Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử

VTN
 Tạp chí Văn học số 6 - 1990 đăng bài Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng của Nguyễn Huệ Chi.  Trên nét lớn chúng tôi tán thành các ý kiến của tác giả bài báo và muốn nhân đây, bàn thêm về một vài căn bệnh mà một số tài liệu liên quan tới lịch sử văn học thường mắc phải, nó là lý do khiến cho các công trình nghiên cứu đó ít sức thuyết phục và cả ngành lịch sử văn học trì trệ, chậm phát triển.

Những cắt xén tuỳ tiện mang tính cách vụ lợi
Trong sách Lịch sử văn minh Trung Quốc, học giả W.  Durant có kể lại một đặc điểm của Khổng Tử “vị hiền triết già ấy có thói quen không ngại làm sai sự thực đi đôi chút, để lịch sử có một ý nghĩa luân lý”

Chúng tôi không đủ trình độ để kiểm tra xem các tài liệu có liên quan đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... ở ta có bị cắt xén theo cách ấy không. Nhưng nhìn vào các bài viết, các công trình nghiên cứu hoặc giản dị hơn, cách giới thiệu khi xuất bản các sáng tác thuộc về văn học Việt Nam thế kỷ XX, thì thấy lối làm việc trên đây của Đức Thánh Khổng được vận dụng một cách rất tự nhiên, khéo léo.

Ai cũng biết rằng Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận... là những kiện tướng của văn học trước 1945, song lại có đóng góp lớn vào đời sống văn nghệ sau 1945. Bởi vậy, các sáng tác cũ của các ông dễ được chúng ta ưu ái hơn so với những người đương thời. Ngay từ 1982-1983, Thế Lữ, Xuân Diệu đã có Tuyển tập của mình. Nhưng các tuyển tập đó được làm như thế nào?

- Trong Tiểu sử ghi ở đầu sách, những người làm tuyển tập lờ hẳn đi việc cả Thế Lữ và Xuân Diệu đều đã có chân trong Tự lực văn đoàn.

- Các bài báo của Thế Lữ in trong mục Tin thơ, Tin văn... vắn chỉ ghi trích ở báo Ngày nay mà quên nói rõ thật ra đó đều là những bài phát biểu quan niệm chính thức của nhóm Tự lực, tranh cãi, chế giễu bài bác lại các báo khác khi họ công kích Tự lực.

- Hàng loạt bài thơ của Xuân Diệu trong Thơ thơ, của Huy Cận trong Lửa thiêng, khi in ra lúc đầu, có chua rõ là tặng Nhất Linh, tặng Khái Hưng, tặng Hoàng Đạo... nhưng khi in lại, bị rũ sạch, “phi tang”. Ngược lại lời đề tựa của Khái Hưng cho Vàng và máu của Thế Lữ bản in ra lần đầu cũng bị ngơ đi, coi như không có.

Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định bàn riêng về sáng tác của Thế Lữ hay Xuân Diệu. Chúng tôi chỉ lưu ý một điều: nghiên cứu về sáng tác của hai vị đó trước 1945 mà không đặt các sáng tác ấy vào cái mạch của Tự lực văn đoàn nói chung thì chẳng khác chi tách cá ra khỏi nước.

Có thể bảo đây là những ví dụ sinh động, chứng tỏ chủ nghĩa công lợi (chữ của Nguyễn Huệ Chi) đã thấm vào chúng ta một cách sâu sắc. Nhưng cũng nên nói thêm rằng ẩn sau sự tuỳ tiện đáng sợ, tuỳ tiện cắt xén thêm bớt trong việc trình bày các sự kiện trong quá khứ, thực chất là thái độ coi thường lịch sử, cho rằng hoàn toàn chúng ta có quyền đưa ra một thứ lịch sử hợp với ý muốn của chúng ta.

Mấy chục năm qua sự tuỳ tiện này đã chi phối một số người nghiên cứu trong việc đánh giá các sự kiện văn học quá khứ, dẫn đến những vô lý trong việc cho phép công bố hay cấm đoán tác phẩm này, tác phẩm nọ. 
Xét trên bình diện tư tưởng, bức tranh Cô gái bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân vốn rất gần với những Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Gánh hàng hoa. Thế nhưng trong khi Cô gái bên hoa huệ được thừa nhận như một đóng góp cho hội hoạ hiện đại, thì các tiểu thuyết nói trên của Nhất Linh, Khái Hưng bị gạt ra khỏi lịch sử văn học trong một thời gian dài. Tại sao? Tại chúng ta có thói quen chú ý đến người, đánh giá tác phẩm qua người, quan hệ người với thời cuộc, chứ không phải qua văn, qua sáng tác của người đó nói chung. Cũng vì con người Nhượng Tống “có vấn đề” mà một thời gian dài chúng ta đã bỏ qua bản dịch Mái tây và nhiều bài thơ Đỗ Phủ là những đóng góp độc đáo của Nhượng Tống đối với lịch sử văn học, đặc biệt là trên phương diện ngôn ngữ ( mãi gần đây mới khôi phục trở lại ).

Lối hiện đại hoá không thể chấp nhận
Nếu việc trình bày lịch sử văn học hiện đại thường mang nặng tính chất tuỳ tiện và vụ lợi thì nhiều tài liệu nghiên cứu văn học (từ thế kỷ XIX trở về trước) lại cung cấp những ví dụ rõ rệt chứng tỏ các nhà nghiên cứu thường hiện đại hoá lịch sử tức “uốn nắn lịch sử theo con người hiện đại”  “làm cho lịch sử mang những nét đồng dạng với hiện đại” “dẫn tới tình trạng làm nghèo lịch sử” (Nguyễn Huệ Chi)

 đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Đó là quy luật của đời sống. Nhân dân ta vốn đã anh dũng trong sự nghiệp chống ngoại xâm, lại cũng kiên cường bất khuất trong công cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra lâu dài và ngày một trở nên quyết liệt” . Một đoạn văn với kiểu viết như trên có thể gặp trong khá nhiều tập sách nghiên cứu văn học, phần viết về bối cảnh lịch sử (ở đây chúng tôi lấy từ Tuyển tập truyện Việt Nam thế kỷ X thế kỷ XIX). Để nội dung ý kiến sang một bên. Điều làm chúng tôi băn khoăn là cách diễn đạt: chẳng nhẽ chỉ có một công thức duy nhất như vậy để nói về quá khứ? Trước mắt chúng ta là sách văn học sử hay sách giáo khoa chính trị, sách giáo khoa triết học?

Khi đi vào miêu tả từng cá nhân, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cũng không hề dè dặt gì hết, cứ hồn nhiên mà khoác lên người các bậc tiền bối những bộ y phục vốn chỉ dành cho con người hiện đại. Dưới ngòi bút của những người viết văn học sử mà thiếu cảm hứng lịch sử, các nhà văn nhà thơ vốn sống cách đây từ một đến vài thế kỷ nói chung đều mang khuôn mặt tinh thần của con người hôm nay. Thậm chí trong một số trường hợp đọc kỹ một số đoạn miêu tả thấy giá thay chữ ông bằng chữ đồng chí thì cũng không gây ra cảm giác đảo lộn gì ghê gớm lắm.

Sau đây là một ví dụ:

- Trên con đường đi tìm một phẩm chất trong sạch, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự giác hoặc không tự giác kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần lâu đời của dân tộc, những giá trị tuy bị giai cấp phong kiến lúc bấy giờ vứt bỏ, nhưng vẫn tiềm tàng trong đời sống của nhân dân (Lời giới thiệu đặt ở đầu Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm)

- Trong tình hình chưa ổn định của vùng đất đang khai phá việc tập hợp nhân dân và tất cả những hạng người có thể sử dụng được đòi hỏi phải có một độ lượng rộng rãi ở người lãnh đạo. Nguyễn Cư Trinh đã tỏ ra tự hào vì đã dung nạp được mọi hạng người để phục vụ cho công cuộc chung. Để có thể đạt được sự nghiệp lớn, Nguyễn Cư Trinh đã tự đề ra cho mình những yêu cầu nghiêm khắc (Nguyễn Cư Trinh là người có kinh nghiệm đấu tranh) có tinh thần hăng hái tiến lên phía trước... (Văn học Việt Nam thế kỷ X nửa đầu thế kỷ XVIII, tập II)

- Nhưng mặt khác cũng cần vạch ra rằng “chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ  không có tý liên hệ nào với quần chúng, nó coi thường quần chúng thậm chí có lúc còn đi ngược lại quyền lợi của quần chúng. Nhà thơ đã vận dụng nó một cách giáo điều vào một hoàn cảnh không còn tiền đề cho nó tồn tại nữa (Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, tập II) [1]

Rộng hơn câu chuyện về từng cá nhân cụ thể còn thấy có hiện tượng cả một thời kỳ cả một giai đoạn lịch sử văn học được dựng lại theo kịch bản hiện đại. Trong nhiều cuốn sách mệnh danh là công trình nghiên cứu, quá khứ được mô tả cứ làm người ta ngờ ngợ bởi sao mà nó quá giống đời sống văn học hôm nay. n tượng đó còn được củng cố thêm do nơi có sự áp dụng bừa bãi các nguyên tắc lý luận hiện đại cho lịch sử. Đáng lẽ phải xuất phát từ chính lịch sử để suy xét và nêu ra vấn đề cho lý luận giải quyết, thì ngược lại, thường xuyên có tình trạng lấy lịch sử ra để minh hoạ cho lý luận. Dù khéo léo, dù thô thiển, song đã gọi là minh hoạ tức đã làm nghèo lịch sử mà cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho lý luận thực thụ!

         Nên quan niệm về lịch sử như thế nào?

Có những lối nói, lối nghĩ phổ biến trong giới nghiên cứu, người nói kể nghe giống nhau trong cách tư duy nên cứ thế chấp nhận rồi nghe mãi quen đi, không thấy lạ, nhưng có người bạn xa, lắng nghe, thấy không thể chịu được. Thuộc về cái sự bất cập ấy là những lý luận của chúng ta khi trình bày những tất yếu lịch sử. Chẳng hạn, không hẹn mà nên, cả Hoàng Trung Thông trong bài tựa Tuyển tập Xuân Diệu, lẫn Vũ Quần Phương trong một bài báo nhân kỷ niệm 50 năm làm thơ của Xuân Diệu, đều cho rằng sự tham gia cách mạng của Xuân Diệu có tính cách “tất yếu”. 
Một người rất thạo văn học Việt Nam và cũng rất yêu tác giả Thơ thơ, ông Nam Chi, trong một bài viết sau có in lại trong cuốn Xuân Diệu, con người và tác phẩm (H. 1987) đã phát hiện ra điều ấy và tỏ ý hoài nghi: “Nói rằng người này “tất yếu” cách mạng thì có nghĩa là người kia tất yếu phản động, vì bản chất phản động”. Sau khi dẫn ra hàng loạt ví dụ bất ngờ trong sự phân hoá của các văn nghệ sĩ tiền chiến trong thời đầu cách mạng và những năm kháng chiến, Nam Chi cho rằng cái công thức tất yếu nói trên là không thể vận dụng để lý giải các hiện tượng văn học.

Nhưng chữ tất yếu mà Nam Chi hoài nghi đó, lại là cái thần, cái hồn cốt chính trong lối suy nghĩ của chúng ta về xã hội, về lịch sử. Tư duy dân gian khái quát: ở hiền gặp lành có nhân có quả. Tư duy hiện đại chỉ nói khác đi một chút: ở hiền cũng có khi gặp lành mà cũng có khi không, có nhân có khi có quả, có khi không. Nói theo thuật ngữ của triết học, thì trong trường hợp thứ nhất (ở hiền gặp lành), người ta dừng lại ở quyết định luận máy móc, còn trong trường hợp thứ hai (ở hiền cũng có khi... cũng có khi...) người ta đã tiến sang một bước mới: quyết định luận xác xuất thống kê. Thế nhưng nói chung, trong cách lập luận của nhiều người nghiên cứu lịch sử văn học ở ta, kiểu quyết định máy móc nói trên vẫn chiếm vai trò chủ đạo. Các hiện tượng lịch sử văn học (một trào lưu, một tác giả hoặc một tác phẩm) thường được trình bày như một cái gì tất yếu phải xảy ra, mà không mấy khi làm người đọc bỡ ngỡ vì một sự sinh thành nảy nở kỳ lạ, tuồng như là ngoài quy luật và phải xem xét kỹ, thậm chí phải quan niệm lại về quy luật, thì mới thấy nó cũng rất hợp quy luật. 
Điều gì đã cản trở nhà nghiên cứu không cho họ trở thành nhà lịch sử? Chính là sự cả tin, tin rằng lịch sử là một cái gì rất sáng rõ, rất mạch lạc, rất thuận lôgích, lôgích thô thiển theo cách hiểu của họ, trong khi một điều kiện để hiểu lịch sử là phải giả định rằng ở đó nhiều khuất khúc, nhiều mờ tối, nhiều khả năng đánh lừa con người và nhà nghiên cứu phải luôn luôn lật đi lật lại vấn đề thì mới mong phần nào hiểu đúng được lịch sử. 
Ở chỗ này, những nhận xét của một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp là Marc Bloch (1886-1944) đối với chúng ta rất có ý nghĩa. 
Là người chuyên về sử trung thế kỷ đồng thời là một người yêu nước, đã chết trong trại tập trung của phát xít Đức --- M. Bloch từng khái quát, “sự bùng nổ của thất vọng và thành kiến, những hành động không được suy xét kỹ, những bước ngoặt bất thình lình trong đời sống tinh thần... những cái đó mang lại nhiều khó khăn cho những nhà lịch sử có bản năng quen dựng lại quá khứ theo sơ đồ của trí tuệ. Tất cả những hiện tượng đó đều tồn tại ở mọi thời điểm lịch sử... mà chỉ những sự xấu hổ ngu ngốc mới câm lặng không nói tới”. 
M. Bloch chê trách các đồng nghiệp của mình “Đọc những cuốn sách lịch sử hiện nay, có thể thấy nhân loại hiện ra như là hoàn toàn gồm những người hoạt động một cách lôgích trong họ không có một chút gì là bí mật”. 
Ông khẳng định “Chúng ta sẽ xuyên tạc lịch sử một cách nghiêm trọng, nếu luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng quy nó về những mô-típ hoàn toàn tự giác.[2]

Cho đến nay, những ý kiến tương tự như của M. Bloch nói trên hầu như chưa được giới thiệu ở Việt Nam. Nếu chúng tôi không nhầm thì kiểu nhận thức đơn giản, máy móc không chỉ có ở những người nghiên cứu lịch sử văn học, mà ở cả những người nghiên cứu lịch sử ở ta nói chung. Trong tình hình đó, sự hạn chế của một số công trình nghiên cứu lịch sử văn học như chúng tôi trình bày ở đây, là hoàn toàn dễ hiểu, nhưng không phải vì thế mà cứ nên tiếp tục.


Không làm nghèo di sản
Một trong những yêu cầu đặt ra đối với các ngành lịch sử văn hoá là tìm hiểu, phân tích cho thấu đáo những giá trị đã được các thế hệ đi trước sáng tạo, tìm ra mối liên hệ giữa các giá trị đó với cuộc sống hiện tại, lấy chúng làm giàu thêm cho con người hiện đại.

Nhưng nói một cách nghiêm khắc đây lại là khâu yếu nhất trong toàn bộ công việc tiếp thu di sản mà chúng ta đã làm trong thời gian vừa qua. Trên nguyên tắc thì ai cũng nói là phải trở về với dân tộc, phải trân trọng mọi thành quả của ông cha. Nhưng trên thực tế, thì những thái độ thô bạo tha hồ tung hoành. Kết quả là nhiều khi chúng ta hiện ra như những kẻ hẹp hòi đến cay nghiệt. Nhân danh những lợi ích trước mắt, các nhà nghiên cứu sẵn sàng lớn tiếng phê phán người này chỉ ra những hạn chế ở tác phẩm kia từ đó quyết định không công bố thơ Nguyễn Húc (theo sự tiết lộ của Huệ Chi), trù dập cả Chinh phụ ngâm lẫn Cung oán ngâm, gán cho Sơ kinh tân trang cái tội tày đình “con dao hai lưỡi”, xếp thơ văn Tự Đức và Tùng Thiện Vương vào tủ rồi tuyên truyền rằng đó là thứ thơ văn xa lạ với quyền lợi của nhân dân. Cũng do những thành kiến tai hại đó chi phối mà một thời gian dài, trừ Thạch Lam còn hầu như toàn bộ Tự lực văn đoàn bị đẩy vào bóng tối, một kiệt tác như Chùa đàn không làm sao được ló mặt trong Tuyển tập của Nguyễn Tuân, còn thơ Nguyễn Bính trong Tâm hồn tôi, một ngàn cửa sổMây Tần thì giống như số phận của người chị trongLỡ bước sang ngang “... Chị giờ sống cũng bằng không - Coi như chị đã ngang sông đắm đò”. May mà tình hình bung ra trong ngành xuất bản mấy năm nay gỡ lại hộ, nếu không rất nhiều báu vật trong kho tàng văn học dân tộc bị xếp xó, nhiều tên tuổi bị quên lãng, nhiều cuốn sách trở thành những kỷ niệm mà may ra lớp người đi trước mới biết là có!

Trên nguyên tắc, chúng tôi chia sẻ với ý kiến của Nguyễn Huệ Chi là phải lấy tiêu chí chủ nghĩa nhân bản để bổ sung cho tiêu chí chủ nghĩa yêu nước, ngõ hầu giải phóng cho khoa lịch sử văn học khỏi những hẹp hòi thiển cận hiện nay. Vả chăng cũng đã đến lúc bản thân từng khái niệm nhân đạo, yêu nước đòi hỏi một cách hiểu đa dạng cởi mở hơn. Một tác phẩm trong đó tác giả nói to lên rằng mình thương xót những người nghèo khổ đã đành là có tư tưởng nhân đạo. Nhưng nếu chỉ giới hạn chủ nghĩa nhân đạo trong một nghĩa cụ thể như vậy thì đã tự mình làm nghèo mình đi rất nhiều! Những bài thơ cuốn truyện có tham vọng trình bày kỹ lưỡng những khía cạnh tế nhị trong quan hệ giữa người với người, và phanh phui cho hết cái quanh co phức tạp trong cuộc đấu tranh giữa bóng tối và ánh sáng trong từng tâm hồn con người, những tác phẩm đó lẽ nào không được ghi vào bảng vàng của chủ nghĩa nhân đạo? Tương tự như vậy, yêu nước không chỉ là tham gia chống ngoại xâm, trong thực tế lịch sử dân tộc, chủ nghĩa yêu nước còn được bộc lộ ở nhiều hình thức khác mà hiện nay chúng ta tổng kết chưa hết. Bản lĩnh của một dân tộc không phải chỉ bộc lộ ở khả năng giữ gìn giang sơn bờ cõi ở đó các thế hệ nối tiếp đã sinh sống. Bản lĩnh một dân tộc còn phải được xem xét ở khả năng của dân tộc đó trong việc tìm ra cách sống hoà hợp với các dân tộc khác, tiếp nhận một cách thông minh những ảnh hưởng văn hoá ngoại nhập đó để làm giàu cho đời sống tinh thần của mình. Trên ý nghĩa ấy mà xét tất cả những đóng góp nhằm làm cho đất nước ngày một canh tân đổi mới, xã hội ngày một văn minh tiến bộ thực chất đều đáng được xem là hành động yêu nước thương nòi, cũng tức là đáng được khoa học lịch sử - trong đó có lịch sử văn học - ghi nhận đầy đủ.
    1991

(1 )Trong cả ba đoạn trích dẫn này, chỗ nhấn mạnh là của chúng tôi
(2) Trích từ Ca tụng lịch sử bản dịch tiếng Nga, Nxb Khoa học, Moskva, 1973.

Lần đầu in Tạp chí văn học 1991, số 3, dưới bút danh Vũ Tam Giang.In lại trong Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học 2006 Phê bình và tiểu luận 2008


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam


Cũng như không ai giấu diếm sự tham gia của các quân nhân chúng ta (Liên Xô) trong các hoạt động tác chiến tại Việt Nam. Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính vì vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đã sử dụng S-75.
Phi công Mỹ lắp vũ khí cho máy bay lên thẳng UH-1 chuẩn bị đánh nhau với các du kích Việt Cộng tại tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, 18/3/1963 . (Ảnh: Horst Faas/AP)

Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lãnh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 Quân khu phòng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đã bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.

Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế Xô Viết và Mỹ.

Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.

Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:

15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.

Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).

Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.

Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.

Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).

Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.

Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.

Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.

Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.

Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.

Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài gòn và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)

Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.

Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.

Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.

Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.

Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội.

Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.

Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.

Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.

Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.

Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.

Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).

Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.

Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh: AP)

Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xã hội của nước mình chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).

Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ thì đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh phòng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).

Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác thì họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).

Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đã tiến hành các đợt đột kích sang lãnh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đã thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.

Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đã tấn công Nam Việt Nam.

Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển hình giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).

Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đã đạt những điều mình muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) rút người Mỹ cũng đã đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đã chiến thắng để giữ thể diện.

Trong chiến dịch này Mỹ đã ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công trình. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-2 1 những đã hạ 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.

Các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 đã bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa phòng không S-75). Có lẽ vì thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.

Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lý cực mạnh.

Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ.

Quân đội Nam Việt Nam về mặt hình thức đã là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu thì Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đã không còn ý nghĩa gì nữa.

Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đã được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài gòn có khi còn hiểu rõ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài Gòn hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ còn chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lý tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.

Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lãnh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).

Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài Gòn cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. Vì thế họ đã tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài Gòn), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.

Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài Gòn –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài Gòn. Cuộc “di tản” các lực lượng này đã nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.

Nắm được thời cơ, Hà Nội không còn một chút do dự gì nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này thì không ai và không cái gì có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài Gòn.

Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả địa chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự (thế giới-ND) thì cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì hình thái chiến tranh cổ điển này càng lùi sâu vào quá khứ. Thay thế hình thái chiến tranh này (chiến tranh cổ điển-ND) là cuộc chiến tranh công nghệ cao và phương án đáp trả phi đối xứng đối với nó (công nghệ cao-ND) là các cuộc chiến tranh nổi dậy (du kích-khủng bố).

Ngoài ra, chiến tranh thông tin ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đôi khi còn thay thế hoàn toàn các hình thái chiến tranh khác.

Theo Lê Hùng (lược dịch)
Đất Việt
http://dantri.com.vn/the-gioi/nguoi-nga-noi-that-ve-chien-tranh-viet-nam-1431204287.htm?mobile=true
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TP HCM, Hà Nội đều 'không tham nhũng'?


Quan chức ngành thanh tra khẳng định từ đầu năm tới nay "chưa phát hiện trường hợp tham nhũng nào" ở cả TP HCM và Hà Nội. Tại cuộc họp Hội đồng Nhân dân TP HCM hiện đang diễn ra, Phó Chánh thanh tra TP HCM Nguyễn Thị Ngọc Nga nói sáng thứ Tư 9/12 rằng: "Chín tháng đầu năm 2015 qua công tác thanh tra, chưa phát hiện trường hợp tham nhũng tại TP HCM".

Bà Nga nói thêm rằng "qua kiểm tra xử lý nội bộ, cũng không phát hiện trường hợp tham nhũng nào". Mới đây, hồi cuối tháng 11, báo cáo kết quả phòng, chống tham nhũng năm 2015 của Ủy ban Nhân dân TP gửi Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội cũng viết “qua kiểm tra nội bộ chưa phát hiện trường hợp nào có dấu hiệu tội phạm tham nhũng”.

Tuy nhiên giới chức ở cả hai thành phố đều đánh giá rằng "tình hình tham nhũng vẫn còn phức tạp".

Kết luận và thực trạng dường như cho thấy bất cập trong việc phát hiện tham nhũng ở trong nước.


Hàng trăm cuộc thanh tra

Theo Phó Chánh thanh tra TP HCM Nguyễn Thị Ngọc Nga, trong chín tháng đầu năm nay đã có tới 176 cuộc thanh tra trong thành phố do ngành thanh tra tổ chức.

"Kết quả đã phát hiện 80/341 đơn vị có sai phạm, chủ yếu là sai phạm về kinh tế. Thanh tra thành phố đã phát hiện hơn 80 tỷ đồng sai phạm, thu hồi hơn 31 tỷ và 3 căn nhà. Kết quả thanh tra cũng thu hồi nộp ngân sách 141 tỷ."

Tại Hà Nội, năm 2015, thanh tra thành phố và các sở ngành, quận huyện, đã triển khai 374 cuộc thanh tra, 269 cuộc đã có kết luận.

Kết quả thanh tra phát hiện sai phạm 1.173 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 114 tỷ đồng, kiến nghị xử lý trách nhiệm và rút kinh nghiệm 119 tập thể, 80 cá nhân thiếu trách nhiệm, buông lỏng công tác quản lý dẫn đến sai phạm.

Thanh tra Hà Nội năm 2015 chỉ xử phạt vi phạm hành chính được 61,8 tỷ đồng, kiến nghị chuyển cơ quan điều tra có bảy vụ.

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/12/151209_vietnam_no_corruption

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chọn người đạo đức, trung thành, giữ cho được chế độ


Chung Hoàng- Phạm Hải
Các cử tri quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) sáng nay kiến nghị việc chọn lựa nhân sự của Đại hội Đảng 12 sắp tới cần công khai, dân chủ. Tham gia tiếp xúc cử tri với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn ĐBQH Hà Nội, ông Đặng Tài Tính (phường Cống Vị) mong muốn vấn đề nhân sự tại Đại hội Đảng tới đây phải thực hiện theo tiêu chí mà Ban chấp hành TƯ đã đề ra.

Cử tri Đặng Tài Tính
“Nhưng phải thật sự đoàn kết trong Đảng. Đảng kêu gọi nhân dân đoàn kết thì phải đoàn kết ngay trong Đảng, không để một bộ phận trong Đảng không đoàn kết làm mất uy tín của Đảng. Vì thế người được lựa chọn bầu vào Trung ương, QH, HĐND tới đây phải xây dựng được đoàn kết ngay trong gia đình, dòng họ, cơ quan. Có như vậy thì dân mới tin”, ông Tính nói.

Cử tri Đỗ Bá Quát (phường Quán Thánh) cũng nhấn mạnh phải chọn người “nói được làm được”. Ông Quát kiến nghị công khai, dân chủ để dân biết, góp phần lựa chọn người đúng ý Đảng, hợp lòng dân.

“Từ bao lâu nay, dân đã tin Đảng, sẽ luôn bảo vệ Đảng, vậy thì Đảng phải tin dân, giao cho dân được quyền tham gia lựa chọn người vào Ban chấp hành cũng như QH”, cử tri này nói.

Từ đó, các cử tri tiếp tục trăn trở về vấn nạn tham nhũng, lãng phí. Cử tri Nguyễn Vi Yên (phường Ngọc Khánh) nhắc lại chuyện tỉnh nghèo mà vẫn xây trụ sở nguy nga đã được cảnh báo cách đây vài năm, gần đây lại một loạt tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng muốn xây trụ sở hàng nghìn đến chục nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó là các dự án quảng trường, tượng đài…



Cử tri Nguyễn Vi Yên

“Lúc này kinh tế khó khăn là không nên, đi vay để xây trụ sở hàng ngàn tỷ là không thể chấp nhận. Chúng tôi đồng ý khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói là xây lúc này sẽ làm cho nền kinh tế yếu đi, phải liệu cơm gắp mắm, giám sát chặt chẽ”, cử tri nói.

Ông Bùi Minh Dần (phường Vĩnh Phúc) cũng lo lắng khi tham nhũng ngày càng tinh vi, nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi.

Tham nhũng, tiêu cực dân tin được không?

Trao đổi lại với cử tri, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh công tác nhân sự “đang làm từng bước, từng khâu, chặt chẽ, bài bản, chắc chắn”. Nhưng ông thừa nhận đây là vấn đề khó khăn, được dư luận quan tâm.

“Điều đặc biệt lo lắng của nhân dân là làm sao giữ cho được bản chất cách mạng trong sáng của Đảng, của bộ máy nhà nước. Dân phiền lòng nhất bây giờ là sự hư hỏng, suy thoái của một bộ phận cán bộ. Không khéo là phá từ trong phá ra chứ không phải bên ngoài đâu”, Tổng bí thư nhận định.

“Cho nên phải giữ Đảng vững mạnh, đất nước phát triển thì dân tộc mới trường tồn. Thế thì đảng viên, cán bộ phải gương mẫu trước, hệ thống chính trị phải trong sạch, vững mạnh. Tuyến cơ sở phải vững chắc, ở đó mà có chuyện gì thì là từ gốc rễ rồi”.


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Tổng bí thư lưu ý, bên ngoài âm mưu vẫn có, thường xuyên, ngày càng thâm độc, bằng nhiều cách, từ phía này, từ phía khác, chúng ta phải biết hết. Đây là điều băn khoăn lo lắng rất đúng của cử tri, Đảng và Trung ương cũng rất lo.

Điều đó đặt ra trách nhiệm cho Đại hội Đảng và bầu cử QH, HĐND các cấp sắp tới: “Vừa rồi, rất vui mừng là đại hội đảng bộ các cấp, so với các nhiệm kỳ trước, đều hanh thông, suôn sẻ, tốt đẹp, đã trẻ hóa và tăng cán bộ nữ”.

Tổng bí thư nhấn mạnh: “Làm sao để có được đội ngũ lãnh đạo, thực thi vững vàng, kiên định, trình độ năng lực, đặc biệt là gắn bó với nhân dân, được nhân dân tin yêu. Nếu thế thì bản thân phải trong sáng, còn cứ hư hỏng, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm thì dân tin được không? Dân lo là đúng, dân không lo thì chết, Đảng cũng lo”.

Tổng bí thư nhấn mạnh lại phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, nền tảng, để có sức mạnh để xây dựng và bảo vệ đất nước, hiện đại, năng suất, trình độ cao, cạnh tranh được với quốc tế.

Nhưng xây dựng Đảng vẫn là khâu then chốt, quyết định, Tổng bí thư lại quay về câu chuyện con người: Cán bộ là quyết định. Bác Hồ nói rồi, cán bộ là gốc, có đức có tài, đức là gốc.


Tổng bí thư và cử tri quận Hoàn Kiếm

“Trong Truyện Kiều mà ta vừa kỷ niệm 250 năm, Nguyễn Du đã viết: Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Phải chọn người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ bản lĩnh. Nhất là đạo đức, phải trung thành tuyệt đối, với dân, với chế độ, với Đảng, giữ cho được chế độ này, Đảng này, giữ cho được hòa bình ổn định để phát triển đất nước”, Tổng bí thư nói.

“Còn chúng ta nghĩ như thế nào đó thì phiến diện, một chiều. Hoặc là lạc quan, không thấy hết những khó khăn phức tạp, thì thành lạc quan tếu. Hoặc là quá bi quan, lúc nào cũng lo lắng hư hỏng, mất hết cả niềm tin, rã rời ra cũng chết. Nếu chỉ thấy một mặt, nhấn cái này thôi, thì cũng không đúng trong sử dụng cán bộ”.

Nhấn mạnh việc đảm bảo kế thừa, liên tục, phát triển, Tổng bí thư đồng tình phải dựa vào dân, dựa vào cử tri để sáng suốt lựa chọn.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

14 bệnh viện hết tiền trả lương: Tại dân ít ốm!

Tú Nhi (Đất Việt)


Theo vị đại diện Sở tài chính tỉnh Đắk Lắk, tình trạng 14 bệnh viện hết tiền trả lương là do người dân ít ốm nên nguồn thu bị giảm.

Xung quanh thông tin Sở Y tế Đắk Lắk xác nhận hiện có 14 bệnh viện của tỉnh thiếu tiền trả lương cho bác sĩ, cán bộ, công nhân viên, chiều ngày 8/12, chia sẻ với báo Đất Việt, ông Huỳnh Tấn Nam - trưởng phòng tài chính hành chính sự nghiệp- Sở tài chính tỉnh Đắk Lắk cho biết:

"Thông tin này đúng như báo chí phản ánh, hiện ngành tài chính đang giải quyết. Xảy ra tình trạng này là do nguồn thu đang hụt, dù chi theo ngành dọc nhưng nguồn thu giảm nên tiền để chi trả lương không đủ. Không phải do chi tiêu quá mức cũng không phải số cán bộ, viên chức quá đông. Số lượng cán bộ, viên chức là đúng với chỉ tiêu của tỉnh giao".

Nói thêm về nguyên nhân 14 bệnh viện hết tiền trả lương, ông Nam nói: Đây là do bệnh nhân ít, hay nói cách khác là người dân Đắk Lắk ít ốm nên ít đến bệnh viện. Hơn nữa, các dịch vụ của bệnh viện, giá viện phí chưa theo kịp, chưa điều chỉnh kịp thời nên đang bị thấp hơn so với các bệnh viện ở các tỉnh khác. Bộ y tế đã đưa ra các dịch vụ cho bệnh viện nhưng tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa áp dụng. Chính vì vậy nên bệnh viện thu không đảm bảo để chi trả.

Ông Nam cho biết thêm: Hiện tại có 1 số bệnh viện thiếu ít bệnh nhân nhưng cũng có những bệnh viện đang thiếu rất nhiều bệnh nhân. Các phòng, khoa trong bệnh viện đều trống. Bệnh viện xây dựng đầy đủ là để đảm bảo chỗ khám cũng như nơi điều trị cho bệnh nhân được đầy đủ. Xây dựng bệnh viện như vậy nhưng cũng không mong muốn người dân bị ốm bệnh, mà chỉ là trường hợp phòng thôi.

14 benh vien het tien tra luong: Tai dan it om
            Bệnh viện Đa khoa TP Buôn Ma Thuột, một trong 14 bệnh viện nợ lương. Ảnh: TTO

Theo ông Nam: Hiện Sở tài chính đang nghiên cứu để trình từ nguồn cải cách tiền lương của tỉnh. Sở yêu cầu các bệnh viện cung cấp số liệu để tổng hợp gửi cho UBND tỉnh để xem xét cho bên ngành y tế tỉnh, nhằm giải quyết tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức trong tháng 12 này. Việc chi trả lương đầy đủ sẽ sớm được giải quyết, không để tình trạng này kéo dài.

Cũng theo vị trưởng phòng, nguồn chi thường xuyên của ngành y tế trong tỉnh Đắk Lắk không thiếu mà chỉ thiếu tiền lương.

Hết tiền

Như thông tin báo chí đã đưa, sáng 7/12, tại Bệnh viện Đa khoa TP Buôn Ma Thuột, một số bác sĩ, nhân viên tỏ ra lo lắng bởi cho tới nay họ chưa được nhận lương tháng 11, không biết có tiếp tục bị nợ lương tháng 12/2015 hay không.

“Đến kỳ nhận lương, chúng tôi được phòng kế toán tài chính thông báo hết tiền, khất đến tháng sau mới có. Chúng tôi không hiểu tại sao mà đến nay nguồn lương lại hết?” - một bác sĩ thắc mắc.

Một lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa TP Buôn Ma Thuột thừa nhận có việc hiện nay bệnh viện còn nợ khoảng 1,5 tỉ đồng tiền lương tháng 11/2015 của 277 người lao động.

Đại diện phòng tài chính kế toán - thừa ủy quyền giám đốc bệnh viện cho biết bệnh viện thiếu tiền lương do “thu không đủ chi”.

Theo vị này, dự toán tổng thu năm 2015 của bệnh viện được giao là 61 tỉ đồng, dự trù sẽ trích lại 6,65 tỉ đồng trong quỹ cải cách tiền lương để chi lương.

Tuy nhiên, thực tế nguồn thu của bệnh viện hụt so với dự trù khá lớn (tổng thu chỉ đạt hơn 54,7 tỉ đồng), nên tiền để chi lương chỉ còn hơn 3,5 tỉ đồng. Do đó, lương chỉ đủ trả cho các cán bộ, bác sĩ, nhân viên trong biên chế đến hết tháng 10/2015.

Theo báo cáo của Sở Y tế Đắk Lắk, cả 14 bệnh viện đang nợ lương người lao động đều cùng chung tình trạng này. Tổng số tiền lương còn nợ tháng 11 và 12/2015 là hơn 15 tỉ đồng.

Ông Trần Vũ Sơn - phó phòng tài chính kế toán Sở Y tế Đắk Lắk cho biết theo quy định, trong tổng thu của mỗi bệnh viện, sau khi trừ các chi phí như mua thuốc men, vật tư y tế (chiếm phần lớn) để phục vụ bệnh nhân thì tổng số tiền còn lại được sử dụng theo tỉ lệ: 65% dành cho chi thường xuyên, lập quỹ; 35% còn lại đưa vào quỹ cải cách tiền lương, dùng khi có sự thay đổi về tiền lương.

Tuy nhiên, do nguồn thu năm 2015 của tỉnh có khó khăn nên UBND tỉnh yêu cầu dùng 35% trong quỹ cải cách tiền lương để chi lương cho cán bộ, bác sĩ.

Theo ông Sơn, dự toán năm 2015 mà UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho 14 bệnh viện nêu trên phải thu là gần 311,6 tỉ đồng, trong đó 35% dành cho quỹ cải cách tiền lương sẽ khoảng 35 tỉ đồng. Thế nhưng, ước tính đến hết tháng 12/2015, 14 bệnh viện chỉ thu gần 282 tỉ đồng. Như vậy quỹ chi tiền lương chỉ còn gần 20 tỉ đồng, tức là thiếu hơn 15 tỉ đồng tiền lương so với dự toán.

Tú Nhi

(Đất Việt)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi thành ủy hết tiền, thành phố vỡ nợ


Nguyễn Quang A 

(Dân Việt) Còn bao nhiêu cơ quan nữa ở trong tình trạng này? Chi ngân sách không phải là bí mật quốc gia.

Dư luận nóng lên về tin “Thành ủy Bạc Liêu hết tiền hoạt động”. Rồi đến thành phố Cà Mau hết tiền trả lương phải xin tạm ứng ngân sách năm sau để chữa cháy. Đây là căn bệnh trầm kha từ lâu và bây giờ khi báo chí đưa tin thì mới khiến dư luận bức xúc, nhưng thực sự nó đã mưng mủ lâu lắm rồi. Luật ngân sách Việt Nam không hề có cụm từ “bội thu” mà chỉ có “bội chi” (trừ luật mới 2015 có hiệu lực từ 2017 mà trong đó, Điều 7, có 1 lần nói đến “bội thu” trong khi có 39 lần nói đến “bội chi”; còn luật 2002 đang hiện hành không có cụm từ “bội thu” và có 10 lần nói đến “bội chi”). Cái gốc này tất sinh ra tai họa và vài cái lá cỏn con ở Bạc Liêu và Cà Mau héo rồi rụng chỉ là chuyện nhỏ.
Nguy cơ toàn bộ cái cây ngân sách đổ mới là điều đáng nói và các nhà hoạch định chính sách ở cấp cao nhất phải chịu trách nhiệm (minh chứng là các đại biểu quốc hội chẳng lo gì nên trong luật trước 2015 không có khái niệm bội thu) và phải tìm cách sửa tận gốc.
Từ hàng chục năm cả bộ máy không biết khái niệm “bội thu ngân sách” mà chỉ chăm chú sao cho “bội chi” dưới mức 5% GDP.
Thực tế theo số liệu quyết toán tổng thu và tổng chi ngân sách (từ 2007-2013) của Tổng cục Thống kê (2 hàng đầu) rồi từ đấy tính ra 2 hàng cuối, thấy số liệu còn đáng sợ (tuy bội chi vẫn có thể dưới 5% GDP):

khi thanh uy het tien, thanh pho vo no hinh anh 1
Bội chi, thì phải vay tiền để tiêu. Và nợ nần tích tụ tất đến ngày vỡ nợ khi không còn khả năng chi trả nữa. Theo đúng thuật ngữ kinh tế, thành ủy Bạc Liêu và Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau đã vỡ nợ!
Còn bao nhiêu cơ quan nữa ở trong tình trạng này? Ít ai biết. Và đó là căn bệnh thứ hai: không minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình. Chi ngân sách không phải là bí mật quốc gia.
Vấn đề cốt lõi là luật ngân sách nhà nước. Ở hầu hết các nước, mỗi năm quốc hội thông qua một luật ngân sách riêng cho năm tài chính tiếp theo, trong đó quy định hết sức rõ tất cả các khoản chi chính và phân bố chi tiết các khoản chi đó cho các đơn vị hưởng ngân sách. Hành pháp không được tiêu hơn mức quy định của luật đó, chi hơn là phạm pháp, là có tội. Muốn tiêu hơn chính phủ phải xin quốc hội sửa luật.
Ở ta thì không có luật ngân sách nhà nước hàng năm mà có luật ngân sách khung, sau đó có dự toán và quyết toán hàng năm. Đến nay, cuối 2015, chưa thấy quyết toán 2013 trên trang của Tổng cục Thống kê! Quốc hội như thế nắm đằng lưỡi mà lẽ ra phải nắm lấy chuôi.
Không siết chặt kỷ luật (bằng ra luật ngân sách hàng năm), không minh bạch và khi người dân góp ý hoặc tỏ thái độ (như “chê” lãnh đạo trên facebook thì bị kỷ luật), thì vỡ nợ là chuyện dễ hiểu.
Ngân sách nhà nước trung ương đã vậy, ngân sách địa phương cũng phải thế. Nhà nước ta quá tập trung đồng thời quá phân tán. Không có quy định rõ ràng quyền hạn giữa trung ương và địa phương dẫn đến trung ương can thiệp quá sâu vào công việc địa phương, nhưng đồng thời với sự phân cấp mập mờ lại có quá nhiều kẽ hở để địa phương “vung tay quá trán.”
Phân cấp tù mù là căn bệnh nữa phải sửa. Cải cách thể chế, hành chính là phải cụ thể như vậy chứ không chỉ nói suông. Không cải cách thể chế triệt để thì đất nước cũng rất có thể có ngày sẽ vỡ nợ.

Nguồn: Danviet

Phần nhận xét hiển thị trên trang

AI ĐỨNG RA CHỐNG LẠI GIẶC NỘI XÂM , CHÍNH PHỦ HAY NHÂN DÂN ?



 
Không thắng được giặc nội xâm này thì đất nước mãi mãi trì trệ, không thoát được tình trạng không chịu phát triển, mọi cố gắng thi đua sẽ trở thành vô nghĩa.

Minh họa: Ngọc Diệp
Ngày 7 tháng 12 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phát động phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2016 _ 2020, với chủ đề "Đoàn kết sáng tạo thi đua xây dựng và bảo vệ tổ quốc". Nội dung cuộc thi đua rất toàn diện, bao phủ toàn bộ các lĩnh vực kinh tế,xã hội, an ninh, quốc phòng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính tri cùng với các cấp chính quyền.

Theo cá nhân tôi trong cuộc chiếc tranh giải phóng dân tộ cj, thống nhất đất nước, đánh giặc chống ngoại xâm là mặt trận hàng đầu. Ngày nay trong hòa bình, mặt trận nóng bỏng nhất đó là chống giặc nội xâm là tham nhũng ,lợi ích nhóm , tư bản thân hữu, chính là lực cản lớn nhất, đe dọa đến sự sống còn của chế độ, là nguy cơ đẩy tổ quốc đến lâm nguy. Măt trận này cần dốc lực toàn thắng và cần có nhiều anh hùng , nhiều chiến sỹ thi đua trong thời kỳ đổi mới. Mặt trận này đã phát động 13 năm nay kể từ Nghị quyết 6 phần 2 khóa VIII nhưng chưa xuất hiện một anh hùng nào, số lượng chiến sỹ thi đua còn rất ít. Do vậy cuộc chiến cứ dậm chân ở thế cầm cự, không sao phản công được .Hiện trạng đó không khỏi không để những giọt nước mắt ngẹn ngào tuôn rơi và nỗi xấu hổ đè nặng trong lòng các vị lãnh đạo và hàng triệu người dân. Lòng yêu nước nồng nàn của dân ta không chỉ trào dâng nhấn chìm bọn bán nước và bọn cướp nước thời chiến mà phải trào dâng mãnh liệt cuốn sạch bọn giặc nội xâm đang tàn phá đất nước này. Không thể nương tay với tham nhũng , lợi ích nhóm. Dân ta càng nhẫn nhịn, chờ đợi sự tỉnh ngộ của chúng vì chúng dù sao cũng cùng dòng máu Việt, nhưng chúng càng lấn lướt, xa dân, khinh dân, cưỡi lên đầu lên cổ nhân dân. Không thắng được giặc nội xâm này thì đất nước mãi mãi trì trệ, không thoát được tình trạng không chịu phát triển, mọi cố gắng thi đua sẽ trở thành vô nghĩa
Xem bài đăng gốc

Phần nhận xét hiển thị trên trang