Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

PGS Trần Lâm Biền: Đừng nôn nóng đề cử hầu đồng là di sản thế giới





(TT&VH) - Tôi không tán thành ý tưởng đệ trình hầu đồng lên UNESCO để hi vọng được xếp hạng vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể, ít ra là trong lúc này. Chúng ta chưa hề có một quá trình nghiên cứu và tìm hiểu cặn kẽ về hiện tượng này, trong khi hầu đồng hiện tại đã biến đổi quá nhiều so với bản chất thật của nó - PGS Trần Lâm Biền, Cục Di sản Văn hóa, khẳng định. Điều đáng nói, dù phản đối ý tưởng này nhưng ông chính là một trong những người có thâm niên nghiên cứu và bênh vực đạo thờ Mẫu cũng như tục hầu đồng từ nhiều năm nay.
Đồng “tỉnh” thì không có giá trị
PGS Trần Lâm Biền cho biết:
- Thật sự, hầu đồng sẽ rất hay nếu tiếp cận nó như một hiện tượng văn hóatâm linh. Muốn vậy, người ta phải tìm hiểu đầy đủ về đạo thờ Mẫu - “bệ đỡ” của hầu đồng. Đi xa hơn, cần hiểu được một hệ thống rất phức tạp những thần linh, tín ngưỡng, cách tư duy... liên quan tới dòng chảy của trục xương sống ấy. Khái niệm hầu đồng mới được nghiên cứu như một hiện tượng văn hóa từ khoảng 15 năm nay. Nhiều khi, bản thân giới nghiên cứu cũng có những sai lầm và lệch lạc trong việc tìm hiểu về nó. Điển hình là trường hợp liên hoan hầu đồng tại Kiếp Bạc cách đây vài năm, do một cơ quan nghiên cứu tổ chức. Kiếp Bạc là nơi thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo - TT&VH), và có tục lên đồng thật, nhưng đó là dòng Thanh Đồng trừ tà sát quỷ, khác hẳn với hình thức hầu đồng của đạo Mẫu. Vậy mà nơi tổ chức lại bố trí đưa hầu đồng của đạo Mẫu vào điện thờ... 
PGS Trần Lâm Biền
 
* Nhưng về bản chất, sự độc đáo của hầu đồng có xứng đáng để được đệ trình lên UNESCO không, theo ông?
 
- Về hình thức, hầu đồng chỉ có ý nghĩa nếu người hầu đồng thật sự đạt tới trạng thái yoga tinh thần một cách cao siêu. Có nghĩa, khi đó họ sẽ quên hết thực tại và bắt đầu tiếp cận được những bồng bềnh ảo ảnh thực hư, ẩn chứa trong tâm hồn và tư duy con người. Nếu không có điều ấy thì hầu đồng chỉ là một hình thức diễn xướng mà thôi.
Để phân biệt điều ấy, dân gian vẫn gọi vui bằng các khái niệm “đồng tỉnh” và “đồng mê”. Chẳng hạn, cách đây vài chục năm, hầu đồng không được tán thành. Có những con đồng tổ chức hầu đồng “chui” tại nhà, đang say sưa lên đồng nhưng cơ quan kiểm tra bước vào thì vẫn biết bỏ điện thờ chạy té tát. Như vậy là “đồng tỉnh” đấy (cười). Và “đồng tỉnh”, tôi cho rằng không có giá trị.

Hầu đồng đã đi xa khỏi bản chất của nó
* Vậy, ở góc độ diễn xướng, chẳng lẽ hình thức hầu đồng không có giá trị nào ư, theo ông?
- Tôi khẳng định lại, nếu không đạt tới tình trạng vẫn được gọi là “yoga tinh thần” thì hầu đồng chỉ là một buổi diễn xướng đơn thuần. Sự độc đáo nếu có nằm ở việc người hầu đồng trong cùng một vấn đồng lần lượt vào nhiều vai khác nhau... Nhưng chỉ vậy thì không đủ, cái ấy nghệ thuật sân khấu còn làm tốt hơn nhiều.
Theo như tôi biết, hầu đồng nguyên thủy không thay đổi nhiều trang phục theo từng giá đồng như vậy, và việc ban lộc, ban tiền cho người xem cũng chỉ là rất tượng trưng thôi. Còn khi vào đến thành thị hiện nay, hầu đồng nặng về phô trương, hình thức và bị biến tướng đi khá nhiều. 
Hầu đồng. Ảnh có tính chất minh họa
* Ông có thể nói cụ thể hơn?
- Tạm thời, tôi chưa nói tới việc hầu đồng bị lợi dụng vào mục đích mê tín dị đoan. Nhưng, đi vào thành thị, hình thức hầu đồng dần chịu sự chi phối của kinh tế, thương mại khi người ta gắn nó với các yếu tố của đời thường. Chẳng hạn là tâm lý “tốt lễ dễ kêu”, đồ lễ càng đủ đầy, càng nhiều càng tốt. Làm như vậy thì hầu đồng đã đi xa khỏi bản chất của nó quá nhiều. Rồi nói thẳng, các buổi hầu đồng hiện nay, “đồng tỉnh” thì nhiều mà “đồng mê” thì ít...
* Vậy quan điểm cuối cùng của ông là...?
- Muốn đệ trình lên UNESCO, chúng ta hãy đệ trình hầu đồng với đầy đủ những độc đáo và bản sắc riêng của nó, chứ không phải là khoe mẽ nhảy múa. Nếu không, đừng mong UNESCO công nhận nó vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể. Nói thẳng, trên thế giới họ đã quan tâm rất nhiều tới văn hóa dân gian, đã từng hiểu thế nào là saman giáo (các hình thức tôn giáo tín ngưỡng có hiện tượng thần linh “nhập” vào con người - PV) , từng hiểu những vấn đề về tâm linh, tín ngưỡng ở những vùng sâu của châu Phi và châu Mỹ Latin. Kiến thức, phương pháp và quá trình nghiên cứu của họ rất đầy đủ, đầy đủ hơn chúng ta rất nhiều. Chúng ta mang nghệ thuật hầu đồng tới, họ sẽ nhìn ngay được phần nào là thật, phần nào là giả trong đó.
Muốn đưa hầu đồng lên UNESCO phải chuẩn bị đầy đủ, phải nghiên cứu cẩn thận và làm bởi nhiều bộ óc lớn, phải có những người thật sự đau đáu đắm chìm với nó, chứ không phải là đơn giản cứ đệ trình lên là xong đâu.
* Xin cảm ơn ông!

Hoàng Nguyên (thực hiện)

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/pgs-tran-lam-bien-dung-non-nong-de-cu-hau-dong-la-di-san-the-gioi-n200908010119065.htm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Trí thức và sự tiến bộ của xã hội


Khái niệm “trí thức” xuất phát từ vụ án Dreyfus nổi tiếng ở Pháp cách đây hơn một thế kỷ (1894-1906), trong đó sĩ quan Dreyfus bị kết án phản quốc bằng các chứng cứ giả. Dreyfus được những người có tư tưởng tiến bộ, tiêu biểu như Emile Zola, Anatole France, George Clémenceau tập hợp thành lực lượng đông đảo đấu tranh đòi lại công lý cho ông ta, chống lại sự vùi dập, xuyên tạc sự thật, lừa dối công chúng của những kẻ nắm quyền hành. 

Sĩ quan Alfred Dreyfus
Cuối cùng, Dreyfus được trắng án và khôi phục danh dự sau 12 năm. Từ sau vụ án Dreyfus, đã không ít lần tương tự các nhà trí thức tập hợp lại với nhau để đưa ra các “tuyên ngôn của trí thức” về các vấn đề nóng bỏng của xã hội. Các tuyên ngôn đó nói chung có tính chất tiến bộ và khai sáng. Một ví dụ gần đây là “Tuyên ngôn của các trí thức Tunisia” vào năm 2012, chống lại các xu hướng nguy hiểm có nguy cơ xảy ra ở Tunisia như là chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tôn giáo hóa chính quyền.

Có những người dùng từ “trí thức” theo nghĩa hạn hẹp, khắt khe, coi rằng người trí thức phải là nhà tư tưởng lớn tiên phong với những tác phẩm triết lý lớn để đời. Khi giáo sư sử học James Kloppenberg ở Harvard gọi Barack Obama là “nhà trí thức thực sự, Tổng thống triết gia” thì bị một học giả nổi tiếng khác là giáo sư quan hệ quốc tế Barry Rubin ở Israel phản đối dữ dội. Lý do mà Rubin đưa ra là Obama không thật uyên thâm về lịch sử, triết học hay luật pháp, không viết được công trình lý thuyết lớn nào như là những bậc tiền bối John Adams, Thomas Jefferson và James Davidson. Nếu hiểu kiểu khắt khe như vậy thì số lượng người trí thức rất ít và không tạo thành một tầng lớp trong xã hội.

Để tránh cãi nhau một cách vô ích xem “ai là trí thức”, chúng ta có thể coi khái niệm “trí thức” là một khái niệm tương đối, thay vì tuyệt đối, tương tự như “giàu” và “nghèo” là những khái niệm tương đối. Như vậy, một người có thể là trí thức trong mắt người này nhưng chưa đạt mức trí thức trong mắt người khác.

Chúng ta cũng có thể coi những người có mức độ trí thức cao thì tạo thành tầng lớp trí thức ưu tú trong xã hội. Theo nhà kinh tế Friedrich August von Hayek (1899-1992), tầng lớp trí thức không chỉ gồm những nhà tư tưởng tiên phong, mà còn là tầng lớp trung gian giữa các nhà tư tưởng tiên phong và đại chúng, với vai trò “dẫn dắt đại chúng”, truyền đạt lại các tri thức, giác ngộ từ những nhà tiên phong đến đại chúng.

Thế nào là có mức độ trí thức cao?

Nói theo kiểu tâm lý học, một người càng có trí tuệ cao, tình cảm cao (đồng cảm với nỗi khổ của nhân loại) và quyết tâm cao thì mức độ trí thức càng cao. Thiếu một trong ba vế đó thì mức độ trí thức bị giảm đi. Không có quyết tâm thì chỉ là “trí ngủ”, thiếu tình cảm thì có thể thành quỷ dữ như Hitler, còn thiếu trí tuệ thì là nhiệt tình cộng với ngu dốt dễ dẫn đến phá hoại.

Có nhiều khi từ “trí thức” bị dùng với nghĩa xấu. Ngay trong vụ án Dreyfus, ban đầu từ “trí thức” được phe chống Dreyfus dùng một cách mỉa mai để chỉ những người ủng hộ Dreyfus như là những kẻ “hám danh, rách việc, kém hiểu biết thực tế nhưng lại thích chõ miệng vào việc không phải của mình”. Bản thân giới “có học” và tự nhận mình là “trí thức” cũng mắc một số căn bệnh khiến từ “trí thức” bị mang nghĩa xấu. Những căn bệnh phổ biến nhất là: thừa lý thuyết thiếu thực hành, thừa học vấn thiếu trách nhiệm, tự cao tự đại. Ở Việt Nam từ thời phong kiến có câu thơ: “Ai ơi chớ lấy học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Ngay ở Hà Lan ngày nay, từ “trí thức” hay bị hiểu là “học quá nhiều và có những quan điểm không thực tế về thế giới”. Ở Cộng hòa Séc, từ “trí thức” cũng được dùng để chỉ những người lắm triết lý viển vông xa vời thực tế. Tuy nhiên, người ta không thể phủ nhận rằng cố Tổng thống Vaclav Havel là một biểu tượng của nhà trí thức lớn đem lại thay đổi tốt đẹp cho xã hội Séc.

Có một số học giả coi rằng không có một tầng lớp trí thức chung của xã hội, mà mỗi giai cấp trong xã hội có đội ngũ trí thức riêng của giai cấp đó để phục vụ giai cấp đó. (Xem phân tích về các quan niệm về giới trí thức trong bài báo: Kurzman và Owens, The sociology of intellectuals, Annu. Rev. Sociol. 2002, No. 28: 63-90). Ví dụ như giai cấp vô sản có trí thức vô sản, giai cấp tư sản có trí thức tư sản, phe cánh tả có trí thức cánh tả, cánh hữu có trí thức cánh hữu. Tuy rằng việc phân loại này có thể còn đúng một phần nào đó, nhưng trong xã hội hiện đại ngày nay, sự khác biệt giữa một người “trí thức cao” và một người “kém trí thức” lớn hơn nhiều so với sự khác biệt giữa một người “trí thức cánh tả” và một người “trí thức cánh hữu”. Nếu là những người có “mức độ trí thức cao” thì dù theo “trường phái nào” cũng dễ gần nhau và dễ hợp tác với nhau vì lợi ích chung của xã hội.

Tất cả các hiểu biết của chúng ta về thế giới ngày nay (ví dụ như di truyền học hay vật lý lượng tử), tất cả các tư tưởng lớn (ví dụ như bình đẳng chủng tộc, giải phóng nô lệ, dân chủ và tự chủ ở các cấp) và các tiến bộ xã hội đều có công khám phá và truyền bá của các trí thức. Các nhà lãnh đạo lý tưởng của một đất nước và của toàn thế giới phải là những trí thức thực sự. Ngay từ thời phong kiến, người ta cũng đã nhận ra tầm quan trọng của tri thức trong lãnh đạo, qua việc tuyển quan bằng các kỳ thi. Đất nước nào, xã hội nào có tầng lớp trí thức càng mạnh và có chính quyền càng trí thức thì càng dễ phát triển, tiến bộ.

Làm sao để phát triển và phát huy vai trò của tầng lớp trí thức?

Ở đây, tôi chỉ xin nêu ra một số điểm khá hiển nhiên: 1) Nhận thức về sự kém cỏi của mình (hay là của giới trí thức của đất nước mình) để từ đó quyết tâm vươn lên; 2) Tăng đầu tư và tạo điều kiện cho sự phát triển của trí thức; 3) Cải thiện hệ thống giáo dục.

Nhận thức về sự kém cỏi của mình


Nhà văn Pháp Emile Zola cũng đấu tranh đòi công lý cho Alfred Dreyfus. Sự việc này đã được đưa vào bộ phim “Cuộc đời Emile Zola” (năm 1937). Ảnh: Cảnh nhà văn Emile Zola lên tiếng trong phiên tòa xử Dreyfus.

Dễ thấy rằng, so với thế giới, trí thức Việt Nam của chúng ta còn yếu. Tuy trong lịch sử của dân tộc có một số trí thức lớn như là Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, nhưng nhìn tổng thể thì đóng góp của Việt Nam cho toàn thế giới trong lịch sử còn rất khiêm tốn so với các nước khác. Còn nhìn vào thực trạng hiện nay, có thể thấy đóng góp của giới trí thức nước ta lại càng hạn chế, có lẽ trước hết bởi sự học hành không đến nơi đến chốn, tưởng là biết tuy rằng chưa biết, thêm vào đó là cách làm việc cẩu thả. Điều đó thể hiện điển hình nhất qua những đóng góp về dịch thuật. Có một lượng lớn các tác phẩm hay bằng tiếng nước ngoài, khi được dịch sang tiếng Việt bị sai rất nhiều, thậm chí đến mức làm sai hoàn toàn ý của tác giả. 


Cách đây ít hôm, tôi được đọc bản dịch tiếng Việt in ra vào cuối năm 2015 của cuốn sách “Xứ Đông Dương” (L’Indo-chine) của Paul Doumer (từng là Toàn quyền Đông Dương trong 5 năm, rồi về sau trở thành Tổng thống Pháp) viết năm 1905. Có thể nói ông Doumer là một người uyên bác, xuất thân từ một gia đình “vô sản” nhưng được hưởng nền giáo dục khai sáng của Pháp, và quyển sách của ông về Đông Dương là một tài liệu lịch sử quý báu mà có lẽ nhà sử học hay văn hóa học về Việt Nam nào cũng đều cần biết. Chỉ tiếc rằng, bản dịch tiếng Việt năm 2015 của nó bị sai một cách thô thiển, hầu như trang nào cũng sai, và chứa nhiều câu đọc tiếng Việt đã thấy ngớ ngẩn vô nghĩa chưa cần đối chiếu với bản gốc tiếng Pháp. Ai mà đọc và hiểu theo bản dịch này thì sẽ bị hiểu sai hết ý của Doumer và hiểu sai lịch sử. Và sách của Doumer không phải là sách duy nhất bị rơi vào tình trạng như vậy. Rất nhiều sách triết học, mỹ học, văn học, v.v. có bản gốc tiếng nước ngoài đang tồn tại ở Việt Nam bị dịch sai, và như vậy người Việt Nam chúng ta đã bị hiểu sai rất nhiều thứ, khiến cho mức độ tri thức và trí thức bị giảm đi.

Đầu tư cho chất xám và trí thức

Sự đầu tư kém cỏi cho các công việc trí óc là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới hạn chế chất lượng các sản phẩm tri thức, mà tình trạng sách dịch bị sai rất nhiều trên đây cũng là một ví dụ điển hình. So với thế giới, giá ô tô hay nhà cửa ở Việt Nam cao gấp mấy lần, nhưng giá của sách lại chỉ bằng một phần mấy, đã thế vẫn ít người mua, sách bán được ít tiền, người viết sách hay dịch sách đều chỉ nhận được rất ít thù lao, và do đó chất lượng của sách viết hay sách dịch cũng bị tồi tương xứng.

Trong khi đó, chỉ cần nhìn sang Trung Quốc và các nước láng giềng khác cũng đủ thấy những nơi khác họ coi trọng trí thức hơn như thế nào, trả công xứng đáng hơn cho những người hoạt động trí óc ra sao, và kết quả là họ phát triển nhanh hơn, trở nên văn minh hơn chúng ta như thế nào. Trong lần đi công tác ở Trung Quốc vào tháng 1/2016, tôi thật sự ấn tượng về sự tiến bộ, không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hóa của họ. Người Trung Quốc vốn mang tiếng ở bẩn và ồn ào, nói oang oang, nhưng ở những quán tôi vào ăn ở Trung Quốc đầu năm 2016 lại thấy họ nói nhỏ nhẹ không khác gì phương Tây – những quán tôi vào ở Hà Nội cuối năm 2015 mới là oang oang. Còn về sự ở bẩn, lạ thay, các nơi công cộng ở những thành phố như Thiên Tân và Trường Xuân của Trung Quốc mà tôi đến dịp đầu năm vừa rồi lại rất sạch sẽ và an toàn. Sự tiến bộ trên của Trung Quốc chắc chắn gắn liền với sự coi trọng giáo dục và trí thức, là những yếu tố đã làm cho con người và xã hội trở nên văn minh hơn.

Theo truyền thống hiếu học và tôn trọng giáo viên vẫn được giữ cho đến ngày nay, các trí thức ở Trung Quốc còn được coi trọng hơn cả ở phương Tây. Đặc biệt, các giáo sư ở Trung Quốc có thu nhập cao hơn là bác sĩ hay luật sư. Ngay cả các giảng viên trẻ ở Trung Quốc mà tôi gặp cũng có thu nhập tốt, có tiền để đi công tác nước ngoài thoải mái, có xe hơi riêng, chứ không chật vật như ở Việt Nam. Một buổi tối, họ dẫn tôi vào một quán KTV (karaoke) lịch sự, và ở đó họ hát đủ các thứ nhạc Trung, Nga, Anh, v.v., một chi tiết nhỏ nhưng chứng tỏ họ rất có tinh thần hòa nhập với thế giới về văn hóa.

Vấn đề cải thiện giáo dục

Nước Pháp có tội xâm lược Việt Nam, nhưng có công truyền bá vào Việt Nam một nền giáo dục khai phóng. Chính vì được hưởng một nền giáo dục khai phóng nên Việt Nam có được một tầng lớp trí thức ưu tú vào đầu thế kỷ 20 tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta cần phát huy truyền thống giáo dục khai phóng này, đổi mới giáo dục theo hướng đó, thay vì giáo dục theo lối gò bó, hình thức, giáo điều.

Có một số tín hiệu tốt trong giáo dục của Việt Nam gần đây, xuất phát từ các nỗ lực của những trí thức không nằm trong “hệ thống giáo dục” rồi được Bộ Giáo dục chấp nhận và ủng hộ, như là chương trình “sách hóa trường học” của Nguyễn Quang Thạch (đông đảo học sinh sẽ có được văn hóa đọc, sẽ biết đến không chỉ sách giáo khoa mà còn chủ động đọc nhiều sách khác, tự nâng cao hiểu biết qua việc đọc sách) hay “liên minh STEM” (cách học sinh động tích hợp khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học với nhiều thực hành thú vị) của nhiều nhóm tư nhân làm giáo dục (như là DTT, Long Minh, Sputnik Education, v.v.) hợp thành. Đây là những đóng góp quan trọng góp phần thay đổi nền giáo dục theo chiều hướng tích cực, sẽ góp phần nâng cao nền tảng văn hóa của Việt Nam, và hệ quả là tầng lớp trí thức tương lai nhờ đó mà mạnh lên.

Chúng ta có thể hy vọng rằng, với nền giáo dục trên thế giới ngày càng tốt lên, tầng lớp trí thức cũng sẽ ngày càng mạnh lên, và toàn thể thế giới sẽ ngày càng văn minh lên. Khi mức độ trí thức của xã hội càng cao lên, thì xã hội càng có nhiều yếu tố “xã hội chủ nghĩa” (giống như tiên đoán của Marx, hay của Schumpeter, hay của một số nhà triết học hay kinh tế khác, nhưng theo con đường và vì các lý do không hẳn giống như là Marx hay Schumpeter đưa ra). Như Einstein có nói, “thế giới này là của chung”. Những gì quan trọng nhất đều là “trời cho”, và tự do mưu cầu hạnh phúc không có nghĩa là vơ vét của chung thành của riêng, không có nghĩa là chiến tranh để tranh giành quyền lực. Một viễn tưởng “utopia” về một “xã hội đại đồng” cũng có thể đến một ngày nào đó khi mà toàn trái đất này sẽ đạt được mức độ trí thức đủ cao!

Nguyễn Tiến Dũng
(Tia Sáng)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hàng Trung Quốc đội lốt Việt : Người Việt tự giết sản xuất


"...Các nhà kinh doanh Việt Nam chủ động sang Trung Quốc đặt hàng, rồi dán nhãn Việt Nam, nhập trở lại để ăn chênh lệch giá..."
Hàng hóa Trung Quốc len lỏi khắp các ngóc
 ngách đời sống kinh tế của người dân
Người Việt tự hại hàng Việt
Thời gian qua, xảy ra tình trạng hàng tiêu dùng Việt Nam từ tăm tre, bông tai đến quần áo, hàng nông sản... đều bị Trung Quốc làm giả. Đề cập đến nguyên nhân của tình trạng này, ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội cho rằng, đó là vì hàng Việt đã lên ngôi một chút, một số mặt hàng đã có thương hiệu trong khi Trung Quốc đang thừa hàng hóa nên mới đội lốt hàng Việt.


Vừa qua, chênh lệch con số xuất nhập khẩu giữa Việt nam và Trung Quốc tới 20 tỷ USD chứng tỏ khối lượng hàng Trung Quốc vào Việt Nam rất lớn, trong đó phải đến một nửa là hàng lậu. Chính sách biên mậu của Việt Nam trước đây cho mỗi người dân gùi 2 triệu hàng miễn thuế khiến hàng Trung Quốc tràn vào Việt Nam và đến nay chính sách này đã phải dừng.

Riêng một số mặt hàng Trung Quốc vẫn không trộn và vẫn chiếm ưu thế trên thị trường Việt Nam, đó là đồ chơi trẻ em, hàng may mặc mà ở chợ Đồng Xuân, phố Lương Văn Can tràn ngập. Ngoài ra thuốc bắc, thuốc nam Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều ở chợ Ninh Hiệp...

Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội cho rằng, Việt Nam đã mở toang cửa quá, không kiểm soát ở biên giới mà kiểm soát ở khâu bán lẻ, tức là kiểm soát từ ngọn chứ không phải từ gốc.

"Đừng trách người dân Việt Nam ham rẻ. Vì nghèo nên người ta phải ham rẻ và có thể 10 năm nữa người ta mới ung thư, còn trước mắt chưa chết ai nên người dân vẫn cứ dùng hàng Trung Quốc. Lương công nhân 3 triệu đồng, thậm chí còn nợ lương, Tết còn phải tung hàng chục nghìn tấn gạo cứu đói, rồi thưởng Tết bằng gạch, quần đùi, tất... thì làm sao người ta không mua hàng Trung Quốc cho được ? Thị trường Việt Nam chia làm hai phân khúc tiêu dùng rõ rệt : người giàu vẫn tiêu thoải mái và đi siêu thị là chính, chỉ có người nghèo đi chợ, ăn hàng dởm, hàng giả, hàng đội lốt.

Từ trước tới nay người dân Việt Nam đã được cảnh báo nhiều về chất lượng hàng Trung Quốc nhưng đã nghèo thì cảnh báo vẫn chỉ là cảnh báo còn mua thì người ta vẫn cứ mua.
Ví dụ, mặc áo sơ mi Trung Quốc vào không chết ai, nếu có sờn một chút thì bỏ đi. Trước đây có complet Trung Quốc 70-80.000 đồng/bộ. Chính vì thế, nếu muốn chặn hàng Trung Quốc thì phải chặn từ biên giới, sản xuất trong nước phải mạnh lên, giá phải rẻ, như bóng đèn, phích nước Rạng Đông, bóng đèn điện quang, hàng Trung Quốc không tài nào tranh chấp được", ông Phú chỉ rõ.

Hệ quả của tình trạng đội lốt này, theo ông Phú, đó là hàng trong nước sẽ "chết" Nhà nước thất thu ngân sách. Thậm chí không loại trừ khả năng hàng Trung Quốc trà trộn vào hàng Việt Nam xuất khẩu đi nước ngoài.

Cũng bàn về tình trạng này, một chuyên gia đề nghị giấu tên thẳng thắn cho rằng, về bản chất, Trung Quốc không thể gian lận được. Câu chuyện hàng sản xuất ở Trung Quốc nhưng nhãn mác ghi "made in Vietnam" chính là gian lận thương mại, nó xảy ra là do các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu không chặt. Đặc biệt, bản chất của sự gian lận này là do các nhà kinh doanh Việt Nam chủ động tạo đất để hàng Trung Quốc vào Việt Nam. Đây là do người Việt Nam hại nhau chứ chưa chắc người Trung Quốc đã lừa được.

"Phần lớn là do các nhà kinh doanh thương mại Việt Nam chủ động sang Trung Quốc đặt hàng, rồi dán nhãn hàng Việt Nam đi đường tiểu ngạch nhập lại vào nội địa để ăn chênh lệch giá. Như vậy ở đây chính là người Việt đang làm hại người Việt và phải tự trách mình đầu tiên.

Việc nhập lậu hàng Trung Quốc vào Việt Nam đã là một hành động phá hoại sản xuất Việt Nam, còn việc doanh nghiệp mua hàng Trung Quốc dán nhãn hàng Việt Nam để kinh doanh ở Việt Nam thì đó là một thứ tội ác. Không trách được Trung Quốc khi xảy ra tình trạng này mà chính người Việt phải trách mình. Doanh nghiệp Việt làm ăn vô đạo đức, cơ quan quản lý làm không chặt dẫn đến sản xuất trong nước bị phá hoại", vị chuyên gia chỉ rõ.

Ông cũng đánh giá, phần lớn hàng Trung Quốc làm giả hàng Việt Nam tập trung vào chính thị trường tiêu thụ Việt Nam. Nếu để ý sẽ thấy họ chủ yếu làm giả hàng tiêu dùng có hàm lượng trí thức công nghệ thấp, những hàng không có quy chuẩn. Còn những hàng đã có quy chuẩn thì thường không làm giả được. Ngoài ra, các hàng đó có đối tượng tiêu thụ là người có thu nhập thấp nên tác hại lớn nhất của nó là phá hoại sản xuất ở Việt Nam. Các nhà sản xuất đàng hoàng, chân chính ở Việt Nam bị ảnh hưởng đầu tiên.

Đối tượng bị ảnh hưởng thứ hai là người tiêu dùng Việt Nam vì không có cách gì để kiểm tra chất lượng hàng hóa. Đối tượng thiệt hại thứ ba là Nhà nước vì không thu được thuế.

Ba cách để hạn chế hàng Trung Quốc

Các chuyên gia chỉ rõ, một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt tiếp tay cho hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt chính là vì chi phí sản xuất của hàng Việt quá cao.

Một con gà ở Việt Nam cõng đến 14 loại thuế phí, chi phí logistics của Việt Nam cao gấp rưỡi các nước trong khu vực thì làm sao có thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc. Dù biết vậy nhưng hàng Việt không thể hạ giá ngay được bởi phải đầu tư máy móc, đào tạo nhân lực, lo nguyên phụ liệu, đầu vào, đầu ra..., ông Phú bày tỏ.

Còn vị chuyên gia giấu tên cho rằng, Việt Nam phải chấp nhận chi phí sản xuất hàng hóa cao hơn Trung Quốc bởi Việt Nam đang ở cạnh Trung Quốc, nếu cạnh tranh về sản xuất với Trung Quốc thì bao giờ Việt Nam cũng thiệt hơn về giá vì Trung Quốc sản xuất cho 1 thị trường hơn 1 tỷ dân và họ chỉ "cấu" ra một phần nhỏ để xuất khẩu sang Việt Nam, bao giờ chi phí sản xuất của họ cũng rẻ hơn chi phí sản xuất trong nước Việt Nam.

Ông khẳng định, muốn hạn chế hàng Trung Quốc đội lốt có 3 cách :

Thứ nhất, Nhà nước dựng lên các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng. Tuy nhiên, thực tế là ở đây có hai mặt của chính sách : Trung Quốc xuất hàng vào Việt Nam thì đồng thời Việt Nam cũng xuất vào Trung Quốc, nếu Việt Nam áp dụng các rào cản kỹ thuật thì Trung Quốc cũng sẽ hành động tương tự. Cho nên hai bên cùng đang dễ dãi với nhau nên vừa cùng có lợi vừa cùng chịu thiệt, trong đó cái thiệt của Việt Nam nhiều hơn.

Thứ hai, phải kiểm soát hàng tiểu ngạch. Cách đây 20 năm hàng tiểu ngạch đi tắt qua biên giới với số lượng nhỏ, thậm chí chỉ phục vụ phần lớn thị trường sát biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng... Thời điểm đó Việt Nam có thể chấp nhận hàng tiểu ngạch ở một mức độ nào đó để phục vụ bà con ở khu vực biên gới. Nhưng bây giờ hàng tiểu ngách thậm chí còn nhiều hơn chính ngạch vì buôn lậu công khai, phổ biến, quy mô lớn nên nó sẽ phá hoại sản xuất trong nước. Chính vì thế, để hạn chế hàng giả Trung Quốc, khâu kiểm soát nhập khẩu ở biên giới phải làm gay gắt. Điều đgng buồn là nhiều chính quyền địa phương đang thả lỏng việc này để tạo điều kiện cho người dân ở vùng biên giới làm ăn kinh doanh. Nhưng nó chỉ giải quyết được nhu cầu của một số bà con ở khu vực biên giới, cuối cùng sản xuất trong nước lĩnh đủ.

Thứ ba, đánh vào tâm lý người Việt dùng hàng Việt. Tuy nhiên, vị chuyên gia giấu tên tỏ ra không mấy tin tưởng vào biện pháp này vì không thể nói một cách duy ý chí trong khi hàng Trung Quốc rất rẻ.

"Vấn đề lớn nhất vẫn là kiểm soát xuất nhập khẩu, thậm chí bãi bỏ tiểu ngạch, không chấp nhận vận chuyển hàng qua lối mòn biên giới, nhập khẩu theo kiểu kinh tế hộ gia đình, cá thể ở biên giói thì mới bảo vệ được sản xuất trong nước. Mà cái đó không khó gì vì hàng Trung Quốc nhập vào biên giới Việt Nam đi vào đường tiểu ngạch nào cuối cùng cũng ra quốc lộ. Phải làm chặt ở quốc lộ thì chắc chắn hàng lậu sẽ chết", vị chuyên gia góp ý.

Thành Luân

Nguồn : Đất Việt, 27/01/2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thư cụ Rùa gửi hậu thế


Rùa Hồ Gươm. Ảnh: internet
Thưa các quí vị
Trước hết rùa tôi cảm ơn người Hà Nội cũng như đồng bào gần xa đã tỏ lòng thương tiếc khi rùa mất đi vào chiều tối ngày 19-1-2016 trước thềm đại hội ĐCS XII như một điềm chẳng lành.

Thực ra rùa chẳng có lỗi gì trong chuyện này mà chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Sự ra đi do tuổi cao bệnh nặng, do hồ Gươm bị ô nhiễm nghiêm trọng, mầu nước xanh tảo không phải là môi trường dành cho loài rùa như cụ giáo sư rỗi việc phán như thánh. Sinh lão bệnh tử, âu cũng là qui luật của muôn đời.

Xin nói thêm về huyền thoại mà người đời dựng lên cho rùa. Nó chẳng liên quan đến chuyện trả kiếm của Lê Lợi hay cái móng giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Chỉ là con rùa bình thường, không có những đức tính cao quí hay thiêng liêng mà dân mê tính dị đoan, báo chí và các nhà rùa học dành cho những lời có cánh.

Chiều chiều bơi lội dưới hồ, ngước mắt nhìn lên cầu Thê Húc, trai thanh gái lịch dập dìu, thỉnh thoảng rùa cũng ghé xem chân dài nào mặc hở hang có đồ xanh đỏ của Victoria Secret hay Kiss Me. Không chay tịnh như các thần dân cúng bái ven hồ nghĩ.

Tại sao cứ thấy rùa nổi là mọi người cúng bái hả giời. Rùa nổi do thở bằng phổi, vài phút phải ngoi lên lấy khí như cái tay nhiếp ảnh Nhất Đình viết trên hang Cua. Chả liên quan gì đến thần thánh hay điềm giời may mắn. Rùa tôi tin tay phó nháy này vì hắn rất chịu khó săn ảnh các em váy ngắn ven hồ.

Hay là trên trần gian đã bị khủng hoảng niềm tin nên quí vị cứ thấy gì lạ coi như thần thánh hiển linh. Lạ, theo Mác Lê mà toàn cúng bái, xin thần thánh phù hộ ăn nên làm ra, giữ được ghế hay thăng quan tiến chức, đợt tới vào TW. Phật hay bất kỳ đạo giáo nào đâu có dạy tham sân si như thế.

Người ta tưởng rùa không có vợ hay chồng nên định tìm một bạn đời từ Đồng Mô để có thể đẻ hay thụ tinh. Cho tới giờ chính rùa tôi vẫn không thể xác định được mình là bà hay ông vì thấy gái rùa tôi dửng dưng, thấy trai rùa đôi lúc cũng vậy. Thế mới gay.

Nghe tin một nhà rùa học định lấy tinh trùng đưa vào đông lạnh để đợi lai tạo cho thế hệ sau mà thấy giới khoa học Việt Nam khó mà đóng góp gì cho đất nước. Thấu hiểu là cái nước mình tại sao không sản xuất nổi cái đinh ốc cho ra hồn.

Mong các quí vị giữ cái hồ này trong sạch, để cỏ lác mọc tự nhiên, nước điều hòa với sông Hồng, về lâu dài sẽ có những rùa khác xuất hiện. Không cho xây nhà cao tầng, không thêm những tượng đài hay hàm cá mập.

Đừng đưa cụ rùa Đồng Mô về hồ Gươm vì cụ sẽ theo rùa tôi trong vài ngày. Hai môi trường khác nhau sẽ giết chết bất kỳ loài rùa nào. Rùa Hà Nội quen ở bẩn, chen chúc mới chịu được cạnh tranh khốc liệt, đưa loài nơi khác về là …đi như cụ Bá.

Rời khỏi thế giới này, rùa tôi không hề cảm thấy quyến luyến cái hồ ô nhiễm nghiêm trọng đó với những con người dường như không biết tin vào đâu. Tuy thế, rùa tôi nhớ da diết cảnh thanh bình vào sáng sớm khi các bà ra thể dục nhịp điệu, ưỡn vú, dạng chân, ưỡn mông ngoáy tít theo nhịp nhạc từ cái loa í éo.

Kết thúc thư này, cảm ơn quí vị dành cho rùa tôi tình cảm tốt đẹp, nhưng cũng đừng khoác lên cổ rùa những vòng nguyệt quế, sự thần thánh, đạo đức hay tố chất mà loài cổ ngắn này không hề có.

Nghe tin ĐH XII xong, cụ Tổng Trọng tiếp tục làm TBT, rùa tôi xin có lời chúc mừng. Đấy nha, cái chết của rùa không ảnh hưởng đến sự kiện quan trọng này, nhất là ông Trọng nói trên tivi sáng nay “ĐH đã thành công rất tốt đẹp”.

Mà tôi bảo này, con rùa bị chết ở hồ Gươm mà chính là ba ba. Ba ba chết sớm chứ rùa sống lâu cả trăm năm vẫn đầy trong hồ.

Kính thư.

Ba Ba – hiệu Rùa.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

NHẬU NHIỀU, ĐỌC ÍT VÀ SỰ LÊN NGÔI CỦA VĂN HÓA GIẢI TRÍ RẺ TIỀN


Uống nhiều bia rượu, lười đọc sách là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa người Việt đến với văn hóa giải trí rẻ tiền.
Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề những thảm án liên tục xảy ra, con người cư xử với nhau ngày càng tàn bạo có một phần nguyên nhân từ việc uống nhiều bia rượu và thiếu đọc sách. Ths. Trương Khắc Trà băn khoăn rằng, chúng ta sẽ hội nhập thế nào?


Một bài trăn trở rất đáng để suy ngẫm về sự ngược đời đang xảy ra ở thời buổi hiện đại. Cứ thể này bảo sao chúng ta cứ giậm chân tại chỗ!

Những con số thống kê gây không mấy dễ chịu khi năm qua ngành văn hóa thu được 2000 tỷ đồng từ các hoạt động xuất bản với 24.000 cuốn sách, 375 loại ấn phẩm.

Một lĩnh vực khác xem chừng ít liên quan đến sách vở là 3 tỷ lít bia được tiêu thụ nếu quy ra tiền sẽ là 66.000 tỷ đồng, gấp 33 lần tiền mua sách và có thể xem là hệ quả khi Google vừa công bố 10 từ khóa người Việt truy nhiều nhất trên công cụ tìm kiếm này đều thuộc “địa hạt” của giải trí rẻ tiền.

Người Việt chi ra 3 tỷ đô la Mỹ để tiêu thụ 3 tỷ lít bia mỗi năm, nếu chia đều trên bình quân dân số mỗi người từ mới lọt lòng đến gần về thiên cổ sẽ “gánh” hơn 33 lít!

Một con số kinh hoàng, không sai nếu xếp bia rượu vào quốc nạn, nhớ ngày xưa Bác Hồ nói thực dân Pháp đầu độc dân tộc ta bằng rượu cồn… thì nay chúng ta đã tự mua cồn đầu độc chính mình.

Hệ quả chúng ta là nước luôn ở tốp dẫn đầu về tai nạn giao thông trong khu vực Đông Nam Á, khi số liệu từ Ủy ban An toàn giao thông quốc gia cho thấy trong 5 năm từ 2010 – 2015 trung bình mỗi năm có gần 9.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó bia rượu đóng vai trò không nhỏ.

Thậm chí nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông tại Việt Nam còn nhiều hơn lính Mỹ tử trận khi tham chiến tại Trung Đông.

Cứ đâu trên đất nước Việt Nam này cũng dễ dàng bắt gặp cảnh chén chú chén anh, nhậu từ trong nhà ra đến ngoài ngõ, bất kể đầu tuần hay cuối tuần các quán nhậu đều đông kín mít, đa phần là giới trẻ.

Bạn bè lâu ngày gặp nhau tay bắt mặt mừng: nhậu, ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp: nhậu, có chuyện vui: nhậu, gặp chuyện buồn: nhậu, hết giờ làm việc đồng nghiệp cùng nhau thư giãn: nhậu, ra ngoài đi công tác rồi “giao lưu”, “kết nghĩa": nhậu, có khách đến nhà: nhậu…bình thường không làm gì cũng…nhậu.

Dân ta có thừa tiền để uống bia nhưng lại dè dặt “tiết kiệm” hơn trong việc đầu tư cho phát triển tri thức khi con số do Cục xuất bản in và phát hành công bố mới đây số tiền thu được từ bán sách trong năm qua chỉ bằng…1/33 so với tiền uống bia! 2000 tỷ đồng không hơn.

Có gần 30 triệu người dân chưa bao giờ biết sách là gì, 44% dân số thỉnh thoảng đọc, coi như không bởi vì đọc sách không thể nào làm bạn với …cưỡi ngựa xem hoa!

Người Việt chỉ đọc 0,8 cuốn sách/năm, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.

Nghịch lý thay, một đất nước có 480 trường đại học, hàng trăm viện nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên trên dân cao ngất ngưỡng nhưng tại sao tỷ lệ đọc sách lại thấp đến vậy?

Những con số trên đã trả lời vì sao sinh viên Việt Nam thiếu kiến thức, vì sao những tấm bằng cử nhân ngày càng kém giá trị và vì sao bạo lực ngày càng tăng trong khi đạo đức luân thường xuống cấp nghiêm trọng…

Những thảm án liên tục xảy ra, con người cư xử với nhau ngày càng tàn bạo có một phần nguyên nhân từ việc uống nhiều bia rượu và thiếu đọc sách, không thể nào tiếp cận được với tri thức của nhân loại nếu không coi sách là cánh cửa buộc phải bước qua, rồi đây giới trẻ sẽ hội nhập và phát triển như thế nào nếu thiếu nền tảng tri thức cơ bản từ sách.

Uống nhiều bia rượu, lười đọc sách là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa người Việt đến với văn hóa giải trí rẻ tiền.

Bởi không một ai có thể đọc được sách sau khi đã chếnh choáng men rượu và càng không thể hấp thụ được văn hóa nghệ thuật đích thực khi tâm hồn và thị hiếu đã bị đầu độc theo nghĩa đen.

Phải là nói văn hóa giải trí rẻ tiền là bởi những gì người Việt kiếm tìm trên mạng trong một năm qua đều thuộc về những ca khúc giải trí mì ăn liền như “vợ người ta”, “không phải dạng vừa đâu”, “khuôn mặt đáng thương” và những bộ phim dài dằng dặc, phim bạo lực…thiếu vắng bóng dáng của nghệ thuật đích thực.

Đành rằng việc tra cứu thông tin thường theo thói quen nhưng thói quen lâu dần sẽ tạo thành tính cách và không ai trong tất cả chúng ta muốn rằng tính cách người Việt là vô tình, lãnh đạm, thờ ơ với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Những vấn đề của hôm nay mai sau sẽ trở thành lịch sử, đừng để con cháu chúng ta sau này lật những trang sử của cha ông trong sự ngỡ ngàng ngạc nhiên.

Đất nước đã tụt hậu nhiều mặt so với Lào, Campuchia, Myanmar, đó là sự thật chứ không còn là nguy cơ như những năm trước đây, tương lai đất nước có sánh vai được với các cường quốc năm châu hay không là phụ thuộc vào giới trẻ, đất nước cần sự tỉnh táo và trí tuệ của những người trẻ, hãy giảm rượu bia và phát động phong trào đọc sách ngay hôm nay nếu không muốn mãi tụt hậu.

ThS. Trương Khắc Trà

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHI TIẾT 11 ỦY VIÊN KHÓA 12 XUẤT THÂN TỪ CÔNG AN


Ông Phan Đình Trạc, người thay thế ông Bá Thanh sau khi ông Thanh qua đời

Trong số 200 ủy viên trung ương mới được đại hội bầu ra vào sáng 26/1, có 20 ủy viên khối Quân đội. Trong khi đó, chỉ có 5 ủy viên đang công tác trong ngành Công an. Tuy nhiên, thật ra còn có 6 ủy viên khác cũng xuất thân từ ngành Công an.

11 ủy viên trung ương khóa XII xuất thân từ ngành Công an gồm có các vị: Trần Đại Quang, Nguyễn Đức Chung, Phạm Minh Chính, Tô Lâm, Trương Hòa Bình, Phan Đình Trạc, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Văn Thành, Bùi Văn Nam, Trần Quốc Tỏ, Lê Quý Vương. Trong đó có 5 người hiện vẫn đang công tác tại Bộ Công an, bao gồm:


Đại tướng Trần Đại Quang sinh ngày 12/10/1956, quê tại Ninh Bình, hiện là Bộ trưởng Bộ Công an, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên. Trước đó, ông từng giữ các chứng vụ quan trọng như Thứ trưởng Bộ Công an, Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Cục trưởng Cục Tham mưu An ninh, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Tổng cục An ninh cùng nhiều chức vụ khác. Đại tướng có bằng tiến sỹ Luật và được phong hàm Giáo sư năm 2009.

Thượng tướng Tô Lâm sinh ngày 10/7/1957, quê ở Hưng Yên. Ông Lâm hiện là Thứ trưởng Bộ Công an. Trước đó, ông từng giữ chức vụ Tổng cụ trưởng Tổng cục An Ninh I cùng nhiều chức vụ khác. Ông có bằng Tiến sỹ và được phong hàm Giáo sư.

Thượng tướng Bùi Văn Nam sinh ngày 6/7/1955, quê ở Nam Định. Hiện ông là Thứ trưởng Bộ Công an, Ủy viên Trung ương Đảng. Trước đó, ông từng là Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Tổng cục trưởng Tổng cục V, thư ký Bộ trưởng Bộ công an, phó cục trưởng phụ trách công tác chính trị và tổ chức cùng nhiều chức vụ khác. Ông có học vị tiến sỹ luật, học hàm phó giáo sư.

Thượng tướng Lê Quý Vương sinh ngày 2/2/1956, quê ở Phú Thọ. Ông hiện là Thứ trưởng Bộ Công an. Trước đó, ông từng giữ chức Giám đốc Công an tỉnh Phú Thọ, Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng cùng nhiều chức vụ khác. Ông Vương có học vị tiến sỹ.

Trung tá Nguyễn Văn Thành sinh ngày 5/3/1957, quê ở Ninh Bình. Ông hiện là Thứ trưởng Bộ Công an. Trước đó, ông từng giữ các chức vụ như Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng, Chủ tịch HĐND TP Hải Phòng, Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng cùng nhiều chức vụ khác. Ông Thành có bằng Tiến sỹ Kinh tế, Cử nhân Luật và Anh văn.

Ngoài ra còn 6 vị Ủy viên Trung ương khóa XII khác cũng từng công tác trong ngành Công an, đó là:

Trung tướng Phạm Minh Chính sinh ngày 10/12/1958 tại Thanh Hóa. Ông Chính hiện là Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Trước đó ông từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng ninh, Thứ trưởng Bộ Công an, Tổng Cục trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Chuyên viên Cấp cao Văn phòng Chính phủ cùng nhiều chức vụ khác. Ông Chính có bằng Kỹ sư xây dựng, Tiến sỹ Luật và được phong Phó Giáo sư năm 2010.

Trung tướng Trương Hòa Bình sinh ngày 13/4/1955, quê ở Long An. Ông Bình hiện Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Trước đó, ông từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an, Cục phó Cục an ninh văn hóa A25, Phó Giám đốc Công an TP HCM, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP HCM, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Lực lượng cùng nhiều vị trí khác. Ông có bằng thạc sỹ Luật.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung sinh ngày 3/8/1967, quê tại Hải Dương. Ông Chung hiện là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng ủy Công an TP Hà Nội. Trước đó, ông Chung từng giữ các chức vụ quan trọng khác như Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống khủng bố thành phố, Ban Chỉ huy khẩn nguy hàng không thành phố; Phó Trưởng ban Chỉ đạo phòng chống tai nạn, thương tích thành phố, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công an TP Hà Nội cùng nhiều chức vụ khác. Ông Chung có bằng Tiến sỹ Luật và được phong hàm Thiếu tướng năm 2013.

Đại tá Phan Đình Trạc sinh ngày 25/8/1958, quê ở Nghệ An. Ông Trạc hiện là Phó ban thường trực Ban Nội chính Trung ương, quyền Trưởng ban Nội chính Trung ương. Ông từng là Giám đốc Công an Nghệ An, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An. Ông có bằng cử nhân Đại học An ninh.

Thiếu tướng Nguyễn Hòa Bình sinh ngày 24/5/1958, quê ở Quảng Ngãi. Ông hiện là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Ông từng làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm tham nhũng rồi chuyển qua làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi năm 2008 và là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tới năm 2011. Ông có bằng Tiến sỹ Luật và được phòng hàm Phó Giáo sư.

Thiếu tướng Trần Quốc Tỏ sinh ngày 28/1/1962, quê ở Ninh Bình. Ông hiện là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên. Trước đó, ông từng giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Phó thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Phó Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên cùng nhiều chức vụ khác. Ông có học hàm phó giáo sư ngành khoa học an ninh.

THEO VN TIN NHANH
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TQ bình luận việc TBT Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử: Công chúng Trung Quốc nên chúc mừng vị lão đảng viên 72 tuổi này của ĐCSVN!

Sáng 28/1/2016 (giờ Bắc Kinh), Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) phát đi bài xã luận dưới đầu đề “Nguyễn Phú Trọng tái nhiệm là tín hiệu tích cực nhưng không tuyệt đối”. Nguyên văn như sau:
Hội nghị toàn thể Trung ương khóa XII Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) họp ngày 27/1 đã bầu ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư Trung ương Đảng khóa mới. Sự tái nhiệm của ông trên chức vụ này được dư luận phổ biến cho là tín hiệu quan trọng thể hiện ĐCSVN muốn duy trì đường lối chính trị ổn định.

Đại hội XII ĐCSVN được dư luận phương Tây chú ý cao độ, họ tiến hành sự phân tích thổi phồng vấn đề “bè phái” trong nội bộ ĐCSVN, gọi Tổng Bí thư Trung ương khóa XI Nguyễn Phú Trọng là “phái Bảo thủ” và “phái thân Trung Quốc”, gọi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là “phái Cải cách” và “phái thân Mỹ”. Truyền thông phương Tây luôn suy đoán Nguyễn Tấn Dũng, người “dốc sức thúc đẩy đưa Việt Nam gia nhập TPP” rất có thể trở thành tân Tổng Bí thư ĐCSVN, tuyên truyền ông sẽ mở ra “kỷ nguyên mới” trong công cuộc cải cách ở Việt Nam.

Khi sắp tới thời điểm cuối cùng trước ngày khai mạc ĐH XII, đã xuất hiện sự thay đổi tin tức. Các tin tiếp theo chứng thực tình hình chắc chắn là Nguyễn Tấn Dũng từ bỏ cuộc chạy đua làm người lãnh đạo ĐCSVN, ông không vào Ban Chấp hành Trung ương mới, Nguyễn Phú Trọng tái giữ chức Tổng Bí thư Đảng. Thế là một số dư luận phương Tây cho rằng “phái Bảo thủ” và “thế lực thân Trung Quốc” chiếm ưu thế.

Nhưng sự phân tích của dư luận phương Tây về nội tình ĐCSVN là quá nông cạn, đây là căn bệnh cũ của phương Tây khi phân tích về các nước cộng sản. Dư luận phương Tây đặc biệt thích dùng “phái Cải cách” và “phái Bảo thủ” để phân chia tầng lớp lãnh đạo cấp cao của ĐCSVN, và dán nhãn mác “thân Mỹ” hoặc “thân Trung Quốc” cho hai phái này. Thực ra, dù cho ai nắm quyền lãnh đạo, hiển nhiên người đó sẽ đặt lợi ích của Đảng và Nhà nước Việt Nam lên hàng đầu, sự khác biệt về nhận thức của họ chưa chắc là không thể điều hòa được; đặc biệt, việc các nhân vật khác nhau được bầu làm Tổng Bí thư lại không có nhiều khả năng dẫn đến hậu quả khiến cho đường lối của nhà nước đi ngược với mục đích đã xác định.

Công cuộc cải cách của Việt Nam được dư luận rộng rãi cho là thành công. Không gian chính trị để nó đi chệch con đường hiện nay và bước mạnh theo mô hình “cải cách” của phương Tây là rất nhỏ. Cùng với việc Việt Nam mở cửa, sự thâm nhập chính trị của phương Tây đã xộc vào nước này. Các hậu duệ người Việt ở Mỹ có ý nguyện mạnh mẽ muốn lật đổ chế độ chính trị Việt Nam. Những điều đó tất nhiên sẽ làm ĐCSVN tăng cường cảnh giác, khiến họ quan tâm tới vấn đề phương hướng cải cách.

Việc xử lý tốt quan hệ với hai nước lớn Trung Quốc và Mỹ được rất nhiều nước Đông Á coi là “mạch sống” về ngoại giao, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Việt Nam coi Trung Quốc và Mỹ đều rất quan trọng, nhưng họ cũng có tâm lý đề phòng hai nước lớn này.

Trung Quốc là hàng xóm “lớn và có thật [nguyên văn chân thực]” của Việt Nam, Việt Nam gia nhập TPP nhưng việc Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của họ thì không thể thay thế. Điều càng quan trọng hơn là Trung Quốc, Việt Nam đều là nước xã hội chủ nghĩa, con đường cải cách của Việt Nam từ cải cách kinh tế đến xây dựng đảng rồi đến ngăn ngừa sự thâm nhập của phương Tây, đều hấp thu nhiều kinh nghiệm từ Trung Quốc. Vấn đề giữa Trung Quốc với Việt Nam là tranh chấp lãnh thổ, nhưng tranh đi tranh lại bao năm nay, hai nước đều bắt đầu hướng tới bình tĩnh, nghiêm túc suy nghĩ nên đặt việc tranh chấp lãnh thổ ở vào vị trí nó nên ở, không thể để nó trở thành toàn bộ mối quan hệ Trung-Việt.

Mỹ là anh cả của phương Tây, tự nhiên là mục tiêu trọng điểm trong chính sách đối ngoại mở cửa của Việt Nam. Ngoài ra, Hà Nội còn chịu sự quyến rũ mê hoặc của việc “lôi kéo Mỹ khống chế Trung Quốc” trong tranh chấp lãnh thổ. Việc phát triển mối quan hệ Việt-Mỹ cũng là chiều hướng tình thế chung. Song le vấn đề ở phía Mỹ là đồng thời với việc hợp tác, họ còn gieo rắc vào Việt Nam hạt giống “cách mạng màu”. Việt Nam khác Trung Quốc, nhiệm vụ chống đỡ sự lật đổ từ bên ngoài của họ nặng nề hơn, tình thế cũng nghiêm trọng hơn.

Việt Nam phải xây dựng chính sách phát triển đất nước trong một loạt nhân tố mâu thuẫn lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau. Họ cần có năng lực biết phân biệt thật giả và biết phân chia nặng nhẹ, cấp thiết và chưa cấp thiết. Họ càng đi về phía trước lại càng phát hiện không thể tấn công một điểm này mà bỏ qua các điểm khác, họ không thể nghe theo sự xúi giục của một khẩu hiệu nào đó, không thể bị quyến rũ bởi một cái tốt đơn độc nào đó, họ sẽ tự nhủ nên trù tính đầy đủ các mặt quốc sách, lấy ổn định để mà tiến xa.

Trong tình hình đó, Việt Nam rất khó triệt để “thân Trung Quốc” hoặc “thân Mỹ”, e rằng họ cần nhất là “thân ổn định vững bền”, “thân cân bằng lợi ích”.

Nguyễn Phú Trọng tái nhiệm và Nguyễn Tấn Dũng mất quyền tranh đua có lẽ làm cho dư luận phương Tây có chút chán nản thất vọng, nhưng người Trung Quốc hoàn toàn không có lý do sa đà vào logic phân tích của phương Tây, cho rằng mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam từ nay “ổn thỏa rồi”. Cuộc tranh chấp Nam Hải giữa Việt Nam với Trung Quốc có lẽ sẽ được quản lý, kiểm soát như tình hình mới đây đã hình thành, song [tranh chấp] sẽ không ngừng lại. Sự hợp tác Việt Nam-Mỹ cũng sẽ không vì Nguyễn Tấn Dũng ra đi mà xuống dốc.

Nhưng dù nói thế nào đi nữa thì việc Nguyễn Phú Trọng đắc cử là tín hiệu tích cực đối với sự phát triển mối quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam. Thể chế của ĐCSVN có đặc sắc “nhiều đầu não” [nguyên văn: đa đầu] nhưng Tổng Bí thư ĐCSVN có sức ảnh hưởng lớn nhất với đường lối của Nhà nước. Công chúng Trung Quốc nên chúc mừng vị lão đảng viên 72 tuổi này của ĐCSVN, chúng ta cũng hy vọng ông có thể dẫn dắt Việt Nam làm bạn tốt của Trung Quốc, để cho kế sách lớn phát triển của hai nước thích ứng với nhau, khiến cho các vấn đề giữa hai nước có thể được giải quyết thông qua hiệp thương.
nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/29/tq-binh-luan-nguyen-phu-trong-tai-dac-cu/

Phần nhận xét hiển thị trên trang