Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Dấu hiệu của mệt mỏi và thiếu khát vọng sáng tạo


 ( xem đường link ,http://nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/binh-luan/9028/doi-moi-lan-hai-yeu-cau-cua-cuoc-song-ky-1-.ndt )  
nhà nghiên cứu  Nguyễn Minh Hòa - Trưởng khoa Đô thị học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM - cho biết nhiều đồng nghiệp của ông còn không có cảm hứng nghiên cứu.
 Học trò của ông cũng vậy, nhiều người không còn ham học, ham đọc sách [ tức là không còn ham sống theo cái nghĩa tốt đẹp nhất của sự sống. VTN]

  Từ góc độ nghiên cứu văn chương tôi thấy hoàn toàn chia sẻ với anh Hòa. Cái cảm giác ấy đã đến với nhiều người trong giới viết văn trở về từ chiến tranh, bao gồm ở cả mấy thế hệ và kéo dài từ mấy chục năm nay. 
Trong lúc chưa triển khai nghiên cứu đầy đủ và  có được sự lý giải  cần thiết  với hiện tượng này, tôi mới chỉ tìm cách ghi nhận nó. 
Bài viết đã in trên TT&VH  từ những năm chín mươi và đã đưa trên blog này ngày 25-9-2010 .
 Lẽ ra lại còn phải  liên hệ nó với hiện tượng văn chương suy thoái hiện nay, nhưng tôi chưa làm được mà  chỉ  đưa lại dưới đây, chưa kịp sửa chữa thêm bớt gì hơn.

Từ bóng đá tới văn chương  
     Các nhà bình luận bóng đá thường dùng một cụm từ để, trong một số trường hợp giải thích sự thất bại của một đội bóng : các cầu thủ thiếu khát vọng chiến thắng.
      Thú thực là lúc đầu nghe họ nói thế, bản thân tôi cũng lạ và thấy một chút gì đó khó hiểu : chiến thắng, hay thành công, thành đạt, là cái đích của mọi hoạt động. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nó còn liên quan trực tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập, tiền thưởng.
       Người đời thường chỉ thiếu năng lực chứ mấy ai thiếu khát vọng ?
      Nhưng xem kĩ một số trận bóng, thì thấy đúng như vậy. 
      Trên sân cầu thủ như người mất hồn lờ vờ, uể oải. Vẫn biết họ có mặt mà không hiểu họ làm gì trong chín mươi phút thi đấu. Hình như chưa đá đã tính rằng không có cách gì đá thắng. Thấy mình bất lực. Ngại va chạm. Khiếp nhược đến mức thấy bóng cũng không dám sút, người nọ đun đẩy người kia.
    Thậm chí đôi khi trước mắt chúng ta là một đội bóng cứ chạy loạn cả trên sân, song nhìn kĩ, chỉ là một sự liều lĩnh trong tuyệt vọng. Và người ta chỉ có cách bảo là ở họ đang thiếu hẳn khát vọng chiến thắng.

      Mượn chuyện bóng đá để bàn thêm những nghề khác, hẳn có người cho là thô thiển. Song, ở đây, cái để chúng ta quan tâm tới hiện tượng là phần thực chất của nó. Bóng đá chẳng qua là một ví dụ, ta hiểu thêm về các hoạt động sáng tạo. Vậy thì, một căn bệnh thấy rõ ở bóng đá như trên đây vừa miêu tả có lẽ cũng có thể giúp cho việc bắt mạch chính xác hơn cái hiện trạng khó khăn đang ngự trị ở một số lĩnh vực sáng tạo khác trong đó có có văn chương.
         Trong xã hội hiện đại, như các nhà vật lí lí thuyết thường nói, không có gì là không thể xảy ra.

Hơi thở vô hình và chất kết dính
      Trong qúa trình hành nghề, một người viết văn thường thấy dậy lên trong lòng mình nhiều ao ước – chưa làm đã ao ước, càng làm càng ao ước thêm. Nếu biết làm việc một cách hợp lí, người ta sẽ cảm thấy những ao ước ấy không hẳn xa vời, mà gần gũi như với tay là chạm được đồng thời lại vẫn thiêng liêng đến mức nếu không đạt tới, thì xem ra đời mình chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa.
      Và đó chính là khát vọng.
       Có cái khát vọng tự nhiên, khát vọng được trình bày, bộc lộ và trong chừng mực nào đó, đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình cho nhân quần xã hội.
       Có cái khát vọng hòa nhập, khát vọng muốn được thông cảm, được chia sẻ được làm dịu bớt những điều sôi nổi trong lòng.
        Trong quá trình viết, lại nảy sinh cái khát vọng muốn tìm tòi và tự hoàn thiện về mặt nghệ thuật, nói cho văn hoa là là khát vọng xây nên một tòa lâu đài bằng ngôn từ, chưa ai trông thấy bao giờ mà lại mĩ lệ đến mức những người khó tính nhất cũng phải trầm trồ khen ngợi !

        Dù nhiều bộ mặt như thế nhưng khát vọng vẫn chốt lại ở một điểm: nó không phải là ao ước viển vông mà bao giờ cũng là kết qủa một sự suy tính sâu xa. Nó nằm trong tầm tay của người hiểu biết công việc, và trở nên nguồn sức mạnh thúc đẩy người đó nỗ lực dẫn tới.
          Rồi ra, nó sẽ là cái hơi thở vô hình tồn tại bên trong sách đến mức mãi về sau, mỗi khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc vẫn cảm nghe được hơi thở của nó.
         Ngay cả khi người viết thiếu một chút may mắn trong lao động nghệ thuật, tác phẩm không trở nên hoàn thiện để rồi không có được số phận tốt đẹp như tác giả mong muốn, thì cái phần khát vọng mà người viết đã đặt vào nó vẫn tồn tại và luẩn quẩn sau các dòng chữ.
          Có thể nói một cách chắn không có ngoại lệ rằng khát vọng chính đáng bao giờ cũng tìm được cách biểu hiện tác phẩm.
        Ngược lại một khi các trang sách không đủ sức lôi cuốn người đọc, trước mặt họ chỉ thấy một khối rời rẽ, nhợt nhạt … thì có phần chắc là họ đang phải tiếp xúc với những ngòi bút thiểu năng, thiểu lực, không có lấy một chút tha thiết tối thiểu cần thiết cho một công trình sáng tạo.
        Điều này sẽ được minh hoạ rõ qua một số tác phẩm đang ra đời hôm nay. Câu chữ cẩu thả, mạch truyện chắp vá; lời thơ sáo mòn, người viết làm việc vội vã, hình như chỉ cốt viết cho xong …
        Bấy nhiêu căn bệnh đã được nói trên báo chí một phần, song so với những cái đã nêu, thì cái phần được giấu đi còn trầm trọng hơn gấp bội.
         Nếu được đi vào hậu trường của đời sống văn học, người ta đại khái còn được biết thêm rằng nay là lúc sinh hoạt chuyên môn trong những người cùng giới khá lểnh loảng, nhà văn thường chỉ lo viết hơn là lo làm việc đều đặn để tích luỹ chuẩn bị cho sự viết ; hơn thế nữa, có ngồi vào bàn cũng lo viết ù một cái cho thật nhanh, vì bao nhiêu thời gian và tâm huyết còn dành cho việc xoay xoả cốt bán tác phẩm với giá cao nhất.
          Đã có nhiều ý kiến khác nhau được nêu lên nhằm biện hộ và lí giải hiện tượng này, song, nếu muốn quy về tận gốc, có lẽ phải nói tới con người nhà văn với những khát vọng đang mất dần ở họ.

   Đất bạc mầu -- bình ắc quy, lâu không “ sạc “
     “Tại sao anh lại thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh trong tác phẩm của anh, đấy là điều tôi không hiểu nổi!”
           Trên đây là một nhận xét mà nhà văn Nga K. Paustovski viết bên lề tập bản thảo của học sinh trường viết văn Gorki.
     Sự thờ ơ mà cụ Pau nói ở đây, không khác gì, chính là một sự thiếu khát vọng chúng ta đang bàn. Thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh, thờ ơ với từng quyển sách, thờ ơ với cả nghề văn v.v… những thang bậc khác nhau đó là trên cùng một hướng vận động.
       Và chúng tôi cũng nghĩ như tác giả Bông hồng vàng - sự thờ ơ ấy, là một cái gì lạ lùng, hiếm khi thấy ở một người làm nghề sáng tạo trước kia, và có lẽ, chỉ đặt vào hoàn cảnh xã hội hiện đại, người ta mới nhận rằng nó đã xuất hiện.
       Tạm làm một sự so sánh: theo cách nhìn thông thường thì đất là một thực thể vô tận và bền vững, ổn định, có bỏ công ra cấy trồng là có thu hoạch. Nhưng theo các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nay là lúc đất có thể trở nên thoái hoá, bởi đã bị khai thác quá công suất, hoặc bởi sự lạm dụng các loại phân hoá học.
       Cũng tương tự như vậy,  một người viết văn sẽ trở nên trơ lì, thờ ơ, thiếu khát vọng khi giải quyết không tốt mối quan hệ với hoàn cảnh.
       Nhìn một cách bao quát, có thể bảo chưa bao giờ sự sáng tác văn chương lại được xã hội hoá cao độ như hiện nay. Sự bình thản trong nếp sống nếp nghĩ thời xưa chỉ còn là chuyện trong kí ức.
         Sang thời hiện đại, sáng tác đồng nghĩa với gấp gáp vội vàng, hôm qua nhân danh phục vụ,  hôm nay thì để thoả mãn cái tính hiếu thắng không chịu thua kém ai trong kinh tế thị trường.
           Người ta vẫn hay nói và thực sự vẫn nhớ như chôn vào ruột về những tác động to lớn mà văn học có thể mang lại cho cuộc sống.
          Nhưng cái tác động này cần dựa trên một chất lượng ra sao – chuyện ấy đang bị tha nổi.
           Luôn luôn chỉ có một thứ cần nghĩ tới là sự có mặt. Mà đã như vậy, thì chuyện xồ bồ viết lấy được là khó tránh khỏi.
           Có những nhà văn mải miết đến mức không còn học hỏi tiếp nhận thêm, đại khái giông như cái bình ắc quy, chỉ lo phát điện mà không “ sạc - giê ”, thành thử cằn cỗi lúc nào không biết.
          Lại nữa, tuy nỗ lực chủ quan, nhưng việc duy trì khát vọng lại phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà văn với môi trường, với dư luận.
        Một người không thể cứ viết một cách đầy tâm huyết và có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho sáng tác khi những nỗ lực chính đáng của anh ta không được xã hội đánh giá đúng. Và chắc chắn anh ta sẽ sớm nản lòng khi nhìn ra chung quanh thấy những đồng nghiệp khôn vặt, láu cá lại tọa hưởng vinh hoa phú quý.
         Nói như cách nói của các nhà xã hội học, bấy giờ cá nhân sẽ rơi vào tình trạng cô độc, cảm thấy mọi chuyện phi quy tắc, phi chuẩn mực và thực sự là tuy vẫn nói ra miệng đầy đủ chuyện không ngoan đúng mực, nhưng trong thâm tâm anh ta đã không còn tin ở chính mình. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có từng diễn tả rất hay cái thực trạng tinh thần kiểu đó trong mình : “Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu, chỉ cảm thấy một sự mơ hồ trục trặc, một cái gì đó lệch đi trong đời sống tinh thần của mình. Nói chung, hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa ”. ( Dần theo Anh Ngọc Từ thơ đến thơ ).

Niềm tin vu vơ , niềm tin mù quáng
     Những trường hợp Trịnh Công Sơn nói ở đây còn là bệnh nhẹ, ở một số nhà viết văn hôm nay, quá trình này kéo dài và đã thở nên nặng nề hơn. Và bệnh càng nặng thì các đương sự càng cảm thấy mình bình thường, cách làm ăn của mình là có lí, không còn muốn nghe ai phải trái bàn bạc gì nữa.

         Sau khi bảo rằng đời sống văn chương gần đây chỉ có nền không có đỉnh, loanh quanh ở mức làng nhàng, một nhà văn đã nêu ra lí do để biện hộ : là trong lịch sử, vẫn có những thời điểm như thế : Chẳng những ở ta, mà ngay ở bên Tây, bên Tàu cũng có khi dăm bảy năm liền chẳng lẩy ra được tác phẩm nào đáng kể. vậy cứ bình tĩnh không nên sốt ruột.
           Đây phải chăng cũng là một gợi ý để chúng ta yên tâm chịu đựng sự thiếu khát vọng ở một số cây bút hiện thời ?
         Ví dụ nếu ai có dịp đọc lại thời kỳ 1932 – 1945 sẽ thấy mấy năm từ sau 1940, nhiều người sáng tác cũng tự nhiên cảm thấy khốn quẫn, mệt mỏi hẳn. Nhà thơ Thâm Tâm từng có bài Vọng nhân hành trong đó nói tới hai dạng nhà văn bất lực lúc bây giờ: Một bên là Thằng bó văn chương ôm gối hận, còn bên kia Thằng thí cho nhàm sức võ sinh.
         Cái tài của Thâm Tâm là ông biết chỉ ra rằng bên cạnh sự cằn cỗi bế tắc,  thì nhiều khi thì chính do thiếu khát vọng mà con người cứ làm lung tung cả lên, cốt giải tỏa cái sức sẵn có và đỡ trống trải trong lòng.
         Tuy nhiên cũng cũng phải nói thêm là lịch sử không bao lặp lại hoàn toàn, ở hai thời điểm khác nhau.
         Xưa nhiều người viết khi gặp bế tắc, thường trốn vào im lặng, bẻ bút mà thề là không dính dáng gì đến văn chương chữ nghĩa nữa. Nay có hiện tượng nhiều người không viết được gì nhưng lòng vẫn nặng, không chịu rút lui, ngược lại, chằng bám lấy danh hiệu nhà văn để hưởng chút ưu đãi của xã hội. Hoặc xưa cũng có hiện tượng viết liều viết ẩu, nhưng những người có sống qua thời ấy cho biết thật chưa bao giờ sự làm sách làm báo hỗn loạn như bây giờ.
          Đáng chú ý là trong khi mải miết một cách vụ lợi, một số người loại này lại có hy vọng rất vu vơ tin rằng cứ làm đại đi không biết chừng có lúc vớ được những chú cá lớn. Nói cách khác, họ thích tin vào những phép màu, nó khiến cho người ta có thể có được những kiệt tác để đời mà không cần tốn sức lực. Mà những ao ước vu vơ ( kể cả lòng tin vào những phép màu đột nhiên xuất hiện ) thì khác xa với những khát vọng lớn lao cũng y như các tay chơi nghiệp dư khác hẳn với những cây bút làm nghề có trình độ và có bản lĩnh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đến "hay như đài" còn có lúc sai!

LẠI MỘT SAI LẦM NGHIÊM TRỌNG NỮA CỦA VTV !



Nguyễn Chiến Thắng
VTV là cơ quan hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực truyền hình, người anh cả của hệ thống các đài truyền hình trên cả nước. Nghị định 18/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 quy định chức năng nhiệm vụ của đài truyền hình Việt Nam như sau: “VTV - Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình”. 
Tuy nhiên, VTV đang coi thường chuẩn mực và chuyên nghiệp trong hoạt động phát thanh truyền hình và vấn đề bản quyền tại Việt Nam. Sau hàng loạt các vụ bê bối như: đưa tin sai sự thật, gây tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới dư luận trong chương trình Điều ước thứ 7 ( http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/vtv-bi-phat-40-trieu-dong-vi-sai-sot-trong-dieu-uoc-thu-bay-3136002.html), hành vi phát sai bản đồ Việt Nam trong chương trình  truyền hình thực tế “Điệp vụ tuyệt mật”, bộ phim hoạt hình “Nhặt xương cho thầy” phản cảm, ảnh hưởng đến hình ảnh người thầy trong khi cả nước đang tri ân thầy cô nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam (http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/vtv-lien-tuc-vuong-het-be-boi-nay-den-be-boi-khac-20150520092526149.htm )...
Sau những sai lầm nghiêm trọng đó lẽ ra VTV cần phải rút cho mình những bài học xương máu, có “tâm” và có “tầm” hơn trong việc đưa thông tin đến cho khán giả. Thế nhưng, gần đây nhất, lại một lần nữa VTV gây bức xúc trong dư luận bởi hành vi thiếu ý thức trong phát thanh và truyền thông. Là cơ quan truyền thông được người dân yêu mến, được Nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng VTV lại có hành vi “ăn cắp” trí tuệ, công sức của người khác. Tác phẩm: “Việt Nam qua góc nhìn Flycam” của tác giả Bùi Minh Tuấn (Yamaha Trung Tá) là tác phẩm về đất nước Việt Nam với những cảnh quay bằng flycam. Hành trình suốt hơn một tháng khám phá trải dài từ cực Bắc Lũng Cú đến cực Nam mũi Cà Mau, tác giả và nhóm cộng sự đã trau chuốt và chắt lọc tỉ mỉ trong từng khung hình, từng cảnh quay để có được đoạn clip dài 12 phút 32 giây các hình ảnh từ Bắc chí Nam. Thế nhưng, thành quả của hơn đoàn sau hơn một tháng trời với các cung đường như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ đã bị VTV “ăn cắp”một cách trắng trợn. VTV sử dụng đoạn clip mà hoàn toàn không có sự đồng ý của tác giả. Thậm chí, tệ hại hơn VTV tự ý cắt cúp xóa bỏ logo nhắc nhở bản quyền: “Copyright by YAMAHA TRUNG TA” bên góc trái phía trên của video clip. Hành động biến tác phẩm của người khác thành sản phẩm của mình như vậy hoàn toàn trái pháp luật.
Hình ảnh phát sóng trong chương trình “Tạp chí âm nhạc” phát trên kênh VTV1 mà tác giả Bùi Minh Tuấn tố cáo VTV đã "ăn cắp", ảnh: internet 
Không chỉ sử dụng một lần hình ảnh của tác phẩm: ”Việt Nam qua góc nhìn Flycam”, VTV sử dụng rất nhiều lần trong nhiều chương trình khác nhau.
Chi tiết các lần sử dụng trái phép như sau:
1. Giải Bóng chuyền nữ Quốc tế VTV Bình Điền 2015,  trên kênh VTV1, VTV9.
2. Phóng sự ngày 30/04/2015 tại VTV1 trên kênh VTV1 vào ngày 30/04/2015 
3. Ký sự: “Còn mãi với thời gian - Tập 8” trên kênh VTV1 vào 7h45 ngày 15/07/2015
4. Chương trình “Chào buổi sáng” trước Mít tinh diễu hành 2/9 trên kênh VTV1 lúc 6h50 ngày 02/09/2015
5. Tác phẩm mới: “Hồn thiêng đất Việt” trên Kênh VTV1 (phát lại 3 lần) ngày 08/10/2015
6. Trailer chương trình: “Nhịp cầu yêu thương” trên Kênh phát sóng: VTV1 (phát lại nhiều lần) ngày 08/10/2015 (lần đầu tiên)
7. Chương trình “Chào buổi sáng” nói về Lễ hội hoa Tam Giác mạch trên kênh VTV1 lúc 6h50 ngày 17/11/2015
8. Chương trình Ca nhạc chào mừng Quốc hội XII trên kênh VTV1 trực tiếp
9. Chương trình: “Giao lưu và tọa đàm: Chữ S trong lòng bàn tay” trên kênh VTV2 lúc 18h30 ngày 07/02/2016
10. Chương trình: “Sắc màu dân tộc: Hoa của đá” trên kênh VTV1 lúc 12h40 ngày 11/02/2016 + ngày 19/02/2016
11. Chương trình: “Xuân đoàn viên” trên kênh VTV1 lúc 9h40 ngày 12/02/2016

Hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của một Đài truyền hình quốc gia như VTV nêu trên là không thể chấp nhận được. Thiết nghĩ, xuất phát từ vị trí là một khán giả, tôi thấy rằng hành động này của VTV một lần nữa cho thấy sự coi thường quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ, coi thường khán giả vì trình chiếu các sản phẩm “ăn cắp” mà có được và cuối cùng là xem thường chính vai trò và vị trí của một đài truyền hình Trung ương!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Mỹ có Apple, Nhật có Sony, Ý có Gucci, Việt Nam có gì?


Nguyên Bảo/Trí Thức Trẻ 

Cafef - Nói đến Mỹ là nói đến tính Sáng tạo, Dịch vụ tốt; nói đến Ý là nói đến sự Xa xỉ, Phong cách. Còn nói đến Việt Nam, tôi chỉ nghĩ đến tính Truyền thống như nón bài thơ, áo dài... – sếp công ty định giá thương hiệu Brand Finance cho biết.

“Chúng ta biết gì về Ba Lan?”, ông Samir Dixit – Giám đốc Vùng Châu Á – Thái Bình Dương của công ty định giá thương hiệu Brand Finance bắt đầu câu chuyện của mình khi nói về thương hiệu quốc gia tại sự kiện Vietnam Brand Matters diễn ra tuần trước.

“Các bạn có biết sản phẩm nào của Ba Lan? Có thể nêu tên một nhà sản xuất phim, một nhà văn, một nhà soạn nhạc? Ai là người Ba Lan nổi tiếng nhất thế giới? Bạn có định đến thăm Ba Lan?...”

Số khách dự hội thảo đó ước tính là 500 người, tất cả đều im lặng.

“Một đất nước nằm kề Đức, có diện tích tương đương Pháp, Tây Ban Nha hoặc Vương quốc Anh, một đất nước có 40 triệu dân, và các bạn hoàn toàn không biết gì về nó”, ông Samir nhận định.

Vậy thế giới biết gì về Việt Nam?

Theo đánh giá của Brand Finance, nói đến Mỹ là nói đến tính Sáng tạo, Dịch vụ tốt, Tham vọng, và người ta có thể kể một loạt của Mỹ như Nike, , Ford, Mc Donald...

Nói đến Ý là nói đến sự Xa xỉ, Phong cách, đầy Cảm hứng. Các thương hiệu có thể kể đến là Gucci, Prada, Ferrari...

Nhật Bản đại diện cho Chất lượng, sự Tôn trọng, tỉ mỉ từng Chi tiết. Đại diện của Nhật Bản là Toyota, Sony, Honda, Canon...

Việt Nam có gì đặc biệt, có gì xuất sắc, khác biệt để khi nói đến một thương hiệu nào đó chúng ta nói đến Việt Nam?

“Nói đến Việt Nam, tôi chỉ nghĩ đến nón bài thơ, áo dài... Nhắc đến doanh nghiệp Việt thì tôi nghĩ đến Trung Nguyên, Vietnam Airlines, và... Marou – một thương hiệu chocolate sản xuất ở Việt Nam”, ông Samir cho hay.

Thương hiệu càng thấp, hội nhập càng yếu

Để mua lại chỉ một cái tên Apple, người mua sẽ phải bỏ ra hơn 128 tỷ USD, tức gấp đôi số tiền bỏ ra mua thương hiệu của tất cả các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.

“Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế của ý tưởng, một nền kinh tế của tài sản vô hình. Tài sản vô hình là giá trị lớn nhất một công ty có”, ông Samir cho biết.


Biểu đồ đo lường giá trị kinh tế của các quốc gia trên đây cho thấy tỷ lệ tài sản vô hình của các doanh nghiệp trên toàn cầu ở mức 53%. Điều này có nghĩa những con số hiện hữu trong bảng tài chính kế toán của các doanh nghiệp chỉ có giá trị 47%.

Nhưng rất tiếc, ở Việt Nam, tài sản vô hình chiếm tỷ lệ chưa được một nửa.

“Thương hiệu giúp chúng ta rất nhiều khi gặp việc không may, hoặc có thể có lãi suất vay ngân hàng tốt hơn, sử dụng nhân sự giỏi hơn, xuất hiện nhiều hơn trên truyền thông... Tất cả những điều đó sẽ tác động đến doanh số, biên lợi nhuận, chi phí hoạt động...”, ông Samir nói.

Giá trị thương hiệu của Việt Nam năm 2015 đã giảm 18% so với giá trị năm 2014. Danh sách Top 500 thương hiệu lớn nhất toàn cầu không có một thương hiệu nào đến từ Việt Nam.

Bên cạnh đó, theo phân tích của ông Nguyễn Đình Toàn - Giám đốc Marketing của Công ty Masan Beverage chuyên ngành hàng đồ uống của Tập đoàn Masan, trong khi các công ty quốc tế hướng đến các khoản đầu tư bền vững với mục tiêu và tầm nhìn dài hạn, thì các doanh nghiệp Việt Nam chỉ vạch ra mục tiêu với tầm nhìn ngắn hạn. Trong khi các công ty toàn cầu lấy thương hiệu làm chính yếu thì doanh nghiệp Việt đang lấy tình hình kinh doanh làm định hướng.

“Thương hiệu mạnh mang lại một giá trị cạnh tranh cực lớn, có khả năng ngăn các đối thủ cạnh tranh bước vào thị trường của bạn”, ông Toàn nhấn mạnh.

Việc thiếu năng lực quản lý thương hiệu sẽ hạn chế Việt Nam tận dụng được các lợi thế trong kinh doanh.


Với tình hình này, ông Samir nhận định: Doanh nghiệp Việt rất khó cạnh tranh được với các thương hiệu toàn cầu. Khi thương hiệu toàn cầu vào Việt Nam, việc giữ miếng bánh thị phần của doanh nghiệp Việt sẽ khó khăn hơn nhiều.

“Khi Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực, nước nào có thương hiệu yếu sẽ là nước bị thiệt hại”, ông Samir nhìn nhận.

Việc các thương hiệu nước ngoài nhảy vào Việt Nam sẽ kéo dài khoảng cách thị phần giữa các thương hiệu có độ nhận biết cao và các thương hiệu không có độ nhận biết.

Một điều may mắn là “giá trị tiềm ẩn” của Việt Nam gần như tương đồng với mức trung bình của thế giới. Điều này có nghĩa là cũng như các quốc gia ASEAN khác, Việt Nam có một tiềm năng kinh tế rất lớn chưa được khai phá. Nhưng, Việt Nam sẽ không đạt được một vị thế cạnh tranh tốt nếu các quốc gia khác tìm ra cách tận dụng được “giá trị tiềm ẩn” trước Việt Nam.

Một thực tế cần nhìn nhận là Việt Nam là một nước có ít lợi thế thương mại và tài sản vô hình đã được khai thác (trừ lợi thế thương mại) nhất trong khối các nước ASEAN. Giá trị kinh tế của Việt Nam sẽ được tăng cường nếu Việt Nam có thể chuyển hóa phần nào các “giá trị tiềm ẩn” thành lợi thế thương mại và các tài sản vô hình đã được khai thác.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bộ trưởng Tài chính: "Đến năm 2017 mà đứt dây thì chúng ta chết”


Theo Chí Hiếu (vnexpress)

Dân Việt - Mấy năm nay, điều hành ngân sách theo kiểu "đi trên dây" và tình thế này vẫn tiếp tục trong năm 2016, đặc biệt là với những diễn biến của giá dầu. "Đến năm 2017 mà đứt dây thì chúng ta chết”. Đây là phát biểu của Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng.

Câu chuyện cân đối thu chi ngân sách đã được thảo luận sôi nổi, thậm chí có lúc gay gắt tại Ủy ban thường vụ Quốc hội khi bàn về đầu tư công trung hạn và kế hoạch tài chính 5 năm (2016-2020). Nhiều con số giả định được đưa ra trong các bản kế hoạch để lấy ý kiến cơ quan thường trực Quốc hội, trước khi trình ra kỳ họp toàn thể, sẽ khai mạc vào cuối tháng này. Đây cũng là điểm gây ra nhiều tranh luận.

Đơn cử theo dự tính của Chính phủ, tổng GDP 5 năm tới sẽ đạt khoảng 31 triệu tỷ đồng. Hay con số 2,1 triệu tỷ là nguồn vốn dự kiến cho đầu tư trung hạn của thời kỳ này, trong khi nợ công được đặt mục tiêu giảm xuống còn 60%, trong đó nợ Chính phủ là 5%...

Với số liệu GDP, bản thân cơ quan điều hành cũng trích dẫn tính toán của các tổ chức quốc tế cho thấy con số chỉ khoảng 28 triệu tỷ đồng, song Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư - Bùi Quang Vinh vẫn lạc quan khi nghiêng về kịch bản cao. “Họ tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng (CPI) rất thấp, nhưng tôi nghĩ CPI trong giai đoạn này tăng trung bình 4-5% là hợp lý. Đây là cơ sở để chúng ta tính toán các chỉ số khác, từ thu, chi đến nợ công”, ông Vinh nói.

Tương tự với vấn đề ngân sách khi Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách - Phùng Quốc Hiển cũng tỏ ra hoài nghi khi thấy Bộ trưởng Tài chính "còn lo về nhiều con số". Ông Hiển cho rằng cần thảo luận kỹ việc quyết định hướng hay quyết con số để tránh chuyện cuối kỳ, không thu đủ lại phải điều chỉnh, không đúng tinh thần của luật.

Giải thích về những mức dự tính đưa ra, Bộ trưởng Tài chính - Đinh Tiến Dũng cho biết có thể tính chính xác thu chi năm 2016, song giai đoạn 2017-2020 chỉ là định hướng. “Anh Hiển có dám đảm bảo giá dầu trong 5 năm tới là 45 USD không?", ông Dũng đặt câu hỏi ngược lại.

Tuy vậy, Bộ trưởng Tài chính cũng thừa nhận, mấy năm nay, điều hành ngân sách theo kiểu "đi trên dây" và tình thế này vẫn tiếp tục trong năm 2016, đặc biệt là với những diễn biến của giá dầu. "Đến năm 2017 mà đứt dây thì chúng ta chết”, ông Dũng cảm thán.

Trấn an Bộ trưởng với câu nói đùa: “Mấy năm nay giá dầu cứ lên xuống có ai chết đâu mà anh lo”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định kế hoạch nêu trên chính là định hướng, dựa vào đó để điều hành. Do vậy, ông yêu cầu các thông số đưa ra phải chính xác để đại biểu Quốc hội có cơ sở yên tâm "bấm nút".

“Tôi đề nghị làm kỹ, đến kỳ họp sau Quốc hội thông qua, chứ chưa chắc chắn như vậy thì thường vụ làm sao “gật” được”, ông nói.

Bàn về giải pháp cụ thể để tăng thu, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết Chính phủ dự kiến điều chỉnh 8 loại chính sách về thuế để tránh hụt thu khoảng 450.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, cơ quan điều hành ước tính có thể thu về khoảng 150.000 tỷ từ thoái vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước.

Tuy vậy, những giải pháp này cũng vấp phải sự phản ứng từ Chủ tịch Quốc hội. “Riêng giải pháp tăng thuế lên để thu nữa là tôi không đồng ý đâu. Đất nước ta lúc này không tăng thuế được đâu”, ông Hùng nói.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Gửi công hàm đề nghị xả đập thủy điện sông Mê Kông


Đình Tuyển
TNO - Đây là một trong những giải pháp cấp bách được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo trong buổi làm việc với các địa phương ĐBSCL về phòng chống hạn, mặn vào sáng nay 7.3.

Báo cáo với Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ NN-NT Cao Đức Phát cho biết, tình hình hạn, mặn ở đang ngày càng gay gắt và theo chiều hướng xấu hơn. Tính đến sáng nay 7.3, diện tích lúa ở ĐBSCL đã thiệt hại gần 139.000 ha. Trong đó, 86.000 ha thiệt hại trên 70% năng suất (chiếm 62%), 43.000 ha thiệt hại từ 30-70% năng suất (chiếm 31%) và 9.800 ha thiệt hại dưới 30% năng suất (chiếm 7%).

Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho rằng, ngoài ảnh hưởng từ hiện tượng El Nino kéo dài lịch sử gây nắng hạn, mưa ít thì hiện nay dòng chảy thượng lưu sông Mê Kông về ĐBSCL đang rất thấp và có những diễn biến rất phức tạp do có sự chi phối của các hồ chứa thượng lưu. Khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về thấp thì triều cường sẽ đẩy nước mặn vào đất liền sâu hơn.

Trước tình hình này, Thủ tướng Chính phú Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ TN-MT, Bộ Ngoại giao và Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam khẩn trương có công hàm gửi đến các nước thượng nguồn sông Mê Kông để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là ĐBSCL.


Trong buổi làm việc trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, trước mắt Chính phủ sẵn sàng hỗ trợ ngay cho các địa phương ở ĐBSCL gần 140 tỉ đồng để hỗ trợ ngay cho các hộ dân bị thiệt hại cho hạn, mặn. Thủ tướng cũng yêu cầu lãnh đạo các tỉnh, thành ĐBSCL đưa ra ngay những giải pháp lâu dài hơn, bằng mọi giá không để dân thiếu nước, giảm nhẹ những thiệt hại cho những sản phẩm chủ lực của ĐBSCL như lúa, cây ăn trái, thuỷ sản.

P/s: Thật khổ cho dân Việt mình bây chừ, tứ bề bị "địch" bao vây dồn ép, trong nước thì "giặc nội xâm" có xu hướng tăng không giảm...

Toàn cảnh về chiến dịch CQ-88 lịch sử


Xác định rõ "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân", toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88" với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.


Từ năm 1986, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp.
Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Pa-na-ta). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và tháng 1 năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh nhận định có khả năng Trung Quốc và các nước sẽ đóng thêm một số đảo khác .
Đầu tháng 3 năm 1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Đây là đảo năm 1978 quân chủng đã đưa lực lượng ra đóng giữ bảo vệ, song vì điều kiện đảo là bãi đá ngầm, việc bảo đảm cho bộ đội ăn ở sinh hoạt, chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn, nên ta tạm thời rút bộ đội về đất liền.
Tháng 6 năm 1987, Trung Quốc tiến hành diễn tập quân sự bất thường ở phía nam biển Đông và giữa tháng 10, tháng 11 năm 1987, họ lại đưa tàu nghiên cứu Hải Dương 4 và một số tàu chiến đi qua các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trưởng Sa, Song Tử Tây; có lúc các tàu này vào sát đảo của ta khoảng 1 hải lý.
Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của đối phương. Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương phòng thủ quần đảo Trường Sa "Đóng thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo". Ngày 25 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng lệnh cho Vùng IV nhanh chóng tổ chức lực lượng ra đóng giữ các đảo Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập. Vùng IV bắt tay ngay vào triển khai nhiệm vụ. Mặc dù hết sức cố gắng, song lúc này thời tiết cuối năm gió mùa sóng lớn, phương tiện của ta nhỏ bé, chất lượng kỹ thuật không bảo đảm, hơn nữa các đảo này là những bãi đá ngầm, ta chưa chuẩn bị kịp các trang bị phương tiện để tổ chức cho bộ đội đóng giữ, ăn, ở sinh hoạt và chiến đấu, nên kế hoạch đóng giữ 4 đảo này chưa thực hiện được.
Ngày 28 tháng 10 năm 1987, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh.
Ngày 6 tháng 11 năm 1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên". Chấp hành lệnh của trên, tháng 12 năm 1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa.
Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.
Đầu năm 1988, tình hình khu vực Trường Sa đột ngột trở nên căng thẳng. Ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước khác có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, Trung Quốc có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.
Ngày 22 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, Trung Quốc đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân Trung Quốc còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.
Ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.
Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.
Cuối tháng 1 năm 1988, tàu HQ-851, tàu HQ-852 đang bảo dưỡng định kỳ ở nhà náy Ba Son, nhận được lệnh ra đốc về Sở chỉ huy Quân chủng ở Cam Ranh nhận nhiệm vụ.
Ngày 31 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ để khống chế ta ở khu vực Trường Sa. Khi chiếm đóng đảo Chữ Thập, Trung Quốc đã bộc lộ rõ âm mưu tranh chấp với ta ở Trường Sa. Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng chủ trương hành động, tập trung cao nhất khả năng lực lượng của Quân chủng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa, chạy đua với thời gian nhanh chóng đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào "Cả nước hướng về Trường Sa", "Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa". Đảng ủy Quân chủng xác định rõ lúc này "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân". Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88" (Chủ quyền - 1988) với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.
Trong suốt quá trình tham gia và phục vụ chiến dịch CQ-88, thành tích nổi bật của vùng là đơn vị tàu quét mìn HQ-851 Lữ đoàn 161, do Thiếu tá Hoàng Thái Lan, thuyền trưởng; Đại úy Đặng Huy Hùng, thuyền phó chính trị chỉ huy, đã hoạt động liên tục 3 tháng 9 ngày bảo vệ chủ quyền vùng biển quần đảo Trường Sa.
Ngày 3 tháng 2 năm 1988, khi đang nằm sửa chữa định kỳ tại Nhà máy Ba Son thì tàu HQ-851 nhận được lệnh xuất xưởng đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Đúng theo kế hoạch, ngày 6 tháng 2 tàu cập cảng Cam Ranh và ngay tối hôm đó, đồng chí thuyền trưởng lên nhận lệnh trực tiếp từ đồng chí Tư lệnh Quân chủng. Sau khi giao nhiệm vụ, đồng chí Tư lệnh nhấn mạnh, tình hình rất cáng thẳng, khẩn trương, ta và đối phương giành giật nhau từng hòn đảo, hai bên có thể nổ súng và các đồng chí có thể phải hy sinh, nhưng để giữ được đảo cho Tổ quốc cần 1 chiếc tàu HQ-851 hy sinh chứ cần đến 10 chiếc tàu như HQ-851 hy sinh thì ta cũng phải hy sinh. Nếu để mất đảo thì sau này có cần đến 100 tàu như 851 hy sinh ta cũng khó lấy lại được đảo. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của nhiệm vụ mới, chi bộ tàu HQ-851 khẩn trương tổ chức quán triệt, xây dựng quyết tâm cho cán bộ và đơn vị, nhanh chóng tiến hành công tác chuẩn bị, nhận thêm vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, dầu, nước.
Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.
Ngày 5 tháng 2 năm 1988, lực lượng của ta ra chiếm giữ đảo Đá Lát. Ngày 6 tháng 2 năm 1988, biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn.
Ngày 8 tháng 2 năm 1988 tàu HQ-851 xuất phát đi làm nhiệm vụ. Trên đường hành quân một số cán bộ, chiến sĩ tỏ ra lo lắng căng thẳng, chi bộ và chỉ huy tàu tiếp tục tổ chức quán triệt nhiệm vụ củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu cho toàn chi bộ và tàu. Thực hiện đúng kế hoạch công tác, ngày 10 tháng 2 tàu HQ-851 đến đảo Trường Sa Lớn, neo đậu tại đây một đêm, chỉ huy tàu làm việc với chỉ huy đảo, truyền đạt mệnh lệnh, ý đồ của Tư lệnh. Sáng 11 tháng 2 tàu nhổ neo hướng về đảo Trường Sa Đông. Tại đây sau khi làm việc với chỉ huy đảo xong, tàu tiếp tục hành trình đến đảo chìm Đá Đông. Đến đảo Đá Đông, tàu HQ-851 tiến hành các hoạt động khảo sát đo độ sâu xác định các khu vực neo đậu và chốt lại ở đây, trực bảo vệ đảo.
Ngày 13 tháng 2, tại đảo Đá Lớn, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu Trung Quốc thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: Trung Quốc chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo.
Ngày 15 tháng 2 năm 1988 (tức ngày 29 tết âm lịch năm 1988), theo lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, tàu vận tải HQ-614 Vùng IV tới đảo Đá Đông kết hợp với tàu HQ-851 lập thành biên đội, do Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV đang ở tàu 614 chỉ huy. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV gồm Đại tá Lê Văn Thư, Chỉ huy trưởng Vùng IV; Trung tá Nguyễn Văn Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng và Trung tá Lê Xuân Bạ, Phó chủ nhiệm chính trị Vùng. Vừa làm nhiệm vụ trực bảo vệ đảo, biên đội vừa triển khai cho bộ đội ở hai tàu ăn tết đón xuân tại đảo Đá Đông.
Ngày 17 tháng 2 năm 1988, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh di chuyển một bộ phận quan trọng các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần vào Cam Ranh. Đặt Sở chỉ huy Quân chủng lại đây để trực tiếp chỉ huy các lực lượng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.
Sau ba ngày đón tết, đến ngày 18 tháng 2, tàu HQ-851 và tàu HQ-614 nhận lệnh đến chốt giữ, bảo vệ đảo Châu Viên. 12 giờ trong ngày 18 tháng 2 tàu tới đảo, tàu HQ-614 hạ xuồng chở 7 cán bộ, chiến sĩ lên đảo cắm cờ Tổ quốc; nước biển cường, anh em thay nhau xuống đảo giữ cờ. Trời tối dần, nước biển lên cao, bãi đá chìm sâu dưới nước, sóng to, anh em giữ cờ Tổ quốc ướt rét, đói, buộc phải quay về tàu. Lúc này, tàu HQ-851 bị rê neo trôi dần ra xa. Biên đội quyết định đưa tàu về đảo Đá Đông.
23 giờ ngày 18 tháng 2, hai tàu tới chốt giữ đảo Đá Đông thì nhận được điện của Sở chỉ huy Quân chủng lệnh "Cho tàu quay trở lại đảo Châu Viên, bằng mọi giá ủi bãi, chấp hành, không được hỏi lại". Tình huống hết sức khẩn trương, 1 giờ ngày 19 tháng 2, hai tàu nhổ neo tiến về đảo Châu Viên. 5 giờ trong ngày tới nơi, tàu HQ-851 được lệnh ủi bãi. Tàu cơ động vào đảo, 3 tàu chiến của đối phương lao đến cắt mũi, ngăn chặn; cán bộ, chiến sĩ tàu 851 không nao núng tiếp tục điều khiển tàu tiến lên tìm cách tiếp cận đảo, tàu đối phương vẫn hung hãn kèm sát, quay súng hia thẳng về đài chỉ huy tàu ta đe dọa.
12 giờ, ngày 19 tháng 2 Sở chỉ huy điện cho tàu HQ-851: "Tiếp tục ủi bãi, Tổ quốc và nhân dân không bao giờ quên các đồng chí". Tàu ta và tàu đối phương giằng co, quanh đảo Châu Viên. Song với ưu thế hơn hẳn, 3 tàu lớn của đối phương áp sát, cản trở, tàu HQ-851 không thực hiện được hành động ủi bãi để đưa tàu và người lên đảo. Tới 16 giờ trong ngày 19 tháng 2 , tàu HQ-851 bị hỏng 1 máy chính và 2 máy phụ, tình hình càng khó khăn hơn. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV nhận định, sức cơ động của tàu ta ngày càng kém đi, sức khỏe của bộ đội cũng mỗi lúc một yếu, tàu đối phương mạnh hơn, nhiều hơn và quyết ngăn chặn ta ủi bãi để chiếm đóng đảo Châu Viên. Trong khi đó, đảo Đá Đông có vị trí cũng rất quan trọng gần đảo Trường Sa Đông hơn đảo Châu Viên, nếu ta cứ giằng co với đối phương ở đảo Châu Viên thì chưa chắc ta giữ được mà có thể còn mất cả đảo Đá Đông. Đồng chí Lê Văn Thư quyết định cho hai tàu quay trở lại đóng giữ đảo Đá Đông trong lúc đối phương đang tập trung lực lượng ở Châu Viên. Trung Quốc chiếm được đảo Châu Viên vào ngày 19 tháng 2.
18 giờ, ngày 19 tháng 2 các tàu HQ-851, HQ-614 quay trở lại đảo Đá Đông, lập tức triển khai đóng giữ đảo. Tàu 614 nhanh chóng cơ động vào vị trí đổ bó, 10 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Dân chỉ huy đổ bộ lên đảo cắm cờ và xây dựng công sự chiến đấu. Tàu HQ-851 tiến vào vị trí chiến đấu, làm nhiệm vụ bảo vệ tàu 614 thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà, công sự phòng thủ trên đảo Đá Đông. Lúc đó là 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 2 năm 1988. Những ngày sau đó, tàu HQ-851 trực bảo vệ đảo bảo vệ các lực lượng của Quân chủng tập kết vật liệu xây dựng các công trình trên đảo Đá Đông cùng với tàu HQ-614.
Ngày 20 tháng 2 năm 1988, các lực lượng đơn vị tàu chiến đấu, vận tải, công binh, bộ binh của Quân chủng vượt qua mọi sự ngăn cản khiêu khích của tàu Trung Quốc nhanh chóng triển khai các hoạt động bảo vệ Trường Sa, đã đóng giữ đảo Đá Lát.
Cũng trong ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo Đá Lớn an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.
Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh quân chủng ra lệnh cho Vùng III chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường; riêng Lữ đoàn 162 và Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng I vào tăng cường cho Vùng III từ thường 1 năm 1988, chuyển trạng thái từ thường xuyên lên cao.
Toàn vùng và các lực lượng tàu phóng lôi, tên lùa, tàu quét mìn nhanh chóng thực hiện các biện pháp chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo quy dình. Các trạm ra-đa chuyển sang hoạt động quan sát theo phương án tăng cường; các mặt công tác bảo đảm kỹ thuật: hậu cần cho sẵn sàng chiến đấu được khẩn trương tiến hành.
Sau hai ngày, các tàu được bổ sung đủ định mức cơ bản về đạn, lương thực, thực phẩm và nhiên liệu Công tác bảo đảm kỹ thuật, đã hợp đồng với xưởng 50 và phát huy khả năng sửa chừa của các trạm của vùng, sự giúp đỡ chi viện của chuyên gia Liên Xô nhanh chóng khắc phục, sửa chừa những hư hỏng của các tàu chiến đấu và chuẩn bị vũ khí chiến đấu; đã bảo đảm tốt cho 4 tàu tên lửa 205E, (HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-A61); 4 tàu phóng lôi 206ME (HQ-331, HQ-333, HQ-334, HQ-335); 2 tàu quét mìn 1265E, 1258E (HQ-861, HQ-816), 2 tàu cá HQ-669, HQ-670 và 2 tàu đổ bộ LCU 455, 458, sẵn sàng làm nhiệm vụ theo mệnh lệnh của Quân chủng. Các trạm vũ khí 63, 67 chuẩn bị xong 11 quả ngư lôi trong đó có 4 quả nạp dầu T1 và 14 quả tên lửa chờ lệnh nạp khí ô-gơ.
Ngày 26 tháng 2, Trung Quốc chiếm thêm đảo Ga Ven. Ngày 26 tháng 2, Hải Quân Việt Nam đóng giữ đảo Tiên Nữ, và sang ngày 27 tháng 2, ta chốt giữ thêm đảo Tốc Tan.
Ngày 2 tháng 3, ta tổ chức đóng giữ thêm đảo Núi Le bước đầu tạo được thế đứng chân trên các khu vực quan trọng thuộc quần đảo Trường Sa để ngăn chặn được việc mở rộng phạm vi lấn chiếm của các đối phương. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.
Trong thời gian đầu tháng 3, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn với ý đồ chiếm giữ 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Trung Quốc ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ. Thường vụ xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.
Lúc 19h ngày 11 tháng 3, tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88.
Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo Len Đao.Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.
17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.
Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.
Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía VN rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.
Ngày 14 tháng 3, chiến sự diễn ra ác liệt tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.
Tại đảo Gạc Ma, vào lúc 7 giờ sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, từ tàu HQ 604 đang thả neo phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu úy Trần Văn Phương cùng hai thủy thủ là Nguyễn Văn Tư và Nguyễn Văn Lanh đang leo lên 4 gành đá cao tìm cách dựng cột cờ thì các chiến hạm Trung Quốc lúc đó đã tới gần đảo. Bốn Tàu chiến Trung Quốc loại trang bị hỏa tiễn bao quanh đảo và hú còi báo động , các thủy thủ của Trung Quốc trông rất dữ tợ, đầu cạo trọc nhảy lên các dàn súng đại liên quay mũi súng chỉa vào lính HQVN . Hai Chiếc Hải Quân Trung Quốc tiến gần sát hơn và chận đường rút lui của hai chiếc HQ605 và HQ505 . Hai chiếc xuồng máy chở 8 lính vũ trang mặc đồ rằn ri của Trung Quốc lao nhanh vào đảo . Thiếu tá Trần Ðức Thông lập tức ra lệnh cho các Thủy Thủ chiếc HQ604 lên đảo ứng chiến, bảo vệ cho thiếu úy Trần Văn Phương và hai thủy thủ không cho đối phương tiến lên. Các thủy thủ thuộc HQVN đã dàn súng chung quanh 4 ghềnh cao để bảo vệ , phòng thủ 4 hướng.
Trung Quốc thả thêm 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Lúc nầy tàu chỉ huy là chiếc HQ604 đã cho phóng loa , nói tiếng Tàu với các bộ đội vũ trang Trung Quốc đang tràn lên bãi " Đây là đảo chủ quyền của VN, yêu cầu các đồng chí thuộc quân đội Nhân Dân Trung Quốc phải rời đảo" "Các đồng chí đã xâm phạm lãnh thổ VN" . Lời nói từ chiếc HQ604 chưa dứt thì Tàu Hải Quân Trung Quốc chiếc 502 khai hỏa đầu tiên. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu. Trung quốc thả thêm nhiều Ca Nô loại nhỏ chở hằng trăm lính vũ trang rằn ri khác tràn lên đảo Gạc Ma.Các cây đại liên trên tàu Trung Quốc đã bắn trực xạ vào thủy thủ VN trên đảo, người đứt tay, người đứt đầu, máu văng tung tóe đỏ lòm nước biển. 3 Chiến hạm Trung Quốc còn lại bất ngờ xã hết dàn hỏa tiễn vào 3 tàu chiến của HQVN bốc cháy nghiêng về một bên , các thủy thủ trên tàu hốt hoảng nhảy xuống nước để thoát thân . Lúc nầy hằng trăm lính Trung Quốc trên Đảo Gạc Ma nã súng bắn tỉa từng người của HQVN đang bơi lỏm ngỏm dưới nước . Những tiếng la kinh hoàng , những thân xác bỗng chốc chìm sâu xuống lòng đại dương , máu đỏ nhuộm nước biển lênh láng khắp nơi . Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 hy sinh, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết anh đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".
Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.
Lúc 8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó. Tàu HQ-505 bị phá huỷ nhưng cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.
Tại đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn.
Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô Lin.
Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận. Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay. Các chiến sĩ Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.
Ngày 23 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm đảo Xubi. Ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết
Trải qua hơn 5 tháng, vượt qua mọi thử thách, khó khăn, được sự chi viện của các lực lượng trong toàn quân, của các đơn vị ngành vận tải, cứu hộ của Nhà nước và nhân dân ở nhiều tỉnh, thành ven biển, Quân chủng Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ CQ-88, đóng giữ và bảo vệ thắng lợi 11 đảo mới với 32 điểm đóng quân.
Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh, chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta".
Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, Trung Quốc sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, Trung Quốc thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến.
Đầu tháng 9 năm 1988, Trung Quốc đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Ngày 26 tháng 10 năm 1988, Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.
Ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐÃ CÓ NHỮNG LẦN BẦU CỬ DÂN CHỦ NHƯ THẾ



Nguyễn Đình Cống
7-3-2016
 
Sắp tới ở Việt Nam sẽ có cuộc ĐẠI BẦU CỬ.

Nhân dân đã nhiều lần bầu cử theo kiểu áp đặt “Đảng cử dân bầu”. Thế mà đã vài lần có các cuộc bầu cử thật sự dân chủ. Đó là ở các trường Đại học vào thời gian 1989-1993. Xin kể vài cuộc như thế mà tôi biết.

1-Bầu Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1989

Cuộc bầu này xẩy ra lúc tôi còn làm chuyên gia tại Châu Phi, khi về nước mới tìm hiểu. Trước Đại học Bách khoa đã có vài trường đại học dân chủ bầu Hiệu trưởng, nhưng tôi không biết rõ. Tại ĐHBK bầu 2 lần. Lần 1 có 5 ứng cử viên. Mỗi người phải tranh cử bằng cách làm và trình bày một bản đề cương ứng cử (hoặc kế hoạch công tác), phải dự buổi chất vấn, trả lời các câu hỏi của cử tri toàn trường. Lần bầu thứ nhất không có ai đạt quá 50% số phiếu nên chọn ra 2 người có số phiếu cao nhất để bầu vòng 2. Lúc này 2 ứng viên tiến hành vận động tranh cử. Đó là một dịp sinh hoạt dân chủ có thực chất. Kết quả Giáo sư Hoàng Trọng Yêm thắng cử và trở thành Hiệu trưởng. Việc bầu cử Hiệu trưởng ở các Trường đại học vào thời ký ấy là một mẫu mực cho bầu cử dân chủ.

2- Bầu Chủ tịch BCH Công đoàn trường ĐH Xây dựng năm 1988

Đại hội Đảng bộ trước đó đã bầu Phó giáo sư Phùng vào Đảng ủy với cơ cấu sẽ làm Chủ tịch BCH Công đoàn. Điều đó nhiều cán bộ trong trường đã biết. Trong đại hội Công đoàn, đại diện Đảng ủy công khai giới thiệu PGS Phùng. Thế nhưng khi bầu Chủ tịch BCH, có đại biểu đề cử thêm PGS Trần. Kết quả bầu, PGS Trần thắng cử, làm Chủ tich BCH CĐ trong một nhiệm kỳ. Việc này gây nên một tiếng vang trong toàn trường. Đoàn viên công đoàn ĐHXD đã trả lời cho Đảng ủy biết rằng dân chủ không đồng nhất với sự áp đặt. Đảng cử nhưng dân không bầu. PGS Trần sau đó được phong lên thành Giáo sư. Trong nhiệm kỳ do GS Trần làm Chủ tich BCH, Công đoàn trường ĐHXD vẫn hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, nhưng thỉnh thoảng Công đoàn cũng có những hoạt động độc lập.

3-Bầu Hiệu trưởng Đại học Xây dựng năm 1990

Bắt đầu bằng một cuộc ứng cử và đề cử rộng rãi với danh sách trên 20 người, sau đó nhiều người xin rút, còn lại 5 , tôi là 1 trong số đó. Cả 5 người đều gần như là tự ứng cử, không có ai do Đảng cử. Cũng giống như ở ĐH BK, mỗi ứng viên phải làm và trình bày 1 bản đề cương, vận động bầu cử, trả lời các câu hỏi của cử tri trong cuộc họp 1 ngày. Tôi đã bỏ nhiều công sức để làm bản đề cương. Tôi thu thập trên chục bản của các ứng viên Hiệu trưởng của các trường bạn về tham khảo và chỉ học được từ đó rất ít. Các bản đề cương đều tập trung trả lời câu hỏi: Nếu được bầu làm Hiệu trưởng sẽ làm những việc gì. Trong đề cương của tôi cũng có nói đến sẽ làm việc gì, nhưng chú trọng nhiều hơn đến vấn đề sẽ làm như thế nào để phát huy dân chủ và tiềm năng của mọi người.Theo dư luận của bạn bè thì đó là bản đề cương được đánh giá là hay nhất. Tôi gặp GS Hoàng Trọng Yêm để hỏi kinh nghiệm, anh Yêm là bạn học cũ, vừa thắng cử tại ĐHBK. Kết quả bầu vòng 1 GS Nguyễn Văn Chọn thắng cử với 51% số phiếu. Trong 5 ứng viên thì tôi được xếp thấp nhất về học hàm, học vị, tuổi đảng và chức vụ chính quyền (lúc này tôi vừa đi làm chuyên gia ở Châu Phi về, đã thôi chức trưởng bộ môn, chỉ đang là một thầy giáo bình thường), thế mà tôi đạt số phiếu cao thứ 2, chỉ sau anh Chọn. Cuộc bầu cử ở ĐHXD thực sự dân chủ. Trong quá trình vận động tôi và nhiều bạn bè dự đoán là anh Chọn và tôi sẽ có phiếu cao trong lần 1 để vào tranh cử lần 2 như ở ĐHBK, nhưng anh Chọn đã thắng ngay trong vòng đầu.

4-Bầu Chủ nhiệm khoa Xây dựng năm 1991

Chủ nhiệm khoa đương nhiệm lúc đó là PGS Đoàn. Chi bộ Đảng nhất trí giới thiệu anh Đoàn tái cử. Dư luận rộng rãi cho rằng anh Đoàn làm tiếp cũng được và không cần đề cử thêm người khác, để danh sách 1 người cho dễ bầu. Thế nhưng khi đưa ra tập thể tôi đã tự ứng cử. Tôi với anh Đoàn tương đương nhau về tuổi đời, tuổi Đảng, học vị, học hàm và quá trình công tác. Anh Đoàn có ưu thế hơn là đương chức chủ nhiệm và được Đảng cử. Tôi tuy đã từng là trưởng bộ môn nhưng hiện tại chỉ là thầy giáo bình thường. Việc ứng cử trượt chức hiệu trưởng mà không được cử làm phó, không biết là một yếu thế hay lợi thế, chỉ biết rằng trong cả 2 trường hợp tôi không được Đảng cử.

Cũng giống như lần bầu hiệu trưởng, lần này 2 người cũng phải tranh cử bằng cách trình bày bản đề cương và trả lời các câu hỏi. Kết quả bầu, tôi thẳng cử với 65% số phiếu. Một lần nữa nhiều người được chứng kiến cảnh Đảng cử nhưng dân không bầu.

Lời kết

Việc bầu cử dân chủ như thế ở các trường đại học chỉ xẩy ra trong vài năm. Từ 1994 trở về sau, việc bổ nhiệm hiệu trưởng và chủ nhiệm khoa được tiến hành bằng cách “lấy phiếu tín nhiệm”. Cách lấy phiếu như vậy giúp Đảng tránh được hiện tượng Đảng cử nhưng dân không bầu, tuy vậy dân chủ được đến đâu thì cũng khó mà biết được vì theo quy trình do tổ chức đưa ra thì việc kiểm phiếu được thực hiện khá bí mật. Những người đã từng tham dự bầu cử dân chủ thỉnh thoảng lại tiếc cho một một thời đã qua, chưa biết đến bao giờ mới trở lại.
 
Nguồn: Ba Sàm.
Phần nhận xét hiển thị trên trang