Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

Bài đặc biệt dành cho người yêu nước Việt:

Lịch sử Việt - Trung và những hậu quả, hệ lụy

Nhiều tư liệu lịch sử về thư tịch và khảo cổ đã được thế giới công bố cho thấy nền văn minh Trung Hoa phát triển lớn là còn có sự đóng góp đáng kể của văn minh Lạc Việt suốt mấy nghìn năm...

Sách sử Trung Quốc từ thời cổ đại đến sau này viết nhiều về Việt Nam hơn bất cứ một quốc gia nào trên Thế giới. Trên thế giới, không nước nào hiểu rõ Trung Quốc như Việt Nam, cũng không có nước nào hiểu sai về Việt Nam như Trung Quốc.
Nhìn lại hiện thực lịch sử Việt – Trung qua hàng vạn tài liệu sử và khảo cổ của học giả Trung Quốc, Việt Nam… Việt Thường là quốc hiệu nhà nước cổ đại đầu tiên của Việt Nam đã vượt hàng nghìn cây số đến Trung Nguyên để thực hiện sự giao thương hữu nghị với Trung quốc.
Sách Thông giám Cương mục của Chu Hi đời Tống, sách Thượng thư Đại truyện, Ngự phê thông giám (quyển I) đều có ghi: Năm Mậu Thân đời Đường Nghiên thứ 6 (Triều đại Trung Hoa cổ đại từ năm 2,353 Tr.CN đến 2,258 Tr.CN), Nam di là Việt Thường qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ khoa đẩu chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch”.
Có không ít các học giả Trung Quốc và Việt Nam cho rằng người Việt là một biệt chủng của người Hoa Hạ (Hán), rằng văn hóa, phong tục, tín ngưỡng tôn giáo Việt chủ yếu là của Trung Quốc truyền sang. Sự khai hóa của Trung Quốc với Man di Việt không những được sử sách Trung Quốc ghi chép mà còn được chính sử Việt Nam như Đại Việt sử ký Toàn thư, Việt Nam sử lược,… Gần đây nhất, một số sử gia Việt Nam cuối thế kỷ XX cũng cho rằng “Thời đại Hai Bà Trưng (Năm 39 – 43 sau Công Nguyên), người Việt không có họ, họ do người Trung Quốc mang sang”.

Ngày nay trong một thế giới thông tin và hội nhập đã công bố một sự thật hoàn toàn trái ngược với các ghi chép nô dịch trên. Có hàng nghìn, hàng vạn các tư liệu lịch sử về thư tịch và khảo cổ đã được thế giới công bố chứng minh rằng nền Văn minh Lạc Việt là một trong các nền văn minh tối cổ, phát triển rực rỡ, sớm hơn nền văn minh Hoa Hạ - sau này gọi là Hán.
Lãnh thổ quốc gia Việt (Bách Việt trong đó tộc chính là Lạc Việt) rất rộng lớn, buổi đầu vua Việt là Kinh Dương Vương, vậy nên sau này vùng đất của người Việt từ hồ Động Đình và toàn bộ cương vực Bách Việt ở phía nam sông Trường Giang (nay là toàn bộ các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây, Chiết Giang, Phúc kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tỉnh Vân Nam) Dương tử) Trung Quốc ngày nay đến phía Nam tới đồng bằng sông Hồng, sông Mã xuống tận nam Trung bộ Việt Nam.
Phần lãnh thổ phía Bắc Bách Việt được các sử gia Trung quốc gọi là đất Kinh Dương, tính theo niên biểu lịch sử cách ngày nay 4,879 năm (Thư tịch cổ viết nhiều về nhà nước Việt Thường của người Lạc Việt là vào khoảng năm 2879 Tr.CN. Sử sách còn ghi rõ:"Vua của Việt Thường gọi là Lạc Vương”.
Sang cuối thế kỷ thứ II sau Công Nguyên vùng đất miền Trung và Nam Việt Nam bị xâm chiếm bởi tộc người Malayo-Polynesian di cư đến từ Borneo, thường gọi là người Chăm. Năm 192 sau Công Nguyên (thời đại văn hóa Sa Huỳnh) lập nên các quốc gia Lâm ẤpHoàn VươngChiêm Thành(Campanagara) và Thuận Thành (Nagar Cam) ở vùng từ Quảng Bình ngày nay trở vào đến đồng bằng Nam Bộ và cả nước Khmer bây giờ.
Vì lẽ đó, sau khi Ngô Quyền khởi nghĩa giành độc lập, xưng vương vào năm 939 sau CN thì Việt Nam chính thức chuyển sang thời kỳ phong kiến tự chủ, các triều đại Đại Việt đều đem quân đánh vào phía Nam để lấy lại đất cũ Việt Thường bị người Chăm chiếm. Cuối cùng vào năm 1832 thế kỷ XIX, đã kết thúc toàn bộ nhà nước Champa. Dân tộc Champa đã sống hòa hợp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Sách Luận thành của Vương Sung viết: “Quận Nhật Nam ở cách đất Lạc Dương gần 10,000 dặm”, Lý Thuyên ghi: “Từ Phủ An Nam đến Trường An cách 7,250 dặm”.
Lãnh thổ của người Việt xưa được ngăn đôi nam bắc với lãnh thổ của người Hoa Hạ (Hán) bằng dãy Ngũ lĩnh, phía nam dãy núi Nam Lĩnh gọi là Lĩnh Nam. Từ cổ xưa, núi cao nhất trong Ngũ Lĩnh được đặt tên là Việt Thành lĩnh (có đỉnh Miêu Nhi Sơn (猫儿山) cao 2.142 m) có nghĩa là núi cao như tòa thành của Việt Thường ngăn cách với phương Bắc.
Trên núi Đại Minh ngày nay vẫn còn đôi câu đối cổ khắc sâu vào vách đá:“Thiên đài đại đại phân Nam, Bắc / Lĩnh địa niên niên giữ Việt thường”. Nghĩa là:“Thiên đài đời đời phân chia Nam, Bắc/ Đất cũ ngàn năm của Việt Thường”. Văn học dân gian Việt Nam có câu ca dao cổ còn truyền tụng“Tháng Năm ngày Tết Đoan Dương, là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”.
Tất cả di tích của người Việt cổ cùng nhiều đền thờ các Nữ Tướng Hai Bà Trưng nay vẫn còn ở vùng hồ Động Đình, núi Tam Sơn, núi Ngũ Lĩnh, sông Tương, Thiên Đài, Tương Đài, cánh đồng Tương,…ở phía Nam sông Trường Giang. Thời Nhà Đường (từ năm 618 đến năm 907 sau CN), Tiến sĩ đời Đường là Chu Minh Văn viết sách Thiên đài di sự lục vào niên hiệu Trinh Quán (Niên hiệu của vua Đường Thái Tôn Lý Thế Dân. Năm Đinh Hợi – 627 sau CN là năm Trinh quán thứ 1 đến năm Kỷ Dậu - 649 sau CN) có ghi rõ: “Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên - đài có từ thời vua Đế Minh, vua Kinh Dương.
Đến thời Đông Hán, một tướng của vua Bà (Hai Bà Trưng) tên Hiển Hiệu được lệnh rút khỏi Trường - Sa. Khi quân tới Quế - Dương, ngài cùng với nghìn quân lên Thiên đài lễ, nghe người giữ Đền kể sự tích xưa của Quốc Tổ Kinh Dương Vương và Quốc mẫu Thiên Hoàng Liễu Nghi (Thánh Mẫu Việt). Ngài đã cùng quân sĩ quyết tử để giữ đất Việt, giết chết mấy vạn quân của Phó Tướng Lưu Long. Về sau đến đời Nhà Đường để xóa vết tích Việt Thường, các quan khi được sai sang đô hộ Lĩnh Nam là đất cũ của người Việt mới cho xây chùa tại đây”.
Bên ngoài miếu thờ Đào Hiển Hiệu tướng của Hai Bà Trưng cùng một nghìn quân sỹ đã quyết tử tại ải hiểm yếu độc đạo tại Bắc núi Nam Lĩnh để ghìm chân đại quân Mã Viện do Lưu Long làm Phó tướng, vẫn còn đôi câu đối khắc trên đá: “Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ - đế/ Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long”.
Nghĩa là: “Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Động - đình làm kinh sợ vua Vũ đế (Ý nhắc đến sự kiện nữ tướng Phật Nguyệt của Hai Bà Trưng đón đánh Mã Viện ở phía Nam hồ Động - đình. Vũ đế là Hán Quang Vũ nhà Đông Hán)/ Một nghìn tay đao Bắc Lĩnh giữ Lưu Long”.
Người Lạc Việt đã phát minh ra chữ Việt cổ gọi là chữ Khoa đẩu, ngày nay còn lưu giữ trên di tích khảo cổ các mảnh gốm văn hóa Hòa Bình, trên rìu đá Bắc Sơn, trên bãi đá Sapa, trên trống đồng Lũng Cú,… có niên đại xa nhất là cách đây hơn 12,000 năm. Học giả Trung Quốc Lí Nhĩ Chân đã viết: “Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt - tỉnh Quảng Tây truyền phát tin tức là người Lạc Việt ở Trung Quốc đã sáng tạo chữ viết vào bốn nghìn năm trước.
Phát hiện chữ viết của người Lạc Việt lần này sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, chứng minh văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu của văn hóa Trung HoaLịch sử hình thành dân cư Trung Quốc mới phát hiện, thì thời gian này trên địa bàn Trung Quốc chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa ra đời, chứng tỏ rằng đó là chữ của người Lạc Việt từ bãi đá Sapa đi.
Nhà Thương là một dòng dõi Việt sống ở nam Hoàng Hà nên cùng sở hữu chữ viết tượng hình này. Sau này trên cơ sở Giáp cốt và Kim văn, cộng đồng người Việt và Hoa trong Vương triều Chu chung tay xây dựng chữ tượng hình Trung Hoa" ( Trích nguyên văn Báo cáo nghiên cứu Khảo cổ học Trung Quốc ngày 20/2/2012).
Cùng với chữ viết, triết học Việt cổ thể hiện trong Đạo Thánh Mẫu Việt với Giáo lý hoàn thiện Đạo đức Gia đình làm gốc của xã hội có tục thờ ba bát hương Thần linh, Gia tiên đã được phát hiện trong tro than của 3 hố đất tại di chỉ Phùng Nguyên và Đồng Đậu 3,000 năm đến 2,500. Tr.CN.
Tháng 10 năm 2011, phát hiện di chỉ đàn cúng tế, hình vẽ khắc của người Lạc Việt ở Cảm Tang, thị trấn Mã Đầu, huyện Bình Quả, tỉnh Quảng Tây. Hội nghiên cứu Văn hóa Lạc Việt phát hiện mấy chục khối mảnh rìu có vai (Học giả Trung Quốc gọi Rìu đá có vai của Lạc Việt là xẻng) có khắc hàng nghìn chữ Việt cổ.
Bộ môn khảo cổ uy tín của Nhà nước Trung Quốc giám định niên đại chữ viết trên đá của người Lạc Việt là 4000 - 6000 năm Tr. CN. Kết quả này xác nhận chữ viết của người Lạc Việt cổ phát hiện ở trong di chỉ Cảm Tang có sớm hơn chữ Giáp cốt của nhà Thương ở Trung Nguyên đến hơn 1,000 năm.
Kinh tế Việt thời cổ đại đã phát triển rất cao từ bên trong, hoàn toàn không có bất cứ sự ảnh hưởng nào từ Trung Quốc. Các nhà khoa học thế giới công nhận Việt Nam là nơi phát sinh, phát triển kỹ thuật trồng lúa nước, lúa cạn từ thời kỳ Văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn có niên đại hơn từ 10,000 năm đến 8,000 năm Tr.CN.
Oppenheimer - Tiến sỹ Đại học Oxford Anh quốc khi nghiên cứu hệ thống các chứng cứ khảo cổ học của nền Văn minh Đông Nam Á đã đề ra thuyết Văn minh Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh phương Tây. Về di tích lúa gạo do canh tác, các khảo cổ phân tích qua sự tăng phytolith của lúa (phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ giàu chất silicat) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian.
Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths - thạch thể lúa đã xác nhận trồng lúa nước phát sinh đầu tiên ở Việt Nam, qua việc thuần hóa giống lúa hoang Oryza falua Koenig, hiện vẫn còn thấy ở một số vùng Việt Nam, rồi từ đó giống lúa Việt này được truyền bá tới các khu vực khác trên thế giới ( M.O Cosven TL49, T.Rosevich T.L 13, Sasato T.L 148).
Nhiều thư tịch cổ cũng ghi chép về trồng lúa nước ở Việt Nam từ xa xưa như các sách Di vật chí của Dương Phù thời Đông Hán, Thuỷ Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên, thời Bắc Nguỵ, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, … sách Dị vật chí của Dương Phù thế kỷ I Tr.CN, sách Thủy Kinh chú cũng viết rằng: “Lúa ở Giao chỉ chín hai mùa vậy, nơi gọi là bạch điền thì trồng lúa trắng, tháng bẩy làm thì tháng mười chín. Nơi gọi là xích điền thì trồng lúa đỏ, tháng chạp làm thì tháng tư chín”.
Sách Quảng chí của Quách Nghĩa viết thế kỷ thứ III sau CN kể hơn 10 giống lúa đặc sắc của người Việt Giao chỉ thời kỳ này. Sách Thái Bình hoàn vũ, sách Đông quan Hán ký viết năm 124 sau CN: “Ở Cửu Chân, sinh 156 gốc lúa được 768 bông thóc”.
Như vậy năng suất sinh sản của lúa Việt cách đây 1,889 năm đã có năng suất rất cao. Di tích thóc, gạo tìm thấy ở làng Vạc gồm 2 nồi gốm gốm và trong thạp đồng chứng tỏ sự phát triển của nông nghiệp lúa nước từ thời tiền sử của người Việt. Các nhà khảo cổ tìm thấy trong lớp đất bên dưới khu khảo cổ thuộc Văn hóa Hòa Bình những hạt thóc hóa thạch có niên đại khoảng 9,260-7,620 năm Tr.CN.
Bằng cách áp đặt giáo hóa văn minh của chính sách Hán hóa trong đó Trung Quốc phát minh ra vải, tơ, lụa. Nay sự thật về lịch sử và khảo cổ đã chứng minh rõ là vải, sợi, tơ lụa đầu tiên do chính người Việt phát minh ra. Nhiều sử liệu Trung Quốc được công bố như Ngô Lục chí thế kỷ IV sau CN viết: “Huyện Định An, quận Giao chỉ có cây bông cao hơn một trượng, quả như chén rượu, miệng có tơ như tơ tằm, dệt thành vải được”.
Sách Dị vật chí cũng viết rằng: “cây bông ở Quảng Châu, Nhật Nam, Giao chỉ,… đều có cả”. Đối với Trung Quốc, cây bông đến thời kỳ này vẫn là một vật lạ. Sử sách Trung Quốc cho thấy đến đời nhà Tống (960 ~ 1279 sau CN) vẫn chưa dùng vải bông, chỉ dùng vải đay, gai, lụa và da thú.
Theo chính tài liệu của các Học giả Trung Quốc thì bông là truyền từ Việt Nam vào Trung Quốc khoảng gần 2000 năm trước đây. Nhiều sách cổ cho biết bông là đặc sản của Châu Ái và Châu Hoan ( Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay).
Sách Sử ký ghi: “Vải thạp là bạch diệp. Xét bạch diệp là từ bông dệt ra. Sản vật đó Trung Quốc không có”. Sách Nông thư đời nhà Nguyên cũng nói xưa Trung quốc không biết trồng bông, bông là sản vật quý của người Việt đưa vào.
Sách Hán thư và Thái Bình hoàn vũ ký ghi: “Người Việt đã dùng tơ dệt nhiều loại sản phẩm đặc sắc: lụa, sa, the,….”. Một loại vải đặc sắc khác của Việt Nam là vải sợi chuối. Sách Văn hiến thông khảo, Nguyên Hóa quận huyện chí, Quảng chí đều có viết: “Thân chuối xé ra như tơ dệt thành vải gọi là Tiêu cát. Vải ấy dễ rách, mầu vàng nhạt sản xuất ở Giao Chỉ”.
Sách Nam Phương dị vật chí, An Nam chí nguyên dẫn rằng: “Đem thân chuối nấu lên lấy tơ dùng để dệt,.. Phụ nữ lấy tơ chuối dệt ra loại vải Giao chỉ cát như the lượt, có hai loại là Hỉ và Khích”.
Ngay các thư tịch cổ Trung Quốc cũng ghi nhận những thanh bảo kiếm nổi tiếng thời cổ đại như Can Tương, Mạc gia, Ngư Trường… những thợ rèn bảo kiếm tài giỏi như Âu Giã Tử, người phụ nữ đẹp như Tây Thi, các mưu thần như Phạm Lãi, Văn Chủng, vua như Việt Vương Câu Tiễn đều là người Việt. Chính giới học giả Trung Quốc và thế giới trên cơ sở nghiên cứu hiện vật khảo cổ đã đưa ra giả thuyết Kinh Dịch là của người Việt cổ.
Năm 1971 thế kỷ XX, tại Mã Vương Đôi, Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, miền Nam Trung Quốc vốn là đất cũ của người Việt đã phát hiện mộ táng đời Tây Hán(Triều đại từ năm 206 Tr.CN đến năm 25 Tr.CN). Văn vật khai quật được trong mộ Đời Hán Mã Vương Đôi hết sức phong phú. Mộ này đã khai quật ra hơn 1400 kiện vải, tơ, lụa, sách lụa và thẻ tre khai quật trong mộ được viết về thiên văn, thuốc, …
Sách tre, lụa có số lượng lớn, nội dung quan trọng tác động lớn đã thay đổi nhiều quan niệm về học thuật. Trong số sách này có cuốn Kinh Dịch. Xét về bằng chứng khảo cổ học, thời kỳ đó tơ lụa người Trung Quốc chưa làm ra, chủ yếu do người Lạc Việt sản xuất ở Giao Chỉ.
Thời đại kim khí cũng xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, hàng nghìn hiện vật đồng rất phong phú của Văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Đông Sơn từ 3,500 năm Tr.CN đến 150 năm Tr.CN từ các đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức, nhạc khí như chuông nhạc, lục lạc, khèn, trống đồng.
Công cụ sản xuất thủ công có các loại đục đục bẹt, đục vũm, đục một, nạo, dùi, giũa, dao, dao khắc, rìu, kim, dây... Công cụ sản xuất nông nghiệp Đông Sơn có các loại như thuổng, rìu, cuốc, mai, liềm hái, hiện vật khảo cổ 200 lưỡi cầy Việt bằng đồng có tới 4 kiểu dáng, (khác lưỡi cầy Trung quốc) đã phát hiện nhiều loại hình công cụ, vũ khí bằng đồng, bằng sắt rất phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổngxẻng, lưỡi rìu, v.v. Mỗi loại hình công cụ sản xuất cũng có hàng chục các kiểu dáng khác nhau.
Vũ khí của người Việt cổ được phát hiện có các loại vũ khí dao, kiếm, mũi giáo, lưỡi qua mà trước đây cho rằng là vũ khí cổ của Trung quốc thì hiện vật khảo cổ tại Việt Nam cho thấy lưỡi qua đồng Việt có trước Trung quốc, mũ trụ đồng, áo giáp đồng, lẫy nỏ đồng, mũi tên đồng. Đặc biệt là trống đồng, với số lượng 140 trống đồng Đông Sơn được coi là tinh sảo nhất, kích thước lớn nhất tìm thấy trong các di chỉ tại miền Bắc Việt Nam chiếm tỷ lệ tới 60% số lượng trống đồng thời kỳ này đã được phát hiện ở khu vực Đông Nam Á.
Trong một số di tích như Tiên Hội, Đường Mây, Gò Chiền Vậy, Đồng Mõm, Vinh Quang đã phát hiện các di vật bằng sắt. Đối chiếu khảo cổ học cho thấy thời đại kim khí đồ đồng, đồ sắt ở Việt Nam có niên đại còn sớm so các nền văn minh cổ đại Ai cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã, … cổ đại.
Kỹ thuật đúc kim loại của người Lạc Việt thời kỳ này đã đạt trình độ rất cao khi đúc trống đồng Ngọc Lũ liền khối, dầy chỉ vài milimets, mặt và tang trống chi chít hoa văn chìm nổi, sau khi đúc xong không phải gia công nguội,… thì đến nay với kỹ thuật luyện kim hiện đại vẫn khó đúc được như vậy.
Cũng tại các di chỉ khảo cổ học phát hiện ở miền Bắc Việt Nam đã phát hiện các xưởng đúc, khuôn đúc kim loại bằng đá, sa thạch tìm thấy ở Đồng Đậu, Cam Thượng, đất sét làm khuôn được phát hiện ở nhiều địa điểm trong các tỉnh Cao Lạng, Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình, Hà Nội, Bình Trị Thiên... có những khuôn đúc đồng thời đúc được nhiều dụng cụ một lúc.
Các khuôn đúc đồng bằng đá được tìm thấy là loại khuôn có hai mảnh giáp lại của khuôn được gia công nhẵn, phẳng kín tới mức giáp chặt 2 mảnh khuôn ngâm nước không có nước thấm vào mặt trong khuôn đúc.
Hội nghị Quốc tế về Lịch sử và Khảo cổ học họp ở Berkelay năm 1978 được xuất bản toàn văn năm 1980 cho thấy đồ đồng Đông Sơn và đồ đồng Tràng Kênh, Hải phòng tại Việt Nam có niên đại xưa nhất, hơn cả các đồ đồng cổ của Trung Hoa. Đồ đồng Đông Sơn có kỹ thuật cao nhất về hợp kim, nghệ thuật tạo hình hoa văn rất tinh sảo mà các đồ đồng khai quật được của nhiều nền văn hóa trên thế giới cùng thời kỳ không thể đạt đến trình độ như vậy.
Cần thấy rằng khoa học Thế giới đều xác nhận quy luật phát triển xã hội cổ đại có Nhà nước khi kinh tế nguyên thủy chuyển sang thời đại kim khí – Như vậy Nhà nước Việt cổ đã hình thành rất sớm trước cả Trung Hoa, trước cả các nền Văn minh Lưỡng Hà, Ai cập, La Mã. Chính Văn minh Lạc Việt cổ đại rất sớm và rực rỡ là nguyên nhân sâu xa nhất sau Công Nguyên, Lạc Việt bị người Hán thống trị hàng nghìn năm nhưng không thể đồng hóa được người Việt.
Xét về các điều kiện tương quan kinh tế, xã hội lúc đó thì Việt Nam là một cường quốc khu vực. Với sức mạnh Lạc Việt lúc đó, các thư tịch cổ Trung Quốc ghi nhận trong cuộc kháng chiến đầu tiên chống xâm lược của Phương Bắc từ năm 218 Tr.CN đến 209 Tr.CN, người Lạc Việt do các Đại tướng Vũ Công Bách và Vũ Công Điền (Sau này được thờ là Cao Minh Đại Vương và Cao Sơn Đại Vương ngang Tản Viên Sơn Thánh, di tích hiện được Nhà nước công nhận Đình Làng Đông Mật tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại hồ sơ di tích Đình làng Đông Mật được dựng từ thời nước Văn Lang - Âu Lạc) đã đánh bại Đại quân Tần 50 vạn người và giết được được Thống tướng Hiệu úy Đồ thư khiến quân Tần đại bại. Mười phần ra đi khi trở về còn 2, 3 phần.
Thời An Dương Vương có Đại tướng Cao Lỗ còn gọi là Cao Lỗ Vương, lại có tên là Cao Thông, sinh tại thôn Sỹ Lộ, trang Đại Than, tổng Vạn Tỵ, huyện Gia Bình, phủ Thuận Thành, bộ Vũ Ninh (Bắc Ninh). Cao Lỗ thống lĩnh quân Lạc Việt của nhà nước Âu Lạc, nhiều lần đánh bại quân xâm lược do Triệu Đà người Hán xưng là Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, hạ lưu sông Tây Giang, Trung quốc xâm chiếm Âu Lạc.
Cao Lỗ lập nhiều công trạng được phong tước Hầu. An Dương Vương giao cho Ngài xây thành ốc Cổ Loa (ở Đông Anh, Hà Nội ngày nay) và chế tạo ra nỏ liên châu được gọi là Linh Quang Thần nỏ, một kỳ công về kỹ thuật quân sự thời cổ, các di tích khảo cổ học Cổ Loa đã xác nhận sự thật lịch sử này.
Sách Tục Bác vật chí có ghi:” An Dương Vương có Cao Thông chế nỏ mỗi lần bắn giết được 200 người”. Sau vì sự đố kỵ, ly gián, Cao Lỗ bị xử án oan phải đầy đến Lạng Sơn. Phẫn uất Cao Lỗ đã tự vẫn rồi hiển Thánh ở Ninh Giang là Thượng đẳng Phúc Thánh Đức Vương Quan đệ Ngũ (Quan Lớn Tuần Tranh) trong Đạo Thánh Mẫu. Đền thờ Đức Vương Quan đệ Ngũ Cao Lỗ cũng được nhân dân thờ phụng trên khắp nước Việt Nam.
Về người Lạc Việt, trong hơn một trăm năm qua, khoa học về Nhân chủng và Cổ sinh học đã có rất nhiều các Luận thuyết khác nhau.Trên cơ sở các di chỉ linh trưởng người hóa thạch (hoá thạch Lucy) được phát hiện năm 1974 ở Etiopi, Đông Phi với niên đại 3,2 triệu năm đã có Thuyết Trung tâm cho rằng con người xuất phát từ đây với mtDNA của một người đàn ông và 3 người đàn bà, từ đó tỏa đi khắp thế giới và là Thủy tổ người hiện nay trên Thế giới.
Ngày 3/7/2009, Tiến Sỹ Chris Beard, một nhà Nhân chủng học tại Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Carnegie tại Pittsburgh (Hoa Kỳ) và các thành viên trong Đoàn khảo cổ đã tìm được các hoá thạch cho biết: “Những mảnh hoá thạch gồm xương hàm và răng 3,8 triệu năm tuổi tìm thấy gần Bagan, miền Trung Myanmar vào năm 2005, thể hiện những nét đặc trưng của loài linh trưởng bao gồm những loài khỉ cổ xưa và con người hiện đại, có thể chứng minh rằng tố tiên chung của loài người, khỉ và vượn người đều tiến hoá từ loài linh trưởng ở Châu Á chứ không phải Châu Phi.
Các phát hiện này được công bố trên Tạp chí Proceedings of The Royal Society B tại London đã kết luận rằng các hoá thạch ấy là di vật của 10 đến 15 cá thể của một loài linh trưởng có tên khoa học là Ganlea megacanin, một loài mới linh trưởng dạng người ở châu Á đã tuyệt chủng thuộc họ là Amphipithecidae. Tuổi hoá thạch là dẫn chứng thuyết phục bác bỏ những giả thuyết trước đây cho rằng loài người tiến hoá từ châu Phi.
Tại khu vực Châu Á, kết quả nghiên cứu lâu dài của các Nhà khoa học Thế giới cho thấy có hai đại chủng Mongoloid và Australoid là nguồn gốc của toàn bộ người Châu Á và một phần Châu Mỹ, Châu Âu ngày nay.
Khảo sát 76 sọ cổ tìm thấy ở Việt Nam, từ sọ Sơn Vi có niên đại 32.000 năm Tr.CN đến các sọ Đông Sơn 2000 năm Tr.CN chủ yếu là chủng Mongoloid phương Nam là người Việt cổ. Khảo cổ đã phát hiện bộ xương Mongoloid 68.000 năm tuổi tại Liujiang, Quảng Tây, chứng minh cho giả thuyết người Mongoloid từ Đông Dương đi lên Tây Bắc Trung Hoa.
Trong đó, Đại chủng Mongoloid phương Nam hòa huyết với Australoid sinh ra 4 chủng Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Tuyệt đại bộ phận người Hán hôm nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam.
Nhà Nhân Chủng học S. Ballinger phát hiện khoảng 50.000 năm trước Người Việt cổ đã từ vùng Nam sông Dương Tử và Bắc Bộ Việt Nam di cư sang châu Úc, New Guinea, các đảo ngoài khơi Đông Nam Á, sang Miến Điện, Ấn Độ, sau đó lên Trung Quốc.
Các nghiên cứu ty thể mtDNA di cốt tại các vùng này cho thấy là người Việt cổ. Sống thời gian dài ở Việt Nam và Trung Hoa, trong những điều kiện địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau, từ bốn chủng Việt cổ phân ly thành những nhóm địa phương khác nhau, được lịch sử gọi là Bách Việt.
Người Bách Việt từ Trung Hoa di cư tới Triều Tiên, Nhật Bản, rồi lên Siberia, vượt eo Bering sang châu Mỹ. Đến nay, nhiều nghiên cứu của giới khoa học Thế giới đã đưa ra thuyết Người Việt cổ là một trong những Đại chủng lớn góp phần hình thành nên loài người hiện nay.
Cũng chính từ truyền thống văn minh, hệ thống triết học tín ngưỡng thờ phụng Gia tiên lâu đời, lấy gia đình làm căn bản của xã hội mà trải hơn 2,000 năm Việt Nam thường xuyên bị các triều đại phương Bắc đánh chiếm, đô hộ bằng chính sách Hán hóa rất hà khắc, tàn bạo như hoạn thiến đàn ông, bắt giết trẻ con con trai Việt, cấm không được thờ Đạo Thánh Mẫu, đốt sách, phá hủy văn bia, chùa, đền, đình, miếu,… bắt ăn mặc, giáo dục, phong tục theo cách người Hán.
Tiêu biểu có thể dẫn nội dung các chiếu dụ của vua Nhà Minh thời Vĩnh Lạc từ năm thứ 4 đến năm thứ 5 chép trong Việt Kiệu thư, nhiều lần nhắc đến việc đốt sách của người Việt. Ngày 21 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5, lệnh cho bọn Trương Phụ: "Ta nhiều lần dụ cho các ngươi phàm tất cả sách vở, ván khắc chữ của An Nam, kể cả mảnh giấy con chữ của trẻ con làng quê dùng để mới học chữ và những tấm bia xứ ấy dựng lên, hễ thấy là hủy ngay, chớ bỏ sót. Các ngươi nay phải làm theo sắc chỉ trước đây, lệnh cho quân lính hễ gặp một mảnh văn tự của xứ ấy thì phải đốt ngay, không được giữ lại".
Người Việt không những không bị đồng hóa vẫn giữ gìn, phát huy truyền thống Văn hóa Việt, tinh thần Việt, đồng thời còn tiến hành hàng nghìn, hàng vạn cuộc khởi nghĩa chống nô dịch thống trị của các quan lại, vương triều Hán để giành độc lập dân tộc Việt. Mặt khác phải thấy rằng, nền văn minh Trung Hoa phát triển lớn là còn có sự thật đóng góp đáng kể của văn minh Lạc Việt suốt mấy nghìn năm.
Đã có rất nhiều thợ giỏi, thầy giỏi đủ mọi ngành nghề đã phải cống nạp cho các vương triều Trung Hoa đã được sử sách ghi rõ. Nhận xét về hậu quả của chính sách Hán hóa và nô dịch của thực dân Pháp, nhân kỷ niệm 40 năm Hòa đàm Paris 1973 – 2013, ông Nguyễn Mạnh Cầm, 85 tuổi, nguyên Bộ Trưởng Ngoại giao 1991 – 2000, nguyên Phó Thủ Tướng Chính Phủ thời kỳ 1997 – 2002 đã trả lời phỏng vấn, ông nói:“Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống vẫn lấn lướt,… Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán”
(Còn tiếp)
Vũ Ngọc Phương
*Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực – nhân tài Việt Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

một người cứng rắn mau nước mắt

tôi là một người cứng rắn mau nước mắt
tại sao?
tại vì cơ bắp mọi chốn đã mềm nhũn
trước giờ thính thị
thà cứ điếc đui như trời và câm
như đất
 
đất không chọn lựa luống cầy mắt xích
có những con người sinh ra lắm mồm
có những miệng hến
hình nhân giữa đồng
bện thuốc. lửa rơm
và triệu triệu mõm cá vàng láp nháp trong chậu bình thời sự
 
bọn làm nên thời cơ thời buổi nào cũng hãnh diện
về quai, xách
nách mang những túi gió lèo
chân mang ủng thối
có những cú đội trời không ướt đất[*]
và muôn cú đạp đất chết người
 
nhân loại thờ ơ
mạch đời vô cảm
những trái tim đứng bên lề
chờ cơn bạo loạn
hãy nhìn sâu trong mắt
chắc gì gương soi phản diện tâm hồn
đàng sau mỗi tấm gương
có bàn tay lăm le chực chờ
xoá tên hiện hữu
 
23, 24 novembre 2015
 
_________________________
[*]“Mưa Không Ướt Đất”, truyện của Trùng Dương.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghề văn, lòng thành và ngộ nhận

Tác giả : Viên Linh
 
1Khi ngồi vào bàn viết, gõ những chữ đầu tiên trong ngày, nghề văn, tôi đã gõ luôn mấy chữ lòng thành và ngộ nhận. Quả thế, dường như không có nghề nào mà người ta theo đuổi có nhiều trường hợp xảy ra ngộ nhận như nghề văn. Bà cô già của tôi, vào những năm đầu thập niên ‘50 ở Saigon, cô cháu gặp nhau trong một ngày giỗ kỵ của họ Nguyễn làng Ðồng Văn, đã hỏi tôi, “Anh Nam bây giờ làm gì đến đâu rồi?” “Thưa cô cháu theo nghề văn nghề báo.” “À! Thế anh theo cái nghề chết đói đó hả? Quý báu gì.”


Bìa cuốn sách của Lê Quí Ðôn trong có chương “Văn Nghệ Chí.” (Hình: Viên Linh cung cấp)

Ngay từ nhỏ, tôi được cái tính nhường nhịn. Lúc lớn vài năm đầu thập niên ‘60, trong một bữa ăn tại tòa soạn của tuần báo Kịch Ảnh, có chủ nhiệm chủ bút Quốc Phong Nguyễn Văn Hanh, Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý, chúng tôi bàn tới những chủ đề sắp tới, những nhân vật liên hệ trong ngành nghề, ai đi gặp ai phỏng vấn ai, thì kết quả sẽ tốt nhất, cả hai người đều chỉ tôi đi gặp người này, đi gặp người kia, mà ý của hai anh dân Nam Ðịnh này nói giống ý nhau nên đưa ra câu trả lời giống nhau: “Ðể Viên Linh.” “Nó encaissé giỏi.” Chịu đòn giỏi, dịch theo nghĩa bóng. [Tự điển Larousse song ngữ bỏ túi viết: encaissé: deep, sunk.] Một võ sĩ quyền Anh chịu đòn giỏi là cứ để đối thủ đấm lung tung vào vai vào thân mình, để “chui” vào nách địch thủ, đợi tới lúc đối thủ đã ngừng hay phải ôm lấy mình để thở, mới giáng cho nó một cú “upper cut,” hay một đòn hiểm không ai nhìn thấy. Ðứng xa nhìn vào thì người xem đều thấy anh thua, nhưng khi chuông reo, anh đứng vững trên hai chân, tới hiệp cuối cùng, đó mới là lúc kết quả được công bố.
Tôi đã đọc những cuốn sách về “nghề viết văn” của Nguyễn Hiến Lê, của Vũ Ký, của Phạm Văn Diêu, của Phạm Thế Ngũ,... vài người nữa không nhớ tên, nặng phần giáo khoa, phân tích kỹ thuật câu cú, trích dẫn những bài mẫu, những “bài đọc thêm,” kể cũng có ích cho một lớp học trò nào đó, gần hơn là của Dương Quảng Hàm, người đầu tiên viết về văn học sử Việt Nam tổng quan và kỹ càng hơn cả. Cao viễn và bác học hơn có “Văn Nghệ Loại” của Lê Quí Ðôn, “Văn Tâm Ðiêu Long” của Lưu Hiệp,... Trước khi viết tiếp những suy nghĩ hay kỷ niệm của minh, xin trích dẫn đôi điều tản mạn...
2. “Viết một cuốn sách là làm một nghề cũng như chế tạo một cái đồng hồ. - La Bruỳere”
Một anh bạn tôi, thấy tôi viết cuốn này, mỉm cười, hỏi :
-Viết văn mà cũng là một nghề ư?
Tôi cũng mỉm cười, đáp :
-Anh chưa nói hết ý, song tôi đã đoán được. Có phải anh cho viết là truyền bá tư tưởng, giãi bầy nỗi lòng của mình? Nếu viết văn là một nghề chẳng hóa ra nghĩ đến việc đem bán cái tâm tư là cái đáng quý nhất trong con người để cầu sự ấm no cho xác thể? Nếu quả anh nghĩ vậy thì tôi xin hỏi lại anh: dạy học như anh bây giờ và tôi hồi trước cũng là đem bán những hiểu biết, tư tưởng - cả lòng yêu trẻ nữa - để lấy một số lương, vậy thì tại sao dạy học anh nhận là một nghề mà viết văn anh lại không chịu nhận?
Anh bạn tôi đó không phải là người độc nhất nghĩ lầm như vậy đâu. Trong xã hội chúng ta hiện nay, mười người chắc có sáu bảy người còn giữ cái thiên kiến ấy. Họ cho viết văn không phải là một nghề vì nghề đó còn mới mẻ ở nước ta quá: từ cuối thế kỷ 19 trở về trước, ông cha ta tuyệt nhiên không hề nghe nói đến nghề viết văn và nghề nầy “chỉ xuất hiện vào hồi mà Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh bắt đầu sinh nhai bằng ngòi bút viết báo.” (Nguyễn Hiến Lê).
3. Theo đoạn văn trên, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê viết nghề văn “chỉ xuất hiện vào hồi mà Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh bắt đầu sinh nhai bằng ngòi bút viết báo.” Câu ấy có 6 chữ quan trọng: nghề văn-ngòi bút- viết báo; tức là nghề văn xuất hiện không bằng một cuốn sách hay những cuốn sách, mà từ một trang báo. Vậy văn chương xuất hiện từ báo chí, làm văn có từ khi người ta làm báo, xét trong văn chương Âu Mỹ cũng thấy như thế, Mark Twain làm báo và văn của ông đăng trên tờ báo ông làm, từng kỳ, rồi sau này mới in thành sách. Hồi trước 1975 ở miền Nam hầu như những tác phẩm ăn khách nhất đều là truyện đăng báo, rồi mới in thành sách, không ông chủ nhiệm tờ báo nào mời các ông nhà văn không ăn khách viết truyện cho mình hết, trừ phi lầm lẫn. Ðò Dọc của Bình Nguyên Lộc xuất hiện trên báo rồi mới thành sách sau. Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, Bà Chúa Hòn của Sơn Nam, Chân Trời Tím của Văn Quang, Cho Mượn Cuộc Ðời của Thanh Nam, Mười Ðêm Ngà Ngọc của Mai Thảo, v.v... đều là những truyện đăng báo ăn khách rồi sau mới in thành sách. Nhưng có những nhà văn nổi tiếng mà lại không ăn khách từng kỳ - hai chữ “từng kỳ” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, “ăn khách” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, “nổi tiếng” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, không cái nào hơn cái nào, nhưng có nhà văn được cả ba thứ, có nhà văn chỉ được hai thứ, và có nhà văn chỉ được một thứ. Nguyễn Ðình Toàn nổi tiếng nhưng truyện dài anh viết trên báo Chính Luận bị ngưng ngang; Võ Phiến nổi tiếng chê các truyện dài viết từng kỳ là rẻ tiền và ông không có truyện dài nào ăn khách cả, và hình như ông chỉ nổi tiếng ở tạp văn hay truyện ngắn. Tôi mời Thanh Tâm Tuyền viết truyện dài cho các tờ báo tôi điều hành nhiều lần, nếu tôi nhớ không lầm, ông không hoàn tất được bất cứ truyện dài nào đăng báo. Khi đang viết truyện “Ðào Thoát,” ông nói không viết tiếp được nữa, tôi đành viết cái bố cáo xin lỗi độc giả, “Thanh Tâm Tuyền đào thoát.”


Bìa sách nói về nghề viết văn của Nguyễn Hiến Lê. (Hình: Viên Linh cung cấp)


Trở lại với câu văn của Nguyễn Hiến Lê, việc sinh nhai bằng ngòi bút viết văn trên báo chỉ bắt đầu bằng Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh.
Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) người Hà Ðông, con nhà nông ra Hà Nội làm ăn, xin được việc kéo cái quạt trần trong một trường học (loại quạt vải to như chiếc chiếu treo trên cao, có dây buông xuống, phải có người kéo - buông đều tay để tạo ra gió mát cho những người trong phòng). Không được học, song thầy dạy học trò tới đâu, cậu thuộc tới đấy; do đó được một ông thày giúp cho vào học luôn trong trường Thông Ngôn. Cuối năm Nguyễn Văn Vĩnh đậu đầu, trở thành chánh thông ngôn cho một quan sứ Pháp. Năm 1905 ông Vĩnh bắt đầu viết bài tiếng Pháp cho các tờ Courrier d' Hải Phòng và Tribune Indochine. Năm 1907 ông làm chủ bút Ðăng Cổ Tùng Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, thành lập Hội Trí Tri và góp phần sáng lập Ðông Kinh Nghĩa Thục. Năm 1913 ông làm chủ nhiệm chủ bút báo của chính mình: Ðông Dương Tạp Chí.
Nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) người Sơn Tây, con nhà Nho. Năm 1907 ông viết một bài bình luận thế sự bằng tiếng Hán gửi cho một tờ báo ở Hương Cảng (theo Từ điển Văn học bộ mới, Hà Nội, 2000), bài được đăng. Sau đó Tản Ðà cộng tác thường xuyên với Ðông Dương Tạp Chí, và viết văn thơ dịch sách cho nhiều báo khác từ Bắc vào Nam. Ông cũng tự xuất bản báo An Nam Tạp Chí của mình song thiếu quản trị hoặc không đủ độc giả mua báo nên vẫn phải viết thuê cho các báo khác.
4. Trong lúc nói chuyện “vui buồn nghề báo” với cử tọa ngày Sinh Nhật 20 Năm Khởi Hành, 11, 2015, tôi có kể lại sơ sài ngày tác phẩm đầu tiên của mình được xuất hiện trên mặt báo, một ngày nào đó năm 1953 và đó là tờ Tiếng Dân tại Hà Nội. Chuyện xảy ra vẫn còn rõ ràng trong tâm trí. Chỉ hai ngày sau cái truyện ngắn viết một mạch được gửi tới tòa báo (tôi đạp xe qua tòa soạn, đâu ở đường Gambetta, bỏ xấp giấy trong phong bì vào cái hộp thư), chỉ hai ngày sau, giở tờ Tiếng Dân ra, cái truyện đã chiếm nguyên Trang Xã Hội của tờ báo. Cuối truyện có mấy dòng Nhắn Tin, đại ý: Mời ông Nguyễn Nam tới tòa soạn, ở số...đường... lãnh 150 đồng nhuận bút truyện ngắn này.
Tôi tới ngay chiều hôm ấy. Lúc bước vào tòa báo Tiếng Dân, chỉ thấy một ông đang co cả hai chân lên ghế, và góc phòng gần cái cửa thông sang phòng trong, có một cô mặc áo dài xanh lơ đang ngồi sau bàn, dáng là thư ký. Người đàn ông đứng tuổi, cỡ 50, tay trái đang cầm chiếc que đã châm lửa, hai đầu gối thu gọn gần tới mang tai, nhướng mắt nhìn tôi tay phải cầm cái ống điếu thuốc lào làm bằng hai gióng tre, hút vào một hơi âm thanh ròn rã. Ông nội tôi cũng hút thuốc lào nhưng bằng bát điếu ngà có chạm trổ xà cừ, ống hút là một ngọn trúc nhỏ nhắn vàng óng, đầu bịt bạc. Ông nhà báo Tiếng Dân nhướng mắt rồi hất hàm, không nói được một lời. Ðợi lúc ông mê man nhả khói, tôi mới nói lớn:
-Thưa ông tôi tới lãnh nhuận bút.
Ông lắc đầu, xua tay:
-Về bảo bố cậu tới lãnh mới được.
-Thưa ông bố tôi mất rồi. Tôi ngô nghê trả lời.
-Thì bảo anh cậu tới lĩnh...150 đồng to lắm.
Tôi biết rõ số tiền đó lớn như thế nào. Trước khi mẹ tôi ở quê nhà thị trấn Ðồng Văn mua cho tôi cái xe Peugeot dura (bằng nhôm nhẹ), tôi chỉ được phát 2 đồng một ngày, kể cả tiền mua vé tàu điện hai lượt đi về từ góc Phố Huế lên trường Chu Văn An gần Hồ Tây.
-Nhưng thưa ông, tôi viết cái truyện ấy.
-Có chứng minh thư không?
Ông nhìn tôi nghiêm nghị quan sát, nhưng đưa tay ra cầm cái thẻ học sinh tôi có từ năm ngoái, lúc học đệ thất. Ông vẫn nhìn tôi, mở ngăn kéo lấy ra một cái phong bì:
-Ðếm cẩn thận nhé. Rồi ký nhận đủ vào đây.
Ông xoay cuốn sổ ra, tôi viết hai chữ “nhận đủ” sau khi ngó mớ giấy bạc lớn nhất trong đời.
Tôi biết ngay từ lúc đó tôi sẽ không làm nghề gì khác ngoài nghề viết văn. Ngay cả làm thơ tôi cũng có thói quen đòi nhuận bút. Có nhiều người hỏi tôi sao thấy tôi ít có bài trên các báo dù thơ hay văn, chuyện giản dị là thơ hay văn đối với tôi cũng phải có nhuận bút. Viết là nghề tôi đã chọn từ lúc 14 tuổi rưỡi.
Viên Linh
(từ:NV)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lược sử nhân quyền

Từ những xã hội man rợ thời chiếm hữu nô lệ, nơi con người có thể bị ném cho thú dữ ăn thịt trước sự chứng kiến hả hê của đồng loại, đến chế độ phong kiến sưu cao thuế nặng, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Từ những cuộc diệt chủng ở nước Đức thời phát xít, Campuchia thời Khmer Đỏ, đến những thảm họa ở Rwanda, rồi gần đây nhất là nội chiến Syria và sự hoành hành của Nhà nước Hồi giáo ISIS… Với tất cả những cái đó, nhìn lại, vẫn phải nói rằng xã hội loài người đã có những bước tiến rất dài trong sự hình thành và phát triển khái niệm nhân quyền.
Ngày Quốc tế Nhân quyền 10/12 là một dịp tốt để chúng ta cùng nhìn lại lược sử nhân quyền, qua những cột mốc lớn từ trước Công nguyên tới nay.
Trụ Cyrus (539 TCN)
Năm 539 TCN, Cyrus Đại đế, vị vua đầu tiên của đế chế Ba Tư cổ đại, chinh phạt thành Babylon. Thế nhưng đóng góp lớn của ông cho sự tiến bộ của nhân loại không phải là cuộc chinh phạt và hợp nhất này, mà là một loạt những quyết định sau đó. Ông giải phóng nô lệ, tuyên bố ai cũng có quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng, và xác lập sự bình đẳng giữa các sắc tộc. Cùng với các chỉ dụ khác, những chỉ dụ này được viết bằng tiếng Akkad trên một trụ đất nung được gọi là trụ Cyrus.
Được coi là hiến chương nhân quyền đầu tiên của thế giới, trụ Cyrus đã được dịch ra sáu thứ tiếng chính thức của Liên Hiệp Quốc. Dấu ấn của trụ Cyrus thể hiện rất rõ trong bốn điều đầu tiên của Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền: Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền; không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị; mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn thân thể; không ai phải làm nô lệ hay bị cưỡng bức làm việc như nô lệ.
Từ Babylon, ý tưởng nhân quyền nhanh chóng lan sang Ấn Độ, Hy Lạp, và La Mã. Ở đây, khái niệm “luật tự nhiên” bắt đầu nổi lên khi người ta thấy rằng con người có khuynh hướng tuân theo những luật bất thành văn nhất định, và luật La Mã đã ra đời dựa trên những lý lẽ xuất phát từ quy luật tự nhiên của vạn vật.
Các tài liệu khẳng định quyền cá nhân như Hiến chương Magna Carta (1215), Thỉnh nguyện quyền (1628), Hiến pháp Mỹ (1787), Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) và Đạo luật Nhân quyền Mỹ (1791) là tiền thân của nhiều văn kiện về nhân quyền ngày nay.
Hiến chương Magna Carta (1215)
Hiến chương Magna Carta, hay còn gọi là Đại Hiến Chương, được cho là tài liệu đầu tiên có ảnh hưởng đáng kể nhất tới sự ra đời của quy tắc hiến định ở các nước nói tiếng Anh ngày nay.
Tương truyền, các quần thần đã gây sức ép, buộc vua John nước Anh phải ký Đại Hiến Chương sau khi vị vua này vi phạm nhiều luật lệ và tập tục lâu đời. Hiến chương quy định quyền đi lễ nhà thờ mà không bị chính quyền can thiệp, quyền sở hữu và thừa kế tài sản của tất cả các công dân tự do và quyền không bị đánh sưu cao thuế nặng. Văn kiện cũng xác lập quyền tự do hôn nhân cho những góa phụ có tài sản, và xác lập các nguyên tắc tố tụng cũng như quyền bình đẳng của người dân trước pháp luật.
Được coi là một trong những văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong tiến trình phát triển của nền dân chủ hiện đại, Hiến chương Magna Carta đánh dấu một bước ngoặt trọng yếu trong cuộc đấu tranh vì tự do.
Thỉnh nguyện quyền (1628)
Cột mốc tiếp theo trong lịch sử phát triển nhân quyền là sự ra đời của Thịnh nguyện quyền năm 1628. Văn kiện này được Nghị viện Anh thảo và trình lên vua Charles I như một tuyên bố về tự do dân sự.
Dựa trên các đạo luật và hiến chương trước đó, Thỉnh nguyện quyền xác lập bốn nguyên tắc cơ bản sau: (1) Không đánh thuế khi không có sự đồng thuận của Nghị viện; (2) Không bỏ tù thần dân khi không trình được nguyên nhân [tái khẳng định quyền bảo hộ nhân thân – habeas corpus – ND]; (3) Quân lính không được đóng chiếm nhà dân; và (4) Không áp thiết quân luật trong thời bình.
Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776)
Ngày 4/7/1776, Quốc hội Mỹ thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập. Không chỉ là văn kiện tuyên bố sự độc lập của 13 bang thuộc địa khỏi Anh, văn kiện này còn nhấn mạnh đến hai vấn đề quan trọng, đó là quyền cá nhân và quyền được tiến hành cách mạng.
Cụ thể, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ tuyên bố: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, Tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Bản tuyên ngôn này có sức lan tỏa rất lớn, có ảnh hưởng đến Cách mạng Pháp (1789), và đã được nhắc lại trong tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945.
Hiến pháp Mỹ (1787) và Tuyên ngôn Dân quyền Mỹ (1791)
Ra đời vào mùa hè năm 1787 ở Philadelphia, Hiến pháp Mỹ là bộ luật tối cao, đóng vai trò là nền tảng xác lập hệ thống chính quyền liên bang Mỹ, và được coi là văn kiện đánh dấu bước ngoặt cho sự tiến bộ của thế giới phương Tây. Là hiến pháp lâu đời nhất vẫn còn nguyên giá trị hiệu lực, văn kiện này không những định rõ quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong chính phủ, mà còn nêu rõ những quyền công dân cơ bản.
Một bản in cổ (năm 1788) của Hiến pháp Mỹ. Ảnh: Đoan Trang
Một bản in cổ (phát hành năm 1788) của Hiến pháp Mỹ, hiện lưu tại Bảo tàng Báo chí ở Washington DC. Ảnh: Đoan Trang
Ngày 15/12/1791, Tuyên ngôn Dân quyền, mười tu chính đầu tiên của Hiến pháp, chính thức có hiệu lực. Các tu chính này hạn chế quyền hạn của chính phủ liên bang, trong khi bảo vệ quyền của tất cả các công dân, người cư trú và khách thăm viếng trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong những quyền được các tu chính này bảo vệ có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do hội họp, quyền tự do kiến nghị, v.v…
Ngoài việc bảo vệ các quyền như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do sở hữu và mang vũ khí, Tuyên ngôn Dân quyền cũng nghiêm cấm các hình thức khám xét và tịch thu vô lý, các hình phạt độc ác và bất thường, và ép cung nhận tội. Đạo luật này cũng hạn chế quyền lực của Quốc hội và chính phủ liên bang. Theo đó, Quốc hội không được ban hành luật liên quan tới việc thành lập tín ngưỡng, tôn giáo, còn chính phủ liên bang không được tước quyền sống, quyền tự do hay quyền sở hữu tài sản của bất kỳ một cá nhân nào mà không thông qua tiến trình tố tụng pháp luật đúng chuẩn mực.
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789)
Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 không chỉ giải phóng người dân Pháp hoàn toàn khỏi chế độ phong kiến mà còn đưa họ đến với một chính thể “nhân dân” đầu tiên với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền – bước đi đầu tiên hướng tới hiến pháp cho nước Cộng hòa Pháp.
Tuyên ngôn này khẳng định tất cả các công dân đều được bảo đảm các quyền “tự do, sở hữu tài sản, được an toàn và kháng cự trước áp bức.” Bản tuyên ngôn cũng cho rằng nhu cầu luật pháp xuất phát từ thực tế “việc thực thi các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ chịu những giới hạn đảm bảo rằng các thành viên khác trong xã hội cũng được hưởng các quyền tương tự”. Bản tuyên ngôn coi luật pháp là “sự biểu đạt ý chí chung,” và thúc đẩy tính bình đẳng của các quyền và chỉ cấm “những hành động phương hại đến xã hội.”
Công ước Geneva lần 1 (1864)
Năm 1864, 16 quốc gia châu Âu và một số quốc gia châu Mỹ đã tham dự một hội nghị được tổ chức tại Geneva theo lời mời của Hội đồng Liên bang Thụy Sĩ. Hội nghị ngoại giao này được tổ chức với mục đích thông qua một công ước về việc đối xử với các quân nhân bị thương trong chiến tranh.
Các nguyên tắc chính được phát biểu trong Công ước này và được duy trì trong các công ước Geneva về sau quy định nghĩa vụ chăm sóc không phân biệt đối với các quân nhân bị thương, và đau ốm, bao gồm cả tù binh và hàng binh.
Liên Hiệp Quốc (1945)
UN-logo_0Sự khốc liệt của Chiến tranh Thế giới II khiến nhiều thành phố của châu Âu và châu Á trở thành đống hoang tàn, đổ nát. Hàng triệu người phải bỏ mạng, hàng triệu người khác rơi vào tình cảnh đói khát, không nhà cửa.
Trước tình hình này, tháng 4 năm 1945, các đoàn đại biểu từ 50 quốc gia đã nhóm họp tại San Francisco trong niềm lạc quan và hy vọng. Mục tiêu của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế là nhằm thành lập một tổ chức quốc tế có nhiệm vụ thúc đẩy hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến trong tương lại. Lý tưởng của tổ chức này được phát biểu trong lời mở đầu và hiến chương đề nghị: “Chúng tôi, những dân tộc của Liên Hiệp Quốc, quyết tâm cứu các thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh, đã xảy ra hai lần trong thế hệ của chúng tôi, gây ra nhiều đau thương cho nhân loại.”
Ngày 24/10/1945, Hiến chương Liên Hiệp Quốc chính thức có hiệu lực. Hàng năm ngày này được kỷ niệm như là Ngày Liên Hiệp Quốc.
Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền (1948)
Dưới vai trò chủ tọa năng nổ của cựu Đệ nhất Phu nhân Mỹ Eleanor Roosevelt, Ủy ban Nhân quyền mới của Liên Hiệp Quốc bắt đầu soạn thảo văn kiện mà về sau đã trở thành Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền. Được thông qua ngày 10/12/1948, bản tuyên ngôn này được ví như Hiến chương Magna Carta của toàn nhân loại.
Lời mở đầu và Điều 1 của bản tuyên ngôn này một lần nữa khẳng định lại những quyền vốn có của con người:
“Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.
Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được Tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu”.
Các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc cam kết cùng nhau thúc đẩy 30 điều nhân quyền được nêu rõ trong bản tuyên ngôn này. Lần đầu tiên trong lịch sử, các điều khoản nhân quyền được tập hợp và thống nhất lại trong một văn kiện chung, duy nhất. Về sau, nhiều quyền trong số này đã được đưa vào hiến pháp của nhiều quốc gia dân chủ dưới các hình thức khác nhau.
Nguyễn Huyền Trang
Tổng hợp và lược dịch từ A Brief History of Human rights (www.humanrights.com) và Wikipedia (các mục từ “United States Constitution”, “United States Declaration of Independence,” “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Lưỡi người sắc hơn lưỡi dao!

“Những kẻ giết người gian manh và tráo trở”




Ky Mai đã thêm 2 ảnh mới.
4 giờ · Kharkiv, Ukraine ·
Mọi câu chuyện hay dở buồn vui đều có hồi kết. Mọi sự kiện xuất hiện trên nhà nước phây rồi cũng chìm xuồng mất dấu như chưa từng đã qua. Và hiển nhiên mọi bức xúc cũng phải nhường chỗ cho "cơm áo tiền tình". Báo chí, tin tức muôn đời là thế. Tin chồng tin, người chồng người, đó là quy luật, chả thể thay đổi.
Nhưng, "Những bài báo 'giết người' không gươm đao. Bây giờ các tác giả đang ở đâu, còn nhớ nhuận bút cho những bài này được bao nhiêu và xài vào việc gì?" Một bạn tên Bill nguyễn đưa lên diễn đàn "Sống tốt với nghề báo", và đến giờ vẫn chưa có câu trả lời ngoài những cái còm căm phẫn xỉ vả con nô thằng bồi.
Mình miễn bình luận sâu vào "bản án giết người" này. Mình cũng chả thích ca ngợi, giật tóc một ai như một người hùng, (bởi đất nước đã có quá nhiều anh hùng rồi). Mà chỉ muốn hỏi: Đến bao giờ báo chí việt nam (một bộ phận không nhỏ nhà báo việt nam) mới có thể ngẩng mặt “tôi – tờ báo của tôi, đàng hoàng hoàng tử tế, sống tốt với nghề”?
Hy vọng vẫn còn/vẫn nhiều nhà báo/tờ báo đàng hoàng ngẩng mặt

Phần nhận xét hiển thị trên trang