Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

Nhà văn không được mang ý nghĩ mình cao hơn mọi người. Không tách ra mà phải cùng chuyến xe với mọi người mọi đau khổ..


Ghi chép về Dương Thu Hương 1985-86

Các đoạn ghi chép này đã được đưa lên blog này ngày 13-3 -2012.
Nay xin đưa lại để bổ sung cho việc tìm hiểu tác phẩm  Dương Thu Hương
như một hiện tượng của văn học hậu chiến.

20/2
 Họp ở nhà xuất bản Giáo dục, bàn về biên tập cuốn 20 truyện ngắn chọn lọc 1945-85. Cái điều làm mọi người buồn bã nhất, ấy là hiếm có truyện hay. Ông Đỗ Quang Lưu chê truyện còn thiếu action (hành động), truyện nói nhiều quá, truyện không hoàn chỉnh.
- Thời kỳ ta có nhiều truyện hay, vẫn là thời 55-64.
- Có nhiều tác giả đã thành danh như Tô Hoài, Bùi Hiển không có cái hay; cả Nguyễn Quang Sáng, cả Anh Đức (Tô Hoài chỉ ăn ở chi tiết)
- Có những người như Vũ Thị Thường lạc chất của mình( đáng lẽ là chất đời thường lại sang xã hội chính trị)
- Cấu trúc các truyện thường yếu, không mấy khi có sự gặp gỡ giữa nhân vật+ cốt truyện v.v...
 Riêng tôi đọc lại, còn thấy loại như Đỗ Chu, Dương Thu Hương có nhiều cảm quan lạc hậu. Đỗ Chu trì trệ trong cảm giác bằng lòng, hoà hợp, biết ơn. DươngThu Hương mới trong đại cương, nhưng trong chi tiết, vẫn là hôm nay. Ghét những người chỉ biết đến mình. Đề cao hy sinh, vì người khác. Sợ tiện nghi. Có những nét tạm gọi là ác.
Đúng là có một thời, cả một dân tộc kinh sợ hạnh phúc, vì cho rằng hạnh phúc khiến mình không còn chiến đấu được nữa. Những tiêu chuẩn thông thường ở con người dường như mất quyền tồn tại.
Trên cái nền chung này, Hương căm giận mấy cũng là vô ích.

21/2
Một chuyện nghe được về ông Thi do Hương kể cho Huy Phương, Huy Phương kể lại cho Nguyễn Thành Long.
Ông Nguyễn Đình Thi lên Quảng Bá sáng tác.
Quen như với một số người khác, mang cái mình mới viết sang đọc cho  Hương nghe, giọng lên bổng, xuống trầm, ra điều cảm động lắm. Vừa đọc được vài câu, bị Hương dội gáo nước lạnh.
- Thôi đủ rồi, chán cái giọng lên bổng xuống trầm tán gái của anh lắm rồi.
- Ồ, nhà văn gì côn đồ thế này.
- Ừ, côn đồ đấy, nhưng cầm đồ ra khỏi phòng này ngay đi.
Khi kể lại, Hương nói thêm: Tôi ăn lương ở Điện ảnh chứ đâu phải bên Hội nhà văn, tôi cần gì.

14/4
Những lần đối diện với Dương Thu Hương. Thoáng cảm thấy một nét gì sớm cũ càng, ở cái con người có vẻ đang chống phá lung tung đó. Cái miệng gồm hai hàm răng thật đều xít vào nhau toát lên một thoáng khiêu khích. Còn làm duyên làm dáng gì với nhau nữa. Không có thần tượng, không ai cứu  được ai trong cuộc đời này. Tuy vậy, khi tôi nói thẳng những nhận xét tàn nhẫn ấy, thì Hương gật đầu.
- Đúng, tôi nhận là tôi phong kiến, cay nghiệt.... Viết xong là biết nó thuộc về ngày hôm qua rồi, hôm nay mình phải khác.
Tôi hay bảo Hương như kẻ dẫu sao cũng muốn hét lên một tiếng giữa mọi người; muốn ra sao thì ra, nhưng phải hét, thì mới chịu được.

Nguyễn Kiên:
--Dương Thu Hương là gì? Nó là sự phản ứng lại một thời. Một thời mọi thứ xuôi theo một kiểu. Bây giờ người ta không chịu thế. Người ta tập nói ngược lại. Loại trừ bọn phá hoại, bọn bành trướng, thì nó còn là tâm lý mọi người bình thường. Vì thế, mới có nó. Nó cứ nói tuốt luốt ra cả.
Đỗ Chu thì lông bông quá, nên không được.

12/6
  Hương hay bảo tôi là dân mặt trắng nhợt ra, vì chả đi đâu, chỉ đọc sách, giữa cuộc đời chỉ là dân típ hôi.
Nhàn:
-- Bây giờ bà Hương này, có tài rồi, nổi tiếng rồi, có nhà riêng rồi, bây giờ chỉ cần một gia đình yên ấm.
Nguyễn  Kiên cũng ngồi đấy, cười khẽ:
- Ông này âm lịch quá. Thời này còn nghĩ chuyện gia đình yên ấm. Cứ nổi tiếng là được rồi chứ cần gì.

        Nói chuyện với  Hương. Có cả Hách, Ân. Hương ngồi kể về hoàn cảnh của mình. Lấy chồng trong sự thúc ép, đang cô độc vì một kỷ luật vớ vẩn của lớp học. Lão Bằng này hay mò đến. Lão ta còn doạ không lấy lão sẽ băm chết. Cảm thấy bị lão ám quá, làm ào đi: “Anh về anh bảo mẹ anh tới đây”. Nhưng về với nhau được vài hôm là đánh vợ, mặc dù bây giờ vẫn yêu Hương, yêu ghê gớm.
 Hương:
-- Tôi ly thân với chồng 6 năm, ở riêng đã 2 năm. Nhiều đứa đến nhòm ngó chứ. Nhưng tôi không như Xuân Quỳnh. Tôi không việc gì phải toáy cả lên, sống thiếu đàn ông một hai tháng là không chịu nổi. Việc gì cũng phải trả giá của nó cả.
... Con gái chúng nó dở hơi lắm. Nhớ có lần đi hội, đêm ngủ với mấy con nhà thơ. Một đứa đọc thơ về anh hói, một đứa về anh rậm râu, đến tận 3 giờ mới thôi. Tôi bảo chúng nó, tao thì tao yêu lão bán phở còn hơn là hai lão già ấy. Thôi im đi cho tao ngủ. Thế mà hôm sau, về, còn thấy kể chuyện con Nhàn nó thẽ thọt nịnh chồng, thổi cơm nếp cho chồng ăn nữa.
Ở Hương thường là một thái độ lạnh lùng ghê rợn, khi nhìn vào đời tư của mọi người.
- Tôi có mấy đứa đàn em ở Sân khấu nó kể chuyện, khổ lắm, như ông Vũ, khao khát tình yêu, vẫn bị bọn con gái các nhà hát nó lừa cho đấy, những con loại đĩ giòi ra rồi, nhưng nó ỏn thót, nó xin vai. Mấy đứa đàn em tôi bảo khổ ông Vũ, có biết gì đâu? Còn như con mẹ Quỳnh, từng này tuổi còn cắt tóc ngắn, diện quần bò áo phông - chỉ loại con gái chưa có lớp mỡ ở bụng mới dám diện như vậy -- rồi đến ngồi cạnh chồng, lắc lắc cái đầu, như mười tám đôi mươi, chung quanh nó thấy chướng lắm. Nên bọn trẻ nó lại càng muốn trêu ngươi, để chứng tỏ cái quyền lực của nó. Là quyền trẻ, quyền đẹp chứ còn gì nữa. Tôi như con Quỳnh, tôi cứ sống đúng là tôi. Nhưng nó thì không dám, không chịu được. Mà già rồi còn gì.
Hách nói thêm, lắm lúc nhìn vào mắt Quỳnh, lòng đen nó cứ bạc xám ra, thấy già đi rõ quá. Chồng đi vắng là bần thần. Rồi kêu chán đời. Chồng về, lại kể những chuyện xót xa, tuy vẫn là đùa vui nhưng xót xa. Chẳng hạn như kể là hôm nọ, có con bé nào nó lại đến rủ Vũ đi xem. Quỳnh phải gầm lên: “Hôm qua, anh xuống ăn cơm nguội chỗ mẹ, anh thắt lưng bằng cái dây chuối [thực tế bằng dây thừng] thì có ai đến thăm anh không?”
Rồi bọn em chồng ở nhà, nó phải nói thêm vào nữa, mới thôi.
- Được cái Quỳnh nó còn trẻ, đi với nhau còn hợp.
- Trẻ gì mà! Vũ nó phải khó chịu chứ.

Hương kể về T. Ngày nào T. + Hương rất thân nhau. Hương hay cùng T. đến Thu Bồn. Gớm, một tình yêu tha thiết. Thấy Thu Bồn nó ra mà cả người nàng cứ run lên. Lần ấy, T. cho rằng Hương phải bám T. để đăng bài. Tôi mới đến tôi bảo lão Bổng. Tôi ỉa vào đăng bài ở chỗ này, chừng nào mà con T. nó còn làm biên tập ở đây. Không đăng thì đã chết ai?
Nhưng những lời Hương kể ghê gớm nhất là về Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài.
 Đúng là có chuyện mắng mỏ Thi, cái lần ở Quảng Bá (tôi đã ghi ở phần trên). Sau đó, Thi vẫn phải làm lành. Tô Hoài cũng vậy. Năm ngoái họ đi trại Đại Lải với nhau, Hương đã công kích Tô Hoài vuốt mặt không kịp. Nhân nói về một cô biên tập viên nào đó bên Kim Đồng, Tô Hoài chê trông như con voi già. Dương Thu Hương mới đả luôn, nhưng nó còn đỡ hơn cái con mẹ mà anh đã húp cả cặn. Thế là Tô Hoài lại cười hí hí. Lão toàn ngồi kể chuyện đi chơi cô đầu quỵt, rồi sợ tắc ống khói ra sao v.v. Trong đám ngồi đấy, chỉ có Nguyễn Minh Châu là nghếch sừng lên nghe. Thấy Hương nói đồng nghiệp nhiều khi tàn tệ, Nguyễn Kiên ngồi ngoài cũng phát cáu cơ mà. Nhưng hôm vừa rồi, nhân TV nó quay về các nhà văn, Tô Hoài lại đến làm lành với Thu Hương. Thế là Thu Hương lại đốp luôn: “ Từ giờ trở đi, bọn trẻ nó làm lãnh đạo chắc nó cũng không quá đáng đến nước húp hết cả phần anh em”. Nói thế là Tô Hoài chạnh lòng, lão đánh bài chuồn.


             Nhìn vào tác phẩm, dễ thấy ở H. là cả một sự hỗn tạp, một cái gì rất cũ có mặt bên một cái gì rất mới. Những ngày ở Quảng Bình, sao không mang vào đây? Hình như, thấm những ngày đó quá, nên mới có phản ứng như bây giờ.
Đọc văn thấy có một sự công phẫn, kêu giời lên vì những cái xấu xa chung quanh. Nói tướng lên, chửi, vì đau quá (gợi nhớ tới trường hợp Vũ Trọng Phụng). Không tìm thấy một sự bình thản (vì kém văn hoá nền chăng?)
Thấy tởm đời sống nhưng nhìn chưa ra lối thóat.
 Có một mối hoài vọng ghê gớm về một quá khứ đã bị đánh mất (hình như có liên quan đến hoàn cảnh riêng).
Trong truyện, quá khứ của nhân vật thường  thơ mộng. Những con người nghị lực, quyết tâm, nhưng vướng víu đủ thứ. Tại cái thời kỳ lạ này chăng?
Ban mai yên ả kết luận bỏ lửng, chả giải quyết gì. Truyện có cái phía công thức của nó “anh là người lính”, nhưng thực ra vấn đề rộng hơn thế. Vấn đề của một xã hội đang rữa ra. Và con người hoàn toàn đơn độc. Chính tác giả cũng buồn vì không  chỉ ra một lối thoát tốt đẹp.
Trong tập Ban mai yên ả
Những cánh buồm trong thành phố - bỏ lửng
Chuyện một diễn viên - bỏ lửng
Ban mai yên ả - bỏ lửng
Cuộc đời chưa cung cấp phương án giải quyết cho các tình huống trong  các tác phẩm này??

Một số mô típ thường thấy ở Dương Thu Hương.
- Chúng ta đã bỏ mất những gì tốt đẹp.
- Chúng ta chạy theo những cái vớ vẩn
- Chúng ta biến chất và thành ra một đống hoang tàn.
Truyện rất nhiều những chữ như “cứt nát” “tởm”...

Mối quan hệ với các nhà văn khác  
Với Đỗ Chu không chỉ có chuyện đồng hương. Sự căm ghét dành cho  Đỗ Chu (?) ở Dương Thu Hương có cái gì đó hơn là tức vặt.
Hương cảm thấy như là Chu lừa mình. Trong sự thất bại của Chu, Hương cảm thấy có sự thất bại của riêng mình. Nghề cũng đơn giản vậy, thế mà hồi ấy, mình đâu có biết!
-- Bà đau Đỗ Chu vì có lần có lúc, đã coi Đỗ Chu là thần tượng ?
-- Không, chính tôi đâu có thích Đỗ Chu.
-- Bà đừng lảng, phải thích thì bây giờ mới viết được như vậy. Cũng như bà hay nói là con nhà gia giáo, chỉ mới đổ đốn khi vào đời.
- Đúng, con nhà gia giáo, bây giờ đứt dây, nên hóa lung tung.

 Dương Thu Hương thường có lối viết hơi rề rà. Truyện của Hương không gọn nhưng vẫn có duyên.
Nhàn (nói với Nguyễn Minh Châu)
-- Các ông trước đây nói toàn loại truyện sạch sẽ thơm tho. Còn cái Hương bây giờ, nó như đứng giữa đống bùn mà nói, đứng trên bùn, day, nghịch đủ thứ, văng cả lên mặt các ông mới sướng.
Nó cảm thấy, nó phải vạch vôi các ông ra để viết cho hả giận. Sự tồn tại của con người, đôi khi chỉ còn có nghĩa là một sự căm tức. Tao biết tất cả chúng mày rồi. Đồ khốn nạn!
Ân:
Chân dung người hàng xóm, tuy dở, có vẻ minh họa quá, nhưng vẫn có chỗ này được. Nó lật tẩy. Nó cho ta thấy cái thô bỉ, đằng sau cái bề ngoài.
Nhàn: Có phải chuyện Ban mai êm ả viết về ông Xuân Hoàng?
Hương: Hồi ấy in ra, ở Huế khối người ta kêu như thế đấy.

Cái điều tôi sẽ phải viết cho được khi nói về Xuân Quỳnh và Dương Thu Hương -- sự hạn chế của các tài năng hàng đầu. Họ chỉ đến thế.
Nhàn: Nên làm những tập truyện ngắn thật đều tay.
Dương Thu Hương: Tôi dạo này không thể viết ngắn được nữa. Hoá ra mọi chuyện cũng theo thói quen. Lúc đầu thì thơ, rồi truyện ngắn, sau nữa là truyện vừa.
Không ai nhớ tới sự đột ngột xuất hiện.  Người ta chỉ còn nói tới một nhu cầu.

1986
 Phác thảo chân dung.
Tuổi Tuất 1946.
Sự xuất hiện của một nhà văn thường khi có gì đó rất ngẫu nhiên. Trước khi anh ta viết, không ai mong chờ. Nhưng khi đã đọc nhà văn đó rồi, người ta cảm thấy không thể thiếu người đó được nữa. Sự ngẫu nhiên rút cục đã biến thành một nhu cầu tất yếu.
Việc tổng kết văn học ở ta thường chỉ mới được làm một cách dè dặt. Như đối với đời sống văn học 10 năm gần đây, chưa ai có sự đánh giá cho được đầy đủ, xem có những quy luật gì mới hình thành, những tác giả nào được đọc nhiều.
Nhưng trong nhiều lần thăm dò ngẫu nhiên, từ Tô Hoài, Vũ Cao,  … tới Nguyễn Khải,  Nguyễn Thành Long, --  khi nghe tôi hỏi có nhà văn nào được lưu ý hơn cả, nhiều người như cùng thống nhất trả lời Dương Thu Hương.
Không chỉ làm việc với sức trẻ, Dương Thu Hương còn mang vào đấy cả cái nhìn trẻ trung, cái phần nồng nhiệt trong yêu cầu, đánh giá, hồi tưởng lại ngày hôm qua, khao khát về những ngày mới.
Khác Đỗ Chu - một cách nhìn nhận mới về đời sống không dịu ngọt một chiều, mà khai thác chất ác của văn xuôi. Khác Lưu Quang Vũ - không màu mè, chiều đời.

19/2
 Bàn chuyện với Nguyễn Minh Châu
-  Dương Thu Hương vừa lại đây chơi, ngồi nói xa xả mấy tiếng đồng hồ, chửi rủa đủ loại người. Mình mới bảo loại như mày thì bố đứa nào dám lấy. Kể ra tả cái tởm của đời sống, thì không đứa nào viết bằng nó.
-- Không hiểu sao con mẹ này nó lại viết muộn thế? Hay là tại đây là loại của độc, càng để càng độc?
-- Nhưng nó cũng khôn lắm. Đến nhà nó, thấy nó rất đàng hoàng. Mà đối xử với loại Thụ, Hải Ninh cũng giỏi lắm.

Cô Thư (ở cơ quan Tác phẩm mới)
--Thanh niên bây giờ nhiều đứa đọc chị Hương lắm. Người ta thấy rõ Dương Thu Hương cải lương nhưng cứ thích. Vả lại, cái chính là đọc Dương Thu Hương thấy cuộc đời này chẳng ra làm sao cả, giáo sư, nhà văn... chả còn ai ra gì. Chỉ thỉnh thoảng mới thấy một người đàn bà tốt. Nhưng trongNhững chiếc lá chết, có một con mụ xấu còn hơn Thị Nở..
Những bất hạnh trong cuộc sống riêng tư đã xui khiến ngòi bút tác giả  đi theo hướng đó chăng. Bây giờ cứ cho chị Hương có một gia đình hạnh phúc là hết viết.

Cái tên tiêu biểu của Dương Thu Hương Nắng ấm cuối trời xuân . Một cái tên rất cải lương.
Nhàn: Truyện ấy rất giả.
Dương Thu Hương: Trong những cái in mấy năm nay, tôi chỉ thích có 2 cái Thợ làm móng tay  Sói con. Chính tôi cũng chán Chân dung người hàng xóm.

Xuân Quỳnh: Dương Thu Hương đang có vụ bê bối nào đó. Con nó đi khắp nơi kiện.
Nhàn: Hương cũng hay bị chồng đánh lắm. Bà ấy kể thế.
Quỳnh: Với bà Hương, không đánh cũng không được.

Quân kể bà Hương theo một hoạ sĩ đến chơi. Lúc về lại chào vợ mình chào chị ạ, cám ơn chị. Sốt cả ruột, Quân bình luận.

Thường tôi hơi ngại, khi theo Hương đến các quán hàng ăn. Cứ gọi người ta xơi xơi như dân Hà Nội trước 1954 gọi con ở.
 Đọc văn sợ nhất lúc Hương nói đến các danh hoạ, các nhạc sĩ, các bản nhạc. Không đâu vào đâu cả. Thiếu cơ bản lại nói liều. Sao lại có một con người  tự tin như thế, vả lại hiếu thắng như thế.
Cái vẻ hấp dẫn vốn có bị cái chốicái giả tạo làm mất đi.
Một sự căm ghét với lớp người đi trước.
Rất hay nói tới các nghệ sĩ:
Tháng ba chua chát (diễn viên)
Buổi sáng yên tĩnh (hoạ sĩ)
Ngôi nhà trên cát (nhà thơ, nhà báo)
Nhân vật nhạy cảm với cái đẹp, nhưng vẫn là dốt nát.

 Trong Những bông bần ly, Ngân hát khi đứng trước mộ Nghiêm:
Rồi mai đây khi xa vắng em hát khúc ca xưa
Anh sẽ trở về cùng hát bên em như hồi năm nào

Văn Dương Thu Hương gần như là lời than thở rền rĩ - dù không yếu đuối chút nào - nhưng cay đắng, tê tái, về một cái gì đã mất. Lớp người dưới đáy xã hội thì méo mó, ngu ngốc, y như trong Tchekhov. Những người khác có tâm hồn một chút, thì bất lực. Vả chăng, ở đây không có sự phân biệt giả tạo tốt và xấu đâu. Chỉ có hôm trước tốt và hôm sau xấu, lúc này tốt và lúc khác xấu, trong một con người.
Văn chương của cái thời người ta đã tận lực làm hết mọi việc -- chiến tranh --  và sau đó nhìn lại mình, thấy ngán ngẩm (Hãy nhớ bài viết về Dichkens của St Zweig)

Qua văn chương, tôi cũng có thể đoán những ngày đầu hoà bình sau (1975) để lại trong Dương Thu Hương một cảm giác choáng ngợp.
Đoạn mở đầu Loài hoa biến sắc: Lời tự thú công khai của cả một xã hội về sự hèn kém của mình. Thu Hương cũng nhiều mặc cảm, nhiều nhữngcomplex. Hương ghét những người đàn bà ở phía bên kia --Sài Gòn trước 1975 -- hai ba  lần như vậy rồi (Ngôi nhà trên cát, Lâu đài, Cô gái bên kia hàng rào). Bị ám ảnh bởi nỗi thèm muốn một cái gì đó mà không bao giờ đạt tới.
Hương hay trở lại những chủ đề lật tẩy. Sự khác nhau giữa bên trong và bên ngoài. Sự đánh mất những cái tốt đẹp, phát hiện cái xấu ở một người quen.  Sự ghê tởm, phát hiện ở mình và người quanh mình những điều đáng ghét.
Về cuộc chiến tranh Việt Nam, đến nay người ta chỉ biết những người lính. Nhưng nó còn là cuộc chiến tranh của phụ nữ. Những người vợ ở hậu phương, người con gái thanh niên xung phong. Dương Thu Hương thường nói về chiến tranh như một nạn nhân.

 Trong nhà văn này bản tính con người mơ mộng vẫn còn, nhưng những giấc mộng đẹp không còn, nếu không muốn nói là nhiều ác mộng. Nhiều lang chạ, nhảm nhí. Có điều chưa đến nỗi chán tất cả. Biết chuyển nỗi chán vào công việc.
 Dễ không mấy người tả những trò chơi thuở trẻ giỏi giang và say mê như Dương Thu Hương. Nhưng không trò chơi nào cứu được con người. Sự thất vọng có đủ các mùi vị của nó, cay đắng, buồn phiền.
Rất giỏi tả những sinh hoạt trưởng giả, nó làm hại nhiều người. Nhưng có phải trong đó, vẫn có một thoáng như là ghen tị. Khi xấu, thì những người đàn bà ở đây, mới thật thảm hại (trừ nhân vật chính). Sự phản bội của các nhân vật trong truyện Thu Hương thật tự nhiên, không sao giải thích nổi, và người ta chỉ có thể chết lặng đi.
Từ sự phản bội của Quý với nhân vật Thía đến của Khang với Ngân, sự phản bội của Lý Xuân. Nhân vật Lý Xuân gợi ý về những kẻ thân thể quá phát triển, mà đời sống tinh thần nghèo nàn.
Câu hỏi đặt ra:
- Tại sao lại có một Dương Thu Hương như vậy?
Trước 1975 Dương Thu Hương chưa viết nhiều; nhưng có theo dõi có yêu ghét văn chương. Đã là có quá khứ, có kinh nghiệm.
Sống với chữ nghĩa một cách gan ruột cho nên không chịu theo cái đọc được mà muốn mang lại một cái khác nó.

Đọc Hành trình  ngày thơ ấu.
Phần 1. Có cái gì chắp vá lập bập nhưng cũng lạ. Trẻ con là một bọn hư đốn - Không thích ngoan, sẵn sàng phản ứng. Lũ trẻ con đáo để v.v..
Còn phần 2: rõ là một thứ chuyện lạ núi rừng, ở đó, nhà văn trổ tài quan sát. Đúng là ở phần 1, đã có nhiều chuyện người lớn.
Tác giả cho thấy trẻ con bị nhiều nỗi oan uổng ra sao.

Điều quan trọng là Hương có một cuộc sống trong chiến tranh, ngược lại không có quá khứ viết trong chiến tranh, khi sáng tác của các nhà văn bị khuôn theo một ít mơ ước ảo tưởng và những người sắc sảo nhất cũng thành lành hiền.
Cái tính cách mà Gorki hay nói: chất men bất phục tùng. Nhìn ra đời sống gian dối của những người lớn quanh mình.
Ngay trong phần 2, cũng có những nhân vật ác độc (người mợ của Dũng còm, lão già đến nhờ mua cao, chị Múi v..v.
Lối làm việc băm bổ viết nhiều loại cộng với một lối hành văn dềnh dàng, hay tả, kể v.v..
Có thể bảo chủ đề chính của truyện Dương Thu Hương là con người sau chiến tranh và những ao ước của họ về hạnh phúc. Những con người ấy vết thương đầy trên mình. Cái đó cắt nghĩa nỗi thèm muốn của họ.
Xoay về phía nào cũng thấy họ rất bất hạnh. Tìm mãi hạnh phúc không thấy, rút cục, vấn đề không phải như Nam Cao ngày nào “hạnh phúc là cái chăn hẹp” mà là nhiều câu hỏi lớn hơn.
- khả năng làm người.
- ý thức về đời sống.
- những quan niệm về bất hạnh cũng như hạnh phúc.
Bộ mặt của hạnh phúc mới đa dạng làm sao! Có những bất hạnh có ở mọi thời, lại có những bất hạnh mà chỉ thời này mới có! Những bất hạnh có thể nói là chói lên bảy sắc cầu vồng và tự nhiên, như người ta tự nghĩ ra vậy
 Một câu của Nguyễn Thi Thuỵ Vũ SG : Hạnh phúc có nhiều bộ mặt và tôi tự hỏi với tôi, hạnh phúc có bộ mặt gì?
Trong những thứ sặc sỡ, thì sặc sỡ nhất là mối quan hệ người người.Con người thường khó khăn trong việc tìm kiếm hạnh phúc. Mà đây lại là những cái  người ta không thể vay mượn hay xin xỏ. Ao ước cháy bỏng về hạnh phúc. Mơ ước theo đuổi từ tuổi thơ.

Dương Thu Hương hay nhớ lại những ngày hoà bình trước 1964, như Đỗ Chu,-- hay nhớ về kháng chiến. Nhưng không đúng, không có gì đúng. Sai chi tiết, sai ngôn ngữ trước 1964.
Trong Ban mai êm ả có nói tới táo Thiện Phiến. Thứ táo này không thể có trước 1970.
Nhớ lại quá khứ. Một thứ hạnh phúc bị đánh mất.
Có một thế giới của Dương Thu Hương. Thế giới đó có cả màu sắc rực rỡ lẫn những mùi vị khai lợm, tanh tưởi, những hình ảnh mồ hôi lưu cữu, nhơ nhớp mặt xanh như đít nhái...Cần dùng phân tâm để lý giải.
Một loại nhân vật của Dương Thu Hương -- những con người có quá khứ đẹp, nay khốn khố. Bởi tất cả quá khứ đó đã mất đi nên nó mới đẹp đến thế. Cái vẻ đẹp ấy may lắm còn lại trong thiên nhiên, cây cỏ (Một bờ cây đỏ thắm)
Hình như Dương Thu Hương đã nói khá rõ nỗi hoài niệm khôn nguôi về một cái gì đã mất đó. Băt nguồn từ dòng văn nông thôn, nhưng lại nhanh chóng tìm thấy mình ở dòng văn đô thị. Niềm say mê đô thị tràn ngậpNhững cánh buồm trong thành phố.
Con người của thơ, nay từ bỏ chuyển sang cái nhìn kiểu văn xuôi.Từ cả tin sang hoài nghi. Một sự dang dở, quá độ, người của thời chiến, thời bình, người của đất nước những năm này và trên thế giới.
Chưa thể đạt tới sự bình tĩnh, như Tchekhov như Trifonov.
Một tiếng kêu về nỗi bất hạnh. Sống chung với chung quanh thật khó. Đôi lúc con người thật lạc lõng. Ai cũng có một gia đình nhưng đâu chúng ta đã biết sống trong gia đình!
Một câu hỏi -- nữ tính là gì?
- Tuy không nói ra, nhưng có phải với người đàn bà quan trọng nhất là gia đình. Từng người đàn bà chỉ là phản chiếu của những người đàn ông. Đau đớn, vì bị phản bội. Không tìm thấy mục đích sống.
Nhận xét sắc sảo, nhưng vẫn đau nhức một cảm giác người thua cuộc là mình. Không đưa cái bất hạnh lên thành siêu hình, chỉ thấy nó cấu véo mình hành hạ mình.

Nhà văn không được mang ý nghĩ mình cao hơn mọi người. Không tách ra mà phải cùng chuyến xe với mọi người mọi đau khổ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bà Thái Anh Văn đắc cử tổng thống Đài Loan


Phần nhận xét hiển thị trên trangBà Thái Anh Văn thắng cử, nay trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Đài Loan.
Bà Thái, 59 tuổi, là đại diện của Dân Tiến Đảng (DPP) vốn chủ trương độc lập khỏi Trung Quốc.
Tuy bà chưa tỏ rõ quan điểm nhưng các phe đối lập nói quan hệ giữa Đài Loan với Trung Quốc sẽ xấu đi bởi bà không thừa nhận chính sách "một Trung Quốc".
Bắc Kinh luôn coi hòn đảo này là một tỉnh ly khai và đe dọa sẽ dùng vũ lực để lấy lại nếu cần.
Ông Chu Lập Luân (Eric Chu) ứng viên của Quốc Dân Đảng đương quyền đã thừa nhận thất bại.
Ông Chu đã chúc mừng bà Thái và tuyên bố ông rời khỏi chức vụ lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Thủ tướng Đài Loan Mao Trị Quốc cũng từ chức.
Kỳ bầu cử diễn ra chỉ vài tháng sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa các lãnh đạo của Đài Loan và Trung Quốc.
Bà Thái Anh Văn không thừa nhận chính sách "một Trung Quốc" của Bắc Kinh và chủ trương Đài Loan độc lập
Tuy nhiên, tại Đài Loan thì cả vấn đề kinh tế lẫn mối quan hệ với Bắc Kinh đều đóng vai trò quan trọng, tác động tới lựa chọn của cử tri, phóng viên chúng tôi nói.
Quốc Dân Đảng đã nắm quyền hầu hết thời gian suốt 70 năm qua và đã có những cải thiện trong quan hệ với Bắc Kinh. Chiến thắng của bà Thái lần này mới chỉ là chiến thắng lần thứ hai của Dân Tiến Đảng.
Trước đó là chiến thắng của ông Trần Thủy Biền, người theo đường lối Đài Loan độc lập - trong thời gian ông Trần làm tổng thống, từ 2000 đến 2008, căng thẳng dâng cao trong quan hệ với Trung Quốc.
Bà Thái nói bà muốn "duy trì trạng thái hiện thời" với Trung Quốc.
Bà trở thành chủ tịch Dân Tiến Đảng vào năm 2008, sau khi đảng này đối diện với một loạt các cáo buộc tham nhũng.
Quốc Dân Đảng đang đứng trước nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử bị mất đa số ghế trong Quốc hội
Bà đã thua trong cuộc tranh cử tổng thống hồi 2012 nhưng sau đó đã dẫn dắt đảng giành được chiến thắng trong các kỳ bầu cử địa phương. Bà giành được ngày càng nhiều sự ủng hộ từ công chúng, một phần nhờ vào sự không hài lòng rộng khắp của người dân đối với cách thức Quốc Dân Đảng và Tổng thống Mã Anh Cửu xử lý kinh tế, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.
Cuộc bầu cử hôm thứ Bảy diễn ra sau cuộc họp lịch sử giữa Tổng thống Mã Anh Cửu và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Singapore hồi tháng Mười Một để có các cuộc thảo luận mang tính biểu tượng - là lần gặp gỡ đầu tiên sau hơn 60 năm qua.
Ông Chu Lập Luân, 54 tuổi, là thị trưởng thành phố Tân Đài Bắc (New Taipei City) và đã trở thành chủ tịch đảng hồi tháng Mười.
Quốc Dân Đảng nay đang có nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử bị mất đa số ghế trong Quốc hội.

Không nên nhìn văn hoá bằng cái đầu trần tục!?

>> Hoàng Sa, Hoàng Sa… tiếng cồng đã nổi lên rồi

>> Nước ta sống văn hóa bậc nhất thế giới
>> Gần 19 triệu gia đình văn hóa nhưng văn hóa vẫn xuống cấp
>> Ước gì ai cũng giỏi giang, thành đạt được như MC Tuấn Tú!
>> Báo Trung Quốc ‘dọa’ Việt Nam không nên gần Mỹ?

FB Nguyên Khôi - Đừng hồ đồ với văn hoá!

Hôm qua, 15-11, trên fb anh Hải Châu (PV báo điện tử Infonet) có đưa một status về chiếc cổng ngày hội Văn hoá dân gian tại trường THPT Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Trên stt của mình, anh Hải Châu đưa ra câu hỏi: "Sao ngày hội văn hóa dân gian mà học sinh trường THPT Phan Châu Trinh (Đà Nẵng) lại phải chui dưới đồng tiền để vào trường thế này? Chẳng lẽ biểu trưng đặc biệt nhất của văn hóa dân gian Việt Nam là... đồng tiền?".

Đọc stt của anh Hải Châu, thấy bình thường. Bởi lẽ, đây là quan điểm riêng của anh, nhất là anh là học sinh cũ của trường Phan Châu Trinh. 

Tuy nhiên, sáng nay, 16-1, đi ngang qua trường Phan Châu Trinh, thấy chiếc cổng không còn nữa. Tưởng hết hội nên trường dỡ bỏ nhưng nhìn vào bên trong, ngày hội Văn hoá dân gian vẫn đang diễn ra. Lên lại fb của anh Hải Châu thì thấy anh có stt thông báo: "Sáng nay 16/1, một vị lãnh đạo Sở GD-ĐT TP Đà Nẵng gọi điện cho tôi, bảo: "Tôi đã đọc stt của anh về cổng chào bằng đồng tiền mà trường Phan Châu Trinh dựng lên cho ngày hội văn hóa dân gian. Tôi thấy anh nói rất đúng, không có gì sai hết. Cho nên tôi đã điện cho hiệu trưởng của trường, yêu cầu tháo dỡ ngay. Làm như vậy là quá phản cảm. Mặc dù ổng biện luận với tôi đó là đồng xu may mắn của trẻ con, nhưng kiểu biện luận như vậy không thể chấp nhận được. Không thể dựng đồng tiền lên trước cổng trường như thế. Nên tôi đã yêu cầu phải tháo dỡ ngay!".

Nghĩ quái lạ, chiếc cổng hình đồng tiền xu cổ kia có tội gì mà anh lãnh đạo Sở GD-ĐT TP Đà Nẵng lại trảm nó?

Theo quan niệm của dân chơi tiền cổ và dân phong thuỷ, sở dĩ đồng xu hình tròn có lỗ vuông ở giữa là hình tròn tượng trưng cho trời, lỗ vuông tượng trưng cho đất (Bởi theo quan niệm của người xưa, bầu trời hình tròn, quả đất hình vuông). Trời bên ngoài, đất bên trong tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng.

Theo quan niệm của dân cơ khí, sở dĩ đồng tiền có hình tròn, lỗ ở giữa hình vuông là do ngày trước đồng tiền làm thủ công. Vì vậy, chiếc lỗ ở giữa làm hình vuông để đun một cây chốt vuông vào giữa rồi xâu nhiều đồng tiền lại với nhau để giũa bên ngoài cho tròn. 

Vậy, tại sao đồng xu ngày xưa nhất thiết phải có cái lỗ ở giữa, trong khi đồng xu sau này không có? Bởi lẽ, ngày xưa họ đục cái lỗ là để xâu tiền lại với nhau cho dễ cất và tạo sự ngăn nắp khi cất tiền. 

Tại sao người ta thường xâu chuỗi 3 đồng tiền xu lại với nhau (trường hợp cái cổng Ngày hội văn hoá dân gian trường Phan Châu Trinh cũng được làm từ 3 chiếc đồng xu lớn)? Theo quan niệm của dân chơi tiền cổ, nó mang ý nghĩa tượng trưng cho "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà". Ý nghĩa sâu xa đó là mang lại là: Khi đồng tiền cổ lưu thông đã hấp thu được "thiên khí", đồng tiền bị vùi xuống đã nên hấp thu "địa khí" và đồng tiền qua tay nhiều người sử dụng nên hấp thụ được "nhân khí". 

Quay lại chuyện chiếc cổng hình 3 đồng xu của Ngày hội dân gian trường THPT Phan Châu Trinh để thấy rằng, em học sinh nào nghĩ ra chiếc cổng hình 3 chiếc đồng xu chứng tỏ em đó có hiểu biết về văn hoá. Ấy vậy mà chiếc cổng ấy lại bị trảm.

Tôi không biết lãnh đạo Sở GD-ĐT TP Đà Nẵng được nhắc đến trong stt kia là ai, nhưng cách nói "lạ" quá. Thầy Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở là Thầy tôi, dân Toán; Thầy Nguyễn Minh Hùng, Phó Giám đốc Sở là dân Văn cố cựu; thầy Thái Văn Hân và cô Lê Thị Bích Thuận, người mới được bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở là cô giáo dạy Văn trường THPT Trần Phú. 

Dù ai trong số 4 thầy cô lãnh đạo Sở GD-ĐT TP Đà Nẵng cho "xử trảm" chiếc cổng kia đều là hồ đồ. Thiển nghĩ, sự cầu thị của các cấp chính quyền TP Đà Nẵng lâu nay đã dẫn đến sự "mẫn cảm" trong trường hợp này. Việc tiếp thu ý kiến phản ánh từ báo chí, người dân là tốt, nhưng không có nghĩa là báo chí phản ánh gì, dân nói gì đều mang đi...xử trảm thầy cô, học trò như vậy được. 

Trong thời buổi công nghệ thông tin, sự tra cứu thông tin về chiếc đồng xu trong văn hoá của người Việt có lẽ là quá dễ dàng để đưa ra một quyết định, dù đó là một quyết định bằng miệng. 

Người lớn thường bảo "sao người trẻ không chịu sáng tạo" nhưng kiểu ứng xử như thế này thì bảo lớp trẻ sáng tạo kiểu gì?

Những người trong giới văn chương và văn hoá hay nhắc nhớ rằng, không ai được phép đối xử thô bạo đối với văn hoá và không nên nhìn văn hoá bằng cái đầu trần tục. Cái linga, cái yoni trong tín ngưỡng phồn thực (thờ cúng sự sinh sôi nảy nở) mà nhiều dân tộc trên thế giới thờ thì có là thô tục? 

Nên nhớ rằng, mọi sự tồn tại đều có cái lý của nó. Trước khi ta phủ định nó thì chịu khó tìm hiểu để biết "lý do vì sao" nó tồn tại cái đã. Nếu không, chúng ta trở thành kẻ hồ đồ, kẻ thù của văn hoá. Và, chúng ta không thể lấy một hệ tư tưởng cũ mềm, lạc hậu để bắt lớp trẻ ngày nay đi theo được. Đó cũng là sự hồ đồ.

Tôi không biết khi chiếc cổng này bị tháo xuống, các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Phan Châu Trinh Đà Nẵng nghĩ gì? Bạn tôi, cô giáo dạy Văn trường THPT Phan Châu Trinh nghĩ gì, Diệu Trang? 


Xem thêm:
EVN sẽ không còn là đơn vị mua - bán điện duy nhất
“Cầu quan”, tượng đài và sự vô trách nhiệm
Khạc nhổ, đái bậy, vứt rác... tránh được sao bạn không tránh?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc phải chăng chỉ khủng hoảng về kinh tế?


Ông Nguyễn Gia Kiểng trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành
16-1-2016 Lời giới thiệu: Trung Quốc nuôi mộng vượt qua mặt Hoa Kỳ để thành cường quốc số 1 của thế giới. Mục tiêu đó chưa đạt được nhưng một tiêu khác đạt được: Trung Quốc đã là nước lôi kéo nhiều chú ý nhất trong tuần lễ đầu tiên của năm 2016. Ngày 04-01-2016, ngày đầu tiên trong năm 2016, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã phải đóng cửa sau nửa ngày hoạt động vì sụt giá hơn 7%. Ngày thứ năm 07-01 lại phải đóng chỉ sau 15 phút niêm yết vì cũng bị sụt giá hơn 7%.
Trung Quốc còn được đặc biệt chú ý sau khi chế độ cộng sản Triều Tiên, tức Bắc Cao Ly, cho nổ trái bom Hydro đầu tiên ngày 06/01. Mọi con mắt của thế giới đổ về Trung Quốc bởi vì Trung Quốc được coi là quan thày cấp dưỡng của chế độ quái dị này. Chưa hết, cùng với năm 2016 những máy bay đầu tiên của Trung Quốc đáp xuống đảo đá Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã đánh chiếm của Việt Nam từ năm 1988. Trong suốt năm qua Trung Quốc đã thực hiện những công trình xây dựng rất lớn trên các đá đã chiếm của Việt Nam, biến các đá nhỏ này thành những đảo nhân tạo lớn với dụng ý lộ liễu là tăng cường sự hiện diện tại quần đảo này và giành thế áp đảo trên Biển Đông. Đặc biệt trên đá Chữ Thập Trung Quốc đã xây một phi trường với bãi đáp dài 3.000m.

Từ Paris, ông Nguyễn Gia Kiểng, thường trực ban lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, đã trả lời một cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành về những biến động do Trung Quốc gây ra. Sau đây là tóm lược những phát biểu chính. Độc giả có thể nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn này dưới đây:


Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng.
Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành.
TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, Vào nửa đầu tháng Giêng năm 2016 này tình hình ở Trung Quốc và 2 nước lân bang của Trung Quốc có nhiều vấn đề khiến thế giới quan tâm.
Tại Trung Quốc, thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thẩm Quyến đang sụt giảm nghiêm trọng và có ngày phải đóng cửa. Ô nhiễm mội trường đến mức nghiêm trọng đang dẫn đến hàng nghìn xí nghiệp có nguy cơ phải phá sản. Trung Quốc cải tổ quân sự. Còn ở hai nước lân bang thì phía Đông Bắc Á Bắc Hàn thử thành công bom khinh khí, còn nước 4 tốt của Trung Quốc là Việt Nam ở Đông Nam Á sau một năm đấu đá nhau kịch liệt đang chuẩn bị bước vào đại hội Đảng lần thứ 12. Ông Nguyễn Gia Kiểng có bình luận gì về Trung Quốc và hai nước lân bang này ạ ?
NGK: Trước hết tôi xin có một nhận xét về sự khác biệt giữa Việt Nam và Triều Tiên. Mặc dầu hai nước lệ thuộc Trung Quốc rất nặng nề, nhưng mức độ nặng nề đó khác nhau. Việt Nam thì ban lãnh đạo muốn lệ thuộc Trung Quốc để tồn tại nhưng một phần quan trọng trong đảng cầm quyền – đảng cộng sản – và gần như toàn bộ nhân dân Việt Nam không muốn tình trạng đó. Cho nên mức độ lệ thuộc Trung Quốc khác nhau. Tôi nghĩ là trong một tương lai không xa Việt Nam sẽ không còn lệ thuộc Trung Quốc nữa. Mức độ lệ thuộc Trung Quốc sẽ một ngày một giảm đi. Không giống như chế độ ở Triều Tiên, một chế độ vô lý ở mức mà người ta không thể nghĩ là nó có thực. Vậy thì phải xét bản chất của nó.
Chúng ta nên nhớ lại thời chiến tranh Triều Tiên. Vào mùa hè 1950, chế độ Bắc Triều Tiên mở cuộc tổng tiến công hòng thôn tính quốc gia Nam Cao Ly, bây giờ gọi là Hàn Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn họ đã đẩy lùi được quân đội Hàn Quốc xuống tận cùng phía Nam. Nhưng sau đó gặp sự phản công rất mạnh của quân đội Liên Hợp Quốc, chủ yếu là Hoa Kỳ. Trong một thời gian rất ngắn quân đội Bắc Triều Tiên hầu như đã bị tiêu diệt và khi bị dồn tới tận sông Áp Lục thì chỉ còn khoảng 10 ngàn người mà thôi. Lúc đó Trung Quốc đã quyết định nhảy vào cứu vãn chế độ Triều Tiên. Họ đã gửi gần 2 triệu quân.
Phải nói là quân đội Triều Tiên từ đó thuần túy là quân đội Trung Quốc. Và sau đó họ đỡ đầu chế độ Triều Tiên, sử dụng Triều Tiên như một căn cứ quân sự, một phần của họ, để làm những điều họ không muốn thế giới buộc tội họ vì đã làm. Nhưng dần dần thế giới cũng đã nhìn ra. Càng ngày càng có nhiều quan sát viên, nhiều chính phủ nhận định những việc chế độ Triều Tiên làm thực ra là làm theo chỉ thị ngầm của Trung Quốc. Cho nên khi chế độ Triều Tiên thử bom khinh khí – bom hydrogen – người ta nhìn vấn đề như là chính Trung Quốc thử trái bom đó, mượn tay bắc Triều Tiên để làm áp lực với thế giới. Càng ngày càng có những lập luận buộc tội Trung Quốc. Cho nên tôi nghĩ trong tương lai tình thế có lẽ sẽ khó khăn hơn cho Trung Quốc vì họ không còn giấu giếm và đánh lừa được dư luận thế giới nữa.
Bây giờ trở lại vấn đề thị trường chứng khoán của Trung Quốc. Quả nhiên nó rất trầm trong. Hai tuần lễ đầu năm nay thị trường chứng khoán Thượng Hải đã giảm hơn 15%. Riêng tại Thẩm Quyến là trung tâm công nghiệp của Trung Quốc thị trường chứng khoán giảm 24%.
Từ đó chúng ta có thể rút ra một vài kết luận :
– Một là kinh tế Trung Quốc suy sụp một cách không thể đảo ngược được. Đây không phải là lần đầu tiên. Trong sáu tháng qua thế giới đã sống trong sự hồi hộp của sự xuống giá của thị trường chứng khoán Trung Quốc ở Thẩm Quyến cũng như ở Thượng Hải.
– Kết luận thứ hai nó cũng có phần quan trọng của nó là nền công nghiệp Trung Quốc sụp đổ; đó là vì nhiều xí nghiệp công nghiệp Trung Quốc chủ yếu được niêm yết giá tại thị trường Thẩm Quyến mà thị trường Thẩm Quyến trong 2 tuần sút giảm 24%. Như vậy là sự sụt giảm quan trọng. Nền kinh tế Trung Quốc cho đến ngày hôm nay có thể tóm tắt một câu là họ dựa trên sản xuất và nhân công rẻ, thực tế là họ xuất khẩu sự nghèo khổ mà chính đảng cộng sản đã là nguyên nhân. Nhưng chính sách đó ngày hôm nay đã thất bại.
Người ta đã nói nhiều tới sự suy sụp của Trung Quốc, vào giờ này tôi nghĩ không còn ai ngờ vực rằng sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc không thể đảo ngược được nữa.
Nói về trường hợp Việt Nam tôi cũng xin nói thêm về tình trạng rất mới nhân sự kiện Trung Quốc gửi các chuyến bay đến quần đảo Trường Sa. Trên 50 chuyến bay của họ đã đáp lên đảo Chữ Thập, một đảo đá họ đã chiếm được của Việt Nam và biến thành một phi trường lớn. Sự kiện này rất nghiêm trọng. Chúng ta đã để cho họ xây căn cứ ở đó thì tất nhiên có ngày máy bay của họ sẽ đáp xuống. Trong tương lai nó có thể là một căn cứ về hàng hải, nhưng cũng có thể nó là môt căn cứ quân sự. Nó sẽ làm thay đổi hẳn những dữ kiện về địa lý chính trị trong vùng. Nó đe dọa một cách nghiêm trọng hải phận của Việt Nam cũng như không phận của Việt Nam.
Một lần nữa chúng ta cần nhắc lại trước năm 1988 Trung Quốc không có hiện diện tại Trường Sa. Trung Quốc chỉ có mặt ở Trường Sa sau khi đã đánh chiếm sáu đảo của Việt Nam. Tôi đã có bài phân tích và nhiều người đã phân tích (......................). Chúng ta đừng quên là quân đội Trung Quốc chỉ đánh chiếm chính thức những đảo này vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1988. Nhưng họ đã đem hải quân đến đó từ tháng Giêng mà Việt Nam không hề có một phản ứng nào hết, và sau khi họ tấn công đánh chiếm sáu hòn đảo tàn sát 74 chiến sĩ hải quân của Việt Nam thì chính quyền Việt Nam chỉ ra một cái thông cáo phản đối chiếu lệ rất ngắn ngủi và sau đó một hai tháng bộ chính trị họp tuyên bố từ này Trung Quốc là bạn. Hiến pháp Việt Nam được sửa đổi để bỏ lời nói đầu coi Trung Quốc là thù địch. Như vậy chúng ta thấy có một sự kiện rất nghịch lý là Trung Quốc trở thành bạn của Việt Nam sau khi xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, đánh chiếm sáu hòn đảo của Việt Nam, tàn sát hải quân của Việt Nam.
(..................................)
TQT : Người ta chứng kiến sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Họ có ba thập niên liên tục tăng trưởng tới 10%. Rồi 5 năm gần đây tuy mức tăng trưởng nó có khựng lại nhưng vẫn là mức 7%. Mức này phải nói rằng nhiều nước mơ mà không được. Phải chăng những con số Trung Quốc đưa ra là ảo. Thực trạng kinh tế Trung Quốc hiện nay là thế nào thưa ông ?
NGK : Trước hết chúng ta đừng nên quên Trung Quốc vẫn là một chế độ cộng sản và đặc tính của mọi chế độ cộng sản là họ bưng bít sự thật. Họ đưa ra những con số dối trá. Nhiều khi dối trá một cách lộ liễu.
Thí dụ năm 2014, ngoại thương của Trung Quốc, xuất nhập khẩu của Trung Quốc, đã giảm 11% trong khi con số tăng trưởng của Trung Quốc vẫn là 7,5%. Đối với một người có một chút lý luận câu hỏi đặt ra là làm thế nào một nền kinh tế chủ yếu đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,5% trong khi mức xuất nhập khẩu giảm 11% ? Không thể có. Thực trạng này nó khiêu khích lô-gich nhiều quá, cho nên có một công ty tư vấn về tài chính tại Anh là công ty Lombard Street đã dùng những con số của chính Trung Quốc để tính lại một cách đúng đắn và thấy tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc chỉ là 1,7% thôi. Nhưng ngay cả con số 1,7% này cũng không thể tin được vì khi xuất khẩu đã giảm sút nặng nề đến như vậy thì tăng trưởng kinh tế làm gì có, kinh tế phải suy thoái thôi. Những con số của Trung Quốc không đáng tin chút nào.
Đầu tháng 4/2014 tôi có viết bài « Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang » tôi đã phân tích rằng tình hình kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa. Nhận xét của tôi có lẽ nó không nghiêm khắc bằng nhận xét của ông Lý Khắc Cường, thủ tướng Trung Quốc. Cũng vào giai đoạn đó ông Lý Khắc Cường nói rằng : « Từ nay chúng ta phải tuyên chiến với mô hình kinh tế và nếp sống của chúng ta », một lời tuyên bố rất nặng nề. Khi nói tuyên chiến với một cái gì đó người ta phải coi nó là thù địch. Ông Lý Khắc Cường tuyên bố mô hình kinh tế của Trung Quốc sai hoàn toàn. Nói chung từ trước đến giờ nó đặt trên nền tảng sản xuất tối đa với giá thật rẻ để xuất khẩu được nhiều. Nói cách khác họ xuất khẩu sự nghèo khổ mà hính họ là nguyên nhân. Thế nhưng mà làm như thế cũng không được về mặt kỹ thuật và kinh tế thuần túy; ngay cả nếu chúng ta bỏ qua khía cạnh chính trị và nhân đạo mô hình đó vẫn là sai. Lý do là vì từ trước đến nay một nền kinh tế lành mạnh luôn luôn phải đặt nền tảng trên một thị trường nội địa lành mạnh. Đó là điều anh em chúng tôi (.....................) đã nhận định. Vào năm 2001, khi mô hình Trung Quốc được cả thế giới ca tụng, anh em chúng tôi có đưa một dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 trong đó chúng tôi đã nhận định mô hình Trung Quốc là rất sai. Đó là mô hình bất chấp con người, bất chấp môi trường và bất chấp cả các qui luật kinh tế. Trong thảo luận anh em chúng tôi còn nói nếu mô hình tăng trưởng của Trung Quốc mà đúng thì phải dẹp hết các trường đại học về kinh tế và hủy bỏ hết các cuốn sách kinh tế. Ngày hôm nay rõ ràng mô hình dựa trên xuất khẩu không thể tiếp tục được. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008 Trung Quốc đã cố gắng phát triển thị trường mội địa. Đây là một cố gắng theo chiều hướng đúng nhưng rất khó khăn. Đặc tính của thị trường nội địa là mình không thể phát triển nó một cách đột ngột như phát triển xuất khẩu được mà phải phát triển nó một cách đều đặn, tuần tự và với nhiều cố gắng kiên nhẫn và liên tục. Nhưng điều đó Trung Quốc không làm. Trung Quốc cho rằng muốn tăng cường thị trường nội địa phải tăng lương cho công nhân để công nhân có tiền mua sắm. Nhưng người công nhân Trung Quốc không được bảo đảm về sức khỏe cho nên khi có được một phần gia tăng về lương bổng thì họ dùng số tiền mới có thêm được để dành, phòng mỗi khi yếu bệnh. Cho nên chính sách phát triển thị trường nội địa một cách nhanh chóng của Trung Quốc đã thất bại. Nó chỉ đưa đến kết quả ngược lại là làm giá cả các hàng hóa của Trung Quốc trở thành đắt đỏ và khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm lại càng giảm đi nhanh hơn. 
Chính sách phát triển thị trường nội địa tuy vẫn phải tiếp tục nhưng không thể thực hiện dễ dàng như họ nghĩ. Từ đầu mùa hè năm 2014 họ đưa ra một chiến dịch mới để thay thế cho một chiến dịch họ vẫn làm từ trước tức là dùng chi phí công cộng và dùng những công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, dùng các công trình xây dựng bất động sản. Trong một thời gian họ đã giấu được sự suy thoái nhưng cuối cùng họ đã tạo ra những thành phố ma, những chung cư không có người ở, những đường cao tốc không có xe chạy; cuối cùng khiến số nợ công của Trung Quốc gia tăng lên một cách đáng sợ.
Từ mùa Hè năm 2014 họ có một tham vọng mới, đó là biến Thượng Hải và Thẩm Quyến thành những trung tâm tài chính quốc tế tương đương với New York và London. Kết quả là một năm sau, năm 2015, chúng ta chứng kiến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Thượng Hải. Và đầu năm nay sau khi Trung Quốc đã bỏ ra hàng trăm tỷ đô la để cứu vãn thì chúng ta thấy thị trường Trung Quốc nó đi vào một giai đoạn suy thoái mới. Lần này Trung Quốc tuyên bố bỏ cơ chế đóng cửa ở thị trường chứng khoán tự động, nghĩa là cứ để cho thị trường chứng khoán từ từ mà sụt xuống, còn nếu muốn cố gắng cứu vãn thì bơm thêm tiền vào mua những cố phiếu bị đe dọa cứu được phần nào hay phần đó. Nhưng tôi thấy đây chỉ là một sự đầu hàng. Cái gì vừa xảy ra đúng là chứng tỏ thị trường chứng khoán Trung Quốc không cứu vãn nổi và nền kinh tế Trung Quốc nói chung không có lối thoát.
TQT: Cũng trong bài « Khi Thiên triều sụp đổ, và lịch sử sang trang » ông có nói là vấn đề kinh tế không phải là nghiêm trọng lắm đối với Trung Quốc mà vấn đề nghiêm trọng, cực kỳ nghiêm trọng, đối với Trung Quốc là vấn đề môi trường và chính trị. Tại sao lại như vậy và những nhận định ấy bây giờ còn đúng không thưa ông?
NGK: Bây giờ còn đúng hơn trước, thưa ông Trần Quang Thành. Chúng ta không nên quên là trong tháng 12, tháng cuối cùng của năm 2015, Bắc Kinh đã phải đóng cửa các nhà máy, đóng cửa các trường học, các công sở trong vòng một tuần lễ. Các hoạt động ở Bắc Kinh ngừng trệ trong vòng một tuần lễ là vì ô nhiễm của không khí đã đạt đến mức độ không thể chịu đựng được nữa. Muốn hiểu rõ hơn tình hình bi đát của môi trường Trung Quốc chúng ta hãy tham khảo một vài con số do Tổ Chức Y Tế Thế Giới đưa ra. Mức độ không khí bình thường là từ 10 đến 12 microgram/m3 hạt mịn. Hạt mịn là những hạt cực nhỏ có thể chui vào phổi vì đường kính dưới 2,5 micron. Nó chui vào trong phổi làm cho phổi cứng người ta không thở được nữa và nó có thể làm người ta chết vì ung thư hoặc chết vì không thở được nữa.
Theo tổ chức Y Tế Thế Giới mức độ không khí bình thường là từ 10 đến12 microgram hạt mịn trong một mét khối. Mức độ được cho là nguy ngập đến tính mạng là 25 microgram/m3. Nhưng ở Trung Quốc những ngày nào tốt là 80 microgram/m3. Có ngày nó lên tới 200 microgram/m3. Ở tỉnh Hà Bắc có ngày lên tới 1.400 microgram/m3, tức là gần 60 lần mức độ nguy hiểm chết người. Phải nói là tình hình ô nhiễm không khí ở Trung Quốc ghê gớm lắm.
Nhưng đó không phải là tất cả. Trung Quốc cũng là một nước rất thiếu nước. Hiện nay quá nửa các dòng sông ở Trung Quốc không có nước nữa. 400 thành phố hoàn toàn không có nước trên bề mặt phải hút nước từ lòng đất lên để dùng. Chiều sâu để hút được nước ngày càng xuống. Ở các tỉnh như vùng Tân Cương, Sơn Tây phải đào sâu xuống gần 100 mét mới hút được nước lên. Tình trạng nước ở Trung Quốc rất nguy ngập. Đất nước Trung Quốc đang bị phá hủy. Đây là hậu quả chính sách của Trung Quốc trong hơn 30 năm qua trong đó Trung Quốc đã kỹ nghệ hóa tối đa bất chấp môi trường, bất chấp cả con người. Cho nên ngày nay các chuyên gia trên thế giới không nhìn thấy giải đáp.
Năm 2000 Trung Quốc đã bỏ ra hơn 5 tỉ đô-la để nghiên cứu làm sao cứu được sông Dương Tử. Sau khi sài hết 5 tỉ đô-la đó các chuyên gia kết luận là không tài nào cứu được sông Dương Tử cả và mọi sự sống sẽ biến mất. Ngày nay nạn thiếu nước ở Trung Quốc có thể đưa đến nội chiến. Đã có trường hợp có những tỉnh hoặc những huyện trong một tỉnh giao chiến với nhau để giành một con sông. Có thể nói vấn đề môi trường của Trung Quốc cũng không có giải đáp.
Kể từ ngày Tập Cận Bình lên cầm quyền lại có một vấn đề nữa là cuộc khủng hoảng chính trị. Nhìn từ bên ngoài vào, có lẽ vì người Việt Nam chúng ta có quá nhiều vấn đề cho nên chúng ta không quan tấm lắm đến những vấn đề xẩy ra ở Trung Quốc. Thực ra chiến dịch chống tham nhũng mà người Trung Quốc đặt một cái tên rất ngộ nghĩnh là « Đả hổ, diệt ruồi » đã gặp phải một trở ngại không thể tưởng tượng được. Nhóm thân cận của Tập Cận Bình đã không lường trước được mức độ dữ dội của nó. Lúc này Trung Quốc đang sống trong sự nghi vấn rất lớn là chế độ có thể tồn tại như thế này được hay không ? Ông Tập Cận Bình nhân danh chống tham nhũng để phục hồi kinh tế nhưng trên thực tế đời sống nhân dân Trung Quốc đã sút giảm. Ông Tập Cận Bình có thể bị sụp đổ không phải vì ông đã làm gì sai mà vì ông thừa hưởng một di sản mà ông không thể nào cứu chữa được nữa.
Cho đến ngày hôm nay chế độ cộng sản Trung Quốc đã tồn tại dựa trên hai thỏa hiệp bất thành văn :
– Thỏa hiệp thứ nhất là nhân dân Trung Quốc chấp nhận để Đảng Cộng sản tiếp tục chế độ toàn trị và khước từ những tự do căn bản của họ, nhưng với điều kiện là chế độ này vẫn tạo ra được một sự tăng trưởng đều đặn ở mức độ rất cao. Như ông Ôn Gia Bảo thời trước đã nói nếu Trung Quốc không có tăng trưởng trên 8% thì sẽ có bạo loạn. Bây giờ thì không những không có tăng trưởng 8% mà kinh tế vẫn tiếp tục sa sút.
– Nguy cơ thứ hai về chính trị của Trung Quốc, do kinh tế mà đến, là sự ổn vững của Trung Quốc cũng dựa trên một thỏa hiệp bất thành văn thứ hai là người dân Trung Quốc chấp nhận để bị bóc lột, làm nhiều với lương rẻ để tích lũy tư bản cho các công ty có lời nhiều và dùng lợi nhuận đó tiếp tục đầu tư vào kinh tế. Nhưng bây giờ 2/3 những người giàu có của Trung Quốc có ý đồ rời bỏ Trung Quốc hoặc đã rời bỏ Trung Quốc. Nói một cách khác tư bản mà họ đã đổ mồ hôi nước mắt ra để tích lũy được cho các công ty ngày hôm nay đang đào thoát ra nước ngoài. Cho nên có một sự phản bội, phản bội về mô hình kinh tế, phản bội cả về đạo đức chính trị và về lòng yêu nước.
Cho nên Tập Cận Bình đang sống những ngày khó khăn. Tôi nghĩ hiện nay kinh tế tuy khó khăn nhưng nó không bằng hai vấn đề khác : Vấn đề trầm trọng nhất vẫn là môi trường và vấn đề trầm trọng thứ hai là đề khủng hoảng chính trị.
TQT : Ông có nói vấn đề thứ hai là trầm trọng khủng hoảng chính trị. Nhưng tôi thấy dường nhuông Tập Cận Bình đang làm chủ trong vấn đề chính trị. Ông ấy mở chiến dịch chống tham nhũng tràn khắp cả nước. Người bị đụng chạm đến không phải là những quan chức bình thường mà là giới chức cao nhất Trung Quốc kể cả ông Giang Trạch Dân cũng đang có nguy cơ. Ông đang củng cố lại quân đội theo hệ thống quản lý của Quân ủy trung ương. Ông ấy tràn ra Biển Đông chiếm các hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam để làm sân bay. Máy bay hạ cánh xuống bất chấp sự phản đối. Vậy phải chăng ông ấy đang làm chủ được về chính trị ?
NGK : Theo như tôi vừa nói vì chúng ta có quá nhiều vấn đề nội bộ nên chúng ta không quan sát kỹ tình hình Trung Quốc. Nhưng các chuyên gia theo dõi tinh hình Trung Quốc đều nhận định tình hình Trung Quốc rất là căng thẳng. Cố gắng của ông Tập Cập Bình càng ngày càng khó khăn.
Vấn đề là Tập Cận Bình thừa hưởng một đất nước Trung Quốc cũng tan hoang, cũng bị phân hóa từ bên trong như ông Gorbachev đã thừa hưởng ở Liên Xô năm 1985. Gorbachev đã cố gắng để cải tổ toàn diện hệ thống của Liên Xô nhưng đã không cải tổ được. Ông ấy đã thất bại, nhưng ít ra cũng đã giúp cho chế độ cộng sản Liên Xô được giải thể trong hòa bình, giúp Liên Bang Xô Viết hạ cánh an toàn, tuy cũng mất đi một số nước như Ukraine, Georgia, Khazakstan…Trái lại Tập Cận Binh từ chối những cải tổ cần thiết và đang ngày càng tích lũy nhiều khó khăn.
Điều chúng ta đáng lo ngại không phải là Trung Quốc khiêu khích trên Biển Đông hoặc khiêu khích với Nhật Bản. Chúng ta thấy gần đây họ không dám khiêu khích Nhật Bản trên hòn đảo Điếu Ngư nữa và họ cũng muốn hòa dịu với Hàn Quốc. Tại Biển Đông (...................) họ còn lộng hành một tí. Nhưng tôi nghĩ tình trạng này cũng sẽ không kéo dài vì chế độ Trung Quốc đang lung lay từ bên trong theo cái lô-gich bình thường của một chế độ gần giống như một đế quốc, nghĩa là tập trung nhiều lực lượng, nhiều khối không giống nhau, không có nguyện vọng sống chung, không tương đồng về mặt văn hóa, địa lý và kinh tế, sản xuất. Khi một đế quốc như vậy gặp khó khăn nó thì co cụm lại chứ nó không khiêu khích với bên ngoài.
Trái với sự lo lắng của nhiều người tôi nghĩ rằng chúng ta không phải lo sợ lắm về tình hình Biển Đông. Trung Quốc sẽ không làm tới ở một mức độ dữ dội. (...................) họ đã xây các đảo nhân tạo trên Trường Sa, họ xây phi trường, họ sẽ hiện diện ở đó. Sự hiện diện đó có thể mạnh trong lúc đầu, nhưng mà nó sẽ không mạnh trong tương lai khi mà Trung Quốc yếu đi. Và nếu chúng ta là một nước Việt Nam dân chủ, khai thác được đầy đủ những tài nguyên của chúng ta thì chúng ta sẽ mạnh lên và sẽ buộc Trung Quốc phải có một thái độ biết điều hơn, khiêm tốn hơn ở Biển Đông. Tôi nghĩ vấn đề Biển Đông mặc dầu là một xúc phạm lớn đối với mọi người Việt Nam nhưng nếu chúng ta có được một chế độ dân chủ lành mạnh thì những vấn đề ấy cũng không đến nỗi quá phức tạp.
dưới đây là một đoạn rất dài về chính trị VN mà Blog phải cắt bỏ. Ai quan tâm thì xem trong trang gốc:
https://anhbasam.wordpress.com/2016/01/17/6577-trung-quoc-phai-chang-chi-khung-hoang-ve-kinh-te/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chúng tôi cũng chẳng sung sướng gì khi là láng giềng cùng quý quốc!

Nhiều người Trung Quốc không muốn làm láng giềng với Việt Nam
Mới đây, Hoàn cầu Thời báo phiên bản tiếng Hoa đã tiến hành một cuộc khảo sát trực tuyến với tên gọi “Hãy chọn láng giềng của mình”, với nội dung, nếu có thể “là Chúa” thì họ sẽ lựa chọn lại những quốc gia láng giềng của Trung Quốc như thế nào.

Hơn 200 nghìn cư dân mạng đã trả lời 3 câu hỏi với hơn 1.600 lời bình luận: “Bạn nghĩ quốc gia láng giềng sẽ phải như thế nào?”; “Quốc gia láng giềng nào bạn muốn chuyển đi nhất và quốc gia nào bạn muốn giữ lại?”; “Quốc gia nào bạn muốn đặt bên cạnh Trung Quốc?”

Những quốc gia nằm trong danh sách muốn bị “chuyển đi” gồm Philippines (11.671 phiếu), Việt Nam (11.620 phiếu), Bắc Hàn (11.024 phiếu), Ấn Độ (10.416 phiếu), Afghanistan (8.506 phiếu), và Indonesia (8.167 phiếu).

Hầu hết các quốc gia này đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
Ông Ge Hanwen, một chuyên gia khoa Quan hệ Quốc tế của Đại học Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa nói với Hoàn cầu Thời báo: “Philippines và Việt Nam đã liên tục làm rùm beng trên vùng biển Nam Trung Quốc. Đây là lý do tại sao họ để lại ấn tượng xấu với người Trung Quốc”.

Đứng đầu danh sách muốn bị “chuyển đi” là Nhật Bản với 13.196 phiếu.

Giáo sư Su Li Zhou của Đại học Chính trị và Luật pháp Tây Nam nói với Hoàn cầu Thời báo rằng cư dân mạng Trung Quốc muốn “chuyển Nhật Bản đi” là vì chính phủ Nhật Bản đã không xin lỗi về các vấn đề lịch sử và việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư khiến mối quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản trở nên xấu đi.

Trong một cuộc khảo sát khác của Trung tâm Nghiên cứu PEW ở Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam là hai nước có quan điểm rất tiêu cực về Trung Quốc với tỉ lệ lần lượt là 89 và 74%.

Về quan hệ với Trung Quốc, gần 3/4 người Việt Nam cho rằng cứng rắn với Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ quan trọng hơn là có mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với nước này.

Theo Global Times


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2016

"Cẩn tắc vô áy náy"!

Ðường tiến quân của kẻ thù phương Bắc khi xâm lăng nước ta

TQ-VN
Tác giả: Hồ Bạch Thảo
Một nông dân sống nơi hẻo lánh, thường bị trộm cướp viếng thăm, ắt phải nghĩ cách rào dậu vườn nhà, đề phòng cẩn mật. Một nước trải qua mấy ngàn năm lịch sử bị kẻ thù truyền kiếp tiếp tục dòm ngó xâm lăng, thì những người lo việc quân sự hoặc thiết tha với tiền đồ đất nước cần phải biết trong quá trình lịch sử quân giặc đã từ ngõ ngách nào tới. Nhắm ôn chuyện cũ để biết việc hiện tại, bài viết này đề cập đến những điều thiết yếu, mà những người có trách nhiệm không thể không quan tâm.
Qua lịch sử, phần lớn các cuộc tiến công xâm lăng nước ta đều sử dụng con đường dịch trạm chiến lược được Trương Phụ mô tả khi tâu lên vua Minh Thành Tổ, nhân đánh thắng nhà Hồ mang quân khải hoàn về nước:
Ngày 11 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [4/7/1408]
Tân Thành hầu Trương Phụ tâu rằng thời gian bình định Giao Chỉ các nha môn được thiết lập, triều đình sai sứ đến, cùng các ty tấu báo đều qua dịch trạm. Tại các phủ Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây nên lập thêm 19 trạm dịch bằng ngựa và đường thủy. Từ trạm Đông Giang phủ Quế Lâm đến huyện Bằng Tường phủ Tư Minh, các trạm dịch bằng ngựa trước sau có tất cả 31 trạm; chỗ nào đường xa nên lập trung trạm; từ phủ Nam Ninh đến Long Châu đường thủy dài, nên tăng trạm dịch cho thuyền, cùng đặt sở vận chuyển… [1]
Nhắm dễ hiểu, hãy dùng tên đất và đơn vị đo lường ngày nay để mô tả con đường này:
Xuất phát từ Quế Lâm cách biên giới nước ta khoảng 500 km, đi xuống phía tây nam 150 km đến Liễu Châu, nơi mất của văn hào nổi tiếng đời Ðường, Liễu Tông Nguyên; tiếp tục theo hướng tây nam 200 km đến Nam Ninh (Ung Châu), thủ phủ tỉnh Quảng Tây. Tại nơi này cách biên giới khoảng 150 km, vị trí gần như tâm vòng tròn, mà biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh là cung của vòng tròn; nên có thể sử dụng nhiểu đường xâm nhập vào nước ta [2] :
  • Từ Nam Ninh theo hướng tây nam đến Sùng Tả (thủ phủ Thái Bình), qua Ninh Minh (phủ Tư Minh cũ), Bằng Tường; nhắm xâm nhập các ải Cấp Lãnh, Nam Quan;
  • Từ Nam Ninh theo đường bộ dọc sông Tả Giang đến Long Châu, từ đó xâm nhập tỉnh Cao Bằng;
  • Từ Nam Ninh đi đường thủy theo sông Tả Giang đến Long Châu, nơi này dòng sông rẽ làm hai. Nhánh bên trái xâm nhập vào tỉnh Lạng Sơn nước ta qua cửa ải Bình Nhi; nhánh bên phải đến cửa ải Thủy Khẩu, sông này tại nước ta có tên là sông Bằng, ngược dòng dẫn đến tỉnh lỵ Cao Bằng;
  • Dùng đường thủy hoặc bộ đến Phòng Thành, Quảng Tây; từ đó có thể vào tỉnh Quảng Ninh bằng hai đường thủy, bộ.
Dựa vào lịch sử, có thể phân ra những hướng xâm nhập vào nước, ta qua các thời như sau:
1. Hướng Lạng Sơn
  • Thời vua Lê Ðại Hành [980], nhà Tống sai viên Tri Ung Châu (Nam Ninh) Hồng Nhân Bảo làm Giao Châu lục lộ thủy lộ Chuyển vận Sứ mang quân sang đánh nước ta; tháng 3 cánh quân của Nhân Bảo vào Lạng Sơn [3] .
  • Thời vua Lý Nhân Tông [1076] nhà Tống sai Quách Quì phản công đạo quân của Lý Thường Kiệt; đại quân của Quách Quì từ Tư Minh, Bằng Tường vượt qua biên giới nước ta, theo đường cửa ải Nam Quan [4] .
  • Thời nhà Trần, Thoát Hoan hai lần đến xâm lăng nước ta qua ngả Lạng Sơn, lần thứ nhất [1284] tiến vào Khâu Ôn, Cấp Lãnh. Lần thứ hai [1287] đưa Trần Ích Tắc trở về nước, quân bộ tới Lộc Châu; lúc rút lui bị quân nhà Trần chặn cửa ải, phải nhờ người dẫn đường theo lối tắt thoát ra khỏi nước [5] .
  • Nhà Minh 5 lần mang đại quân vào nước ta theo hướng Lạng Sơn [6] .
    1. Lần thứ nhất [1406] Chu Năng làm Tổng Binh bị bệnh mất tại Long Châu, Trương Phụ thay thế mang quân từ Bằng Tường vào ải Pha Luỹ (Nam Quan).
    2. Lần thứ hai [1409] Trương Phụ mang quân sang cứu Mộc Thạnh. Lúc này bọn Thạnh thua to bởi quân khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế. Quân Trương Phụ tiến theo hướng Lạng Sơn, rồi đóng quân tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Giang, chặt gỗ đóng thuyền để chuẩn bị thủy chiến.
    3. Lần thứ ba: sau khi đánh dẹp xong Giản Ðịnh Ðế, mang quân về đến Nam Ninh [1411]; Trương Phụ lại xin mang quân trở lại đánh dẹp quân của Trần Quí Khoách.
    4. Lần thứ tư: Vương Thông mang quân sang tiếp viện cho bọn Trần Trí [1426] bị sa lầy bởi nghĩa quân Lê Lợi.
    5. Lần thứ năm: Liễu Thăng mang đại quân tiếp viện cho Vương Thông [1427] bị phục kích chết tại ải Chi Lăng, Lạng Sơn.
  • Vua Càn Long nhà Thanh [1788] sai Tôn Sĩ Nghị mang quân sang xâm lăng nước ta, quân từ hướng Quảng Tây xâm nhập cửa ải Lạng Sơn [7] .
2. Hướng Cao Bằng
  • Trước khi Quách Quì mang đại quân vào Lạng Sơn [1706], viên tướng này cẩn thận đề phòng Lý Thường Kiệt dùng quân từ Cao Bằng đánh ngang hông; nên sai Phó tướng Yên Ðạt mang một cánh quân từ Quảng Tây vào đánh chiếm Quảng Nguyên, thuộc tỉnh Cao Bằng [8] .
  • Cùng thời gian Tôn Sĩ Nghị mang quân vào Lạng Sơn [1788], Tri phủ Sầm Nghi Ðống xuất quân từ Ðiền Châu (vị trí tại sông Hữu Giang, thuộc huyện Ðiền Dương ngày nay) xuống phía nam băng qua biên giới đến Mục Mã Cao Bằng, qua Thái Nguyên, rồi cùng cánh quân Tôn Sĩ Nghị tiến đến thành nhà Lê [Hà Nội] [9] .
3. Hướng Hà Giang
Cùng phối hợp với đạo quân Tôn Sĩ Nghị theo thế ỷ dốc, cánh quân Vân Nam do Ô Ðại Kinh chỉ huy vào biên giới nước ta [1788] qua xứ Ðô Long, rồi từ thượng nguồn sông Lô, trên đường tiến đến thành nhà Lê [Hà Nội].
4. Hướng Lào Cai
  • Từ thời nhà Tống trở về trước, tỉnh Vân Nam thuộc nước Ðại Lý. Ðến đời Nguyên, quân Mông Cổ băng qua tỉnh Tứ Xuyên, chiếm nước Ðại Lý, rồi đến biên giới nước ta [1257] tại tỉnh Lào Cai, đòi mượn đường để đánh quân Nam Tống tại các châu Ung, Quế (phủ Nam Ninh, Quế Lâm thuộc tỉnh Quảng Tây). Vua Trần Thái Tông khước từ, quân Nguyên theo ngả Lào Cai xâm lăng nước, nhưng cuối cùng bị thất bại [10] .
  • Song song với việc nhà Minh 5 lần mang quân sang đánh nước ta theo hướng Lạng Sơn, tại Vân Nam Mộc Thạnh cũng được lệnh mang quân đến nước ta ba lần theo hướng Lào Cai [11] :
    1. Lần thứ nhất [1407]: Phối hợp với cánh quân Trương Phụ tiến công theo hướng Lạng Sơn, quân Vân Nam xuất phát từ Mông Tự, Lâm An, theo dòng sông Thao (Hồng Hà) xâm nhập nước ta. Hai cánh quân họp lại, để chuẩn bị tấn công thành Ða Bang.
    2. Lần thứ hai [1408]: Quân Minh tại nước ta không chống nổi quân khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế, vua Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh mang quân theo ngả Lào Cai sang tăng cường.
    3. Lần thứ ba [1427]: Mộc Thạnh cùng Liễu Thăng được lệnh mang quân sang cứu Vương Thông. Quân Mộc Thạnh đến châu Thủy Vỹ , chần chờ không chịu tiến, cuối cùng bị quân vua Lê Lợi đánh thua.
5. Hướng đường biển tỉnh Quảng Ninh
  • Sử ghi nhận Mã Viện là người đầu tiên mang quân theo đường biển đến đánh nước ta thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa [42], nhưng không ghi rõ theo dòng sông nào vào nước ta [12] .
  • Thời nhà Ngô [938] Hoằng Thao tiến quân vào sông Bạch Ðằng tại tỉnh Quảng Ninh bị đại bại, Hoàng Thao bị quân Ngô Quyền bắt sống.
  • Thời nhà Lý [1077], trong khi quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy cầm cự với quân ta tại phòng tuyến sông Cầu; Hòa Mân và Dương Tùng Tiên mang thủy quân từ Quảng Ðông đi dọc theo sông Ðông Kênh (có lẽ là cửa Tiên Yên, Quảng Ninh ngày nay) để vào sông Bạch Ðằng, phối hợp với quân Quách Quì; nhưng bị quân ta đánh chặn nên hai đạo quân không tiếp xúc với nhau được.
  • Thời nhà Trần [1287] thủy quân nhà Nguyên vào đánh phá cửa Vân Ðồn; đoàn thuyền lương theo sau bị quân của Trần Khánh Dư đánh tan.
6. Hướng Chiêm Thành cũ
  • Nguyên soái Toa Ðô nhà Nguyên đem quân từ Vân Nam [1285] qua nước Lão Qua, thẳng đến Chiêm Thành, hội quân tại Ô, Lý rồi đánh châu Hoan, châu Ái (Thanh, Nghệ Tĩnh). [13]
  • Nhắm giúp Chiêm Thành đánh nhà Hồ [1406], vua Minh Thành Tổ sai Ðô ty Quảng Ðông điều một toán quân vượt biển, phối hợp với Chiêm Thành đánh nước ta từ phương nam.
***
Xét về sự thể xưa nay, núi sông địa hình tuy có bồi lở lệch dòng, nhưng vẫn còn đó; riêng phương tiện giao thông thì đã thay đổi rất nhiều. Ngày xưa đường bộ tính bằng ngày đường, nhật ký của Thượng thư Hoàng Phúc sang làm quan tại nước ta dưới thời Minh thuộc, ghi về đoạn đường biên giới Lạng Sơn như sau:
Sáng sớm từ ải Pha Lũy tại biên giới đi ngựa đến giờ Ngọ đến đồn Khâu Ôn.
Ngày hôm sau khởi hành từ sáng tại Khâu Ôn đến giờ Ngọ đến ẢI Lưu, tiếp tục đến chiều đến đồn Kê Linh [Lăng]. Đi tiếp 2 ngày đến đồn Cần Trạm…
Quân Mông Cổ vào cửa ải nước ta tại vùng Lai Châu, dò mực nước nông sâu để phi ngựa vượt sông, bằng cách giương cung, lắp tên, bắn xuống nước; nếu tên cắm xuống nước không nổi lên, tức mực nước cạn; nếu tên không xuống được đến đáy nên nỗi bềnh lên, tức nước sâu. Về việc đi biển thì phải chờ tháng gió mùa, có những lúc đứng gió, thuyền như bị mắc bẫy giữa đại dương, suốt ngày này qua ngày khác.
Ngày nay ra khỏi biên giới Việt – Trung, đường xe lửa, đường cao tốc, tốc độ 100km/giờ; tại các địa danh đã được đề cập như Nam Ninh, Long Châu v.v… đều có phi trường lớn nhỏ; ngoài biển, chiến hạm với tốc độ vài chục hải lý giờ, khiến Biển Ðông cơ hồ nhỏ lại như một cái ao!
Tuy nhiên trong sự biến cũng có thể rút ra những điểm chung. Qua phần lớn các cuộc chiến tranh xâm lăng nước ta từ xưa đến nay, Trung Quốc thường dùng Nam Ninh (châu Ung) làm điểm tập trung quân, kho dự trữ lương thực. Thời nhà Tống, Tể tướng Vương An Thạch sai viên Tri châu Thẩm Khởi huấn luyện quân man động, tu sửa thuyền bè chuẩn bị sang đánh nước ta; tướng Lý Thường Kiệt nhà Lý ra tay trước, vây đánh thành Ung hơn 40 ngày, cuối cùng hạ được. Nhờ viên Tri châu Tô Giam liều chết tử thủ, nên nhà Tống kịp thời chuẩn bị. Ðề cập đến vị trí chiến lược quan trọng của thành Ung [Nam Ninh]; vua Thần Tông nhà Tống, gọi con Tô Giam là Nguyên đến an ủi tại triều điện, đã tiết lộ như sau: “Nếu Ung châu không được cha ngươi thủ ngự, để mất như hai châu Liêm, Khâm, thì giặc có thể thừa thắng đuổi dài, các vùng Tân, Tượng, Quế (tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây) không thể nào giữ nổi.” [14]
Ngày nay hãy nhìn qua thành phố Nam Ninh (Ung Châu), vẫn là nơi đô hội. Không kể đến xe lửa và hàng không, đường cao tốc, xa lộ nơi đây chằng chịt; phía đông bắc chạy đến Hồ Nam, Hồ Bắc, Bắc Kinh; phía đông đến Quảng Châu, Hồng Kông; phía nam đến Lạng Sơn, Cao Bằng; phía tây đến Vân Nam, rồi đến Lào Cai, Hà Giang nước ta; phía tây bắc đến Quí Châu, Tứ Xuyên. Về đường thủy thì hạ lưu con sông tại Nam Ninh chảy xuống Quảng Châu, Ma Cao, Hồng Kông; thượng lưu nối sông Tả giang, ngọn nguồn đến tận các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng nước ta. Nếu chiến tranh Trung – Việt xẩy ra, Nam Ninh cách biên giới nước ta khoảng 150 km, ngoài tầm bắn của các loại đại pháo; là nơi tập trung an toàn cho lương thực, quân đội, để thuận tiện điều đi các mặt trận; về mặt chiến lược, nơi này vẫn xứng đáng là một đại bản doanh.
Riêng kế hoạch xâm lăng nước ta từ hướng nam đã có từ thời nhà Tống. Lúc bấy giờ [1076] Quách Quì mang đại quân xuống Ung châu (Nam Ninh) chuẩn bi tấn công biên giới phía bắc nước ta, lại sai Mân Hòa và Dương Tùng Tiên đem quân theo đường biển, nhắm hợp quân với Chiêm Thành để đánh miền nam, nhưng cuối cùng kế hoạch này bị bãi bỏ [15] . Như đã đề cập ở phần trên, trải qua các đời Nguyên, Minh; việc mang quân đánh từ Chiêm Thành ra Bắc đã được tiếp tục thực hiện. Ngày nay hải quân kỹ thuật hơn hẳn ngày xưa, thì việc đổ bộ để chia cắt phần “đòn gánh”, chiều ngang dưới 100 km thuộc miền Trung nước ta, chắc vẫn nằm trong sự tính toán của những nhà cầm quân đại Hán!
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/17/duong-tien-quan-cua-ke-thu-phuong-bac-khi-xam-lang-nuoc-ta/#sthash.hQ153ePU.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang