Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 khỏi vùng chồng lấn



Dân trí 
Thứ Ba, 19/01/2016 - 19:01
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 khỏi khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa miền Trung Việt Nam và thềm lục địa đảo Hải Nam Trung Quốc mà chưa được hai bên phân định.

Giàn khoan Hải Dương 981 (Ảnh: AFP)

Ngày 19/1/2016, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình đã nêu rõ phản ứng của Việt Nam về hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.

Theo ông Lê Hải Bình, các cơ quan chức năng Việt Nam cho biết, tối ngày 16/1/2016, giàn khoan Hải Dương 981 đã di chuyển đến vị trí cách đường trung tuyến giả định (giữa hai đường cơ sở Việt Nam – Trung Quốc) khoảng 21,4 hải lý về phía Đông.

"Ngày 18/1/2016, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội nêu rõ quan ngại của Việt Nam về việc Trung Quốc di chuyển giàn khoan Hải Dương 981 đến vị trí nêu trên. Đây là khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa miền Trung Việt Nam và thềm lục địa đảo Hải Nam Trung Quốc, là khu vực chưa được hai bên phân định", Người Phát ngôn cho hay.

Ông Bình nêu rõ: "Việt Nam yêu cầu Trung Quốc không tiến hành hoạt động khoan và rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi khu vực này; đồng thời Việt Nam bảo lưu mọi quyền và lợi ích pháp lý của mình đối với khu vực này phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và thực tiễn quốc tế liên quan”.

Hải Dương 981 là giàn khoan nửa chìm nửa nổi do Trung Quốc sản xuất. Trước đó, từ tháng 5- 8/2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Trang web của Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc ngày 28/12/2015 cho hay, giàn khoan Hải Dương 981 ngày 28/12 đã bắt đầu hoạt động thăm dò dầu khí tại khu vực mới ở Biển Đông.

Nam Hằng
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cách đối phó với sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc

china-economy_625x300_61414980210

Nguồn: Lee Jong-Wha, “Containing China’s Slowdown”, Project Syndicate, 23/09/2015
Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Các chuyên gia thường thích tranh luận về những viễn cảnh tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc, và hiện nay phe bi quan đang chiếm ưu thế. Dù Trung Quốc có một mẫu hình tăng trưởng kinh tế riêng biệt trong suốt ba thập kỷ qua nhưng rất nhiều người vẫn xây dựng dự đoán của mình dựa trên những bài học của các nền kinh tế khác. Vì thế, liệu viễn cảnh kinh tế Trung Quốc có thực sự tồi tệ như lời dự đoán của phe áp đảo không? Và, nếu sự thực đúng là như vậy thì làm thế nào để có thể cải thiện tình hình?
Tình trạng của Trung Quốc hiện khá nghiêm trọng. Nền kinh tế này tăng trưởng ở mức 7,4% trong năm ngoái, thấp nhất kể từ năm 1990; và nó sẽ khó có thể đạt được mục tiêu chính thức là 7% trong năm nay, và theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì nền kinh tế này có khả năng sẽ chỉ tăng trưởng được khoảng 6,3% vào năm 2016. Rõ ràng là hoạt động nội địa yếu kém và nhu cầu giảm dần từ bên ngoài đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực.
Trung Quốc cũng đang đánh mất động lực tăng trưởng về dài hạn khi tỷ lệ sinh sản và tỷ lệ hoàn vốn đầu tư giảm dần khiến việc mở rộng lực lượng lao động và tích lũy vốn bị suy yếu. Và Trung Quốc ngày càng khó có thể tận dụng được lợi thế từ việc tăng năng suất nhờ khoa học kỹ thuật.
Tất cả những thách thức này đã khiến nguyên Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Lawrence Summers và cộng sự tại trường Đại học Havard là Lant Pritchett đưa ra quan điểm rằng tăng trưởng của Trung Quốc có thể chậm lại còn 2-4% trong hai thập niên tới, khi mà nước này phải tuân theo mô hình tăng trưởng phổ biến trong lịch sử theo hướng “dần giảm xuống trung bình” (regression to the mean). Nhưng do mẫu hình tăng trưởng mang tính ngoại lệ của Trung Quốc từ trước đến nay thì nhận định cho rằng nó sẽ đột ngột chuyển hướng và đi theo một quỹ đạo phổ biến dường như khó có thể xảy ra.
Một nhận định còn nhiều khiếm khuyết khác đến từ Justin Lin, nguyên Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Ông Lin cho rằng Trung Quốc có thể đạt tăng trưởng hàng năm ở mức 8% trong hai thập niên nữa do có nhiều lợi thế, một trong số đó là “lợi thế của nước đi sau” vốn đã giúp Trung Quốc tăng năng suất nhanh chóng nhờ bắt kịp công nghệ với Hoa Kỳ. Nhưng quan điểm này không thỏa mãn được thuyết tăng trưởng chuẩn về “hội tụ có điều kiện”: chỉ những nền kinh tế có các đặc điểm cấu trúc tương đồng, như kỹ năng lao động và chất lượng thể chế, mới có thể đồng quy về các mức thu nhập bình quân đầu người.
Với những lý do trên, tôi chọn một quan điểm trung hòa hơn, dự đoán rằng tăng trưởng GDP tiềm năng bình quân của Trung Quốc sẽ rơi vào khoảng 5 – 6% cho tới năm 2030. Dự đoán tăng trưởng này được đưa ra dựa trên mô hình hội tụ có điều kiện hình thành từ chính các số liệu tạo ra bởi kinh nghiệm tăng trưởng độc đáo của Trung Quốc cũng như của những nền kinh tế khác trong ba thập kỷ qua.
Không giống với Lin, tôi tin rằng sự giảm tốc không thể tránh được của nền kinh tế Trung Quốc sẽ diễn ra. Nhưng, cũng không giống như Summers, tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ nghiêm trọng. Điểm mấu chốt của viễn cảnh này là các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đưa được nền kinh tế của họ tới một con đường tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn dựa trên những kỳ vọng thực tế. Họ không được phép mắc lỗi khi xử lý những thách thức không thể tránh được trong tương lai, ví dụ như những khó khăn bắt nguồn từ các yếu kém về thể chế trong nước, bất ổn chính trị và các cú sốc từ bên ngoài.
Bước đầu tiên trong bất kỳ chiến thuật có hiệu quả nào là cần phải nhận ra rằng trong một nền kinh tế lớn và khó dự đoán như vậy, chính phủ không thể dựa vào biện pháp can thiệp trực tiếp hay các chính sách kinh tế vĩ mô. Thay vì vậy, chính phủ cần phải thực hiện các cải cách nhằm thúc đẩy năng suất và chống lại những áp lực kéo tăng trưởng đi xuống.
Các cải cách ở những thị trường yếu tố sản xuất – như lao động, đất đai và tài chính – là tối cần thiết. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải nâng cao tính linh hoạt của thị trường lao động và tính lưu động của người lao động; làm cho việc sử dụng đất, mua bán và đền bù đất hiệu quả hơn; và xây dựng một hệ thống tài chính dựa trên thị trường nhiều hơn.
Hiện tại, hệ thống tài chính của Trung Quốc bị điều tiết quá nhiều và bị thống trị bởi các ngân hàng, trong số đó rất nhiều ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. Để thay đổi điều này, chính phủ cần phải đẩy mạnh phân bổ tín dụng theo cơ chế thị trường. Trung Quốc cần một nền tài chính linh hoạt và hiệu quả, được nâng đỡ bởi một thị trường vốn được giám sát và điều hành sát sao, nhằm tránh các bong bóng tài sản và hỗ trợ những công ty có hiệu suất và khả năng sáng tạo cao.
Tương tự như vậy, các chính sách đề cao sáng tạo khoa học kỹ thuật và cải tiến ngành nghề thường xuyên có thể góp phần tăng năng suất. Và các biện pháp nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước – ví dụ như củng cố bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ – có thể nuôi dưỡng sự sáng tạo.
Cải cách khu vực quốc doanh khổng lồ của Trung Quốc cũng sẽ làm tăng mạnh năng suất. Các cải cách doanh nghiệp nhà nước (SOE) được tuyên bố gần đây là một bước đi đầy hứa hẹn. Bên cạnh thúc đẩy đa chủ sở hữu các nguồn vốn bao gồm cả vốn tư nhân, tăng cường quản trị doanh nghiệp và hỗ trợ các hoạt động thương mại, những cải cách này còn hứa hẹn sẽ mở cửa các lĩnh vực về năng lượng, tài nguyên và viễn thông cho các nhà đầu tư ngoài quốc doanh. Đợt cải tổ doanh nghiệp nhà nước mới nhất này cần phải được theo đuổi một cách lâu dài.
Những nỗ lực kể trên nhằm tăng năng suất càng trở nên quan trọng hơn khi Trung Quốc chuyển hướng từ tăng trưởng dựa trên xuất khẩu và đầu tư sang mô hình tăng trưởng bền vững hơn dựa vào tiêu thụ nội địa và dịch vụ. Tái phân bổ các nguồn lực từ các ngành công nghiệp có định hướng xuất khẩu sang các hoạt động dịch vụ có thể gây ra sự sụt giảm năng suất khó có thể đảo chiều. Tương tự như vậy, trong khi các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tăng lương sẽ khiến thu nhập hộ và và tiêu thụ nội địa tăng lên thì nó cũng có thể gây xói mòn tính cạnh tranh xuất khẩu của nước này và làm giảm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do nếu chỉ dùng riêng các chính sách tái cân bằng thì Trung Quốc sẽ khó có khả năng nâng tăng trưởng sản lượng bình quân lên đáng kể; vì thế, tăng cường năng suất chính là mấu chốt để có được sự thịnh vượng cho Trung Quốc trong dài hạn.
Miếng ghép cuối cùng cho bức tranh Trung Quốc chính là một nhãn quan thực tế. Hiện tại, chính phủ Trung Quốc muốn duy trì tăng trưởng ở một mức tạm chấp nhận được là khoảng 7%/năm song song với việc theo đuổi tái cân bằng và cải cách. Rủi ro ở cách tiếp cận này là trước khi các biện pháp cải cách có hiệu quả, chính quyền có thể dựa quá nhiều vào các gói kích thích ngắn hạn để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và làm trầm trọng thêm sự phân bố lệch lạc các nguồn lực cũng như các điểm yếu về mặt cấu trúc. Nếu xét đến tổng nợ của Trung Quốc năm ngoái chạm ngưỡng 282% GDP – vượt trên cả mức nợ của Mỹ – thì việc cho các chính quyền địa phương và doanh nghiệp tư nhân vay một cách bất cẩn thông qua các hoạt động ngân hàng ngầm (shadow banking) sẽ khiến nền kinh tế phải đối mặt với rủi ro ngày càng lớn về một cuộc khủng hoảng tài chính.
Để tránh kết cục đó, Trung Quốc nên giảm mục tiêu tăng trưởng xuống còn khoảng 6% trong những năm tới. Như vậy, đất nước này sẽ vẫn có thể theo đuổi những cải cách tận gốc cần thiết để đưa nền kinh tế đi theo hướng tăng trưởng dài hạn cân bằng và bền vững hơn.
Lee Jong-Wha, Giáo sư Kinh tế và Giám đốc Viện Nghiên cứu Châu Á, Đại học Korea, là Chuyên gia Kinh tế Trưởng kiêm Trưởng Văn phòng Hội nhập kinh tế Vùng, Ngân hàng Phát triển châu Á, và là cố vấn cấp cao về các vấn đề kinh tế quốc tế của cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung bak.
Copyright: Project Syndicate 2015 – Containing China’s Slowdown
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2015/10/16/cach-doi-pho-voi-su-giam-toc-cua-nen-kinh-te-trung-quoc/#sthash.0XkYZZeu.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyện!

Lan Bùi 

Nồi cơm trên bếp tiền trong túi
Biết giấu vào đâu tránh lũ này
Cứ đánh nhau đi cho chết bớt
Đừng làm liên lụy cháu con tôi..


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đúng là trí tuệ VN hiện nay có vấn đề rất lớn, rất đáng quan ngại, lo lắng!...


VUI THẬT, TRÍ TUỆ VN! Là sao nhỉ? Từ người đứng đầu đất nước, đứng đầu các Bộ ban ngành TW, QH; đến các GS, TS, các nhà chuyên môn cao cấp mà phát ngôn cứ lú lẫn, tào lao, vô tiền khoáng hậu như vậy sao cứ mong đất nước cất cánh được. Đúng là trí tuệ VN hiện nay có vấn đề rất lớn, rất đáng quan ngại, lo lắng!...


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII: MONG CHỜ NGƯỜI ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN HẾT


“Tuyệt đại đa số người dân đều mong muốn các vị lãnh đạo nhiệm kỳ mới là những người có tư duy đổi mới, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”.
Trước thềm Đại hội Đảng, ông Hà Sỹ Đồng - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Phó trưởng đoàn đại biểu QH tỉnh Quảng Trị chia sẻ với VietNamNet kỳ vọng của ông về sự kiện trọng đại này:
Mặc dù hiện nay FDI vẫn là khu vực mạnh nhất song động lực của nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ phải là kinh tế tư nhân.
Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng 12 cũng đã nêu: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Hà Sỹ Đồng, Đại hội Đảng 12, lãnh đạo, nhiệm kỳ mới
Phó trưởng đoàn đại biểu QH tỉnh Quảng Trị Hà Sỹ Đồng phát biểu trước QH. Ảnh: Minh Thăng
Trên nền tảng pháp lý mới, tiến trình cải cách thể chế và tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh đang từng bước được triển khai.
Khu vực kinh tế nhà nước đang dần được cơ cấu lại để rút về đúng vị trí của mình, phát huy vai trò chủ đạo đã được hiến định. Khu vực doanh nghiệp FDI đang có những phát triển đột phá, đóng góp quan trọng vào thành quả tăng trưởng kinh tế chung những năm qua.
Và khu vực kinh tế tư nhân đã có động lực phát triển mới, tiếp tục được cổ súy, được tháo gỡ khó khăn, được tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi để dần trở thành trụ cột thực sự của nền kinh tế.
Dù còn rất nhiều tồn tại, hạn chế trong thực hiện đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá hơn, khả thi hơn với quyết tâm chính trị lớn hơn, tiến trình cải cách vẫn đang chuyển động và quan trọng nhất là đang chuyển động đúng hướng. Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội 12 đã ghi nhận điều này.
Là đại biểu Quốc hội quan tâm nhiều đến vấn đề cải cách thể chế, theo ông đâu là những “điểm nghẽn” quan trọng cần tháo gỡ?
Tôi đã từng phát biểu tại Quốc hội là các nỗ lực tái cơ cấu kinh tế trong nước đang bị dồn nén cùng với sức ép cải cách đến từ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực gia tăng, đòi hỏi Việt Nam nhất thiết phải quyết liệt hơn trong cải cách thể chế, đặc biệt là cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Tiêu chí cần đạt tới là: Nhà nước dần trở về đúng vị thế kiến tạo phát triển của mình và bộ máy nhà nước hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả.
Nỗ lực và thành quả trong khâu lập pháp là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các khâu thực thi và giám sát thực thi pháp luật, nói cách khác là năng lực triển khai, thì đang khá là “vấn đề”. Nút thắt thể chế chính nằm ở đây.
Khu vực kinh tế tư nhân còn yếu kém về quy mô, về năng lực cạnh tranh, chưa thực sự được bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, rõ ràng cũng là một điểm nghẽn.
Thể chế kinh tế thị trường còn non trẻ, chưa thực sự phát triển đầy đủ, đồng bộ, đang trong quá trình vừa “dò” vừa ngập ngừng “tiến”, là một hạn chế lớn.
Việt Nam đang đứng trước ngưỡng hội nhập quốc tế sâu rộng với các hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn trên thế giới đang và sắp mở ra.
Song cũng cần phải lường đến nguy cơ áp lực hội nhập tiếp tục không chuyển hóa thành động lực thúc đẩy cải cách trong nước, cơ hội không xuất hiện mà thay vào đó là những thách thức hiện hữu gây chèn ép, o bế kinh tế nội địa, làm trầm trọng thêm các vấn đề nội tại trong nước nếu như tâm thế và nội lực chúng ta chưa thực sự sẵn sàng cho một “cuộc chơi mới”.
Đại hội Đảng 12 sẽ đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về đường hướng phát triển của đất nước cũng như chọn lựa đội ngũ lãnh đạo chủ chốt trong nhiệm kỳ tới. Là lãnh đạo một địa phương miền Trung, ông đặt kỳ vọng như thế nào vào Đại hội lần này? Mong muốn của ông về ban lãnh đạo mới của đất nước?
Không riêng tôi mà tôi nghĩ tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đều mong muốn các vị lãnh đạo nhiệm kỳ mới là những người có tư duy đổi mới, và trước nhất là những người luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.
Mấy năm trước tôi đã đọc một bài báo, có đoạn: “Đất Việt đã nhiều phen nguy biến, nhưng khi nào những người lãnh đạo cao nhất khiến nhân dân tin rằng, với họ "Tổ quốc là trên hết" thì nhất định sẽ vượt qua bất cứ thử thách nào”.
Tôi rất tâm đắc với những dòng này, và tôi nghĩ đó cũng là câu trả lời khái quát nhất cho câu hỏi của bạn.
                                                                                              Theo: vietnamnet.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRỌN VẸN LỄ TƯỞNG NIỆM TỬ SĨ HOÀNG SA TẠI HÀ NỘI 19.01.2016



Tường thuật Lễ tưởng niệm anh linh 
74 tử sĩ Hoàng Sa
 .
Sáng nay, khoảng 200 người dân Hà Nội theo lời thông báo của No U Hà Nội đã mang hương, hoa tới chân tượng đài Lý Thái Tổ, Hồ Gươm để tưởng niệm anh linh của 74 Anh hùng Liệt sỹ của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại trận Hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 - 42 năm trước. 

Tham dự buổi lễ là các vị lão thành cách mạng, nhân sỹ, trí thức, các sinh viên trẻ trong trang phục chỉnh tề, đầu đeo ruy băng xanh nước biển với dòng chữ trắng “NHÂN DÂN KHÔNG QUÊN”.

Mỗi người một bông hoa, một nén tâm nhang thành tâm cầu nguyện cho những người đã hy sinh vì tổ quốc.


Bài “Chiêu hồn tử sĩ” được cất lên bởi tiếng đàn của nghệ sỹ Tạ Trí Hải, khiến cho buổi tưởng niệm thêm xúc động, thêm lòng căm phẫn kẻ thù Trung Quốc và những kẻ trong bộ máy chính quyền đã bán mình cho Tàu Cộng. 

Vào ngày 19/01/1974, chính quyền Trung Cộng đã nổ súng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và giết hại 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đang bảo vệ mảnh đất thiêng liêng đó của Tổ quốc.

Cho đến ngày hôm nay, điều đó vẫn không thay đổi. Trung Cộng vẫn tiếp tục chiếm đóng, xâm lấn biển đảo và giết hại, áp bức đồng bào ta. Chính quyền cộng sản Trung Quốc ngày càng bộc lộ rõ nó là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất tới hoà bình và sự phát triển của dân tộc Việt Nam.

Hôm nay, Hà Nội đã cử một lực lượng an ninh vừa phải tới hiện trường để giám sát buổi lễ. Một số nhân viên an ninh quay phim ghi lại những hình ảnh của buổi lễ tưởng niệm.

Không có dư luận viên nào được điều tới để phá đám. Tất cả các nhân viên an ninh có mặt không hề có bất cứ một động thái nào ngăn cản, đàn áp, hoặc đe dọa nhóm người tham gia lễ tưởng niệm.

Trước đó, đêm qua, không có nhà ai bị chính quyền sở tại đến thăm và đe dọa. Sáng nay cũngkhông có bất cứ cuộc gọi nào của an ninh các cấp. Cũng không ai bị chặn cửa, đổ mắm tôm, khóa trái cửa hoặc bị đeo bám. 

Tất cả các hoạt động trong dự kiến của anh chị em No U đều được thực hiện trọn vẹn. Buổi lễ diễn ra trong vòng 20 phút, ở những phút cuối, bát hương bốc cháy đùng đùng như linh hồn cáctử sĩ Hoàng Sa và anh linh Hoàng đế khai sáng Thăng Long hiển linh chứng giám tấm lòng thành của buổi lễ và chứng giám cho tấm lòng của những người có tâm trong chính quyền thành phố Hà Nội.

Buổi lễ, đặt hoa tưởng niệm còn có mấy chục cháu bé được cô giáo đưa đi thăm quan đi ngang qua, cũng cùng các bác các chú cô đặt hoa cho các tử sĩ Hoàng Sa.  

Anh Lã Việt Dũng - thay mặt anh chị em đọc Diễn văn tưởng niệm 74 tử sĩ Việt Nam Cộng Hòađã hy sinh tại Hoàng Sa 42 năm trước:
Kính thưa anh chị em cô bác! 
Cách đây đúng 42 năm - ngày 19/01/1974 - chính quyền cộng sản Trung Quốc đã nổ súng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, giết hại 74 quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, những người đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ Tổ quốc. 
Hôm nay, trong giờ phút linh thiêng, xúc động này, chúng ta có mặt ở đây để tưởng nhớ và tôn vinh những người con thân yêu của Tổ quốc đã hi sinh thân mình để bảo vệ mảnh đất cha ông. Chúc các anh yên nghỉ nơi biển sâu sóng dữ, chúc cho gia đình, người thân các anh được ấm no, hạnh phúc, được tôn trọng và thừa nhận trong lòng nhân dân Việt Nam! 
Kính thưa anh chị em cô bác! Lịch sử luôn công bằng và không dễ bị bóp méo bởi những luận điệu xuyên tạc. Sự thật rõ ràng là các anh, 74 quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, đã anh dũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, không một ai bỏ chạy hay đầu hàng trước quân thù mà giờ đây nhiều kẻ đang gọi là bạn, là đồng chí. Nhưng cũng chính vì lẽ đó mà sự hi sinh của các anh bị rơi vào quên lãng, thậm chí bị xúc phạm cho đến tận hôm nay. Vì vậy, việc chúng ta có mặt ở đây để thắp một nén hương tưởng nhớ các anh là một sự tri ân, một sự khẳng định người dân Việt Nam không bao giờ quên công ơn, xương máu của các anh, cũng như không bao giờ quên mảnh đất biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu đang nằm trong tay giặc. 
Kính thưa anh chị em cô bác! Chúng ta, người dân Việt Nam, không ghét bỏ hay hận thù nhân dân Trung Quốc; nhưng chúng ta có trách nhiệm phải khẳng định, phải lên tiếng rằng chính chính quyền cộng sản Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất tới hoà bình và sự phát triển của nhân dân Việt Nam. Từ khi xâm chiếm Hoàng Sa đến nay, Trung Cộng không ngừng dùng mọi biện pháp xâm lấn, chiếm đóng, chia rẽ, mua chuộc, áp đặt tư tưởng lên nhân dân Việt Nam dù bằng chiến tranh hay dưới vỏ bọc hoà bình, hữu nghị. Họ không phải là bạn bè, càng không phải là đồng chí. Không có đồng chí nào lại liên tiếp gây chiến từ Hoàng Sa 1974, biên giới phía Bắc 1979 đến Gạc Ma - Trường Sa 1988; không có bạn bè nào ngang nhiên cắm giàn khoan thăm dò dầu khí vào lãnh thổ người khác; càng không có cái hữu nghị nào trước kẻ thù luôn tìm cách lũng đoạn kinh tế, chính trị và tuồn hàng hoá, thực phẩm độc hại vào đất nước Việt Nam bằng vỏ bọc hợp tác, hoà bình. 
Kính thưa anh chị em cô bác! Chúng tôi tin rằng phần lớn người dân Việt Nam ngày nay đã thức tỉnh trước hiểm hoạ Trung Quốc, ngoại trừ một số kẻ nhắm mắt làm ngơ để giữ quyền lực và trục lợi. Những kẻ đó, một mặt che dấu, xuyên tạc lịch sử, một mặt tiếp tay cho sự lũng đoạn, đô hộ của Trung Cộng bằng cách tiêu diệt sự tự do, quyền làm chủ của nhân dân Việt Nam, tìm cách ngăn cản đất nước Việt Nam phát triển vững mạnh. Vì vậy, việc chúng ta ở đây hôm nay có một ý nghĩa quan trọng, lớn lao. Đó là sự khẳng định chúng ta có quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do tưởng nhớ những người con đã hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc; và chúng ta không sợ sự đàn áp của bất cứ thế lực nào! 
Thay mặt anh em No-U, tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em cô bác đã đến đây hôm nay!
Hoàng Sa - Việt Nam!
Trường Sa - Việt Nam! 
Đả đảo Trung Quốc xâm lược!
_____________

Một số hình ảnh buổi lễ tưởng niệm:
.
























FB Trung Nghĩa
Lễ tưởng niệm 42 năm ngày hải chiến Hoàng Sa

19-1-2016

Trong không khí trang nghiêm, đúng 8h 30′ sáng ngày 19/01/2016 tại tượng đài vua Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, nhóm No-U cùng với anh em đấu tranh đã tổ chức lễ tưởng niệm 75 tử sĩ đã ngã xuống để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trước quân Trung Quốc xâm lược. Ngày 19/01/1974 các anh đã chiến đấu anh dũng đến hơi thở cuối cùng, không một ai lùi bước và đã hi sinh, quần đảo Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Quốc. Nỗi đau này sẽ còn mãi với nhân dân Việt Nam!
.










Ảnh: JB Nguyễn Hữu Vinh - Hà Thanh - Lê Hoàng và nhiều người khác

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GS NGÔ BẢO CHÂU NÓI VỀ YÊU NƯỚC


 
GS Ngô Bảo Châu là người Việt Nam duy nhất cho tới nay được giải thưởng Fields năm 2010

Yêu nước

GS Ngô Bảo Châu 
ĐH Michigan, Hoa Kỳ
19.01.2016
K. là giáo sư toán ở đại học Yale, có quốc tich Mỹ nhưng gốc là người Nga, nói tiếng Mỹ vẫn đặc sệt giọng Nga. Có lần tôi hỏi anh ấy lần cuối anh về Nga là khi nào.

Anh ấy nói từ khi tôi đi Mỹ tôi chưa quay lại Nga bao giờ. Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, K. nói rằng đối với anh ấy nước Nga cũng giống như bất kỳ một nước nào khác trên thế giới, anh không cảm thấy liên quan đến những gì hiện giờ đang xảy ra ở Nga.


Trường hợp của K. không phải là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng không phải là một trường hợp cá biệt.

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng tôi cảm thấy cái lý trong những chia sẻ rất thẳng thắn của K. Nói cho cùng thì tại sao mỗi người phải gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra.

Một vài lần quá cảnh ở sân bay Hàn Quốc hoặc Nhật Bản, tôi bắt gặp vài tốp thanh niên Việt Nam, có vẻ như đến từ nông thôn, có vẻ như nói giọng Nghệ An, họ túm năm tụm ba, ngồi bệt uống bia, đánh bài, có vẻ như không quan tâm đến xung quanh, nhưng kỳ thực mắt vẫn nhìn quanh với một vẻ nửa hoang mang, nửa thách thức. Những lúc đó bỗng dưng tôi thấy quặn lòng thương đồng bào của mình.

Ai trong số họ đã nợ ngập cổ để mua cho bằng được một suất đi xuất khẩu lao động, ai trong số họ sẽ phải làm lụng vất vả mấy năm trời để trả hết số tiền đã vay, ai trong lúc bần cùng, nghe bạn bè rủ rê, sẽ đi ăn trộm ăn cắp?

Tại sao lại đồng cảm với họ?

Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ có thể dùng để hiểu nhau, ngoài nơi sinh Hà Nội và Nghệ An cách nhau vài trăm cây số, tôi có gì chung với họ? Tại sao tôi vẫn cảm thấy “liên quan” đến số phận của họ? Tôi thấy chỉ có một câu trả lời hợp lý duy nhất: sự “liên quan” đó chính là lòng yêu nước. Nếu đó là tình yêu thì có lẽ không cần tìm cách lý giải nữa.

Chắc chắn mỗi người yêu nước, hoặc không, theo một cách khác nhau. Nhưng tôi cho rằng, yêu nước, về cơ bản, là cảm thấy “liên quan” đến số phận của đồng bào mình.
 
 
****
.
 
GS Ngô Bảo Châu và nhóm Đối thoại Giáo dục trong một cuộc tiếp xúc 
với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 7/2014

Tôi rất thích xem bản đồ. Nhìn cái quả cầu xanh xanh nhớ lại chỗ này chỗ kia mình đã đi qua. Nhớ cánh đồng lúa xanh mướt, nhớ con đường nho nhỏ chạy thẳng ra biển mà ở ven ven thấp thoáng những tháp chuông nhà thờ. Nhớ những đỉnh núi hùng vĩ quanh năm tuyết trắng, nhớ những cánh rừng thông xào xạc chạy dọc bờ biển Đại tây dương. Chỗ nào cũng cảm thấy như nhà mình, trái đất là nhà mình, dù rằng có một vài điểm hình như thân thương hơn các điểm khác.

Nếu hay xem bản đồ thế giới, đến một lúc nào đó, bạn sẽ có một phát hiện rất lạ lùng. Hoá ra cái điểm Việt Nam thân thương không hề là trái tim của nhân loại. Nó nằm ở nơi cùng trời cuối đất. Đi tiếp sang phía đông, hay xuống phía nam là biển rộng, là đại dương.

Văn minh nhân loại được mở rộng và phát triển nhờ vào những cuộc viễn chinh, những làn sóng di dân. Chiến tranh và những cuộc di dân, vừa là tai hoạ cho cuộc sống con người, lại vừa là phương tiện chuyên chở tôn giáo, những tư tưởng nhân văn, những kiến thức về tổ chức xã hội, những phát kiến khoa học và kỹ thuật. Những cuộc chiến tranh, những cuộc di dân, những thảm hoạ đã từng cầy xới châu Âu cũng đã là một nguyên nhân làm cho nó trở nên phồn thịnh, văn minh.

Có lẽ vì đất nước của chúng ta nằm ở nơi cùng trời cuối đất mà trong gần hai ngàn năm, nó hầu như nằm bên rìa sự phát triển của văn minh của nhân loại. Chiến tranh, thực ra không nhiều, hầu như đều đến từ phương Bắc, người di dân hầu hết cũng đến từ Trung hoa. Trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, văn minh Trung Hoa là hệ quy chiếu duy nhất của người dân đồng bằng Bắc Bộ.

Cuộc sống bây giờ đã khác nhiều. Ngay cả những thanh niên nông thôn mà tôi gặp ở sân bay Narita, dù có lẽ họ không có một hệ quy chiếu nào khác ngoài một bộ ứng xử của người nhà quê, mà nền tảng lý luận dường như là một dạng tối giản của văn minh Trung Hoa, họ cũng hiểu rõ họ cần thoát ra ngoài cái khung đó để mưu cầu hạnh phúc, và họ muốn thoát ra bằng mọi giá.

*****

Mấy tuần gần đây, dù muốn hay không, mà thực ra là không muốn, tôi cảm thấy rất quan tâm đến diễn biến chính trị ở Việt nam.

Tôi nhận thấy rất nhiều người cũng quan tâm như tôi, có lẽ quan tâm đến Đại hôi lần này hơn hẳn so với những Đại hội lần trước, dù rằng về cơ bản, chúng ta không “liên quan” gì đến Đại hội của “họ”.

Cảm giác quan tâm đó đến từ đâu, nếu không phải là khát vọng có ở trong mỗi chúng ta, khát vọng thoát ra khỏi thân phận của một nơi cùng trời cuối đất, gắn vào thế giới bằng một sợi dây lơ lửng buộc vào Trung hoa, thoát ra khỏi cái khung chật chội của Khổng giáo.

Tôi không định nói chúng ta phải quay lưng lại với cốt cách của con người Việt Nam truyền thống. Đối với tôi, cậu thanh niên Nghệ An quần áo xộc xệch dáng vẻ lấm lét ở sân bay Narita, dường như thân thương hơn nhiều so với các nam thanh nữ tú Hong Kong dán mắt vào cửa kính các quầy hàng duty free.

Nhưng tôi mong muốn một khế ước xã hội như những khế ước xã hội đã là nền tảng cho những nước phát triển. Tôi muốn một xã hội công bằng được đảm bảo bởi một nhà nước pháp quyền. Tôi muốn một nền kinh tế lành mạnh, phồn thịnh hoạt động trên nguyên tắc thị trường. Tôi muốn một xã hội mà ở đó người dân có thể tự tổ chức cuộc sống cộng đồng của mình mà không bị cản trở, đó là xã hội dân sự.

Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự.

Ngay cả khi không có lá phiếu, người dân cũng cần nói rõ về xã hội mà mình muốn. Nói được cái mình muốn không hề dễ, nó khó hơn nhiều so với nói cái mình không muốn. Nếu không nói được cái mình muốn, nó sẽ không bao giờ xảy ra.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm của người viết, giáo sư hiện giảng dạy tại Hoa Kỳ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang