Vì sao Trung Quốc phải xây dựng những ‘thành phố ma’ nhiều như vậy, và họ hiện đang gặp khó khăn như thế nào? Dưới đây là cuộc trò chuyện cùng Tiến sĩ Horace “Woody” Brock về lĩnh vực đầu tư hạ tầng.
Tiến sĩ Horace “Woody” Brock, Chủ tịch Công ty Strategic Economic Decisions (một công ty tư vấn và dự báo kinh tế vĩ mô), rất say mê với lĩnh vực đầu tư hạ tầng. Các nhà kinh tế học dự báo Mỹ sẽ đầu tư 10 nghìn tỷ USD vào cơ sở hạ tầng trong năm tới.
Mặc dù vậy, theo tiến sĩ Brock, con số đó chưa thấm vào đâu so với Trung Quốc.
Đại Kỷ Nguyên: Thưa tiến sĩ, Trung Quốc là một trong những quốc gia đã đầu tư nhiều nhất vào cơ sở hạ tầng trong thập kỷ qua. Liệu họ có thu được lợi nhuận cao từ hoạt động này không?
Tiến sĩ Brock: Câu trả lời rất rõ ràng. Khi bạn xây đường ở nơi vắng người, hay tại các thành phố ma, bạn sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận âm cực lớn. Lúc đầu, Trung Quốc không làm thế. Trong giai đoạn từ 1981 đến 2005, theo tôi, Trung Quốc đã đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng, nhưng họ đã làm đúng ở thời điểm đó. Khi họ vay tiền, họ không xây đường xá vô tội vạ, họ xây các thành phố mới cùng với hệ thống đường và tàu hỏa đến đó.
Họ đã làm điều này trong 25 năm. Theo lý thuyết, điều này làm tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thực tế diễn ra đúng như vậy. Lý thuyết tốt không bao giờ sai.
“Chính quyền sợ người dân.”
Đại Kỷ Nguyên: Thưa tiến sĩ, nhưng sau đó những gì đã xảy ra?
Tiến sĩ Brock: Trước đây, bạn chưa từng nghe một từ nào về “nợ xấu” ở Trung Quốc. Nhưng bắt đầu từ 2010, bạn đã nghe thấy từ này. Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, chiến lược xuất khẩu của Trung Quốc đã thất bại.
Chính quyền đã hi vọng tăng tiêu dùng và giảm đầu tư từ 45% xuống còn 32% GDP. Nhưng điều này không thực hiện được, bởi vậy họ quay trở lại đầu tư vô tội vạ nhằm duy trì việc làm cho người lao động khi câu chuyện xuất khẩu thất bại.
Họ phải làm vậy, bởi Trung Quốc khác hẳn với Nga. Ở Nga, khi có khủng hoảng kinh tế, công nhân sẽ đi nhậu say. Nhưng ở Trung Quốc, người dân sẽ bạo động, và họ ghét Đảng Cộng sản Trung Quốc, nơi toàn những người hành xử như côn đồ và lừa đảo.
Chính quyền này sợ người dân. Đó là lý do tại sao…. ông Tập Cận Bình đã nói với các nhà băng rằng “Tôi không quan tâm việc các ông mất tiền, không được ngừng tài trợ cho các dự án mới. Các nhà máy không được dừng sản xuất. Chúng ta cần đảm bảo công việc cho người lao động”
Đại Kỷ Nguyên: Thưa ông, ông nghĩ sao về suy thoái kinh tế hiện nay ở nước này?
Tiến sĩ Brock: Trung Quốc hiện đang gặp rắc rối và họ xứng đáng bị như thế bởi họ đã xây tới 18 thành phố ma, bạn có thể đã biết điều này rồi. Trung Quốc hiện có khoản nợ khổng lồ, vì hiện giờ họ không đầu tư vào những hạng mục sinh lời. Họ không làm vậy.
Họ chỉ giữ cho người lao động có việc làm. Thế giới ấn tượng mạnh trước việc Trung Quốc đã vượt qua đại suy thoái với GDP tăng trưởng cao. Như Joyn Maynard Keynes đã chỉ ra trong lý thuyết của ông, chỉ đào đường rồi lấp lại cũng làm tăng GDP.
Nhưng một số việc đã xảy ra vào ngày 3/1/2013, khi kinh tế thế giới đã phục hồi. Trung Quốc tìm nguồn thu từ các khoản đã đầu tư, nhưng đoán xem họ tìm thấy gì? Chẳng có một xu nào”. Điều đó có nghĩa là không còn tăng trưởng và đó là lý do tại sao một số ngân hàng địa phương đã phá sản.
Ảnh: Ông La Vũ, con Đại tướng La Thụy Khanh (tâm phúc của ông Mao Trạch Đông) trả lời phỏng vấn của báo Đại Kỷ Nguyên và Đài truyền hình Tân Đường Nhân (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên).
Ông La Vũ, con của Đại tướng La Thụy Khanh (tâm phúc của ông Mao Trạch Đông) từng làm quan tại Bộ Tổng Tham mưu của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và lên đến hàm Đại tá. Vì không chấp nhận tình trạng hủ bại trong quân đội ĐCSTQ, sau sự kiện Thiên An Môn ông đã bỏ ra nước ngoài sống và bị khai trừ Đảng tịch và Quân tịch.
Gần đây ông đã lên tiếng kêu gọi ông Tập Cận Bình từ bỏ chế độ chuyên chế một Đảng để đi về hướng dân chủ. Vừa qua, báo Đại Kỷ Nguyên và Đài Truyền hình Tân Đường Nhân đã cùng phỏng vấn ông La Vũ. Bài thứ tư trong loạt bài phỏng vấn này ông La Vũ cho biết đã từ bỏ chức vụ trong Quân đội, cam chịu làm người bình dân vì không muốn tiếp tục “khiêu vũ cùng bầy sói”. Là “thái tử Đảng” đời thứ hai, ông La Vũ khuyên các“thái tử Đảng” khác hãy từ bỏ ĐCSTQ theo đúng lương tâm của mình.
Phóng viên:Là “thái tử Đảng” đời thứ hai, con một Đại tướng Cộng sản Trung Quốc và bỏ Trung Quốc Đại Lục ra đi, khi đi ông đã là Trưởng ban Ban Trang thiết bị Hàng không (hàm Đại tá). Nếu không ra đi có lẽ hiện nay ít nhất ông cũng phải lên đến Thứ trưởng, Tư lệnh Quân khu. Giờ ông có ân hận không?
La Vũ: Tôi không có gì phải ân hận! Chắc chắn thế! Ít nhất tôi đã không bị nó làm chết ngạt. Tôi là người không thích làm việc gì mà mình cứ phải miễn cưỡng. Việc bạn hỏi như làm đến vị trí này hay vị trí kia, đối với tôi thực ra những chức vụ đó không quan trọng.
Phóng viên: Việc ông từ bỏ ĐCSTQ ảnh hưởng như thế nào với cá nhân cũng như gia đình ông?
La Vũ: Dĩ nhiên là đắc tội với ông Đặng Tiểu Bình và ông Dương Thượng Côn, vì thế họ cắt toàn bộ phúc lợi hưu trí của tôi. Hiện tôi phải sống dựa vào con cái, bạn bè thân thiết. Nhưng dù sao tôi cũng không dựa vào ĐCSTQ.
Quá trình tư tưởng chia tay với ĐCSTQ
Phóng Viên: Ông có thể tiết lộ cho mọi người về quá trình chuyển biến tư tưởng của ông được không?
La Vũ: Dĩ nhiên là bắt đầu từ sự kiện ông Đặng Tiểu Bình và Dương Thượng Côn điều xe tăng đến Quảng trường Thiên An Môn, sự kiện này kết thúc toàn bộ hy vọng của tôi vào ĐCSTQ.
Trong quá khứ, tôi cũng từng có bất đồng với ông Đặng Tiểu Bình và ông Dương Thượng Côn, nhưng ở hai vấn đề, một là tôi phản đối cho quân đội tham gia vào kinh tế, hai là vì biết bọn chúng (con rể của Đặng và Dương) lấy tiền chiết khấu nên đã có ý kiến với các ông ấy. Những vấn đề này không đáng kể gì so với chuyện tàn sát sinh viên.
Xưa nay đạo lý là thanh quan xử tham quan, nhưng đến khi đó lại biến thành tham quan xử thanh quan. Chúng ta đều tham, tại sao anh lại không tham, anh muốn gì đây?
Phóng viên: Qua chuyện này khiến ông nhận thức được mức độ tàn ác kinh khủng của họ: đến mức sẵn sàng cầm súng bắn vào nhân dân, vào sinh viên?
La Vũ: Đúng thế, đây là việc không thể chấp nhận được. Cũng có nhiều người khác phản đối việc dùng vũ lực. Ví dụ có năm vị tướng viết cùng một bức thư, thế nhưng sau khi dùng vũ lực xong thì họ lại im lặng. Ngoài ra còn có hai vị tướng khác cũng phản đối là ông Từ Hướng Tiền (Xu Xiangqian) và ông Nhiếp Vinh Trăn (Nie Rongzhen).
Phóng Viên: Từ đó ông ý thức rằng tuyệt đối không thể làm đồng chí với họ?
La Vũ: Đúng thế! Tôi cảm thấy mình không thể nào tiếp tục mặc bộ quân phục này nữa.
Không thể tin vào ĐCSTQ
Phóng viên: Vừa rồi ông có nói ĐCSTQ toàn nói dối trá, trong sách ông cũng có viết rằng người dân Trung Quốc phải sống trong lừa dối suốt hơn năm mươi năm qua, ông có thể bàn sâu hơn vấn đề này được không?
La Vũ: Sự dối trá trong xã hội Trung Quốc sau năm 1949 càng ngày càng phổ biến, mức độ dối trá càng ngày càng nghiêm trọng, từ Chỉnh phong Phản hữu đến Đại nhảy vọt, rồi đến Cách mạng Văn hóa…
Sau khi ông Đặng Tiểu Bình nắm quyền cũng là lúc sự giả dối ngày càng lan rộng. Hiện nay ở Trung Quốc người ta mỗi khi đi mua rau hay mua gạo, điều đầu tiên là xem hàng có thật hay không. Bạn nghĩ xem tại sao lại đến nông nỗi như thế?
Theo Chủ nghĩa tư bản quan liêu là sai lầm
Phóng viên: Theo như cách ông vừa nói thì chúng tôi nghĩ ĐCSTQ đang đi vào đường cùng. Con đường Chủ nghĩa tư bản quan liêu mà ông Đặng Tiểu Bình thực hiện cũng mang tới sự phát triển kinh tế nhất định, tại sao ông vẫn giữ quan điểm của mình?
La Vũ: Nếu Trung Quốc đi theo con đường Chủ nghĩa tư bản quan liêu của ông Đặng Tiểu Bình thì sẽ rơi vào bế tắc. Vì con đường Chủ nghĩa tư bản quan liêu không phải để mưu lợi cho dân, nó chỉ làm lợi cho Đảng chuyên chính. Bạn có thấy nước nào thực hiện Chủ nghĩa tư bản quan liêu mà thành công được không? Cho đến nay chỉ thấy con đường duy nhất thành công là Chủ nghĩa tư bản tự do.
Chủ nghĩa tư bản tự do được xây dựng trên nền tảng dân chủ hóa, vì cái hồn của Chủ nghĩa tư bản là tự do. Ông Đặng Tiểu Bình và ĐCSTQ lại giết chết cái hồn này của Chủ nghĩa tư bản, dùng tiền của Chủ nghĩa tư bản nuôi một Đảng chuyên chính. Mục đích là mở cửa để đón Chủ nghĩa tư bản, thế nhưng khi thực hiện lại áp dụng chính sách một Đảng chuyên chính.
Tôi xin lấy ví dụ: Khi vừa cải cách mở cửa ở tỉnh Quảng Đông thì các nhà đầu tư tràn vào xây dựng nhà máy, theo đó số sự cố tai nạn lao động trong một năm đã ngốn đến 50 ngàn ngón tay. Có nhà văn đã viết bài “Bốn mươi ngàn ngón tay”. Ông ta đã so sánh số sự cố tai nạn lao động trong hệ thống công xưởng của Chủ nghĩa tư bản dưới thể chế dân chủ và của Chủ nghĩa tư bản dưới thể chế chuyên chính một Đảng. Ông nhận xét, dưới quốc gia dân chủ, đừng nói 10 ngàn đầu ngón tay, chỉ cần mất một đầu ngón tay thôi thì nhà máy của bạn cũng gặp rắc rối to.
Vì thế, có thể nhiều người cảm thấy Chủ nghĩa tư bản tự do khiến con người có gì đó vô cảm, nhưng dù sao nó cũng bị pháp luật theo dõi chặt chẽ nên hạn chế được rất nhiều hành vi trái lương tâm. Tương tự, nếu Trung Quốc có dân chủ, có pháp luật thì quan tham sẽ hạn chế rất nhiều.
Đừng nghĩ dân chủ làm nước bị loạn
Phóng viên: Trong bài viết ông từng đề cập, những nguy cơ phổ biến trên khắp nơi ở Trung Quốc Đại Lục đều bắt nguồn từ thể chế một Đảng chuyên chính. Trung Quốc phải làm thế nào để kết thúc một Đảng chuyên chính?
La Vũ: Dĩ diên phải thực hiện dân chủ hóa. Không phải dân chủ là giải quyết được mọi vấn đề, nhưng nếu không có dân chủ thì không vấn đề gì giải quyết được.
Phóng viên: Nhưng có một bộ phận người cho rằng, nếu đa nguyên đa đảng thì Trung Quốc sẽ loạn. Ông nghĩ thế nào?
La Vũ: Đây là nói nhảm nhí. Hãy xem bao nhiêu quốc gia theo chế độ dân chủ họ có loạn không? Vấn đề quan trọng bây giờ là phải thực hiện từng bước xóa bỏ tình trạng một đảng chuyên chính sao cho ổn thỏa. Hãy nhìn vào ông Tưởng Kinh Quốc (1910 – 1988) đã bước đi thành công như thế nào? Vì thế hiện nay Trung Quốc không cần phát minh sáng tạo gì, chỉ cần làm theo con đường thành công của các nước tiên tiến trên thế giới là những vấn đề của Trung Quốc có thể giải quyết ổn được.
Phóng viên: Ông nghĩ sao khi ĐCSTQ tuyên truyền rằng, hiện dân trí của người dân Trung Quốc chưa đủ, vì thế cần phải đạt được một trình độ văn minh nhất định mới có thể thực hiện dân chủ đa đảng?
La Vũ: Đây cũng là nói bậy. Vậy Hồng Kông thì sao? Tại sao không cho họ tổng tuyển cử? Trong ĐCSTQ có nhóm phần tử hàng ngày chỉ nghĩ những lời biện bạch hoang đường.
Các thái tử Đảng đời thứ hai hãy thoái Đảng
Phóng viên: Thưa La tiên sinh, ông đã từ bỏ ĐCSTQ, ông Giang Trạch Dân cũng đã khai trừ Đảng tịch của ông. Với vai trò là thái tử Đảng đời thứ hai nhưng còn giữ vững đầu óc tỉnh táo, ông có lời chia sẻ gì với những người bạn cùng thế hệ với mình không?
La Vũ: Những người cùng thế hệ tôi hiện nay cũng không phải ai cũng giống nhau. Dù quan niệm của một bộ phận người về Chủ nghĩa tư bản quan liêu của ông Đặng Tiểu Bình có gần gũi với tôi, nhưng trình độ không hoàn toàn giống nhau.
Mức độ sa ngã của ĐCSTQ hiện thế nào? Đó là nó không còn bất cứ giá trị niềm tin nào theo đuổi ngoài lợi ích vật chất. Bạn nói xem những kẻ như Chu Vĩnh Khang hay Từ Tài Hậu tin vào gì?
ĐCSTQ hiện nay có thể nói là đang “treo đầu dê bán thịt chó”. Những lời của nó nói đến chính nó còn không tin thì làm gì có người tin. Bạn thử cầm tờ Nhân dân Nhật báo rồi tùy ý hỏi một người qua đường xem họ có tin không (người có thể xem và hiểu được)? Tôi nghĩ bạn khó mà tìm được, dù chỉ một người.
Có thể nói, trên thực tế thì Đảng đã tan rã. Chuyện một ai đó có phải Đảng viên hay không hiện không ai thèm hỏi, không ai quan tâm nữa.
Tôi có nghe một người bạn học của tôi kể câu chuyện thế này: “Một bữa nọ khi mọi người đang ngồi ăn cùng nhau thì bất ngờ có một người lên tiếng: Ai là Đảng viên? Sau câu hỏi, lác đác có vài tiếng nói phản hồi, đại ý là: Thời đó chúng tôi còn trẻ nên không hiểu gì, không thể không vào Đảng.”
Tôi biết rằng, hiện rất nhiều người là con cháu đời thứ hai của các lão thành cách mạng đều đang rất chán nản với Đảng, trạng thái của họ mỗi người mỗi vẻ, nhưng muốn họ công khai đứng lên tuyên bố bỏ Đảng là rất khó. Tuy nhiên nếu họ không muốn trông thấy ĐCSTQ làm những việc xấu, ví như chuyện mổ cướp nội tạng, thì tốt nhất là họ nên thoái Đảng… Tóm lại là làm sao để mình không trở thành người tiếp tay cho ĐCSTQ.
TT - Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, đã tiếp nối mạch ý kiến góp ý Đại hội Đảng XII như vậy.
Trung tướng Lưu Phước Lượng - Ảnh: Mai Hoa
“Xoay quanh vấn đề cán bộ và tiếp tục đổi mới để chủ động hội nhập, gần đây đã có nhiều tham luận, đối thoại đăng trên mặt báo gây nhiều ấn tượng và cảm xúc mạnh mẽ, thúc đẩy tôi tiếp tục những suy nghiệm từ lâu của mình về những giáo điều, khuôn sáo mà lịch sử và thực tiễn đã vượt qua...” - trung tướng Lưu Phước Lượng chia sẻ.
Cần thay đổi quan điểm về sở hữu
* Ông cho biết điều lo lắng, bức xúc nhất của mình là đường lối đổi mới của Đảng chưa được thực hiện triệt để, khiến yêu cầu hội nhập không được đáp ứng, phát triển không được bền vững. Ông có thể nói rõ hơn nội dung “chưa triệt để” này?
- Chúng ta theo đuổi đường lối đổi mới đã gần 30 năm và đã tiến được những bước dài, nhưng vẫn còn xa với mong muốn của nhiều người quan tâm đến đất nước. Tôi cho rằng đổi mới nhưng không triệt để là nguyên nhân sâu xa của mọi vấn đề.
Kinh tế thị trường là thành tựu của nhân loại, cần phải quyết liệt áp dụng các quy luật của nó đầy đủ và đúng mới phát triển được. Nói “định hướng xã hội chủ nghĩa” ở đây có nghĩa: bên cạnh các quy luật kinh tế thị trường cần chú trọng thực hiện những chính sách xã hội để khắc phục mặt trái như khoảng cách giàu nghèo, bảo vệ công nhân, người lao động trước giới chủ, thực hiện công bằng xã hội...
Còn tham nhũng: vì sao không chống được? Căn nguyên của tham nhũng bắt nguồn từ quyền lực không được giám sát, từ trách nhiệm tập thể, và theo tôi, quan trọng nhất là từ cơ chế sở hữu công cộng. Không ngẫu nhiên mà hầu hết đối tượng tham nhũng, tài sản tham nhũng đều rơi vào khối này. Quan điểm “đất đai là sở hữu toàn dân” dẫn đến nhiều người tìm cách lợi dụng quyền lực để biến thành của riêng.
Các công ty, tập đoàn nhà nước quản lý, sử dụng vốn không hiệu quả, gây thất thoát cũng bắt nguồn từ nguyên nhân này, nếu tiền của chính họ thì không thể mất vốn dễ dàng như thế. Chuyện năng suất lao động bao năm nay không tăng được bao nhiêu, ngoài nguyên nhân lương bổng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vấn đề về chế độ sở hữu không?... Tôi cho là có. Bài học và câu trả lời của khoán 10, khoán 100 vẫn còn nguyên đó. Cũng vì nguyên do này mà công bằng xã hội của chúng ta chẳng thực hiện được bao nhiêu, khiến lòng tin của nhân dân bị xói mòn.
* Nhiều người đã phân tích rõ về những vấn đề này rồi?
- Nhìn lại lịch sử, chúng ta có nhiều giai đoạn đã áp dụng lý thuyết giáo điều mà chưa có kinh nghiệm thực tiễn, không nhận ra được vấn đề và bản chất vấn đề dẫn đến những sai lầm, tổn thất. Không động đến những vết thương đã quá đau nữa vì điều cần thiết nhất hiện nay là đoàn kết dân tộc, nhưng nhân dân muốn Đảng nhìn nhận lại những sai lầm để trưởng thành, để thể hiện sự nhận ra ấy qua đường lối đổi mới cụ thể. Vì thế, chúng ta nhất thiết phải chọn được những người lãnh đạo có dũng khí và trình độ, có bản lĩnh chính trị để có những quyết định đột phá cho tương lai.
Lấy dũng khí để đổi mới
* Dùng chữ dũng khí có trừu tượng quá không để lựa chọn lãnh đạo?
- Người có dũng khí là người luôn vì nước vì dân, có lòng tự trọng để dám nói sự thật, không vì động cơ cá nhân và tự chịu trách nhiệm, dũng cảm, thẳng thắn bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình.
Và tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng dũng khí phải đi đôi với trình độ, bản lĩnh chính trị. Lâu nay, có cán bộ bị những giáo điều hằn sâu trong nhận thức, có người nhận ra nhưng lại ngán ngại vượt qua, lại có người vượt qua thì bị quy chụp... bất chấp thực tiễn đang thay đổi và nguyện vọng quần chúng đang sục sôi. Đó cũng là nguồn gốc, nguyên cớ dẫn đến sự tụt hậu và tụt hậu ngày càng xa của đất nước, dân tộc chúng ta, hàm chứa những vấn đề lớn đang trong quá trình giải quyết với nhiều bất cập: tham nhũng, dân chủ trong Đảng, trong nhân dân, thể chế kinh tế, công bằng xã hội...
* Ông tin tưởng rằng Đại hội Đảng lần này sẽ chọn được những vị lãnh đạo có dũng khí như vậy?
- Tin nên tôi lên tiếng để đóng góp và tôi tin rằng không thể không chọn con đường đổi mới triệt để. Theo quy luật, đổi mới sẽ phải đến, đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh phải đến, chúng tôi lên tiếng vì sốt ruột, vì muốn thúc đẩy để chúng ta tiến nhanh hơn, mạnh hơn.
Cioran, đối với tôi, là một trong những gì lớn lao nhất từng tồn tại trên đời, người hiểu được một cách hết sức dễ dàng, rằng triết học thật ra chẳng đáng giá mấy - cái bẫy ấy rất ít người hiểu được, thoát khỏi thì càng hiếm. Beckett thuộc vào số rất ít nhà văn theo tôi không bao giờ cũ kỹ. Vừa rồi, đọc Oscar Wilde, tôi càng thấy Beckett đáng giá đến thế nào (Beckett hồi trẻ từng học cùng ngôi trường mà Wilde đã qua trước đó vài chục năm). Vì tình cờ (cũng có thể không phải là tình cờ), Beckett qua đời đúng vào ngày hôm nay, năm 1989. Ít tình cờ hơn, Cioran và Beckett là hai người bạn thân thiết tại Paris.
Có lẽ Henri Michaux gần gũi với Cioran hơn, nhưng giữa Beckett và Cioran mới thực sự tồn tại mối liên thông giữa hai con người vĩnh viễn sống cuộc đời lưu đày, lưu đày về địa lý và lưu đày về ngôn ngữ. Ngôn ngữ Pháp bị những người từ xa đến bắn phá khủng khiếp, liên tục suốt nhiều đời, trong đó hai sự phá hoại đẹp nhất chính là Cioran và Beckett.
Bài của Cioran về Beckett cũng lấy từ cuốn sách in năm 1986, Exercices d'admiration. Essais et portraits (giống như bài này). Trong sách, bài về Beckett đặt sau bài về Paul Valéry và trước bài về Saint-John Perse.
Beckett. Vài cuộc gặp
Để có thể đoán định về một con người xa cách như Beckett, cần phải đặt nặng quan tâm vào thành ngữ "giữ cho mình cách biệt", phương châm không hiển ngôn trong mọi khoảnh khắc của ông, quan tâm đến sự thể là cách nói ấy đặt giả định về cô độc và bướng bỉnh ngầm, quan tâm đến cốt yếu của một bản thể ở bên ngoài, bản thể ấy đeo đuổi một công việc chẳng lúc nào nguôi và không có điểm kết. Trong Phật giáo, về người nào tìm con đường giác ngộ, người ta bảo anh ta phải chộn rộn như "chuột gặm quan tài" [châm ngôn này thuộc Thiền tông, dường như trong phát ngôn của Đạt Ma Tổ sư]. Mọi nhà văn đích thực đều phải có một nỗ lực tương tự. Đó là một kẻ phá hoại thêm vào cho tồn tại, bằng cách tàn phá sự tồn tại mà làm cho nó thêm phong phú.
[...]
Ông không sống trong thời gian mà ở song song với thời gian. Chính vì vậy mà chưa từng bao giờ tôi nảy ra ý định hỏi ông nghĩ gì về một sự kiện nào đó. Ông thuộc vào số những con người khiến ta hình dung được rằng lịch sử là một kích thước mà con người hẳn có thể chẳng cần đoái hoài.
[...]
Với các nhà văn chẳng có gì để nói, những người không có riêng cho mình một thế giới, ta chỉ có thể nói về văn chương. Với ông thì rất hiếm, thật ra thì gần như không bao giờ. Bất kỳ một chủ đề liên quan tới đời thường nào (những khó khăn về vật chất, những phiền toái đủ mọi loại) cũng hấp dẫn ông nhiều hơn - lẽ dĩ nhiên là trong các cuộc trò chuyện.
[...]
Vì cả đời là một người say mê các nghĩa trang và biết rằng Beckett cũng yêu quý chúng (Tình đầu, ta còn nhớ điều này, mở đầu bằng sự miêu tả một nghĩa trang, ở đây cần mở ngoặc đơn đó là nghĩa trang Hamburg), hồi mùa đông năm ngoái [bài này Cioran viết năm 1976], trên đại lộ Đài Thiên Văn, tôi kể cho ông về một chuyến thăm nghĩa trang Père-Lachaise ngay trước đó, về nỗi phẫn nộ của tôi vì không tìm thấy tên Proust trên danh sách "những nhân vật nổi tiếng" được chôn tại đó. (Cũng nên nói qua, cái tên Beckett, tôi đã nhìn thấy lần đầu tiên, cách đây chừng ba chục năm tại Thư viện Mỹ, cái ngày tôi rơi trúng phải cuốn sách nhỏ của ông viết về Proust.) [...] Beckett nói với tôi rằng ông đang đọc lại [một cuốn sách của Jonathan Swift]. Ông cho tôi biết - với tôi đây là cả một nỗi ngạc nhiên to lớn, nhất là một nỗi thất vọng to lớn - rằng Joyce không thích Swift.
[...]
Kể từ khi quen Beckett, không biết đã bao nhiêu lần tôi tự hỏi (tôi nhận ngay rằng hỏi như thế thì thật là dở hơi và khá ngu xuẩn) về mối quan hệ mà ông có thể có với các nhân vật của ông. Giữa họ có điểm chung nào? [...] Không ít trang viết của ông đối với tôi thật giống lời độc thoại sau sự kết thúc của một giai đoạn vũ trụ nào đó. Cảm giác như đang bước vào một thế giới sau cái chết, vào một địa dư nào được mơ thấy bởi một con quỷ, đã trút thoát mọi gánh nặng, thoát luôn cả sự nguồn rủa của nó!
[...]
PS. Cuối cùng thì Những thành phố vô hình của Italo Calvino cũng đã ra kịp trước khi hết năm 2015. Xem thêm ở đây. Vậy là đã xong được, trước một kết thúc. Những kế hoạch quá mức hoàn hảo gây mệt mỏi, đôi khi:
Trái: Thomas Edison; Phải: Mark Zuckerberg (Ảnh: Internet)
Nhà phát minh Thomas Edison từng coi giấc ngủ là sự lãng phí tồi tệ về thời gian, thiên tài Leonardo da Vinci từng làm việc đến quên ăn quên ngủ, còn “nhà bác học điên” Nikola Tesla cũng từng tự hào khi chỉ ngủ 2 tiếng mỗi ngày…
Chúng ta vẫn tin rằng giấc ngủ 8 tiếng là điều kiện lý tưởng để luôn khỏe mạnh và làm việc hiệu quả. Nhưng có vẻ điều đó lại không đúng với các thiên tài và không ít người nổi tiếng. Giống như Edison từng nói: “Thiên tài là 1% cảm hứng, 99% nỗ lực”, họ dành hầu hết thời gian để suy nghĩ, nghiên cứu, và làm việc, đến mức ngay cả giấc ngủ cũng không còn trọn vẹn.
Phải chăng ngủ ít đi là thói quen và một phần bí quyết thành công của những người nổi tiếng? Chúng ta hãy cùng xem họ đã ngủ như thế nào.
Thomas Edison (1847-1931)
Thiên tài sáng chế Edison, người được mệnh danh là “Thầy phù thủy ở Menlo Park”, nổi tiếng nhất với các phát minh về máy quay đĩa và bóng đèn điện.
Thomas Edison ngủ ngắn ở trại Ford Edison Camp, thành phố Hagerstown, bang Maryland, Mỹ. Phía sau Edison là Tổng thống Warren Harding (phải) và doanh nhân Harvey Firestone (trái) (Ảnh: Brian Bennett, Edison-Ford Winter Estates Museum)
Edison tin rằng ngủ nhiều là dấu hiệu của sự lười biếng, và rằng ngủ là “di sản” từ những ngày còn sống trong hang của loài người (!) Trả lời phỏng vấn với tờ Scientific American năm 1889, Edison cho biết ông chỉ ngủ 3-4 tiếng mỗi ngày. Nhưng không phải ngủ một giấc liền mạch, mà là tận dụng nhiều giấc ngủ ngắn trong ngày. Nghĩa là, thay vì cố gắng kéo dài thời gian tỉnh táo, ông muốn tận dụng tối đa những lúc trí óc vẫn còn minh mẫn.
Nikola Tesla (1856-1943)
Tesla được coi là một thiên tài lập dị với nhiều công trình khoa học mang tính cách mạng, như động cơ cảm ứng, từ trường xoay, và công nghệ vô tuyến. Có lẽ Tesla là một trong những thiên tài ngủ ít nhất trong số các thiên tài. Ông chỉ dành 2 tiếng mỗi ngày để ngủ, bắt đầu từ lúc 0 giờ cho đến 2 giờ sáng. Người ta nói rằng Tesla có thể làm việc thâu đêm và quá bận rộn với những ý tưởng và mục tiêu của mình tới mức ông không còn thời gian để nghĩ về giấc ngủ nữa.
Chân dung Nikola Tesla – Tranh của họa sĩ Vilma Lwoff-Parlaghy (Ảnh: Wikipedia)
Leonardo da Vinci (1452-1519)
Không chỉ là tác giả của những bức họa nổi tiếng như “Mona Lisa” và “Bữa ăn tối cuối cùng”, Leonardo còn là nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và nhà triết học tự nhiên. Bởi vậy, ông luôn được coi là một thiên tài toàn năng của Italy.
(Ảnh: Internet)
Giống như Edison, Leonardo cũng ngủ thành nhiều giấc ngắn trong ngày, khoảng 15-20 phút ngủ trong mỗi 4 tiếng đồng hồ. Nhà nghiên cứu Claudio Stampi từng viết về Leonardo trong cuốn sách năm 1992 “Why we nap” (tạm dịch: Tại sao chúng ta ngủ trưa) như sau: “Một trong những bí mật của ông, hoặc đã được khẳng định là như vậy, đó là một công thức ngủ độc đáo: Ông chỉ ngủ 15 phút cho mỗi 4 giờ đồng hồ, như vậy tổng cộng một ngày chỉ có 1 tiếng rưỡi để ngủ. Vì vậy, có vẻ như ông đạt được thêm 6 giờ làm việc trong một ngày. Làm theo cách này, ông đã có thêm 20 năm lao động trong 67 năm sống của mình”.
Isaac Newton (1642-1727)
Isaac Newton, người đặt nền tảng cho cơ học lượng tử (Ảnh: Sir Godfrey Kneller, Wikimedia)
Newton là cái tên gắn liền với luật vạn vật hấp dẫn và 3 định luật Newton, đồng thời cũng nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng ông chỉ dành 2 tiếng hoặc ít hơn mỗi đêm để ngủ, và gần như toàn bộ thời gian còn lại là để nghiên cứu khoa học.
Wolfgang Mozart (1756–1791)
Wolfgang Mozart – chân dung vào năm 1819 do Barbara Krafft vẽ (Ảnh: Wikipedia)
Nhà soạn nhạc Mozart, tác giả của những vở Opera và nhiều bản giao hưởng ảnh hưởng nhất châu Âu, cũng là một thiên tài ít ngủ. Theo tìm hiểu của Big Brand Begs dựa trên các nguồn tài liệu khác nhau, Mozart có thể soạn nhạc đến 1 giờ sáng, sau đó ngủ tới 5 hoặc 6 giờ sáng để tiếp tục với các bản nhạc còn dang dở của mình.
Đó là một số thiên tài lừng danh trong lịch sử. Vậy còn những người nổi tiếng ngày nay thì sao? Dường như họ cần nhiều thời gian ngủ nghỉ hơn các bậc tiền bối trong lịch sử, nhưng trong số đó cũng không có ai ngủ đến 8 tiếng một ngày.
Tất nhiên, khó có thể liệt kê tất cả những doanh nhân và học giả ngày nay trong khuôn khổ bài viết này. Vậy xin phép chỉ nêu ra đây vài ba cái tên tiêu biểu mà giấc ngủ của họ đã trở nên nổi tiếng.
Barack Obama (1961-)
Tổng thống Mỹ Barack Obama (Ảnh: Facebook)
Đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama thường ngủ 6 giờ mỗi ngày. Ông cũng được gọi là vị tổng thống “cú đêm” do thường thức khuya để làm việc. Các nhân viên của Nhà Trắng có lẽ cũng không ngạc nhiên khi thấy tổng thống của họ tham gia cuộc họp qua điện thoại vào lúc 11 giờ đêm và xem xét giấy tờ cho tới 2 giờ sáng.
Mark Zuckerberg (1984-)
(Ảnh: Internet)
Là ông chủ trẻ tuổi của mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg dành phần lớn thời gian ban đêm để làm việc và chỉ ngủ khoảng 5 tiếng mỗi ngày. Mark từng nói: “Các lập trình viên thường thức rất khuya và làm việc khi những người khác vẫn còn đang ngủ. Vì vậy, không có gì là bất thường khi tôi thức tới tận 6 hay 8 giờ sáng”. Còn đối với các nhân viên Facebook, các buổi họp với lãnh đạo cao cấp không bao giờ được thực hiện vào lúc 8 giờ sáng, bởi rất có thể ông chủ của họ vẫn còn… đang ngủ bù.
Có người nói đùa rằng, Mark Zuckerberg luôn xuất hiện với chiếc áo phông màu xám quen thuộc là bởi anh quá bận rộn, đến mức không muốn lãng phí thời gian vào việc chọn lựa áo quần.
Tim Cook (1960-)
Tim Cook – CEO của Apple (Ảnh chụp Fortune)
Nếu bạn là người yêu thích iPhone và những chiếc máy tính bảng, hẳn bạn sẽ biết đến Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple. Khác với nhiều người khác, ông thường thức dậy vào lúc 3:45 sáng để đọc tài liệu hoặc trả lời email. Cũng có lúc ông ngủ tới 4:30 mới dậy, nhưng đối với ông đó chỉ là một “giấc ngủ nướng” mà thôi.
Có lẽ ai cũng có những nỗi sợ của riêng mình. Cách tốt nhất mọi người hay làm là cố tránh phải đối mặt với nó. Nếu sợ độ cao thì không thèm đi máy bay là xong. Sợ bóng tối thì cú tìm đến chỗ sáng. Sợ phiền phức thì cố tránh những đám đông trên đường phố... Và nỗi sợ cứ còn mãi cho dù tuổi không còn trẻ nữa.
Cô cũng đang sợ, một nỗi sợ mơ hồ nhưng ngày càng lớn dần nếu cô tiến lại gần, như cái vòi rồng đen ngòm, hung dữ, xoáy lốc chực chờ hút lấy mọi thứ rồi quăng quật không thương tiếc, cho đến khi nạn nhân chỉ còn là... những mảnh vụn!
Phản ứng đầu tiên như bao người là cô né tránh, trốn chạy, những tưởng đã tìm được bình an, nhưng một nỗi sợ khác lớn hơn, cấp thiết hơn, rõ ràng hơn đang khiến cô phải suy tính, chọn lựa. Nan giải là muốn giải quyết nỗi sợ thứ hai cô buộc phải đối mặt với nỗi sợ thứ nhất!
Chắc là phải đối mặt rồi, không thể tránh né mãi được. Cô sẽ phải giải quyết cả hai nỗi sợ cùng lúc. Hoặc là đấu tranh tới cùng để sống cuộc đời mình muốn sống, tự lo thân, không bị ràng buộc, không hề mặc cảm, hoặc là cứ mãi lang thang trốn chạy...
Vậy nhé, quyết định đối mặt, không sợ hãi, lo lăng, phân vân, lưỡng lự nữa, không tránh né nữa.
Ngày 12/12 (tại Mỹ), ông La Vũ, con Đại tướng Cộng sản Trung Quốc La Thụy Khanh (Luo Ruiqing) đã nhận lời phỏng vấn của Đại Kỷ Nguyên (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung)
@DAIKYNGUYEN
Ông La Thụy Khanh là tướng tâm phúc của ông Mao Trạch Đông, gần đây người con La Vũ của ông đã cho công bố một lá thư cùng một cuốn hồi ký. Tuy là con của nguyên lão đời thứ nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nhưng ngay từ thời trẻ ông La Vũ đã rời bỏ ĐCSTQ. Gần đây ông lại kêu gọi ông Tập Cận Bình từ bỏ chế độ chuyên chế một Đảng để đi về hướng dân chủ.
Vào ngày 12/12 vừa qua, báo Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh cùng Đài Truyền hình Tân Đường Nhân đã cùng phỏng vấn ông La Vũ và đề cập đến nhiều vấn đề nhạy cảm.
Năm nay ông La Vũ 71 tuổi, từng làm việc tại Bộ Tổng tham mưu ĐCSTQ, năm 1988 được trao quân hàm Đại tá. Năm 1990, sau bất mãn với sự kiện đàn áp Thiên An Môn và sự hủ bại của quân đội Trung Quốc, ông đã từ bỏ ĐCSTQ và chạy ra nước ngoài. Năm 1992, ông La Vũ bị ông Giang Trạch Dân khai trừ Đảng tịch và Quân tịch. Năm 1990, ông La Vũ kết hôn với ngôi sao điện ảnh Hồng Kông Tina Leung. Năm 2010, sau khi bà Tina Leung bị bệnh qua đời tại Hồng Kông, ông La Vũ di cư đến Mỹ. Vào hồi tháng 10 vừa qua, ông La Vũ đã xuất bản sách “Từ biệt Bộ Tổng tham mưu.”
Là một “thái tử Đảng đời thứ hai” của ĐCSTQ, có người cha đi theo ông Mao Trạch Đông “trấn giữ giang sơn”, tại sao ông lại kêu gọi “thái tử Đảng đời thứ hai” Tập Cận Bình chấm dứt chế độ chuyên chế? Trong buổi phỏng vấn ông đã đề cập về vấn đề này.
Ông La Vũ trả lời phỏng vấn của báo Đại Kỷ Nguyên và Đài Truyền hình Tân Đường Nhân ngày 12/12/2015. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung)
Phóng viên: Xin chào ông La, gần đây chúng tôi thấy một bài viết của ông đăng trên Apple Daily có tựa đề “Gợi ý với chú em Tập Cận Bình”, tại sao ông lại dùng từ thân mật như thế?
La Vũ: Vì ông ấy là người nhỏ hơn tôi, hơn nữa quả thực chúng tôi có tình nghĩa anh em.
Thực ra tôi không thân với ông Tập Cận Bình, tôi quen biết với người cha của ông ấy.
Khi ông Tập Trọng Huân bị hạ bệ thì ông Tập Cận Bình mới 5 tuổi, sau đó ông Tập Trọng Huân đã cùng vợ mình là bà Tề Tâm đến nhà thăm mẹ tôi, nhưng mẹ tôi đã không còn nữa. Từ cuối năm 70 đến 1987, trong khoảng 10 năm, dì Tề Tâm đã thường xuyên đến nhà tôi để hẹn mẹ tôi cùng đến Đại lễ đường Nhân dân chơi, tôi hay ra mở cửa cho họ.
Qua lại với vợ chồng ông Tập Trọng Huân
Phóng viên:Theo ông thì ông Tập Cận Bình có chịu ảnh hưởng nhiều từ cha mẹ mình không?
La Vũ: Tôi nghĩ ảnh hưởng nhiều, đây là nguyên nhân giải thích tại sao tôi viết bài này gửi ông ấy, chính là vì trong ấn tượng của tôi thì cha mẹ ông ấy rất nhiệt tình và chân thành. Còn bản thân tôi thì sau sự kiện Thiên An Môn tôi đã từ chức. Trước khi ra nước ngoài, người cuối cùng tôi gặp ở Thâm Quyến chính là ông Tập Trọng Huân.
Ông Tập Trọng Huân vì là người có tư tưởng dân chủ, khai minh, nên đã bị vài lần chỉnh đốn. Ông Mao Trạch Đông từng nhắc nhở ông ấy vài lần, còn ông Đặng Tiểu Bình cũng có một lần. Sau khi ông Tập Cận Bình nắm quyền thì mọi người dành nhiều hy vọng cho ông ta, một phần cũng là do người cha Tập Trọng Huân mà ra. Vì ông Tập Trọng Huân theo tư tưởng dân chủ, khai minh, nên mọi người nghĩ ông Tập Cận Bình sẽ tiến bộ hơn cha mình. Đây là nguyên nhân họ đặt kỳ vọng vào ông Tập Cận Bình.
Phóng viên:Ông nói người cuối cùng ông gặp khi ra nước ngoài là ông Tập Trọng Huân, vậy hai người đã nói chuyện gì với nhau?
La Vũ: Thực tế khi đó ông ấy bị giam lỏng ở Thâm Quyến. Tuy là nhà lãnh đạo nhưng lại bị ông Đặng Tiểu Bình và ông Dương Thượng Côn giam lỏng ở Thâm Quyến không cho phép về Bắc Kinh, nhưng thân thể vẫn được tự do. Hàng năm mẹ tôi thường đến Quảng Đông sống qua mùa đông, mỗi lần đi đều thăm mẹ của ông ấy (Tập Cận Bình), đó là dì Tề Tâm và ông Tập Trọng Huân. Chuyện xã giao này thì không bị cấm đoán, chỉ duy nhất là không cho ông ấy về Bắc Kinh thôi. Vì ông Tập Trọng Huân không đồng ý việc ông Đặng Tiểu Bình đòi chỉnh đốn ông Hồ Diệu Bang nên mới bị giam lỏng ở Thâm Quyến.
Anh họ tôi, Chủ nhiệm một Văn phòng của tỉnh Thiểm Tây ở Thâm Quyến, mời ông Tập Trọng Huân dùng bữa và đưa tôi đi theo. Khi gặp gỡ tôi có nói mình sẽ từ chức, nhưng hình như ông ấy không rõ tôi đang muốn nói gì.
Sau đó không lâu thì tôi rời khỏi Thâm Quyến và ra nước ngoài.
Nguyên nhân ông Tập Cận Bình lên cầm quyền
Phóng viên: Trong bức thư ông có nói việc ông Tập Cận Bình lên nắm quyền là ngẫu nhiên, ông còn nói về điểm này ông Tập Cận Bình còn rõ hơn ông, ý của ông là gì?
La Vũ: Trên thực tế vì chế độ chuyên chế của Trung Quốc thường xuyên rắc rối khi chuyển giao người kế nhiệm, vì nó không có bầu cử. Tại sao ông Giang Trạch Dân lại chọn ông Tập Cận Bình?
Thứ nhất, ông Hồ Cẩm Đào là người kế nhiệm ông Giang Trạch Dân nhưng không phải do ông Giang Trạch Dân chọn nên ông ấy ôm mối hận trong lòng. Vì ông Đặng Tiểu Bình chọn ông Hồ Cẩm Đào, nên giả sử bạn là Hồ Cẩm Đào, khi hết nhiệm kỳ mà bạn chọn ông Lý Khắc Cường, vậy thì ông Giang Trạch Dân sẽ không đồng ý và cố ý chọn một người khác thay thế.
Nhưng việc chọn ông Tập Cận Bình là cơ hội vô cùng ngẫu nhiên. Vì ông ta có hiểu biết bao nhiêu về ông Tập Trọng Huân? Còn chuyện ông Tập Trọng Huân bị ông Đặng Tiểu Bình hạ bệ ai cũng rõ.
Vì thế ông Giang Trạch Dân muốn thể hiện vị thế của mình, nên nếu ông Hồ Cẩm Đào chọn một người nào đó thì ông Giang Trạch Dân sẽ chọn người khác, đây là vấn đề thứ nhất.
Thứ hai là ông Giang Trạch Dân dùng ông Từ Tài Hậu và ông Quách Bá Hùng khống chế ông Hồ Cẩm Đào, vì thế mà ông ấy muốn chọn một người lên thay phải giống mình, sẵn sàng khống chế ông Hồ Cẩm Đào.
Phóng viên:Chúng tôi thấy trong thư viết, năm 1999 ông Giang Trạch Dân liên kết với ông Bạc Nhất Ba, định đưa ông Bạc Hy Lai lên ngôi vị?
La Vũ: Đúng thế, đây là điều nhiều người biết, trên mạng cũng có bàn. Ông Giang Trạch Dân muốn ông Bạc Hy Lai lên cầm quyền vì thấy ông này có tính cách thích “nhe nanh múa vuốt”, tiếng nói phản đối trong Đảng mạnh. Ông Giang Trạch Dân khi đó rất khác ông Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, là người nói sao là vậy. Bản thân ông ấy cũng chú ý tới những tiếng nói khác trong Đảng. Trong số rất nhiều người phản đối việc đưa ông Bạc Hy Lai lên thì tiếng nói mạnh mẽ nhất khi đó là ông Ôn Gia Bảo và Ngô Nghĩa.
Phóng viên:Có nghĩa là vì những người này phản đối Bạc Hy Lai lên nắm quyền nên ông Giang Trạch Dân đã chọn ông Tập Cận Bình như một sách lược nằm trong toan tính cho sau này?
La Vũ: Có thể vì ông Giang Trạch Dân thấy bề ngoài ông Tập Cận Bình trông thật thà, có vẻ không phải người giỏi, vì việc gì ông Tập Cận Bình cũng chỉ biết im lặng. Ông Giang Trạch Dân tưởng rằng đưa ông Tập Cận Bình lên thì có thể dễ dàng khống chế được ông Tập. Chẳng phải sau đó ông Vương Lập Quân đã khai ông Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang muốn chính biến sao? Tài liệu này ông Vương Lập Quân giao cho người Mỹ, người Mỹ lại giao lại cho ông Tập Cận Bình.
Bạc Nhất Ba là kẻ thất đức nhất
Phóng viên:Sách của ông khiến chúng tôi có cảm giác ông rất thích ông Hồ Diệu Bang, đánh giá cao ông Hồ Diệu Bang, sau đó mới là ông Tập Trọng Huân, cha ông Tập Cận Bình. Việc ông nói ông Bạc Nhất Ba là kẻ thất đức nhất là thế nào?
La Vũ: Vấn đề này rất đơn giản, vì cá nhân ông Bạc Nhất Ba chúng tôi được biết từ trước cách mạng văn hóa, xem ông ấy như bậc cha chú, chúng tôi là hậu sinh, vì thế cũng không quan hệ gì qua lại. Nhưng ông Bạc Hy Lai là con của ông ấy, mấy anh em họ là bạn học của tôi.
Tôi xin đưa một vấn đề đơn giản, thời đó chúng tôi ai có được chiếc xe đạp đi học coi như rất oai, thường mọi người toàn đi xe “vĩnh cửu” (đi bộ). Nhưng con của Bạc Nhất Ba toàn đi xe Philips nhập khẩu từ bên Anh về. Trong ấn tượng của tôi thì Bạc Nhất Ba rất xem trọng tiền tài, đây là ấn tượng của thời còn trẻ con.
Tôi nói thế vì tôi biết ông Hồ Diệu Bang từng mất ăn mất ngủ vì sửa lại án oan Bạc Nhất Ba với “tập đoàn phản bội 61 người”.
Ông Hồ Diệu Bang một lòng thành ý muốn giúp ông Đặng Tiểu Bình trở thành “Washington” của Trung Quốc, muốn phế bỏ quy tắc “chung thân chế” (giữ quyền lực vô thời hạn…). Vì chính ông Đặng Tiểu Bình từng nói muốn phế bỏ chế độ này và ông Hồ Diệu Bang muốn làm theo, nhưng cuối cùng lại thành đắc tội với ông Đặng Tiểu Bình, vì thế mà ông Đặng Tiểu Bình đã phế bỏ ông Hồ Diệu Bang.
Nhưng ông Đặng Tiểu Bình không tự mình ra tay mà nhờ đến tay chân thân tín hung ác, và ông Bạc Nhất Ba đã ra tay với ông Hồ Diệu Bang.
Vì thế tôi mới nói ông Bạc Nhất Ba là kẻ vô đạo đức nhất. Ông ta lấy oán trả ơn, vì địa vị quyền lực hoặc vì muốn đưa con cái mình lên mà không từ thủ đoạn.
Bạc Hy Lai đểu giả ngay từ nhỏ
La Vũ: Chúng tôi là bạn học hồi nhỏ, tôi nhận thấy ông ta giả dối mọi lúc mọi nơi.
Trong Cách mạng Văn hóa ông ta chịu nhiều khổ cực. Ông ta ngồi tù nhiều hơn tôi, vì việc sửa chữa án oan cho ông Bạc Nhất Ba cũng khá muộn.
Khi ở trong tù tôi đã suy ngẫm và có kết luận, chỉ có một đảng chuyên chế là không được, cần phải theo chế độ dân chủ. Nhưng Bạc Hy Lai ngồi tù 7, 8 năm, ông ta rút ra điều gì?
Trong quá trình ông Bạc Hy Lai làm quan sau này tôi càng hiểu, chính chế độ chuyên chế đã hại ông ta. Ông Bạc Hy Lai không vì thấy đảng chuyên chế không tốt mà muốn thay đổi nó, ngược lại ông ta muốn dùng chế độ chuyên chế để đi hãm hại người khác.
Phóng viên:So sánh ông Bạc Hy Lai với ông Lâm Bưu thì thế nào?
La Vũ: Rất khập khiễng! Bạc Hy Lai chỉ đáng là tên bụi đời còn Lâm Bưu là tướng tài, như núi thái sơn. Nhưng sự kiện ngày 13/9 (năm 1971) ông ấy bỏ chạy và chết như thế thì không ai biết được.
Phóng viên:Tại sao ông nghĩ ông Bạc Hy Lai kém như thế?
La Vũ: Vì ông Bạc Hy Lai vô mưu, vô trí, không biết làm ăn gì cho ra hồn.
Phóng viên:Vậy thì tại sao ông ấy có thể làm quan được, vì nhờ vào uy thế của ông Bạc Nhất Ba?
La Vũ: Chủ yếu do quan hệ giữa ông Bạc Nhất Ba và ông Giang Trạch Dân. Làm quan Trung Quốc không nhất định cần có tài năng, nhiều người không hiểu biết gì mà vẫn được làm quan đấy thôi.
Mua quan bán chức là dấu hiệu kết thúc một triều đại
Gần đây ông lại kêu gọi ông Tập Cận Bình từ bỏ chế độ chuyên chế một Đảng để đi về hướng dân chủ. Vào ngày 12/12 vừa qua, báo Đại Kỷ Nguyên cùng Đài Truyền hình Tân Đường Nhân đã cùng phỏng vấn ông La Vũ. Ông đã không ngại nhắc đến nhiều vấn đề nhạy cảm như tình trạng thối nát trong quân đội và việc tham gia mổ cướp nội tạng sống…
Mua quan bán chức đánh dấu sự kết thúc một triều đại
Phóng viên: Ông bỏ ra nước ngoài sống sau sự kiện Thiên An Môn, những hủ bại trong quân đội mà ông thấy khi đó là lúc mà ông Đặng Tiểu Bình đang nắm quyền, vậy tình trạng hủ bại sau ông Đặng Tiểu Bình và trước Đại hội 18 khi ông Giang Trạch Dân nắm quyền như thế nào, ông có nắm được không?
La Vũ: Dĩ nhiên kinh khủng hơn thời của tôi khi đó! Vì thời của tôi khi đó chưa có chuyện mua quan bán chức, chỉ lấy tiền hoa hồng, mua bán vũ khí đạn dược và nhận hoa hồng, không có chuyện muốn làm tướng quân phải mất bao nhiêu tiền, chưa đến mức độ này. Hãy nhìn lại lịch sử Trung Quốc, các thể chế khi đi vào giai đoạn mua bán quan chức là đã bước vào giai đoạn sắp sụp đổ. Dấu hiệu kết thúc một triều đại chính là tình trạng mua bán quan chức.
Phóng viên: Hiện ông Tập Cận Bình đang chống tham nhũng, theo chúng tôi tìm hiểu thì ông Tập Cận Bình đã bắt tổng cộng 47 vị tướng trong quân đội, ông nghĩ như thế nào?
La Vũ: Hủ bại trong Quân đội không tách rời với trong Đảng và trong Chính phủ. Việc bắt bớ như thế dĩ nhiên là tốt, vì càng nhiều quan hủ bại bị bắt thì càng tốt. Nhưng thực tế là không giải quyết được cái gốc. Vì thế tôi mới nói với ông Tập Cận Bình rằng, hiện nay ông đang chống tham nhũng, nhưng thử hỏi có ai không tham nhũng? Ông không thể nào giết hết số người này, vì khi giết hết thì chế độ cũng không còn.
Dân chủ hóa là cách duy nhất để chống tham nhũng
Phóng viên: Trong sách của ông khi bàn đến vấn đề này cũng từng nói tất cả Đảng viên đều tham nhũng?
La Vũ: Không phải tất cả Đảng viên, mà là tất cả quan chức.
Phóng viên: Mọi quan chức trong Đảng đều tham nhũng, có nghĩa chống tham nhũng là chống Đảng, vì thế ông mới nói như thế?
La Vũ: Câu “Chống tham nhũng là chống Đảng” không phải tôi nói, là toàn dân nói. Vì thế muốn thực sự giải quyết vấn đề tham nhũng trong Đảng cũng như trong Quân đội, con đường duy nhất là dân chủ hóa. Khi quyền lực được người dân và giới truyền thông giám sát thì mới hạn chế được tham nhũng.
Phóng viên: Ý của ông bây giờ là dân chủ hóa, nhưng nhìn lại lịch sử trong quân đội ĐCSTQ có thể thấy, ông Đặng Tiểu Bình thì nhắc đến đội quân dã chiến thứ hai, ông Mao Trạch Đông nhắc đến đội quân dã chiến thứ nhất, sau đến ông Giang Trạch Dân thì lôi kéo tham quan bằng cách “im lặng để phát tài”. Theo ông thì ông Tập Cận Bình phải như thế nào?
La Vũ: Cách duy nhất để chống tham nhũng là dân chủ hóa. Nếu ông ấy muốn thay người thì tìm người ở đâu bây giờ? Vấn đề lớn nhất của ông Tập Cận Bình hiện nay là không thể tìm được người (như ý ông ấy – ND), vì thế chỉ có cách là từng bước dân chủ hóa thì mới giải quyết được vấn đề.
Cả hệ thống khổng lồ tham gia mổ cướp nội tạng sống
Phóng viên: Năm 1998 ông Giang Trạch Dân tuyên bố “Quân đội không được buôn bán”, sau đó vào tháng 11 năm nay, ông Tập Cận Bình cũng nhắc đến “cấm quân đội tính thù lao phục vụ”, ông nghĩ như thế nào về việc này? Tại sao trước đây ông Giang Trạch Dân lại giữ lại cái đuôi “có thù lao phục vụ”?
La Vũ: Chủ yếu là để dành đường tiền tài cho tham quan quân đội.
Phóng viên: Đó là gì?
La Vũ: Đó là thù lao phục vụ.
Phóng viên:Ông có thể nói cụ thể được không?
La Vũ: Mổ cướp nội tạng, cấy ghép nội tạng đều là thù lao phục vụ.
Phóng viên: Ông có thông tin này từ đâu?
La Vũ: Ở trên mạng. Những học viên Pháp Luân Công sau khi ra khỏi nhà tù họ đã kể lại họ đã bị đưa đi kiểm tra cơ thể, vì thế phải có một hệ thống đang thực hiện nhiệm vụ này. Ngoài ra có nhiều người bỗng dưng bị mất tích, phải giải thích như thế nào?
Vốn là ĐCSTQ đã sử dụng tù nhân vào mục đích cấy ghép nội tạng, sau đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao của họ lên tiếng rằng “đây là sự vu khống khủng khiếp”. Thế rồi chính ông Hoàng Khiết Phu (cựu Thứ trưởng Bộ Y tế – ND) đã thừa nhận rằng họ đã sử dụng nội tạng tù nhân bị tội tử hình. Nhưng số tội phạm tử hình mỗi năm nhiều nhất chỉ khoảng 2 – 3 ngàn người. Ở đây còn chưa bàn việc dùng nội tạng của những tù nhân này cũng đã là phạm pháp. Chỉ xin bàn về vấn đề số ca cấy ghép nội tạng được công bố hàng năm lên đến cả hơn chục ngàn ca, vậy thì nguồn nội tạng từ đâu ra? Vì thế mà hai người Canada đã vào cuộc điều tra và viết thành cuốn sách công bố cho cả thế giới biết.
Phóng viên:Những vấn đề này đều xảy ra thời ông Giang Trạch Dân nắm quyền trong quân đội?
La Vũ: Đúng thế. Dù sao hiện nay trên mạng vẫn thường thấy nhắc đến, nhưng có thể không lộ liễu như thời ông Giang Trạch Dân mà hành động âm thầm. Ông Hoàng Khiết Phu muốn đổ tội ác này lên đầu ông Chu Vĩnh Khang, nhưng khi khởi tố ông Chu Vĩnh Khang thì không có tội này. Vì thế tôi cảm giác ông Tập Cận Bình không biết chuyện này. Hoặc có thể cũng muốn giải quyết nhưng tiến mỗi bước lại lùi một bước.
Phóng viên: Ông nghĩ trở ngại do đâu?
La Vũ: Từ tất cả những kẻ tham gia vào đường dây mua bán nội tạng này. Vì họ biết làm việc này là phạm pháp. Hiện nay nếu ông Tập Cận Bình muốn đưa ra thì sẽ có vô số người phạm tội, vì thế dĩ nhiên họ phải gây cản trở. Số người này không phải vài người mà là cả một hệ thống. Nếu không có che chở của hệ thống này thì ai dám đi cấy ghép nội tạng? Từ việc bắt bớ người vô cớ rồi cho vào tù, sau đó lấy nội tạng mang bán, đây là công trình của cả một hệ thống khổng lồ, là hành vi mang tầm cỡ quốc gia.
Sự giả tạo bao trùm khắp Trung Quốc
Phóng viên: Khi ở Bộ Tổng Tham mưu Trung Quốc, ông phục vụ trong bộ phận quân trang, chắc chắn có tham gia mua vũ khí. Theo ông hiểu, trang bị vũ khí của Trung Quốc có gì khác với các quốc gia phương Tây?
La Vũ: Điều này có lẽ ai cũng biết. Tôi xin đưa một ví dụ về động cơ máy bay chẳng hạn. Người Trung Quốc đã mua phần mềm thiết kế của Israel, loại “Tiêm 10” (Chengdu J-10) của Trung Quốc hiện nay là do Israel thiết kế, mục đích để đánh bại F16. Nhưng cần phải biết Israel nằm dưới kiểm soát của Mỹ. Khi bán cho người Trung Quốc “Tiêm 10” thì cũng là lúc người ta đã không còn muốn dùng đến F16 nữa rồi. Vì thế khoảng cách kém nhau rất xa.
Phóng viên:Hiện có vấn đề khiến ĐCSTQ mất mặt, đó là trong cuộc diễu hành duyệt binh của Nga kỷ niệm Ngày Chiến thắng thì xe tăng chiến đấu chủ lực 99A của Trung Quốc bị hỏng, ông có biết việc này không? Ông nghĩ thế nào?
La Vũ: Nghĩ sao đây? Đó là vấn đề chất lượng của Trung Quốc đã lên đến tận chiếc xe tăng. Chắc các bạn không biết vì còn quá trẻ, trong “thời kỳ khó khăn” chúng tôi muốn mua gì cũng phải có tem phiếu, mua trứng gà phải dùng tem phiếu trứng gà, cái gì cũng có tem phiếu của cái đó. Nhưng thời đó không ai nghĩ đến việc tự mình đi in tem phiếu.
Nhưng hiện nay đụng bất cứ thứ gì, điều đầu tiên người Trung Quốc nghĩ đến là thật hay giả? Đây là do tình trạng giả dối khiến người ta không còn biết tin vào đâu nữa.
Ngay cả sách tôi viết ra, mấy người bạn đã email cho tôi hỏi “đây là sách của anh thật à?” Vốn là họ muốn xác định lại xem liệu có người giả tôi không. Khi bài “Trao đổi với cậu em Tập Cận Bình”vừa tung ra, một người bạn ở trong nước liền hỏi ngay “có thật anh viết không?” Hiện nay ở Trung Quốc, đụng đến vấn đề gì, điều đầu tiên người nghĩ là vấn đề này thật hay giả? Bạn nói xem tại sao lại đến nông nỗi này?