Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

“Việt Nam tăng cường vũ khí để bắt kẻ địch trả giá ở Biển Đông“


Việt Nam không muốn tiến tới đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tốn kém tiền bạc và công nghệ. Tuy nhiên, quân đội Việt Nam được hiện đại hóa để sẵn sàng bắt Trung Quốc trả giá và để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, đó là nhận xét của chuyên gia Úc Carlyle Thayer.
Trần Quang - /
Quân đội Việt Nam không ngừng lớn mạnh và hiện đại hóa, đủ sức để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốcQuân đội Việt Nam không ngừng lớn mạnh và hiện đại hóa, đủ sức để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc
Bài viết này xem xét tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã dẫn đến việc hiện đại hóa chưa từng thấy các lực lượng hải quân và không quân của Việt Nam như thế nào. Diễn biến này được đặt trong sự phát triển có tính lịch sử của quan hệ Trung-Việt từ tình trạng thù địch trong suốt cuộc xung đột Campuchia thành bạn bè hữu nghị.
Mặc dù tranh chấp lãnh thổ Biển Đông là điều khó chịu chính trong quan hệ song phương, nó đã không ngăn cản hai nước phát triển những gì họ gọi là một “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Việt Nam cố gắng duy trì quyền tự chủ của mình thông qua một chính sách hợp tác chính trị và kinh tế với Trung Quốc trong các lĩnh vực mà lợi ích quốc gia của họ hội tụ và bằng việc đấu tranh chống lại hành vi quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông.
Hai năm sau khi Việt Nam thống nhất, nước này bị lôi kéo vào một cuộc xung đột biên giới với nước láng giềng Campuchia. Tháng 12/1978 Việt Nam đã ra quyết định định mệnh là can thiệp vào nước láng giềng của mình và lật đổ Khmer Đỏ, một chế độ đã liên minh với Trung Quốc. Trung Quốc đã trả đũa bằng cách xâm nhập miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì thách thức Trung Quốc.
Trong thập kỷ sau đó, trong khi các lực lượng quân sự Việt Nam ổn định tình hình ở Campuchia, Trung Quốc duy trì căng thẳng biên giới phía Bắc bằng việc pháo kích lặp đi lặp lại và các đe dọa phát động một cuộc tấn công trừng phạt khác. Việt Nam đã triển khai tới 250.000 quân đến các tỉnh miền Bắc của mình để bảo vệ trước một cuộc xâm lược thứ hai của Trung Quốc.
Đến năm 1987, như là hệ quả của sự tan băng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô, các triển vọng cho việc đảm bảo một dàn xếp chính trị tại Campuchia đã trở thành thực tế và tình hình dọc theo biên giới Trung-Việt dần dần ổn định. Trong tháng 9/1989, Việt Nam đã hoàn thành việc rút tất cả các lực lượng quân sự của mình từ Campuchia về và căng thẳng với Trung Quốc giảm xuống.
Tháng 9/1990, các quan chức cấp cao Trung Quốc và Việt Nam đã tổ chức một cuộc gặp cấp cao tại thành phố Thành Đô ở miền Nam Trung Quốc và vạch ra con đường dẫn đến bình thường hóa. Tháng 6/1991, dự tính về mối quan hệ được cải thiện với Trung Quốc, Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Đường lối chỉ đạo chính sách kêu gọi Việt Nam “đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với tất cả các nước và các tổ chức kinh tế… không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau”.
Tháng 10/1991, một dàn xếp chính trị toàn diện về cuộc xung đột Campuchia đã đạt được bằng một hội nghị quốc tế họp tại Paris. Việt Nam đã đáp ứng hai yêu cầu chính của Trung Quốc: rút toàn bộ lực lượng quân sự Việt Nam khỏi Campuchia và một dàn xếp chính trị trong đó bao gồm cả đồng minh của Trung Quốc là Khmer Đỏ.
Tháng tiếp sau đó, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bình thường hóa các quan hệ ngoại giao sau thời kỳ 13 năm lạnh nhạt. Trong 4 năm tiếp sau, Việt Nam đã đạt được thành công đáng kể trong việc đáp ứng các mục tiêu do Đại hội toàn quốc lần thứ VII đã đặt ra, đến năm 1995 Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và Nhật Bản cũng như Liên minh châu Âu đều đã dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế của họ và nối lại viện trợ phát triển. Việt Nam cũng đã trở thành thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Vào tháng 3/1999, một cuộc gặp cấp cao giữa các nhà lãnh đạo đảng Trung Quốc và Việt Nam đã thông qua một phương châm mười sáu chữ kêu gọi “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Một tuyên bố chung được đưa ra vào năm sau đó đã thiết lập khuôn khổ cho các mối quan hệ dài hạn giữa hai nhà nước. Trung Quốc và Việt Nam đã nhanh chóng đạt được thỏa thuận phân định biên giới trên bộ và phân định ranh giới trên biển tại Vịnh Bắc Bộ, mà ở đó một vùng đánh cá chung đã được thiết lập.
Tại Đại hội IX của Đảng năm 2001, một Đường lối chỉ đạo chính sách mới đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển quan hệ với “các nước hữu nghị truyền thống, các nước láng giềng và các nước xã hội chủ nghĩa”, ám chỉ Trung Quốc, Lào, Campuchia và Nga. Tháng 7 năm sau, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 3 “Về chiến lược an ninh quốc gia”. Nghị quyết này tuyên bố rằng Trung Quốc là một trong số bạn bè của Việt Nam. Đại hội IX cũng tuyên bố rằng “Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia”.
Tàu ngầm Kilo của Việt Nam
Trong tháng 7/2003, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 8, “Chiến lược Quốc phòng trong tình hình mới”, nhằm giải quyết bài toán hóc búa này. Nghị quyết 8 đã đặt các lợi ích quốc gia thực tế lên trên các vấn đề đã lỗi thời. Việt Nam sẽ hợp tác với các quốc gia khác ở chỗ lợi ích quốc gia hội tụ; nhưng Việt Nam sẽ đấu tranh chống lại các quốc gia nào làm tổn hại lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết 8 đã đưa ra các khái niệm biện chứng về “đối tượng hợp tác” (Đối tác) và “đối tượng đấu tranh” (Đối tượng) để biện giải cho định hướng mới này.
Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc nên được đặt trong khuôn khổ chính sách mở cửa của Việt Nam là đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ đối ngoại của mình. Từ năm 2001, Việt Nam đã theo đuổi một chiến lược lớn phát triển các mối quan hệ chặt chẽ với các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; các nước lớn chủ yếu ở Đông Bắc Á, Nam Á và Đông Nam Á; và châu Âu thông qua các thỏa thuận hợp tác chiến lược chính thức. Việt Nam đã đàm phán thỏa thuận đối tác chiến lược đầu tiên của mình với Liên bang Nga vào năm 2001. Sau đó nước này đạt được các thỏa thuận đối tác chiến lược với Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức (2011), Pháp, Italy, Thái Lan, Indonesia và Singapore (2013).
Năm 2006, Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập Ủy ban chỉ đạo chung về hợp tác song phương ở cấp Phó thủ tướng để điều phối tất cả các khía cạnh trong quan hệ song phương hai nước. Tháng 6/2008, Việt Nam và Trung Quốc đã nâng cấp quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược sau hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo đảng ở Bắc Kinh. Quan hệ song phương đã tiếp tục được nâng cấp thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược trong năm sau đó. Trong khuôn khổ này, Trung Quốc và Việt Nam đã phát triển một mạng lưới các cơ cấu đảng, nhà nước, quốc phòng và đa phương để quản lý các mối quan hệ song phương của họ. Việt Nam và Trung Quốc hiện nay miêu tả quan hệ song phương của họ như là một quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.
Trước khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, vấn đề Biển Đông nổi bật lên trong hai dịp. Đầu tiên, vào tháng 1/1974, một đội tàu hải quân Trung Quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực từ tay Việt Nam Cộng hòa. Tại thời điểm này, Việt Nam vẫn còn bị chia cắt giữa miền Bắc và miền Nam. Lần thứ hai, tháng 3/1988, trong khi Việt Nam vẫn đang bận tham chiến ở Campuchia, hải quân Trung Quốc đã tấn công các kỹ sư quân sự Việt Nam trên các cấu trúc ở Biển Đông và chiếm các bãi đá Chữ Thập (Fiery Cross) và đá Gạc Ma (Johnson South).
Năm 1992, ngay sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, hai bên đã bị lôi kéo vào một cuộc đối đầu về quyền thăm dò dầu tại vùng biển xung quanh bãi Tư Chính của Việt Nam nằm ở ngoài khơi bờ biển phía Đông Nam. Sau đó vào những năm 1990, một tranh cãi khác đã nổ ra khi Trung Quốc trao quyền thăm dò dầu cho Crestone Oil, một công ty Mỹ, tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố là một phần Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình.
Va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam xung quanh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đã nổ ra năm 2007 khi Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương ở Biển Đông phía trên 12 vĩ độ Bắc. Trung Quốc áp dụng lệnh cấm này bằng cách lên các tàu Việt Nam và thu giữ cá đã đánh bắt được của họ và máy thông tin liên lạc. Trong một số trường hợp, các tàu Trung Quốc đã đâm tàu Việt Nam. Một số bị đánh chìm và đã có những người chết. Sau đó Trung Quốc bắt giữ các ngư dân Việt Nam và giữ họ cho đến khi họ trả những khoản tiền phạt lớn. Cũng trong năm 2007, Trung Quốc bắt đầu gây áp lực buộc các công ty dầu mỏ nước ngoài hoặc phải dừng các hoạt động của họ trong vùng biển của Việt Nam hoặc phải đối mặt với những khó khăn trong các hoạt động của họ ở Trung Quốc.
Một bước ngoặt lớn trong tranh chấp ở Biển Đông xảy đến khi Ủy ban Liên hợp quốc về Ranh giới Thềm lục địa đặt thời hạn chót vào tháng 5/2009 cho việc đệ trình các tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý. Trung Quốc, lần đầu tiên, chính thức đệ trình bản đồ “đường 9 đoạn” trên Biển Đông một cách trắng trợn, ngang ngược và tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các cấu trúc ở bên trong đường này, bao gồm cả các vùng biển lân cận.
“Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ăn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam. Khu vực chồng lấn này nhanh chóng trở thành một khu vực tranh cãi khi các tàu chấp pháp biển Trung Quốc cố gắng thực thi chủ quyền. Chẳng hạn, các tàu dân sự Trung Quốc bắt đầu can thiệp vào hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu đang hoạt động trong EEZ của Việt Nam. Đã có một vài sự cố công khai, trong đó tàu Trung Quốc hoặc là quấy rối hoặc cắt cáp của các tàu thuyền nước ngoài đang tiến hành khảo sát địa chấn trong EEZ của Việt Nam. Năm 2012 khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam vạch ra ranh giới biển của mình, Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc đã đáp lại bằng cách đưa các lô thăm dò chồng lấn với EEZ của Việt Nam ra đấu thầu quốc tế.
Va chạm thường xuyên về các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục cho đến ngày nay. Không có sự cố nào lại nghiêm trọng hơn việc hạ đặt một giàn khoan dầu khổng lồ của Trung Quốc, Hải Dương- 981, trong vùng EEZ của vn từ tháng 5-7/2014. Hải Dương-981 được hộ tống bởi một đội tàu hỗn hợp của Trung Quốc gồm hơn 80 tàu chiến của hải quân, các tàu cảnh sát biển, tàu kéo và tàu đánh cá. Con số này đã lên đến hơn 100 vào đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng. Máy bay quân sự của Trung Quốc bay trên bầu trời.
Việt Nam đã phản ứng bằng cách cử các tàu của Cảnh sát biển và lực lượng kiểm ngư để phản đối hành vi vi phạm quyền chủ quyền đó của Trung Quốc. Điều này dẫn đến những cuộc đối đầu hàng ngày bao gồm cả việc va chạm có chủ ý của cả hai bên và các tàu Trung Quốc sử dụng vòi rồng áp lực cao nhắm vào buồng lái và các cột ăng-ten thông tin của tàu thuyền Việt Nam. Việt Nam tuyên bố rằng trong tháng 5 đã đưa ra hơn 30 phản kháng ngoại giao với Trung Quốc, bao gồm cả các nỗ lực kích hoạt đường dây nóng mà không có kết quả. Cuộc khủng hoảng này đã đánh dấu sự suy giảm nghiêm trọng nhất trong quan hệ song phương kể từ Chiến tranh biên giới Trung-Việt hồi năm 1979.
Cuộc đối đầu xung quanh việc triển khai Hải Dương-981 đã chấm dứt cũng đột ngột như khi nó bắt đầu. Trung Quốc thông báo rằng giàn khoan này đã hoàn thành các hoạt động của mình và rút nó khỏi khu vực. Trung Quốc sau đó đã tiếp một đặc phái viên đại diện cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và một phái đoàn gồm 13 tướng lĩnh cấp cao Việt Nam bao gồm cả Bộ trưởng Quốc phòng. Hai bên đã đồng ý thiết lập quan hệ song phương trở lại như đã đạt được trước khi có cuộc khủng hoảng Hải Dương-981. Họ cũng nhất trí rằng các tranh chấp Biển Đông không nên gây tổn hại quan hệ song phương nói chung. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tháng 5-7/2014 đã làm xói mòn nghiêm trọng lòng tin chiến lược giữa hai đối tác hợp tác chiến lược toàn diện này.
Các sự kiện có liên quan đến Biển Đông ở trên hình thành bối cảnh cho quyết định của Việt Nam hiện đại hóa các lực lượng hải quân và không quân của mình cho các hoạt động ở Biển Đông để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Cho đến giữa những năm 1990, hải quân Việt Nam vẫn chỉ là một lực lượng hải quân ven bờ. Từ giữa những năm 1990, Việt Nam đã bắt đầu mua các tàu hộ tống lớp Tarantul từ Liên Xô có trang bị tên lửa chống hạm. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga đã trở thành nhà cung cấp vũ khí chính của Việt Nam. Kể từ năm 2008, hải quân Việt Nam đã được giao 1 tàu hộ tống BPS-500, 2 tàu hộ vệ tàng hình trang bị tên lửa dẫn đường lớp Gepard 3.9 (các tên lửa chống hạm Uran 3M24), các tàu ngầm Varshavyanka tức tàu ngầm truyền thống cải tiến lớp Kilo (được vũ trang bằng tên lửa chống hạm và tên lửa hành trình đối đất), 4 tàu hộ tống trang bị tên lửa dẫn đường Tarantul V, 5 khinh hạm hạng nhẹ lớp Petya, và 6 tàu tấn công nhanh lớp Svetlyak (trang bị tên lửa chống hạm). Việt Nam đã nhận được thêm 2 khinh hạm Gepard và nhận đủ 6 tàu ngầm lớp Kilo trước cuối năm 2016.
Tên lửa Klub trang bị cho cả tàu mặt nước, tàu ngầm, các tổ hợp tên lửa bờ của Việt Nam
Được biết Việt Nam đã ký hợp đồng mua ít nhất hai tàu hộ tống lớp Sigma của Hà Lan (được trang bị các tên lửa chống hạm Exocet có tầm bắn mở rộng).
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã mua 11 máy bay Su-27 và 23 máy bay phản lực đa năng Su-30. Năm 2013 Việt Nam đã thông báo rằng họ tiến hành các cuộc tuần tra bằng không quân trên Biển Đông.
Robert Farley, một chuyên gia an ninh tại Đại học Kentucky, đưa ra đánh giá đầy kích động rằng có 5 loại vũ khí Việt Nam mà Trung Quốc nên sợ: máy bay chiến đấu Sukhoi, tàu ngầm lớp Kilo, tên lửa hành trình P-800 Onyx, tên lửa đất-đối-không (SAM) S-300, và chính lãnh thổ của Việt Nam. Tên lửa hành trình P-800 Onyx “có thể phóng được từ máy bay, từ các tàu nổi, từ các tàu ngầm và từ các tổ hợp đặt trên bờ” và tấn công các tàu Trung Quốc từ nhiều hướng bất ngờ và áp đảo các hệ thống phòng không của hải quân quân đội Trung Quốc (PLAN).
Hệ thống tên lửa S-300 là một trong những hệ thống phòng không tinh vi và tích hợp nhất trên thế giới. Theo Farley, “nó có thể truy lùng và tiếp cận hàng chục mục tiêu trong tầm hoạt động lên đến 75 dặm… Được sử dụng kết hợp với các máy bay chiến đấu của VPAF (Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam), mạng lưới SAM sẽ khiến việc thực hiện một chiến dịch không quân phối hợp chống lại Việt Nam với chi phí chấp nhận được trở nên rất khó khăn. “Hệ thống S-300 có thể được sử dụng để bảo vệ Vịnh Cam Ranh và các căn cứ hải quân có tính sống còn khác của Việt Nam”. Và cuối cùng, Farley lưu ý Việt Nam “có lợi thế về không gian”, có nghĩa là “địa hình khắc nghiệt”, thứ sẽ ngăn không cho Trung Quốc phát động một cuộc xâm lược trên đất liền.
Gary Li, một chuyên gia an ninh hàng hải làm việc cho IHS Maritime tại Bắc Kinh, cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí địa lý Việt Nam đối với Biển Đông. Việt Nam sở hữu nhiều đảo nhất và các hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Trung Quốc “phải đi từ rất xa để tới được cuối vùng yêu sách của mình”, trong khi “Việt Nam, mặt khác, đang tranh một vùng biển ngay ngưỡng cửa của mình. Hạm đội tàu hộ tống hạng nhẹ và tàu ngầm trang bị tên lửa của họ có thể tấn công và rút lui vào các cảng nhà của họ theo ý muốn, trong khi một hạm đội Trung Quốc bị tiến đánh sẽ ít nhiều bị tổn thất’.
Li kết luận rằng khi các lực lượng hải quân và không quân của Việt Nam được tích hợp với các lực lượng pháo binh và tên lửa ven biển được triển khai dọc bờ biển kéo dài của họ, các cách tiếp cận hải quân của Việt Nam đã được chuyển đổi thành một dạng “bãi tập bắn” nào đó. Cần lưu ý rằng Việt Nam đang vận động hành lang Nga và Ấn Độ để có được các tên lửa hành trình tấn công mặt đất BrahMos.
Brian Benedictus, một nhà phân tích chính trị-quân sự Đông Á tại Washington, lập luận rằng việc Việt Nam mua các tàu hộ vệ lớp Gepard, các tàu hộ tống lớp Molniya (Tarantul) và tàu ngầm lớp Kilo (Varshavyanka) được nâng cấp “có khả năng cho phép Việt Nam có thêm nhiều lựa chọn hơn khi triển khai sức mạnh của mình đối với các tuyên bố lãnh thổ ở Biển Đông”. Theo Benedictus, các khinh hạm và tàu hộ tống của Việt Nam “tất cả đều có khả năng là tàu tấn công nhanh trong một kịch bản xung đột ở gần Biển Đông và có khả năng ra đòn đánh tàn khốc đối với các tàu đối phương, một điều gì đó mà Bắc Kinh nhất thiết phải tính đến trước khi ra quyết định tiến tới giao tranh với hải quân Việt Nam”.
Các tàu ngầm thông thường mới của Việt Nam bổ sung những khả năng mới nào cho các khả năng chiến lược của mình? Các quan sát viên ngoại giao tại Hà Nội đã báo cáo rằng tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam đã tiến hành tuần tra dọc bờ biển nước này. Ngoài ra, thủy thủ đoàn Việt Nam hiện đang được đào tạo học thuyết và chiến thuật tác chiến dưới biển tại trung tâm tàu ngầm INS Satavahana của Ấn Độ. Những diễn biến này đã khiến các nhà phân tích an ninh và quốc phòng nước ngoài phải cân nhắc xem Việt Nam có thể tiếp nhận các loại vũ khí mới của mình và xây dựng một lực lượng hải quân đáng tin cậy có thể hoạt động ở Biển Đông nhanh tới mức nào.
Collin Koh, từ Trường S. Rajaratnam về Nghiên cứu Quốc tế ở Singapore, cho rằng Việt Nam sẽ sử dụng các tàu ngầm của mình trong các hoạt động ngăn chặn xâm nhập khu vực ngoài khơi bờ biển và trong quần đảo Trường Sa một khi chúng vận hành hoàn toàn. Theo Koh, “ngăn chặn xâm nhập biển nghĩa là tạo ra một sự răn đe về tâm lý bằng cách đảm bảo một đối thủ hải quân mạnh mẽ hơn không bao giờ thực sự biết nơi các tàu ngầm của bạn có thể hiện diện. Đó là cách tác chiến bất đối xứng kinh điển được kẻ yếu sử dụng chống lại kẻ mạnh và tôi nghĩ rằng Việt Nam hiểu rất rõ điều này. Câu hỏi đặt ra là liệu họ có thể hoàn thiện nó ở dưới mặt nước hay không mà thôi”.
Theo Benedictus, “Việt Nam nằm gần tỉnh Hải Nam của Trung Quốc, hòn đảo là bến cảng đối với Hạm đội Nam Thái Bình Dương của PLAN. Điều này đủ đáng lo ngại đối với Bắc Kinh khi xét rằng các tàu cập ở cảng có thể là con mồi dễ dàng đối với các tàu ngầm bên ngoài bờ biển của hòn đảo, nếu xung đột xảy ra; triển vọng Việt Nam một ngày nào đó có khả năng tấn công mặt đất tích hợp với hạm đội tàu ngầm của mình sẽ là một nguồn quan ngại nghiêm trọng”. Benedictus kết luận rằng các tàu ngầm lớp Varshavyanka của Việt Nam “có khả năng tiêu diệt các tàu đối phương trong một cuộc xung đột quân sự bằng nhiều cách khác nhau”, đặc biệt do PLAN yếu kém trong tác chiến chống ngầm.
Theo Lyle Goldstein, một giáo sư tại Trường Cao đẳng chiến tranh Hải quân Mỹ, người đã tham khảo các ý kiến đánh giá của Trung Quốc về quân đội Việt Nam, nhận định rằng các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc quan sát “cực kỳ chặt chẽ” các chương trình hiện đại hóa của Việt Nam và có “sự tôn trọng rất lớn... đối với Việt Nam nói chung’, bao gồm cả không quân Việt Nam.
Theo Goldstein, các tàu ngầm lớp Varshavyanka của Việt Nam “có thể ra đòn chết chóc hoặc bằng ngư lôi hoặc bằng các tên lửa hành trình đối hạm”. Tuy nhiên, Goldstein báo cáo rằng các nhà phân tích Trung Quốc đã xác định được hai điểm yếu chính trong chiến lược quân sự của Việt Nam: thiếu kinh nghiệm chủ yếu trong việc vận hành các hệ thống các vũ khí phức tạp và “giám sát, nhắm mục tiêu và quản lý trận đánh”. Những điểm yếu này đã khiến các quan chức quốc phòng của Trung Quốc chủ quan cho rằng “Trung Quốc có thể chiếm ưu thế trong bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào” với Việt Nam. Goldstein kết luận “chiến lược hứa hẹn nhất của Việt Nam đấu với Trung Quốc là hy vọng rằng họ có thể có đủ lực lượng để răn đe, trong khi vẫn đồng thời theo đuổi con đường ngoại giao để giải quyết các tranh chấp”.
Siemon Wezeman, một nhà phân tích làm việc tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, lập luận rằng theo quan điểm của Trung Quốc thì sự răn đe của Việt Nam đã là một thực tế. Theo Wezeman, “người Việt Nam đã làm thay đổi toàn bộ kịch bản – họ đã có các tàu ngầm, họ có các thủy thủ đoàn và họ dường như đã có các loại vũ khí, khả năng và kinh nghiệm của họ sẽ lớn dần từ thời điểm này. Theo quan điểm các giả định của Trung Quốc, sự răn đe của Việt Nam đã đạt tới điểm mà nó hẳn phải có thực”.
Khi tất cả các vụ mua sắm vũ khí hiện tại và tương lai của Việt Nam được tính đến, rõ ràng là Việt Nam đã có những bước tiến lớn để phát triển một năng lực mạnh mẽ nhằm chống lại sự can thiệp hải quân của một cường quốc thù địch. Điều này đã hình thành dưới dạng phát triển một chiến lược chống tiếp cận tích hợp các hệ thống pháo và tên lửa trên bờ; các máy bay chiến đấu đa năng Su-30; các tàu tấn công nhanh, các tàu hộ tống và khinh hạm trang bị tên lửa chống hạm; và các tàu ngầm lớp Varshavyanka.
Chiến đấu cơ Su-30MK2 của không quân Việt Nam
Các hệ thống vũ khí này sẽ cho phép Việt Nam khiến cho việc tiến hành các hoạt động hải quân của Trung Quốc trở nên cực kỳ tốn kém trong một dải biển 200-300 hải lý dọc theo bờ biển của Việt Nam từ biên giới Việt-Trung ở phía Đông Bắc tới Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam, nếu như không tiếp tục tiến xa hơn về phía Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng có khả năng tấn công căn cứ hải quân lớn của Trung Quốc gần Tam Á trên đảo Hải Nam và các cơ sở quân sự trên đảo Phú Lâm từ hệ thống tên lửa hành trình Bastion trên bờ hoặc từ tên lửa hành trình tấn công mặt đất trên các tàu ngầm lớp Kilo.
Như Farley kết luận một cách đúng đắn, “Việt Nam không muốn một cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Quốc… Đặc biệt Việt Nam không muốn tiến tới đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tốn kém tiền bạc và công nghệ có thể tiêu hao đi những thiết bị đắt tiền mà Quân đội Việt Nam đã mua. Tuy nhiên, Trung Quốc nhất định phải đánh giá rằng Việt Nam có thể đánh trả.
Quân đội Việt Nam, trong cơ cấu hiện tại của mình, được thiết kế để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc”. Tóm lại, chiến lược quốc phòng của Việt Nam không được thiết kế để đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc xung đột kéo dài. Thay vào đó, nó nhằm ngăn chặn Trung Quốc ở vị trí cuối trong phổ xung đột, bằng cách gây rủi ro cho các tàu chiến của PLAN nếu như chúng tính chuyện can thiệp để hỗ trợ cho các tàu thực thi pháp luật dân sự hoặc cố đánh chiếm một trong những hòn đảo do Việt Nam chiếm giữ ở Biển Đông.
Việc hiện đại hóa lực lượng của Việt Nam đem lại cho nước này các phương tiện để “đấu tranh chống lại” Trung Quốc khi Trung Quốc đe dọa lợi ích quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, chiến lược chính của Việt Nam là “hợp tác” với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực bao gồm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện của họ.
* Tác giả Carlyle A. Thayer là Giáo sư Danh dự về Chính trị, Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Úc. Bài viết được đăng tại trang Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Chennai, Ấn Độ.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tướng Việt Nam: Mỹ tính lập NATO châu Á-Thái Bình Dương đối chọi Trung Quốc


VietTimes -- Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tư lệnh quân khu 1 nói về toan tính của Mỹ trong việc điều tàu sân bay vào Biển Đông và khả năng đụng độ Mỹ - Trung. Theo tướng Thệ, toan tính sâu xa nhất của Washington là thiết lập một NATO thu nhỏ ở châu Á – Thái Bình Dương nhằm kiềm chế Trung Quốc.
Văn Việt - /
Tướng Phạm Xuân ThệTướng Phạm Xuân Thệ
Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tư lệnh quân khu 1 nói về toan tính của Mỹ trong việc đưa tàu sân bay vào Biển Đông và khả năng đụng độ Mỹ - Trung.
Với chính sách hướng Đông, việc Mỹ đưa tiềm năng quân sự vào Biển Đông là điều tất yếu. Khu vực này cũng không phải xa lạ gì với Hạm đội Thái Bình Dương khi họ đã có mặt ở đây từ thế kỷ trước.
Theo tướng Thệ, toan tính sâu xa nhất của Washington là thiết lập một NATO thu nhỏ ở châu Á – Thái Bình Dương, duy trì vị thế siêu cường quân sự tại khu vực này và kiềm chế Trung Quốc.
NATO châu Á, do Mỹ dẫn đầu có thể sẽ có các thành viên cơ bản như Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc, Philippines, Indonesia.
Tướng Thệ cho rằng chính sách hướng Đông của Mỹ sẽ không thay đổi, họ sẽ từng bước thực hiện điều đó. Người Mỹ đang toan tính thành lập khối NATO thu nhỏ ở Thái Bình Dương với nền móng là các nước sau: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc, Philippines, Indonesia. “Tôi nghĩ họ có những toan tính riêng, đó là lập liên minh quân sự để đối trọng với Trung Quốc ở khu vực này”, ông Thệ nói.
Trở ngại lớn nhất trong chiến lược nêu trên của Mỹ là việc Ấn Độ - quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh nhưng lại có biên giới với Trung Quốc. New Delhi hiểu rõ rằng, Trung Quốc sẽ có những cách gây khó dễ ở khu vực biên giới nếu láng giềng của họ gia nhập liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu.
 “Việc này có thể sẽ khiến tình hình ở Biển Đông trở nên ‘nóng’ hơn bao giờ hết, bởi chẳng bao giờ tàu sân bay hoạt động đơn độc. Đi kèm nó là hàng loạt tàu chiến bảo vệ, máy bay cảnh giới, hệ thống vệ tinh tình báo v.v. Và rất có thể phải tính tới phương án Mỹ còn điều tàu ngầm theo bảo vệ tàu sân bay và phục vụ những mục đích của riêng họ”, nguyên Tư lệnh quân khu 1, nhận xét.
Việt Nam không đơn độc
Phân tích ảnh hưởng của sự kiện tàu sân bay Mỹ vào Biển Đông, tướng Thệ nói: “Có thể nói chúng ta không đơn độc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Trường Sa và Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam, lịch sử ghi nhận điều đó và không thế lực nào thay đổi được sự thực ấy. Lãnh hải của Trung Quốc chỉ đến cực Nam đảo Hải Nam, nhưng họ chưa bao giờ từ bỏ dã tâm độc chiếm Biển Đông”.
Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ thường trực tại châu Á-Thái Bình Dương
Chúng ta đã đấu tranh và sẽ còn tiếp tục đấu tranh trên mọi mặt trận, đặc biệt là mặt trận ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Tôi lấy ví dụ Tuyên bố chung Mỹ - ASEAN vừa qua, chúng ta có thể thấy rõ cộng đồng quốc tế đều lên án việc “bắt nạt” các nước khác của Bắc Kinh, lên án việc cải tạo, quân sự hóa Trường Sa, Hoàng Sa.
Tính từ 2014 đến nay, tổng diện tích Trung Quốc bồi lấn trái phép ở Trường Sa là 1.200ha. Trong khi đó, tổng diện tích mà các nước ở ASEAN làm chỉ là 46ha. Có những thời điểm, tại 7 điểm đảo, đá Trung Quốc chiếm đóng trái phép của Việt Nam, có tới 500 tàu thuyền nước này hoạt động.
Nhưng Mỹ sẽ không bao giờ đem cho không ai cái gì. Đương nhiên việc Mỹ hiện diện quân sự ở Biển Đông ít nhiều sẽ khiến Trung Quốc chùn bước, thận trọng hơn.
Xét từ góc độ khác, Mỹ là nước buôn bán vũ khí lớn nhất trên thế giới. Họ cũng không thể để quân đội ngồi yên không hoạt động, không thể xếp mãi vũ khí trong kho. Những hoạt động như tuần tiễu, đưa tàu sân bay vào Biển Đông cũng phục vụ cho mục đích diễn tập quân sự, thử nghiệm vũ khí, khí tài. Rất có thể, họ cũng muốn thử nghiệm năng lực tác chiến điện tử trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng hung hăng.
Cả Washington và Bắc Kinh sẽ kiềm chế không để xảy ra xung độ quy mô lớn bởi điều này sẽ kéo theo những hệ lụy rất lớn mà cả hai cùng không muốn đối mặt.  Nói cách khác, có thể sẽ có những vụ tàu Trung Quốc và tàu Mỹ vờn nhau, hay Trung Quốc tìm cách ngăn cản tàu Mỹ nhưng chỉ dừng ở va chạm nhỏ. Cả Washington và Bắc Kinh đều biết rằng Thế chiến I bắt nguồn từ một phát súng ám sát, họ đương nhiên không muốn điều đó lặp lại.
Mỹ có lẽ sẽ không ngăn được quá trình cải tạo đảo trái phép của Trung Quốc, không ngăn được Trung Quốc triển khai vũ khí ở Trường Sa và Hoàng Sa. Nhưng việc Mỹ hiện diện cũng là cách phát đi thông điệp rõ ràng để Bắc Kinh hiểu rằng không thể tác oai tác quái ở Biển Đông.
V.V

Tin liên quan

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ coi những lời đe dọa của Triều Tiên là “nghiêm trọng”


Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng, hành động khiêu khích của Triều Tiên chỉ làm trầm trọng thêm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Hãng tin Reuters dẫn tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ John Kirby ngày 7/3 cho biết, những lời lẽ đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là “nghiêm trọng”; đồng thời kêu gọi Triều Tiên ngừng “khiêu khích” sau khi Bình Nhưỡng tuyên bố sẽ “phát động cuộc tấn công toàn diện” nhằm vào Mỹ và Hàn Quốc do các cuộc tập trận thường niên của hai nước này.
my coi nhung loi de doa cua trieu tien la "nghiem trong" hinh 0
Binh sỹ Mỹ và Hàn Quốc trong một cuộc tập trận chung. (Ảnh: Reuters)
Phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ, ông John Kirby nói: “Chúng tôi xem những đe dọa này là nghiêm trọng và một lần nữa kêu gọi Bình Nhưỡng ngừng những lời lẽ hiếu chiến, chấm dứt đe dọa và nghiêm túc chấm dứt các hành vi khiêu khích”.
Cùng ngày, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ Jeff Davis cũng đưa ra tuyên bố tương tự khi nói rằng, những lời lẽ đe dọa như vậy là “vô ích”.
Ông Jeff Davis nói: “Chúng tôi tiếp tục yêu cầu họ (Triều Tiên) kiềm chế các tuyên bố và hành động khiêu khích vốn chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng căng thẳng”.
Lời kêu gọi của phía Mỹ được đưa ra sau khi nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un ra lệnh cho các lực lượng hạt nhân của nước này ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu “bất cứ lúc nào” để đối phó với nghị quyết trừng phạt của Hội đồng Bảo an cũng như các cuộc tập trận thường niên Mỹ - Hàn.
Trong khi đó, Ủy ban Quốc phòng - cơ quan quyền lực nhất Triều Tiên cũng cảnh báo sẽ tiến hành một cuộc tấn công toàn diện chống lại liên quân Mỹ - Hàn trong bối cảnh ngày 7/3, Mỹ và Hàn Quốc đã bắt đầu tiến hành các cuộc tập trận chung thường niên có quy mô lớn nhất từ trước đến nay mang tên “Giải pháp then chốt” và “Đại bàng non”, với sự tham gia của 300.000 binh sỹ Hàn Quốc và 15.000 binh sỹ Mỹ cùng nhiều tàu hải quân và các phi đội máy bay chiến lược của Mỹ.
Trong một diễn biến liên quan đến tình hình Triều Tiên, ngày 8/3, hãng thông tấnYonhap của Hàn Quốc cho biết, Chính phủ nước này sẽ công bố các biện pháp trừng phạt đơn phương bổ sung đối với CHDCND Triều Tiên vào lúc 15h hôm nay (theo giờ địa phương - tức 13h Việt Nam).
Yonhap tiết lộ, Hàn Quốc sẽ áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các thực thể và cá nhân liên quan đến việc phát triển chương trình hạt nhân và tên lửa, lĩnh vực tài chính của Triều Tiên.
Theo Yonhap, ngoài việc bổ sung các thực thể và cá nhân của Triều Tiên vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt bổ sung còn bao gồm việc cấm tàu thuyền của nước thứ 3 đến và đi khỏi Triều Tiên cập cảng Hàn Quốc trong vòng 180 ngày.
Đây được coi là các biện pháp bổ sung đối với nghị quyết trừng phạt mà Hàn Quốc đã áp đặt chống Triều Tiên kể từ ngày 24/5/2010, sau khi Seoul cáo buộc Bình Nhưỡng đứng đằng sau vụ tàu Cheonan của nước này bị chìm trên biển Hoàng Hải khiến 46 thủy thủ thiệt mạng./.
Hùng Cường/VOV.VN
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ba giải pháp của Việt Nam ở Biển Đông


Chừng nào Việt Nam không quốc tế hóa vấn đề thông qua tòa án, thông qua truyền thông, chừng nào Việt Nam vẫn hy vọng đàm phán song phương với Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ thua. Ông Jean-Vincent Brisset
Trung Quốc đang tăng cường cơi nới đảo ở Biển Đông gần đây cho thấy tham vọng của Bắc Kinh trong việc độc chiếm vùng biển này. Các hoạt động cải tạo đảo của Trung Quốc ở Biển Đông gần đây cho thấy tham vọng của Bắc Kinh trong việc độc chiếm vùng biển này. Chiến lược chiếm hữu dần dần Biển Đông này đang gây quan ngại nghiêm trọng không chỉ đối vớic ác nước trong khu vực. Chúng tôi nói chuyện với ông Jean-Vincent Brisset, chuyên gia từ Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp:
Ông nghĩ sao về việc Trung quốc đang cố gắng cải tạo các bãi đá chìm thành đảo nhân tạo và bồi đắp các đảo nhỏ thành lớn hơn?

Ông Brisset: Luật Biển không thừa nhận những gì được xây dựng trên những thực thể không được coi là hòn đảo. Vì vậy, trên quan điểm về chủ quyền, thì xây dựng trên những hòn đảo này cũng không làm tăng thêm cơ sở cho các đòi hỏi về chủ quyền, theo quy định quốc tế.

Tuy nhiên, trên thực tế thì việc xây cất thêm đó cho phép họ tăng khả năng quân sự, tăng quyền lợi kinh tế (trong các vùng biển xung quanh).

Tôi nghĩ rằng Luật Biển khá rõ ràng: sở hữu một thực thể không phải là một hòn đảo theo định nghĩa của Luật Biển, tức là không có cư dân, và không có tài nguyên riêng (đủ cho cư dân trên đảo đó sống được), thì không có giá trị đòi chủ quyền vùng lãnh hải bao quanh. Vì vậy, việc tạo ra chủ quyền lãnh hải xung quanh các "hòn đảo" này, bất kể diện tích là to hay nhỏ, là không đúng với những gì được quốc tế chấp nhận.

Dưới góc độ quân sự thì việc chiếm hữu các vị trí này có giá trị thế nào?


Ông Brisset: Về mặt quân sự, các "hòn đảo" chỉ có thể được coi như một cứ điểm nhỏ không mấy quan trọng. Lợi ích của nó chủ yếu là về kinh tế, đặc biệt cho ngư dân. Nhưng nếu diện tích vượt quá một ngưỡng nhất định, máy bay chiến đấu có thể hạ cánh được, có thể triển khai trên đó vũ khí hạng nặng, có cảng biển lớn đến mức tàu chiến có thể ghé vào lấy đồ tiếp tế... thì lại là chuyện khác.

Nguy cơ lúc đó sẽ là từ sở hữu về kinh tế, rồi sẽ mở rộng dần sang sở hữu lãnh thổ và chủ quyền. Và hành động đó tạo căng thẳng với các nước trong khu vực.

Các nước khác cũng đã mở rộng đảo nhỏ. Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Philippines đã mở rộng một số đảo, nhưng ở một quy mô khác, và họ không đòi chủ quyền biển xung quanh các đảo đó.

Trung Quốc cũng đang phải trả giá cho hành động của mình. Chiếm thêm được biển, giành được ưu thế về quân sự, nhưng cũng mất đi uy tín, trở nên không đáng tin cậy đối với các nước trong khu vực. Ông có nghĩ là cái giá đó là đắt hay không ?

Ông Brisset: Tôi nghĩ rằng hệ thống mà Trung Quốc đang dựa vào là tìm cách giành chiến thắng một cách âm thầm lặng lẽ trong các cuộc đàm phán, đồng thời dựa cả vào cán cân về quyền lực trong các mối quan hệ song phương. Trung Quốc đã rất thành công khi dùng vũ lực hồi năm 1974 trên các quần đảo Hoàng Sa, và bây giờ vẫn chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, trong lúc thế giới đều không để ý đến [những gì đã xảy ra ở đó].

  Trung Quốc đã tạo ra một cơ cấu hành chính hoàn toàn không được công nhận quốc tế, nhưng cơ cấu hành chính này vẫn tồn tại, về hành chính, về quân sự, về chính trị, và được gọi là Tam Sa.
Giờ đây Trung Quốc muốn mở rộng lãnh hải một chút nữa, theo cùng một cách như Trung Quốc vẫn làm, đó là chỉ nói chuyện song phương, đồng thời tuyên bố chủ quyền một số hải đảo của Việt Nam, Philipines, Malaysia...

Trung Quốc tăng hiện diện trên những hòn đảo, và sẽ dần áp đặt sự có mặt bằng cách xây dựng thêm và tăng chủ quyền thực tế. Tại thời điểm này, cách làm của Trung Quốc đang có kết quả. Trung Quốc đã tạo ra một cơ cấu hành chính hoàn toàn không được công nhận quốc tế, nhưng cơ cấu hành chính này vẫn tồn tại, về hành chính, về quân sự, về chính trị, và được gọi là Tam Sa.

Như vậy các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines có thể làm gì? Quốc tế hoá sự việc phải chăng là cách thức duy nhất khả dĩ?


Ông Brisset: Philippines đã chọn cách quốc tế hóa, kiện ra Tòa án quốc tế. Tôi nghĩ rằng đây là một cách tiếp cận khá thú vị. Bởi vì nếu chúng ta phân tích một cách đơn giản, thì Philippines có quyền hợp pháp để làm việc đó.

Bây giờ, vấn đề là đã có quyền hợp pháp rồi, nhưng ngoài ra còn phải có thực lực nữa. Đó là vấn đề khó. Một mặt, mặc dù có một số kiến nghị là nên đi theo cách này, tức kiện ra toà quốc tế, Việt Nam vẫn không làm theo, không dùng tới công cụ pháp lý hợp pháp để giải quyết tranh chấp.

Điều này thật đáng tiếc, bởi vì Việt Nam, trên bình diện pháp luật và trên bình diện chiếm hữu thực tế một số đảo Trường Sa, có những lập luận vững chắc hơn, hơn cả lập luận của Philippines, về chủ quyền của mình do người Pháp chuyển giao lại. Bởi vì trong các tài liệu chính thức được công nhận, thì quốc gia có chủ quyền các hòn đảo này vào thời điểm năm 1933, là Pháp.

Hoa Kỳ muốn thực hiện tự do hàng hải ở Biển Đông

Sau khi Pháp chuyển giao chủ quyền, đặc biệt là sau Hiệp định Geneva năm 1954, cho các nước Đông Dương, thì cho đến nay, mọi việc kém rõ ràng hơn, nhưng chủ quyền được chuyển giao đó vẫn có giá trị tồn tại. Các tranh chấp về mặt pháp lý có thể dùng pháp luật để giải quyết. Nhưng điều không may là chính quyền Việt Nam đã không chọn cách đưa ra tòa án quốc tế, là thực thể có nhiều tự do phát biểu hơn đối với Trung Quốc. 

Ông có cho là nếu Việt Nam và Philippines cùng phối hợp trên mặt trận pháp lý thì sẽ có hiệu quả hơn không?

Ông Brisset: Việt Nam và Philippines kiện chung thì không nên. Vì nguyên nhân của hai nước là không như nhau, bởi vì các đảo mà mỗi nước tranh chấp không giống nhau. Vì vậy, Việt Nam và Philippines nên làm một cái gì đó, nhưng độc lập với nhau.

Philippines đã kiện, theo ý kiến của tôi, Việt Nam cũng nên thực hiện một cách tiếp cận tương tự. Tòa án sau đó có thể sẽ ít nhiều gắn hai vụ kiện với nhau. Vấn đề hiện nay là Việt Nam, theo tôi biết, vẫn không chọn cách tiếp cận tự nguyện và chủ động này để đạt được một mục tiêu cao hơn.

Nhưng nếu Trung Quốc tiếp tục từ chối không tham gia phiên toà tại La Haye?

Ông Brisset: Trung Quốc không tham gia vụ kiện, bởi vì hiện nay chỉ có một đối thủ duy nhất tại tòa án quốc tế. Nếu có hai đối thủ, 3, 4 nước cùng kiện, Trung quốc sẽ ngày càng phải đối mặt với thực tế, bất chấp ý chí riêng của mình.

Nếu một sự kết hợp giữa Việt Nam và Philippines, sau đó có thêm Malaysia, Đài Loan, thì quốc tế sẽ quan tâm hơn nhiều tới khu vực này, đặc biệt là quan tâm tới những đối với vận tải quốc tế. Chúng ta không quên rằng 40% của vận tải biển của toàn thế giới đi qua khu vực này.

Sự hiện hiện gần đây của Mỹ trong khu vực có ảnh hưởng gì tới tình hình?

Ông Brisset: Sự hiện diện của Mỹ là đi theo chính sách của Mỹ, sự hiện diện đó không trái với luật pháp quốc tế, không trái với luật pháp quốc tế trong tất cả các vùng biển của thế giới. Người Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông. Người Mỹ quan niệm sự tự do hàng hải cũng giống như quyền tự do hàng không ở một số khu vực mà Bắc Kinh đơn phương tuyên bố cách đây không lâu tại Biển Đông.

Add caption

Trung Quốc coi đó là một sự khiêu khích. Nhưng Hoa Kỳ đã vận dụng đúng luật pháp quốc tế. Trung Quốc có thể dám tấn công một tàu Việt Nam hay tàu Philippines, nhưng không bao giờ dám tấn công một tàu của Mỹ.

Theo ông thì các nước như Việt Nam và Philippines không có nhiều lựa chọn. Lúc này hai nước có thể dựa vào sự hiện diện của Mỹ, dựa vào cơ sở pháp lý, ngoài ra còn có những chỗ dựa nào khác?

Ông Brisset: Có ba cơ sở để đấu tranh với Trung Quốc. Về mặt quân sự, là dựa vào hợp tác vùng hay hợp tác với Mỹ. Thứ hai là cơ sở pháp lý, mà tới nay mới chỉ có duy nhất Philippines chọn.

Và cuối cùng là truyền thông. Nhưng, cả Philippines, Malaysia hay Việt Nam đều ít dùng tới sức mạnh của truyền thông. Đó là một điều đáng ngạc nhiên, bởi vì tôi nghĩ rằng khá dễ dàng khi tăng cường truyền thông về vấn đề này. Tôi thấy hiện nay, Đài Loan đã tham gia một phần, với quan điểm còn tương đối trung dung. Nhưng Đài Loan truyền thông rất nhiều (về vấn đề này), và làm truyền thông thực ra là cách dễ dàng nhất. Tôi ngạc nhiên là cả Philippines và đặc biệt là Việt Nam đã không quan tâm đến vũ khí truyền thông.

Ông có ngạc nhiên khi thấy nhóm nước Asean phản ứng yếu ớt đến thế không?

  Chừng nào Việt Nam không quốc tế hóa vấn đề thông qua tòa án, thông qua truyền thông, chừng nào Việt Nam vẫn hy vọng đàm phán song phương với Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ thua.

Ông Jean-Vincent Brisset

Ông Brisset: Đã nhiều năm nay các cuộc họp quan trọng của Asean đều cho thấy một nước nào đó, thông thường là Việt Nam, cố gắng định hướng về một tuyên bố chung về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Quy tắc ứng xử này, về kỹ thuật đã sẵn sàng.

Thế nhưng rõ ràng Trung Quốc đang gián tiếp cản trở nỗ lực đạt Quy tắc ứng xử bằng cách, có thể nói trắng ra, là bỏ tiền ra mua một số quốc gia. Điều này đặc biệt rõ khi ghế chủ tịch luân phiên của Asean được trao cho Campuchia. Chính phủ Campuchia đã ngăn công bố Asean ra tuyên bố chung về Biển Đông.

Theo như lời ông thì một nước như Việt Nam không có nhiều giải pháp, và phạm vi hành động khá là hạn hẹp?

Ông Brisset: Phạm vi phản ứng của Việt Nam là rất hạn chế. Chừng nào Việt Nam không quốc tế hóa vấn đề thông qua tòa án, thông qua truyền thông, chừng nào Việt Nam vẫn hy vọng đàm phán song phương với Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ thua.

Ông Jean-Vincent Brisset là cựu chuẩn tướng quân đội Pháp. Ông nghiên cứu Trung Quốc và châu Á trong một thời gian dài. Sau khi rời quân đội năm 2001, ông chuyên sâu về các chủ đề quan hệ quốc tế và quân sự. Hiện ông là Giám đốc nghiên cứu của Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao VN in sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình?


"...Đặng sẽ sung sướng vô cùng ở nơi suối vàng khi biết Việt nam cho in cuốn sách, tái bản nhiều lần để ca ngợi kẻ đã CHÂM ngòi lửa chiến tranh, thôn tính dần đất nước Việt Nam...". Đặng Tiểu Bình (thứ hai, từ trái) là lãnh tụ của thời kỳ đổi mới thời kỳ hậu Mao của TQ, năm 1979 ông đã chỉ đạo mở một cuộc chiến để 'dạy cho VN một bài học'.

Dư luận cả nước Việt Nam mới đây xôn xao về cuốn sách do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành năm 2015, nhan đề "Đặng Tiểu Bình – một trí tuệ siêu việt." Tò mò, tôi tìm đọc và ngã ngửa bởi thấy thật hổ thẹn cho sự kém cỏi, u mê của mình: Cuốn sách thảm họa ấy thực ra là tái bản. Cuốn tôi có trên tay do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin in từ năm… 2003(!), dày 600 trang, giá 60.000 đồng. Các tác giả là Lưu Cường Luân, Uông Đại Lý; dịch giả là Tạ Ngọc Ái, Nguyễn Viết Chi.

Thế mới biết cái gọi là sự “quan tâm” đối với vận nước, nỗi nhà của trí thức thời nay (trong đó có tôi) đáng thất vọng đến mức nào…

Trước hết, phải ghi nhận rằng Đặng Tiểu Bình là một trong những nhân vật chính trị nổi bật của nửa sau thế kỷ XX, công lao và tài năng của ông ta "rất đáng được ca ngợi" – dĩ nhiên, khi kẻ dịch, kẻ cho in đều là người… Trung Quốc.

Vì tài năng của Đặng không phải là mục đích phân tích của bài viết này nên tôi sẽ nhìn nhận dưới góc độ của một độc giả - về cái tinh thần cốt lõi: ca ngợi kẻ thù của dân tộc, kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979 và cũng là kẻ đã ra lệnh cho quân xâm lược tấn công, xâm chiếm Gạc Ma, thuộc Trường Sa năm 1988 – chủ quyền đương nhiên của Việt Nam là vì mục đích gì để, từ đó, thử xem việc nói tài năng của Đặng là "siêu việt" có thỏa đáng hay không?

Thú nhận bàng hoàng

  Một người đọc với ý định phê phán như tôi, cũng là một người có 40 năm giảng dạy lịch sử Trung Quốc mà vẫn bị cuốn hút, không ít khi bị đánh lừa bởi cách viết, cách dẫn chuyện thì, đối với những người “đọc cho biết, cho vui”, mức độ gây hại của nó sẽ ghê gớm đến mức nào! Sử gia Hà Văn Thịnh
Điều phải thú nhận đầu tiên đó là sự bàng hoàng: Một người đọc với ý định phê phán như tôi, cũng là một người có 40 năm giảng dạy lịch sử Trung Quốc mà vẫn bị cuốn hút, không ít khi bị đánh lừa bởi cách viết, cách dẫn chuyện thì, đối với những người “đọc cho biết, cho vui”, mức độ gây hại của nó sẽ ghê gớm đến mức nào!

Thứ nhất, tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách ngoài chuyện tài năng của Đặng ra thì đó là ca ngợi hết lời về tài năng, bản lĩnh, sự không thể thay thế được, không có nó là không thể được của đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Nói như thế để thấy đã hiện ra đâu đó từ đường chân trời những giả định mịt mù của những người in sách: Họ bất chấp tất cả sự thật, bất chấp cái chết của hàng vạn con dân nước Việt do Đặng gây ra; chỉ cần bảo vệ một điều duy nhất, đó chính là sự ổn định trên cương vị lãnh đạo của ĐCSTQ…

Bất chấp những sai lầm khủng khiếp do Mao và ĐCSTQ làm chết cả 100 triệu người (tr. 483), các tác giả liên tục nhắc đi nhắc lại lời Đặng là sống chết gì cũng phải bảo vệ ĐCSTQ, rằng “mấu chốt là ở Đảng, ở người, ở lớp kế tục” (tr.484), rằng “…không được vứt bỏ Mác, không vứt bỏ Lê Nin, cũng không vứt bỏ Mao Trạch Đông, cụ tổ không được vứt đi nhé!” (tr.168).



Pháo binh của phía Việt Nam trong cuộc chiến biên giới 17/2/1979 đối phó với quân Trung Quốc.

Thứ hai, cuốn sách đã đạt đến mức thượng thừa của những kẻ có tài ngoa ngôn đến mức không còn sợ thị phi, không quan tâm đến sự thật lịch sử khi liên tiếp cố tình phạm các sai lầm logic để “chứng minh” tài Đặng là tuyệt luân, chấp cả hàng tỷ người trong thời ông ta sống.

Người viết khẳng định Đặng là người “… đã vượt lên trên tất cả các nhà kinh tế học phương Tây, với tinh thần sáng tạo và tính quyết đoán đáng kinh ngạc…” (tr 295, chúng tôi nhấn mạnh – HVT).

Người viết sàm ngôn và lú lẫn đến mức: Để ca ngợi Đặng, coi cái chết của 8.000 bộ đội Trung Quốc (tr. 483) trong chiến dịch Hoài Hải (1948) chỉ là tổn thất không đáng kể(!) so với việc tổ chức vượt sông cho cả “trăm ngàn hùng binh” chỉ nhằm đảm bảo cho chiến dịch thắng lợi(?) Thế mới biết mạng người dân đen trong tay nhào nặn của đảng cộng sản Trung Quốc e chưa bằng cỏ rác…

Thứ ba, Đặng – y chang đảng cộng sản Trung Quốc, tìm mọi cách để bôi đen lịch sử miễn là có lợi cho đảng để cầm quyền vững chắc. Đặng thừa nhận Mao có 27 năm cống hiến (1949-1976) cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó 7 năm đầu thành công, 10 năm tiếp theo 5 năm có công, 5 năm có tội; 10 năm tiếp nữa thì “không tính” (tội lỗi ngập tràn) nhưng không được phanh phui ra:

“Không nên viết quá về những sai lầm của Mao Trạch Đông. Nếu không, như thế thì sẽ bôi đen Mao Trạch Đông, đồng thời bôi đen cả Đảng và Nhà nước…” (tr.433). Đọc đến đây, ai cũng hiểu vì sao khoa học lịch sử trong một nhà nước cộng sản còn tệ hơn cả một tuồng hề.

  Làm sao lý giải rằng đó là “chân chính” trong khi xây dựng, hướng tới “chủ nghĩa đại đồng” lại phát động chiến tranh xâm lược Nước Việt Nam XHCN năm 1979, rồi 9 năm sau lại đánh chiếm Gạc Ma, bắn chết 64 chiến sĩ công binh Việt Nam không được lệnh nổ súng? Sử gia Hà Văn Thịnh
Đặng đã biển lận khi trơ tráo cho rằng mặc dù tội nhiều, công lắm như thế nhưng Mao vẫn là người… siêu phàm: “Đồng chí Mao Trạch Đông phạm sai lầm, đó là một nhà cách mạng vĩ đại phạm sai lầm, là một người Mác-xít vĩ đại mắc sai lầm” (tr.435).

Tham quyền hay vì dân?

Thứ tư, các tác giả biện minh cho việc Đặng tham quyền cố vị khi “lui dần từng bước quyền lực” là vì… nhân dân(!); cố bào chữa bằng mọi giá cái chuyện dẫu đã về hưu vẫn còn đi thị sát, chỉ đạo miền Nam năm 1992, khi đã… 88 tuổi!

Những ngôn từ có cánh của loài hoa dại dọc đường tàu tha hồ bay bay đuổi theo con tàu bảo thủ, trì trệ cứ cố tăng tốc như để giễu cợt người đọc: Sau mỗi bước rút lui của ông thì sự nghiệp do ông sáng tạo lại tiến thêm một bước. Trí tuệ thật uyên thâm, chất nghệ thuật thật tuyệt diệu (tr. 490). Nói vậy rồi, chỉ trong 2 trang sau đó, những người viết lại tự mâu thuẫn rằng “Năm 1985, Đặng Tiểu Bình từ chức Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện, và tiết lộ năm 1985 sẽ chỉ làm cố vấn “ (tr. 492).

Dối trá không có giới hạn hình như là nguyên tắc của cuốn sách này: Tại sao lại “quên” cái chuyện phải đến ngày 9.11.1989, sau khi thảm sát xong hàng ngàn sinh viên Trung Quốc ở Quảng trường Thiên An Môn, Đặng mới chính thức rời khỏi chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương?

Thứ năm, Đặng có thực tài trong biến hóa ngôn từ, biến cả cái của người ta thành của mình. Các tác giả đã khẳng định rằng, theo Đặng, cái thứ chủ nghĩa Mác của tất cả những người khác chỉ là “chủ nghĩa Mác trong khe núi” (tr. 123); còn Đặng, cái mà ông có, là “chủ nghĩa Mác chân chính”(?)



Sử gia Hà Văn Thịnh nêu 9 điểm phê phán cuốn sách 
'Đặng Tiểu Bình - một trí tuệ siêu việt' mới tái bản ở Việt Nam.

Làm sao lý giải rằng đó là “chân chính” trong khi xây dựng, hướng tới “chủ nghĩa đại đồng” lại phát động chiến tranh xâm lược Nước Việt Nam XHCN năm 1979, rồi 9 năm sau lại đánh chiếm Gạc Ma, bắn chết 64 chiến sĩ công binh Việt Nam không được lệnh nổ súng? Làm sao “chân chính” khi đàn áp biểu tình năm 1989 bằng cái cách ngay cả Hitler cũng không dám (chỉ có cộng sản dám) là dùng xe tăng nghiền nát hàng trăm sinh viên trẻ trung, trong trắng?...

Thứ sau, có thể là vô ý, nhưng các tác giả đã cho người đọc biết rõ bộ mặt thật của những người cộng sản Trung Quốc khi đã làm “lóe lên” những tia sáng ít ỏi, hiếm hoi của sự thật; theo tôi, đây là cái TỐT đáng kể. Ở trang 390, các tác giả khẳng định rằng chủ ngĩa bè phái (lợi ích nhóm) dường như là thuộc tính của công sản: “trong nhiều đơn vị, không cầm quyền theo tính đảng mà là theo tính bè phái”.

Ghê gớm hơn, ở trang 483, cuốn sách cho người đọc biết rõ chuyện: Chỉ để chống lại một bí thư tỉnh ủy, “người ta” có thể làm chết vài vạn người: “Năm 1968, vụ án do Khang Sinh tạo ra nhằm chống lại Bí thư tỉnh ủy Vân Nam Triệu Kiến Dân làm chết 16.000 người, trong khi năm 1948, Đặng chỉ huy “trăm vạn hùng binh” vượt sông Hoài chỉ thương vong có… 8.000 (tr. 483). Tiếp đó, là chuyện Trần Bá Đạt chỉ vì… “nghi” đảng bộ Khu Ký Đông có liên hệ với Quốc dân đảng, mà tổng cộng 84.000 người đã bị bức hại, trong đó có 2.955 người chết chỉ nhằm mục đích… “trị loạn cứu ổn”?

Trời hỡi trời là câu người viết bài này phải thốt lên khi nghĩ, bàn về chuyện “cứu ổn định” cho chế độ cộng sản có thể làm tán gia bại sản, làm chết hàng vạn con người…

Biến hóa hay siêu việt?

  Cách đây vài ngày, tôi có đọc được những sự tán tụng rằng đã có “lệnh miệng” cho thu hồi cuốn sách trên in năm 2015? Vui mừng cái nỗi gì khi từ năm 2003, cuốn sách độc hại này đã thao túng hàng vạn người dân Việt? Sử gia Hà Văn Thịnh
Thứ bảy, cuốn sách của người viết cho người đọc biết rõ trong ba luận điểm nổi tiếng của Đặng được người đời truyền tụng là luận thuyết không tranh luận, luận thuyết mò đá qua sông, luận thuyết mèo trắng mèo đen thì có đến 2/3 là tư tưởng, ý nghĩ, hành động của Lưu Bá Thừa (tr. 507). Tài năng của Đặng so với Lưu chỉ bằng 1/3; 2/3 là biến hóa thì làm sao có thể gọi là siêu việt?

Đặng có thực tài đến cỡ siêu quần không khi cả ba lần lên - xuống, vào – ra Trung Nam Hải của ông ta đều có sự tài trợ của Chu Ân Lai? ( từ tr. 495 đến tr. 507)

Người xưa nói “quân tử cậy mình mà thành” nhưng Đặng thì đã biết cách lợi dụng người mà thành. Ca ngợi đó là trí tuệ siêu việt thì chẳng khác chi tiếp nối bước đi của Trạng Quỳnh vẽ 10 con vật sau 3 tiếng trống…

Tiếp theo, thứ tám, đọc cuốn sách này mới biết chuyện lan truyền trên mạng xây dựng CNXH đến cuối thế kỷ này có khi vẫn “chưa biết được” có thành công hay không, có xuất xứ từ Đặng nói. Chính Đặng đã khẳng định là xây dựng CNXH phải mất vài trăm năm: “Đường lối cơ bản (xây dựng CNXH) phải theo đuổi hàng trăm năm, không được dao động…” (tr. 357).

Cũng biết thêm rằng lời ‘đồn” về việc cho rằng Mao từng coi trí thức chỉ là cục phân là có thật. Các tác giả cuốn sách đã khẳng định điều này – chỉ có điều không hiểu nổi là vì sao những người dịch lại chuyển ngữ thành “sự thối tha”: “Mao Trạch Đông rõ ràng có cách nhìn không đúng với giới trí thức, những phần tử trí thức thành ‘thối tha’” (tr. 361)…

Ông Hà Văn Thịnh cho rằng Việt Nam không nên 'vui mừng' khi mà từ năm 2003 cuốn sách mà ông phê phán đã 'thao túng' hàng vạn người dân Việt.

Thứ chín và cũng là cuối cùng, những người dịch chắc hẳn nằm trong đội ngũ đặc thù vì họ phiên âm tên người nước ngoài một cách quái đản mà chỉ có trong nội bộ mới hiểu được. Ví dụ, Ngoại trưởng Mỹ Zbignew. Brzezinsky (1977-1981) thì được phiên âm là Brêzinsky 9tr. 71), TS H. Kissinger, ngoại trưởng Mỹ (1971-1974) thì được phiên âm là Kítxingiơ (tr. 63).

Chỉ có những người vừa ta đây “tân tiến” lại vô cùng bảo thủ mới có thể có cách phiên âm kì quặc thế. Thật tiếc là Nhà xuất bản không dám sửa?...

Có một lời bình trong cuốn sách chắc là phù hợp khi dẫn ra để kết thúc bài viết này: “…nếu bức tượng đồng Đặng Tiểu Bình có lý trí, hẳn cũng sẽ mỉm cười hài lòng” (tr 287).

Đặng sẽ sung sướng vô cùng ở nơi suối vàng khi biết Việt nam cho in cuốn sách, tái bản nhiều lần để ca ngợi kẻ đã CHÂM ngòi lửa chiến tranh, thôn tính dần đất nước Việt Nam.

Trong lịch sử loài người ít khi gặp những kẻ tội đồ trơ lì và ngạo ngược đến thế. Cách đây vài ngày, tôi có đọc được những sự tán tụng rằng đã có “lệnh miệng” cho thu hồi cuốn sách trên in năm 2015? Vui mừng cái nỗi gì khi từ năm 2003, cuốn sách độc hại này đã thao túng hàng vạn người dân Việt?

Thành thật xin lỗi mọi người vì lẽ: Tuy mang danh dạy sử mà chỉ biết đến sự thật trụi trần, dơ dáy này sau những… 13 năm(!)…

Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu và giảng dạy sử học từng có nhiều năm làm việc tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Đại học Huế, Việt Nam.

Hà Văn Thịnh 
Gửi từ Đại học Khoa học Huế 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Muôn mặt “chợ Giời”: Có nên dẹp bỏ? (bài cuối)


Như phóng sự trước chúng tôi đã đề cập, những tồn tại của chợ Giời như bán hàng không rõ nguồn gốc, “chặt chém” khách hàng… đã khiến cho không ít người dân bức xúc phải thốt lên: “Cần phải dẹp bỏ chợ Giời”. Nhưng theo chúng tôi đó chỉ là thiểu số…
Khá nhiều phụ tùng ôtô bị thu giữ tại một cửa hàng trên phố Lê Gia Định.
1. Có đến chợ Giời mới thấy hàng hóa ở đây nhiều đến mức nào, đúng là "trên trời - dưới hàng". Có người đã nói vui, muốn lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe máy, thậm chí ôtô cũng có thể kiếm được linh kiện từ chợ Giời. Thực sự, khu chợ này đã và đang đáp ứng rất nhiều nhu cầu mua bán cho nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội.

Nguyễn Minh Khoa là sinh viên Trường đại học Điện lực Hà Nội, từng là thành viên Đội tuyển Robocon của trường. Khoa cho biết, cậu đã từng đi "mòn dép" ở chợ Giời để mua linh kiện lắp ráp, hoàn thiện cho chú robot của đội mình. "Để có thể lắp được một chú robot hoàn chỉnh thì gần như chỉ có thể tìm thấy ở đây mà thôi" - Khoa khẳng định.

Cũng do thường xuyên có mặt ở chợ Giời nên Khoa có thể kể vanh vách từng linh kiện ở từng cửa hàng một. Ví dụ như mua động cơ thì có thể vào cửa hàng mua môtơ 1 chiều và ắc quy, mua ốc vít các loại đúng giá thì vào cửa hàng nào.

Với Nguyễn Hữu Năm (29 tuổi, trú ở Trường Yên, Chương Mỹ, Hà Nội) từng đoạt giải Nhất trong Cuộc thi Sáng tạo khoa học dành cho thanh thiếu niên toàn quốc khi mới 18 tuổi. Năm cho biết rất nhiều robot của cậu mà linh kiện được mua ở "chợ Giời". Và chính những robot này từng được tham dự Triển lãm Sáng tạo Quốc tế tổ chức tại Ấn Độ. Liên tiếp trong nhiều năm, Nguyễn Hữu Năm giành được giải thưởng "Ý tưởng sáng tạo dành cho thanh thiếu niên toàn quốc" nhờ những sản phẩm được hoàn thiện từ chợ Giời.

Một trong những khách hàng thường xuyên của chợ Giời là Hữu Phong, chủ tiệm sửa xe máy trên phố Nguyễn Trãi (Thanh Xuân, Hà Nội). Phong cho biết, tuần nào anh cũng phải đảo qua chợ Giời 2-3 lần để tìm kiếm những linh phụ kiện cho khách hàng. Ngoài những linh kiện có thể chỉ cần "alô" là có, thì còn không ít những loại thuộc dạng "độc nhất vô nhị", phải chịu khó tìm kiếm, bới móc trong đống "đồng nát" thì mới có thể thấy. Anh Phong cho biết, không chỉ có cửa hàng anh mà hàng trăm, hàng ngàn tiệm sửa xe máy ở Hà Nội và nhiều tỉnh, thành lân cận như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên… cũng là khách hàng quen thuộc của chợ Giời.

Theo anh Trần Văn Kiên, chủ một hộ chuyên bán linh kiện máy ở phố Lê Gia Định, anh và gia đình đã có mấy chục năm buôn bán ở chợ Giời. Ban đầu bố mẹ anh bán quần áo Liên Xô, sau đó là đến đồ bộ đội. Khi mà hàng hóa may mặc ê hề, cửa hàng liền chuyển sang buôn bán linh kiện các loại máy móc. Hàng của anh nhập trong nước cũng có, từ nước ngoài cũng có và kể cả máy hỏng của người dân mang ra bán anh cũng mua. Kiên bảo, nói chợ Giời chuyên bán đồ ăn cắp là "oan" quá.

Trong số gần 700 hộ dân kinh doanh thường xuyên ở đây, thì chỉ có một vài cá nhân là có tham gia tiếp tay với phường trộm cắp. Anh Kiên nói rằng ranh giới giữa đồ "không rõ nguồn gốc" với "đồ trộm cắp" là rất mong manh. "Giả sử người dân có cái tivi, tủ lạnh bị hỏng, muốn mang ra chợ Giời bán kiếm ít tiền. Chủ hàng sau đó dỡ ra bán linh kiện, vậy thì làm sao có thể chứng minh được nguồn gốc của từng món đồ" !?

Anh Trần Mạnh Tuấn ở A5 Khu tập thể Nguyễn Công Trứ cho biết, trước đây gia đình có kinh doanh buôn bán phụ tùng ôtô chủ yếu là vòng bi, má phanh, dầu mỡ… nguồn hàng mua lại từ các xí nghiệp vận tải "rã" ra từ những xe phế thải hết "đát". Do bố và chú ruột đều là thợ cơ khí nên gia đình anh Tuấn có được nguồn hàng phong phú và việc kinh doanh bảo đảm cho kinh tế gia đình. Nếu nói là chủ hàng tiêu thụ đồ gian thì theo anh, đây cũng chỉ là "con sâu làm rầu nồi canh".

Theo ghi nhận của chúng tôi dù ít nhiều mang tiếng xấu, nhưng thực tế "chợ Giời" vẫn là nơi cung cấp nhiều hàng hóa phổ thông cũng như những linh kiện, chi tiết vào dạng "hiếm có khó tìm" cho thị trường thủ đô và các tỉnh, thành lân cận. Và mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, việc tồn tại một khu chợ như "chợ Giời" là một thực tế khách quan không thể chối bỏ.

2. Ông Nguyễn Ngọc Tiến, nhà văn - nhà nghiên cứu về Hà Nội cho chúng tôi biết, khoảng những năm 60-70 thế kỷ XX ông từng sống ở giữa lòng chợ Giời. Thời gian về sau, ông vẫn thường xuyên tìm đến khu chợ này để mua bán. Khi thì là đầu kim đĩa than, lúc là ống pô xe máy, cũng có khi là chiếc cần gạt nước của xe ôtô.

Ông cho biết, chợ Giời ra đời từ cuối năm 1954, trải qua nhiều thăng trầm thì có hiện trạng như hiện nay. Ban đầu nó chỉ đơn thuần là nơi những người dân mang đồ thừa của gia đình mình ra bán cho người có nhu cầu. Sau một thời gian thì nảy sinh ra "con phe chợ Giời". Đó là những người đứng ra làm trung gian, "mua của người chán, bán cho người cần".

Có thể nói chợ Giời đã đáp ứng được một nhu cầu quan trọng trong suốt cả thời kỳ bao cấp cho đến bây giờ, đó là nhu cầu trao đổi hàng hóa vẫn còn sử dụng được với giá rẻ cho nhiều giai tầng trong xã hội. Bên cạnh đó, nó còn tạo công ăn việc làm cho những người về hưu sớm, người do không có trình độ học vấn mà không tìm được việc ở các cơ quan công sở…



Lực lượng chức năng của TP Hà Nội tiến hành kiểm tra, thu giữ phụ tùng ôtô không rõ nguồn gốc xuất xứ tại chợ Giời.

Cũng theo ông Tiến, một số "mặt trái" của chợ Giời như nạn chặt chém khách hàng, trộm cắp, móc túi hay việc bán hàng không rõ nguồn gốc chỉ là một điểm trừ của chợ. Và hầu như ở tất cả các chợ, những nơi tập trung đông người đều dễ xảy ra nạn trộm cắp. Không phải vì thế mà phải "dẹp" chợ. "Bản thân cái chợ không có tội. Vấn đề là cách quản lý của chính quyền và ý thức chấp hành của người dân".

Ông Tiến dẫn chứng, từ đầu những năm 90 đến nay, đã có nhiều lần TP Hà Nội và UBND quận Hai Bà Trưng xây dựng phương án di chuyển chợ ra một khu vực khác, tuy nhiên đều không thành công. Bài học nhãn tiền là chợ đồ cũ ở gần cầu Thăng Long đã được quy hoạch, song nhiều năm vẫn trong tình trạng bỏ không. Hay như chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam sau khi cải tạo đều trở nên hoang lạnh, đìu hiu chính là ví dụ sinh động nhất cho những nhà hoạch định tham khảo.

Cũng theo ông Tiến, sự ra đời và tồn tại của "chợ Giời" là một thực tế khách quan, nó đáp ứng được nhu cầu của đời sống xã hội và cần phải hết sức cân nhắc khi muốn di dời hoặc dẹp bỏ. Để hoạt động của chợ Giời diễn ra lành mạnh, ông Tiến đề xuất chính quyền địa phương như UBND quận Hai Bà Trưng, các cơ quan chức năng như Công an quận, Quản lý thị trường cần tăng cường biện pháp kiểm tra, xử phạt những cá nhân, hộ dân vi phạm pháp luật trong kinh doanh.

Ông Nguyễn Song Toàn, Phó chủ tịch UBND phường Phố Huế (Hai Bà Trưng, Hà Nội) thừa nhận một thực tế: Đúng là có một thời gian khu vực gần chùa Vua là nơi tiêu thụ đồ gian khi nở rộ việc lấy trộm biển kiểm soát xe máy. Nhưng sau này, khi thủ tục hành chính xin cấp lại biển kiểm soát bị mất trở nên đơn giản, tự nhiên việc kinh doanh mặt hàng này không tồn tại. Khu vực gần chùa Vua chuyển thành nơi kinh doanh linh kiện điện thoại và phụ tùng xe máy.

Ông Toàn cho biết thêm, trong các chuyến đi thực tế ở nước ngoài, ông đã được tham quan một số mô hình chợ Giời. Về bản chất khu chợ Giời đó cũng giống như của ta, cũng buôn bán đủ mọi thứ và phần lớn đều là đồ cũ. Nhưng họ đã khéo léo tổ chức những khu chợ này như một nét văn hóa bản địa hấp dẫn khách tham quan.

Nhà điêu khắc Nguyễn Bá Trạch, Phó chủ tịch Hội Mỹ thuật Hà Nội cũng nhìn theo hướng đó. Ông cho rằng sự tồn tại của một khu chợ như chợ Giời còn là một nét văn hóa. Ở các thành phố lớn ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, đều có các khu chợ Giời. Cũng như ở nước ta, chợ Giời chủ yếu là buôn bán, trao đổi những mặt hàng cũ theo kiểu "cũ người mới ta".



Dù có nhiều ý kiến khác nhau song chợ Giời vẫn là nơi cung ứng nhiều loại hàng hóa thiết yếu cho thị trường.

Tham gia những khu chợ này rất thú vị khi thoải mái mặc cả, thuận mua vừa bán để cả người cần và người bán đều thấy may mắn khi đi giao dịch. Có những thành phố lớn chợ Giời được quy hoạch thành điểm văn hóa du lịch thú vị và việc tham quan chợ Giời thường nằm trong chương trình các tour du lịch.

Theo chúng tôi, để lập lại trật tự cho chợ Giời, từng bước xóa đi hình ảnh về một "thiên đường đồ gian" trong tâm thức nhiều người có lẽ cơ quan chức năng cần tiếp tục có các biện pháp xử lý "mạnh tay" như trong thời gian qua, để hàng gian, hàng giả không còn "đất sống" ở chợ Giời. Còn để biến chợ Giời thành điểm văn hóa du lịch như ông Trạch đề xuất có lẽ cần thêm thời gian để nghiên cứu một cách thấu đáo…

Trong một diễn biến khác, tại cuộc họp với lãnh đạo các sở, ban, ngành của TP Hà Nội vào ngày 16-2 vừa qua, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND TP đã dành thời gian đề cập đến nạn trộm cắp phụ tùng ôtô trên địa bàn trong thời gian Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 nói riêng cũng như trong thời gian qua. Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết ông đã chỉ đạo Công an TP phối hợp với Quản lý thị trường kiểm tra 46 hộ kinh doanh phụ tùng ôtô xung quanh chợ Giời, thu giữ hàng chục nghìn sản phẩm không rõ nguồn gốc.

"Quan điểm của thành phố và cá nhân tôi không khuyến khích việc kinh doanh phụ tùng ôtô. Vì việc này Nhà nước cấm không được nhập khẩu phụ tùng ôtô cũ. Phụ tùng nếu có nhập đưa về kinh doanh trong các salon ôtô thì được phép" - Chủ tịch UBND TP nhấn mạnh.

Nhóm PV
http://antg.cand.com.vn/Phong-su/Muon-mat-cho-Gioi-Co-nen-dep-bo-bai-cuoi-384120/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Muôn mặt “chợ Giời”: “Hơi thở” của đường phố (bài 1)


Chợ Trời (hay chợ Giời) là một khu chợ ở trung tâm thủ đô Hà Nội mà ngay cái tên nghe đã thấy lạ, vừa dân dã, vừa có tí chút "giang hồ". Có thể nói nó như một xã hội thu nhỏ, và có sự thích ứng cao với sự biến chuyển của xã hội. Những ngày đầu xuân năm mới chúng tôi đã dành thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu về một khu chợ đặc biệt, đã tồn tại đến hơn nửa thế kỷ ở thủ đô…
Lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra một số 
cửa hàng buôn bán phụ tùng ôtô tại chợ Giời.
10 giờ sáng các gian hàng bán phụ tùng ôtô xe máy tại tuyến phố Đồng Nhân, Đỗ Ngọc Du đều chỉ lác đác người mua hàng- trái ngược với không khí mua sắm tấp nập như mọi năm. Tại một cửa hàng phụ tùng ở cuối phố Đỗ Ngọc Du, chúng tôi bắt gặp cảnh tượng mà ít nhiều đã góp phần tạo nên hiện trạng "đìu hiu" của cả dãy phố. Một tài xế của chiếc xe hạng sang Mercedes tấp vào lề để tìm mua một chiếc gương chiếu hậu.

Anh Phạm Văn Kiên (trú tại phố Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội) - chủ xe mang BKS 30A- 82… cho biết, đêm qua anh vừa bị kẻ gian cạy mất mặt gương bên phụ. Chiếc gương chính hãng báo giá đến gần 20 triệu đồng. Và theo chỉ dẫn của nhiều bạn bè, nay anh phải lượn ra chợ Giời để tìm mua lại. Người chủ tiệm, "dĩ nhiên" cho biết hiện cửa hàng không có sẵn loại gương để thay thế. Anh Kiên muốn thay thì phải "dùng tạm" một mặt gương hàng "fake".

Cũng theo anh Kiên, nếu không có cuộc "ra quân" rầm rộ mấy hôm trước thì việc tìm lại đồ mất trộm sẽ "dễ dàng" hơn. Năm ngoái, anh bị lấy mất chiếc mặt nạ xe máy. Lên chợ Giời chỉ cần nói thời gian và khu vực bị mất là chỉ khoảng 1 giờ đồng hồ sau anh có thể tìm lại được đúng thứ đồ mình cần. Nhưng thời điểm này thì…

Tuy nhiên vẻ im ắng của phố phụ tùng ôtô chỉ là bề nổi. Theo anh D. (chủ cửa hàng phụ tùng ôtô H-D ở phố Đỗ Ngọc Du) cứ sau mỗi đợt "ra quân" của các ban ngành trong thành phố, thì tình trạng mua bán đồ không rõ nguồn gốc xuất xứ ở đây lại tạm thời lắng xuống. Mọi giao dịch không còn được công khai mà sẽ được tiến hành qua điện thoại, giao hàng tại một địa điểm khác. Và chỉ một vài tuần sau, khi mà "sóng" đã tạm yên, việc mua bán sẽ trở lại bình thường.

2. Trái ngược với cảnh đìu hiu tại khu bán phụ tùng ôtô, các gian hàng ở phố Thịnh Yên, Chùa Vua, Yên Bái II, Lê Gia Định… vẫn khá tấp nập. Phố Yên Bái II ngoài những cửa hàng hai bên dãy phố thì còn được "quy hoạch" cả lòng đường để buôn bán, chỉ chừa lại lối đi nhỏ mà hai xe máy tránh nhau cũng khó. Mặt hàng của phố chủ yếu là linh kiện điện tử, điện máy dân dụng… Phố Chùa Vua và phố Lê Gia Định chuyên bán phụ tùng xe máy. Những con phố này thông với nhau song vì hàng hóa đã chiếm mất phần lớn diện tích, lại trong cảnh tranh tối tranh sáng khiến cho khách hàng mới đi một hai lần dễ bị lạc như chơi.

Chợ Giời mang tiếng xấu, chẳng riêng ở chuyện tiêu thụ hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Không ít khách hàng có ấn tượng không tốt, thậm chí "một đi không trở lại" với khu chợ này bởi cung cách bán hàng "kinh dị" của một bộ phận chủ cửa hàng.

Chiếc xe Mecerdes bị vặt gương và "khổ chủ" phải đi tìm mua lại ở chợ Giời.

"Đi chợ nhớ mang theo… mũ bảo hiểm" - đó là câu mà người sống lâu ở Hà Nội, có kinh nghiệm dặn dò cho những người lần đầu đi mua hàng ở chợ Giời. Anh Phạm Văn Toàn (quê Bắc Ninh, sinh viên Trường đại học Thủy lợi) kể lại phi vụ "nhớ đời" của anh chàng. Hai năm trước vừa thi đỗ đại học, Toàn được bố mẹ mua cho chiếc xe máy đi học. Muốn chiếc xe đẹp hơn, Toàn có ý định mua một bộ đèn cho xe Exciter. Nghe bạn bè mách ra chợ Giời là có ngay, Toàn liền mò ra sau buổi học.

Khi thấy cậu sinh viên mặt non choẹt ngó nghiêng lập tức bà chủ kiốt tại phố Lê Gia Định phi ra chặn đầu xe ngọt nhạt: "Chú em cần mua gì?". Toàn lắp bắp: "Chị có đèn led cho xe Exciter không ạ?". "Có ngay" - bà chủ trả lời ngay tắp lự. Tìm kiếm bới móc đống đồ của mình mà không thấy, bà ta vội chạy sang hàng bên cạnh lấy rồi quay lại đưa cho Toàn: "Bộ này 250 ngàn em ạ". "Sao bạn em bảo có 70-80 ngàn thôi chị" - Toàn thắc mắc. "Em không mua nữa đâu".

Toàn vừa dứt lời, bà chủ liền trừng mắt: "Mày ở trại tâm thần ra à? Làm gì có giá ấy. Thôi mua đi chị bớt cho 50 ngàn". Toàn vẫn chần chừ chưa mua liền thấy xuất hiện mấy tay thanh niên bặm trợn lò dò đi đến. Toàn vội quay xe chạy, phía sau vẫn còn nghe thấy lời chửi bới: "Chém chết cha thằng nhà quê đó đi…".

Bản thân người viết cũng có kỷ niệm không mấy đẹp đẽ khi đi mua hàng ở chợ Giời. Thời sinh viên, cuối tuần tôi thường lượn chợ để tìm mua CD nhạc hoặc DVD phim chiếu rạp. Lần nào khi phóng xe vào ngõ Yên Bái II cũng "được" nhiều chị chèo kéo: "Mua đĩa sex không em?". Thậm chí có người còn chặn xe, ấn cho mấy chiếc đĩa bắt mua!

Bên cạnh lối bán hàng kiểu "bắt chẹt" khách, không ít người còn phải "ngậm đắng nuốt cay" khi mua đồ điện tử giá rẻ ở đây. Anh Nguyễn Văn Thắng, từng có nhiều năm bán quà sáng ở khu vực chợ Giời kể lại. Thời điểm những năm 2000 chợ Giời khét tiếng là địa điểm kinh doanh phức tạp nhất của thành phố. Dân tứ xứ: những kẻ lưu manh, trộm cắp, lừa đảo… đều tụ tập ở đây, sẵn sàng chầu chực và đôi khi "nuốt sống" những con mồi béo bở (cả người bán lẫn người mua).

Nhất là cánh "ngú ngớ ù ờ" ở quê ra, mang theo máy móc, vật dụng hay đại loại thứ sản phẩm nào với ý định bán, hiếm ai không bị các chủ hàng bắt chẹt, bị ép bán giá rẻ mạt, bị lừa lọc…; ngược lại người mua, do ham đồ rẻ, lại không sành sỏi, chẳng biết mô tê gì nên dễ bị lừa như bỡn. Vớ được khách "sộp", thì không chỉ kẻ lưu manh, mà ngay cả những người bán hàng (vốn dĩ đều lanh lợi) cũng ra sức lừa bịp bằng cách "bán đồ rởm lấy tiền thật" và "mua đồ thật trả tiền… rởm"!

3. Theo dòng lịch sử, chợ Giời vốn là chợ tạm lâu đời nhất Thủ đô. Trước ngày Pháp rút quân khỏi Hà Nội năm 1954, nhiều gia đình người Pháp, các gia đình người Việt di cư vào Nam đã mang đồ cũ ra bán quanh hồ Thiền Quang làm nên chợ bán đồ cũ.

Khi miền Bắc hòa bình, cuộc sống khó khăn nên nhiều gia đình ở Hà Nội muốn bán đồ cũ để kiếm thêm chút tiền sinh hoạt (và cũng tránh cái tiếng tư sản). Trước nhu cầu đó chính quyền đưa chợ về phố Thịnh Yên và gọi là chợ Hòa Bình. Chợ khi đó bán chủ yếu đồ cũ gồm: xe đạp, quạt máy, bàn là, đài, giày tây, quần áo cũ còn tốt.

Đến thập niên 70 và nhất là từ 1975 trở về sau chợ lan ra các phố Yên Bái, Đồng Nhân, Trần Cao Vân, Chùa Vua, Thịnh Yên, Nguyễn Công Trứ... hàng hóa nhiều hơn, đa dạng hơn do hàng cũ từ miền Nam theo chân cán bộ, bộ đội ra Bắc. Ngoài đồ cũ chợ còn bán cả hàng mới. Cũng từ đây chợ bắt đầu phức tạp, xuất hiện đồ ăn cắp và thêm đám ăn cắp, móc túi người đi chợ.



Hàng hóa tràn xuống đường, chỉ để lại một lối đi nhỏ trên phố Trần Cao Vân.

Những người sống lâu năm ở chợ Giời kể lại khoảng những năm 1990 - 1991, các mặt hàng chính của chợ Giời là mũ cối và quần áo quân nhân. Vì người bán kẻ mua đều thuộc dạng "có máu mặt" nên rất dễ xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Chỉ cần không vừa ý nhau một câu nói hay một câu đùa cũng có thể có hậu quả là… cầm dao đuổi nhau khắp chợ. Rồi đến cơn lốc hàng điện tử như radio cassette, dàn máy CD, loa nghe nhạc, ampli, kể cả máy nghe nhạc bằng đĩa than… từ nước ngoài đổ về cũng góp phần làm nên thương hiệu chợ Giời.

Từ năm 1998 đến 2005 là thời kỳ hoàng kim của đĩa CD lậu. Một đĩa trắng giá chỉ từ 1.000 - 2.000 đồng, sau khi đã chép đầy nhạc, phim hoặc games được bán với giá 8.000 - 10.000 đồng. Chủ kinh doanh bật mí, có tháng cơ sở của anh ta bán ra đến cả ngàn đĩa phim, trong đó phân nửa là phim "người lớn". Chỉ thấy bóng nam thanh niên, trung niên rà rà xe là có mấy chị sồn sồn nháy mắt: "Phim mát mẻ không em ơi…".

Khoảng năm 2006, Hà Nội rộ lên nạn ăn trộm biển kiểm soát ôtô, xe máy. Nhiều người phải tìm đến chợ Giời để tìm mua lại. Thì nay lại tiếp tục rộ lên nạn vặt gương, logo…

Nhưng chợ Giời không hẳn là chỉ mang toàn tiếng xấu…

Sáng 14-2 vừa qua, Đội QLTT số 5 phối hợp với Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an TP Hà Nội và Công an quận Hai Bà Trưng đã kiểm tra các cửa hàng kinh doanh phụ tùng ôtô tại khu vực quanh chợ Giời (chợ Hòa Bình), nơi được coi là điểm nóng về hàng gian, hàng giả, như phố Nguyễn Công Trứ, Đỗ Ngọc Du, Lê Gia Định và Đồng Nhân.

Qua kiểm tra, đến sáng 15-2, lực lượng chức năng đã thu giữ hơn 1.000 sản phẩm phụ tùng ôtô các loại như: vòng bi, cần gạt nước, logo, logo ốp bánh, lazăng… Toàn bộ số hàng bị thu giữ đều không có giấy tờ, hóa đơn chứng từ hợp pháp.

Chiều ngày 19-2, cơ quan chức năng tiếp tục tiến hành kiểm tra 11 điểm kinh doanh phụ tùng ôtô cũ trên phố Đỗ Ngọc Du, phường Đồng Nhân. Tổ công tác liên ngành đã thu giữ nhiều mặt hàng liên quan đến ôtô như logo, cản trước, đèn hậu, đèn pha, gạt nước, mặt nạ xe... Vào thời điểm thu giữ, các chủ kinh doanh chưa xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của các loại hàng trên.

Toàn bộ số linh kiện, phụ tùng thu giữ được bàn giao cho Đội QLTT số 5 để phân loại, xác minh, làm rõ. Nếu phát hiện những cá nhân nào có dấu hiệu liên quan đến phạm pháp hình sự, lực lượng QLTT sẽ phối hợp với cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo thông tin từ Phòng PC45 Công an TP Hà Nội, trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân vừa qua, Phòng PC45 đã nhận được 3 vụ trình báo mất trộm gương ôtô. Trong đó, một vụ được người dân trình báo vào ngày 28 Tết và 2 vụ trong những ngày Tết.

Đại tá Dương Văn Giáp, Trưởng phòng PC45 cho chúng tôi biết, có thể có các trường hợp bị mất cắp phụ tùng ôtô nhưng do người dân ngại nên đã không trình báo Công an. Đại tá Giáp khuyến cáo, trường hợp người dân bị mất trộm các loại phụ tùng xe ôtô cần phải trình báo cho Công an phường nơi gần nhất để được hỗ trợ và giải quyết.

Nhóm PV
Phần nhận xét hiển thị trên trang