Truyện ngắn của HG
Tháng giêng là “tháng ăn chơi”. Ở Đâu không nói, chứ ở làng Tắc này, Khượm
thấy hoàn toàn không phải như vậy.
Mới ra đến mồng bốn, mồng năm tết đã có người ra đồng. Người
ta vội vội vàng vàng như sợ nếu không gấp ngay thì chả bao giờ được làm cái
công việc ngàn đời đã nên “nghiệp” của đời người nữa.
Khác với mọi nơi, người ta vẫn thong thả đi hội, thăm chùa,
lễ đền có khi kéo dài sang đến tháng ba âm lịch.
Đất bãi soi nổi giữa sông không làm sớm cho kịp vụ, đến lúc ngô
chín, được thu trúng vào vụ nước là coi như bỏ. Nếu có kịp thu cũng vất vả trăm
bề. Vác tải ngô nặng vãi tinh thần từ giữa bãi xuống thuyền, lại phải bơi thuyền, bơi
mảng qua con ngòi nước sâu. Lại.. vác cái bao “tinh thần khốn khổ” ( cách gọi
của dân làng ) lên từ bờ ngòi ngược dốc, lên bờ. Xong vụ thu hoạch, người nào
người đấy hốc hác, bơ phờ như vừa qua đận sốt rét rừng! Như vừa trải qua trận
dịch..
Từ ngày có đập thủy điện ở phía thượng lưu cái nạn nước nôi mới dứt hẳn. Nhưng,
bao nhiêu năm chịu mãi quen rồi, giờ không có nước ngập nữa, người ta vẫn quen
thói canh tác ngày nào..
Cũng có cái lợi mỗi năm thêm một vụ, nên người làng vẫn giữ
thói quen cũ.
Tết xong là hối hả cày bừa, gieo cấy để chuyển sang làm việc
khác.
Những anh nhà ít đất, qua tết lại khăn gói gió đưa, đi làm ăn xa. Đủ cả mọi
nghề. Người thì vào Đắc Nông thuê đất làm khoai, anh vác thước, mang dao bay đi
làm thợ hồ. Người đi buôn đường dài, vào nam ra bắc, sang cả bên Tàu, làm đủ
thứ công việc. Ai thuê gì làm nấy, phần nhiều công việc nặng nhọc, bẩn tưởi
người sở tại không muốn làm, vẫn OK, miễn là có tiền.
Thời buổi khó khăn, có cơ hội kiếm được đồng tiền, không ai
nề hà.
Một làng có hơn trăm nóc nhà, vậy mà đi đâu trong nam, ngoài
bắc tỉnh nào cũng gặp.
Khượm nghĩ.. có khi sang tận Hoa Kỳ, sang Úc đại lợi cũng vẫn có thể gặp được “những
người con yêu dấu” của làng này!
Chỉ riêng mấy anh, mấy chị có nghề riêng, bám ven đường quốc lộ phía bên kia
làng này là trụ được ở nhà.
Nhà thằng Côn là một trong các trường hợp như vậy.
Thằng này môi trễ, mắt lồi, bản tính nhút nhát giống như mẹ nó ngày xưa, lúc “Cô
Ba Tí” còn sinh thời. Nó tốt tính, ai nói gì cũng ư hữ, không thấy cãi, nhưng
hay bị động bạn bè.
Suốt ngày xưởng cửa kính khung nhôm của nó đập choang choang,
máy cắt sắt chạy è è đinh tai nhức óc. Tối đến đám bạn vô công rồi nghề kéo đến
tụ tập, hát hỏng . Ca nhạc gì quanh đi quẩn lại chỉ có mấy bài, vừa khê vừa
nồng, lúc nhẽo nhẹt như khoai nát, lúc cứng còng như sắn khô.. mà cả bọn cứ
tưởng là hay.
Khượm là thiếu tá, sĩ quan về hưu mới về làng hôm trước tết,
chưa quen bầu không khí ở đây. Nhà anh ở đối diện với nhà nó. Thấy nhóm thằng
Côn vô lối quá, anh xem ra không bằng lòng.
Anh định sang nhà nó mắng cho thằng Côn mấy mắng. Hát gì thì
hát phải có sự tôn trọng chung. Các nhà xung quanh nói chuyện với nhau át hết
cả tiếng, ti vi xem không nghe thấy gì là hát kiểu gì?
Vợ anh bảo: “Nó hát
chán mỏi mồm khác tự thôi, nói làm gì?
Bọn trẻ bây giờ đâu có như ngày xưa? Có đứa gặp người già cứ chống mắt lên,
không thèm chào. Anh mà nói nó lại càng trêu ngươi, phí lời!”. Khượm nghe vợ
nói vậy mới thôi. Anh bỏ ra đầu làng cho yên tĩnh. Nhưng chơi đâu bây giờ? Khó
chọn quá!
Làng Tắc này chín người mười tỉnh, văn hóa làng chả giống
làng nào. Vợ anh người làng này, Khượm theo vợ về đây, anh thấy nó khác xa với
làng anh ở đường xuôi/ Làng xóm gì mà quê chẳng ra quê, tỉnh không ra tỉnh?
Ngày tết láng giềng chẳng ai đến nhà ai, khách quanh quẩn toàn con cháu nhà,
không thì người quen từ xa đến.
Láng giềng suốt mấy ngày tết không lai vãng nhà nhau. Khỏi
tết xong mới đến nhà hỏi mượn cái này, nhờ cái kia, cứ làm như thân thiết lắm.
Có cái gì không ổn trong văn hóa sống ở làng này, chả trách
gọi là “làng Tắc” là phải!
Cái gì cũng bí rị, không thông, chả thoáng tẹo nào!
Thực ra, Khượm không biết lai lịch của cái tên gọi là “Tắc” của làng này.
“Tắc” là tên gọi con gà lạc mẹ. Khi ông Khanh móm, người đầu
tiên đến ở làng này lúc ấy, nơi đây còn hoang vắng. Ông bắt gặp chú gà con bị
lạc trong bụi rậm nên gọi luôn chỗ ở của mình là “chòm Gà tắc”.
Dần dà đông người lên, mới thành làng như bây giờ. Riêng
chuyện về con gà tắc ấy có rất nhiều giai thoại. Có thể nó là con gà quạ tha
đánh rơi xuống, cũng có thể nó tự sinh ra từ những bụi lau rậm rạp ven sông,
hoặc nở ra từ trứng bìm bịp, cuông cuốc mà thành..
Nhưng đó là đề tài của câu chuyện khác, chưa kể ở đây..
**
Một hôm sau rằm tháng giệng Thanh sứt sang nhà tôi chơi. Ngồi vãn một lúc,
tự dưng hắn hỏi:
- Chú Khượm, có biết vì sao Hạnh dấm không chịu lấy vợ nữa không? Từ ngày vợ
chết đã cả chục năm, ai giới thiệu, manh mối kiểu gì, chỗ nào cũng lắc đầu quầy
quậy. Cứ như người ta sắp đeo vào cổ cục cối đá không bằng, lạ lắm..
- Bác hởi giữa giời như thế nhà em chịu. Vợ ai chả muốn có? Đàn ông đến tuổi ai
muốn ở một mình? Nhu cầu này nọ, em không nói, nhưng đã là gia đình, phải có vợ
có chồng nó nên gia thất. Rồi ai chợ búa, cơm nước? Sinh hoạt nhiều cái bất
tiện lắm.. Chắc cái nhà bác ấy có uẩn khúc làm sao mới sợ lấy vợ ấy chứ?
- Chú nói cũng phải! Cái đó vừa là bổn phận, vừa là quyền lợi, làm người ai
cũng phải qua, phải có. Chỉ có thế nào mới..
Tự dưng hắn thấp giọng thì thầm:
- Chính cái sự này làm tôi suy nghĩ mãi, không tiện nói ra cùng ai.. Cái thằng
kia liệu có phải con mình không, tôi vẫn hồ nghi. Nó thì chắc chắn không biết.
Ai lại nói cho nó chuyện ấy bao giờ? Mẹ nó chắc còn sống chắc cũng không dám hé
miệng. Ở gần nhau cái sự con hoang thời nay chả hiếm, nó không biết, không tôn
trọng cũng được. Nhưng đằng này nó như thể trêu ngươi, nghĩ hận lắm..
- Chuyện bác Hạnh không chịu lấy vợ thì liên quan gì đến chuyện này?
- Sao lại không liên quan? Tôi cam đoan với chú lão ấy thuộc dạng vô sinh, ba
đứa con trong đấy có thằng Côn đều không phải con của lão. Đứa nào tôi không
biết chứ thằng Côn đích thự là con tôi. Bây giờ mà lão lấy vợ nữa, chuyện sẽ lộ
ra. Chả có chuyện gì bưng bít mãi được. Không phải ai cũng cư xử được như cô Ba
Tí. Đắng cay ngậm cả trong lòng, người ngoài không ai biết cô ấy bất hạnh đến
thế nào..Hồi ấy chú chưa về đây, có kể chú cũng chẳng tin..Nếu phải cô khác có
ông chồng “bất lực” chả nhảy cỡn lên, phá cày, phá vạy ra à?
Cô Ba Tí thì tôi biết. Đó là người đàn bà dáng mạo đàn ông, chả có vẻ gì lẳng
lơ nhăng nhít, làm gì có chuyện như hắn nói? Bà ấy lại mất cách đây khá lâu.
Trong làng nhớn bé chưa thấy ai nói gì về tính giăng hoa thiếu đứng đắn của bà.
Đành rằng cái thời tôi đang sống có nhiều sự lạ, nhiều bí ẩn
chưa có lời giải. Thậm chí nhiều ngừơi xuất sinh từ nguồn gốc hoang đàng, con
hoang con hủy vẫn thành công trong đời. Người ta bảo những đứa con như thế sinh
ra tính nết ranh quái, tinh ma, nhiều thủ đoạn hơn người thường. Có kẻ về sau
còn ngất ngưởng ngôi cao, hơn mọi chúng sinh..
Nhưng đấy là chuyện ngoài xã hội, ngoài đời chứ không ở làng. Một làng mà tính
đố kị, ghen ghét vào hàng nhất nước. Người ta hay để ý, canh chừng nhau từ
chuyện tỷ tì ti. Không có gì có thể giấu người làng được. Chính cái “đức tính”
ấy mà “mở cửa”, “đổi mới” bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa mở mắt ra được, vẫn
nghèo, vẫn trì trệ chả khác xưa là mấy.
Một làng như thế, đến con bê con, con muỗi què vào ngày nào, tháng nào cả làng
còn biết, huống hồ chuyện ghê gớm, Thanh sứt nói mà lại không ai biết gì?
***
Bảo rằng Khượm không biết cô Ba Tí từ độ trước là không
đúng, dù điều này Khượm chưa hề nói với ai. Đó là hồi anh có chân trong ban chỉ
huy quân sự tỉnh H, phụ trách khối “quân sự địa phương”, chuyên trách dân quân tự vệ và dân công phục vụ hỏa tuyến.
Sau này nhiều người chỉ biết cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc diễn ra
và kết thúc thời gian rất ngắn. Thậm chí có người còn chưa biết thực sự nó xảy
ra khốc liệt như thế nào? Nó kéo dài, dai dẳng cả chục năm trời, hy sinh mất,
mát hơn cả cuộc kháng chiếng chống Pháp, được mệnh danh là cuộc kháng chiến
“trường kỳ”, có sự đóng góp công sức máu xương của đồng bào và chiến sĩ cả
nước.
Làng La Tinh quê anh, một làng “không xa kinh kỳ sáng chói” cũng có không ít
người có mặt, tham gia cuộc chiến giữ biên cương. Ngoài các chiến binh gian khổ
giữ chốt, anh còn biết thêm nhiều con trai, con gái quê mình cũng có mặt phía
trước và cả phía sau, sát nách tuyến lửa.
Cô Ba Tí, Khượm gặp và biết trong dịp đó, một lần xuống phòng tuyến Bắc Mê
Khượm được giáp mặt lần đầu. Cô Ba Tí
chả có gì nổi bật so với đám chị em, Khượm để ý vì khía cạnh khác. Chị có chân
trong đội dân công hỏa tuyến lúc bấy giờ. Công việc hàng ngày là vừa mở thêm
con đường chiến lược chuẩn bị kháng chiến lâu dài, nếu tình hình ngày càng xấu
đi. Trong đội có người nói chị quá lứa nhỡ thì, tuy không ở diện đi theo chỉ
tiêu bắt buộc của địa phương, chị tự nguyện làm đơn xin đi. Khượm thấy trước
mặt mình là người phụ nữ đã cứng tuổi, vẻ ngoài khô khan, ít nữ tính. Nhưng
giọng nói riêng biệt của làng La Tinh thì không trộn lẫn vào đâu được.
Bẵng đi một thời gian, Khượm không có điều kiện gặp lại. Có lúc nhớ câu chuyện
làng, điều hiếm hoi xảy ra trong tâm trí anh thời tao loạn, Khượm có thoáng nhớ
đến chị. Một phần chị cũng như bao người làng gặp nhau nơi xa quê thời chiến tranh, không có ấn tượng,
hay kỷ niệm gì đặc biệt.
Anh cũng không ngờ sau này chị cũng lại về cùng sống nơi quê hương mới sau này
của mình.
Lúc Khượm ra quân về
quê vợ ở T, Chị Ba Tí đã lấy chồng, ở cùng làng như bây giờ.
Con gái làng anh giỏi bán buôn, đến nơi nào thích ứng cũng rất nhanh, cô Ba Tí
cũng vậy. Hàng ngày cô cùng anh chồng vào các làng người thiểu số mua nông sản,
thuê thuyền máy chở về xuôi bán cho các chủ hàng từ dưới xuối lên đón mua về. Khi
thì ngô, khi thì đỗ.. Khi ngược thì mùa nào thức ấy, lại mua các hàng nhu yếu
phẩm ngược lên bán cho đồng bào.
Nói là thiểu số, nhưng người dân tộc ở đây lại là số đông,
đáng ra phải gọi là “đa số” ở chỗ này. Cô Ba tí là một thương lái có tín nhiệm
với họ. Giá cả lên xuống đã có thị trường, nhiều người vẫn thích bán mua với cô
ba có tiếng là ngay thẳng. Không ai nói cô “kẹo cân”, hay dìm giá nâng giá bao
giờ. Cô học nhập tâm tiếng Thổ tiếng Mán rất nhanh, vì thế rất dễ giao dịch
không ú ớ như thương lái vùng xuôi lên đây buôn bán.
Anh Hạnh dấm, chồng cô kẽo kẹt cái xe trâu đi sau vợ một quãng.
Cuộc tình của họ thật đơn giản. Không thơ mộng như người ta hay ví von khi viết
về chuyện này.
Họ gặp nhau thời cùng làm dân công, hết đợt là đưa nhau về
làng.
Thực là ông trời có mắt và chuộng công bằng, chẳng để sót ai.
Anh Hạnh có hơi dở tính, nhà nghèo lại xấu trai cuối cùng cũng lấy được vợ.
Trong nhà anh, cô Ba tí mới là người chủ trương, định đoạt mọi sự.
Cũng đúng thôi, ai kiếm nhiều tiền người đó nắm quyền lãnh
đạo trong gia đình. Anh Hạnh không lấy đó làm khó chịu, mà còn cảm thấy thinh
thích.
Việc đã có người lo, bán mua đắt rẻ không cần biết, cứ cơm
no bò cưỡi là được rồi.
Ngay cái chuyện xấu đẹp cũng không thành vấn đề.
Đẹp có mài ra ăn được đâu? Người ta chỉ quan trọng nó lúc
đầu do đòi hỏi của của con mắt, chưa thấm nỗi lo của cái dạ dày.
Người quê cần nhất là no cơm ấm áo, sau đó mới tới thứ khác.
Cái nhu cầu ấy, tưởng chừng đơn giản, bao đời nay khát vọng chưa nguôi. Đó
chính là thời mà nhan sắc chưa thành tài sản, chưa gay go như thời bây giờ..
Anh cứ thèn thẹn như con gái, vợ mắng xơi xơi vì vụng về
cũng chỉ gãi đầu gãi tai, nhe hàm răng bổ cuốc, cười trừ.
Cũng có người chê cô Ba thái quá. Gì thì gì đối xử với chồng như vậy là không
được. Muốn gì thì muốn, người đàn ông vẫn là trụ cột, cây nóc trong gia đình.
Nhưng tuyệt nhiên không thấy ai cho đến
khi Cô Ba Tí lâm bệnh hiểm nghèo, thác đi, chưa có xầm xì về đức hạnh của cô.
Nhan sắc không có, làm gì có anh nào đưa đẩy, tán tỉnh,
“đong” cô làm gì?
Khượm thật bất ngờ khi nghe chuyện này. Theo khượm có nhẽ
Thanh sứt bực tức thằng Côn điều gì nên nói như vậy. Nó đập búa vang quá, hay
dịp tết không chịu sang nhà sát ngay vách chúc mừng năm mới, điều làm Thanh tự
ái?
Khượm nghĩ không phải. Những sự như cơm bữa ấy diễn đi diễn lại nhiều năm nay
rồi. Chín tỉnh, mười làng người ta quen cái nết thờ ơ ấy với nhau rồi. Không
thăm hỏi nhà nhau ngày tết hoặc ngày dưng cũng có cái hay của thời “sống tốc
độ” như bọn trẻ hay kháo nhau, đỡ mất thì giờ, nhỡ việc.
Mà cũng ai biết ma ăn cỗ, khối anh đạo mạo bề ngoài, lừ đừ
như ông từ vào đền còn có chuyện ái oăm. “Ban ngày quan lớn như thần - Ban đêm quan lớn tần mần như ma..”. Không
nên kết luận sớm điều gì.
Mà thôi, ẩn khúc đời người ai chả có, tò mò vẩn vơ làm gì cho mệt óc?!
****
Ba ngày sau, tôi (Khượm) đang sửa lại chỗ tường bao vỡ, do xe tải đụng vào,
thấy Thanh sứt vẻ mặt bí hiểm chạy sang. Hắn thì thào: “Chú sang anh nhờ
chút..” Không biết hắn nhờ việc gì, không thể xử sự như bọn trẻ, lơ tít được,
tôi buông dao xây sang xem chuyện gì. Thấy trên bàn nơi ngồi uống nước mọi khi
nhà Thanh sứt đặt cái tộ thủy tinh. Cái tộ chứa lưng lửng nước màu hồng thẫm
như pha máu gà. Thấy tôi chú ý, Thanh sứt nói ngay:
- Chuyện hôm trước nhỡ mồm, anh nói có khi không phải chú ạ?
Tôi nhớ ra chuyện gì, hỏi lại hắn:
- Bác căn cứ vào đâu để kết luận?
Thanh sứt cười hì hì:
- À anh căn cứ kết quả thử máu cổ truyền có từ thời các cụ ngày
xưa. Sáng nay thằng Côn làm cố quá nên đổ máu cam, nhờ anh cầm máu cho, do đấy
mới có máu của nó..
Rồi hắn giơ ngón tay út của mình đưa tôi xem chỗ cắt máu đã được băng lại.
Thì ra thế.
Chả biết hắn nghe ai bày lại thử máu kỳ quái như vậy?
Chỗ máu của thằng Côn được hòa vào tộ nước trong. Sau đấy Thanh sứt cắt máu của
mình nhỏ vào, khuấy trộn lên. Hắn bảo nếu cùng huyết thống máu sẽ tụ lại kết
vón lại thành cục! Trần đời tôi chứa nghe hoặc thấy ai thử AND kiểu này bao
giờ!
Kết quả là chả có cục máu nào tụ lại cả..
Vẻ mặt lão có vẻ suýt xoa tiếc rẻ, kể lại cho tôi nghe
chuyện Cô Ba Tí kín đáo xin giống má thế nào.
..Hôm ấy ở trên lõng Bốc, nhá nhem mặt trời, Thanh sứt gặp
Ba Tí vào làng đong ngô. Ngang chỗ Thanh sứt lên nương về thì gặp. Cô ấy gọi
Thanh giọng hốt hoảng.
Hỏi chuyện gì?
Nói: “Có con gì đang bò sau cổ, ngứa quá, nhờ anh bắt đi
giúp”
Tìm đi tìm lại chả thấy con gì.
Lật cả cổ áo, mở cả khuy cũng chỉ thấy những thịt là thịt,
trắng hếu. Chợt Thanh hiểu ra, liền bảo: “Ở đây không tiện, vào chòi của tôi tôi,
khác có cách bắt bọ cho..”!
Tính ngày tính tháng thằng Côn phải là của tôi mới
phải”.
Tưởng gì, chỉ có thế mà nhận con người thành con mình, thật
quái quỷ. Tôi không tin cách hắn thử, nhưng qua lời hắn kể thì càng chả có lý do nào
để tin như thế.
Một lần ấy, chắc quái gì có kết quả?
- Bác Thanh ạ, theo em muốn xác định AND phải đến bệnh viện
người ta có phương tiện mới biết được. Qua nhiều khâu lắm, hiện đại đấy mà còn
có lúc nhầm, huống hồ cách thử của bác tin làm sao được? Mà con ai cũng là con
xã hội, cũng là con người. Bác nặng nghĩ làm gì?
- Chú nói cũng phải. Chả hiểu sao tôi lại lẩn thẩn như thế. Đúng là “có lúc
người không ra người”. May mà bà xã nhà tôi không biết chuyện này. Chú cũng
đừng nói với ai nữa nha!
Tôi giữ lời, không nói với ai.
Viết câu chuyện này tôi đã phải đổi cả tên nhân vật và hoàn
cảnh riêng của họ.
Nhỡ không may, bác “Thanh” có đọc cũng đừng buồn tôi.
Bác cứ coi như chưa đọc, hoặc chuyện của ai ở đẩu đâu, không phải của mình!
17/2/2016
HG
================
Phần nhận xét hiển thị trên trang