Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2015

THƯA BÁC NGUYỄN SỰ


Bùi Hoàng Tám



 (Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)

Thư gửi bác Nguyễn Sự, nguyên Bí thư TP Hội An.
Thưa bác Nguyễn Sự!
Trước hết, xin phép được gọi là bác, lý do là bởi bác cũng thôi công tác rồi. Mọi chức tước giờ đã lùi về quá khứ, chúng ta là dân với nhau, bác nhỉ.
Thứ nữa, theo lý lịch bác hơn tôi 2 tuối (bác sinh năm 1956, tôi 1958). Người Việt ta, cứ ai sinh trước thì gọi là anh vậy.
Thôi, khỏi dài dòng, tôi xin vào chuyện ngay bác nhé.
Tôi đã từng “theo dõi” bác từ khi bác làm Chủ tịch Thị xã Hội An cho đến tận hôm nay, khi bác đã “hạ cánh an toàn” thấy hầu hết những việc bác nói, bác làm đều tốt. Tất nhiên, bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, con người ta chẳng ai hoàn hảo và chẳng thể có ai làm việc gì cũng toàn “thành công tốt đẹp” cả. Tóm lại, về cơ bản, tôi đồng tình với bác.
Thế nhưng, cái chuyện vừa rồi thì tôi không đồng tình, thậm chí, tôi phản đối bác.
Ấy là việc bác không tham gia đoàn cán bộ đi công tác, học hỏi kinh nghiệm mà lãnh đạo tỉnh Quảng Nam dành cho các bác.
Tôi phản đối bác vì mấy lẽ.
Thứ nhất, bác là người không chịu, không, nói thế này cho phải nhẽ, là lười học hỏi. Một chuyến đi nước ngoài nhằm khảo sát các cơ sở du lịch, dịch vụ, thương mại... học tập kinh nghiệm về công tác quy hoạch, xây dựng các khu đô thị, khu kinh tế, quản lý du lịch, bảo tồn thiên nhiên tại Nam Phi là một chuyến đi vô cùng bổ ích. Nó không chỉ mở mang kiến thức cho cá nhân bác mà còn vô cùng có lợi cho tỉnh Quảng Nam quê hương bác.
Với đội hình hùng hậu mấy chục người này, sau khi học hỏi ở một xứ sở như Nam Phi, chắc chắn rằng các ngành kinh tế như du lịch, dịch vụ, thương mại… Quảng Nam ta sẽ bừng bừng khí thế.
Các vấn đề lâu nay như qui hoạch, xây dựng đô thị, khu kinh tế, khu du lịch và bảo tồn thiên nhiên sẽ đi vào nề nếp chứ dứt khoát không “lôm côm, nham nhở” và “trì trệ” như hiện nay. Thế mà bác không đi có thiệt cho người dân Quảng Nam nói riêng, cho nhân dân cả nước nói chung không cơ chứ.
Thứ hai, bác không đi lại còn “nói ngang”, rằng không muốn đi bởi vì đi để làm gì: “Đi học hỏi kinh nghiệm làm du lịch, mà làm du lịch ở nhà à? Chẳng giải quyết được vấn đề gì”.
Hơ! Sao lại chưng để làm gì? Để làm gì thì bên trên nói rồi, để mở mang, để học hỏi, để vân vân và vân vân. Bác nói thế chẳng hóa ra nói tuột rằng chuyến đi này là vô tích sự à? Nói thế, “phạm húy” chết.
Nhưng điều thứ ba này mới quan trọng, bác còn “bồi” thêm: “Có phải tiền của mình đâu mà đi vô, đi ra. Tiền của Nhà nước đi mệt lắm. Tôi không ưng, mang tiếng suốt đời”.
Hơ! Tiền của mình thì mới mệt chứ tiền của nhà nước, nói mệt là sao? Mà tiền mình thì một đống thế, ai dám bỏ ra mà “đi vô, đi ra”. Vâng, nó là tiền nhà nước, tức là tiền dân mà tiền dân là tiền chùa, không đi thì thiệt, không đi là dại.
Đã thế, bác lại còn sợ “mang tiếng suốt đời”. Bác nói thế chả lẽ các bác đi “tham quan, học hỏi” kia “mang tiếng suốt đời” chắc? Mà nói thật nhé, người ta chức tước to hơn bác nhiều, họ chả lo “mang tiếng”, bác hưu rồi, còn gì nữa mà “tiếng với chả tăm”. Sao không làm “chuyến tàu vét” cho buổi “hoàng hôn nhiệm kỳ” vốn đang trở thành “trào lưu” nhỉ?
Bác không đi, bác còn mắc một “tội” to nữa đấy. Đó là sự “không phải đạo” vì khi trả lời về chuyến đi này, ông Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam cho rằng việc đoàn “tham quan, học hỏi” là “phải đạo”.
Nói thật, chả biết hay bác học rộng biết nhiều, phải cái tội hay “suy diễn từ điển” nên lo sợ chữ “đạo” nó đa nghĩa, tức là ngoài cái “phải đạo”, “đạo lý” bác sợ nó còn có “đạo tặc” hay “vô đạo” mà phụ lòng tốt của người khác.
Hãy hiểu đơn giản đi bác ơi, nó là cái “đạo với lãnh đạo”, tất nhiên trong trường hợp này không phải là “đạo với dân” rồi vì đó là tiền nhà nước, tức là tiền thuế của dân.
Bác Phó Chủ tịch ấy, tôi thấy rất đáng kính trọng vì tinh thần “phải đạo”, biết “uống nước, nhớ nguồn”. Nhưng giá bác ấy làm một việc nhỏ, rất nhỏ thôi, đó là bỏ tiền tùi ra để “hành đạo” thì hay biết mấy. Tiếc thay, lại dùng ngân sách, tức là mồ hôi, công sức của dân…
Xin nói thật, bác cứ “lệch pha” thế này, thể nào mau mau từ chức, “hạ cánh” trước nhiệm kỳ. “Sống ở đảo người gù, ai thẳng lưng là dị dạng”, bác ạ. Thế nên bác ở lại, có khi…
Mà thôi, chẳng nói nữa, sợ bị phạt 5 triệu đồng thì, bác ơi, gần tháng lương của tôi đấy.
Tóm lại, vụ này “may” cho bác là có ông Giám đốc sở Văn hóa Thể thao & Du lịch cũng không đi (tất nhiên, ông này tế nhị, nói có việc riêng chứ không “huỵch toẹt” rằng “đi để làm gì, mang tiếng chết” như bác) nên bác có “đồng minh”, chắc cũng đỡ “cô đơn”.
Cuối cùng, xin bác thứ lỗi về lá thư đường đột và những lời đường đột.
Kính thư!
Bùi Hoàng Tám
*tít bài TNc đặt lại

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đọc để biết


Cuôc chiến Việt- Trung trong Xe lên xe xuống,
tác phẩm của Nguyễn Bình Phương
 hay Bản chúc thư trên đỉnh Tà Vần
Trong tiểu thuyết Người đi vắng, Nguyễn Bình Phương kể chuyện một đứa nhỏ mỗi lần nghe thấy tiếng rao của ông thiến lợn là nó hoảng sợ, hai chân chụm lại giấu chim, nhắm mắt tự hỏi: ai là người đẻ ra những ông thiến lợn? Một giọng ôn tồn bảo: khi người ta tìm ra mẹ của kẻ thù thì kẻ thù mất sức mạnh. Câu nói bí ẩn, dĩ nhiên thằng nhỏ chẳng hiểu gì, bởi đó là bí quyết tồn tại của nhà văn trong một xã hội niêm phong: muốn yên thân thì chớ có loay hoay điều tra ai là mẹ của những ông thiến lợn. Tìm đến cội rễ của ung thư, đào mả các đại trùng hiển nhiên là hiểm nguy có thể kề tính mệnh.

Xe lên xe xuống dẫn ta vào cái xã hội niêm phong đó, đường đi hiểm trở như đường vào hang Văn Dú, nhưng Thế Lữ có hai người Thổ dẫn đường. Lối vào tác phẩm mới nhất của Bình Phương cũng kỳ quặc huyễn hoặc trong trận đồ bát quái, là một thử thách cho những kẻ mạo hiểm, dù lọt được vào vẫn có khả năng bị tẩu hoả nhập ma bởi những phù phép yểm trong chữ nghĩa, để ám những kẻ muốn tìm ra rường mối của chiến tranh, rường mối của bạo lực, rường mối của một xã hội mà con người đã bị thiến tư tưởng.
Xe lên xe xuống là một cạm bẫy kiểu Vàng và Máu như thế trên mạn ngược, ở Việt Bắc, biên giới Việt-Hoa.

Chìa khoá mở vào không gian niêm phong này nằm trong mấy trang đầu, nếu tìm thấy mã số của chữ nghiã, bạn có thể đi suốt tác phẩm, bởi Bình Phương là một đạo diễn rất hiện đại (hoặc nói theo thời thượng: rất hậu hiện đại), cho máy quay hai kịch bản song song rồi chiếu cùng một lúc lên màn ảnh.
Nội dung hai kịch bản này cũng lại bị cắt thành từng khúc, thành những mẩu đời đứt đoạn, những suy tư chặt đôi, đảo lộn trật tự, chắp lại thành một chuỗi liên tục những sự kiện không liên tục, hệt như con đường mòn nổi tiếng ở miền Trung đã bị bom đạn phá tan nát, được đắp bằng những mảnh xác không tên, và nó tồn tại như một lịch sử vĩ đại anh hùng.
Bình Phương dẫn ta vào những trang sử anh hùng ấy, nhưng không đi xe ca máy lạnh trên đại lộ như du khách ngoại quốc, Việt kiều, mà đi chân đất xuống địa đạo, xuyên vào lớp xi măng và các chất liệu đã được nghiền nát trộn trạo để làm con đường này, xem trong có gì. Sau một chuyến đi như vậy, không ai có thể toàn vẹn.

Sự thực là hai chuyến đi, được kể bằng hai thoại của hai anh em đã chết.
Thoại một, của người em, xưng là mình, chia làm hai trường đoạn: phần in nghiêng, xẩy ra sau khi mình chết. Phần in thẳng, xẩy ra trước khi mình chết.
Thoại hai, của người anh, sau trận Tám Tư, bị điên và chết; thuật lại cho em các trận đánh trong nhật ký.
Hai thoại này cũng là hai chuyến đi: một về tương lai và một về quá khứ, cùng phát xuất ở đỉnh Tà Vần, mồ chôn hai anh em và cũng là mộ phần của tất cả những đỉnh cao loài người, bởi đỉnh đi cùng với vực như Mai Thảo đã kinh qua trong bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời.

Phần in thẳng, dành cho chuyến xe lên, lúc ấy mình còn sống. Trong xe lên khá đông: có mình, có Trang, có hắn và tài xế; mục đích chuyến xe lênhắn đưa mìnhvà Trang lên biên giới, tới đỉnh Tà Vần, hoặc để trốn sang Tàu, hoặc chỉ là một cuộc hành hương về chiến trường, tìm chỗ người anh đã bị bắt, trong trận đánh với khựa (Tàu) tháng hai năm Bẩy Chín.

Tiểu thuyết bắt đầu bằng những dòng in nghiêng, tức là sau khi mình chết, trên chiếc xe gồm có một phụ nữ tên Trang, một người lái xe và "đám người mặt lạnh đanh". Đám mặt lạnh đanh này chính xác có ba: một người cầm bộ đàm, một người cao lớn và một người thấp bé; và lái xe chính xác là phó công an tỉnh. Đó là những kẻ thực thụ hiện diện. Những kẻ đang sống.
Trong xe còn có thế giới của những kẻ vô hình, hay những "linh hồn": thứ nhất là kẻ xưng mình, người kể chuyện, "ngồi" cạnh Trang. Và thứ nhì là "giọng" của người anh luôn luôn dặn mình: "đừng bao giờ để bị bắt". Nhưng cái "giọng" này cũng không thực, nó chỉ được mình nhớ lại trong ký ức.
Còn mình ? Mình ngồi cạnh Trang nhưng thực sự mình có trong xe không? Có và không. Nhờ câu nói bí mật: "tất cả đều chậm lại sau cú bay thảng thốt của mình... qua nhiều ngọn cây và đá" mà ta biết cái thực thể tự xưng mình ở đây, đang ngồi cạnh Trang đây, chỉ là linh hồn mình sau khi đã "bay qua nhiều ngọn cây và đá".
Vậy, hoặc là mình vừa chết, còn tươi, linh hồn nóng hổi kể lại câu chuyện này. Hoặc mình đang trong tình trạng hôn mê (coma), linh hồn đã nhanh chân chạy thoát khỏi xác đến ngồi bên Trang.
"Nhân vật" thứ ba là nó. Nó chỉ hiện lên có hai lần trong tiểu thuyết nhưng không kém phần quan trọng: Ở trang đầu mình đợi  và đến trang cuối mình gặp . Vậy  không phải là một thực thể hữu hình,  là một trạng thái,  là cái chết.

Cả quyển tiểu thuyết tóm gọn trong vài giây: hồn vừa lìa khỏi xác, mình bước từ cõi dương sang cõi âm.

Nguyễn Bình Phương nén các dữ kiện trong một số chữ tối thiểu giống như cái máy ép rác: nếu ta bỏ vào đó lổn nhổn tất cả rác rưởi cuộc đời thải ra hàng ngày, nó chỉ ép một phút là dẹp cứng thành vài mi-li-mét. Vậy chỉ cần đọc vài dòng Xe lên xe xuống thì mọi sự sẽ được bình phương lên thành vài chục trang tiểu thuyết.
Lời kể của mình nhân vật chính trong truyện, đi cùng với lời kể của anh, anh ruộtmình và lời nhiều nhân vật khác: như lời cậu, cậu ruột của mình; lời hắn, bạn học cũ và guide dẫn mình đến Tà Vần, lãnh địa bí mật, cạm bẫy cuộc chiến Bẩy Chíncủa ta với khựa và cũng là hãm địa con người trong thời điểm cú vọ hôm nay... Lối viết này, thuật ngữ phê bình gọi là đa âm.
Lời của những kẻ không tên cất lên về những nhân vật thần kỳ của các đội ngũ anh hùng, thổ phỉ; về những cuộc săn (người) đêm trên đỉnh Lũng Tẩu; về những vụ bán cao bành trướng, ăn vào người phình lên như quả bóng; về vụ bà phó chủ tịch huyện, anh hùng Tám Tư, ăn thịt người chết để mong trẻ mãi; về hai cuộc chiến giữa hai nước anh em hữu nghị -nuốt chửng không biết bao nhiêu nhân mạng- Bẩy Chín, Tám Tư, đã bị chôn sống, không ma chay, không bát âm, không điếu văn, không giỗ chạp.
Những kẻ không tên được chỉ định bằng những: mình, anh, cậu, chú, hắn... (riêngmình, nếu để ý lắm thì sẽ nghe thấy có người gọi là Hiếu) bên cạnh mấy người có tên như Trang, Thu, Hằng, Vân Ly, ... tạo ra một thế giới mà người nữ hình như có chút ưu đãi, nghiã là có tên; họ có chút địa vị cá nhân hơn người nam chăng? Chưa chắc, bởi những người có tên như bọn thằng Quých, thằng Hiệp, thằng Thuỷ... chỉ là bọn tép riu, tòng phạm, hoặc chết lãng nhách như thằng Quých, hoặc chết oan như Vân Ly. Tóm lại đàn bà trong cái xã hội này cũng chỉ là cây kiểng, tên để trưng, thực sự nữ cũng như nam, không ai có một địa vị cá nhân nào.
Sự các nhân vật không có tên, có phải là do trường phái tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet chăng? Tôi đồ rằng không. Ở đây không hề có cái lo lắng cách tân cách điệu, trường môn, trường phái gì cả, mà chỉ là để thể hiện một xã hội tập thể,con người đã mất hết danh vị cá nhân, đã thuần thục trong đời sống đội ngũ như: đội ngũ nhà văn, đội ngũ giáo sư, đội ngũ thổ phỉ, đội ngũ bác sĩ, đội ngũ công an, đội ngũ ma tuý, đội ngũ buôn lậu,... tất cả đều đã được phân loại rõ ràng. Tính chất binh bị thấm vào ngôn ngữ, phản ánh toàn bộ tổ chức xã hội, mà cá nhân con người đã trở thành phi danh tánh, như con giun con dế, một mặt nó giúp cho những anh, những mình, những hắn kia, khó bị lộ diện trong những trận phục kích hay buôn lậu; một mặt, nó giúp cho đám người có phận sự rượt bắt họ không bị lộ danh tánh hình tích. Xã hội, trở thành nặc danh, thả dàn cho những tội ác, ở cả bên này và bên kia công lý.

Với bút pháp trinh thám đầy mật mã, tác giả thám hiểm nhiều cuộc đời, nhiều lớp thời gian, trùng lấp, chồng chất lên nhau, vẽ nên nhiều chân dung độc đáo trong cảnh kháng chiến đánh phỉ, cảnh chiến tranh Bẩy Chín-Tám Tư, cảnh làm tình, cảnh thanh toán, buôn lậu, ma tuý, cảnh lùng bắt, cú vọ... Nhiều mặt trận, nhiều thực tại được giấu sâu trong lòng đất, ở những địa đạo, dưới những nấm mồ, không ai dám nhắc đến trong "sử sách" vì tính chất "tiêu cực" của nó. Qua những mật mã, chúng đội mồ hiện lên như những bóng ma người người lớp lớp lũ lượt chồng chéo lên nhau như một định mệnh, một nhân quả về tội ác, không phân biệt ranh giới âm dương.
Tác phẩm là thiên điều tra về tội ác và trừng phạt, tìm đến mẹ của bạo lực để giải mã tại sao dân tộc ta đạt "kết quả" như ngày nay: Bạo lực cổ đại từ thời Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu (tháng 1/1075), sắp đầu người thành đống, mỗi đống 100 đầu, cả thảy 580 đống[1]. Bạo lực trung đại với Tây Sơn-Nguyễn Ánh. Bạo lực kháng chiến với Thổ Phỉ-Cách Mạng. Bạo lực hiện đại với Bẩy Chín-Tám Tư. Bạo lực hậu hiện đại với Ma Tuý-Buôn lậu-Sex, trong một xã hội tập thể, mà mỗi người đều có ám vọng muốn nhìn xem bên trong của kẻ khác chứa những gì.
 Bạo lực nguyên thuỷ được trình bầy qua động tác chặt; dụng cụ thớt; sản phẩmđầu người.
"Phỉ nó chặt...
Mình nghĩ nếu xét thuần về mặt hành động thì phỉ là loại chạm tới cái cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất của con người. Vì phỉ hay dùng hình thức chặt, thứ hình thức mang lại khoái cảm và uy quyền. Phỉ chặt đầu, chặt tay, chặt chân, chặt ngang người. Các loài khác không biết chặt, chỉ cắn, xé, móc. Giết một con gà mà không vang lên tiếng chặt nào thì chỉ là giết một con giun. Vào quán thịt chó mà không nghe tiếng chặt côm cốp thì dứt khoát chỉ có cảm giác ăn đậu phụ. Tiếng chặt tạo ra sự hưng phấn ghê ghớm. Dọc theo lịch sử dằng dặc của đường biên này luôn luôn là những tiếng băm chặt nhau chí chát. Khi triệt hạ thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt đã cho chặt đầu tất cả những kẻ trong thành rồi xếp thành năm trăm tám mươi đống, mỗi đống một trăm cái đầu. Tiếng chặt đầu côm cốp của Thái uý vẫn còn làm cho họ run rẩy, đau đớn đến tận bây giờ. Năm một tám tám sáu, khi phái đoàn phân định biên giới Hoa-Pháp bắt tay vào việc, toàn bộ gia quyến của viên quan được triều đình Nguyễn bổ nhiệm để cai quản và thu thuế vùng Bạch Long đã bị phỉ giết chết, hàng chục sinh mạng, không phân biệt trẻ con, người già, đều bị chặt nhỏ (...) Phỉ đặt người ta lên phiến đá và nhẩn nha chặt như chặt thịt lợn. Có người bị chặt đứt phăng hai tay, hai chân mà vẫn còn sống, mồm miệng loe máu kêu gào. Mình nhớ không nhầm thì chùa Trăm tháp ở Bình Định còn giữ lại tảng đá lớn mà Nguyễn Ánh dùng làm thớt chặt hàng nghìn người thuộc phe Tây Sơn thất trận. Tất nhiên, Nguyễn Ánh làm thế vì trước đó ông ta đã chứng kiến tận mắt cảnh bố mình bị anh em nhà Tậy Sơn chặt đôi người".
Có lần Trùm phỉ Chu Chồ Sền bảo Chu Văn Tấn: "Chúng mày vì nghèo khổ mà đi làm cách mạng. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Thế là giống nhau".
Ông ngoại của mình cũng là trùm phỉ. Vậy Phỉ là người Việt nguyên thủy nhất, thành thật nhất, có gì nói thẳng, chưa hề biết giữ mồm giữ miệng, chưa hề biết các sự nhạy cảm, chưa hề biết phân biệt tiêu cực và tích cực.
Văn hoá chặt nằm trong văn hoá ẩm thực của ta từ thời nào, những nhà nghiên cứu nên chú ý khai quật, có điều chắc chắn đó là văn hoá phỉ, là cỗi rễ Việt được phỉ giữ lại và bảo tồn đến chết. Đó cũng là yếu tố đặc thù của dân Việt (ta học được của Tàu rồi Việt hoá đi như tất cả những thứ khác) bởi vì cơm Tây, cơm Mỹ chẳng có món nào chặt như món gà luộc hay thịt chó của người mình.
Khi Lỗ Tấn nói người Trung Hoa ăn thịt người, thiên hạ đã rần rần phản đối, có thể vì cái vụ đó mà Lỗ Tấn một dạo cũng bị đem vào tủ lạnh, may nhờ lý lịch A.Q xuất thân bần cố, đã cứu và đưa Lỗ trở lại văn đàn như một chiến sĩ vô sản trăm phần trăm.
Nguyễn sinh sau đẻ muộn mà lại có mòi thâm thúy hơn Lỗ: không ăn nói hồ đồ, vô bằng chứng, mà lấy ngón trỏ chỉ thẳng vào mâm cơm bảo đấy cái dân tộc tính của mình đấy: rặt các món chém chặt. Đố ai chối được.
Từ nguồn văn hóa chém chặt, sinh ra bọn trẻ ngày nay, không chặt mà đốt như Trang, Quých, Hiệp ... Và mình bề ngoài có vẻ hiền lành, bên trong hồn nhiên là trùm phỉ hậu hiện đại.
Nếu bạo lực cổ điển có danh nghiã tốt đẹp bảo vệ xứ sở, thống nhất đất nước, những chân lý tuyệt đối không ai cãi được, thì bây giờ bọn trẻ không thèm đếm xỉa đến những khẩu hiệu lẩm cẩm quá đát ấy nữa, bạo lực hậu hiện đại coi việc đốt người như chuyện vặt, như uống coca, như làm tình, và dường như họ cũng không ý thức được tay mình có máu, bởi có chém chặt gì đâu, chỉ cần bình xăng và một que diêm là xong trong nháy mắt, tay không bẩn, quần áo vẫn lượt là láng coóng.
Hai chuyến đi song song diễn ra trước mắt người đọc, như hai cuộc vận chuyển thời gian ngược chiều, như hai thời đại gặp nhau ở đỉnh Tà Vần, trong cùng một huyệt tại vùng địa đầu biên giới có cái tên huyền thoại Việt Bắc.

Bọn trẻ đã hiểu: làm gì có lý tưởng, làm gì có tình hữu nghị anh em, cậu ơi, làm chó gì có sự tử tế giữa hai quốc gia, toàn thổ phỉ cả, mà trần trụi chỉ là chém vàchặt, là ác giả ác báo, là hận thù xuyên nòi giống, là sự rình rập, giam hãm, giăng bẫy, báo thù. Từ một quá khứ hiển vinh như thế làm gì chúng không can trường phóng xe vào ma tuý, sex và tội ác. Từ đời cha đến đời con, tất cả đều đã nhập tiệc thịt người, bà phó chủ tịch xã nói: nếu ăn thịt người chết thì sẽ trẻ mãi mãi.Bà là vị nữ anh hùng trong cuộc chiến với khựa.
Những đám mây ngũ sắc giống chiếc nơm úp thẳng xuống bí mật phong toả, càng làm nặng ký chính sách niêm phong, cấm địa, chôn vùi lịch sử, dìm tội ác xuống vùng sâu, để tạo một huyền thoại anh hùng không bao giờ hiện hữu.
Trong suốt cuộc hành hương của mình, Hiếu luôn luôn tìm cách chụp hình nhữngđám mây với ảo giác chụp được nội dung và hình thức sự phong toả con người.
Trong suốt hành trình ngược chiều quá khứ và phóng về tương lai, Hiếu gặp toàn một loạt cỏ cây, đồi núi, con người, đã bị các vết chém chặt bằm nát.
Núi Bạc tốn máu như núi Đất. Pháo của họ đã nã nát nhừ ngọn núi không lấy gì làm cao ấy, đào xới tung nó lên đến cả nửa ngày trời, sau đó mới cho bộ binh dùng súng phun lửa và hơi cay lao lên. Núi bạc không có những trận giáp lá cà kinh hoàng đến mức những ai còn sống sót sau trận ấy, dù ta hay họ đều hoá điên như ở Núi Đất, nhưng lại đầy rẫy những huyền thoại về các linh hồn.
Sông ngòi cũng một mầu: Sông Nho Quế lại đỏ, sông Bằng đỏ máu... Từ anh hùng đến thổ phỉ, từ ta đến tàu, ở hai bờ sông chia ranh, cùng một tiếng gọi đòi thủ cấp.
Cách đây hơn 20 năm, Bảo Ninh mô tả chiến tranh như một bộ máy nghiền nát tất cả, trừ tình yêu.
Nguyễn Bình Phương tiến thêm một bậc: chiến tranh nghiền nát cả tình yêu chỉ để lại tội ác, không cho con người một hy vọng nào. Bình Phương chiếu ống kính vào tội ác của một dân tộc được giáo huấn thường trực trong các bài học chiến thắng và anh hùng, mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. Chiếu vào hậu quả của các chiến thắng từ thời Lý, thời Tây Sơn-Gia Long, đến thời Cách Mạng-Thổ Phỉ, cuộc chiến Việt-Trung... Văn hoá chặt đã thấm vào máu, nằm trong mâm cơm: dân ta mải chặt mà quên sống. Vùng đất biên giới anh hùng nằm trên những xác ngưòi, chỉ tạo nên những hệ gia đình thui chột như gia đình Hiếu: Ông ngoại trùm phỉ bị chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh chiến sĩ đánh Tàu, chết vì điên, bị chuột gặm mắt và hai cánh mũi; em trùm phỉ hiện đại, bị phục kích chết ở đỉnh Tà Vần...
Sự giáo dục chiến thắng chỉ tạo nên những thánh nhân, nhưng "không một bà mẹ nào muốn con là thánh". Nền tảng đầu tiên của con người là gia đình đã bị hủy diệt. Hệ thống mây ngũ sắc chụp lên toàn lãnh thổ, khiến con người không thoát ra được vòng phong toả để tìm đến một chân trời mới. Thế hệ thanh niên, ngụp lặn trong vùng đất thánh, gây tội ác, bị rình rập, chạy lên đỉnh, bị sập lưới, đẩy xuống vực sâu. Họ chưa từng ý thức được thế nào là tội ác, trước khi lìa đời.
Thụy Khuê
Paris 20/10/2011

 
[1] Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sông Nhị, Hà Nội, 1949, trang 171.
© 2011 Thụy Khuê

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ khi nào Người Việt lại trở nên “khôn quá hóa hèn”?


Nguyễn Trọng Bình
 1. Những cuộc tranh cãi liên miên và không có hồi kết
Xem ra cuộc tranh cãi về chuyện du học sinh Việt Nam ra nước ngoài học tập rồi không về nước lập nghiệp đến giờ vẫn chưa có hồi kết. Điều đáng nói là, các ý kiến tham gia tranh luận đều chân thành và hợp lý mới... chết. Người không chịu về hay chưa muốn về thì bảo cái chính sách “trải thảm đỏ” để chọn người tài về nước làm việc (nhất là vào các cơ quan Nhà nước) thực ra là nói “dzậy chứ không phải dzậy”; và tuy không về nước nhưng trong thời đại “công dân toàn cầu” và “thế giới phẳng” hiện nay họ vẫn có thể đóng góp cho nước nhà... 
Ở chiều ngược lại, phía kêu gọi du học sinh trở về tuy không đến nỗi quá “cứng nhắc” nhưng lại cho rằng các du học sinh cũng nên nhìn lại mình, bớt than vãn, kêu ca và chỉ trích đi; đặc biệt là cần phải giữ chữ “tín” (trường hợp những người đã sử dụng ngân sách Nhà nước để đi du học). Cuộc tranh cãi cứ thế và không có hồi kết, chỉ có chuyện “chảy máu chất xám” là tiếp tục “vũ như cẩn”.
Từ đây nhìn rộng ra, mỗi ngày trên đất nước này có không biết bao nhiêu là cuộc hội thảo, hội nghị lớn nhỏ; không biết bao nhiêu vấn đề bức thiết của đất nước (cũng xin lưu ý là trừ vấn đề liên quan đến “người anh em” Trung Quốc đang thao túng đất nước và cướp đảo ngoài biển Đông) được người ta mang ra bàn thảo nhưng cuối cùng không có vấn đề nào được giải quyết rốt ráo; không có giải pháp mang tính đột phá nào để tạo ra sự thay đổi thực sự theo hướng tiến bộ và tích cực hơn.

Có lẽ nào “cái nước mình nó thế”? Người viết bài này nghĩ mãi và buộc lòng phải nhắc lại câu nói nổi tiếng của cố giáo sư Hoàng Ngọc Hiến năm nào trước khi mạo muội đặt ra một vấn đề khác nhân cuộc bàn thảo này: Người Việt hôm nay có khát vọng và ước mơ chung nào không bên cạnh cái khát vọng và ước mơ riêng (tuy rất chính đáng) của mỗi người? Có khi nào lâu nay, chúng ta đang tự lừa dối mình và “lừa nhau ngay trên quê hương” bằng những suy nghĩ cùng nhưng lời lẽ mỹ miều, trau truốt chứ thực ra chúng ta chưa biết và chưa sẵn sàng để nắm tay nhau cùng đưa đất nước này thoát khỏi tình trạng mà đã từ lâu ai nói: đất nước có rất nhiều tiềm năng nhưng lại “không chịu phát triển”. Hay cụ thể hơn đa phần chúng ta hiện nay đang trong tình trạng mạnh ai nấy sống nhưng là sống một cách lầm lũi với những tham vọng mơ hồ, huyễn hoặc; thoạt nhìn tưởng là lớn lao nhưng kỳ thực rất vặt vãnh, nhỏ nhen nếu không muốn nói là rất ích kỷ?

2. “Anh có đau không, chị có đau lòng không”?

Thật ra, nếu bình tâm nhìn lại và liên hệ vấn đề du học sinh không chịu về nước làm việc với thực trạng những người dân quê nghèo khó trên khắp 3 miền đất nước đã và đang đi vay nóng để đóng tiền thế chân cho các công ty xuất khẩu lao động với mục đích được ra nước ngoài làm ôsin cho thiên hạ; nhất là thực trạng có người dù đã đến hạn về nước nhưng lại không chịu về, chấp nhận trốn chui trốn nhũi nơi xứ người... sẽ thấy cả hai chuyện này về bản chất chẳng khác gì nhau. Có chăng một bên là lao động trí óc (nhờ có cơ hội và điều kiện học hành) còn một bên là lao động chân tay chứ kỳ thực đa phần đều chung thân phận của những kẻ làm thuê cho những “ông chủ, bà chủ” nước ngoài mà thôi.
Cho nên, có thể nói những lý lẽ và lập luận “sắc bén” từ cả hai phía trong cuộc tranh cãi trên tuy chân thành nhưng là sự chân thành trong tâm thế của những người đang có cuộc sống vui vẻ, thoải mái về đời sống vật chất; phần nhiều đang rất bằng lòng với cái “tổ ấm” của riêng mình chứ không phải là những suy nghĩ xuất phát từ tâm thế của những “kẻ trăn trở” [1] về hiện tình ngổn ngang (nếu không muốn nói là bi đát và tệ hại) của đất nước trong cái nhìn toàn cục. Hãy thử nghĩ xem tại sao dãy đất hình chữ  S thương yêu này giờ đây lại trở nên “khó ở”, “khó sống” với nhiều người đến thế? Người có học thức không chịu về vì trong nước không có điều kiện để thi thố tài năng đã đành nhưng đến những người lao động chân tay cũng thà chấp nhận trốn chui trốn nhũi nơi xứ người là sao? Tại sao một đất nước, một dân tộc có bề dày lịch sử, văn hóa rất lâu đời; có “rừng vàng biển bạc” và đang trong thời kỳ “dân số vàng” nhưng giờ đây người ta lại phải tranh nhau sang xứ người bằng mọi giá?
Nhớ lại cách nay đúng ba mươi năm, ngay sau Đại hội Đảng 1986, tưởng đã được “cởi trói” thật sự, nhạc sĩ Trần Tiến khi ấy cũng đã cảnh báo chuyện người Việt phải trôi dạt muôn phương trong ca khúc có nhan đề “Trần trụi 87”. (Tương truyền” cũng vì chuyện này mà ông đã phải “lên bờ xuống ruộng” đến nổi phải nhờ đến sự bảo lãnh của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt ông mới thoát nạn bị... “mũ đè”). Thế nhưng, xem ra những lời gan ruột của người nhạc sĩ năm nào giờ đây vẫn còn nguyên tính thời sự. Nghĩa là người Việt, dù tài năng hay không tài năng vẫn phải tranh nhau ra xứ người để “tìm miếng bỏ vào mồm”; là chủ đề chính cho cuộc tranh cãi hôm nay. Hãy cùng ngẫm lại mấy dòng dưới đây của Trần Tiến để xem có phải vậy không?
“Tôi đã thấy bạn tôi đi buôn trên đường phố Nga,
Bạn tôi lang thang trên đường phố Mỹ
Bạn bè lừa nhau ngay trên quê hương
Cũng chính vì...
Anh có đau không ? 
...Tôi đã thấy bạn tôi lao công trên đường phố Nga,
Bạn tôi xây bao công trình cho Mỹ
Người Việt tài năng lang thang nơi đâu
Xa dấu quê nhà .....
Anh có đau không? Tôi đã thấy người Việt năm xưa con Rồng cháu Tiên
Thật thà yêu thương nhau xây dựng nước
Người Việt nào giờ đây lo toan riêng tư
Khôn quá hoá hèn
Anh có đau không
Chị có đau lòng không”? [2].

***
3. Thay lời kết

         Thật là trái khoái vì trong khi cả nước đang sục sôi về một kỳ Đại hội nữa của những người trong Đảng; và trong khi những người “có trách nhiệm” (trước mỗi kỳ Đại hội) đều luôn miệng bảo vấn đề “sàng lọc” tìm kiếm người “đủ đức đủ tài” để dẫn dắt, lèo lái con thuyền dân tộc vốn được làm rất nghiêm túc, cẩn trọng vậy mà giờ đây cả xã hội lại cãi nhau chuyện nhân tài đất nước đang trôi dạt muôn phương và không chịu về nước làm việc! Hay chính xác hơn là những người có thực tài vốn từ lâu đã không mặn mà hoặc có mặn mà nhưng lại không có cơ hội đứng trong hệ thống bộ máy công quyền quản lý Nhà nước (vì những rào cản vô hình nhưng được ngụy biện là “đúng quy trình”). Nếu vậy thì có tin được không những lời phát biểu cam đoan việc tìm kiếm, tuyển chọn, “sàng lọc” những người “đủ đức đủ tài” được làm rất nghiêm túc và cẩn trọng? Hay giả cứ cho là nghiêm túc, cẩn trọng thật đi nhưng phải chăng đó là sự nghiêm túc, cẩn trọng của những cái đầu được điều khiển bởi lối tư duy bảo thủ, độc đoán và duy ý chí?
Không biết từ lúc nào nhiều người Việt hôm nay lại trở nên rất... khó hiểu. Đặc biệt là với những người hay nói mình “thích” sự chân thật trong cuộc sống và luôn miệng kêu người khác hãy nhìn thẳng vào sự thật và gọi tên nó ra. Thế nhưng, khi đối diện với những lời nói thật thì chính họ chứ không phải ai khác lại đập bàn quát tháo và bảo rằng “thằng nọ, con kia” nói chuyện“sai quan điểm, mất lập trường” quá! Chao ôi, chỉ vì chuyện“sai quan điểm, mất lập trường” này mà đã cản trở, ngăn cách người Việt đến với nhau và nhất là không thể ngồi xuống đối thoại với nhau để giải quyết nhiều vấn đề bất cập và bức thiết của đất nước! Hay tệ hơn, đã làm cho người Việt hôm nay không thể cùng nhìn về một hướng nhằm đưa đất nước này thoát ra cái “ao làng” đang ngày một rất “đục” và dơ!
-------------
Chú thích:
[1]: “Kẻ trăn trở” - tên quyển sách của TS Lương Hoài Nam.
[2]: Trích ca từ trong bài hát “Trần trụi 87” của nhạc sĩ Trần Tiến.
  Cần Thơ, 12/2015
NTB
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 16-12-15
http://www.viet-studies.info/NTrongBinh_KhonQuaHoaHen.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đặng Tiểu Bình 'hiểu gì về VN?'


Image copyrightAP
Image captionĐặng Tiểu Bình thăm Hoa Kỳ ngày 29/01/1979, không lâu trước khi cho quân đánh Việt Nam
Cuốn sách mới xuất bản của một sử gia người Anh hé lộ những chi tiết thú vị liên quan đến Việt Nam trong quan hệ Liên Xô-TQ thời cuối Chiến tranh Lạnh.
Sử gia Robert Service, người Anh, vừa ấn hành cuốn ‘End of the Cold War: 1985-1991’, khai thác những tài liệu trong văn khố Nga mà cho đến nay chưa ai biết.
Tuy nội dung cuốn này tập trung vào quan hệ Liên Xô-Mỹ, tác giả dành hẳn chương 33 nói về quan hệ Trung -Xô thời điểm ấy.
Chương này mô tả những gì Tổng bí thư Mikhail Gorbachev, Eduard Shevardnadze (Ngoại trưởng Liên Xô), Đặng Tiểu Bình (Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc) và Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng bàn về Việt Nam.
Tác giả viết: “Ông Đặng không giấu giếm sự hoài nghi của mình về chính sách cải tổ (perestroika) của Liên Xô trong lúc Gorbachev thận trọng vì mối quan hệ với Washington có thể bị tổn hại nếu Moscow trở nên thân thiện với Bắc Kinh."
Image copyrightxinhua
Image captionĐặng Tiểu Bình (trái) tuyên bố không ai hiểu giới lãnh đạo Việt Nam hơn ông ta
Khi Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu hợp tác, Gorbachev và Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô muốn duy trì cơ sở hạt nhân gần biên giới với Trung Quốc.
"Tháng 12/1988, Shevardnadze hoan nghênh Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham đến Moscow và hứa hẹn rằng Gorbachev muốn hai nước xích lại gần nhau.
Đổi lại, ông Tiền cam đoan rằng Bắc Kinh muốn cải thiện quan hệ với Liên Xô. Ông đánh giá cao về lời đề nghị của Shevardnadze giúp đẩy quân đội Việt Nam ra khỏi Campuchia.
Trong một thời gian dài, Gorbachev che đậy sự bi quan về Việt Nam và nền kinh tế mà ông cho là có đến mười triệu người thất nghiệp. Ông muốn làm suy yếu mối quan hệ của Moscow với TP Hồ Chí Minh (đúng ra là Hà Nội, ghi chú của BBC), thay vào đó là ưu tiên việc hòa giải với Trung Quốc..
Trong một đoạn khác, Robert Service tiết lộ, Thủ tướng Lý Bằng gửi thông điệp đến Gorbachev rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận tình trạng phụ thuộc vào Liên Xô.
Image copyright
Image captionTấm pano thể hiện tình hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc
Gorbachev phủ nhận khả năng Liên Xô tận dụng Việt Nam để gây rắc rối cho Trung Quốc. Ông Lý tái khẳng định Trung Quốc muốn giữ vị trí độc lập và tránh vai trò 'tiểu đệ' của Liên Xô.
Ông tuyên bố với Gorbachev rằng Trung Quốc và Liên Xô khó bình thường hóa quan hệ nếu Kremlin không thay đổi chính sách về Afghanistan và Campuchia.
Ông Lý mạnh miệng phản đối việc Moscow hậu thuẫn cho quân đội Việt Nam hiện diện trên lãnh thổ Campuchia.

'Phép thử'

...Shevardnadze thấy rằng Moscow cuối cùng sẽ phải lựa chọn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tình đồng chí giữa Liên Xô với Việt Nam thời điểm đó đang gặp trở ngại. Các nhà lãnh đạo Việt Nam phản đối khi Shevardnadze đề nghị thăm Campuchia.
Shevardnadze đã không thể thuyết phục ông Lý về ý chân thành của Hà Nội rút quân tại Campuchia tháng 9/1989. Ông Lý nói, Trung Quốc “hiểu rõ về Việt Nam hơn Liên Xô (hiểu)”.

Image copyrightcorbis
Image captionQuân Việt Nam tại Campuchia
Bày tỏ sự không tin tưởng vào Hà Nội, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ không có hòa bình tại Campuchia cho đến khi Việt Nam thực sự rút hết quân.
Trong thời điểm tiền đồng Việt Nam mất giá nghiêm trọng, điện Kremlin để ngỏ khả năng chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Nhưng điều này vẫn không thể khiến ông Đặng hài lòng. Ông Đặng cho rằng không ai hiểu giới lãnh đạo Việt Nam hơn ông ta.
Ông Đặng chống lại Việt Nam nhằm tiến tới thiết lập một Liên bang Đông Dương nằm dưới sự bảo trợ của họ.
Shevardnadze nhận ra rằng Trung Quốc dùng Việt Nam và Campuchia như phép thử sự chân thành của Liên Xô trong việc hàn gắn quan hệ.
Shevardnadze sau đó ‘né’ thăm Việt Nam, như một chỉ dấu cho thấy lãnh đạo Liên Xô đã lựa chọn ưu tiên cải thiện quan hệ với Trung Quốc.
Image copyrightReuters
Image captionGorbachev và Đặng Tiểu Bình - hình tư liệu
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chịu khó đọc sách vở cập nhật và có hệ thống hơn một tý đi, đấy cũng là một cách thể hiện tình yêu quê hương, đất nước đấy.

Nghe mấy người xì xào Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 365 lại “cống hiến” thêm một bài phê bình chỉ điểm nữa của “quý ông” lấy bút danh Hạ Ngọc Quang là tôi liền chạy ngay qua nhà bạn mượn báo. Đọc xong bài viết Không có “chiến tranh của mỗi người” tôi muốn khuyên tác giả bỏ cái tên Ngọc Quang đi mà thay vào đấy là Tiện hoặc Bộ thì hợp với nội dung bài báo hơn. Nhưng cho dù bài viết tệ hại thế nào đi nữa thì không thể phủ nhận là họ Hạ đã thể hiện tinh thần yêu nước rất nồng nàn, thậm chí ngoài sức tưởng tượng. Có lẽ vì yêu nước quá nên ông quyết định “chỉ điểm” Đoàn Ánh Dương vì cái tội viết về văn học chiến tranh không theo tinh thần ái quốc của riêng ông. Sau khi “khóc” một thôi một hồi cho đất nước cũng như tinh thần lạc quan của dân tộc, cuối cùng ông cũng cài được một câu chỉ điểm rất rõ ràng
Nếu lại cấp cho bạn một học vị Tiến sĩ nữa, cũng như luận văn của Nhã Thuyên...thì Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đang làm cái việc mua đạn tự bắn vào mình. (Không có “chiến tranh của mỗi người”, VNTPHCM số 365).
Thực ra yêu nước thì cũng tốt thôi nhưng bài viết thể hiện lòng yêu nước cũng nên viết cho kỹ càng một tý. Chỉ một câu “đâm” ra thôi đã cho thấy dã tâm cũng như sự bất ổn về tư duy logic cũng như năng lực diễn đạt của tác giả bài viết, điều này chắc sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy. Thứ nhất, cái bằng mà Nhã Thuyên bị thu hồi là bằng thạc sĩ, cứ viết ào ào như thế thì người đọc dễ hiểu nhầm Nhã Thuyên là tiến sĩ và nơi cấp bằng cho cô là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Để tôi đặt câu lại cho nó mạch lạc hơn, đọc lại rồi rút kinh nghiệm cho bài “chỉ điểm” đóng mác yêu nước lần sau nhé:
Nếu lại cấp cho bạn một học vị Tiến sĩ nữa, cũng như trường Đại học Sư phạm phạm đã từng cấp cho Nhã Thuyên một học vị thạc sĩ thì Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đang làm cái việc mua đạn tự bắn vào mình.
Điểm ngớ ngẩn thứ hai, do mải mê thể hiện tinh thần yêu nước quá nên “quý ông” “chỉ điểm” hơi vội vàng. Cả bài viết của họ Hạ từ đầu đến cuối tấn công bài báo Chiến tranh của mỗi người của Đoàn Ánh Dương đăng ở Văn nghệ Thái Nguyên số 21 ngày 26-5-2015, vậy thì liên quan gì đến việc nghiên cứu sinh Đoàn Ánh Dương chuẩn bị nhận học vị Tiến sĩ. Luận án của Ánh Dương chưa được công bố rộng rãi, chỉ có giáo viên hướng dẫn, các thầy cô ở vòng bảo vệ cấp cơ sở và hai thầy cô phản biện kín được đọc thôi. Phải sau khi bảo về cấp Học viện nó mới được đưa vào thư viện Quốc gia và thư viện của Học viện Khoa học xã hội để mọi người có thể tham khảo. Lý do gì mà quý ông biết được tiến trình bảo vệ luận án để rồi chỉ điểm sớm sủa thế? Một, ông chính là người đã từng tham gia đánh giá luận án. Hai, ông được kẻ đó thuê để chỉ điểm Đoàn Ánh Dương. Nhưng tiếc là chỉ điểm sớm quá, vội vàng tố giác nạn nhân khi chưa có bằng chứng buộc tội nào. Tôi cho rằng ông bị hoang tưởng và có nguy cơ bị truy tố về mặt pháp luật bởi ít nhất ba lẽ sau. Thứ nhất, làm luận án khoa học là có quyền đưa ra các giả thuyết khoa học để trình Hội đồng chuyên gia đánh giá. Giả thuyết có thể sai hoặc chưa được chấp nhận, nhưng đó là quyền của nghiên cứu sinh được các nhà khoa học cho phép. Ông tự cho mình là “chủ tịch Hội đồng” đánh giá chăng? Thứ hai, khi tác giả nghiên cứu chưa công bố mà người khác “xía vào” như ông theo lối không mời mà tới, thì pháp luật coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Thứ ba, công bố luận án thuộc về quyền cá nhân, vậy mà ông nhanh nhảu “công bố hộ”, thì đó xâm phạm bảo mật thông tin. Luận án thì chưa công bố, dựa vào một bài báo của Ánh Dương in trên một tờ báo địa phương để hi vọng luận án của anh ta bị đình chỉ là một hành động hồ đồ, thiểu năng. Tôi cũng không hiểu loại người nào sẽ tiếp tục lắng nghe ông, một bồi bút “chỉ điểm” hoang tưởng và không biết tôn trọng pháp luật.
Trở lại với nội dung bài báo Không có “chiến tranh của mỗi người” của Ngọc Quang, nội dung thì quả là yêu nước thiết tha nhưng tính khoa học lại thấp kém quá. Các nhà phê bình “chỉ điểm” tuy yêu quê hương đất nước thật nhưng đất nước cũng cần những cây bút có cả tâm lẫn tài đấy. Do đó, mấy “quý ông” cần phải được đào tạo lại, những người thuê mấy “quý ông” nên chịu khó bỏ tiền ra đầu tư cho các vị học ngoại ngữ và mua sách vở cập nhật. Loanh quanh mãi vẫn mấy chiêu cắt xén, suy diễn, quy chụp. Kiến thức thì nông cạn, lặt vặt và rất thiếu hệ thống. Ngay cái tiêu đề đã thấy ấu trĩ rồi, Không có “chiến tranh của mỗi người”. “Quý ông” yêu nước thì cứ yêu thôi, ai can thiệp đâu, sao lại cấm con người ta cảm nhận về chiến tranh theo cách riêng của mình. Cái mà gọi là point of view (quan điểm) của người sáng tạo ông định quăng vào nồi để thết đãi Chu Giang à? Ông có point of view của bồi bút “chỉ điểm” thì các nhà văn cũng phải có quan điểm của mình chứ. Bài học vỡ lòng về sáng tạo mà ông cũng không tường tỏ thì biết làm sao với ông bây giờ. Chiến tranh và hoà bình, Chuông nguyện hồn ai, Phía Tây không có gì lạ... đều là những tuyệt tác về chiến tranh của thế giới. Mấy đại văn hào đó mà không cảm nhận chiến tranh theo cách của riêng họ thì là cách của... Chu Giang và họ Hạ sao? Văn học mà, có phải tranh cổ động đâu. Lần sau quý ông “chỉ điểm” thì chỉ một ngón thôi, cứ xoè mười ngón tứ tung như thế thì sai nha biết gô cổ ai, không khéo bị phạt vạ mấy roi vào mặt. Đã thế, tình yêu nước của ông càng viết càng trào dâng, đáng kể nhất là những lời “quý ông” giáo huấn về đạo đức và tình người cho Đoàn Ánh Dương.
Chính là sau chiến tranh, trong cuộc sống thời hậu chiến mỗi con người phải suy nghĩ sâu rộng hơn rất nhiều về mọi phương diện mọi khía cạnh mới có thể tự chủ được mình và nhìn cuộc đời một cách đứng đắn. Ở đây tri thức chưa đủ, mà nó cần một trái tim Người, cần một lòng nhân ái trên đỉnh cao của văn hoá. (Không có “chiến tranh của mỗi người”, VNTPHCM số 365).
Thực ra nếu yêu mến cái nghề bồi bút đến vậy thì cứ chuyên tâm mà theo suốt đời, đừng có tự dưng một ngày làm mục sư đứng lên rao giảng về trái tim và lòng nhân ái mà bạn đọc hoảng sợ đấy. Rồi lại còn “lòng nhân ái trên đỉnh cao của văn hoá”, văn hoá nào đây, văn hoá chỉ điểm à? Chưa hết, “quý ông” còn dậy dỗ các nhà văn Việt Nam, trong đó có Bảo Ninh là phải viết văn về chiến tranh ra làm sao cho nó phải đạo.
Đáng lẽ văn học viết về chiến tranh phải tái hiện được đôi tay của những con người “nhằm thẳng vào quân thù mà bắn” trong chiến tranh và đôi tay thân thiện chào đón đối phương cùng hợp tác hữu nghị hướng tới tương lai... Tâm hồn, tâm trạng của những con người như thế sẽ không bao giờ là đơn giản một chiều, là “mĩ học” đồng phục cả! Rõ ràng là văn học đổi mới cực đoan đã đi chệch hướng nghiêm trọng. Mà sao ầm ĩ thế. (Không có “chiến tranh của mỗi người”, VNTPHCM số 365)
Yêu nước gì mà giỏi thế, còn hơn cả kép diễn hạng tư, sáng vào vai Chí Phèo, chiều nhập vai AQ mà chẳng cần thay trang phục. Tôi đố họ Hạ tìm được tác phẩm văn học nổi tiếng nào đáp ứng được cái nhu cầu ông đưa ra đấy. Hôm nào thử qua Bắc Triều Tiên xem thế sao, hình như bên ấy vẫn chưa tới giai đoạn “chào đón đối phương cùng hợp tác” nên văn học chưa chạy đua theo được đâu. Theo tôi, ông chỉ còn cách chọn ra một cán bộ phụ trách văn hoá phường, những cái người mà hay viết tin cho loa phát thanh của phường về tuyên truyền về sinh đẻ có kế hoạch hoặc phòng chống dịch sởi ấy. Đào tạo một vài năm chưa đủ đâu, phải áp dụng thêm những liệu pháp như thôi miên, ám thị, sử dụng thuốc gây ảo giác... thì may ra mới biến anh ta thành được một “chòi văn” như ông mong muốn. Dường như khát vọng đào tạo những cây bút văn chương tuyên truyển cổ động với họ Hạ chưa đủ, “quý ông” còn muốn dùng những người tốt (bẩm sinh) để khắc phục cái cơ chế xã hội ông đang chịu đựng. Sao lại ngớ ngẩn và ấu trĩ đến vậy.
Mọi tệ nạn xã hội, quan liêu tham nhũng hối lộ... đều do con người cụ thể làm nên. Tất nhiên có nguyên nhân cơ chế. Nhưng con người tốt, vững, có sức mạnh, chủ động, thì không cơ chế nào làm biến chất được. (Không có “chiến tranh của mỗi người”, VNTPHCM số 365)
“Quý ông” đã biết được sự tha hoá của con người trên diện rộng là do nguyên nhân cơ chế xã hội thì cũng không phải là loại người toàn tâm toàn ý với sự lãnh đạo của Đảng đâu. Lòng yêu nước của ông bắt đầu biến thái rồi đấy. Thực ra trong thâm tâm ông cũng khao khát một cơ chế mới, vậy là tự chỉ điểm trúng bản thân rồi nhé. Không cứu vãn được đâu. Lần sau thì bảo kẻ thuê ông “chỉ điểm” đọc kỹ lại bài một tý, mất điểm quá, có cấp trên nào lại muốn dùng những thứ tay chân hai mang như các ông. Lúc mà có sự biến gì thì những người như các ông sẵn sàng quay ra thoá mạ Đảng Cộng sản, giống y như trường hợp Trần Mạnh Hảo. “Quý ông” bồi bút này cứ tưởng đa nguyên đến nơi rồi nên quyết định “đi tắt đón đầu”, đang “đánh thuê” mấy thầy bên trường Sư phạm bỗng chuyển phắt sang thóa mạ Đảng và nhà nước. Thế nhưng chờ mãi có thấy gì đâu. Thật bẽ bàng. Hậu quả bây giờ chẳng ai thèm đả động đến, im hơi lặng tiếng cũng đến mấy năm rồi. Lòng yêu nước biến thái hay sự tráo trở của các ông đã và đang khiến nhiều người có khuynh hướng bảo thủ chuyển sang đánh giá lại mấy người “đổi mới”, “ngoại biên”, “hậu thực dân” đấy, tuy không dễ bảo, ngoan hiền nhưng họ chỉ đi đúng con đường đã chọn. Cầm bút vì lý tưởng khoa học chứ không vì những lợi ích thấp hèn.
Thưa “quý ông” họ Hạ, thể hiện tình yêu Tổ quốc nước thì cũng kín đáo, tế nhị một tý. Sấn sổ, sỗ sàng như thế thì không phải là yêu đâu mà là quấy rối đấy. Đừng có để Tổ quốc phải xấu hổ đến mức phải lấy tay bưng mặt khi nhắc đến tên ông và đám “chỉ điểm” đồng môn. Chỉ vì muốn hãm hại Đoàn Ánh Dương mà ông tự cho phép mình thay mặt những người yêu nước làm điều vô đạo. Ông gieo hận thù vào giữa hai thế hệ trưởng thành trong thời chiến và thời bình. Ông hi vọng sẽ lôi kéo được những ai đã trải qua thời chống Mỹ vào phe mình để gây sức ép từ cộng đồng “xử” Đoàn Ánh Dương. Nhưng ông thơ ngây quá, các cựu chiến binh không có nhiều thời gian rỗi như ông đâu. Họ còn lo làm kinh tế cho gia đình, làm những việc công đức như tìm mộ liệt sĩ, hỗ trợ trẻ em nhiễm chất độc da cam... Họ không có thời gian đọc những bài báo kiến văn thấp kém mà lại mang đầy ý đồ hãm hại. Chúng tôi đọc bài ông viết cứ như bị đầy đọa, ngán ngẩm cho một thế hệ “chỉ điểm” già nua, mất nết và tà muội. Ngán ngẩm luôn cho những kẻ thuê mướn những người như các ông để hãm hại đồng nghiệp. Các ông nên học lại cách yêu quê hương đi. Tổ quốc không đòi hỏi gì nhiều từ các ông đâu, hãy sống cho tử tế và đừng tìm cách làm hại những người lương thiện. Chịu khó đọc sách vở cập nhật và có hệ thống hơn một tý đi, đấy cũng là một cách thể hiện tình yêu quê hương, đất nước đấy.
Lưu Bê Phốt


Phần nhận xét hiển thị trên trang

một nghệ sĩ đu dây ngoại hạng

 
Những khuôn mặt của chúng ta
là những bản tiểu sử của chính chúng ta
chúng ghi lại những đức hạnh
những sự lừa dối
những lần chúng ta vấp ngã
cũng như mỗi khi chúng ta đứng dậy
những lúc chúng ta thoả hiệp với tội ác
những lúc chúng ta nhân danh lịch sử để phát ngôn
những lúc chúng ta hành xử như một kẻ hèn nhát
và mỗi dịp chúng ta can đảm đứng về phía công lý
 
những khuôn mặt của sự chết
là những bản tiểu sử
ghi lại hành trạng và công đức của những anh hùng
đứng trên những ngọn sóng thời gian
như một nghệ sĩ đu dây ngoại hạng
 
13/12//2

Phần nhận xét hiển thị trên trang