trời có mắt và chuộng công bằng, chẳng để sót ai.
Anh Hạnh có hơi dở tính, nhà nghèo lại xấu trai cuối cùng cũng lấy được vợ. Trong nhà anh, cô Ba tí mới là người chủ trương, định đoạt mọi sự.
Cũng đúng thôi, ai kiếm nhiều tiền người đó nắm quyền lãnh đạo trong gia đình. Anh Hạnh không lấy đó làm khó chịu, mà còn cảm thấy thinh thích.
Việc đã có người lo, bán mua đắt rẻ không cần biết, cứ cơm no bò cưỡi là được rồi.
Ngay cái chuyện xấu đẹp cũng không thành vấn đề.
Đẹp có mài ra ăn được đâu? Người ta chỉ quan trọng nó lúc đầu do đòi hỏi của của con mắt, chưa thấm nỗi lo của cái dạ dày.
Người quê cần nhất là no cơm ấm áo, sau đó mới tới thứ khác. Cái nhu cầu ấy, tưởng chừng đơn giản, bao đời nay khát vọng chưa nguôi. Đó chính là thời mà nhan sắc chưa thành tài sản, chưa gay go như thời bây giờ..
Anh cứ thèn thẹn như con gái, vợ mắng xơi xơi vì vụng về cũng chỉ gãi đầu gãi tai, nhe hàm răng bổ cuốc, cười trừ.
Cũng có người chê cô Ba thái quá. Gì thì gì đối xử với chồng như vậy là không được. Muốn gì thì muốn, người đàn ông vẫn là trụ cột, cây nóc trong gia đình. Nhưng tuyệt nhiên không thấy ai  cho đến khi Cô Ba Tí lâm bệnh hiểm nghèo, thác đi, chưa có xầm xì về đức hạnh của cô.
Nhan sắc không có, làm gì có anh nào đưa đẩy, tán tỉnh, “đong” cô làm gì?
Khượm thật bất ngờ khi nghe chuyện này. Theo khượm có nhẽ Thanh sứt bực tức thằng Côn điều gì nên nói như vậy. Nó đập búa vang quá, hay dịp tết không chịu sang nhà sát ngay vách chúc mừng năm mới, điều làm Thanh tự ái?
Khượm nghĩ không phải. Những sự như cơm bữa ấy diễn đi diễn lại nhiều năm nay rồi. Chín tỉnh, mười làng người ta quen cái nết thờ ơ ấy với nhau rồi. Không thăm hỏi nhà nhau ngày tết hoặc ngày dưng cũng có cái hay của thời “sống tốc độ” như bọn trẻ hay kháo nhau, đỡ mất thì giờ, nhỡ việc.
Mà cũng ai biết ma ăn cỗ, khối anh đạo mạo bề ngoài, lừ đừ như ông từ vào đền còn có chuyện ái oăm. “Ban ngày quan lớn như thần - Ban đêm quan lớn tần mần như ma..”. Không nên kết luận sớm điều gì.
Mà thôi, ẩn khúc đời người ai chả có, tò mò vẩn vơ làm gì cho mệt óc?!

****
Ba ngày sau, tôi (Khượm) đang sửa lại chỗ tường bao vỡ, do xe tải đụng vào, thấy Thanh sứt vẻ mặt bí hiểm chạy sang. Hắn thì thào: “Chú sang anh nhờ chút..” Không biết hắn nhờ việc gì, không thể xử sự như bọn trẻ, lơ tít được, tôi buông dao xây sang xem chuyện gì. Thấy trên bàn nơi ngồi uống nước mọi khi nhà Thanh sứt đặt cái tộ thủy tinh. Cái tộ chứa lưng lửng nước màu hồng thẫm như pha máu gà. Thấy tôi chú ý, Thanh sứt nói ngay:
- Chuyện hôm trước nhỡ mồm, anh nói có khi không phải chú ạ?
Tôi nhớ ra chuyện gì, hỏi lại hắn:
- Bác căn cứ vào đâu để kết luận?
Thanh sứt cười hì hì:
- À anh căn cứ kết quả thử máu cổ truyền có từ thời các cụ ngày xưa. Sáng nay thằng Côn làm cố quá nên đổ máu cam, nhờ anh cầm máu cho, do đấy mới có máu của nó..
Rồi hắn giơ ngón tay út của mình đưa tôi xem chỗ cắt máu đã được băng lại.
Thì ra thế.
Chả biết hắn nghe ai bày lại thử máu kỳ quái như vậy?
Chỗ máu của thằng Côn được hòa vào tộ nước trong. Sau đấy Thanh sứt cắt máu của mình nhỏ vào, khuấy trộn lên. Hắn bảo nếu cùng huyết thống máu sẽ tụ lại kết vón lại thành cục! Trần đời tôi chứa nghe hoặc thấy ai thử AND kiểu này bao giờ!
Kết quả là chả có cục máu nào tụ lại cả..
Vẻ mặt lão có vẻ suýt xoa tiếc rẻ, kể lại cho tôi nghe chuyện Cô Ba Tí kín đáo xin giống má thế nào.
..Hôm ấy ở trên lõng Bốc, nhá nhem mặt trời, Thanh sứt gặp Ba Tí vào làng đong ngô. Ngang chỗ Thanh sứt lên nương về thì gặp. Cô ấy gọi Thanh giọng hốt hoảng.
Hỏi chuyện gì?
Nói: “Có con gì đang bò sau cổ, ngứa quá, nhờ anh bắt đi giúp”
Tìm đi tìm lại chả thấy con gì.
Lật cả cổ áo, mở cả khuy cũng chỉ thấy những thịt là thịt, trắng hếu. Chợt Thanh hiểu ra, liền bảo: “Ở đây không tiện, vào chòi của tôi tôi, khác có cách bắt bọ cho..”! 
Tính ngày tính tháng thằng Côn phải là của tôi mới phải”.
Tưởng gì, chỉ có thế mà nhận con người thành con mình, thật quái quỷ. Tôi không tin cách hắn thử, nhưng qua lời hắn kể thì  càng chả có lý do nào để tin như thế.
Một lần ấy, chắc quái gì có kết quả?
- Bác Thanh ạ, theo em muốn xác định AND phải đến bệnh viện người ta có phương tiện mới biết được. Qua nhiều khâu lắm, hiện đại đấy mà còn có lúc nhầm, huống hồ cách thử của bác tin làm sao được? Mà con ai cũng là con xã hội, cũng là con người. Bác nặng nghĩ làm gì?
- Chú nói cũng phải. Chả hiểu sao tôi lại lẩn thẩn như thế. Đúng là “có lúc người không ra người”. May mà bà xã nhà tôi không biết chuyện này. Chú cũng đừng nói với ai nữa nha!
Tôi giữ lời, không nói với ai.
Viết câu chuyện này tôi đã phải đổi cả tên nhân vật và hoàn cảnh riêng của họ.
Nhỡ không may, bác “Thanh” có đọc cũng đừng buồn tôi.
Bác cứ coi như chưa đọc, hoặc chuyện của ai ở đẩu đâu, không phải của mình!

17/2/2016
     HG

================
Phần nhận xét hiển thị trên trang