Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Cả nhà làm quan theo... đúng quy trình (!)


Sau huyện Mỹ Đức (Hà Nội), dư luận lại hoài nghi về việc bổ nhiệm nhiều người trong một gia đình giữ nhiều chức vụ quan trọng tại huyện An Dương (Hải Phòng)


Dư luận tại huyện An Dương, TP Hải Phòng gần đây bàn tán về việc gia đình ông Nguyễn Thế Sơn - Ủy viên Thường trực Huyện ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện An Dương - có nhiều người giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo huyện này.
“Uy tín cao”, là “điểm sáng” (!)
Xác nhận với phóng viên Báo Người Lao Động vào chiều 9-1, ông Cao Xuân Liên, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng, cho biết ông Nguyễn Thế Sơn có 4 anh em ruột và nhiều con, cháu đang nắm giữ các vị trí quan trọng. Ông Liên cho rằng đây chỉ là... ngẫu nhiên (!?). “Trường hợp ông Sơn thì thuộc Thành ủy Hải Phòng quản lý.  Quá trình lấy phiếu tín nhiệm, bổ nhiệm rất bình thường, đúng quy trình” - ông Liên nói.
Anh ruột của ông Sơn - ông Nguyễn Thế Son - hiện là Huyện ủy viên, Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch. Em ruột ông Sơn là Nguyễn Thế Hùng, cũng là Huyện ủy viên, Phó Ban Thường trực Ban Tổ chức Huyện ủy. Em gái của ông Sơn là Nguyễn Thị Thu Hương hiện là Phó Phòng Nội vụ UBND huyện.
Ngoài ra, trong gia đình quyền thế này còn có ông Nguyễn Thế Đức (con trai ông Nguyễn Thế Son) đang là Phó Bí thư Đoàn Thanh niên huyện An Dương. Cùng với đó, vợ ông Đức là Phạm Thị Như, chuyên viên Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện An Dương.
Trụ sở UBND huyện An Dương, TP Hải Phòng, nơi nhiều người trong gia đình ông Nguyễn Thế Sơn giữ các chức vụ quan trọng
Trụ sở UBND huyện An Dương, TP Hải Phòng, nơi nhiều người trong gia đình ông Nguyễn Thế Sơn giữ các chức vụ quan trọng

Trước dư luận về việc trên, ông Nguyễn Văn Hoàn, Bí thư Huyện ủy An Dương, khẳng định gia đình ông Nguyễn Thế Sơn có nhiều người “làm quan” không vi phạm những gì luật cấm, không vi phạm quy định về mặt Đảng.
“Tất cả các trường hợp trong gia đình ông Sơn không phải bây giờ mới làm hoặc kéo từ chỗ nọ, chỗ kia về mà công tác tại huyện từ lâu và có quá trình phấn đấu, trưởng thành; tiêu chí, tiêu chuẩn đều bảo đảm. Các vị trí được làm theo quy trình chặt chẽ, uy tín, tín nhiệm rất cao” - ông Hoàn khẳng định.
Bí thư Huyện ủy An Dương cho biết thêm vào thời ông Nguyễn Thế Sơn làm Phó Chủ tịch UBND huyện, những trì trệ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những vướng mắc trong đền bù, giải phóng mặt bằng được giải quyết hiệu quả, được TP đánh giá là điểm sáng.
Cùng thăng tiến
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trước khi đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện An Dương, ông Nguyễn Thế Sơn đã từng làm tổ trưởng dân phố ở thị trấn An Dương (thuộc huyện An Dương). Sau đó, ông phấn đấu dần thành cán bộ địa chính, rồi Phó Chủ tịch UBND thị trấn. Năm 2008, ông Sơn được bổ nhiệm làm Phó chánh Văn phòng Huyện ủy An Dương, Bí thư Đảng ủy xã Đại Bản. Đến năm 2014, ông được bổ nhiệm giữ cương vị Phó Chủ tịch UBND huyện An Dương và hiện là Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Hoàn, trong thời gian giữ chức vụ Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện từ nhiều năm qua, ông Nguyễn Thế Son luôn hoàn thành rất tốt nhiệm vụ được giao. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện An Dương nhiều năm liền là lá cờ đầu của Hải Phòng.
Trước đó, ông Nguyễn Thế Son từng làm việc tại Phòng Công Thương huyện, rồi Phó Giám đốc ban quản lý dự án huyện và là Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch từ 10 năm nay.
Còn trường hợp ông Nguyễn Thế Hùng, trước khi trở thành công chức của huyện, là người điều hành Công ty TNHH Đức Huy - đơn vị đã trúng thầu thi công nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách tại huyện An Dương. Năm 2007, ông Hùng được tuyển dụng về Phòng Công Thương huyện. Năm 2010, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy và nay là Huyện ủy viên, Phó Ban Thường trực Ban Tổ chức Huyện ủy An Dương.
Đối với trường hợp bà Nguyễn Thị Thu Hương, trước khi về Phòng Nội vụ UBND huyện, bà là một tiểu thương. Năm 2007, bà được tuyển dụng vào Phòng Nội vụ huyện An Dương khi chưa có bằng ĐH. Năm 2013, bà Hương học xong ĐH tại chức và được bổ nhiệm làm Phó Phòng Nội vụ huyện cho đến nay!
Mỹ Đức: Mọi việc vẫn như cũ
Về việc nhiều người trong một họ hàng làm cán bộ chủ chốt tại huyện Mỹ Đức (Hà Nội), ông Lê Văn Sang - Bí thư Huyện ủy Mỹ Đức - cho biết sau khi Thành ủy Hà Nội kiểm tra và kiểm điểm từ tháng 9-2015, đến nay mọi việc không có gì thay đổi. UBND huyện đang tập trung vào những công việc cuối năm và chuẩn bị cho lễ hội chùa Hương đầu Xuân 2016.
Theo ông Sang, các cán bộ ở Mỹ Đức được bổ nhiệm đúng quy trình, sau khi bổ nhiệm đều phát huy tốt năng lực. Bản thân ông Sang cũng có mấy chục năm làm việc ở huyện, được bố trí qua nhiều chức vụ chứ không thể chi phối được việc bổ nhiệm cán bộ.
Đối với 6 trường hợp được biệt phái từ Ban Quản lý di tích Hương Sơn về các cơ quan của huyện, hiện đã điều động 5 cán bộ trở về đơn vị cũ công tác ngay sau khi có thông tin phản ánh.
N.Quyết

10 người anh em, bà con làm cán bộ xã
Tại xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, hầu như các cán bộ chủ chốt của xã đều là họ hàng thân thuộc trong gia đình ông Lê Văn Thanh, Chủ tịch UBND xã Hạ Sơn và ông Trương Văn An, Bí thư Đảng ủy xã.
Cụ thể, ông Lê Văn Đoài, Phó Chủ tịch HĐND; ông Đinh Văn Thụ, Phó Chủ tịch UBND xã; ông Đinh Văn Hải, xã đội trưởng; ông Trương Minh Tuấn, cán bộ địa chính - xây dựng và bà Trương Thị Phòng, Chủ tịch Hội Phụ nữ - đều là người nhà ông Lê Văn Thanh.
Ông Trương Văn Trị, Trưởng Công an xã; bà Trương Thị Minh Nguyệt, Chủ tịch Hội Nông dân; ông Vi Văn Thắng, cán bộ tư pháp - thì là bà con, họ hàng với ông Trương Văn An.
Về các trường hợp “bất thường” này, ông Nguyễn Công Kích, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Quỳ Hợp, cho biết: Huyện ủy, UBND đã kiểm tra và thấy việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ tại xã Hạ Sơn đúng quy trình. Hạ Sơn là xã vùng sâu ở miền núi, cả xã có 2-3 dòng họ nên cán bộ rất dễ là anh em, người nhà với nhau. Tuy nhiên, việc một xã mà có tới 10 người có quan hệ anh em, bà con với nhau cùng làm việc thì khó tránh khỏi dị nghị, phe nhóm. Sắp tới, UBND huyện sẽ luân chuyển cán bộ tư pháp, địa chính... sang công tác ở đơn vị khác.
Đ.Ngọc

Qua ruộng dưa chớ cột giày
Câu chuyện “cả họ làm quan” ở xứ ta không mới vì đã phổ biến ở khá nhiều địa phương. Tất nhiên khó mà quy kết việc bổ nhiệm người nhà làm cán bộ là đúng hay sai nếu cơ quan chức năng chưa kiểm tra cặn kẽ.
Vậy thì tại sao dư luận luôn cảnh giác với tình trạng này? Người dân luôn nghi ngại cán bộ địa phương cùng họ hàng?
Không phải bây giờ, mà ngay từ thời Lý - Trần đã có những quy định để tránh. Người làm quan đầu tỉnh không được bổ nhiệm tại quê quán của mình. Nguyên do chính là để tránh tình trạng cất nhắc con cháu, người họ hàng cùng làm quan. Thứ đến là khi xử lý vụ việc địa phương không phải bị khó xử nếu va chạm với người cùng họ hàng. Quan trọng hơn, nếu cất nhắc nhiều người cùng họ hàng làm quan thì cơ chế kiểm tra, xử lý để ngăn ngừa tham ô, lạm quyền... dễ bị triệt tiêu.
Hiện nay, chúng ta đang đề cao phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa hành vi lạm quyền, trục lợi của cán bộ thì câu chuyện cả họ làm quan cần phải được đề cao cảnh giác hơn. “Một người làm quan cả họ được nhờ” - là câu nói đầy ẩn ý của người xưa mà đến nay ít ai nghi ngờ tính xác thực của nó.
Cán bộ “chạy” ghế, đầu cơ vị trí, “cài” người nhà vào bộ máy chính quyền địa phương đã là... “chuyện thường ngày ở huyện” trong mắt người dân. Sự kín kẽ của cái gọi là quy trình sẽ làm người dân không thể chỉ mặt đặt tên, tố cáo cho rõ ràng nhưng chắc chắn họ thấy và không tin tưởng vào những cán bộ này. Xét cho cùng, làm cán bộ chính là để phục vụ người dân. Nếu người dân đã không tin tưởng, nghi ngại vấn đề cả họ làm quan thì bản thân cán bộ hãy sòng phẳng, đừng để xảy ra tình trạng này.
Người xưa có câu nói: “Qua vườn lý đừng sửa mũ, qua ruộng dưa chớ cột giày”. Nếu thanh bạch, trong sáng thì đừng làm gì để người khác phải nghi ngờ. Nếu đủ năng lực thì có thể ứng cử vào bất cứ địa phương nào chứ việc gì phải tập trung vào một chỗ?!
Phạm Hồ

Bài và ảnh: Trọng Đức 
Nguồn: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ca-nha-lam-quan-theo-dung-quy-trinh-20160109231842853.htm
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhận diện và đột phá cấp bách các nguy cơ trong Đảng hiện nay


TCCS - Kinh nghiệm 85 năm lãnh đạo, trong đó có hơn 70 năm cầm quyền của Đảng ta khẳng định, một trong những bài học thành công là, luôn cảnh giác, chủ động dự báo và kiên quyết khắc phục có hiệu quả những thách thức, nguy cơ đối với cách mạng, trước nhất từ trong nội bộ Đảng. Trong bối cảnh mới hết sức phức tạp, có mặt diễn biến khôn lường, hiện nay, cùng với những vận hội mới, thời cơ mới, Đảng đứng trước những hiện trạng đáng cảnh báo, những thách thức mới.


Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh... Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt”(1). Tới Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”(2).

Và chúng ta thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” trong tình hình đáng lo ngại thách thức: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa, địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(3).
Qua bốn năm, từ việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, phát hiện những hiện trạng nóng bỏng, với những “tầng chìm thực thể”, như C. Mác nói, tinh vi, giảo quyệt hơn, đặt ra những thách thức ngày càng cấp bách, thật sự là nguy cơ. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền...; các nguy cơ cần lưu ý phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”.
Nhận diện những nguy cơ có thể làm băng hoại Đảng
Xuất phát từ đó, theo thời gian, nhận diện từ tổng hòa những hiện trạng, thách thức từ trong Đảng và tới toàn xã hội hiện nay, có thể khái quát nổi bật mấy loại nguy cơ chủ yếu:
1- Nguy cơ chệch hướng trong hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối chính trị
Kỳ thực, gần 100 năm trước, V.I. Lê-nin đã dự cảm, luôn luôn cảnh báo điều đó đối với các đảng cộng sản và công nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn căn dặn, nhắc nhở và Đảng ta luôn đề phòng sự xuất hiện và diễn biến của nguy cơ, thách thức này đối với mình. Vì, sự chệch hướng trong hoạch định đường lối và sự đổ vỡ về thực thi đường lối đồng nghĩa với sự cáo chung về vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng. Bài học xương máu của một số đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cách đây hơn hai mươi năm đã cảnh báo hết sức nghiêm khắc điều đó.
Sự lường trước một lần nữa về vấn đề này vào tháng 1-1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, có ý nghĩa cảnh báo cực kỳ nghiêm khắc. Đó là sự tiên liệu đúng đắn trong tiến trình tổng kết nghiêm khắc về thực tiễn cầm quyền, sự phát triển sáng tạo với tinh thần tự phê bình trong xây dựng, phát triển lý luận cầm quyền và sự dũng cảm chính trị về trọng trách cầm quyền ngày càng phức tạp, khó khăn mà Đảng được lịch sử và nhân dân trao cho trọng trách lãnh đạo xã hội và đất nước.
Trước hết, tình trạng cơ hội chính trị, thực dụng chính trị về tư tưởng chính trị và hành động chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy của Đảng và Nhà nước ở các cấp, nhất là một số người tham gia trên phương diện hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, đang tồn tại rất tinh vi, trên không ít lĩnh vực... Tệ “địa phương hóa”, “cục bộ hóa”, “cát cứ hóa” đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước bằng kiểu lợi dụng cái gọi là “sự đặc thù” để ban hành cái gọi là “chính sách riêng”, “chính sách đặc thù” nhằm mưu đồ phục vụ “lợi ích nhóm” và tụ lại thành những “nhóm lợi ích”... đi ngược lại đường lối chung; thậm chí để lọt lộ thông tin, bán thông tin, làm lộ bí mật quốc gia... đã diễn ra ở một số phương diện, tạo nên tình trạng vừa vô tổ chức, vô kỷ luật, vừa cát cứ, khép kín, cục bộ... trong sự thống nhất của Đảng.
Thứ hai, tình trạng bảo thủ, trì trệ, tụt hậu, đổi mới vô nguyên tắc về lý luận chính trị trong hoạch định đường lối chính trị đã và đang tồn tại trong không ít người, ở không ít nơi. Sự “đóng cửa”, “khép kín” trong tư duy, ngại đổi mới hay nói chính xác hơn, không chịu thâm nhập vào thực tiễn, đã hạn chế họ. Mặt khác, một số tự cho mình là “đúng đắn”, rồi tự bằng lòng và tự ràng buộc mình vào những định đề có sẵn nhưng đã lạc hậu, quẩn quanh trong những nhận thức đã trở thành cố hữu, lỗi thời, đã bị cuộc sống vượt qua và vô hình biến thành trở lực đối với công cuộc đổi mới. Đồng thời, một bộ phận nhân danh đổi mới, xa rời các nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, “tự chuyển hóa” đòi xét lại đường lối chính trị của Đảng.
Thứ ba, tình trạng cố tình làm biến dạng đường lối chính trị, dưới mọi hình thức trong việc thực hiện; tệ hại hơn, họ nhân danh đổi mới, sáng tạo một cách vô nguyên tắc, cố tình làm sai lạc việc hoạch định và thực hiện đường lối chính trị cũng đang xuất hiện ở đây đó, thậm chí không ít nơi. Họ coi nhẹ những vấn đề có tính nguyên tắc, bất chấp nguyên tắc, kỷ luật, luồn lách tìm và lợi dụng những sơ hở của đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thậm chí có người, có tổ chức cố tình làm trái ở quy mô tập thể những quy định chung đó để mưu lợi cho họ, cho phe nhóm của họ, phá rối tình hình...
2- Nguy cơ buông lỏng, làm trái những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng
Sức mạnh vô địch của Đảng là sự thống nhất của ý chí và hành động theo những nguyên tắc, những quy định và cao nhất là Điều lệ của Đảng đã được toàn thể cán bộ, đảng viên nhận thức và thực thi tuân thủ một cách tự giác, dân chủ và nghiêm minh.
Thế nhưng, ở không ít nơi, nguyên tắc tập trung dân chủ bị không ít người, tổ chức đảng lợi dụng, cắt xén hoặc trương lên thành tấm bình phong để che đậy mưu đồ cá nhân và hành động phá rối tổ chức hoặc vô hiệu hóa tổ chức, thành “con dao hai lưỡi” để mưu đoạt lấy lợi ích cho bản thân, phường hội, thậm chí nhằm “chui sâu, leo cao” vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý. Nguy hại hơn, mượn hoặc nhân danh nguyên tắc này để đối phó với cấp trên, cô lập và vô hiệu hóa cấp dưới, biến tổ chức đảng nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng”, với “tôn ty riêng”... để thực thi mưu đồ cá nhân, phe nhóm, phường hội....
Mặt khác, không ít người biến việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình thành cái gọi là “vũ khí” rất màu nhiệm để tâng bốc, tán dương nhau nhưng lại nhân danh “thanh bảo kiếm chữa lành mọi vết thương”(V. I. Lê-nin) thực thi mưu đồ loại bỏ những người không cùng cánh với họ, để gây rối nội bộ Đảng nhằm “vinh thân phì gia”, “đục nước béo cò”... Kỷ luật của Đảng, Điều lệ của Đảng là pháp luật của Đảng bị không ít người ở một số tổ chức đảng biến thành “thanh kiếm phường chèo” với phe cánh họ, nhưng lại là “lưỡi gươm oan nghiệt” đối với đồng chí, nhất là những người trung thực, dũng cảm đấu tranh với các tệ nạn trong Đảng, mà họ là thủ phạm. Núp dưới chiêu bài “giữ nghiêm kỷ luật”, họ “thanh lọc đội ngũ” một cách có lợi cho họ. Thực chất, họ đã vô hiệu hóa sức mạnh của kỷ luật đảng, của Điều lệ Đảng, biến tổ chức đảng thành “vương quốc” riêng nhằm thực thi những mưu đồ cá nhân, vô hình tạo nên nạn bè phái, cát cứ ngay trong tổ chức đảng, trong cơ quan lãnh đạo của Đảng.
Có thể nói, với sự hành xử như vậy, hai nguyên tắc đó của Đảng đã bị bóp méo, cắt xén; và cách họ đã tự biến mình thành những người tha hóa, làm công cụ phá hỏng đoàn thể và phá hoại tổ chức; biến những tổ chức đảng nơi họ phụ trách và sinh hoạt thành hoặc là tổ chức “hữu danh vô thực” hoặc bị tê liệt, mất sức chiến đấu.
3- Nguy cơ một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó đáng lo ngại là người đứng đầu suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, sa sút về phẩm hạnh và lối sống
Đây là một thực trạng báo động, đang gây những hậu quả khôn lường. Nhưng điều đáng lo ngại là, tình trạng đó đang lan rộng, tỏa sâu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng và leo cao, chui vào cả trong một số bộ phận của bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng. Tệ cơ hội chính trị, thực dụng chính trị, thói vô chính trị, sự băng hoại về phẩm hạnh đạo đức chính trị, về phong cách, lối sống... của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp, đang gây nhức nhối đối với toàn Đảng, gây bất bình, oán thán trong nhân dân.
Điều đáng lo ngại là, họ nhân danh Đảng, nhân danh tổ chức để làm những việc đồi bại, táng tận lương tâm: tham nhũng, ăn cắp của công, bòn rút của cải của Nhà nước, của nhân dân, mua quan bán chức, chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy tội... Tình trạng “phai Đảng”, “nhạt Đảng”,... đang lan nhiễm trong không ít cán bộ, đảng viên. Họ đối xử với nhau “lạnh tanh máu cá”, thậm chí chà xéo cả lên tình người, tình đồng chí để giành đoạt cho mình quyền lực, lợi lộc cá nhân và cho phường hội. Một số người không còn cả liêm sỉ, mà nói như người xưa: Không có liêm sỉ thì không thành người được nữa!
Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa bè phái, tệ tham nhũng - những “giặc nội xâm” - đang làm một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có không ít người giữ trọng trách “thoái Đảng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm không ít tổ chức đảng mất sự thống nhất, mất khả năng lãnh đạo và mất sức chiến đấu. Nếu chậm trễ, không kiên quyết chủ động ngăn chặn một cách kịp thời, căn cơ và hiệu quả, cái hiểm họa “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ” sẽ cận kề và lan rộng, như đã từng xảy ra đối với một số đảng cộng sản cầm quyền.
4- Nguy cơ xa rời cơ sở xã hội - chính trị của Đảng
Nguồn gốc làm nên sức mạnh vô địch của Đảng là sống và trưởng thành trong lòng nhân dân và dân tộc. Đó là bản chất của Đảng ta. Hơn nữa, Đảng là “đứa con nòi xuất thân từ giai cấp lao động”, “một lòng một dạ tận tụy phụng sự nhân dân”, vì “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam”, “không thiên tư thiên vị” nên sinh thành, sống trong lòng và trưởng thành từ trong lòng nhân dân là lẽ tự nhiên, sự sống còn của Đảng suốt hơn 85 năm lịch sử của mình.
Nhưng hiện nay, không ít tổ chức đảng, đảng viên đi ngược lẽ tự nhiên ấy. Họ sống và làm việc theo kiểu “bề trên” quan liêu, cách bức với cơ sở, xa lạ với nhân dân. Họ là những “ông quan cách mạng”, “ông tướng, bà tướng”, “công thần cách mạng”, “hạng người nói suông”,... trong Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán. Một số người hành xử vô văn hóa, thậm chí đi ngược tâm tư, quyền lợi của nhân dân, gây bao nỗi ưu phiền, bức xúc, thậm chí phẫn nộ trong nhân dân, làm tổn hại thanh danh và uy tín của Đảng. Một số tổ chức đảng, dưới sự chi phối hoặc cầm đầu của một số người hoặc bị vô hiệu hóa hoặc đã đánh mất vai trò lãnh đạo của mình, không còn xứng đáng với sự tin cậy của tập thể, của nhân dân. Sự tự đánh mất vị thế, vai trò cầm quyền và tự sụp đổ của một số đảng cộng sản cầm quyền ở một số nước có nguyên nhân bắt đầu từ sự vi phạm lẽ tự nhiên xương máu này.
Ai không còn chỗ đứng trên nền nhân dân, không sống trong lòng nhân dân và dân tộc, không có trách nhiệm với nhân dân là không còn xứng đáng là “đứa con nòi của nhân dân lao động”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, khi ấy nhất định thất bại và đổ vỡ.
5- Nguy cơ vừa cát cứ, cục bộ, vừa phân ly, phá vỡ thống nhất, mà một số người đứng đầu là sự “kết tụ” dưới đủ hình thức và cấp độ, có thể làm xuất hiện “lợi ích nhóm” và những “nhóm lợi ích” làm phân rã Đảng
Đó là con đường ngắn nhất tự thủ tiêu mình và làm tê liệt sức mạnh tập trung của toàn Đảng. Rất tiếc, không ít người, không ít tổ chức ở không ít nơi mắc phải điều tệ hại và hết sức nguy hiểm đó. Đây là hậu quả trực tiếp của các thách thức trên. Tệ “anh hùng nhất khoảnh”, “trên có chính sách, dưới có đối sách”, thói tự cho mình đồng nhất tổ chức đảng với người đứng đầu bộ máy đảng... không còn là sự hiếm hoi. Một số người sử dụng chức vụ mà Đảng trao cho họ thành vật sở hữu (!) để ban ơn, để kéo bè kéo cánh, tham nhũng tập thể, kể cả thủ đoạn tham nhũng quyền lực... Vô hình điều đó thổi phồng và làm trầm trọng hơn tệ cục bộ, bè phái, gia trưởng phong kiến, “quan cách mạng”... trong không ít tổ chức đảng, biến tổ chức đảng thành “của riêng”, thậm chí thành “đảng kiểu phong kiến”, thủ tiêu sự thống nhất trong Đảng; làm xuất hiện những “nhóm lợi ích” làm phân rã Đảng về mặt tư tưởng và tổ chức một cách ngấm ngầm và nguy hiểm.
Điều hết sức đáng lo ngại là, sự phân ly về tư tưởng, lỏng lẻo, rệu rã về tổ chức, coi thường các nguyên tắc hoạt động của Đảng diễn ra trong một bộ phận đáng kể cán bộ, đảng viên và ngay trong lòng một số tổ chức đảng, ở một số nơi tới mức không thể xem thường. Thứ “đạo đức ba mặt” (trước cấp trên, với công luận, trước cấp dưới), thói hành xử “lá mặt lá trái” (trong cuộc họp đối lập với ngoài hành lang), tệ “bằng mặt nhưng không bằng lòng”; cấp dưới không phục tùng cấp trên: sự chia rẽ, thậm chí “đối trọng” giữa các khuynh hướng về tư tưởng và lợi ích làm nảy sinh các “nhóm lợi ích” và “lợi ích nhóm” hết sức nguy hiểm... đang tồn tại trong không ít cán bộ, đảng viên, kể cả đảng viên giữ trọng trách của cấp ủy; bộ phận không phục tùng toàn thể, thậm chí đi ngược lại tập thể,... đang diễn ra ở một số tổ chức đảng, đang phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, xâm hại tình đồng chí, thủ tiêu vai trò, sức mạnh chiến đấu của tổ chức đảng; đến lượt nó, tổ chức đảng bị vô hiệu hóa, bị tước bỏ, bị thủ tiêu sức mạnh của một tổ chức lãnh đạo và chiến đấu.
Quan điểm cơ bản, ba khâu đột phá và năm giải pháp chủ yếu và cấp bách phòng, chống, đẩy lùi các nguy cơ trong Đảng
Có thể nói, hiện nay với vị thế là một đảng cầm quyền, tình hình trong Đảng đã khác trước, nên không thể giải quyết vấn đề giống trước, từ quan điểm, nhận thức tới chủ trương và giải pháp đối với việc phòng ngừa, đẩy lùi những nguy cơ trong Đảng. Dù cách đây 46 năm, nhưng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người vẫn nguyên giá trị lúc này: “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG... Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).
Nói cách khác, hơn lúc nào hết, cần một sự đột phá đủ mạnh để giải quyết tình hình đại cục, nhưng phải phù hợp, cụ thể và hiệu quả, không chung chung, nói nhiều làm ít, hay “bắt cóc bỏ đĩa”, “đánh trống bỏ dùi”, “gặp chăng hay chớ”...
1- Về quan điểm và phương châm
a- Về quan điểm
Đây là vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan tới sinh mệnh, sự tồn vong của Đảng, sự mất còn của chế độ, sự thăng trầm của đất nước, sự an nguy của dân tộc, nên không thể trì hoãn giải quyết. Ở đây, từ nhận thức về đảng cầm quyền tới biện pháp xử lý các nguy cơ của một đảng cầm quyềncàng không thể giống trước, trước yêu cầu đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới. Vì,tình trạng bất bình thường đòi hỏi phải được giải quyết một cách bất bình thường và chữa trị cho bằng được, nếu Đảng muốn tiếp tục cầm quyền ngang tầm trách nhiệm với dân tộc, với lịch sử.
b- Về phương châm
Chúng ta không tưởng tượng hoặc tự dựng nên nguy cơ. Đó là sự thật, ở mức độ này hay hình thức kia, và chúng nguy hiểm không thể coi thường.
Vì vậy, phương châm bao trùm là, không hoang mang, dao động nhưng cũng không nóng vội, nửa vời; kiên quyết, dứt điểm và có lộ trình phù hợp, cụ thể; thống nhất, đồng bộ, đồng thời chọn đúng khâu đột phá và giải quyết trên tầm tổng thể; phát huy dân chủ rộng rãi và bảo đảm tập trung cao độ, giữ nghiêm kỷ luật đủ mạnh ở mức cao nhất... quyết làm chuyển biến tình hình toàn cục.
2 - Về ba khâu đột phá
Thứ nhất, đột phá đổi mới tư duy về Đảng Cộng sản cầm quyền làm mở đầu và làm nền tảng căn cơ nhưng cấp bách.
Hơn lúc nào hết, phải coi đổi mới tư duy về đảng cầm quyền là khâu đột phá về lý luận làm cơ sở, nền tảng, tiêu chí và động lực cho các khâu đột phá khác. Không giải quyết những vấn đề chung, nhất định vấp ngã trên những vấn đề cụ thể. Nói cách khác, toàn bộ công việc cầm quyền trước hết của Đảng phải được tập trung thể hiện ở đường lối chính trị đúng đắn, với tinh thần cách mạng và khoa học.
Thứ hai, xây dựng và đổi mới đội ngũ cốt cán, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị, cơ quan, tổ chức ngang tầm nhiệm vụ.
Đột phá xây dựng cho kỳ được đội ngũ người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, đồng thời là đội ngũ thủ lĩnh ở các nơi này gánh vác trách nhiệm cầm quyền của Đảng là khâu đột phá then chốt. Cán bộ là gốc của công việc. Vì, đường lối chính trị phải được thực hiện trực tiếp và trước hết bởi đội ngũ người đứng đầu - thủ trưởng đồng thời là thủ lĩnh một cách xứng đáng và ngang tầm, với tư duy mới về đảng cầm quyền. Đến lượt khâu đột phá xây dựng đội ngũ người đứng đầu, phải nhằm tạo dựng kỳ được đội ngũ cốt cán chung quanh người đứng đầu - thủ trưởng - thủ lĩnh, và tổ chức bộ máy chuyên môn, chức năng... cốt yếu tạo nên sức mạnh tổng thể của đội ngũ lãnh đạo nói riêng và cán bộ của hệ thống chính trị nói chung phù hợp với đường lối chính trị.
Khi đã có đường lối chính trị đúng, việc cơ bản tiếp theo là chọn đúng người “có gan phụ trách”, vì “chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo”(5) (và những người cộng sự và bộ máy chuyên môn, chức năng của họ), như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói.
Thứ ba, đột phá đổi mới về thể chế, cơ chế vận hành thể chế và siết chặt kiểm tra, giám sát trong Đảng phù hợp với pháp luật giữ vị thế thượng tôn và truyền thống quản lý xã hội.
Về thể chế, trong rất nhiều việc, cần hoàn thiện hệ thống quy chế, lấy đó làm quy phạm chỉ đạo và điều chỉnh hoạt động của bộ máy đảng (cố nhiên bao hàm cả mỗi đảng viên giữ chức vụ hay không giữ chức vụ trong Đảng) trên cơ sở Điều lệ Đảng, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, bao quát trên tất cả mọi phương diện, mọi lĩnh vực và công việc của một đảng cầm quyền. Tổ chức bộ máy đảng các cấp gọn nhẹ, thông suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong kiểm tra, giám sát công việc và con người, gắn bó với nhân dân... một cách tự nhiên và dân chủ.
Đổi mới cơ chế vận hành thể chế theo hướng đề cao quyền hạn cá nhân, bảo vệ trách nhiệm cá nhân và kiểm soát quyền hạn gắn với trách nhiệm cá nhân; mở rộng, cạnh tranh một cách dân chủ và bình đẳng gắn chặt với trách nhiệm giải trình minh bạch và kịp thời về quyền hạn và trách nhiệm. Xây dựng và thực thi văn hóa trong chính trị một cách chuẩn mực của một đảng cầm quyền.
Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Không một cá nhân nào, tổ chức nào của Đảng được phép đặt ra ngoài sự kiểm tra, giám sát của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của nhân dân. Siết chặt nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất và bình đẳng trong thực thi Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với mọi cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị, không có “vùng cấm”, không có “đặc quyền” hay ngoại lệ.
3- Thực thi năm giải pháp chủ yếu và cấp bách
Kinh nghiệm từ 85 năm lãnh đạo cách mạng, trong đó có 70 năm cầm quyền của Đảng, cho thấy, có lý luận cầm quyền đúng - cương lĩnh cầm quyền khoa học, phù hợp, được đông đảo nhân dân ủng hộ và thực hiện - có bộ máy cầm quyền hiệu quả và đội ngũ cán bộ cầm quyền giỏi, không việc gì không thành công. Theo hướng đó, để đột phá phòng ngừa các nguy cơ trong Đảng hiện nay, cấp bách thực thi tối thiểu năm giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đổi mới tư duy về Đảng cầm quyền, trọng tâm là những vấn đề mang tính quy luật của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong điều kiện mới là vấn đề căn bản trước hết.
Mục tiêu của công việc này là xây dựng, nâng cao chất lượng, nhất là trình độ hoạch định xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng để đường lối chính trị xứng đáng là một cương lĩnh chính trị - cương lĩnh chỉ đạo hành động xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với bối cảnh mới và điều kiện mới. Đây là vấn đề quyết định hết thảy toàn bộ thành bại công cuộc cầm quyền của Đảng, nhân tố căn bản quyết định vị thế, năng lực và trách nhiệm cầm quyền của Đảng.
Chung quanh vấn đề này, tối thiểu có 11 loại vấn đề mang tính quy luật cần giải quyết vừa cấp bách, vừa lâu dài một cách đồng bộ và cụ thể về Đảng cầm quyền, bao gồm:
1- Quy luật cầm quyền; 2- Mục tiêu cầm quyền; 3- Nguyên tắc cầm quyền; 4- Nội dung cầm quyền; 5- Phương thức cầm quyền; 6- Cơ chế cầm quyền; 7- Cơ sở cầm quyền; 8- Điều kiện cầm quyền; 9- Nguồn lực cầm quyền; 10- Môi trường cầm quyền; và 11- Nguy cơ đối với sự cầm quyền. Đây là nguồn gốc chính trị - tư tưởng thực tiễn quyết định vị thế, năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm cầm quyền của Đảng hiện nay.
Xuyên suốt và là linh hồn các vấn đề mang tính quy luật trên, xây dựng kỳ được và thực thi thống nhất và sâu sắc văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại nói chung và văn hóa cầm quyền của Đảng nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế. Sứ mệnh của văn hóa cầm quyền của Đảng là tẩy trừ cho kỳ được ba thứ kẻ thù: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội, dưới mọi hình thức, mà cấp bách nhất là ba loại tệ nạn: nạn hối lộ, lợi ích nhóm và xa rời nhân dân đang có nguy cơ làm phân rã Đảng hiện nay; đề cao đạo đức, liêm sỉ đảng viên của Đảng. Mỗi đảng viên phải là một nhân cách văn hóa, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, của hệ thống chính trị phải là một tấm gương văn hóa.
Rường cột tổ chức và trọng trách thực thi công việc này trước hết thuộc về đội ngũ đảng viên làm công tác lãnh đạo, quản lý các cấp, các nhà khoa học trên các phương diện, lĩnh vực mang tầm chiến lược, phải được xây dựng với cơ cấu hợp lý, thực sự là tinh hoa của Đảng, của dân tộc.
Hai là, tiếp tục chỉnh đốn hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ; sửa đổi, hoàn thiện cơ chế vận hành bộ máy và phương thức lãnh đạo của Đảng một cách hữu hiệu.
Tuy có những tiến bộ nhất định, nhưng hệ thống tổ chức bộ máy đảng và cơ chế vận hành bộ máy đảng vẫn tồn tại không ít vướng mắc, thậm chí là trở ngại trong việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp. Tình trạng chồng chéo, cồng kềnh, cách bức, thậm chí cắt khúc khép kín, gây ách tắc, làm tổn hại mối liên hệ hữu cơ giữa các tổ chức đảng với nhau, với chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và với nhân dân diễn ra ở không ít nơi; bộ máy nặng nề, tình trạng “đông mà không mạnh”, “chín người mười ý”... diễn ra trên không ít lĩnh vực của đời sống trong Đảng và xã hội.
Để làm “tan những cục nghẽn mạch đau đớn” ấy, về phương châm, phải bảo đảm sự liên thông mang tính chỉnh thể, trước hết của bộ máy tổ chức và cán bộ của Đảng, của hệ thống chính trị, mà mối quan hệ cơ bản nhất là giữa Đảng với Nhà nước và nhân dân:
Trước hết, thu hút vào bộ máy đảng những nhân tố ưu tú nhất, tinh hoa nhất và đãi ngộ, bảo vệ họ một cách xứng đáng. Tiếp tục rà soát, kiên quyết cắt bỏ những những khâu trung gian; sáp nhập những bộ phận trùng chéo trong bộ máy, giữa bộ máy đảng và bộ máy đảng và bộ máy nhà nước theo hướng Đảng hóa thân một cách khoa học, phù hợp và thận trọng.
Thứ hai, trong việc cấu trúc lại bộ máy của Đảng, kiên quyết cắt bỏ những bộ phận ít tác dụng hoặc cùng làm chức năng, nhiệm vụ với bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; tiếp tục đổi mới chức năng, nhiệm vụ của các cấp ủy, Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn một cách phù hợp với tình hình mới; nhất thể hóa một số chức danh đứng đầu cơ quan đảng và nhà nước theo hướng trao quyền đồng thời kiểm soát quyền, theo trách nhiệm đối với người đứng đầu và tập thể cốt cán chung quanh người đứng đầu kết hợp với phân quyền hợp lý và minh bạch hóa quyền, trách nhiệm đối với các bộ máy thực thi và tham mưu... bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, dân chủ và thông suốt đối với hệ thống chính trị, trước hết là giữa các tổ chức trong hệ thống của Đảng.
Thứ ba, kiên quyết chỉnh đốn và đổi mới đội ngũ cán bộ, rường cột là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (thông qua thi tuyển, tranh tuyển, tiến tuyển, ứng tuyển, bổ tuyển, bầu tuyển, cử tuyển và người đứng đầu chọn tuyển... một cách minh bạch, trách nhiệm và dân chủ) sao cho thật đồng bộ, tinh hoa, gọn nhẹ và trong sạch; hết sức coi trọng đội ngũ chuyên gia, nhất là ở những lĩnh vực then chốt. Điều nhấn mạnh là, trong việc kiến tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, luôn thấu triệt phương châm sử dụng nhân tài: “tài không đợi tuổi”, “tài không kể tuổi” và “tài không nệ tuổi”, dỡ bỏ mọi khuôn sáo cơ học cứng nhắc về vấn đề này; đồng thời, ngăn chặn thứ tệ nạn “công tác cán bộ trong hội trường là chiến trường, ngoài hội trường là thị trường”, như dư luận cảnh báo, nhằm kiện toàn kỳ được đội ngũ gồm đa thế hệ, thực sự tinh nhuệ, đồng bộ, hiệu quả và mang tầm chiến lược. Định kỳ và không định kỳ thực thi khảo thí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhằm sàng lọc, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ... theo công việc, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác. Việc thành bại của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc quyết định một phần căn bản vào phương lược xử lý vấn đề này.
Trong việc đổi mới cơ chế vận hành bộ máy đảng, cần thiết tiếp tục pháp chế hóa hoạt động, đổi mới phương thức và phong cách cầm quyền thật sự dân chủ từ Trung ương tới cơ sở, từ cấp ủy cao nhất tới từng chi ủy một cách thống nhất, phù hợp với các loại hình tổ chức đảng, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm không ngừng liên thông từ trong Đảng tới ngoài xã hội, gắn bó chặt chẽ với nhân dân theo mục tiêu Đảng lãnh đạo để nhân dân là chủ và làm chủ thật sự, vì hạnh phúc tối cao của nhân dân. Dành mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức đảng ở cơ sở theo phương châm: Tất cả hướng về cơ sở, vì cơ sở, cho cơ sở và phụng sự nhân dân là thước đo về phẩm chất chính trị, phẩm hạnh đạo đức và sự cống hiến của mọi cán bộ, đảng viên; lấy đó làm bổn phận, đề cao danh dự và lương tâm của mỗi người trong bộ máy chỉnh thể của Đảng nói riêng, của hệ thống chính trị nói chung nhằm phát triển vững chắc cơ sở xã hội - chính trị cầm quyền của Đảng.
Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Không thể để bất cứ cán bộ, đảng viên nào nằm ngoài sự kiểm tra của tổ chức, sự giám sát của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, ở bất cứ đâu, trên bất cứ phương diện hoạt động, trên lĩnh vực công tác và địa bàn sinh sống nào... Phát huy dân chủ một cách đúng hướng và thật sự rộng rãi là điều tối cần thiết, nếu không nói là nhân tố quyết định thành công.
Thiết lập định chế xử lý kịp thời cho tất cả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, của bộ máy đảng, của nhân dân đối với mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức, các cấp ủy, các tổ chức đảng hết sức chú trọng tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân, sự phát hiện của công luận về cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên thuộc quyền quản lý của mình một cách toàn diện, theo hướng chặt chẽ, minh bạch. Dựa hẳn vào nhân dân để xây dựng Đảng.
Đổi mới chế độ sinh hoạt đảng, cơ chế kiểm tra, giám sát đảng viên, nhất là cơ chế bảo đảm và mở rộng dân chủ trong tự phê bình và phê bình, trong kiểm tra, giám sát chặt chẽ đảng viên ngay từ chi bộ, từ cơ sở, nhằm trước hết “tống cổ” “những ông quan cách mạng”, những “ông tướng, bà tướng”... trong Đảng ra khỏi Đảng, như V. I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói. Gắn chặt sinh hoạt của tổ chức đảng với sinh hoạt các đoàn thể, sống trong lòng nhân dân ở cơ sở nhằm không để lọt sự giám sát đảng viên - với tư cách là công dân - của nhân dân ngay tại nơi cư trú. Vì, tai mắt nhân dân là tinh tường và thấu suốt nhất. Như thế mới giữ được ổn định từ trong nội bộ Đảng, xây dựng môi trường chính trị - pháp lý - xã hội lành mạnh bảo đảm vững chắc cho mọi sự phát triển một cách dân chủ, tập trung và vững chắc của Đảng, ngay từ cơ sở xã hội - chính trị. Vì, mất niềm tin từ trong Đảng chỉ là mất từ nội bộ, mất từ điều chủ yếu đã nguy hiểm nhưng nhân dân ngoảnh mặt và mất niềm tin trong nhân dân là mất cả nền tảng xã hội - chính trị và có nguy cơ mất hết.
Bốn là, dân chủ hóa việc thực hiện kỷ cương, siết chặt kỷ luật của Đảng, đồng thời thực hiện nghiêm pháp luật của Nhà nước.
Không có ngoại lệ cho bất cứ ai trong việc chấp hành và thực thi kỷ luật của Đảng, cơ bản trước hết là Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Càng không thể chấp nhận tệ “khoanh vùng kỷ luật, pháp luật”, tình trạng “nhẹ đối với trên, nặng dành cho dưới” ở bất cứ cấp nào. Điều lệ Đảng, kỷ luật của Đảng chỉ có một. Theo đó, sự thực thi một cách dân chủ nhưng phải thống nhất, tập trung và kiên quyết, không có ngoại lệ hay sự miễn trừ nào, đối với bất tổ chức nào và bất cứ ai.
Đó là nguyên tắc.
Định chế, siết chặt và nâng cao chế độ chịu trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu bộ máy ở các cấp ủy gắn chặt với chế độ tập thể chịu trách nhiệm, trong việc thực thi đường lối chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ Đảng và bảo vệ kỷ luật, kỷ cương xã hội. Đồng thời, khen thưởng một cách kịp thời và thỏa đáng cho những tổ chức, cá nhân làm tốt công việc này; và ngược lại, kỷ luật thật nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm Điều lệ Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, dù là ai, là tổ chức nào. Kỷ luật nghiêm khắc và kịp thời những ai gây mất đoàn kết nội bộ, kéo bè kéo cánh trong Đảng. Cấp ủy viên càng cao, cán bộ giữ trọng trách càng lớn càng phải gương mẫu, nghiêm cẩn, càng phải đề cao và giữ gìn liêm sỉ, nhân cách văn hóa... trước cấp dưới, trước toàn Đảng và toàn dân.
Chỉnh đốn đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, thanh tra các cấp theo hướng tinh hoa, trong sạch, trung thành, nghiêm cách và thạo việc. Đối đãi xứng đáng với họ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò: Sử dụng và trọng đãi sao cho xứng đáng!
Bài học lịch sử xương máu cho thấy: Thưởng phạt không kịp thời và phân minh, tất sẽ rối loạn!
Năm là, tổng rà soát, phân loại, nâng cao chất lượng hệ thống tổ chức đảng, trước hết là tổ chức cơ sở đảng và toàn thể đội ngũ đảng viên là giải pháp căn cơ quyết định nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
Chọn thời điểm thích hợp, tiến hành cuộc tổng kiểm kê, rà soát, phân loại một cách hệ thống, toàn diện, đúng thực chất đội ngũ đảng viên và tổng thể hệ thống tổ chức cơ sở đảng ở tất cả các cấp trong toàn Đảng. Hiện nay, toàn Đảng có gần 4 triệu đảng viên sinh hoạt ở hơn 53.300 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 11.118 tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường... Tình trạng không ít tổ chức cơ sở đảng “trong mà không sạch”, vững mạnh chỉ là hình thức, “đảng viên tuy đông mà không mạnh”... đang báo động. Không nắm đúng tình hình sẽ không có giải pháp xử lý phù hợp và hiệu quả. Trước đây, chúng ta đã rất cố gắng làm, nhưng chưa triệt để, thậm chí không ít cấp, không ít nơi “đánh trống bỏ dùi”, “gặp chăng hay chớ”, “đầu voi đuôi chuột”... nên sự đánh giá, phân loại không chính xác, thậm chí có mặt, có nơi còn làm cho tình hình phức tạp thêm. Phải cần kíp khắc phục tình trạng đó.
Phải thật sự coi trọng phương châm phù hợp và hiệu quả, trên cơ sở phân loại đúng tổ chức đảng và đảng viên, tiếp tục tìm tòi các giải pháp kiện toàn phù hợp với từng loại hình tổ chức đảng, tiếp tục cụ thể hóa việc thực hiện tiêu chuẩn và phân loại, sàng lọc đội ngũ đảng viên gắn chặt với việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi đảng viên và toàn Đảng, nhằm làm trong sạch mỗi tổ chức đảng và toàn Đảng. Bổ sung lực lượng mới, làm trong sạch và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, trước hết và tập trung là đội ngũ đảng viên làm công tác lãnh đạo, quản lý các cấp là quy luật phát triển của Đảng. Bình quân mỗi nhiệm kỳ Đại hội (từ VIII tới X), đội ngũ đảng viên được bổ sung hơn 20 vạn người, nâng tổng số đảng viên của Đảng hiện nay lên gần 4 triệu người. Đó là điều ghi nhận. Nhưng sắp tới, quyết không câu nệ và chạy theo số lượng trong phát triển Đảng. Cùng với việc tiếp tục kết nạp những người đủ tiêu chuẩn vào Đảng theo hướng trẻ hóa, trí thức hóa, kiên quyết tiếp tục cuộc tự chỉnh đốn từ mỗi đảng viên nhằm làm trong sạch Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
Đồng thời, đặc biệt chú trọng lựa chọn phương án tốt nhất nhằm cơ cấu lại mô hình các tổ chức đảng phù hợp với tổ chức hành chính, mô hình các tập đoàn, nhất là các tập đoàn, doanh nghiệp chủ chốt... gắn chặt với việc phát triển Đảng. Tuyển lựa, xây dựng đội ngũ đảng viên có chất lượng cao làm công tác hoạch định chính sách ở tầm chiến lược tại các cơ quan tham mưu, nhất là các lĩnh vực then chốt, trọng yếu của quốc gia. Qua sàng lọc, việc cơ cấu lại phải bảo đảm sự cân đối đội ngũ đảng viên đủ mạnh ở các vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, ở vùng biên giới và hải đảo, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế - xã hội; vùng trọng điểm về an ninh - quốc phòng, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... trên cơ sở xây dựng, củng cố, kiện toàn mô hình các tổ chức đảng một cách đồng bộ và phù hợp.
Phải làm một cách kiên quyết, toàn diện và cơ bản vấn đề có tính nền tảng này.
Cải cách chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng, theo hướng kiên quyết phải bỏ hẳn lối học theo từ chương, hết sức coi trọng học theo từ hành, quan trọng nhất là rèn luyện kỹ năng xây dựng tầm nhìn chính trị xa rộng và khả năng hoạch định quyết sách chính trị kịp thời, sáng tạo, đúng đắn; thành thục kỹ năng xử lý công việc cầm quyền; tư cách một người làm chính trị,... phù hợp với từng loại cán bộ, trên từng phương diện cầm quyền của Đảng. Trang bị kiến thức toàn diện, phù hợp, thiết thực và cụ thể cho đội ngũ đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, không chung chung, chồng chéo, cào bằng và không thiết thực, chấm dứt tình trạng “tiền bổ hậu học”, “học bù”, “học... chạy”, thậm chí cả sự “học... mượn”; chỉ dạy những gì mà công việc của họ cần phải có trong công việc cầm quyền./.
-------------------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 65 - 66
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 172 - 173
(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 22
4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 621 - 622
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 325 
Nhị LêTS, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
 
Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/36787/Nhan-dien-va-dot-pha-cap-bach-cac-nguy-co-trong-Dang.aspx

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Nhưng khốn thay, vì tính tò mò và cả bản năng sinh vật, thị hiếu tầm thường, có khi sách lại BELESELET đó, đ/c Tuấn ợ!



Hồi ký những bóng hồng????
Nghệ sỹ cần tiền để lo cho con gái mình bước vào đời khi không còn khả năng, ông ta viết hồi ký về những người đàn bà đã đi qua đời mình để kiếm tiền từ chuyện đó.? Theo cái nhìn của tôi hắn là một tên vô lại và bỉ ổi nhất mà tôi chưa từng gặp. 
Khi những câu CHUYỆN TÌNH dù nó còn tiếp diễn hay vì một lý do nào đó mà họ phải chia tay thì nó cũng là một kỷ niệm của mỗi người. Không thể đem nó ra kể lại lấy làm kỳ tích của mình. Đó là sự tôn trọng tới những người đàn bà mà họ đã đem lòng yêu thương mình, và cũng là sự tôn trọng đến chính bản thân của mình. Tôi nhớ người Anh có câu nói: " A gentleman is never tells ". ( câu này vô tình tôi cũng đọc được trong một stt nào đó sáng nay) . Người đàn ông tự lấy những cuộc tình của mình để bán cả danh dự của mình dành cho vài đồng bạc lẻ và lấy đó làm những chuyện để mua danh thì còn gì khốn nạn hơn? Tôi chắc chắn một điều rằng, những người đàn bà họ đã trao thân cho gã khi đọc cuốn hồi ký này sẽ vô cùng ghê tởm hắn. Một gã vô lại và vô liêm sỉ.
Ai sẽ đọc thứ hồi ký này? Có lẽ cũng chỉ là những loại không bình thường.

Với khoảng 20 bóng hồng được nhắc đến trong hồi ký, tài tử điện ảnh thập niên 80 Thương Tín cho biết, chỉ là những mối tình sâu đậm với ông hoặc với người…
M.SOHA.VN
Phần nhận xét hiển thị trên trang

11/01/1928: Stalin lưu đày Trotsky


Nguồn: “Stalin banishes Trotsky,” History.com (truy cập ngày 10/01/2015).
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1928, Leon Trotsky, một nhà lãnh đạo của cuộc cách mạng Bolshevik và kiến trúc sư thời kỳ đầu của nhà nước Xô viết, đã bị trục xuất tới Alma-Ata ở vùng đất Liên Xô thuộc Trung Á xa xôi (nay là Almaty, thủ đô thương mại của Kazakhstan) theo lệnh của Stalin. Ông sống trong cảnh lưu đày ở đó một năm trước khi bị Stalin trục xuất vĩnh viễn khỏi Liên Xô.
Sinh ra ở Ukraine trong một gia đình mang dòng máu Nga-Do Thái năm 1879, Trotsky đi theo chủ nghĩa Marx khi còn là thiếu niên và sau này bỏ Đại học Odessa để giúp tổ chức Công đoàn Nam Nga (South Russian Workers’ Union) vốn hoạt động ngầm. Năm 1898, ông bị bắt giam vì các hoạt động cách mạng của mình. Năm 1900, ông bị lưu đày tới Siberia.
Năm 1902, ông trốn sang Anh bằng hộ chiếu giả dưới tên Leon Trotsky (tên khai sinh của ông là Lev Davidovich Bronshtein). Tại London, ông cộng tác với nhà cách mạng Bolshevik Vladimir Ilyich Lenin nhưng sau đó đứng về phía Menshevik vốn chủ trương một cách tiếp cận theo hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự bùng nổ của Cách mạng Nga năm 1905, Trotsky trở về Nga và một lần nữa lại bị lưu đày đến Siberia khi cách mạng sụp đổ. Năm 1907, một lần nữa ông trốn thoát.
Trong thập niên sau đó, ông bị trục xuất khỏi một loạt các nước do lý tưởng cấp tiến của mình, sống ở Thụy Sĩ, Paris, Tây Ban Nha, và thành phố New York trước khi trở về Nga khi Cách mạng năm 1917 bùng nổ. Trotsky có vai trò hàng đầu trong việc giúp phái Bolshevik giành được quyền lực, kiểm soát phần lớn thành phố Petrograd trước khi Lenin trở về trong chiến thắng vào tháng 11.
Được bổ nhiệm làm dân ủy ngoại giao của Lenin, ông đã thương lượng với Đức nhằm chấm dứt sự tham gia của Nga trong Thế chiến I. Năm 1918, ông trở thành dân ủy chiến tranh và bắt đầu xây dựng Hồng quân, sau này đã thành công trong việc đánh bại phe đối lập chống cộng sản trong cuộc nội chiến Nga. Trong đầu những năm 1920, Trotsky có vẻ sẽ là người kế nhiệm Lenin, nhưng ông đã thua trong cuộc đấu tranh giành quyền kế nhiệm khi Lenin đổ bệnh năm 1922.
Năm 1924, Lenin qua đời, và Joseph Stalin trở thành nhà lãnh đạo của Liên Xô. Chống lại các chính sách đã được ban hành của Stalin, Trotsky kêu gọi tiếp tục tiến hành một cuộc cách mạng thế giới, điều chắc chắn sẽ dẫn đến việc giải thể nhà nước Xô viết. Ông cũng chỉ trích chế độ mới vì đã đàn áp dân chủ trong nội bộ Đảng Cộng sản và không thể phát triển việc lập kế hoạch phát triển kinh tế thích đáng.
Đáp lại, Stalin cùng những người ủng hộ ông đã phát động một cuộc phản công tuyên truyền chống Trotsky. Năm 1925, ông mất chức dân ủy chiến tranh. Một năm sau, ông bị khai trừ khỏi Bộ Chính trị và đến năm 1927 bị khai trừ khỏi Đảng. Tháng 1 năm 1928, Trotsky bắt đầu cuộc sống lưu đày của mình ở Alma-Ata và đến tháng 1 năm sau thì bị trục xuất khỏi Liên Xô vĩnh viễn.
Sau đó ông được chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiếp nhận và định cư trên đảo Prinkipo, nơi ông hoàn thành cuốn tự truyện của mình và lịch sử Cách mạng Nga. Sau bốn năm ở Thổ Nhĩ Kỳ, Trotsky tới sống ở Pháp và sau đó ở Na Uy và đến năm 1936 được cấp tị nạn ở Mexico. Định cư cùng gia đình ở ngoại ô Mexico City, ông bị kết tội phản quốc vắng mặt trong các cuộc thanh trừng đối thủ chính trị của Stalin.
Trotsky đã sống sót sau một cuộc tấn công bằng súng máy ở nhà nhưng đến ngày 20 tháng 8 năm 1940, ông bị một người cộng sản Tây Ban Nha, Ramon Mercader, đánh trọng thương bằng một chiếc rìu phá băng. Ông qua đời một ngày sau đó.
Xem thêm:
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/11/stalin-luu-day-trotsky/#sthash.XKW7LXV7.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Năm Thân dạy khỉ leo cây!

Cách vào facebook bị chặn mới nhất tháng 1/2016
Cách vào facebook mới nhất tháng 1/2016, cách vào facebook bị chặn... là một trong những chủ đề được tìm kiếm nhiều nhất trên internet về facebook. Việc không truy cập được facebook xảy ra do nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân chủ yếu là do bị các nhà mạng như VNPT, FPT, Viettel chặn.
Facebook hiện nay là mạng xã hội lớn nhất thế giới, nếu số người sử dụng facebook hợp thành 1 quốc gia, thì theo số liệu tháng 11 năm 2015, Facebook hiện có 1,55 tỷ người sử dụng hàng tháng, điều đó có nghĩa là Facebook sẽ là quốc gia có dân số đông nhất thế giới, trên cả Trung Quốc và Ấn Độ.

Với nhu cầu sử dụng Facebook ngày càng nhiều để cập nhật thông tin bạn bè, chia sẻ suy nghĩ, chia sẻ hình ảnh, video, làm đẹp timeline bằng cách tạo album ảnh lớn cho FBhay kinh doanh buôn bán; truy cập Facebook là một hoạt động diễn ra hàng ngày và thường xuyên. Tuy nhiên, tại một số quốc gia hay một số khu vực, một số nhà mạng lại chặn Facebook, vậy phải làm sao để truy cập vào Facebook những lúc như vậy?

Như đã nói ở trên, có nhiều lý do mà không vào được Facebook, tuy nhiên lý do chủ yếu là do các nhà mạng chặn. Từ đó chúng ta sẽ có nhiều cách để vào Facebook như sau:

Cách 1: Đổi DNS để vào Facebook cực dễ dàng:
Đây có lẽ là cách dễ dàng nhất để vào Facebook khi bị chặn:
- Truy cập vào Open Network and Sharing center:

- Tiếp tục vào Change adapter settings:

- Chuột phải vào mạng bạn đang sử dụng và chọn Properties:


- Click đúp vào Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4)

- Đổi DNS thành:

8.8.8.8
8.8.4.4

- Lưu lại và tận hưởng thành quả

Cách 2: Chỉnh sửa file host để vào Facebook khi bị chặn

Đây là cách vào Facebook dễ dàng và hay nhất, tuy nhiên nó khá rắc rối nếu người sử dụng không rành về máy tính lắm. Cách này là thêm 1 dãy IP vào file host để qua mặt nhà mạng.

Nếu bạn chưa biết cách chỉnh sửa file hosts để vào facebook, hãy tham khảo bài viếtCách chỉnh sửa file hosts để vào facebook khi bị chặn, ở bài viết đó sẽ hướng dẫn bạn cụ thể cách chỉnh sửa và lưu file host mà không báo lỗi.


Sau khi mở file host lên, bạn thêm đoạn ip mới nhất tháng 11 2015 bên dưới vào nhé:

173.252.100.26 www.facebook.com
173.252.100.26 www.login.facebook.com
173.252.100.26 login.facebook.com
173.252.100.26 apps.facebook.com
173.252.100.26 graph.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 vi-vn.connect.facebook.com
173.252.100.26 vi-vn.facebook.com
173.252.100.26 static.ak.connect.facebook.com
173.252.100.26 developers.facebook.com
173.252.100.26 error.facebook.com
173.252.100.26 channel.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.com
173.252.100.26 pixel.facebook.com
173.252.100.26 upload.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.com
173.252.100.26 pixel.facebook.com
173.252.100.26 logins.facebook.com
173.252.100.26 graph.facebook.com
173.252.100.26 developers.facebook.com
173.252.100.26 error.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 blog.facebook.com
173.252.100.26 channel.facebook.com
173.252.100.26 connect.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.comHoặc

31.13.77.52 facebook.com
31.13.77.52 www.facebook.com
31.13.77.52 www.login.facebook.com
31.13.77.52 login.facebook.com
31.13.77.52 apps.facebook.com
31.13.77.52 graph.facebook.com
31.13.77.52 register.facebook.com
31.13.77.52 vi-vn.connect.facebook.com
31.13.77.52 vi-vn.facebook.com
31.13.77.52 static.ak.connect.facebook.com
31.13.77.52 developers.facebook.com
31.13.77.52 error.facebook.com
31.13.77.52 channel.facebook.com
31.13.77.52 register.facebook.com
31.13.77.52 bigzipfiles.facebook.com
31.13.77.52 pixel.facebook.com
31.13.77.52 upload.facebook.com
31.13.77.52 register.facebook.com
31.13.77.52 bigzipfiles.facebook.com
31.13.77.52 pixel.facebook.com
31.13.77.52 logins.facebook.com
31.13.77.52 graph.facebook.com
31.13.77.52 developers.facebook.com
31.13.77.52 error.facebook.com
31.13.77.52 register.facebook.com
31.13.77.52 blog.facebook.com
31.13.77.52 channel.facebook.com
31.13.77.52 connect.facebook.com
31.13.77.52 bigzipfiles.facebook.com​
Cách 3: Dùng trình duyệt Cốc Cốc để vào FB:

Với Cốc Cốc, bạn có thể truy cập Facebook năm 2016 một cách dễ dàng mà không gặp trở ngại gì. Bạn chẳng cần làm gì để vào được Facebook ngoài việc cài đặt trình duyệt cả.

- Tải trình duyệt Cốc Cốc tại đây: https://coccoc.com/vi/thanks.html

Sau khi tải xong thì tiến hành cài đặt bình thường, và bạn đã có thể truy cập vào Facebook dễ dàng.

Xem hướng dẫn chi tiết về cách vào facebook bằng trình duyệt cốc cốc tại đây: Cốc Cốc vào Facebook

Cách 4: Dùng phần mềm Hotspot Shield

Đây là phần mềm hỗ trợ người dùng vượt tường lửa của các nhà mạng, giúp việc truy cập vào facebook dễ dàng, và Hotspot Shield còn giúp bạn ẩn thông tin người dùng, tránh việc lộ thông tin khi sử dụng internet. Ngoài việc giúp truy cập được Facebook, Hotspot Shield còn giúp bạn truy cập được những trang web bị chặn khác như blogspot, wordpress hay một số kênh Youtube bị chặn.

Các bạn tải Hotspot Shield tại đây và tiến hành cài đặt bình thường, sau khi cài đặt xong thì có thể truy cập Facebook dễ dàng.

Xem chi tiết về sử dụng Hotspot Shield vào Facebook tại đây: Dùng Hotspot Shield vào Facebook

Cách 5: Vào Facebook qua các địa chỉ khácĐây là một số địa chỉ khác của Facebook, có thể áp dụng kết hợp với các cách trên:

- http://vi-vn.connect.facebook.com
- https://www.facebook.com/
- http://touch.facebook.com
- http://m.facebook.com
- http://www.lisp4.facebook.com Trên đây là một số cách vào Facebook mới nhất tháng 1 năm 2016. Nếu có thắc mắc gì các bạn có thể đặt câu hỏi bên dưới bình luận nhé.

http://www.tranbadat.info/2015/09/cach-vao-facebook-bi-chan-moi-nhat.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không cần nói gì và "lòng tốt đôi khi cũng khó thực hiện":

Tướng Chung yêu cầu mở siêu thị 30, 1 Tết: Chuyên gia nói gì?
Phương Nhi - Theo các chuyên gia: Việc đề nghị các trung tâm thương mại, siêu thị mở cửa đêm Giao thừa và sáng mùng 1 Tết là đi ngược với quy luật thị trường. Theo các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, các vấn đề liên quan tới doanh nghiệp phải thảo luận với doanh nghiệp. “Theo phong tục của người Việt Nam ít ai đi mua vào sáng mùng 1 Tết mà chủ yếu đi thăm hỏi nhau là chính".

“Thành phố không nên có quy định cứng nhắc”
Để đảm bảo trật tự an ninh và tạo điều kiện cho nhân dân vui Tết, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã đưa ra một số cam kết gây tranh cãi trong dư luận. Đặc biệt là yêu cầu đối với các mặt hàng thiết yếu, các cây xăng phải phục vụ đến tận đêm 30 và mở cửa trở lại ngay trong mùng 1. Còn các trung tâm thương mại, siêu thị cũng sẽ bán hàng muộn trong đêm Giao thừa và mở cửa sớm vào sáng mùng 1.

Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nói: “Quyết định hành chính này là quyết định gây tranh cãi vì doanh nghiệp họ mở cửa hay không phụ thuộc vào việc họ có bán được hàng hay không.

Nếu họ không bán được hàng thì họ mở cửa làm gì”.

Theo ông Doanh: Thành phố không nên có quy định cứng nhắc cho tất cả các cửa hàng.

Vì một số mặt hàng như gà, giò chả, thực phẩm phục vụ Tết thì có thể bán chạy và sẽ mở cửa xuyên đêm trong ngày cuối năm nhưng các mặt hàng khác như đồ điện máy… hoàn toàn ngược lại.



Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh: Việc siêu thị, trung tâm thương mại có nên mở cửa vào đêm Giao thừa hay không cần bàn bạc trước khi đưa ra quyết định (Ảnh: Big C)

“Theo phong tục của người Việt Nam ít ai đi mua vào sáng mùng 1 Tết mà chủ yếu đi thăm hỏi nhau là chính. Quyết định này có thể là một ý định tốt của ông Chủ tịch mới với mong muốn có sự phục vụ tận tình với người dân.

Nhưng theo tôi, điều này không nhất thiết phải thực hiện như thế và nên có thảo luận với doanh nghiệp, chứ không nên quy định một cách cứng nhắc” – ông Doanh lưu ý.

Hơn nữa, chuyên gia kinh tế này cho biết: Theo các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, các vấn đề liên quan tới doanh nghiệp phải thảo luận với doanh nghiệp.

Vì vậy, “tôi đề nghị quyết định này nên thảo luận với doanh nghiệp và đưa ra với Phòng thương mại công nghiệp, đại diện Hiệp hội doanh nghiệp ở Hà Nội để đóng góp ý kiến, sau đó mới có quyết định sau” – ông Doanh nhấn mạnh.

Về phía các siêu thị, ông Lê Quang V., Tổng Giám đốc chuỗi siêu thị điện máy lớn tại Hà Nội (xin được giấu tên –pv) nêu quan điểm:

Các siêu thị điện máy nhu cầu dịp Tết có phát sinh nhưng không cao và tăng đột biến như các siêu thị hàng tiêu dùng nhanh, vì vậy, quy định trên là không hợp lý.

“Ở siêu thị chúng tôi, lượng nhân viên không nhiều, ngày lễ tết quan tâm trên hết về tinh thần hơn là vật chất, họ muốn dành thời gian sắp xếp về thăm gia đình nên ban Giám đốc luôn tạo điều kiện” – ông V. nói.

Theo ông V.: “Nếu một trung tâm thương mại lớn như Vincom, Mega Mall thì Thành phố có thể yêu cầu bắt buộc mở cửa xuyên Tết để tạo một nơi chốn để bà con tụ tập vui chơi, giải trí, trải nghiệm mua sắm, tham quan thay vì cờ bạc.

Vì các trung tâm lớn với khối lượng nhân viên nhiều có thể đáp ứng được, còn các siêu thị nhỏ lẻ với nguồn lực nhân viên ít, lại là đơn vị kinh doanh độc lập thì tôi nghĩ là không nên ép buộc”.

Theo ghi nhận của PV, rất ít các siêu thị tại địa bàn Hà Nội mở cửa xuyên đêm Giao thừa.

Ông Hồ Quốc Nguyên - Giám đốc Quan hệ công chúng của chuỗi siêu thị BigC cho biết: Tại BigC, trong 2 ngày 27 và 28 Tết, siêu thị sẽ mở cửa đến 12 giờ đêm.

Ngày 29 Tết, siêu thị đóng cửa lúc 12 giờ trưa. Sáng mùng 3 Tết tất cả các siêu thị Big C trên toàn quốc sẽ mở cửa phục vụ khách hàng như thường lệ.

Còn bà Vũ Thị Hậu – Phó Tổng Giám đốc CTCP Nhất Nam, đơn vị sở hữu chuỗi siêu thị Aeon – Fivimart thông báo: Chỉ có Fivimart Long Biên sẽ không đóng cửa, phục vụ cả ngày mùng 1 và đêm 29 Tết.

Còn các điểm khác dự kiến mở cửa cho tới 14h chiều 29 Tết hoặc cho tới khi hết khách. Sau Tết, một nửa hệ thống sẽ mở cửa vào ngày mùng 3 Tết và nửa còn lại sẽ đón khách bình thường vào ngày mùng 5 Tết.

Siêu thị mở cửa đêm 30: Kêu gọi chứ không nên áp đặt

Bàn luận xung quanh yêu cầu này, Luật sư Phạm Công Út, Trưởng Văn phòng Luật sư Phạm Nghiêm (Đoàn Luật sư Tp HCM) – người đã từng "ngồi" ở vị trí thẩm phán nhiều năm năm tại Tp Hồ Chí Minh cho biết:

Việc UBND Hà Nội yêu cầu kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, xăng dầu hết ngày 30 và cả ngày mùng 1 Tết Nguyên đán là một nỗ lực của phía chính quyền mang tính kêu gọi chứ không thể áp đặt.

Vì điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp không chỉ của các doanh nghiệp mà còn của người lao động. Doanh nghiệp mới chính là người quyết định việc kinh doanh của họ chứ không thể bằng một mệnh lệnh hành chính.

Đồng thời người lao động là những nhân viên bán hàng vẫn phải được nghỉ ngơi để vui Xuân, đón Tết cùng thân nhân, gia đình, trừ những người làm công việc mang tính thời vụ.


Luật sư Phạm Công Út.

Do đó, việc "yêu cầu" này chỉ có thể thực hiện đối với những tổ chức kinh tế và người lao động đã có sự hiệp thương, thống nhất với phía chính quyền.

Thêm vào đó, doanh nghiệp tự quyết định sự sống còn của mình, mà doanh nghiệp là tế bào của thị trường, họ sẽ cân nhắc và định hướng cho việc kinh doanh của mình theo hành lang pháp lý được nhà nước bảo hộ, trừ trường hợp có thiên tai, dịch họa, chiến tranh...

Những mệnh lệnh hành chính chỉ có thể được áp dụng đối với các khu vực kinh tế có vốn 100% của nhà nước.

Nên các yêu cầu này không có các biện pháp chế tài phù hợp để áp dụng nếu các trung tâm thương mại, các siêu thị hoặc các cây xăng không tự nguyện thi hành.

“Trong trường hợp các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ búa, các cây xăng vẫn nghỉ Tết thì phía chính quyền cũng không thể phạt vạ các tổ chức kinh tế này.

Vì luật pháp không cho phép UBND thành phố Hà Nội xử phạt bất kỳ tổ chức kinh tế hoặc người lao động nào không chấp hành "yêu cầu" này của phía UBND” – LS Út nhấn mạnh.

http://soha.vn/xa-hoi/tuong-chung-yeu-cau-mo-sieu-thi-30-1-tet-chuyen-gia-noi-gi-20160111105022231.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang