Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979


Quan hệ Việt - Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.
Bắc Kinh đã xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sacũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.
Ngày 3/11/1978, Việt - Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm - chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.
Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố "phải dạy cho Việt Nam một bài học".
Cuộc chiến 30 ngày
Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.
Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.
Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc chỉ có khoảng 50.000 quân.
Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.
Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song chỉ với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã quả cảm chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.
Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân xâm lược phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều mặt trận.
Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn dùng chiến thuật biển người hòng xâm chiếm các mục tiêu quan trọng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 18, chiến sĩ đoàn Tây Sơn kiên cường đã chặn đứng một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.
Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.
Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.
3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.
Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lao Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.
Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.
Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.
Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.
Trung Quốc rút quân
Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố "hoàn thành mục tiêu chiến tranh" và rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.
Ngày 7/3, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.
Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều đánh bại "chiến thuật biển người, thọc sâu phá hoại" của quân Trung Quốc.
Theo số liệu công bố, trong hành động quân sự mưu toan phá hoại, 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động) bị thiệt mạng, 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn bị tiêu diệt, thiệt hại; 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của chính mình.
Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc cũng gây ra những tổn thất nặng nề cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn,hàng chục nghìn người thiệt mạng trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ nhỏ. Hiện vẫn chưa có số liệu thống nhất về số thương vong từ phía Việt Nam (thông tin này Tòa soạn bổ sung sau khi có thắc mắc của độc giả về số liệu những người dân, chiến sĩ Việt Nam bị thiệt mạng); 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.
Từ 18/3/1979 đến cuối năm 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.
Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề.
Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Cuộc chiến biên giới phía bắc, vì nhiều lý do, trong suốt một thời gian dài đã ít được công bố.
Theo VNEXPRESS
Phần nhận xét hiển thị trên trang

BIÊN THÙY

Nguyễn Thái Sơn

(rút từ Tập TÊN RƠI TRƯỚC MẶT, NXB Quân Đội ND, 2007)
Mấy năm chốt đỉnh núi cao
bữa nay làm lễ “hạ sao” trở về
quê hương từ buổi ra đi
nào ai dám chắc ngày về hôm nay
bạn tôi người rụng cánh tay
người mòn cặp mắt nhìn ngày ra đêm
người còn để lại dòng tên
bát ăn thành bát nhang trên đỉnh gò
tay còn loang mực học trò
vẫn hằn vết tím sừng bò sau lưng
thương cha nhớ mẹ rưng rưng
bao người nằm lại núi rừng biên cương
gió Đông - Bắc giật từng cơn
bây giờ giá buốt còn hơn thuở nào
chập trùng rừng thẳm núi cao
xương trắng bạc núi, máu đào nhợt cây
đã từng bùi ngọt đắng cay
đã từng cởi áo tháo giày nhường nhau
hết thương dấp lối dỡ cầu
sao đành xả đạn vào nhau hả người!
ngày xưa binh lửa tàn rồi
dân nào nước ấy sách Trời đã phân
gái Nam trai Bắc kết thân
bền lầu Đồng Tước vững chân âu vàng
hiếu hoà nước thịnh dân an
đã toàn quốc thể lại tan quốc thù
vàng sao
đỏ một sắc cờ
khi nao mới hết hận thù
khi nao ?...
Biên giới phía Bắc, đầu Thập kỷ Tám mươi

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGẬM NGÙI, LIỆT SĨ, CHIẾN SĨ CHỐNG TÀU XÂM LƯỢC!

Quốc Phong: 

Bà Khương Thị Chu (mẹ anh hùng Lê Đình Chinh) mỏi mòn đợi con sau 35 năm 
ngày anh Chinh hi sinh - Ảnh: Ngọc Minh - Thanh Nien
 
Vào ngày 17 tháng 2 năm 79... 
Một Thế Giới
05:52 16-02-2016

Không lẽ người cầm súng đánh Pháp, đánh Mỹ thì được suy tôn, còn người đánh kẻ đến nước ta tàn phá, giết chóc tàn bạo nơi biên giới phía Bắc năm xưa lại cứ ngậm ngùi mãi vậy sao? Các thế hệ con cháu sau này họ sẽ nghĩ gì về chúng ta hôm nay?

Tôi nhập ngũ vào ngày 25 tháng 11 năm 1978, tức là vào lúc nước nhà đang sôi sục bởi những cuộc tấn công của lực lượng Khơ me Đỏ ở biên giới Việt Nam - Campuchia sang đất Việt ta. Mỗi ngày, tin tức về những cuộc tàn sát đẫm máu với những người dân vô tội ở biên giới Tây Nam cứ dội về, bằng nhiều kênh khác nhau nhưng cũng phải nói, thông tin trên báo chí thì lại không nhiều. Đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài đều đứng, ngồi không yên...

Lúc đó, tôi đang còn ở đơn vị huấn luyện tân binh của Sư đoàn 433, Quân khu 3, chưa bổ sung cho hướng chiến đấu nào. Nhưng ngày 17.2, quân Trung quốc tràn sang biên giới phía Bắc với câu nói trịch thượng của Đặng Tiểu Bình là "để dạy cho Việt Nam một bài học"(!!!). 

Trước khi nhập ngũ, tôi đang là biên tập viên của Tạp chí Thanh niên thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Lẽ ra, tôi đã lên đường nhập ngũ từ tháng 8 năm đó. Song, đến sát ngày lên đường thì cơ quan Trung ương Đoàn phát hiện ra tôi là con trai duy nhất của gia đình. Mà đây lại là đối tượng được Nhà nước cho tạm hoãn nhập ngũ. (Khi đó, tuy là thời chiến nhưng vẫn chưa phải là giai đoạn cao điểm nên có một số đối tượng được tạm hoãn, ví dụ như nếu anh là công nhân bậc 5, nhân viên hành chính bậc 6, cán bộ tốt nghiệp đại học mà trong nhà chỉ có một con trai (dù còn có chị em gái) thì đều được tạm hoãn). 

Thế rồi, cuộc chiến cứ ngày một căng thẳng thêm ở cả hai đầu đất nước khiến cho áp lực tuyển quân ngày một lớn. Vậy là đợt gọi nhập ngũ 25.11.1978, tôi vẫn có tên và lên đường chiến đấu để thay cho một người khác (ở báo T. P, và cũng là một đơn vị của TW Đoàn TN như tôi). Anh xin phép về quê cưới vợ, nhưng rồi đến ngày, anh vẫn không lên. Sau này, nghe nói anh báo cáo tổ chức là do bị ốm nên không thể lên. Mà ngày đó làm gì có điện thoại bàn ở nhà. Muốn nói chuyện thì phải ra bưu điện huyện mà gọi theo giờ đăng kí. Và nếu có gửi một bức điện tín về nông thôn cũng phải 2 ngày mới đến. Với truyền thống của cơ quan Trung ương Đoàn, việc để thiếu quân giao nộp là chuyện không thể chấp nhận. Vì thế, tôi trở thành nhân vật "cờ bí thí tốt". 

Tuy là đối tượng được tạm hoãn, nhưng thấy gọi đến mình lần 2, tôi vẫn vui vẻ lên đường mà không hề viện dẫn chính sách khi đó để xin ở lại. Có lẽ, với riêng tôi, nó có cả 2 lý do: Thứ nhất, cái không khí hừng hực của một đất nước sắp nổ ra chiến tranh, khiến người thanh niên nào cũng không đành ngồi im, né tránh trách nhiệm; Thứ hai, tôi lại là cháu họ của Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn khi đó là ông Đặng Quốc Bảo. Nay nếu mình mà nại lý do nằm trong diện" chính sách quy định" mà không đi, e rằng có khi ở lại cơ quan thêm ngày nào lại mang tiếng cho ông. Biết đâu có người đưa chuyện lại bảo do tôi là cháu ông Bảo nên được tổ chức xét ưu tiên này nọ nên mới được tạm hoãn... Như vậy thì sau này, dù tôi có rèn luyện, phấn đấu thế nào chăng nữa cũng chỉ là chuyện giả tạo - dưới con mắt người ngoài nhìn vào. Tôi nghĩ thật lòng như thế nên đã ra đi thanh thản... 

Thời kì đó, tinh thần dũng cảm của chiến sỹ biên phòng Lê Đình Chinh tại biên giới phía Bắc khi đấu tranh bảo vệ chủ quyền rồi hy sinh đầy anh dũng hình như đã tiếp lửa cho lớp trẻ chúng tôi. Thật rất lạ! Nó có sức mạnh tinh thần thật ghê gớm mà sau này, khi đất nước yên bình, có thời gian nghĩ lại cũng rất khó lý giải. Đặc biệt là những bài hát "đặc chính trị" kiểu như "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới..." sao nó có sức mạnh kỳ lạ, khơi dậy ý chí bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc đến vậy?

Xin quay trở lại cái ngày 17.2 năm 1979. 

Tôi được chỉ huy đại đội huấn luyện cho về tranh thủ thăm nhà 3 ngày để đi chiến đấu ở mặt trận Campuchia. Thật không ngờ, sáng hôm sau, 17.2.1979, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đưa bản tin đặc biệt: Trung Quốc phát động chiến tranh toàn biên giới phía Bắc. Ai nghe tin sáng hôm đó cũng thật bất ngờ cho dù ai cũng ít nhiều có thông tin về tình hình biên giới ở cả hai đầu đất nước, đang rất căng thẳng. 
 
Sợ đơn vị mình sẽ di chuyển sớm, tôi lo sẽ khó tìm để đuổi theo đơn vị nên đã tất tả rời khỏi nhà trước hạn, chạy một mạch ra bến xe để trở về đơn vị gấp mà lòng cảm thấy nhẹ đi nhiều khi nhìn thấy đồng đội tôi vẫn ở đó. 
 
Cũng do tình hình đột biến này, khi điểm danh và đọc quyết định thì tôi được tách ra khỏi đại đội để rút lên cơ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn 433. Tôi được giao nhiệm vụ cùng anh Công Ngoạn, hoạ sỹ của báo Nhân dân làm tờ Tin nội bộ, in roneo, gọi là "Tin Sư đoàn". Công việc chưa được mấy tuần thì Sư đoàn 433 được lệnh tách thành đôi. Tôi được phiên sang Ban Tuyên huấn Sư đoàn 319 để tăng cường cho biên giới phía Bắc. 

Sau này, tôi được biết một điều thật đau xót. Đơn vị cũ của tôi được chi viện cho mặt trận phía Nam mà lớp lính mới tò te như tôi ở cùng tiểu đoàn huấn luyện ngày đó đã thật không may (họ thường là sinh viên đang học dở đại học). Lớp tân binh đó vừa mới bước qua cửa ngõ biên giới Campuchia chưa bao xa thì có tới gần nửa đại đội cũ của tôi đã vướng phải mìn lá của Khơ me Đỏ. Họ bị thương vong quá nặng, mà lại toàn bị tiện đứt ống chân, trong khi họ chưa được đánh một trận nào. Tôi đã may mắn không bị như các anh. 

Thật đau xót và ngậm ngùi!

Chiến sự 17.2.1979 ở biên giới phía Bắc đâu chỉ diễn ra vài ngày mà nó còn kéo dài khá nhiều năm (đến khoảng 1989). Nhiều người bạn đồng lứa với tôi đã hy sinh trong cuộc chiến đấu ấy. Người còn sống thì vẫn tiếp tục bám trụ kiên cường trên những mỏm núi cao, họ giữ chốt để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của ông cha.

Có những khó khăn, gian khổ rất bình thường nhưng cũng thật dễ sợ mà sau vài chục năm, nay có nói lại với lớp trẻ, họ cũng không thể hình dung nổi: Bộ đội ta khi đó ở trên chốt, ăn uống thì kham khổ đã đành, nhưng vài ngày mới được" tắm " một lần nhưng mà là tắm... khô thì cơ cực lắm. Tức là họ phải kỳ khan cơ thể mà không có giọt nước nào, sau rồi xoa một thứ hợp chất nó giống như cồn khô để sát trùng, mát lạnh. Đó là một hợp chất do ngành quân y hồi đó chế ra, nó cũng hơi giống với dạng khăn ướt của ta sau này. Thực chất, chỉ để xoa vào người nhằm tẩy khô, vệ sinh cho đỡ mắc bệnh ngoài da chứ không hề được tắm rửa. Chờ hết đợt trực chiến, họ lại xuống núi thay nhau tắm rửa, nghỉ ngơi. Và, thỉnh thoảng họ lại đổ máu và hy sinh cũng không ít vì những viên đạn bắn tỉa hiểm hóc, đầy khiêu khích ở phía bên kia biên giới. Lúc nào, những họng súng đó cũng rình rập họ. 

Tôi có may mắn là nằm ở tuyến 2, không phải là đơn vị chiến đấu trực tiếp như các anh và đó cũng là may mắn thứ 2 trong 9 năm khoác áo lính. 

Ấy vậy mà suốt mấy chục năm qua, cả người đã mất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc lẫn người thân của họ còn sống và cả những cựu chiến binh, cứ mỗi năm vào ngày này, lại thêm một lần ngậm ngùi vì họ không được suy tôn. Không lẽ người cầm súng đánh Pháp, đánh Mỹ thì được suy tôn, còn người đánh kẻ đến nước ta tàn phá, giết chóc tàn bạo nơi biên giới phía Bắc năm xưa lại cứ ngậm ngùi mãi vậy sao? Các thế hệ con cháu sau này họ sẽ nghĩ gì về chúng ta hôm nay? 

Tôi cũng thấy ấm lòng sau nhiều năm im ắng, khi năm ngoái, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã có cuộc tiếp xúc với cựu chiến binh Sư đoàn 313, 314, Quân khu 2, đơn vị đã hy sinh cả ngàn người ở Vị Xuyên, Hà Giang trong thời kỳ chiến tranh biên giới phía Bắc nhiều năm trời (1984-1988) vào dịp kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ để tri ân họ.
 
Quốc Phong
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ ASEAN TẠI SUNNYLANDS




Sau đây là toàn văn của Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ với Cộng đồng Đông Nam Á đã được ký kết trong tối hôm qua giờ Việt Nam. Tôi xin lược dịch để người dân Việt Nam nắm và tìm hiểu.

Sunnylands, California

Ngày 15-16 tháng 2 năm 2016

Chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hoa Kỳ tập trung tại Sunnylands, California, vào 2 ngày 15-16, tháng Hai, năm 2016, cho một Hội nghị đặc biệt của của những nhà lãnh đạo. Đây là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt giữa Hoa Kỳ-ASEAN đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ và cũng là Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau khi thành lập Khối Cộng đồng chung ASEAN.

Hội nghị đã đánh dấu một năm bước ngoặt cho cả hai bên ASEAN Hoa Kỳ, và cho một sự xích lại ngày càng gần nhau của Hoa Kỳ-ASEAN trong quan hệ đối tác chiến lược. Trong năm 2015, các nước thành viên ASEAN đã tổ chức lễ thành lập Cộng đồng chung ASEAN, làm việc cùng nhau hướng tới một ASEAN tốt hơn nhằm phục vụ người dân của khu vực Đông Nam Á.

Tại Hội nghị thượng đỉnh của chúng ta tại Kuala Lumpur vào tháng 11 năm 2015, chúng ta đã nâng mối quan hệ Hoa Kỳ-ASEAN lên tầm đối tác chiến lược, công nhận việc chuyển đổi mối quan hệ của chúng ta trong nhiều năm qua. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này, chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của ASEAN và Hoa Kỳ có cơ hội này, để tái khẳng định những nguyên tắc quan trọng mà sẽ hướng tới hợp tác của chúng tôi đi về phía trước:

1. Chúng tôi cùng nhau tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia bằng sự duy trì vững chắc các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;

2. Vì tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế toàn diện bền vững và phát triển, và ươm mầm cho những thế hệ trẻ của chúng tôi để duy trì liên tục trong hòa bình, phát triển và ổn định vì lợi ích chung;

3. Công nhận lẫn nhau về tầm quan trọng của việc theo đuổi các chính sách dẫn đến nền kinh tế năng động, cởi mở và cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, đổi mới, tinh thần kinh doanh và kết nối, và hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ(SEMs: Small and medium-sized enterprises) và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia;

4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả các dân tộc của chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, tăng cường quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự khoan dung và sự tự điều tiết, và bảo vệ môi trường;

5. Tôn trọng và hỗ trợ cho các trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN lãnh đạo trong cấu trúc khu vực phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương;

6. Cam kết cho một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ nhằm duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước;

7. Cam kết chung về việc giải quyết các tranh chấp theo phương pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS);

8. Cam kết chung về việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải, bao gồm cả quyền tự do hàng hải và quyền sử dụng hợp pháp khác của các vùng biển, và không bị cản trở thương mại hàng hải hợp pháp như được mô tả trong Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;

9. Cam kết chung tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;

10 Quyết tâm mạnh mẽ về các vấn đề toàn cầu như khủng bố và chủ nghĩa bạo lực cực đoan, buôn bán người, buôn bán ma túy, và đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, cũng như buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã và gỗ;

11. Cam kết chung để giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển bền vững về môi trường ASEAN với thời tiết, cũng như để các quốc gia thành viên thực hiện sự quyết tâm đóng góp theo Hiệp định về khí hậu của Paris 2015;

12. Cam kết chung thúc đẩy an ninh và ổn định đối với không gian mạng phù hợp với các chuẩn mực về hành vi do nhà nước chịu trách nhiệm;

13. Hỗ trợ cho sự tiến bộ một cách mạnh mẽ, ổn định, gắn kết với chính trị, hoàn thiện kinh tế thị trường, có trách nhiệm xã hội, cộng đồng thân thiện, con người là trung tâm và dựa trên luật Cộng đồng ASEAN;

14. Cam kết chung tăng cường kết nối giữa người với người thông qua các chương trình có sự tham gia của cộng đồng ASEAN và công dân Mỹ, đặc biệt là giới trẻ, và thúc đẩy những cơ hội đến với tất cả các dân tộc của chúng ta, đặc biệt những vấn đề dễ bị tổn thương nhất, nhằm thực hiện tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN;

15. Cam kết chung thúc đẩy mối quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển bền vững thông qua việc thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững và Chương trình hành động Addis Ababa đến năm 2030, nhằm đảm bảo một xã hội bền vững, công bằng và toàn diện mà không có bất kỳ quốc gia nào tụt hậu phía sau;

16. Cam kết chung tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt là các cơ chế do ASEAN lãnh đạo hiện có; và cuối cùng là

17. Cam kết chung tiếp tục đối thoại chính trị giữa những người đứng đầu ở cấp Chính phủ / Nhà nước thông qua các cuộc tham dự lãnh đạo của chúng ta tại các Hội nghị Thượng đỉnh các lãnh đạo của Hoa Kỳ-ASEAN hàng năm và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Asia Clinic, 9h40' ngày thứ Tư, 17/02/2016
BS HH
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ký ức khó phai về ngày 17/2/1979



Nguyễn Duy Chiến
Tiền Phong
08:53 ngày 17 tháng 02 năm 2016


TP - Nghẹn ngào trong lời kể, bác sỹ Nguyễn Đắc Đại, cán bộ hưu trí ở thành phố Lạng Sơn nhớ lại: Sáng ngày 17/2/1979 rộ lên tiếng súng, tiếng đạn pháo ở khu vực biên giới Đồng Đăng, huyện Cao Lộc. Thông tin cho biết, Trung Quốc chính thức mở chiến dịch tấn công nước ta trên toàn tuyến biên giới.

 
 Bác sỹ Đại (bìa trái) và người dân làng Khuổi Mươi thắp nhang tưởng nhớ đến các chiến sỹ áo trắng đã hy sinh vì quê hương (ảnh chụp chiều ngày 16/2/2016). Ảnh: Duy Chiến

Ban giám đốc bệnh viện tỉnh Lạng Sơn (khi đó ở phường Chi Lăng, thị xã Lạng Sơn) lập tức hội ý và cắt cử y, bác sỹ và điều lái xe lên tuyến đầu cứu thương. Xe đi đầu có bác sỹ Nguyễn Thị Thủy (khi đó 27 tuổi), y tá Nguyễn Thị Sâm (23 tuổi). Trên đường, từng đoàn người gồng gánh, dắt díu nhau sơ tán từ Đồng Đăng, Bảo Lâm về phía thị xã Lạng Sơn.


Tiếng đạn pháo rít lên từng hồi. Bụi đất tung lên mù mịt, hai nữ bác sỹ, y tá nhanh chóng chuyển cáng bộ đội bị thương nặng lên xe ô tô, vận chuyển về tuyến sau.
“Ba cán bộ hy sinh trong ngày 17/2/1979 đều đã được công nhận là liệt sỹ. Vào các dịp lễ, tết, chúng tôi đều đến gia đình các liệt sỹ này thắp tâm nhang; đồng thời tặng quà, động viên gia đình”. 
Bác sỹ Phan Thanh Huy
Sau khi hoàn thành chuyến công tác đột xuất, bác sỹ Nguyễn Thị Thủy và y tá Nguyễn Thị Sâm vẫn xung phong đi tuyến đầu tiếp tục cấp cứu, vận chuyển thương binh. Anh Lê Văn Thuận (SN 1939), vừa chuyển từ quân đội sang lái xe tại bệnh viện đã sẵn sàng nổ máy. Trong chuyến đi nguy hiểm này có bác sỹ Thủy, bác sỹ Tuấn và y tá Sâm.

Xe cứu thương lao đến khu vực cầu Khuổi Mươi (nay thuộc thôn Khuổi Mươi, xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc) thì đụng phải toán quân Trung Quốc phục sẵn trong lùm cây, trên đường quốc lộ. Chúng dùng súng bắn thẳng vào đầu xe làm chiếc xe đang chạy, khựng lại. Một cơn mưa đạn đổ về xe cứu thương cắm cờ chữ thập đỏ.

Bác sỹ Thủy trúng đạn, gãy đùi trái, một mảnh đạn cắm vào chân phải của lái xe Thuận. Y tá Sâm bung cửa nhảy ra và bị chúng bắn vào bụng. Sâm chạy một quãng nữa, đạn địch xối xả cho đến khi cô ngã gục bên đường.

Bác sỹ Thủy bị mất máu nhiều. Cô nhoài ra xe tìm Sâm thì loạt đạn bay về phía cô.

Chiều 16/2, bác sỹ Nguyễn Đắc Đại cùng phóng viên Tiền Phong ngược quốc lộ 1A, tìm đến khu vực cầu Khuổi Mươi. Ông Đại năm nay bước sang tuổi 77. Ông chỉ vào hai cây hoa đào bên phải quốc lộ 1A cũ, nơi cuối làng Khuổi Mươi nói: “Hai cán bộ nữ áo trắng đã nằm ở đây. Máu đào của họ cùng bao chiến sỹ mãi thắm trên từng tấc đất biên cương”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TƯỜNG THUẬT NHANH BUỔI LỄ TƯỞNG NIỆM CÁC LIỆT SĨ 79 TẠI SÀI GÒN



11h08′ ngày 17-2-2016

Theo chị Ánh Hồng cho biết: CLB Lê Hiếu Đằng đã có mặt nhà nghiên cứu Lê Công Giàu, nhà báo Kha Lương Ngãi, vợ chồng nhà giáo Hồ Hiếu, GS Nguyễn Đăng Hưng và NS Ánh Hồng đã đến được buổi lễ.

Lúc đầu an ninh cầm dù để tìm mọi cách ngăn cản. Họ đã giật te tua vòng hoa do anh Ngãi mang tới. Nhưng theo thông tin chị Hồng cho biết, lúc sau có một tốp AN mặc thường phục (chị đoán chắc của TP hay bộ) đã đến ngăn các AN gây hấn kia lại. Họ đã túm áo lôi những AN quá khích kia ra.

Đã có hơn 100 các bạn trẻ NO-U SG và các bạn trẻ hoạt động DC và người dân sài Gòn cùng tham gia lễ tưởng niệm. Chị Ánh Hồng cho biết đã một số các cụ khá lạ, chưa thấy đi bao giờ, tham gia buỗi lễ và cả người dân mới tham gia lần đầu. Đó là thông tin tôi cho là tuyệt vời nhất trong buổi lễ ngày hôm nay.

Và lễ tưởng niệm vẫn thành công tốt đẹp.

TÔI THẬT TỰ HÀO VÌ VIỆC LÀM TUYỆT VỜI CỦA ANH CHỊ EM VÀ ĐỒNG BÀO. CẢM ƠN TẤT CẢ.

Video clip của Facebooker Hoàng Bình

____

FB Việt Quân

10h12′ ngày 17-2-2016











Video clip lễ tưởng niệm từ Facebooker Việt Quân
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TƯỞNG NIỆM CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC THÁNG 2/1979

Hà Nội: 



DÂNG HƯƠNG HOA TƯỞNG NIỆM  
ĐỒNG BÀO VÀ CHIẾN SĨ TỬ TRẬN TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC THÁNG 2 - 1979 CHỐNG QUÂN BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC

* Buổi lễ tưởng niệm đã thành công viên mãn. Chân nhang đã hóa nghi ngút.
* Không hề có sự ngăn cản của các lực lượng an ninh, trước, trong và sau lễ. 
* Những người tổ chức gửi đến Ông Hoàng Trung Hải, Ông Nguyễn Đức Chung lời cảm ơn chân thành và lời chúc năm mới an khang, tốt lành và thành công!
.
Sáng nay, 17/2/2016, kỷ niệm 37 năm cuộc chiến tranh Biên giới Phía Bắc chống quân Trung Quốc xâm lược, khoảng hơn 200 người dân HN và các tỉnh lân cận đã cùng có mặt tại khu tượng đài Lý Thái Tổ để dâng hương hoa tưởng niệm các anh.hùng liệt sĩ và đồng bào tử trận mùa xuâm năm 79. 

Các nhân sĩ trí thức, các nhà hoạt động trên nhiều lĩnh vực, các cựu biến binh và thanh niên Hà Nội đã có mặt đúng 8h30 để bắt đầu cuộc tưởng niệm. Nhiều phóng viên các hãng thông tấn báo chí nước ngoài đã có mặt để ghi nhận về cuộc gặp mặt này.

Cụ Nguyễn Khắc Mai, cụ Lê Hiền Đức, GS Viện sĩ Hoàng Xuân Phú, TS Nguyễn Quang A,TS Hoàng Quý Thân, Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, Nhà văn Nguyên Bình, Nhà văn Phạm Thành, TS Nguyễn Xuân Diện và nhiều nhà hoạt động, trí thức, văn nghệ sĩ đã đến từ sớm. 

Mọi người đều mang trên tay bông hoa cúc trắng có đính dòng chữ "17.02.1979 - Nhân dân không quên" và chít trên đầu dải băng màu xanh, hoặc gắn phù hiệu "17.02-1979". Hương được thắp lên, cùng những lẵng hoa gắn dải băng đen, như đang choàng lên không gian quanh tượng đài một không khí trầm hùng trong âm hưởng bi tráng của bảnHồn Tử Sĩ được nghệ sĩ đường phố Tạ Trí Hải trình tấu. 

Mọi người vây quanh Cụ Nguyễn Khắc Mai, GĐ Trung tâm Minh triết đọc bài diễn văn ngắn gọn nhưng sâu sắc và cảm động tưởng nhớ vong linh của 6 vạn đồng bào và chiến sĩ đã bỏ mình vì nước trong cuộc chiến tranh vệ quốc tháng 2 năm 1979. Bài diễn văn nhắc đến Trung Hoa Cộng sản và những nỗi đau đang hiện hữu: Hoàng Sa rơi vào tay giặc, một phần của Trường Sa bị Trung QUốc dùng vũ lực cưỡng chiếm năm 1988...

Kết thúc diễn văn, Cụ Nguyễn Khắc Mai (84 tuổi) bắt nhịp hô "Việt Nam" và tất cả cùngđáp lại "Hoàng Sa", "Trường Sa". 

Mọi người cùng hô "Đả đảo Trung Quốc xâm lược". Đả đảo! Đả đảo!
Tiếng hô đầy khí thế làm vang động cả một góc hồ Gươm.




















Trước đó, vào luc 07h45: Nhà văn Phạm Viết Đào, TS Nguyễn Xuân Diện và Nhà giáo Đào Thu đến Đài liệt sĩ Bắc Sơn, dâng hương hoa tưởng nhớ Chiến sĩ và đồng bào đã bỏ mình vì Tổ Quốc tháng 2 năm 1979. Trong lời khấn nguyện trước đài tưởng niệm, ông gọi tên người em trai Phạm Hữu Tạo là liệt sĩ hy sinh trong trận Lão Sơn bi tráng.






Tin và ảnh: FB Nguyễn Xuân Diện

Phần nhận xét hiển thị trên trang