Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Đọc lại bài cũ và suy ngẫm..

Một giả thuyết về nguồn gốc người Việt dựa trên bằng chứng nhân chủng học phân tử
Đỗ Kiên Cường

Đặt vấn đề:
Tìm về cội nguồn là nhu cầu tự thân của con người. Chính vì vậy nhiều thế hệ người Việt Nam đã cố gắng đi tìm nguồn gốc dân tộc trên nhiều góc độ như truyền thuyết, ngôn ngữ, sử sách, dân tộc học, khảo cổ… Tuy nhiên cho đến nay, chưa thấy những cố gắng tìm tòi dựa trên bằng chứng phân tử và di truyền học, cơ sở của ngành nhân chủng học phân tử. Đó là một khiếm khuyết lớn, vì theo nhà di truyền học Spencer Wells, từng lãnh đạo Dự án bản đồ gien của Hội địa lý quốc gia Mỹ, “cuốn lịch sử vĩ đại nhất từng được viết là cuốn ẩn giấu trong ADN của chúng ta”1. Bài viết này dùng các bằng chứng nhân chủng học phân tử trong hai mươi năm qua và phát hiện năm 2012 về nguồn gốc mới của lúa nước thuần hóa để đưa ra một giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt. Theo đó người Việt là hậu duệ của những người đã tới Việt Nam từ 45.000 - 30.000 năm trước, và cùng với các cư dân Đông Nam Á khác, họ chính là nguồn gốc chủ yếu của cư dân Đông Á.

Các giả thuyết về nguồn gốc người Việt:
Về cơ bản có hai giả thuyết chính về nguồn gốc người Việt. Đó là thuyết bản địa và thuyết thiên di.
Đại diện cho thuyết bản địa là nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn, khi từ 1960 đã cho rằng nguồn gốc người Việt là những người thuộc chủng Mã Lai cổ (mà ông gọi là Indonesien theo tiếng Pháp)2. Theo ông, họ là chủ nhân của các nền văn hóa đồ đá tại Việt Nam. Hà Văn Tấn cũng cho rằng, chủng Mã Lai cổ thuộc tiểu chủng Nam Á (Mongoloid phương Nam), xuất hiện do sự hòa huyết nhiều lần giữa đại chủng Á (Mongoloid) từ phương Bắc đi xuống với đại chủng phương Nam (Australoid). Quan điểm của ông ảnh hưởng rõ trên trang bách khoa thư mở Wikipedia tiếng Việt trên Internet. Theo đó thì lần hòa huyết thứ nhất giữa đại chủng phương Nam và đại chủng Á tạo nên chủng Mã Lai cổ, và lần hòa huyết thứ hai giữa chủng Mã Lai cổ với đại chủng Á tạo nên người Việt3.
Thuyết thiên di xem người Việt có nguồn gốc từ Tây Tạng hoặc Hoa Nam. Dựa trên bằng chứng ngôn ngữ, một số học giả Pháp cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Tây Tạng. Như sẽ thấy ở các phần sau, giả thuyết này có tính trực giác cao và thực ra có cơ sở, nhưng không được thừa nhận do dấu ấn văn hóa Trung Á quá mờ nhạt so với dấu ấn văn hóa phương Bắc trong văn hóa Việt.
Giả thuyết nguồn gốc Bách Việt Hoa Nam được ủng hộ trên nhiều khía cạnh như truyền thuyết, thư tịch, khảo cổ… như truyền thuyết Hồng Bàng, các bộ sử thời Trần (Đại Việt sử lược), Lê (Đại Việt sử ký toàn thư), hay bộ lịch sử cổ đại Việt Nam của Đào Duy Anh, được in vào các năm 1957, 2005 và 2010. Gây chú ý gần đây là cuốn Nguồn gốc người Việt - người Mường của Tạ Đức, 2013, được tác giả tự đánh giá là “đưa ra những câu trả lời mới, đầy đủ và chi tiết hơn, nhưng về cơ bản đồng thuận với những câu trả lời đã có trong truyền thuyết Hồng Bàng và trong các công trình đã nêu”4. Theo Tạ Đức, người Mường, chủ nhân văn hóa đá mới Phùng Nguyên, có nguồn gốc từ người Mân Việt tại Phúc Kiến - Quảng Đông thiên di xuống khoảng 4.000 năm trước; còn người Việt là di dân gốc Lạc Việt từ Hồ Nam xuống Việt Nam thời đồng thau Đông Sơn 2.700 năm trước5. Và do đó người Việt và người Mường không có nguồn gốc chung, như từng được quan niệm6, cho dù tiếng Việt và tiếng Mường có thể chung một gốc. Theo Tạ Đức thì “khái niệm Việt - Mường chung chỉ là một khái niệm ngôn ngữ học và không thể chuyển sang một khái niệm dân tộc học”.
Cần nhấn mạnh rằng, giả thuyết thiên di từ Hoa Nam được xem là có nền tảng vững chắc trên khía cạnh nhân chủng và khảo cổ. Về mặt nhân chủng, quan niệm truyền thống xem đại chủng Á có nguồn gốc phương Bắc, và sự thiên di xuống phía Nam góp phần tạo nên tiểu chủng Nam Á, trong đó có người Việt. Về mặt khảo cổ, bằng chứng thuần hóa lúa nước tại lưu vực sông Dương Tử 9.000 - 7.000 năm trước7 cho thấy, đây chính là nơi phát tán nông nghiệp, với các dòng thiên di liên tục xuống phía Nam. Bất cứ giả thuyết nào không phù hợp với các dòng thiên di tự nhiên này đều khó được chấp nhận. Do đó, để bác bỏ giả thuyết về nguồn gốc thiên di từ Hoa Nam của người Việt, cần bác bỏ các nền tảng nhân chủng và khảo cổ này.

Nhân chủng học phân tử và Thuyết rời khỏi châu Phi:
Nhân chủng học phân tử là một chuyên ngành nhân chủng chuyên dùng các phân tích phân tử và di truyền để khám phá nguồn gốc và tiến hóa loài người hay phân loại và xem xét quá trình tiến hóa của các động vật nhân hình. Nó bắt nguồn từ Thế chiến I, khi hai thầy thuốc tại thành phố Thessaloniki, Hy Lạp, nhận thấy thương binh bị tai biến truyền máu phụ thuộc vào quốc tịch. Đầu những năm 1950, nhà nghiên cứu tiền phong Cavalli-Sforza, Đại học Stanford, Mỹ, nghiên cứu sự khác biệt di truyền giữa các tộc người bằng cách khảo sát các protein đặc trưng trong các nhóm máu. Khác biệt ở protein phản ánh sự khác biệt trong bộ gien mã hóa chúng8.
Bộ gien của con người là tổ hợp của hai bộ gien từ cha và mẹ. Tuy nhiên có một số gien không bị tái tổ hợp; do đó chúng cho phép truy tìm nguồn gốc sâu xa về mặt di truyền của từng cá thể. Nói cách khác, chúng giúp vẽ được các cây phả hệ di truyền và sự tiến hóa giữa các tộc người khác nhau. Đó là ADN ty thể, do mẹ truyền cho con; và ADN nhiễm sắc thể Y, do cha truyền cho con trai. Đó là các công cụ cực kỳ hữu ích để theo dõi các dòng thiên di của loài người trong suốt tiến trình lịch sử 70.000 - 50.000 năm qua. Bằng cách theo dõi các dấu gien (genetic marker), là các đột biến ADN đặc trưng cho một nhánh cụ thể trong cây phả hệ di truyền, các nhà khoa học đã vẽ được các con đường thiên di chiếm lĩnh địa cầu của người hiện đại, với điểm gốc là Đông Bắc Phi, bắt đầu từ 70.000 - 50.000 năm trước9.
Cần nhấn mạnh hai khám phá mang tính bước ngoặt. Đó là khám phá của Cann, Stoneking và Wilson, 1987, xem toàn bộ nhân loại hiện nay là hậu duệ của một người phụ nữ sống tại Đông Bắc Phi 172 ngàn năm trước; và khám phá của Underhill và 22 đồng sự, 2000, xem toàn bộ nam giới hiện tại có nguồn gốc từ một người đàn ông cũng sống tại Đông Bắc Phi 59 ngàn năm trước (những công bố mới 2011 và 2013 lùi niên đại này tới 142.000 hoặc 338.000 năm trước nhưng chưa thực sự đạt được sự đồng thuận)10. Đó là nàng Eva ty thể và chàng Adam nhiễm sắc thể Y, theo cách gọi của giới truyền thông. Cần lưu ý, tại Ethiopia có nhiều Adam và Eva, nhưng chỉ Adam của Underhill và Eva của Cann mới có hậu duệ hiện còn tồn tại. Con cháu của các Adam và Eva khác đều đã tuyệt chủng. Eva của Cann và Adam của Underhill được gọi là tổ tiên chung gần nhất của loài người, theo các tiêu chí ADN ty thể và ADN nhiễm sắc thể Y.

ng.goc001.jpg

Hình 1:Bản đồ thiên di rời khỏi châu Phi theo dấu chân những người mẹ (màu vàng) và những người cha (màu xanh)

Nhân chủng học phân tử cũng phát hiện hai làn sóng thiên di từ Đông Bắc Phi. Làn sóng thứ nhất men theo bờ Ấn Độ Dương tới Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trước khi tới Úc và ngược lên Bắc Á rồi sang Bắc Mỹ qua eo Bering. Những người có nước da đen, tóc quăn tại Nam Á, Đông Nam Á và các đảo Nam Thái Bình Dương là hậu duệ trực tiếp của làn sóng này. Tại Đông Nam Á, Hoa Nam và Nhật Bản, nó có phần đóng góp khoảng 20 - 30% vào vốn gien chung9 (hình 1).
Làn sóng thiên di thứ hai, với vai trò làn sóng chủ yếu, đi ngược lên Trung Cận Đông và Trung Á, trước khi lan tỏa khắp địa cầu. Trong làn sóng này có người đàn ông mang dấu gien M89, sống khoảng 45.000 năm trước tại Đông Bắc Phi hoặc Trung Đông. Hơn 90% số nam giới ngoài châu Phi hiện nay là hậu duệ của ông. Các hậu duệ của người đàn ông này đã men theo dãy Himalaya tới Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, và cực nam Hoa Nam (cụ thể là Vân Nam và Quảng Tây, được các nhà nhân chủng học phân tử Trung Quốc xác định là nơi người hiện đại tới Trung Quốc đầu tiên) khoảng 30.000 năm trước11. Làn sóng này đóng góp khoảng 70 - 80% vào vốn gien chung của cư dân phía Đông lục địa Á - Âu, tức các vùng Đông Nam Á, Đông Á và Bắc Á9.
Để hiểu thêm về nguồn gốc người châu Á, tức đại chủng Mongoloid, cần nhấn mạnh nhóm đơn bội O3 (dấu gien M122), xuất hiện 10.000 năm trước tại cực nam Hoa Nam hoặc Đông Nam Á, trước khi Bắc tiến mạnh mẽ (nhóm đơn bội là nhóm người mang chung một dấu gien đặc trưng do đột biến di truyền, tức cùng chung một nhánh trong cây phả hệ di truyền). Hơn một nửa số đàn ông Trung Quốc mang dấu gien này, cho thấy sự Bắc tiến này là kết quả của sự lan tỏa kỹ thuật trồng lúa nước9, một điều dường như trái ngược với quan niệm truyền thống về quê hương lúa nước tại lưu vực sông Dương Tử (hình 2).

ng.goc002.jpg
Hình 2:Bản đồ thiên di của những người cha cho thấy nguồn gốc Đông Nam Á của đại chủng Mongoloid

Nguồn gốc đại chủng Á (Mongoloid):
Carl von Linne (sau Latin hóa thành Linnaeus), nhà thực vật học Thụy Điển thế kỷ XVIII, là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại cho mọi loài sinh học trên thế giới. Trong quá trình đặt tên cho hơn 12.000 loài, ông chọn cái tên Homo sapiens (“người khôn”) cho loài người. Thêm nữa, khi nhìn ra toàn nhân loại trên thế giới, ông thấy dường như họ phân thành các nhóm khác nhau căn cứ theo biểu hiện bên ngoài. Do đó Linnaeus phân loại loài người thành năm nhóm chủng tộc: Afer, hay người châu Phi; Americanus, người châu Mỹ; Asiaticus, người châu Á; Europaeus, người châu Âu; và Montrosus, gồm tất cả những chủng người mà ông không thích, kể cả những chủng không có thật12.
Cách phân loại này khá giống những phân loại được dùng đến tận 20 năm trước. Chẳng hạn giữa những năm 1960, Carleton Coon, nhà nhân chủng Mỹ ủng hộ Giả thuyết tiến hóa trên nhiều vùng về nguồn gốc loài người (ngược với Thuyết rời khỏi châu Phi về nguồn gốc duy nhất tại Đông Bắc Phi), xuất bản cuốn Nguồn gốc chủng tộc, được xem là sách gối đầu giường của các sinh viên chuyên ngành nhân chủng. Trong đó Coon dùng chính cách phân loại của Linnaeus, với các chủng tộc Caucasoid (tương đương Europaeus của Linnaeus), Negroid (Afer) và Mongoloid (kết hợp Asiaticus và Americanus), cũng như thêm hai chủng tộc mới: Capoid (người Khoisan phía nam Cape châu Phi) và Australoid (thổ dân Australia và New Guinea)13.
Cho rằng cách phân loại trên thiếu tính khoa học, năm 2002, nhà nhân chủng Rich tại Đại học California, San Francisco, đưa ra cách phân loại mới dựa theo địa lý như sau: 1) Người Phi, gồm cả người châu Mỹ gốc Phi; 2) Người Âu, là người phía tây lục địa Á - Âu (châu Âu, Trung Đông, Bắc Phi và tiểu lục địa Ấn Độ (Ấn Độ và Pakistan)); 3) Người Á, là người phía Đông lục địa Á - Âu (Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Dương, Philippines và Siberia); 4) Người quần đảo Thái Bình Dương, gồm thổ dân Úc và người New Guinea, Melanesia và Micronesia; và 5) Người Mỹ bản địa, kể cả tại Bắc Mỹ và Nam Mỹ14. Tuy nhiên cách phân loại của Coon vẫn được dùng rộng rãi trong nhân chủng học.
Khi đặt tên người châu Á là Mongoloid, tức “giống người Mông Cổ”, vào năm 1775, có lẽ các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn đã ám ảnh Blumenback, Đại học Gottingen, Đức15. Và sự ám ảnh đó đã gieo vào tâm thức cộng đồng khoa học rằng, đại chủng Mongoloid phát tích từ Bắc Á, trước khi tràn xuống phía nam, góp phần tạo thành tiểu chủng Mongoloid phương Nam (qua nhiều lần hòa huyết với đại chủng phương Nam Australoid). Cho đến cuối thế kỷ XX, quan điểm này đạt được sự đồng thuận cao trong cộng đồng khoa học, nhất là khi nó phù hợp với quan niệm về sự lan tỏa nông nghiệp từ các lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử tại Trung Quốc.
 Quan điểm truyền thống đó bị thách thức vào năm 1998, khi Chu, Viện sinh học y khoa thuộc Viện hàn lâm y học Trung Quốc tại Côn Minh, cùng 13 nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ công bố công trình Quan hệ di truyền của cư dân Trung Quốc trên tạp chí Kỷ yếu Viện hàn lâm khoa học Mỹ PNAS ngày 29/09/1998. Nghiên cứu trên 28 nhóm cư dân Trung Quốc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau (Hán - Tạng, Tạng - Miến, Mon - Khmer, Hmong - Miên, Daic, Altaic và Nam Đảo), các tác giả nhận thấy, “cư dân Đông Á là đích đến của nhiều nguồn gien: Đông Nam Á, Altai từ Đông Bắc Á, Trung Á và châu Âu”. Căn cứ theo tỷ lệ đóng góp, Chu và đồng sự kết luận, “phát sinh chủng loại cũng giả định rằng, nhiều khả năng hơn cả là cư dân Đông Á đến từ Đông Nam Á”16.
Cần lưu ý một điểm quan trọng, trước năm 2000, làn sóng thiên di thứ hai từ châu Phi chưa được công nhận chính thức, nên các nhà nhân chủng học phân tử đều xem người Đông Á có nguồn gốc từ những người đến Đông Nam Á qua làn sóng thiên di thứ nhất (men theo bờ Ấn Độ Dương). Tuy nhiên đến nay thì họ đã biết con đường này chỉ đóng góp không quá 20 - 30% vào vốn gien của người Đông Á mà thôi.
Mười một năm sau, Tổ chức bộ gien người HUGO (Human Genome Organisation) đã công bố công trình mang tính bước ngoặt Vẽ bản đồ đa dạng di truyền người châu Á trên tạp chí Science danh tiếng ngày 11/12/2009. Nghiên cứu chi tiết trên 64.794 kiểu biến thiên hình thái gien của 1928 người thuộc 73 sắc dân khắp châu Á và 2 sắc dân ngoài châu Á (để so sánh), các nhà khoa học quốc tế của HUGO kết luận, hơn 90% thể đơn bội gien người Đông Á tìm thấy ở người Đông Nam Á hoặc người Nam Trung Á, và sự đa dạng giảm dần từ phía Nam lên phía Bắc. Ngoài ra, 50% thể đơn bội chỉ tìm thấy ở người Đông Nam Á và 5% chỉ tìm thấy ở người Nam Trung Á cho thấy, người Đông Nam Á là nguồn gốc chính của người Đông Á17. Công trình này là một bước tiến lớn so với công trình của Chu và đồng sự 11 năm trước, khi định lượng hóa được phần đóng góp của dòng gien Đông Nam Á đối với vốn gien tại Đông Á (khoảng 80 - 90%). Nói cách khác, các bằng chứng phân tử và di truyền học cho thấy, đại chủng Mongoloid được hình thành tại Đông Nam Á, điều hoàn toàn ngược với quan niệm truyền thống về nguồn gốc phương Bắc của đại chủng này. (Công bố của HUGO năm 2009 từng được các phương tiện thông tin đại chúng Việt Nam đăng tải rộng rãi; tuy nhiên ý nghĩa của nó không được các nhà nhân chủng học nước ta chú ý).
Nguồn gốc Đông Nam Á của chủng Mongoloid càng được khẳng định qua nghiên cứu so sánh kiểu răng của người phía Nam và người phía Bắc vùng Đông Á. Nhiều sắc người trên thế giới, như người Phi vùng hạ Sahara hay người Âu, vẫn giữ nguyên kiểu răng của người thiên di lúc mới rời châu Phi. Nhưng cư dân Đông Nam Á, Đa Đảo, Úc, Hoa Nam và Nhật Bản cổ đã phát triển một kiểu răng hoàn toàn khác, được gọi là kiểu Sunda (tên gọi của lục địa Đông Nam Á cuối kỷ băng hà cực đại 22.000 - 15.000 năm trước, khi mực nước biển thấp hơn hàng trăm mét so với hiện nay). Kiểu răng thứ ba, phát triển từ kiểu Sunda, với tên gọi kiểu Trung Hoa, thuộc về cư dân Hoa Bắc, Nhật Bản hiện đại và các tộc thiểu số tại Bắc Mỹ và Nam Mỹ18. Nói cách khác, chủng Mongoloid phương Bắc có nguồn gốc từ chủng Mongoloid phương Nam.
Vậy người Mongoloid hoàn chỉnh xuất hiện trong khoảng thời gian nào? Các bằng chứng khảo cổ cho thấy sọ Mongoloid điển hình chỉ xuất hiện khoảng 10.000 năm trước. Theo nhà cổ nhân chủng học Klein, Đại học Chicago, 1999, “phần lớn sọ người hiện đại ban đầu không có các đặc trưng khác biệt như bất cứ chủng tộc hiện đại nào; và dường như các chủng tộc hiện nay hình thành chủ yếu trong kỷ Toàn Tân, sau giai đoạn 12.000 - 10.000 năm trước. Điều đó đặc biệt rõ ràng với vùng Đông Á (trái tim của các chủng Mongoloid), nhưng cũng đúng với châu Âu (đất mẹ của người Caucasoid)”19.
Cần nhấn mạnh rằng, quan niệm của Klein rất phù hợp với phát hiện mới về thuần hóa lúa nước khoảng 10.000 năm trước (sẽ trình bày dưới đây) và sự thiên di từ phía Nam lên phía Bắc của nhóm đơn bội O3 (với dấu gien M122, cũng xuất hiện khoảng 10.000 năm trước) đặc trưng cho người Hán (xem hình 2).
Đó là những kết luận gây sốc thực sự đối với quan niệm thiên di từ Bắc xuống Nam truyền thống tại Đông Á, đến mức nhiều nhà nhân chủng học kịch liệt phản đối. Họ dẫn ra bằng chứng khảo cổ về sự thuần hóa lúa nước tại lưu vực Dương Tử khoảng 9.000 - 7.000 năm trước để bác bỏ. Lịch sử nhân loại cho thấy, chỉ có sự thiên di từ các vùng nông nghiệp đầu tiên lan tỏa ra xung quanh, chứ không có sự thiên di theo hướng ngược lại. Vùng Lưỡi liềm phì nhiêu Trung Cận Đông là minh họa điển hình cho xu hướng thiên di tự nhiên đó; và do đó lưu vực Dương Tử cũng không thể là ngoại lệ. Mâu thuẫn giữa dòng gien và sự lan tỏa nông nghiệp được giải quyết như thế nào?

Sự thuần hóa lúa nước:
Quan điểm truyền thống xem lưu vực Dương Tử, ranh giới tự nhiên giữa Hoa Bắc và Hoa Nam, là nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên trên thế giới khoảng 9.000 - 7.000 năm trước. Quan điểm đó dựa trên những bằng chứng khảo cổ không thể bác bỏ.
Năm 2006, trên PNAS, Londo và bốn nhà khoa học tại ba trường đại học Mỹ và Đài Loan cho rằng, phân bố chủng loại của giống lúa dại Oryza rufipogon châu Á cho thấy, lúa nuôi cấy Oryza sativa được thuần hóa nhiều lần, trong đó giống Oryza japonica được thuần hóa tại Hoa Nam, còn giống Oryza indica được thuần hóa tại Đông Ấn và Đông Nam Á, chủ yếu từ các giống lúa dại Đông Dương20.
Tuy nhiên vào năm 2011, cũng trên PNAS, Molina và đồng sự đưa ra chứng cứ phân tử cho thấy lúa nước chỉ được thuần hóa một lần khoảng 13.500 hoặc 8.200 năm trước, tùy theo phương pháp xử lý số liệu được sử dụng. Đó là giống Oryza japonica. Và sau đó giống Oryza japonica mới được lai ghép với các giống lúa dại địa phương để tạo ra giống Oryza indica và giống lúa thơm Aus. Các tác giả cũng cho rằng, có thể giống lúa dại Oryza rufipogon tại Ấn Độ hoặc Đông Dương là tiền thân của lúa nước thuần hóa21. Nói cách khác, nghiên cứu này cũng gián tiếp ủng hộ giả thuyết lưu vực Dương Tử là quê hương của nền nông nghiệp lúa nước.
Khám phá mang tính cách mạng về nguồn gốc lúa nước thuần hóa được công bố một năm sau đó. Ngày 25/10/2012, trên tạp chí Nature danh tiếng, các nhà khoa học Trung Quốc và Nhật Bản so sánh sự biến thiên bộ gien của lúa nước nuôi cấy với các giống lúa dại tại châu Á và kết luận, lưu vực Tây Giang thuộc Quảng Tây, chủ lưu của sông Châu chảy ra biển tại Quảng Đông, chính là nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên trên thế giới22.
Với khám phá này, sự mâu thuẫn giữa dòng gien (từ Nam lên Bắc) và sự lan tỏa nông nghiệp (từng được xem là từ lưu vực Dương Tử đi xuống Đông Nam Á) đã được giải quyết. Cần nhấn mạnh rằng, ba sự kiện quan trọng nhất thời tiền sử phía Đông lục địa Á - Âu (xuất hiện người Mongoloid hoàn chỉnh, thuần hóa lúa nước và dòng thiên di hướng lên phía Bắc) đều có cùng niên đại (khoảng 10.000 năm trước) và cùng vị trí địa lý (Đông Nam Á và cực nam Hoa Nam). Điều đó chứng tỏ, dòng gien từ phía Nam hướng lên lưu vực Dương Tử và Hoa Bắc chính là dòng thiên di của những người nông dân Mongoloid đầu tiên.

Người Việt cổ thiên di tới Việt Nam như thế nào?
Theo dấu chân thiên di của những người mẹ, để tìm hiểu nguồn gốc người Việt, cần lưu ý các nhóm đơn bội như sau (hình 1):
Đầu tiên là nhóm đơn bội M thuộc làn sóng thiên di thứ nhất, được xem là những người đầu tiên tới Đông Nam Á bằng cách men theo bờ Ấn Độ Dương. Tại Hoa Nam và Nhật Bản, nhóm này chiếm 15% vốn gien phụ nữ. Tại Việt Nam, có lẽ nhóm này cũng có tỷ lệ không nhỏ hơn 15%.
Tiếp theo là nhóm đơn bội D, tách ra khỏi nhóm đơn bội M và đi ngược lên Trung Á trước khi đông tiến. Tại Bắc Á, nó chiếm tỷ lệ hơn 20% vốn gien những người mẹ; còn tại Đông Nam Á, tỷ lệ cũng đạt tới 17%.
Thứ ba là nhóm đơn bội B, thuộc làn sóng thiên di thứ hai. Nó chiếm khoảng 20% vốn gien tại Trung Quốc và 17% tại Đông Nam Á. Hậu duệ của nhóm này, nhóm đơn bội con B4 (cùng một số nhóm khác), đã từ Đông Nam Á tràn ra vùng Đa Đảo ngoài Thái Bình Dương khoảng 5.000 năm trước.
Cuối cùng là nhóm đơn bội F, xuất hiện tại Trung Á khoảng 45.000 năm trước, cũng thuộc làn sóng thiên di thứ hai. Các thành viên của nhóm tràn tới Đông Nam Á và cực nam Hoa Nam khoảng 30.000 năm trước. Hiện nhóm chiếm hơn 25% vốn gien phụ nữ tại Đông Nam Á. Tại Việt Nam, nhóm có sự biến đổi chuỗi ADN lớn nhất, cho thấy đây chính là nơi họ đặt chân tới đầu tiên.
Để tìm hiểu nguồn gốc người Việt, bên cạnh dấu chân của những người mẹ, cần dõi theo bước chân của những người cha như sau (hình 2):
Trước tiên là nhóm đơn bội C, với dấu gien đặc trưng M130, xuất hiện tại Đông Bắc Phi hoặc Nam Á khoảng 50.000 năm trước, thuộc làn sóng thiên di thứ nhất. Nhóm này tương ứng với nhóm đơn bội M theo đường mẹ. Nhóm tới Đông Nam Á, xuôi về nam tới Úc, ngược lên bắc tới Hoa Bắc, Nhật Bản và Siberia trước khi tràn sang Bắc Mỹ. Kèm theo là nhóm đơn bội D (dấu gien M174), cũng tới Đông Nam Á rồi lên Nhật Bản, vào Mông Cổ và tràn xuống Tây Tạng.
Tiếp theo là nhóm đơn bội O (dấu gien M175) thuộc làn sóng thiên di thứ hai. Xuất hiện tại Trung Á hoặc Đông Á khoảng 35.000 năm trước, nhóm này đông tiến mạnh mẽ, tạo thành nhóm chủ yếu tại phía đông lục địa Á - Âu. Từ nhóm này, khoảng 30.000 năm trước, xuất hiện nhóm đơn bội O1a (dấu gien M119) tại cực nam Hoa Nam hoặc Đông Nam Á. Sau đó họ tỏa ra khắp Đông Nam Á, nam Hoa Nam và Đài Loan. Có lẽ nhóm này tương ứng với nhóm đơn bội F của những người mẹ.

Di truyền học của người Việt Nam:
Với vị trí địa lý liền kề nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên trên thế giới (sông Bằng tại Cao Bằng và sông Kỳ Cùng tại Lạng Sơn đều là chi lưu của Tây Giang), rất khó hiểu nếu người Việt cổ không tham gia vào ba sự kiện chính yếu nói trên (xuất hiện đại chủng Á, thuần hóa lúa nước và Bắc tiến). Vậy những nghiên cứu về di truyền có khẳng định người Việt là những cư dân đã cư ngụ lâu đời tại vùng phát tích đại chủng Mongoloid hay không?
Ngay từ 1992, khi nghiên cứu ADN ty thể của nhiều sắc dân châu Á (trong đó có người Việt, người Hoa tại ven biển Hoa Nam và Đài Loan, và người Nhật), nhà nghiên cứu Ballinger, Đại học Emory, Mỹ, đã kết luận, sự đa dạng ADN ty thể lớn nhất và tần suất xuất hiện cao nhất của một hình thái gien HpaI/HincII tại Việt Nam dẫn tới giả thuyết nguồn gốc Mongoloid phương Nam của người châu Á23. Nói cách khác, trong số những người được nghiên cứu, do có sự đa dạng di truyền cao nhất, nên người Việt nằm gần gốc cây phả hệ di truyền hơn so với người Hoa Nam và người Đông Bắc Á. Tại thời điểm công bố, nghiên cứu này không những không được đánh giá cao, mà còn bị xem là một kết luận lạc dòng chính thống, khi giả định đại chủng Á có nguồn gốc phương Nam.
Năm 2002, khi nghiên cứu 84 người Hoa Bắc tại Tây An, 82 người Hoa Nam tại Trường Sa, 89 người Nhật và 35 người Việt Nam, nhà nghiên cứu Nhật Hiroki Oota, Viện nhân chủng học tiến hóa Max Planck, Đức, nhận thấy, các cư dân châu Á có sự biến thiên ADN ty thể cao, trong đó người Việt có sự biến thiên cao nhất. Tuy nhiên, khoảng cách di truyền giữa các tộc người châu Á nói chung là nhỏ. Và sự gần gũi về mặt di truyền đó được giải thích bằng sự lan tỏa của nông nghiệp24. Nói cách khác, nghiên cứu này cho thấy, so với người Hoa Nam và Hoa Bắc, người Việt nằm gần gốc của cây phả hệ di truyền hơn; và  sự lan tỏa của lúa nước không phải từ Bắc xuống Nam, mà từ Nam lên Bắc! Đó cũng là một kết luận từng bị xem ngược dòng chính thống, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với khám phá năm 2012 về nguồn gốc mới của lúa nước thuần hóa.
Tuy những nghiên cứu phân tử và di truyền về người Việt còn tương đối ít, nhưng cũng có thể kết luận sơ bộ rằng, người Việt có nguồn gốc từ những người cổ đã cư ngụ lâu đời tại Việt Nam và họ thuộc nhóm những người đầu tiên thiên di tới Đông Nam Á. Và chỉ những nghiên cứu sau này mới có thể vẽ được bức tranh hoàn chỉnh hơn về nguồn gốc thực sự của người Việt.

Gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau:
Chỉ đứng sau các bằng chứng di truyền học, ngôn ngữ có vai trò thiết yếu trong việc phân loại các tộc người và theo dõi sự tiến hóa của các nhóm cư dân gần gũi nhau về mặt nhân chủng. Điều đó đã được khẳng định sau các công trình của nhà ngữ học tài năng dị thường Josep H. Greenberg (vốn được đào tạo về nhân chủng học xã hội) và nhà di truyền học tiền phong Cavalli-Sforza, cùng tại Đại học Stanford. Trước khi mất năm 2001 ở độ tuổi 86, Greenberg đã phân loại các ngôn ngữ trên toàn thế giới thành 14 ngữ hệ chính, ngoại trừ các ngôn ngữ Đông Nam Á (khi đồng nghiệp tới thăm trên giường bệnh, ông nói trong nước mắt rằng, điều đó khiến cho công trình ngôn ngữ thế giới của ông không thể hoàn thành25). Ông cũng đưa ra siêu ngữ hệ Á - Âu, cho phép tìm sự liên quan giữa các ngôn ngữ rất xa nhau, chẳng hạn tiếng Anh và tiếng Nhật. Các nhà ngôn ngữ không ủng hộ ông cho đến khi Cavalli-Sforza chứng tỏ rằng, các ngữ hệ chính của Greenberg hoàn toàn phù hợp với phân loại các chủng tộc trong nhân chủng học phân tử26 và với các bằng chứng khảo cổ27. Theo Cavalli-Sforza, gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau.
Tại sao gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau? Theo nhà tâm lý học tiến hóa Dunbar, Đại học Liverpool, ngoài chức năng thực hiện và chuyển tải tư duy và truyền thông kinh điển, ngôn ngữ còn nhiều chức năng khác như chức năng kết nối các cá nhân trong một nhóm xã hội ngày càng lớn, chức năng giới tính (hấp dẫn bạn tình bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm) hay chức năng bảo vệ. Do các nhóm săn bắt - hái lượm có quy mô không thể quá vài trăm cá thể, nên việc kiểm soát nhân số là vấn đề cốt tử. Và ngôn ngữ là phương tiện hữu hiệu cho phép phát hiện một kẻ không mời khi người đó vừa mở miệng. Đó là lý do có rất nhiều ngữ giọng khác nhau, cho phép phân biệt thậm chí các nhóm người nói cùng một ngôn ngữ. (Sự đồng tiến hóa của gien và ngôn ngữ cũng cho thấy, kết luận của Tạ Đức về tiếng Việt - Mường chung không đi kèm với người Việt - Mường chung có lẽ không đúng sự thật).
Điều đó dẫn tới các vùng ngôn ngữ lan tỏa và các vùng khảm ngôn ngữ. Nước Mỹ rộng lớn chỉ nói một ngôn ngữ; còn New Guinea, diện tích nhỏ hơn nhiều, nhưng có tới 1.200 ngôn ngữ. Các nhà ngữ học gọi vùng đủ rộng chủ yếu chỉ nói một ngôn ngữ là vùng lan tỏa; còn vùng phân chia thành nhiều vùng nhỏ, mỗi vùng đều có ngôn ngữ riêng, là vùng khảm. Các yếu tố biến vùng lan tỏa thành vùng khảm và ngược lại cũng chính là các yếu tố sắp xếp lịch sử và văn hóa.
Khi vùng lan tỏa vỡ vụn thành vùng khảm, điều gì thúc đẩy vùng khảm biến đổi ngược lại? Có ba khả năng là thảm họa tự nhiên, sự xuất hiện của nông nghiệp và chiến tranh. Liên quan với nguồn gốc người Việt, hãy xem xét ảnh hưởng của cuộc cách mạng nông nghiệp lên sự tiến hóa ngôn ngữ.
Các nhà khảo cổ Renfrew, Đại học Cambridge, Bellwood, Đại học quốc gia Úc tại Canberra, và nhà địa sinh học Diamond (tác giả bộ ba cuốn sách nổi tiếng Loài tinh tinh thứ ba; Súng, thép và vi trùng; và Sụp đổ; chúng đều đã được dịch ra tiếng Việt) cho rằng, từ các trung tâm phát tích nông nghiệp, những người nông dân sẽ lan tỏa ra xung quanh, mang theo ngôn ngữ của họ, do đó làm xuất hiện các vùng ngôn ngữ lan tỏa28. Chẳng hạn vùng Lưỡi liềm phì nhiêu Cận Đông là nơi phát sinh ít nhất hai đại ngữ hệ, hệ Ấn - Âu và hệ Á - Phi. Và vùng thuần hóa lúa nước đầu tiên phía Đông lục địa Á - Âu cũng là nơi lan tỏa không ít hơn bốn ngữ hệ. Đầu tiên, những người nói tiếng Nam Á, bao gồm 150 ngôn ngữ, như tiếng Việt và tiếng Khmer, lan tỏa khắp Đông Nam Á (và có thể một phần Hoa Nam). Theo chân họ là những nông dân nói tiếng Tày - Thái, như tiếng Lào và tiếng Thái. Làn sóng thứ ba là những người nói tiếng Hán - Tạng. Thứ tư là những người thuộc ngữ hệ phương Nam, tới Đài Loan 5.000 năm trước. Họ dong thuyền tới vùng Đa Đảo, và cuối cùng đặt chân tới New Zealand vào năm 1.200 CN. Tuy sai về vị trí địa lý (lưu vực Tây Giang chứ không phải lưu vực Dương Tử), nhưng trực giác đã cho phép Diamond và Bellwood đưa ra trình tự các làn sóng lan tỏa ngôn ngữ hoàn toàn phù hợp với những phát hiện về nhân chủng học phân tử và về nơi thuần hóa lúa nước gần mười năm sau.

Tiếng Việt lưu giữ được tiếng vọng của ngôn ngữ nguyên thủy 50.000 năm trước?
Như đã trình bày, gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau. Với hệ gien, khoa học có thể xác định được tuổi của các dấu gien (nhờ các “đồng hồ phân tử”, là thời gian trung bình để xuất hiện một đột biến gien được di truyền cho thế hệ sau), do đó xác định được các con đường thiên di theo địa lý và theo thời gian. Tuy nhiên, giới ngữ học thiếu các phương pháp hữu hiệu để xác định tuổi của một ngôn ngữ. Một tiếp cận là đánh giá tốc độ thay đổi trong một ngữ hệ bằng cách phân tích sự tương tự trong từ vựng của hai ngôn ngữ, chẳng hạn đánh giá phần trăm các từ đồng âm mà hai nguôn ngữ cùng có (các từ đồng âm có chung một gốc, chẳng hạn apple (quả táo) trong tiếng Anh đồng âm với Apfel trong tiếng Đức, nhưng không đồng âm với pomme trong tiếng Pháp).
Để so sánh, các nhà ngữ học dùng danh sách Swadesd, tên nhà khoa học phát minh ra phương pháp. Danh sách này bao gồm 100 từ ít chịu tác động của những biến động ngôn ngữ, như các từ về con số hay bộ phận cơ thể. Khi so sánh hai ngôn ngữ với nhau, nhà ngữ học xem xét tỷ lệ đồng âm của các từ trong danh sách, tỷ lệ đồng âm càng thấp thì hai ngôn ngữ càng xa cách nhau về mặt thời gian. Chẳng hạn tỷ lệ 5% tương ứng với thời gian chia tách 10.000 năm trước; trong khi tỷ lệ 86% tương ứng với chỉ 500 năm. Dùng phương pháp này, giới ngữ học tính được thời điểm các ngôn ngữ Ấn - Âu bắt đầu chia tách khỏi ngôn ngữ nguyên thủy khoảng 8.700 năm trước, phù hợp với giả thuyết của Diamond và Bellwood về sự thiên di của những người nông dân đầu tiên tại vùng Lưỡi liềm phì nhiêu29.
Với giới hạn xác định tuổi của ngôn ngữ không quá 10.000 năm trước, liệu các nhà ngữ học có thể khôi phục được tiếng nói của những người thiên di đầu tiên rời khỏi châu Phi hay không? Trong khi đa số giới nghiên cứu xem đó là điều bất khả thi thì Greenberg không nghĩ như vậy. Chính sự tồn tại của danh sách Swadesh cho thấy, một số từ có thể ít thay đổi hơn các từ khác. Theo nhà sinh học tiến hóa Pagel, trong tiếng Anh, các từ như mới, lưỡi, ở đâu, cái gì có thể có thời gian bán hủy (thời gian thay đổi một nửa) lớn hơn 13.000 năm. Bảy từ - tôi, chúng ta, ai, hai, ba, bốn, năm - còn ít thay đổi hơn nữa. Từ một có thời gian bán hủy 21.000 năm. Điều đó có nghĩa, nó có khả năng 22% không thay đổi sau 50.000 năm!
Trong một bài giảng năm 1977, Greenberg cho rằng, ông tìm thấy một từ có thể là tiếng vọng của tiếng mẹ đẻ ban đầu từ 50.000 năm trước của cả loài người. Đó là nhóm các từ đồng âm dựa trên tập các ý tưởng một/ngón tay/chỉ và được dẫn xuất từ gốc *tik (dấu * ứng với tiền tố). Greenberg nói rằng, ông tìm thấy các đồng âm của *tik ít nhất trong một ngôn ngữ của mọi ngữ hệ trong cách phân loại của ông.
Chẳng hạn trong siêu ngữ hệ Á - Âu (theo phân loại của Greenberg), các từ kiểu *tik trải từ digital trong tiếng Anh vàdaktulos trong tiếng Hy Lạp cho tới tiqik trong tiếng Eskimo. Chúng đều có nghĩa là “ngón trỏ”. Trong ngữ hệ Nile - Sahara, nhiều ngôn ngữ có cấu trúc t-k để chỉ từ “một”. Trong các ngôn ngữ Amerind của thổ dân châu Mỹ, cũng có nhiều từ cấu trúc kiểu “tik” để chỉ “ngón tay” hay “một mình”. Vậy trong ngữ hệ Nam Á có cấu trúc nguyên thủy đó hay không? Câu trả lời là có: tiếng Khmer có từ “tai” để chỉ “bàn tay”; còn trong tiếng Việt thì đó chính là “tay”!
Và như vậy theo nhà ngôn ngữ mà tài năng được đánh giá là dị thường, tiếng Việt có thể là một trong những ngôn ngữ cổ nhất phía Đông lục địa Á - Âu, khi còn giữ được những vang vọng mơ hồ của tiếng nói chung của cả loài người từ 50.000 năm trước?

Giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt:
Từ những bằng chứng về nhân chủng học phân tử, về nguồn gốc đại chủng Mongoloid và về nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên, cũng như giả thuyết Greenberg về tiếng vọng của ngôn ngữ nguyên thủy, xin đưa ra một giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt như sau. Khoảng 45.000 năm trước, người hiện đại với nước da đen nguyên thủy đã tới Việt Nam theo làn sóng thiên di thứ nhất; họ góp khoảng 20% vào vốn gien người Việt hiện tại. Khoảng 30.000 năm trước, những người thiên di thuộc làn sóng thứ hai men theo rặng Himalaya để tới Bắc Việt Nam và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á, cũng như Vân Nam và Quảng Tây (nơi xuất hiện người hiện đại đầu tiên tại Trung Quốc). Họ có phần đóng góp khoảng 80% trong vốn gien người Việt hiện nay. Qua quá trình tiến hóa lâu dài khoảng 35.000 - 20.000 năm, màu da và hình thái của họ dần biến đổi để trở thành người nguyên Mongoloid (Proto-Mongoloid). Có lẽ người Việt cổ tại Cao Bằng và Lạng Sơn không phải là những người thuần hóa lúa nước đầu tiên khoảng 10.000 năm trước, nhưng do cùng nằm trong lưu vực Tây Giang, nên họ học được rất nhanh kỹ thuật tiên tiến đó. Và cùng cộng đồng Mongoloid mới hình thành trong một khu vực trải rộng từ cực nam Hoa Nam tới Đông Nam Á, người Việt cổ cũng có thể góp phần vào làn sóng Bắc tiến của các cư dân nông nghiệp, hình thành nên cộng đồng Đông Á ngày càng đông đúc. Các dòng gien đi từ Hoa Nam lên Hoa Bắc bắt đầu từ 10.000 năm trước (khám phá của các nhà khoa học tại Đại học Fudan Thượng Hải trong Dự án bản đồ gien của Hội địa lý quốc gia Mỹ) là bằng chứng xác thực của sự lan tỏa đó (hình 2). Có sự đa dạng di truyền lớn nhất trong các cư dân Đông Nam Á và Đông Á, người Việt chính là những cư dân đầu tiên đặt chân tới vùng phát tích đại chủng Mongoloid này.
Giả thuyết này cho thấy, quan niệm người Việt bắt nguồn từ người Bách Việt phía nam  Dương Tử có lẽ sai sự thật. Theo quan niệm đó thì người Việt không thể có sự đa dạng di truyền lớn hơn so với người Hoa Nam ven biển và người Hoa Nam tại Trường Sa, như các nghiên cứu của Đại học Emory, Mỹ, và Viện nhân chủng học tiến hóa Max Planck, Đức, đã chứng tỏ. Cần nhấn mạnh rằng, quá trình Nam tiến chỉ xẩy ra mạnh mẽ sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc năm 221 trước CN, đặc biệt sau khi nhà Hán thay thế nhà Tần. Các nhà khoa học Đại học Fudan cũng nhận thấy ba làn sóng chính trong các thời kỳ 265 - 316, 618 - 907 và 1127 -  1279 CN, do chiến tranh và nạn đói (hình 3)30. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa thấy bằng chứng nhân chủng học phân tử ủng hộ sự thiên di của các tộc người ngữ hệ Nam Á từ ven biển Hoa Nam xuống Việt Nam 4.000 năm trước, cũng như từ giữa Hoa Nam xuống Việt Nam 2.700 năm trước, như Tạ Đức giả thuyết.
Trong lúc chưa có bằng chứng phân tử và di truyền về các dòng thiên di như vậy, có lẽ nên xem xét sự tương đồng về văn hóa vật thể và phi vật thể giữa Hoa Nam và Việt Nam thời văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn chủ yếu trên các khía cạnh giao lưu và tiếp biến văn hóa. Sự đa dạng di truyền của người Việt lớn hơn của người Hoa Nam và Hoa Bắc, bao gồm cả các tộc ít người, cũng cho thấy, sự hòa huyết giữa người phương Bắc và người Việt chỉ góp một phần nhỏ vào vốn gien người Việt hiện đại và có lẽ chỉ xẩy ra từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, sau khi An Dương Vương mất nước năm 179 trước CN. Theo cách nói của Trần Trọng Kim thì sau khi lập nước Nam Việt, Triệu Đà đã “đem văn minh nước Tàu sang truyền bá ở phương Nam, cho nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn minh ấy”31.
ng.goc003.jpg
Hình 3:Bản đồ các làn sóng Nam tiến của người Hoa
Kết luận:
  1. Ngược với quan niệm truyền thống về nguồn gốc phương Bắc, đại chủng Mongoloid hoàn chỉnh chỉ xuất hiện khoảng 10.000 trước tại cực nam Hoa Nam và Đông Nam Á. Các bằng chứng di truyền học và kiểu răng cũng cho thấy, chủng Mongoloid phương Bắc có nguồn gốc từ chủng Mongoloid phương Nam.
  2. Không phải lưu vực Dương Tử là nơi phát tích nông nghiệp, mà cực nam Hoa Nam (lưu vực Tây Giang, Quảng Tây) mới là nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên trên thế giới, cũng khoảng  10.000 năm trước.
  3. Sự thiên di của những người nông dân trồng lúa nước từ Nam lên Bắc phù hợp với sự lan tỏa các dấu gien tại Trung Quốc, như các nhà khoa học tại Đại học Fudan, Thượng Hải, trong  Dự án bản đồ gien của Hội địa lý quốc gia Mỹ 2005 - 2010, và Tổ chức bộ gien người HUGO 2009, đã chứng tỏ.
  4. Bằng chứng phân tử và di truyền học cho thấy, người Việt có sự đa dạng di truyền lớn nhất trong số cư dân Đông Nam Á và Đông Á, chứng tỏ họ thuộc về nhóm cư dân lâu đời nhất trên vùng đất rộng lớn này.
  5. Không có bằng chứng nhân chủng học phân tử cho giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ những người thiên di phương Bắc thời văn hóa Đông Sơn. Có lẽ sự hòa huyết giữa người bản địa và người thiên di chỉ xẩy ra rõ rệt từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất.
  6. Trong lúc chờ đợi bằng chứng nhân chủng học phân tử về sự thiên di của người Bách Việt Hoa Nam, cần xem xét sự tương đồng về văn hóa vật thể và phi vật thể giữa Hoa Nam và Việt Nam thời văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn chủ yếu trên các khía cạnh giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Tài liệu tham khảo:
  1. Wells S, Available online at: genographic/nationalgeographic.com/About; Retrieved on June 1rst, 2014
  2. Hà Văn Tấn (1998), Theo dấu các văn hóa cổ, NXB Xã hội, trang 335-401
  3. Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam, Trên trang mạng: vi.wikipedia.org/wiki/Nguồn_gốc_các_ dân_ tộc_Việt_Nam; Truy cập ngày 01/06/2014
  4. Tạ Đức (2013), Nguồn gốc người Việt - người Mường, NXB Tri thức, trang 13
  5. Tạ Đức (2013), sđd, trang 394
  6. Hà Văn Tấn (1998), sđd, trang 753-765
  7. Fuller DQ, Qin L (2010), Declining oaks, increasing artistry, and cultivating rice: The environmental and social context of the emergence of farming in the Lower Yangtze Region, Environmental Archaeology, 15(2): 139-159
  8. Stix G (2008), Traces of a distant past, Scientific American, 299(1): 38-45
  9. Wells S (2007), Deep Ancestry: Inside the Genographic Project, National Geographic Society
  10. Y-chromosomal Adam, Available online at: en.wikipedia.org/wiki/Y-Chromosomal_Adam; Retrieved on May 30th, 2014
  11. DeSalle R, Tattersall I (2008), Human Origins: What Bones and Genomes Tell Us About Ourselves, Texas A & M University Press, p152
  12. Carl Linnaeus, Available online at: en.wikipedia.org/wiki/Carl_Linnaeus; Retrieved on August 9th, 2008
  13. Carleton S. Coon, Available online at: en.wikipedia.org/wiki/Carlleton_S._Coon; Retrieved on August 9th, 2008
  14. Neil Rich, et al, Categorization of humans in biomedical research: genes, races and disease, Available online at:genomebiology.com/2002/3/7/comment/2007; Retrieved on August 9th, 2008
  15. Mongoloid, Available online at: en.wikipedia.org/wiki/Mongoloid; Retrieved on August 9th, 2008 & May 30th, 2014
  16. Chu JY, et al (1998), Genetic relationship of populations in China, Proceedings of National Academy of Sciences USA, 95(20): 11763-11768
  17. The HUGO Pan-Asian SNP Consortium (2009), Mapping human genetic diversity in Asia, Science, 326(5959): 1541-1545
  18. Wade N (2006), Before the Dawn: Recovering the Lost History of Our Ancestors, Penguin Press, pp 119-122
  19. Klein RG (1999), The Human Career: the Biological and Cultural Basis of Human, 2nd edition, University of Chicago Press, p502
  20. Londo JP, et al (2006), Phylogeography of Asian wild rice, Oryza rufipogon, reveals multiple independent domestications of cultivated rice, Oryza sativa, PNAS, 103(25): 9578-9583
  21. Molina J, et al (2011), Molecular evidence for a single evoluationary origin of domesticated rice, PNAS, 108(20): 8351-8356
  22. Huang X, et al (2012), A map of rice genome variation reveals the origin of cultivated rice. Nature, 490(7421): 497-501
  23. Ballinger SW, et al (1992), Southeast Asian mitochondrial DNA analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migrations, Genetics, 130(1): 139-152
  24. Oota H, et al (2002), Extreme mtDNA homogeneity in continental Asia populations, American Journal of Physical Anthropology, 118(2): 146-153
  25. Wade N (2006), Ibid, p131
  26. Cavalli-Sforza LL, et al (1992), Coevolution of genes and languages revisited, PNAS, 89(12): 5620-5624
  27. Cavalli-Sforza LL, et al (1988), Recontruction of human evolution: Bringing together genetic, archaeological, and linguistic data, PNAS, 85(16): 6002-6006
  28. Diamond J, Bellwood P (2003), Farmers and their languages: The first expansions, Science, 300(5619): 597-603
  29. Wade N (2006), Ibid, pp 211-218
  30. Bo W, et al (2004), Genetic evidence supports demic diffusion of Han culture, Nature, 431(7006): 302-305
  31. Trần Trọng Kim (2003), Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, trang 30

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thiên đường sụp đổ

 


   Cánh cửa gỗ màu xanh được mở ra. Đồng hồ điểm 7 giờ. Nền trời xám đen, cơn gió trái mùa khiến cô ớn lạnh. Cái bụng bầu đã lớn thêm. Cô xoa xoa bụng, miệng mỉm cười. Cô bốc miếng khế chua bỏ vào miệng, từ lúc nghén cô luôn thèm đồ chua.
    Vòng ôm quen thuộc khiến trái tim cô ấm lại.
      - Anh không về muộn chứ !
      Cô khẽ cười, anh ghé đầu vào bụng cô. Cái thai mới bốn tháng, có lẽ nó chỉ mới thành hình. Anh nhắm mắt, đầu tự vẽ ra một viễn cảnh tuyệt đẹp về một đứa con kháu khỉnh. Sẽ là con trai. Kể từ khi ngồi lên chiếc ghế tổng giám đốc anh đã biết người duy nhất có thể kế thừa mình là ai.
     Anh thường bắt cô nghe những bản nhạc không lời. Thứ nhạc êm ái có phần ẻo lả này luôn khiến cô khó chịu nhưng cô chẳng làm khác được. Lời anh nói với cô luôn là mệnh lệnh. Anh và cô đều ngồi trên giường. Anh quàng tay qua eo cô, khẽ ôm cái bụng bầu. Anh ôm rất nhẹ. Tiếng nhạc du dương vang lên đều đều. Trời bắt đầu mưa, đã vào Thu rồi.
     Để ngồi lên chiếc ghế tối cao ở công ty này chẳng anh đã phải vất vả. Thủ đoạn là chuyện khó tránh. Điều thú vị là ngay cả khi ngã khỏi ghế, lão sếp béo ú đó vẫn không hiểu tại sao số cổ phần của anh lại lớn như vậy. Anh đã giở trò và dĩ nhiên sẽ chẳng ai có thể phát hiện được. Số tiền anh gửi ngân hàng đã lên tới hàng tỉ còn bao nhiêu tỉ thì anh cũng chẳng rõ. Hàng tháng anh vẫn ăn lãi ngân hàng. Anh không năng đi chùa, việc đặt tượng thần tài ở nhà, ở cơ quan thì lại càng không. Anh chẳng tin thần cũng chẳng ngưỡng thánh. Vậy mà công việc của anh suôn sẻ tới khó tin. Chẳng công ty nào có thể cạnh tranh với anh.
    Cô cũng như những người trước. Tình yêu trong anh chỉ thực sự bung nở khi biết được người đàn bà đó đã có bầu. Và nếu người đàn bà đó có thể sinh cho anh một thằng con trai thì anh có thể cưới họ mà không đắn đo gì. Chỉ tiếc ai cũng như ai. Những người đàn bà đó rồi cũng sẽ tan đi như bong bóng xà phòng. Sẽ chẳng ai còn nhìn thấy họ, ít ra là ở mảnh đất phồn hoa này.
     Thai nhi đã được bốn tháng. Nó đã thành hình và giới tính thì không lẫn lộn được. Cô sẽ không như những người đàn bà trước. Cái thai trong bụng cô sẽ là con trai. Dù nó chưa thể đạp nhưng mỗi lần anh áp tai vào bụng cô anh có thể thấy được sẽ chẳng lâu lắm tiếng đạp đó sẽ vang lên. Cô nghén và rất hay buồn nôn, trong tủ lạnh anh luôn trữ sẵn hoa quả để cô không phải lê la những quán dọc đường mỗi khi anh đi vắng. Đó chẳng phải sự tưởng tượng, thường thì khi mang thai con trai người mẹ thường rất mệt và thường ăn đồ ngọt. Mà những biểu hiện này cô đều có đủ.
    Và nếu đứa bé là con trai chắc chắn anh sẽ rất vui. Dù là trong giấc mơ anh cũng luôn nghĩ tới nó. Ngày thằng nhãi đó ra đời. Tiếng khóc oe oe dễ thương và cái chim nhỏ tin hin đó. Cái ngày đó sẽ tới rất mau và có lẽ khi nó chính thức ra khỏi bụng mẹ số tiền trong ngân hàng đó sẽ không còn khiến anh phải lo lắng. Chủ nhân của chúng đã được định rồi và anh thì chỉ còn nhiệm vụ bảo vệ thật tốt cho tới khi người chủ đáng kính đó đủ tuổi để nhận. “ Đứa nhỏ sẽ rất đẹp”. Đó luôn là câu cửa miệng trước khi đi ngủ. Mà cũng phải thôi, cô xinh đẹp như vậy còn anh thì hào hoa, lịch lãm như thế cơ mà.
     Dù đã được vài người cảnh báo về sự đáng sợ của anh nhưng cô vẫn lao vào. Và không chỉ họ đâu, còn nhiều người khác. Theo những gì cô đã nghe thì anh “ Lạnh và hiểm ”. Anh thường nói với cô “ Anh thích Tào Tháo. Anh ngưỡng mộ ông ta nhưng anh sẽ khác ông ta”. Cô không hỏi vì điều đó chẳng quan trọng gì, nhưng nếu buộc phải suy nghĩ về những lời của anh thì cô đoán cái điểm mà anh nói khác là không đa nghi.
    Cô còn nhớ rõ, vài ngày trước đó anh có chở cô đi mua một vài bộ quần áo trẻ con. Hôm đó là thứ bảy. Trời không mưa nhưng lạnh. Cô đã mặc áo rét rồi mà vẫn run bần bật.
     -  Mới đầu thu mà lạnh quá.
     Anh im lặng.
     -  Anh xem, những bộ quần áo xanh đỏ này con chúng ta có thích không ?
     -  Nó sẽ thích. Vì những bộ quần áo đó là anh chọn.
     -  Chiều nay, em có gọi điện cho mấy đứa bạn ở trường. Bọn nó đang thi. Năm nay là ra trường rồi.
     -  Trời trở lạnh rồi, về nhà thôi.
     -   .................
     Đường vắng hoe, hi hữu lắm mới có đôi ba người qua lại. Cô dựa vào anh để lấy hơi ấm. Một con gió thổi qua, những chiếc lá vàng rơi xuống. Cũng có vài ba chiếc lá còn tươi rơi xuống. Cô tránh không đạp lên chúng, còn anh thì thản nhiên giẫm lên nó mà đi tiếp.
     Một cơn gió nữa lại thốc qua. Cô ôm lấy hai tay, cô run rẩy “ Lạnh thật”. Anh dừng bước và ngay trước phố xá, trong con mắt của những người đi đường anh cởi chiếc áo khoác đen ra. Anh mặc ngược áo cho cô. Khi anh thấy yên tâm vì phần bụng đã được phủ kín thì anh cởi tiếp chiếc sơ mi và quàng vào người cô. Anh đi cạnh cô, tay anh khoác qua vai cô để chiếc áo khỏi rơi xuống.
    -  Anh sẽ lạnh đấy !
    Anh nhìn cô, khẽ cười. Anh mặc một chiếc áo cộc mỏng đi cạnh cô. Cơn gió không khiến bước chân của anh dừng lại. Cô định lấy chiếc sơmi quàng sau lưng đưa cho anh thì anh gạt lại. Cô vẫn cần nó hơn. Phải một lúc lâu hai người mới về tới nhà. Lúc ấy thì môi anh thâm sì và cơ thể lạnh ngắt như bị nhúng vào băng.
    Nếu như cô có thể trở thành vợ anh, đó sẽ là phúc phận. Cho cả cô lẫn anh. “ Con ngoan của bố, lại đây nào”. Cô trở dậy vì âm thanh lạ. Chiếc đèn ngủ thắp nhập nhoạng. Anh lại nói mơ rồi. Cô vuốt nhẹ lên má anh, khuôn mặt anh lúc này ai dám nói là lạnh và hiểm. Cô hôn lên môi anh. Khi môi cô tách ra, tràng nói mơ kì quái lại vang lên. Thứ ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn ngủ vẫn toả đều trong căn phòng.
     Dĩ nhiên việc đến với anh đầu tiên chỉ vì những tờ tiền. Cô là sinh viên năm thứ 3, nghèo đói và túng bần. Việc bám trụ ở thành phố quả chẳng phải dễ dàng. Và nếu anh không để mắt tới cô thì cuộc đời cô sẽ còn tồi tệ hơn vậy. Cô được mặc những bộ quần áo đẹp, nằm đệm êm, đeo những chiếc lắc bằng vàng và bất kể lúc nào cũng có thể lái xe tới một quán ăn sang trọng để ăn những món tự chọn. Những thứ đó khác hẳn với cuộc sống trước đây của cô. Có thể ví von anh là một Thiên Đường. Đứa nhỏ trong bụng cô chính là chìa khoá để bước vào Thiên Đường.
     Cô nghĩ anh cũng rất yêu mình. Không hẳn chỉ vì chuyện xác thịt hay sinh ra một đứa nhỏ có ống đái. Anh yêu cô thực sự. Ánh mắt dịu dàng đó chẳng phải giả dối.

      Khi nhận được kết quả siêu âm, cô thực sự hoảng sợ.
     Lão bác sỹ đó luôn hí hoáy đủ mọi giấy tờ. Dáng vẻ lão có vẻ rất rụt rè và nếu bỏ lớp áo blue trắng ra thì ai biết được lão là một bác sỹ siêu âm có tiếng. Lão ngăn không cho cô nhìn vào màn hình, mà dù có nhìn chắc cô cũng chẳng hiểu gì. Màn hình đen ngòm, ở giữa có cái cục đen sì.
    Tờ xét nghiệm này, cô sẽ đưa cho anh ư ? Anh sẽ điên lên mất.
     -  Ông thử xét nghiệm lại đi
     -  Tôi xét nghiệm cho cô hai lần rồi. Khám nữa cũng thế thôi.
    Cô hoảng sợ, mắt cô đỏ au ảu. Cô sờ xuống bụng. Cái khối thịt chỉ chờ ngày chui ra này không lẽ là một con quỷ cái.
    Cô bảo “ Để tôi xem có đúng là con gái không ?”
    -  Cái cô này hay nhỉ ? Xong rồi thì thanh toán rồi về. Ai cũng như cô thì có mà loạn.
    -   Này nhé - Lão bác sỹ bấm chiếc máy tính con - Phí...Phí...Tổng cộng là...
    Nước mắt cô trào ra. Tiếng bước chân qua lại dội từ ngoài vào khiến cô thêm hoảng loạn. Cô sờ xuống bụng, con ranh không còn đạp nữa. Cái cục thịt này, cô phải làm sao.
     Cô lau mắt, cô lầm bầm “ Con nào thì cũng là con. Mình sẽ nói cho anh ấy hiểu”
     Cô nhắm mắt hồi lâu rồi rút hai tờ 500 ngàn đưa cho bác sỹ “ Không cần trả lại”. Khi kéo nắm cửa, cô có nghe thấy lão bác sỹ khẽ thở dài. Tiếng thở gấp rút, cứ như vừa trút được gánh nặng.
     Anh vẫn ngồi ở ghế chờ. Hai tay anh đặt xuống gối. Anh không có vẻ gì là nôn nóng hay hồi hộp cả. Anh nhìn xuống đất. Cô đứng chếch phía anh một đoạn và cô cứ đứng vậy thôi. Khối thịt kia lại đạp nhưng cô không thấy đau. Cô run rẩy, tờ giấy xét nghiệm rơi khỏi tay cô. Và có lẽ như một sự dàn xếp, cơn gió quái ác đã cuốn tờ giấy đó tới được chỗ anh ngồi. Anh cúi xuống nhặt mảnh giấy và im lặng hồi lâu.
      Anh nhìn về phía cô. Ánh mắt sắc lạnh khiến cô ớn lạnh và nếu không phải sau lưng cô là cánh cửa được khoá chặt thì rất có thể cô đã ngã ra. Anh gấp tờ giấy làm tư rồi cầm nó trên tay, anh ngồi dậy. Tiếng giày gõ cồm cộp trên nền nhà. Họng cô nghẹn lại. Cô định lùi ra sau thì thấy vướng vật gì đó. Là cánh cửa phòng khám. Cánh cửa lành lạnh đã bịt mất đường lui của cô.
     Anh chậm rãi bước tới, vẻ mặt lạnh tanh. Trong con mắt đó không hề có sự giận dữ, cũng không có vui mừng, buồn bã hay thất vọng. Đôi mắt anh xám xịt không chút cảm xúc. Cơ mặt anh bình thản và cô khó có thể biết được thứ đang cháy trong lồng ngực anh lúc này là gì. Khi anh bước gần tới cô thật sự hoảng loạn. Cô nép về phía sau thì vướng cửa, chạy lên trên thì vướng anh. Nơi cô đứng đã thành ngõ cụt. Hơi thở cô gấp hơn, cô ôm lấy bụng như để che cho đứa bé.
    Anh đứng trước mặt cô. Cô lảng tránh ánh mắt đó. Tay anh giơ lên, bàn tay đó sẽ chạm vào đứa bé ư, anh sẽ bóp vụn nó ra hay sẽ giáng vào đó một nắm đấm ? Cô nhắm mắt, mồ hôi tuôn nhễ nhại. Đầu cô cúi xuống, hai tay ôm ghì lấy bụng. Bàn tay anh đang khum lại.
    -  Em sao vậy ? Chúng mình về nhà thôi !
    Cô mở mắt ra, bàn tay của anh đang đặt vào má cô. Anh nựng vuốt khiến cơn hoảng loạn của cô dịu bớt. Cổ họng cô giãn ra đôi chút.
    -  Về nhà ư ?
    -   Hay đi ăn cháo tim gan. Anh biết một quán nấu rất ngon.
    -   Con...Con…Nó
    Anh  khẽ cười nhưng cô thấy được ngay cả cái nụ cười dịu dàng đó cũng không khiến ánh mắt anh bớt lạnh. Ánh mắt anh, nó như một hầm băng vậy.
    Cô định nói thêm thì anh đã kéo cô đi. Anh khá ung dung. Anh chắc chắn biết những gì ghi trên tờ siêu âm. Kết quả in trên đó không sai được. Hai người sóng bước, không ai nói câu gì. Khi đi tới hành lang cầu thang, nơi đặt một chiếc thùng rác anh dừng lại. Anh đẩy miệng thùng ra và nhét tấm giấy xét nghiệm được gấp làm tư vào. Anh vẫn điềm nhiên nhìn cô, và mỉm cười. Anh và cô đi tiếp xuống. Bước chân của anh có nặng hơn. Cô thoáng rùng mình. Hình như trời lại trở gió. “ Em lạnh quá”. Anh liếc nhìn cô rồi dừng lại. Anh chỉnh lại vạt áo rồi kéo khóa đến tận cổ. Anh bước tiếp. Cầu thang hình như ngày một dài còn anh thì đi nhanh quá.
    Giờ thì cô ngồi đó. Đợi bát cháo tim gan mà anh nói có ích cho sức khoẻ được bê ra. Cái bụng cô xẹp hẳn. Cô đeo một chiếc túi xách con con. Cô luôn mang theo nó kể cả khi đã nằm trên chiếc ghế lạnh ngắt đó. Anh bảo “ Em ngồi đó nhé. Anh đi gọi thêm vài món.”
     - Anh ở lại với em đi- Cô níu áo anh, giọng khẩn khoản.
     Anh gỡ từng ngón tay cô ra “ Anh không phải người thích đùa”
     Anh quay lưng và lẫn vào đám thực khách trong quán ăn. Mùi thức ăn lẫn lộn
     Thiên Đường nơi cô đã đặt cả trái tim mình vào đã hoàn toàn biến mất. Cô đã nói đủ mọi nhẽ nhưng vẫn không khiến anh động lòng trắc ẩn. Cái bụng bầu bốn tháng, giờ nó lại làm hại cô.
     -  Nó là con của em và anh. Em xin...
    -  Cô không phải người đầu tiên có chửa với tôi và việc thế này không phải diễn ra có một lần
    Anh nhấc balô lên rồi bảo
   -  Không còn nhiều thì giờ nữa. Taxi đang đợi dưới cổng
   Cô oà khóc, cô níu anh, miệng run rẩy “ Em xin. Đây là con so. Nếu làm vậy thì...”
   -  Cô sợ vô sinh ?
   -  Em..Em
   -  Cô muốn bao nhiêu ?
   -  Anh..Hay là đi siêu âm lại, siêu âm một lần chắc gì đã đúng.
    Anh cười nhạt, cái nụ cười này giờ thì đã lạnh như ánh mắt anh vậy. Anh xách hai chiếc balô rồi xuống lầu và cô thì vẫn ngồi đó, nước mắt chảy ầng ậc. Cái thai này, nó đã giết đời cô rồi. Và rồi thì nó cũng chẳng yên ổn đâu. Những dụng cụ quái đản đó sẽ bằm nát nó ra.
     Và giờ thì cô đã hiểu tại sao anh thích Tào Tháo. Nhưng nếu bắt cô đặt phép so sánh thì Tào Tháo vẫn còn thua anh. Ít ra thì ông ta vẫn cho con mình được ra đời.
   Ông bác sỹ này khác với bác sỹ đã từng siêu âm cho cô. Ông ta khá đạo mạo, tuổi tầm 50, ông ta có để ria mép. Hai con mắt tròn có vẻ rất nhanh nhạy. Ông ta cũng là người nạo hút thai có tiếng. Ông ta nhìn cô một lúc rồi bảo với anh “ Con đầu lòng không nên phá kẻo...”
    Anh vỗ vai ông bác sỹ “ Tôi sẽ trả ông gấp hai. Ông phải làm cho gọn.”
   Ông bác sỹ gật đầu. Anh ra ngoài. Cánh cửa lạnh ngắt đóng sập lại.
     Sau khi cố định vị trí, ông bác sỹ bảo cô cởi quần rồi tiêm cho cô một liều Lidocain để gây tê. Ông bác sỹ bịt khẩu trang kín mít. Lát sau hai y tá phụ trợ mang chiếc hộp đựng các dụng cụ chuyên dụng ra.
    Ông ta cầm các dụng cụ lên. Chiếc mỏ vịt sắc bén, cái kẹp phẫu tính và những thanh kim loại đáng sợ kia sẽ lần lượt được đưa vào người cô.
    Cái màu trắng toát ở cửa rèm, trên bộ blue trắng như dải lụa đưa tang cho đưa con chưa chào đời. Cô mím chặt môi, ông bác sỹ đã tới rất gần và bắt đầu những bước đầu tiên của quá trình nạo. Mùi thuốc sát trùng thật khó chịu và cả tiếng leng keng của các dụng cụ khi va vào nhau. Chúng cọ vào tai cô. Liều Lidocain chỉ khiến sự đau đớn giảm đi, cô vẫn phải hét lên khi những công cụ kia chạm vào...
    Một y tá thì thầm “ Kêu gì mà kêu” rồi ả ta lấy chiếc khăn bông trong túi nhét vào miệng cô. Cô y tá bên cạnh bảo “ Sao chị làm thế”. Ả ta cười phì “ Nó kêu điếc tai...”. Cô y tá kia nhìn cô xót xa, cô nhìn sang ông bác sỹ thì thấy ông ta vẫn ung dung, có lẽ chuyện này với ông đã quá quen thuộc.
     Ông bác sỹ cẩn thận đưa những thanh kim loại sắc vào. Mồ hôi ông túa ướt sũng. Căn phòng yên tĩnh. Chỉ loáng thoáng tiếng công cụ kim loại mài vào nhau và tiếng lịch trịch của chiếc đồng hồ treo tường.
     Cái thai rã thành từng khúc. Cái bụng phồng phềnh như người ăn no xẹp dần xuống. 
      Anh ngồi ngoài cửa đợi. Khuôn mặt điềm tĩnh không để lộ chút cảm xúc. Cũng có một vài thiếu nữ đi lại nhưng điều đó chẳng khiến anh bận tâm. Anh lấy di động ra, cắm tai nghe vào rồi mở nhét vào tai. Bản nhạc không lời du dương chạy. Khuôn mặt anh bình thản.
     Khi cuộc nạo thai kết thúc miếng khăn bông nhét ở miệng được lấy ra. Mùi thuốc sát trùng hình như đặc hơn, còn có mùi tanh của máu nữa. Ông bác sỹ, hai y tá khuôn mặt của họ bỗng méo mó kì lạ. Và cả gian phòng nữa, chúng chao nghiêng uốn lượn không ra hình thù gì. Cô không nghe được họ nói gì. Hai cô y tá dìu cô vào phòng hồi sức. Đột nhiên ả y tá lúc trước đã nhét miếng giẻ vào miệng cô chỉ tay về một bên, cô nhìn theo.
     Cô hét lên một tiếng, bóng tối đổ sập xuống.
     Cánh cửa được mở ra, cô y tá nanh nọc kia đi ra rồi sau đó tới lượt ông bác sỹ. Cô y tá đi thẳng xuống hành lang.
    -  Anh gì ơi. Chúng tôi đã xong, tôi đã đưa chị nhà vào phòng chờ để hồi sức. Anh có thể vào thăm.
    -  Để làm gì ?
    -  Cô ấy đang rất cần anh.
    -  Tôi sẽ tính thêm tiền, lo hộ tôi đi.
    Ông bác sỹ chợt nổi da gà, mới đầu thu mà trời lạnh như giữa đông. Khuôn mặt của anh, giờ nó đã lạnh như nụ cười và ánh mắt vậy. Khuôn mặt đó là một khối băng khổng lồ. Nó Không loài gì sống được trên đó và lửa thì chỉ có thể khiến hơi lạnh của nó thêm giá buốt.
      Anh nghe thấy tiếng khóc thút thít. Tiếng khóc ngày một to và như để âm thanh đó khỏi khuấy động anh mở volum ở mức cao nhất.
      Khi nghe ông bác sỹ thuật lại cô gào đã lên. Nước mắt tuôn như thác đổ. Ông bác sỹ vẫn im lặng. Cô y tá đa cảm kia dìu cô vào phòng chờ. Ông bác sỹ lẩm bẩm “ Quan điểm sinh con đúng là mỗi thời mỗi khác”. Trong chiếc túi nilon màu vàng kia là những mảnh thịt nhầy nhụa. Mắt thai nhi vẫn chưa mở. Những khúc thịt xếp chồng lên nhau nhưng một vài ngón tay và cơ quan sinh dục vẫn còn nguyên. Ông bác sỹ nạo vét thai này đúng là rất mát tay. Trong bụng cô chắc chẳng còn sót mẩu nào.
      Cốc sữa nóng được bưng ra. Cô y tá còn lại mủi lòng nhưng cô chỉ biết vỗ về cô hãy mạnh mẽ lên. Cô y tá chỉ có thể làm được vậy. Cô lau nước mắt. Lúc ông bác sỹ bước vào, cô bảo “ Hắn ta…Rồi sẽ phải trả giá ”
   -  Cô đừng dây với anh ta. Anh ta là kẻ rất đáng sợ.
  -   Ông cũng biết ư ?
  -   Anh ta lạnh và hiểm !
  -   Tôi muốn nhờ bác sỹ một việc
  -   ...................
       Khi cô mệt nhọc bước ra ngoài thì anh mới gỡ tai nghe xuống. Cô quờ tay về phía anh để xin sự giúp đỡ nhưng anh chỉ im lặng. Cái bụng kia đã hóp hẳn vào, khuôn mặt cô tái xám lại và anh phải vất vả dìu cô đi. Taxi đang đợi dưới cổng. Cô nói với anh vài câu nhưng chỉ nhận được sự im lặng. Những bộ blue trắng lượn lờ qua lại. Màu trắng, thứ màu tinh khôi thuần khiết đó giờ cô rất sợ. Qua lớp kính cô thấy được nền trời đã xám xịt lại, gió Thu thổi réo rắt, chẳng mấy mà mưa. Cơn mưa này rất có thể khiến Hà Nội lụt một lần nữa.
     Cái lạnh cắt da cắt thịt của đợt gió vẫn làm cô thấy ấm hơn khi nhìn vào khuôn mặt anh. Những gì trên mặt anh, nó thật đáng sợ. Có lẽ người như anh chỉ có thể tồn tại ở những xứ sở mà quanh năm chỉ có mùa Đông và chắc rằng anh sẽ là bá chủ của cái nơi buốt giá đó. Anh lướt mắt nhìn cô, mặt cô tái nhợt và chiếc túi xách con con thì vẫn đeo trên vai.
    -  Anh không thấy ray rứt ư ?
    Anh chun mũi, tia mắt lạnh lẽo lướt qua.
   -  Đây chẳng phải lần đầu tiên và em thì cũng không phải người đàn bà duy nhất trong đời anh.
    -  Anh không yêu em sao ?
    -  Nếu em sinh được cho anh một thằng nhãi. Thì rất có thể...
     Cô nấc lên một cái, liều thuốc giảm đau đã hết tác dụng nhưng hơi lạnh từ anh lại khiến vết thương khép miệng. Cô không sợ, không đau, cô chỉ lạnh.
     - Anh...Sẽ phải hối hận...
     Anh khẽ cười. Bước chân anh vẫn rất thong thả. Cánh cửa bệnh viện đang ở rất gần.
     Anh đưa cô đi ăn cháo tim gan ở quán ăn quen thuộc. Đây sẽ là bữa cuối cùng hai người ngồi với nhau. Cô cũng sẽ như những người đàn bà trước, anh chỉ cần ở họ một đứa con trai và nếu như ngay cả cái điều đơn giản đó mà họ cũng không làm được thì anh với họ cũng chẳng còn gì. Những người đàn bà đó, cả trước cả giờ đều được anh đưa đi mua quần áo, trang sức và ăn một bữa tẩm bổ để rồi sau đó anh quăng họ đi như quăng một đống rác. Số tiền mà anh đưa đủ để họ sung sướng một thời gian, nhưng họ phải lánh đi thật xa, khuất khỏi chốn đô thị phồn hoa mà ngột ngạt này. Nếu họ còn dám đặt chân trở lại và để anh bắt gặp họ sẽ hiểu được cái lạnh và hiểm của anh.
    Những món trang sức và đống tiền đó chẳng thể giúp họ khôi phục thiên chức mà Tạo Hoá đã ban cho.
      Bát cháo tim gan được bưng lên. Cháo nóng hôi hổi. Cô áp hai bàn tay vào thành bát để bớt lạnh. Cô khuấy thìa, những cục gan, tim nổi bập bềnh. Miếng tim cắt nhỏ đỏ ngòm ngòm đó, nó giống như một mảnh thịt của thai nhi. Cô oẹ một cái. Miếng tim đỏ lòm trong bát nhìn cô như trêu ngươi. Cô che miệng, cảm giác tanh lợm thúc cơn nôn mau tới hơn.
     Cô nhìn sang, cái ghế nơi anh ngồi trống không. Cô hoảng hốt với gọi nhưng chỉ nhận được vài ba tiếng không biết rồi thì những người đó lại chúi đầu vào ăn. Tiếng húp cháo sùm sụp. Quán ăn ngày một đông. Cô gạt bát cháo sang một bên. Nước mắt cô trào ra, cô ôm chiếc túi xách. Anh đã đi thật rồi, nhẹ nhàng như một cơn gió.
    Cô chạy ra đường. Trời bắt đầu mưa, sấm giật đùng đùng. Phố xá vắng hoe. Cô nhìn về phía Tây, chỗ nhà anh. Có lẽ giờ anh đã về đó và nhâm nhi tách cafe. Anh rất thích uống cafe vào những hôm mưa bão. ngôi nhà đó, cô sẽ không còn được bước vào. Và cũng chẳng lâu sau sẽ có một người phụ nữ khác thế chỗ của cô.
   Anh hoàn toàn phá sản. Con người độc đoán đó rốt cùng thì cũng đã phải ngồi tù. Đến đây thì các cơ quan chức năng mới rõ được. Mọi cuộc giao dịch của anh đều có hàng trắng. Số tiền trong ngân hàng bị niêm phong. Ông công an có khuôn mặt nghiêm nghị ấn vào miệng anh một điếu thuốc.
    -  Còn gì nữa. Anh hãy thành khẩn đi.
    -  Những gì nói được tôi đã nói !
    Vẻ mặt anh vẫn dửng dưng, khuôn mặt lạnh tanh không chút cảm xúc.
    -   Đây là cơ hội của anh. Lên ghế điện hoặc là hưởng khoan hồng, đều do anh cả.
    -  Đây là thử thách của các người, tìm ra bí mật hay để bí mật nằm mãi trong bóng tối, đều do các người.
     Ông ta đập mạnh bàn, ông ta nhìn anh, gằn giọng. Anh gẩy điếu thuốc xuống sàn, anh không hề lảng tránh ánh mắt của ông ta. Vẻ mặt anh điềm tĩnh và cái ánh mắt lạnh toát kia dường như đang khống chế ông ta. Ông công an nhìn thẳng vào anh. Anh khẽ cười trong khi môi ông ta vẫn mím chặt.
    -  Ông Hà ! Có người gửi cho phạm nhân Đức thứ này !
    Ông công an đứng ngoảnh đi, anh nhìn ông mỉm cười như để chế giễu rằng cho dù anh chàng kia không vào thì ông cũng sẽ sớm bỏ cuộc thôi.
    Thứ mà người cảnh sát kia đưa cho Anh là một chiếc hộp gỗ. Có một bức thư ở ngoài. Chiếc hộp nhỏ bằng bàn tay và điều lạ là chiếc hộp lạnh toát, y như vừa được lấy ra từ hầm băng.
    Ông công an đưa cho anh chiếc hộp rồi bỏ ra ngoài. Khi đi ra, ông lầm bầm “ Thứ người thế này thật đáng sợ”. Chiếc cửa sắt được đóng lại.
    Anh rờ lên mặt hộp, khá lạnh. Ai đã gửi đồ cho anh, đám cấp dưới ai lại tốt như vậy. Anh cười nhạt một tiếng rồi bóc thư ra. Một bức thư chép tay, nét chữ đẹp và mềm mại.
                                                   Gửi Anh Đức !
      Khi nghe tin anh bị bắt em rất hoảng loạn. Có lẽ anh không nhớ ra em. Nhưng có lẽ em sẽ là người cuối cùng được ở cạnh anh trước khi Pháp luật lên tiếng.
     “Là cô. Không sai được”
     Anh biết không, tôi vốn chỉ yêu túi tiền của anh. Nhưng rồi thì sự ân cần, chu đáo của anh đã khiến tôi động lòng. Tôi nghĩ tôi đã yêu anh, tình yêu của tôi thậm chí còn lớn hơn số tiền anh gửi trong ngân hàng.
     “Rõ là ngớ ngẩn. Loại đàn bà đáng ghét”
    Tôi nghĩ chúng ta đã có một gia đình êm ấm. Nhưng tại sao anh lại hại chết con mình ? Dù là con gái nhưng anh không nên nhẫn tâm như vậy. Anh còn độc ác hơn bất cứ tên độc tài phát xít nào trong lịch sử.
     “Có lẽ cô ta điên. Thời gian thừa thãi thế này đáng lẽ đã có thể làm được rất nhiều chuyện”.
    Anh đã vứt bỏ tôi. Tôi rất hận anh. Anh đã huỷ hoại cái thiên chức làm mẹ của tôi. Loại người như anh không nên sinh ra trong một xã hội công bằng.
    “Mẹ kiếp, tiền đã đưa vậy mà vẫn múa mép. Loại đàn bà tham lam thế này thì riêng việc nghĩ tới thôi cũng là một cực hình”
    Khi ra khỏi phòng nạo tôi đã mang theo một thứ. Thứ đó tôi đã bảo quản rất kĩ và giờ thì nó đang nằm trong chiếc hộp. Nó là của con anh và nó dành cho anh.
    “Cô ả nói linh tinh gì vậy”. Nhưng linh tính anh mách bảo có chuyện gì đó không bình thường. Anh mở nắp hộp ra và nhìn vào. Hai con mắt anh bỗng lồi ra. Cái mồm ngoác ra đớp không khí. Mặt anh tái đi thấy rõ. Hai tay anh run lẩy bẩy. Anh gào lên một tiếng rồi nôn ra một vũng máu.
     Bên trong chiếc hộp có một vài mẩu đá. Những mẩu đá đã tan khi vũng máu của anh dính vào. Ở giữa chiếc hộp có một vật nho nhỏ. Nó vốn dĩ đã đóng thành băng nhưng những giọt máu nóng hổi đã biến nó trở lại nguyên dạng. Cái vật nhỏ xíu đó giống như một mẩu thịt. Nó lũn nhũn như bộ phận sinh dục của một đứa bé trai.


Tru Sa
Phần nhận xét hiển thị trên trang

láo nào!

Bao giờ Việt Nam thành con rồng châu Á?
Hieu Phung - Lào, Campuchia, Việt Nam mỗi nước được Ngọc Hoàng cho phép đặt 1 câu hỏi về tương lai nước mình, Lào hỏi đầu tiên:
-Bao giờ nước Lào con mới phát triển được thành con rồng châu Á?
Ngọc Hoàng liền trả lời:
-Nước mày thì phải 50 năm nữa mới được con à.

Cmpuchia nhảy vào:
-Thế còn nước con thì sao ?
-"100 năm nữa con à" - Ngọc Hoàng đáp.

Việt nam thấy thế cũng nhảy vô hỏi câu tương tự.


Ngọc Hoàng suy nghĩ trầm ngâm 1 hồi lâu rồi nói:
-Nước mày thì khoảng chừng 10 cây số nữa nha con.

Việt nam thắc mắc:
-10 cây số là sao con không hiểu.

Ngọc Hoàng giải thích:

-Thì cứ mỗi 5 năm chúng mày họp đại hội Đảng 1 lần. Cứ mỗi lần ấy thì lại có 1 lão già khú đế bước lên bục phát biểu: "Trong 5 năm qua chúng ta đã tiến thêm được 1 bước mới". Thế 5 năm chúng mày tiến được 1 bước thì 10 cây số là bao nhiêu bước, chúng mày cứ nhân lên con à.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ấn Độ đặt trạm vệ tinh tại TP.HCM, theo dõi tình hình Biển Đông


Ấn Độ sẽ đóng vai trò quan trọng trong chương trình theo dõi hoạt động bành trướng, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông khi New Delhi sớm cho vận hành trạm kiểm soát vệ tinh đặt tại TP. Hồ Chí Minh (Việt Nam).
Theo tờ The Economic Times, Ấn Độ đã đặt trạm theo dõi, tiếp nhận và xử lý dữ liệu vệ tinh tại TP HCM. Tổ chức Nghiên cứu Vũ trụ Ấn Độ (ISRO) sẽ sớm cho kích hoạt trạm vệ tinh này và kết nối với trạm nghiên cứu ở Biakin, Indonesia.   
Trạm vệ tinh của Ấn Độ đặt tại TP HCM sẽ giúp theo dõi hoạt động bành trướng chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. 
Trong đó, trạm vệ tinh ở TP HCM sẽ giúp theo dõi và tiếp nhận dữ liệu của các vệ tinh do ISRO phóng từ lãnh thổ Ấn Độ. Ngoài Việt Nam và Indonesia, Ấn Độ hiện đang vận hành một trạm tiếp nhận tín hiệu vệ tinh khác ở Brunei. Và New Delhi đã chi 23 triệu USD cho chương trình xây dựng trạm vệ tinh ở Việt Nam. 
Sự xuất hiện của trạm vệ tinh tại Việt Nam còn giúp Ấn Độ dần giành được vị thế quan trọng trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông, điểm nóng căng thẳng ngoại giao giữa Trung Quốc với một số quốc gia láng giềng trong những năm gần đây liên quan tới chủ quyền, lãnh hải. 
Ngoài Ấn Độ, các  quốc gia Đông Nam Á cùng Mỹ và Nhật Bản đã nhiều lần lên tiếng quan ngại về hành động ngang nhiên xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, vùng biển giàu tài nguyên thiên nhiên và là tuyến hàng hải quốc tế mang lại giá trị thương mại 5 ngàn tỷ USD/năm. 
Kể từ năm 2014, Ấn Độ cũng thường xuyên nhắc tới quyền tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông trong bối cảnh Trung Quốc ngang nhiên tiến hành cải tạo, bồi đắp, xây đảo nhân tạo và tuyên bố chủ quyền với nhiều khu vực ở Biển Đông. 
Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là nếu Ấn Độ có thể kiểm soát các tuyến đường biển nằm cách xa bờ biển nước này nhờ hệ thống vệ tinh, vậy tại sao New Delhi lại không thể theo dõi hoạt động thâm nhập trái phép tại vùng biên giới giữa Ấn Độ - Pakistan bằng hình ảnh vệ tinh tối tân? 
Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin từ The Economic Times, nhật báo tiếng Anh được xuất bản tại Ấn Độ, lần đầu vào năm 1961. Với lượng độc giả trên 800.000 người, đây là tờ báo kinh doanh bằng tiếng Anh được đọc nhiều thứ hai trên thế giới và chỉ xếp sau tờ The Wall Street Journal của Mỹ.
MINH THU (lược dịch) 
Nguồn: http://infonet.vn/an-do-dat-tram-ve-tinh-tai-tphcm-theo-doi-tinh-hinh-bien-dong-post187873.info

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoảng loạn toàn Trung Quốc: Chứng khoán ngừng giao dịch!


Phiên giao dịch đầu tiên của năm mới 2016, chứng khoán Trung Quốc đã "đóng băng" sau khi chỉ số CSI 300 sụt 7%.
Thị trường chứng khoán Trung Quốc có sự khởi đầu u ám. Theo tin từ Bloomberg, tất cả các giao dịch tại thị trường chứng khoán Trung Quốc đại lục đã ngừng giao dịch vào lúc 1:34, chiều nay theo giờ địa phương.
Trước đó, thị trường đã tạm dừng giao dịch sau khi CSI 300 chỉ còn 5%. Sự sụt giảm mạnh của chỉ số này đã khiến cho thị trường một phiên chao đảo, áp lực bán thảo cổ phiếu tiếp tục ồ ạt, khiến cho chỉ số CSI 300 sụt 7%. Đây là những thông tin tồi tệ nhất cho thị trường kể từ 4 tháng qua.
Theo số liệu của Bloomberg, giá trị giao dịch đạt khoảng 595 tỉ nhân dân tệ, tương đương 90 tỉ đô la Mỹ, thấp xa so với giá trị giao dịch bình quân hàng ngày của năm 2015 là 1 ngàn tỉ nhân dân tệ trên quy mô thị trường 7,1 ngàn tỉ nhân dân tệ.
Theo luật mới được ban hành, nếu chỉ số CSI 300 mất 5%, thị trường sẽ ngừng giao dịch trong 15 phút. Và nếu mức giảm lên 7%, thị trường sẽ đóng cửa đến hết ngày. 
Mất 7%, chứng khoán Trung Quốc,
Số liệu của Bloomberg
CSI 300 gồm cổ phiếu các công ty có vốn hóa lớn niêm yết trên cả 2 sàn Thượng Hải và Thâm Quyến. Đến lúc đóng cửa, chỉ số này đã mất 7,02%. Trong khi đó, Shanghai Composite Index mất 6,85%.
Trong phiên sáng nay, Shanghai Composite Index cũng đã mất 3,9%. Đây là mức giảm ngày đầu năm mới lớn nhất từ khi chỉ số này được lập ra năm 1990.
Hang Seng Index trên sàn Hong Kong (Trung Quốc) cũng mất 2,1%. Còn giá NDT trên thị trường thế giới xuống thấp nhất từ tháng 5/2011.
Tình hình thị trường cũng không lấy làm sáng sủa khi thông tin của Tổng cục thống kê nước ngày cho hay, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) Trung Quốc giảm tháng thứ 5 liên tiếp khi chỉ đạt 49,7 trong tháng 12. Nhà đầu tư dự báo Chính phủ sẽ dỡ bỏ lệnh cấm các cổ đông lớn bán ra cổ phiếu. 
Mất 7%, chứng khoán Trung Quốc,
Nhà đầu tư lo lắng
Đà bán tháo trên các TTCK Thượng Hải và Thâm Quyến cũng tác động sang TTCK Hồng Kông dù Hồng Kông không có cơ chế tự động ngừng giao dịch. Vào lúc 2g12 phút chiều 4-1 giờ địa phương, chỉ số HSCE phản ánh giá cổ phiếu các công ty Trung Quốc niêm yết tại Hồng Kông đã giảm 4,1% và đang tiếp tục giảm.
Trong đợt chứng khoán lao dốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc đã ra lệnh cấm các cổ đông có tỷ lệ sở hữu trên 5% và các lãnh đạo công ty bán ra trong 6 tháng.
Bắc Kinh đang ra sức ngăn không cho biến động của thị trường tài chính gây thêm áp lực suy giảm tăng trưởng.
Chứng khoán châu Á cũng hướng đến phiên giảm điểm mạnh nhất trong 3 tháng. Các nhà đầu tư đang tìm kiếm một kênh an toàn sau dấu hiệu sụt giảm của nền kinh tế Trung Quốc và căng thẳng leo thang ở Trung Đông.

Nam Hải
Nguồn:http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/282551/hoang-loan-toan-trung-quoc-chung-khoan-ngung-giao-dich.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn chương vô dụng


"Tôi yêu thơ bởi vì thơ vô dụng"
Nhưng sự vô dụng của thơ là cái hữu ích cho đời, cho những ai còn giữ một tâm hồn nguyên sơ.
Và phải chăng, tự thân nó, văn chương dưới mắt người đời chỉ là thứ tiểu nhược, mệnh mỏng. "Văn chương vô dụng" (Bashô).

Thực tế bản thân một bài thơ, một thiên truyện ngắn, hay một cuốn tiểu thuyết không đem lại cho người đọc một thứ lợi lộc vật chất trước mắt nào. Thậm chí nó còn giết chết thời gian vô ích.
Văn chương là tiếng nói yếu ớt. Và Nguyễn Du đã làm chúng ta kinh khiếp như những gì đã kinh khiếp trước ông:

"Văn chương tàn tích nhược như ti"

Và người làm chúng ta phải giựt mình là Trung niên thi sĩ Bùi Giáng khi phóng chiếu lại câu thơ thượng thừa của Nguyễn Du:

"Văn chương tiếng thở như lời tơ than"
Nói như Nguyễn Huy Thiệp "trong chữ có ma"!

Văn chương là tiếng nói yếu ớt. Văn chương mỏng manh như "tiếng thở", (nhược như ti - yếu mềm như tơ). Tiếng thở ngắn ngủi, nhẹ nhàng, nhưng nồng ấm và gần gũi làm sao. Tuy vô thường, nhưng có thở chúng ta mới sống được, làm sao có ai sống mà không thở. Sống là thở, như cuộc đời phải có văn chương. Thơ vô dụng, văn chương vô dụng. Nhưng đối với ai yêu nó thì đó là nguồn sống, là hơi thở uyên nguyên.

Có hay không có mối bận tâm của con người hôm nay đối với văn chương?
Y nhảy hoài nhưng chẳng bao giờ vượt qua được cái bóng của y!
Khi là tiếng vọng của Bashô ở xứ Phù Tang. Khi là tiếng vọng của Tuệ Trung đời Trần:

"Nhân gian tận kiến thiên sơn hiểu
Thùy thính cô viên đề xứ thâm"
(Nhân gian nhìn thấy ngàn non sáng
Ai lắng nghe ra tiếng vượn trầm)

Và cũng chỉ có Bùi Giáng mới phóng chiếu tài hoa như vậy thôi!
Văn chương là cái vớ vẩn, vô dụng giữa hội chợ phù hoa này. Vâng! Có rất nhiều người muốn thấy "ngàn non sáng" giữa cõi nhân gian. Nhưng ít có ai để tâm lắng nghe ra tiếng vượn trầm nơi núi thẳm thâm sâu.

Văn chương vô dụng, văn chương tàn tích nhược như ti. Hay cũng có thể nói, văn chương là tiếng vượn trầm giữa ngàn non sáng. Nào ai có hay?

Văn chương là thế giới của cái đẹp. Nó đầy ảo diệu. Mà cái đẹp thì vĩnh cữu. Suy cho cùng cuộc sống con người là vì cái đẹp. Đẹp là nguyên lý của sự sống." Cái đẹp cứu rỗi nhân loại" (Dostoievski).

Cái đẹp phát tiết từ vạn vật, văn chương phát tiết từ vạn vật.
Và văn chương mọc lên từ trái tim người. Đó là cõi người ta, đó là cái thế - giới - người nhất. Rong chơi trong thế giới đó, con người tìm lại được chính mình. "Văn học là nhân học", hẳn đó không chỉ là lời Gorki.

Quẳng gánh đi rồi hãy đến với văn chương. Nó sẽ chắp đôi cánh phượng hoàng vút cao chín tầng trời cho những ai đến với nó bằng tấm lòng và trái tim thuần khiết. "Đọc một tác phẩm hay như cưới thêm một người vợ", có người nói với tôi như vậy.

Con đường văn chương là con đường dấn thân (chữ của Sartre) - chứ không phải tiến thân. Nếu lợi dụng văn chương, thì văn chương đích thực nào đến và nở hoa trên trái tim người.
Đó cũng là sự dấn thân và đó là trái tim thuần khiết. Nơi để văn chương mọc lên.
Và đến với văn chương như đến với mối tình đầu, với nàng thơ còn trinh nguyên diễm tuyệt.

Một tác phẩm văn chương hay như cốc rượu mạnh đầy mê hoặc. Đọc và khám phá tác phẩm như ta thưởng thức cái cay nồng đầy dư vị của nó chứ không như dăm ba cốc nước lã kia, ai uống cũng được. Mà uống rượu thì phải tập, cũng như phải tập thưởng ngọan những trang tuyệt tác.

Và đối diện với tác phẩm như ta đối diện với hệ thống các biểu tượng mà ta cần phải khai mở và giải mã. Cũng như cuộc sống chúng ta tràn đầy các biểu tượng (Symbolique). Nhìn vào đó ta biết nó muốn nói điều gì, tượng trưng ý nghĩa gì.

Biểu tượng trong tác phẩm văn chương cũng vậy. Có thể đó là Lâu đài; Vụ án; Sấm; Linh Sơn hay chỉ có thể là dụ ngôn của Dos...

Và ta phải phơi bày, đem ra ánh sáng những gì tác giải còn để trong bóng tối. Điều này không có nghĩa là chúng ta vượt qua tác giả, mà chỉ đem ánh sáng những gì tác giả, đặc biệt là tác phẩm còn để trong bóng tối; người ta hẳn thường nói tư tưởng tác phẩm lớn hơn tư tưởng tác giải.
Đó là trường hợp của thiên tài và tác phẩm của họ.

Họ là các bi kịch gia vĩ đại Hy Lạp, là Goethe, Kafka, Dostoievski, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du...Và tác phẩm của họ là những giọt mật, giọt rượu cay nồng đầy dư vị. Thưởng ngọan văn chương nghĩa là sống cùng những trang tuyệt tác.

Văn chương thì trước hết phải là văn chương. Nghĩa là phải hay, độc đáo, có tư tưởng. Tư tưởng như linh hồn thổi vào tác phẩm, tạo sức sống cho tác phẩm.
Con người hôm nay quá bận rộn với hội chợ phù hoa của mình. Có kẻ thì thấy được tầm quan trọng của văn chương nhưng không biết cái vớ vẩn của văn chương, cái vô dụng của văn chương.
Và, có mấy ai còn giữ được một tâm hồn và trái tim thuần khiết để văn chương mọc lên?

"Ấy chăng là cõi gọi nguồn
Tro tàn Hy Lạp mang buồn hôm nay".
(B.G)

Và văn chương: "ấy chăng là cõi gọi nguồn"!
Lê Văn Như Ý

Phần nhận xét hiển thị trên trang