Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Tự do ngôn luận và công kích cá nhân


blog google archives google classroom texthelp
Viết blog là một trải nghiệm rất hay đối với bản thân tôi, đặc biệt là khi đọc bình luận của độc giả sau mỗi bài viết. Tôi cũng có tham khảo thêm nhiều blog của các tác giả khác để trau dồi thêm hiểu biết và kiến thức. Các bài viết của blogger được đăng tải trên trang web chính thức của VOA và được chia sẻ trên trang cá nhân Facebook. Dễ dàng nhận thấy rằng các bình luận trên trang web thì luôn luôn đi thẳng vào vấn đề chính, có luận điểm căn cứ chính kiến khá rõ ràng, nhiều bình luận còn khiến tôi phải suy nghĩ để căn chỉnh phong cách viết lách của mình.

image
Còn trên Facebook, nơi có thể nói là việc nêu ý kiến không bị ai - từ admin cho đến chính quyền - kiểm soát, bình luận viên luôn có thái độ công kích cá nhân.

Thí dụ như bài viết gần nhất của tôi bàn về chuyện nên hay không nên bỏ Tết truyền thống kèm theo một loạt các hệ lụy của việc nghỉ Tết quá dài, thì thay vì phản bác bằng ngôn từ và luận cứ rõ rang, họ quay ra chỉ trích từ trình độ văn hóa, giáo dục cá nhân tác giả cho đến nguồn gốc gia đình. Ngôn từ xúc phạm thì cũng vô cùng phong phú. Tôi hiểu rất rõ rằng khi mà bản thân muốn có quyền tự do ngôn luận thì đồng thời cũng phải chấp nhận quyền của người nghe và đọc tự do phản bác. Tuy nhiên trong cả trăm “comment” thì không có một phản bác nào có tính xây dựng. Tôi cũng tin chắc rằng có những người chỉ đọc mỗi cái tựa bài rồi ngay lập tức bật chế độ “auto chửi.”

image
Công kích cá nhân là một hiện tượng không hiếm trên mạng xã hội Việt. Gần đây có một vụ  scandal về một cô ca sĩ người Hàn khá nổi tiếng tên là Hari Won. Cô là ca sĩ, diễn viên được yêu mến tại Việt Nam, đặc biệt càng được công chúng hâm mộ bởi mối tình 9 năm với một rapper Việt. Cuối năm 2015, họ tuyên bố chia tay. Sau thời gian công bố được 2 tháng, báo chí chộp được hình ảnh về quan hệ tình cảm giữa cô và một nam MC khác. Từ đó sự việc cứ bùng nổ đến nay chưa ngớt.

image
Những ngôn ngữ dè bỉu tệ hại nhất được cộng đồng mạng “ném” lên trang cá nhân của Hari Won và chàng MC một cách không thương tiếc. Vô số người không ngần ngại kêu gọi đuổi cô về nước Hàn, cho rằng cô ở lại là ô uế nước Việt…

Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi cũng không thực sự rõ cô gái ấy có tội tình gì, khi mà chuyện tình cảm rõ ràng là một vấn đề hết sức cá nhân và chủ quan. Chưa kể, theo tôi nghĩ, sự kiện một nghệ sĩ nước ngoài đến Việt Nam để học tiếng Việt và hoạt động nghệ thuật là một điều rất đáng trân quý, ngưỡng mộ.

image
Một trường hợp điển hình khác là nhà văn Trang Hạ - một tác giả  chuyên lên án các đấng mày râu Việt ăn không ngồi rồi, gia trưởng số 1 thế giới. Đi kèm với các bài viết công kích là cả ngàn lượt bình phẩm về vấn đề nhan sắc của chị. Mà có vẻ như chị cũng đã quen, càng bị chửi chị viết càng đanh thép.

Tôi cũng theo dõi trường hợp của khá nhiều người có những bài viết, quan điểm đa chiều trên Facebook. Một số những người này là Việt kiều, có nghề nghiệp là giáo sư, bác sĩ… mỗi khi họ có một bài viết mới về một vấn đề tiêu cực hay trái chiều là y như rằng họ bị rất nhiều người gán ngay cho mác “bán nước”, hay “ngụy”, hoặc “mất gốc”…

Kèm theo đó là vô số những câu “chửi bới không biên giới”. Tôi lấy làm lạ - 40 năm trôi qua, câu chuyện kẻ Bắc người Nam khó có thể trở thành lý do chính đáng cho sự thù hằn đến như vậy, phải chăng những con chữ đó, thái độ đó đã thấm vào máu và trở thành một lối suy nghĩ, một quan niệm của người Việt từ bấy đến giờ?

dog broccoli
Nói chung, có thể thấy đa số những phản ứng như vậy rất nặng chất quán tính. Bất cứ vấn đề gì đi ngược lại với niềm tin của mình, là họ sẽ xù lông nhím mà công kích đối phương, chưa kể đa số người cũng không cần có niềm tin, mà sẽ dựa vào ý kiến đám đông. Nếu xét kỹ thì có thể thấy những niềm tin đó hoàn toàn không có cơ sở, và càng không phù hợp với sự phát triển văn minh.

Trong trường hợp của cô ca sĩ Hàn Quốc, họ miệt thị cô vì sẵn sàng từ bỏ mối quan hệ kéo dài 9 năm của mình, một cách cương quyết, dứt khoát. Đó liệu có phải là một minh chứng quá rõ ràng cho lối suy nghĩ “tam tòng” đã nhiễm quá nặng nề vào đầu óc và lối sống của người Việt hay không? Tại sao lại lên án một cá nhân khi họ không hành xử đúng theo quan niệm của mình? Điều này cũng tương tự như khi một Việt kiều luận bàn về kinh tế chính trị trì trệ của nước nhà, thì ngay lập tức bị cho là  “phản động”?

Nhân đây cũng xin nói luôn rằng, người Việt cũng có thói quen công kích cá nhân trong cả vấn đề chính trị. Việc ưa ông thủ tướng này, ghét ông bí thư kia nhiều khi chỉ do nhìn vào diện mạo. Đa số người coi khinh một vị lãnh đạo không phải vì những việc ông hay bà đã làm mà vì tuổi tác của họ, và thường thì những người phê phán cũng chẳng bỏ công tìm hiểu tiểu sử hay thành tích của các nhà lãnh đạo liên hệ. Vậy thì việc người này lên, người kia xuống cũng đâu có ý nghĩa gì đối với vận mệnh cá nhân, nói gì đến vận mệnh đất nước?

image
Năm 2015, tại Việt Nam, chương trình Bitches in town, hay còn gọi là Những kẻ lắm lời ra mắt khán giả trên Youtube, chuyên tán chuyện trên trời dưới đất từ đời sống xã hội văn hóa đến chính trị, người bình dân cũng như kẻ nổi tiếng. Tuy nhiên talk show này chỉ thực sự gây chú ý khi bình luận về gu thời trang của một ca sĩ trẻ. Chuyện lùm xùm đến độ các cơ quan chức năng phải vào cuộc và đưa quyết định xử phạt hành chính và…dừng show trên Youtube (quái lạ!).

Không có một thông tin tuyên truyền nào chống phá nhà nước, không một lời nói hành động nào có tính cách bạo động, nhưng chương trình này vẫn bị tẩy chay bởi chính khán giả Việt.

image
Đó là một trường hợp cụ thể để thấy rằng rất khó để có được quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Đây không phải chỉ là câu chuyện về chính quyền khắt khe mà là về khả năng tiếp nhận trao đổi thông tin đa chiều của đa số người Việt. Do cái nhìn và quan điểm chưa mở cũng như kiến thức chưa đủ sâu, chính bản thân họ đã tự tước đi quyền hạn đó của chính mình.




Hoàng Giang

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có ai quên cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979?


Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta có nhiều cuộc chiến chống xâm lược được ghi vào sử sách và hàng năm đều được nhắc đến thông qua các hoạt động kỷ niệm. Song, có một cuộc chiến xảy ra cách đây 37 năm trên dải biên cương phía Bắc Tổ quốc chống quân Trung Quốc xâm lược thì gần như ngược lại, ít được nhắc tới. Vậy những ai đã lãng quên một cuộc chiến tranh chống xâm lược đầy đau thương và bi tráng để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng ấy?

Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, Hà Giang
Cuộc chiến tranh diễn ra trong vòng 1 tháng nhưng đã gây thiệt hại nặng nề về người và của cho cả hai nước, gây hậu quả lâu dài cho mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Để làm rõ bản chất, sự thật lịch sử, tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc; đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền sai trái, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch, chúng tôi chuyển đến bạn đọc những nét chính về cuộc chiến tranh này.

Từ nguồn sách báo, tài liệu của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác xuất bản từ năm 1979 đến 2009, chúng ta cùng nhìn lại diễn biến và hậu quả của cuộc chiến tranh 1979:


Đó là cuộc chiến tranh xâm lược...

5 giờ sáng ngày 17/2/1979, khoảng 120.000 quân Trung Quốc tiến đánh Việt Nam trên toàn tuyến biên giới (khi đó là 6 tỉnh: Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu và Quảng Ninh); mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng, Lạng Sơn. Quân đoàn 41A tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái.

Cánh phía tây do các quân đoàn 13A và 11A đánh vào thị xã Lào Cai, Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Thị xã Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.

Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh yểm trợ.

Đánh nhanh mấy ngày đầu với chiến thuật biển người nhưng sau đó quân Trung Quốc phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), Thông Nông (Cao Bằng) ở đông bắc và Lào Cai.


Tù binh Trung Quốc bị bắt năm 1979

Bộ đội địa phương cùng dân quân, tự vệ Việt Nam với tinh thần chiến đấu cao khiến quân Trung Quốc không thể tác chiến ở quy mô sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu.

Trận chiến tại Đồng Đăng diễn ra ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội NDVN. Thị xã Đồng Đăng do lực lượng của Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn.

Ngày 22/2, tại Pháo đài Đồng Đăng, quân Trung Quốc dùng bộc phá đánh sập cửa chính; dùng súng phun lửa, lựu đạn, bắn đạn hóa học vào các lỗ thông hơi, làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979: 'Đã đến lúc phải đưa lịch sử về đúng giá trị của nó' Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương nhận định: “Cần phải tự hào về điều này cũng như phải ...

Sau 5 ngày đêm, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm cùng một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh.

Ngày 26/2, Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân VN điều động Quân đoàn 2 từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã lập cầu hàng không, chở quân.

Đến ngày 28/2/1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Quân đội Việt Nam có chiến thuật ưu thế hơn nên còn phản kích, đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipho (Vân Nam) của Trung Quốc để cảnh cáo.


Bộ đội Việt Nam bảo vệ Thị xã Lạng Sơn

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27/2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn. Trung Quốc điều thêm 2 sư đoàn để tăng viện. Tại đây, các Sư đoàn 3 và 337 của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ và phản ứng mãnh liệt trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong, huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc. Nhưng 1 tiểu đoàn lính Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau, bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng.

Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng. Chiều ngày 4/3, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.

Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội NDVN cũng tập kết phía sau Quân đoàn 14.

Ngày 5/3/1979, Việt Nam phát lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày hôm đó, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Lúc đó, tại mặt trận Lạng Sơn, phía Việt Nam đã bày binh bố trận rất bài bản, chuẩn bị phản công trên quy mô lớn, đánh hiệp đồng quân binh chủng. Nếu không rút quân đúng thời điểm này thì quân Trung Quốc sẽ thiệt hại rất lớn, nhận hậu quả rất nặng nề, bị tiêu diệt gọn.

Ngày 7/3, Việt Nam tuyên bố thể hiện "thiện chí hòa bình", cho phép Trung Quốc rút quân. Ngày 18/3/1979, Trung Quốc rút hết quân khỏi biên giới Việt Nam.

Mặc dù vậy, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi dọc biên giới 6 tỉnh phía Bắc, ác liệt nhất là ở Vị Xuyên, Hà Giang. Cuộc chiến này kéo dài đến năm 1984, tiêu hao sinh lực lớn cho cả hai phía và để lại hậu quả nặng nề cho nhiều năm sau.

1 năm sau "giàn khoan 981", chúng ta đã gọi đúng tên một cuộc chiến khác...

Nhắc lại để chúng ta không bao giờ quên, không bao giờ mất cảnh giác với người hàng xóm đầy ...

Những điều trăn trở

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 ít được dư luận thế giới quan tâm. Bởi hai nước láng giềng, có mối quan hệ gắn bó lâu đời nên nhiều nước thấy bất ngờ khi xảy ra cuộc chiến tranh này.

Từ năm 1989, khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ thì báo chí Việt Nam cũng không đề cập tới cuộc chiến này nữa. Điều đó khiến dư luận trong nước không đồng tình. Trung Quốc nói là “Dạy cho Việt Nam một bài học” nhưng một số tướng lĩnh trực tiếp chiến đấu năm 1979 chỉ rõ rằng, đó là cuộc chiến tranh xâm lược.

Phải sau đó 35 năm (2014), một số ít tờ báo trong nước mới nhắc lại cuộc chiến này. Và một lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh ở mặt trận phía Bắc mới được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang), hơn 200 cựu chiến binh và thân nhân đã tổ chức lễ dâng hương và tưởng niệm 600 người đã hi sinh, hơn 1.000 người bị thương trong chiến dịch MB84 ngày 12-7-1984 đánh chiếm ba cao điểm bị quân Trung Quốc xâm lược.

Nhưng từ đó đến nay, tất cả lại rơi vào im lặng.

Hàng năm, chúng ta có nhiều dịp kỷ niệm ngày chiến thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, nhất là chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và chống bọn Pôn Pốt nhưng riêng cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược năm 1979 và cuộc hải chiến Trường Sa thì bị bỏ qua.

Điều đó khiến người dân Việt Nam yêu nước rất bức xúc. Đặc biệt với những gia đình có con em bị thương vong trong 2 cuộc chiến này và các cựu chiến binh đã từng tham chiến. Bởi cũng là sự hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nhưng họ đã bị lãng quên trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 và hải chiến Trường Sa cần được đưa vào chương trình giáo khoa lịch sử cho các thế hệ học sinh và tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào dịp 17-2 và 14-3 hàng năm.

Có như thế mới bảo đảm sự công bằng của lịch sử!

Tướng Nguyễn Quốc Thước: Lãng quên là có tội! Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước: “Trong cuộc chiến tranh để bảo vệ biên giới năm 1979, quân và dân ta đã ...



http://petrotimes.vn/co-ai-quen-cuoc-chien-bien-gioi-viet-trung-1979-383971.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gần 6 tháng nay, các tàu ngầm hạt nhân của Mỹ liên tiếp xuất hiện ở chuỗi đảo thứ nhất, công tác bố trí binh lực tại Thái Bình Dương tăng lên rõ rệt

VietTimes -- Hơn 50% tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ đang ráo riết hoạt động tại vùng biển gần Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến khi cần.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Ảnh minh họa
Một số chuyên gia quân sự của Trung Quốc cho biết, tần suất hoạt động của tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương rõ ràng là nhằm vào Trung Quốc, là sự đe dọa lớn đối với Trung Quốc. Do đó, lực lượng tàu ngầm thông thường của hải quân Trung Quốc cũng cần áp dụng các biện pháp theo dõi, giám sát và chống tiếp cận.

Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tàu ngầm hạt nhân Charlotte của Mỹ xuất hiện tại thành phố Yokosuka của Nhật Bản ngày 23/12/2015
Theo nguồn tin, ngày 5/1/2016, tàu ngầm hạt nhân tấn công Texas thuộc lớp Virginia hiện đại nhất của Mỹ có mặt tại vịnh Subic của Philippines. 6 tháng trước đó, liên tiếp xuất hiện thông tin tàu ngầm hạt nhân của Mỹ ra vào ở chuỗi đảo thứ nhất, như ngày 23/6/2015, tàu ngầm hạt nhân SSGN-727 của Mỹ có mặt ở Busan (Hàn Quốc), ngày 15/7/2015, tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles mang ký hiệuHouston của Mỹ có mặt tại Singapore; ngày 27/7/2015, tàu ngầm Jacksonville thuộc lớp Los Angeles cũng xuất hiện ở Singgapore; ngày 4/11/2015 tàu ngầm hạt nhân tấn công Key West SSN-722 có mặt tại vịnh Subic.
Ngày 5/11/2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công North Carolina thuộc lớp Virginia của Mỹ có mặt tại thành phố Yokosuka của Nhật Bản; ngày 23/12/2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công mang ký hiệu Charlotte của Mỹ xuất hiện tại thành phố Yokosuka. Hiện tại, số lượng tàu ngầm hạt nhân mà Mỹ bố trí tại Thái Bình Dương đã chiếm một nửa trong tổng số tàu ngầm của quân đội nước này.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles của Mỹ
Theo nguồn tin, quân đội Mỹ đã bổ sung tên lửa hành trình tấn công mặt đất – hạt nhân Tomahawk. Tomahawk nổi tiếng với khả năng tiêu diệt quân địch ở cự ly hàng nghìn dặm. Đây là một loại vũ khí tấn công thọc sâu từ vòng ngoài hỏa lực phòng thủ của địch do Mỹ phát triển, với tầm bắn hiệu quả lên đến 2.500 km, có thể phóng đi từ các hệ thống phóng mặt đất, chiến hạm mặt nước hoặc tàu ngầm hạt nhân.
Ngoài khả năng tấn công các mục tiêu trên mặt đất ra, tên lửa hành trình Tomahawk có thể tấn công cả tàu chiến, là tên lửa “phóng ngoài vùng phòng không”có uy lực nhất của quân đội Mỹ. Trong các hoạt động quân sự của Mỹ, tấn công chính xác mục tiêu quan trọng ở cự ly hàng nghìn dặm chính là “vai diễn” sở trường của Tomahawk.
Tomahawk cũng nổi tiếng là một sát thủ vô hình. Toàn thân tên lửa được bao phủ bởi một lớp hấp thụ sóng radar, có tính năng như một chiếc áo tàng hình. Tiết diện phản xạ sóng radar của nó tương đối nhỏ, chỉ bằng 0,1% diện tích phản xạ hữu hiệu radar của máy bay ném bom B-52H, nên trở thành “vô hình” trước các radar tìm kiếm của đối phương.
Mỹ bố trí trên 50% tàu ngầm hạt nhân bao vây Trung Quốc, sẵn sàng khai chiến
Tên lửa hành trình tấn công mặt đất – hạt nhân Tomahawk nổi tiếng với khả năng tiêu diệt quân địch ở cự ly hàng nghìn dặm.
Hơn nữa, động cơ của Tomahawk cho phép tên lửa này có khả năng kiểm soát luồng khí phụt để có thể tự điều chỉnh độ cao và tốc độ khi bay, thậm chí nó có thể bay rất thấp và linh hoạt như một máy bay, cùng với kích thước nhỏ gọn nên nó rất khó bị phát hiện bởi các radar mặt đất.
Tomahawk vẫn còn giữ được “phong độ” vì liên tục được cải tiến về mọi mặt từ phương thức dẫn đường đến hệ thống đạn dược, hệ thống kiểm soát, hệ thống động cơ
Từ khi ra mắt đến nay, các thành viên của “gia đình Tomahawk” không ngừng lớn mạnh, và đã phát triển thành 7 loại biến thể như tên lửa tấn công mặt đất mang đầu đạn hạt nhân, tên lửa tấn công mặt đất đầu đạn thông thường, tên lửa chống hạm...
Ngoài ra, tàu ngầm hạt nhân lớp Los Angeles còn có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ tác chiến như chống ngầm như phong tỏa rải mìn.
Chuyên gia quân sự Doãn Trác của Trung Quốc cho biết, tần suất hoạt động của tàu ngầm tấn công hạt nhân Mỹ ở Thái Bình Dương – đặc biệt là những vùng biển gần Trung Quốc tăng lên rõ rệt. Hiện tại, tàu ngầm tên lửa hạt nhân tên lửa của Trung Quốc đã đưa vào hoạt động trong quân đội nước này để đối phó với năng lực đe dọa hạt nhân của nước Mỹ.
Mỹ rất quan tâm đến điều này, do đó bình thường đã nghiên cứu quy luật hoạt động của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc. Nhờ có thế mạnh tĩnh tâm và hành trình dài, tàu ngầm hạt nhân tấn công của quân đội Mỹ có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ trinh sát khi hoạt động ở các vùng biển gần Trung Quốc, đồng thời cũng đang chuẩn bị cho chiến lược tác chiến chống ngầm có thể xảy ra trong tương lai.
Phó viện trưởng Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc Nguyễn Tông Trạch cho rằng, Mỹ nâng cao tần suất hoạt động của tàu ngầm hạt nhân tấn công tại khu vực Tây Thái Bình Dương là xu thế tất yếu. Hiện tại ba tàu ngầm hạt nhân loại lớn của Mỹ đều đang có mặt tại khu vực này.
Tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ xuất hiện tại vùng biển gần Trung Quốc là để “dằn mặt” tham vọng bành trướng của Bắc Kinh trong thời gian qua. Mỹ sẽ cải tiến tàu ngầm hạt nhân tên lửa chiến lược thành tàu ngầm hạt nhân tên lửa hành trình, mỗi tàu ngầm có thể mang theo hơn 150 tên lửa hành trình đối đất, khi xảy ra chiến tranh có thể phát động tấn công bất cứ lúc nào.
H.L
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỔNG THỐNG OBAMA SẼ ĐẾN VIỆT NAM VÀO THÁNG 5/2016



Obama "tới Việt Nam vào tháng Năm"

BBC tiếng Việt
12h giờ HN, ngày 16.02.2016

Chính phủ Hoa Kỳ thông báo Tổng thống Barack Obama sẽ tới thăm Việt Nam vào tháng Năm tới.

Dường như ông Obama sẽ tới Hà Nội khi đang ở Á châu nhân tham dự Hội nghị Thượng đỉnh khối G7 tại Nhật Bản từ 26–27/5.


Nhà Trắng cho hay ông tổng thống đã nói với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng rằng ông nhận lời tới thăm Việt Nam.

Hai ông Barack Obama và Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp riêng hôm thứ Hai 15/2 bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean tại Sunnylands, tiểu bang California.

Thông cáo của Chính phủ Mỹ nói hai vị lãnh đạo đã thảo luận thúc đẩy quan hệ song phương.

Việt Nam và Hoa Kỳ kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hồi năm ngoái.

Cũng năm 2015, ông Obama đã đón Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng.

Trong chuyến thăm này ông Trọng đã ngỏ lời mời ông Obama sang thăm nhưng không có tin ông tổng thống đồng ý hay không.

Đây sẽ là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của ông Barack Obama.

Trước ông, có hai tổng thống Mỹ đã thăm Việt Nam sau 1975: Tổng thống Bill Clinton vào năm 2000 và Tổng thống George W. Bush vào năm 2006.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN kết thúc ngày làm việc thứ nhất


 .
RFA
2016-02-15

Ngày thảo luận đầu tiên của thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN đã kết thúc tại California. Các nhà lãnh đạo sẽ gặp lại nhau ở buổi cơm tối do Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama khoản đãi, và theo lời một viên chức của Nhà Trắng, mọi người đều đồng ý vừa ăn vừa nói chuyện tiếp, chứng tỏ thượng đỉnh diễn ra suôn sẻ, và có rất nhiều điều các nhà lãnh đạo muốn tiếp thục thảo luận với nhau.


Cũng xin nhắc lại thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN kéo dài 2 ngày, ngày đầu bàn thảo về hợp tác kinh tế, thương mại, ngày thứ nhì, tức là ngày mai, sẽ được dành để thảo luận về chính trị và an ninh, bao gồm tình hình biển Đông, tăng cường hợp tác chống khủng bố Nhà Nước Hồi Giáo ISIS, những biện pháp cần làm đối với Bắc Hàn và cả chuyện nhân quyền, tiến trình xây dựng dân chủ cũng được Tổng Thống Obama nói đến.

Khi nói đến nhân quyền và những bước tiến xây dựng dân chủ, điều được mọi người chú ý tới là trong số 10 nước ASEAN dự thượng đỉnh, chỉ có Indonesia và Philippines là 2 quốc gia Đông Nam Á có được nền dân chủ cởi mở, trong khi Lào và Việt Nam là những nước đang được điều khiển bởi chế độ cộng sản độc đảng; chính phủ Thái Lan đang được điều hành bởi chính phủ quân sự, mọi quyết định đều nằm trong tay Tướng Prayuth Chan-Ocha; điều khiển chính trường Campuchia là ông Hun Sen làm thủ tướng từ năm 1985 đến giờ; Tiểu Vương Sultan Hassanal Bolkhia của xứ Brunei cũng nổi tiếng là người độc đoán, dùng quy định Hồi Giáo để ban hành những đạo luật rất gắt gao, buộc người dân quốc gia nhỏ bé này phải tuân theo.

Mọi người cũng chú ý đến sự hiện diện của Thủ tướng Malaysia, ông Najib Razak, người đang bị dân chúng phản đối, cáo buộc tội lấy của công làm của riêng, và sự hiện diện của Tổng Thống Indonesia, ông Joko Widodo, xuất thân là một người bán đồ gỗ trước khi bước vào sinh hoạt chính trường và trở thành người lãnh đạo quốc gia đứng thứ tư trong danh sách những nước đông dân nhất thế giới.

Một điểm khác cũng được các nhà quan sát chú ý tới là thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN diễn ra vào đúng năm cuối cùng Tổng Thống Obama ngồi ở Nhà Trắng, và cũng là thời điểm một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á sửa soạn rời khỏi chức vụ họ đang nắm giữ.

Những nhà lãnh đạo ở trong trường hợp đặc biệt này gồm có Tổng Thống Thein Sein của Miến Điện sẽ mãn nhiệm vào tháng Tư, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ nãm nhiệm vào tháng Năm và Tổng Thống Benigno Aquino của Philippines sẽ mãn nhiệm vào tháng Sáu năm nay.

Thủ Tướng Dũng và Tổng Thống Aquino có mặt ở thượng đỉnh, nhưng Tổng Thống Thein Sein của Miến Điện chỉ cử một vị Phó Tổng Thống sang Hoa Kỳ phó hội.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới...

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược - Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.
Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương
Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?
Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15... hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.
Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.
Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt - Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.
Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979
Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?
Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.
Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.
Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.
Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 - Ảnh: Tư liệu
Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.
Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.
Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.
Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: "Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh". Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.
Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng
Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?
Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Ng.Phong
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 1: Đánh giập đầu điệp báo


Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 1
Khu vực gần mốc 3 (cũ), nơi Tổ công tác của Đồn Công an nhân dân Vũ trang Nghĩa Thuận bị lực lượng Vũ trang Trung Quốc bắt cóc trái phép, tháng 5.1977
10 ngày tuyệt thực
Đồn Biên phòng Nghĩa Thuận (thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Giang) giờ đóng ngay trung tâm xã Nghĩa Thuận (Quản Bạ, Hà Giang) cạnh khu chợ mỗi tuần 1 lần tíu tít đông vui và quấn quýt trường học, trạm y tế, cơ quan hành chính của xã.
Ít ai biết ngày 29.3.1959, tiền thân của đơn vị là Đồn Công an nhân dân Vũ trang Nghĩa Thuận ra đời và đứng chân ngay tại Đồn Na Tro Cai (do người Pháp xây dựng từ trước đây) với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên tuyến đường biên dài gần 40 km thuộc 2 xã Nghĩa Thuận, Cao Tả Tùng.
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 2
Mốc giới 18 cũ từ thời Pháp - Thanh phân định biên giới Việt - Trung, đang được trưng bày tại Đồn Biên phòng Tùng Vài (Quản Bạ, Hà Giang), sau khi đã cắm mốc mới
Ông Giàng Thìn Lù, nguyên Đồn trưởng Nghĩa Thuận (thời kỳ 1977-1984) đến giờ vẫn không quên thời điểm 1976-1977, khi ông là Đồn phó Trinh sát và cả đơn vị ngày đêm đối mặt với tình trạng lính Trung Quốc xâm nhập vũ trang, xâm canh lấn chiếm khu vực biên giới Nghĩa Thuận, Bát Đại Sơn.
Đỉnh điểm trong thời kỳ này là một đêm đầu tháng 5.1977, tại khu vực mốc 3 (đối diện thôn Hoàng Thèn, Bắc Bố, Trung Quốc) lợi dụng sương mù dày đặc, ỷ thế đông người, lực lượng vũ trang Trung Quốc đã mai phục, bắt cóc, đưa về bên kia biên giới cả tổ tuần tra gồm 6 cán bộ chiến sĩ do Trung úy - Đội trưởng Viên Đình Thượng phụ trách, đang trên đường tuần tra từ thôn Cao Mã Pờ về Đồn Nghĩa Thuận.
Lúc đầu, phía Trung Quốc dụ dỗ, mua chuộc từng chiến sĩ công nhận việc “vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc”. Không đạt được kết quả, phía Trung Quốc chuyển sang đe dọa, hành hung, hòng mong chiến sĩ ta công nhận vị trí cột mốc biên giới mà họ mới di chuyển là “đúng thực tế lịch sử”... Trong nhà giam đối phương, các chiến sĩ đã nêu cao khí tiết, kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu thủ đoạn lấn chiếm, hành động vu khống và đồng loạt tuyệt thực, yêu cầu phía Trung Quốc tôn trọng lịch sử, đưa cột mốc biên giới trở về đúng vị trí ban đầu.
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 3
Mốc 504 do Đồn Biên phòng Lũng Làn (Mèo Vạc, Hà Giang) quản lý
Ngay sau khi sự việc xảy ra, Ban Chỉ huy Công an nhân dân Vũ trang Hà Tuyên đã cử Đoàn cán bộ do đồng chí Ma Phúc Cung phụ trách, sang cơ quan Biên phòng Trung Quốc phản kháng, đòi phía Trung Quốc phải tôn trọng đường biên giới nguyên trạng lịch sử, yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho các chiến sĩ bị bắt trái phép và trao trả ngay cho phía Việt Nam.
Sau 10 ngày kiên trì phản kháng, phía Trung Quốc buộc phải trao trả toàn bộ 6 cán bộ chiến sĩ Đồn Công an vũ trang Nghĩa Thuận cùng với vũ khí, trang bị.
5 chọi 40
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 4
Bia Tưởng niệm ghi tên các Liệt sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung (Bát Xát, Lào Cai)
hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân Trung Quốc xâm lược
Lâu nay, cứ nhắc đến Đồn Biên phòng Lũng Làn (Mèo Vạc, Hà Giang) là người ta nghĩ ngay đến Liệt sĩ - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lộc Viễn Tài, người Đồn trưởng đã chỉ huy cán bộ chiến sĩ quyết liệt đánh trả quân Trung Quốc xâm lược ngay từ mờ sáng 17.2.1979, là người chặn địch cho thương binh rút vào rừng an toàn và hy sinh khi bắn đến viên đạn cuối cùng. Nhưng trước ngày 17.2.1979, Lũng Làn cũng đã từng đổ máu...
Đại tá Lưu Đức Hùng, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Hà Giang kể: Trước năm 1979, phần lãnh thổ giữa cột mốc 23, 24 - đoạn III là khu vực rộng gần 6 km2 thuộc bản Lũng Ly (xã Sơn Vĩ, huyện Mèo Vạc), do Đồn Công an Vũ trang Lũng Làn phụ trách. Đây là nơi đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc canh tác nên phía Trung Quốc rắp tâm lấn chiếm. Trong 3 năm (1975-1978), phía Trung Quốc đã 11 lần tổ chức lấn chiếm khu vực này, nhưng đều bị Công an Vũ trang Đồn Lũng Làn và nhân dân các bản Lũng Ly, Lẻo Trá Phìn đấu tranh ngăn chặn, đồng thời đẩy đuổi người Trung Quốc xâm canh, xâm cư lấn chiếm về phía bên kia đường biên giới.
Đỉnh điểm là ngày 10.8.1978, phía Trung Quốc cho 40 “xã viên” công xã Tà Sáy (chủ yếu là lính Biên phòng cải trang) xâm nhập khu vực giữa mốc 23 và 24 hì hục phát cây cuốc đất làm nương. Hành động này bị tổ tuần tra của Đồn Lũng Làn (gồm 3 chiến sĩ Nguyễn Vũ Dương, Hoàng Văn Nở, Nguyễn Văn Định) đang trên đường làm nhiệm vụ phát hiện.
Nhận thấy việc đấu tranh sẽ căng thẳng hơn những lần trước do tương quan lực lượng chênh lệch, cả tổ hội ý chớp nhoáng và quyết định cử chiến sĩ Nguyễn Văn Định quay về đơn vị báo cáo tình hình, xin thêm chi viện. Đồn cử thêm 2 chiến sĩ tăng cường và cả tổ 5 người vừa tiếp cận địa bàn, vừa tuyên truyền giáo dục, ngăn cản hành động lấn chiếm của “xã viên” Trung Quốc.
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 5
Trung tâm xã Sơn Vĩ (Mèo Vạc, Hà Giang) từng là nơi tập hợp nhân dân cùng bộ đội đến các điểm nóng ngăn chặn dân binh Trung Quốc lấn chiếm đất đai của đồng báo các dân tộc trong xã
Tháng 2 giữ đất cha ông - Kỳ 2: Chặn đứng âm mưu xâm lấn - ảnh 6
Bia Tưởng niệm ghi tên các Liệt sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung (Bát Xát, Lào Cai)hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân Trung Quốc xâm lược
Thấy lực lượng ta ít, các “xã viên” Trung Quốc la ó: “Công an vũ trang Việt Nam mờ mắt, đem vũ khí sang đất Trung Quốc, xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc” và dùng dao, cuốc bao vây 5 chiến sĩ, đòi bắt trói đưa về Công an xã Tà Sáy (Trung Quốc) xử lý.
Trước hành động hung hãn, cả tổ tựa lưng, chắn hậu cho nhau và dùng báng súng kiên quyết chống trả các đòn tấn công của các đối tượng côn đồ, đồng thời mở đường phá vây. Đội hình của các “xã viên” liên tục co vào, giãn ra theo thế chống trả của chiến sĩ ta. Lợi dụng địa thế có lợi, tổ trưởng Nguyễn Vũ Dương lệnh cho 2 chiến sĩ phóng mình qua vách đá, lùm cây chạy về đơn vị xin chi viện.
Cuộc chiến đấu của 3 chiến sĩ còn lại diễn ra trong hơn 2 tiếng đồng hồ, khiến nhiều tên côn đồ dính đòn phản công ngã gục. Thấy tổ công tác thấm mệt, các “xã viên” Trung Quốc ào lên tấn công từ 4 phía và dùng dây giật ngã chiến sĩ ta, trói chặt từng người.
Lợi dụng phút sơ hở khi các đối tượng côn đồ túm tụm chặt cây làm đòn khiêng chiến sĩ về phía Trung Quốc, chiến sĩ Hoàng Văn Nở trườn người, cọ dây trói lên cạnh đá sắc làm đứt dây. Sau đó, anh Nở dùng động tác võ thuật hạ tên đang đứng canh, cởi trói giải thoát cho 2 chiến sĩ Dương và Định.
Khi 3 chiến sĩ vừa thoát khỏi vòng vây, cũng đồng thời lực lượng chi viện do Đồn trưởng Công an Vũ trang Lũng Làn chỉ huy, cùng nhân dân các bản gần đó ào lên đấu tranh. Thấy lực lượng ta áp đảo, các đối tượng côn đồ xưng là “xã viên Công xã Tà Sáy” hò nhau tháo chạy về bên kia biên giới...
Năm 1978 có thể nói là thời điểm gian nan nhất của lực lượng Công an Vũ trang kể từ khi được thành lập, trong đó phải kể đến địa bàn tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang). Theo thống kê của Ban Chỉ huy Công an Vũ trang Hà Tuyên, trong năm 1978 đã xảy ra 32 vụ (tại 11 điểm) phía Trung Quốc lấn chiếm với tính chất hung bạo, khiêu khích ngày càng rõ rệt.
Ở phía Tây, khu vực Hồ Pả, Mã Tẻn (xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì) nhiều năm bị người Trung Quốc xâm canh trái phép. Ngày 20.7.1978, phía Trung Quốc lén lút di chuyển cột mốc và cho lực lượng vũ trang của họ mai phục, bắt trói tổ công tác 3 người của Đồn Công an Vũ trang Bản Máy, do Thiếu úy Nguyễn Xuân Thiều chỉ huy, đang làm nhiệm vụ tuần tra.
Lính Trung Quốc cải trang làm dân thường không chỉ bắt trói, khênh các chiến sĩ Công an Vũ trang về Trung Quốc mà còn la ó, vu khống tổ công tác “vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc”. Thấy chiến sĩ ta kiên quyết đấu tranh phản đối hành động bắt người sai trái và thủ đoạn đơn phương di dời cột mốc, lính Trung Quốc xúm lại dùng sống dao và báng súng đánh đập.
(Còn tiếp)
Mai Thanh Hải